Từ khi Bộ luật tố tụng dân sự BLTTDS năm 2004 ra đời và được sửa đổi, bổsung năm 2011, các quy định của pháp luật về tố tụng ngày càng được hoàn thiện, tuynhiên bên cạnh đó, vẫn còn nhữn
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHÁNG NGHỊ PHÖC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 4
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 4
1.1.1 Khái niệm kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 4
1.1.2 Đặc điểm của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 5
1.1.3 Ý nghĩa của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 6
1.2 Vai trò, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 7
1.2.1 Vai trò của Viện kiểm sát trong kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 7
1.2.2 Nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 7
1.3 Điều kiện kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 9
1.4 Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 10
1.4.1 Cơ sở lý luận của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 10
1.4.2 Cơ sở pháp lý quy định kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 12
1.5 Sơ lược về quy định kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện kiệm sát nhân dân 13
1.5.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến 1989 13
1.5.2 Giai đoạn từ năm 1989 đến 2004 15
1.5.3 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay 16
CHƯƠNG 2 18
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ KHÁNG NGHỊ PHÖC THẨM 18
2.1 Phạm vi, thẩm quyền, thời hạn kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 18
2.1.1 Phạm vi kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 18
2.1.2 Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 19
2.1.3 Thời hạn kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 21
2.2 Hình thức và nội dung quyết định kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 24
2.3 Hậu quả của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 26
2.4 Trình tự thủ tục kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 28
Trang 72.4.3 Gửi hồ sơ vụ án và kháng nghị 29
2.5 Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị phúc thẩm và hậu quả pháp lý của thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 29
CHƯƠNG 3 34
KHÁNG NGHỊ PHÖC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP - BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 34
3.1 Thực tiễn thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm tại Đồng Tháp 34
3.1.1 Kết quả kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện kiểm sát hai cấp 34
3.1.2 Đánh giá kết quả kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 36
3.1.3 Những tồn tại, hạn chế trong công tác kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự tại tỉnh Đồng Tháp 38
3.1.4 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 40
3.2 Giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự trên địa bàn tỉnh Đồng tháp trong thời gian tới 44
3.2.1 Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự tại tỉnh Đồng Tháp 47
3.2.2 Những kiến nghị về công tác kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự tại tỉnh Đồng Tháp 52
KẾT LUẬN 55
DANH MUCC̣ TÀI LIÊỤ THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kháng nghị phúc thẩm là một trong những chế định quan trọng trong tố tụng dân
sự Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, Viện kiểm sát có quyền kháng nghịbản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Đây là cơ sở pháp lý cho Tòa áncấp phúc thẩm xét xử lại vụ án, qua đó kịp thời phát hiện và khắc phục những sai lầm,thiếu sót của Tòa án cấp dưới cả về nội dung cũng như hình thức tố tụng, đảm bảo sựcông bằng của pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi íchhợp pháp của công dân
Bản án, quyết định của Tòa án không chỉ có ảnh hưởng đến những người tham gia
tố tụng mà còn ảnh hưởng tới sự công bằng của xã hội Chính vì vậy, bản án, quyết địnhcủa Tòa án được tuyên ra phải đảm bảo chính xác, đúng pháp luật Nhưng không phảitrong mọi trường hợp Tòa án, đặc biệt là Tòa án cấp sơ thẩm đều đáp ứng được yêu cầunày Cũng chính vì điều đó mà pháp luật quy định nguyên tắc hai cấp xét xử Kháng nghịcủa Viện kiểm sát là một trong những cơ sở làm phát sinh thủ tục phúc thẩm và hiện thựchoá nguyên tắc hai cấp xét xử Kháng nghị phúc thẩm là biện pháp quan trọng trong việcthực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân, đó là chức năng kiểm sát việc tuân theopháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án
Từ khi Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 ra đời và được sửa đổi, bổsung năm 2011, các quy định của pháp luật về tố tụng ngày càng được hoàn thiện, tuynhiên bên cạnh đó, vẫn còn những điểm chưa đầy đủ trong quy định của pháp luật vềkháng nghị phúc thẩm dẫn đến việc kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dânvẫn chưa đạt được kết quả tối ưu nhất, nhiều trường hợp các sai phạm của Tòa án cấp sơthẩm vẫn chưa được khắc phục kịp thời, từ đó gây ảnh hưởng không nhỏ đến quyền vàlợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, làm cho mục đích xét xử không đạtđược, làm giảm uy tín của Tòa án
Trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành xây dựng nhànước pháp quyền XHCN Tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm về cải cách tư pháptrong Ngành kiểm sát nhân dân giai đoạn 2011-2020 theo Nghị quyết số 49-NQ/TWngày 02/6/2005 của Bộ chính trị nhằm xây dựng nền tư pháp vững mạnh, dân chủ, côngbằng Chính vì vậy, việc nghiên cứu những quy định của pháp luật tố tụng dân sự vềkháng nghị phúc thẩm là hết sức cần thiết
Từ những ý nghĩa cấp thiết nêu trên, cùng với mong muốn nghiên cứu của bản
thân nên em đã chọn đề tài: “Kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam tại tỉnh Đồng Tháp” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
Trang 92 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề lý luận và thực tiễn vềkháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự Do đó, tác giả tập trung trình bày những nội dung cơbản của kháng nghị phúc thẩm về vụ án dân sự, cụ thể: đề tài tập trung nghiên cứu về cácquy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về chủ thể của quyền kháng nghị, thờihạn, thủ tục kháng nghị, việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị … đối với bản án, quyếtđịnh sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm trong BLTTDS hiệnhành Ngoài ra, đề tài còn nghiên cứu về thực tiễn kháng nghị phúc thẩm dân sự tại tỉnhĐồng Tháp, từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị thích hợp để nâng cao chất lượngkháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các nguyên tắc, quan điểm chỉ đạo củaĐảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền trong tiến trình cải cách vàhoàn thiện hệ thống tư pháp
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứunhư: phân tích, thống kê, so sánh, phương pháp lý luận kết hợp thực tiễn
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở lý luận và thực tiễn, khóa luận đề xuấtmột số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sựtrong tố tụng dân sự Việt Nam
Cụ thể, để đạt được mục đích nêu trên, khóa luận giải quyết những nhiệm vụ sauđây:
- Phân tích làm rõ khái niệm và ý nghĩa của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sựcũng như lịch sử hình thành và phát triển những quy định của pháp luật tố tụng dân sựViệt Nam về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
- Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
- Phân tích, đánh giá thực tiễn về hoạt động kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự(cụ thể tại tỉnh Đồng Tháp) Từ đó làm rõ những vướng mắc trong quy định của phápluật, những tồn tại trong thực tiễn áp dụng và nguyên nhân của những vướng mắc, tồn tại
đó Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt độngkháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt
động kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự.
Trang 105 Cơ cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự trong tố tụng dân sự
Chương 2: Quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam về kháng nghị phúcthẩm
Chương 3: Kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự tại tỉnh Đồng Tháp – Bất cập và giải pháp hoàn thiện
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHÁNG NGHỊ PHÖC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự là quyền năng pháp lý mà pháp luật giao choViện kiểm sát nhân dân để kháng nghị đối với những bản án, quyết định sơ thẩm chưa cóhiệu lực pháp luật của Tòa án cùng cấp và cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có vi phạmpháp luật nghiêm trọng để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại theo thủ tục phúcthẩm nhằm bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật Việc nghiên cứu hoạt động kháng nghịphúc thẩm vụ án dân sự của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự là rất cần thiết trong giaiđoạn hiện nay Để tìm hiểu về chế định kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự, dưới đâyngười viết trình bày một số vấn đề cơ bản về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự trongquá trình nghiên cứu
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 1.1.1 Khái niệm kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Kháng nghị phúc thẩm là quyền năng, là biện pháp pháp lý quan trọng và cần thiết
để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tốtụng dân sự, góp phần bảo đảm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất.Như vậy, kháng nghị là một trong những hoạt động quan trọng thể hiện chức năng củaViện kiểm sát
Trong lịch sử tố tụng thì hoạt động kháng nghị đã xuất hiện rất lâu ở Việt Nam.Hiện nay có nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau về hoạt động kháng nghị nóichung và kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự nói riêng Về khái niệm “kháng nghị”,trong từ điển luật học1 có định nghĩa như sau: “Kháng nghị là hành vi tố tụng của người
có thẩm quyền, thể hiện việc phản đối toàn bộ hoặc một phần nội dung bản án, quyết định của Tòa án với mục đích bảo đảm cho việc xét xử được chính xác, công bằng đồng thời sửa chữa những sai lầm trong bản án, quyết định của Tòa án” Cách định nghĩa này rất khái quát, đã nêu được chủ thể, đối tượng, thủ tục nhưng còn thiếu sót Như trong thời
gian kháng nghị phúc thẩm, bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu luật pháp luật
Vì vậy, kháng nghị không thể làm “ngưng” hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm(khoản 2 Điều 254 BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011) Ngoài ra, khái niệm chưa nêuđược chủ thể có quyền kháng nghị là Viện kiểm sát nhân dân
Từ phân tích trên, chúng ta thấy rằng khái niệm kháng nghị phúc thẩm phải nêuđược các vấn đề như sau:
1Từ điển Luật học, Bộ Tư Pháp, Viện Khoa học pháp lý, NXB từ điển Bách Khoa, NXB Tư Pháp, Ngày xuất bản
09/2006, trang 418.
Trang 12- Về chủ thể có quyền kháng nghị là Viện kiểm sát nhân dân, ở đây là Viện kiểmsát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm Khác vớikháng nghị giám đốc thẩm, kháng nghị tái thẩm thì quyền kháng nghị chỉ dành cho Việnkiểm sát cấp trên và một số chủ thể khác.
- Về đối tượng kháng nghị phúc thẩm phải là bản án, quyết định sơ thẩm chưa cóhiệu lực pháp luật Bản án, quyết định khi có hiệu lực pháp luật thì không phải là đốitượng của kháng nghị phúc thẩm mà là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm, khángnghị tái thẩm
Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành cũng như các văn bản pháp lý chưa cómột khái niệm thống nhất về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự Trên cơ sở những quanđiểm trình bày ở trên, người viết có khái niệm kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự như
sau: “Kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự là quyền mà Nhà nước giao cho Viện kiểm sát các cấp thực hiện thông qua một văn bản pháp lý, yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ
án theo trình tự phúc thẩm Thông qua việc kháng nghị phúc thẩm, Viện kiểm sát bảo vệ quan điểm, đồng thời nhằm khắc phục các vi phạm pháp luật nghiêm trọng đối với các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật”.
Tóm lại, kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự là thể hiện sự bất đồng - không thốngnhất quan điểm đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm của chủ thể có thẩmquyền theo quy định pháp luật Khi có kháng nghị phúc thẩm thì việc xét xử là bắt buộc
để kiểm tra lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa cóhiệu lực pháp luật Vì vậy, việc kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự là phù hợp với
“nguyên tắc hai cấp xét xử” và đảm bảo cho nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.1.2 Đặc điểm của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
- Kháng nghị phúc thẩm là quyền năng pháp lý đặc biệt mà Nhà nước chỉ giao chongành kiểm sát
Theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm
2011 thì công tác kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự là một trong những quyền năngđược pháp luật quy định để ngành kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theopháp luật của Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ, việc dân sự Đây thực sự là mộtquyền năng quan trọng và duy nhất mà pháp luật giao cho ngành kiểm sát để thực hiệnchức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp, nhằm mục đíchphát hiện kịp thời các vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự,
từ đó thực hiện thẩm quyền kháng nghị để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cácbên
Trang 13- Kháng nghị phúc thẩm là công cụ đặc biệt và là một trong những biểu hiện rõnhất về quyền năng của Viện kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuântheo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án.
Trong quá trình Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát, khi phát hiện bản án,quyết định sơ thẩm có vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị để yêu cầuTòa án cấp trên (cấp phúc thẩm) xét xử lại vụ án Thông qua kháng nghị phúc thẩm, Việnkiểm sát đã thực hiện chức năng việc tuân theo pháp luật và kiểm sát trong hoạt động tưpháp của Tòa án
1.1.3 Ý nghĩa của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc đápứng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Khi Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị của mình đồng nghĩa với việc họ
đã giúp Tòa án cấp trên biết những sai lầm, thiếu sót của Tòa án cấp dưới để có sự chỉđạo, hướng dẫn, kịp thời khắc phục những sai phạm và rút kinh nghiệm cho công tác xét
xử, đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật thống nhất của Tòa án các cấp Từ nội dungkháng nghị, các cơ quan bảo vệ pháp luật sẽ thấy những vướng mắc trong quy định củapháp luật, từ đó có kiến nghị sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việc quy định và thực hiện chế định kháng nghị phúc thẩm là cơ sở pháp lý làmphát sinh thủ tục phúc thẩm Khi có kháng nghị phúc thẩm Tòa án cấp trên trực tiếp củaTòa án đã xét xử sơ thẩm sẽ tiến hành mở phiên tòa phúc thẩm xét xử lại vụ án về nộidung cũng như xét lại tính hợp pháp của bản án Tòa án cấp phúc thẩm khi xét lại bản án,quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị và trong quá trình xét xử lại
vụ án có khả năng phát hiện những sai lầm, thiếu sót trong việc xét xử sơ thẩm và sửachữa những sai lầm, thiếu sót đó một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Qua đó, bảo vệ lợi íchcủa Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân Mặt khác,thông qua việc sửa chữa sai lầm của Tòa án cấp dưới, Tòa án cấp phúc thẩm hướng dẫnTòa án cấp dưới giải thích và vận dụng đúng pháp luật
Kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự còn có một ý nghĩa pháp lý quan trọng khác,
là cơ sở để ghi nhận cũng như đảm bảo thực hiện một số nguyên tắc cơ bản của Luật tốtụng dân sự “ là cơ sở để hình thành nguyên tắc “thực hiện chế độ hai cấp xét xử”
Vì vậy, kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm phápluật vừa thể hiện kết quả hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật vừa bảo đảm choviệc áp dụng pháp luật nghiêm chỉnh và thống nhất, góp phần vào việc giữ vững kỷcương pháp luật, tăng cường pháp chế Kháng nghị khi phát hiện thiếu sót trong bản án,quyết định của Tòa án không chỉ là quyền hạn mà còn là nhiệm vụ của Viện kiểm sát
Trang 141.2 Vai trò, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
1.2.1 Vai trò của Viện kiểm sát trong kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
- Kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự là công cụ hữu hiệu để đảm bảo pháp chế xãhội chủ nghĩa trong hoạt động xét xử của Tòa án
Pháp chế là một chế độ và trật tự pháp luật trong đó tất cả các cơ quan Nhà nước,các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cáchnghiêm chỉnh và triệt để Viện kiểm sát thực hiện chức năng của mình, thực hiện quyềnkháng nghị nói chung và quyền kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự nói riêng để đảm bảocho hoạt động xét xử của Tòa án tuân theo pháp luật một cách nghiêm chỉnh, đảm bảomọi sai sót và mọi vi phạm đều được phát hiện và xử lý kịp thời Đồng thời thông quaviệc thực hiện quyền kháng nghị của mình, Viện kiểm sát cũng bảo đảm cho hoạt độngxét xử của Tòa án được khách quan công bằng, không có sự nhân nhượng, ưu ái, xét xửphải áp dụng đúng pháp luật
- Việc thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự có vai trò rấtquan trọng trong việc thực hiện chức năng của Viện kiểm sát là việc thực hiện tuân theopháp luật và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử
Với vai trò là kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử, khi phát hiệnbản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghịphúc thẩm để yêu cầu Tòa án xét xử lại vụ án, qua đó để Tòa án ra được một bản ánchính xác, có căn cứ pháp luật
Việc thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm có vai trò quan trọng trong việcthực hiện chức năng mà Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân Khi Viện kiểm sátthực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, nếu xét thấy bản án, quyết định của Tòa án có
vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc sai phạm nghiêm trọng trong áp dụng phápluật dân sự, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, xã hội và mọi quyền, lợi ích hợp phápcủa những người tham gia tố tụng thì Viện kiểm sát phải có trách nhiệm yêu cầu đưa vụ
án lên Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại bằng quyền năng pháp lý do luật định đó làkháng nghị phúc thẩm
1.2.2 Nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự được ghi nhận ngaytrong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) năm 1960, văn bản Luật đầu tiênquy định về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát Tại cácĐiều 17, 18, 19 Luật tổ chức VKSND năm 1960 quy định: Viện kiểm sát có quyền khởi
tố hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của
Trang 15Nhà nước và của nhân dân; kháng nghị đối với những bản án, quyết định chưa có hiệulực pháp luật hoặc đã có hiệu lực pháp luật nếu thấy các bản án, quyết định đó có sai lầm.Quy định trên của pháp luật xác định thẩm quyền của Viện kiểm sát không chỉ phản ánhtầm quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích chung của xã hội mà sâu xa hơn là sự công bằnggiữa các giá trị xã hội cần được bảo vệ Tiếp sau Luật tổ chức VKSND năm 1960 đếnLuật tổ chức VKSND năm 1981 và trực tiếp hơn là Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án dân sự năm 1989; nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự tiếp tụcđược ghi nhận và quy định đầy đủ, cụ thể hơn Đến Luật tổ chức VKSND năm 1992, tại
Điều 4 quy định: “Khi thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, VKSND có quyền ra quyết định kháng nghị, kiến nghị…các quyết định kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của VKSND phải được các cơ quan, tổ chức, đơn vị và công dân có liên quan thực hiện nghiêm chỉnh theo pháp luật” Rồi đến Luật tổ chức VKSND năm 2002 được ban hành
thay thế Luật tổ chức VKSND năm 1992, nhiệm vụ kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm
sát được quy định tại Điều 22: “Khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân
và gia đình…và những việc khác theo quy định của pháp luật, VKSND có quyền kháng nghị ” và tại khoản 1, Điều 21 BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định: “Viện KSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong Tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết các vụ, việc dân sự kịp thời đúng pháp luật”.
Ta thấy, kể từ khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và được sửa đổi, bổ sung năm
2011 có hiệu lực, đặt ra nhiều vấn đề mới cho công tác kiểm sát dân sự: Viện kiểm sátcác cấp phải đổi mới nhiều phương thức kiểm sát, trong khi chức năng kiểm sát việc tuântheo pháp luật trong tố tụng dân sự vẫn không thay đổi Trong các phương thức kiểm sátdân sự, công tác kháng nghị phúc thẩm giữ vị trí quan trọng vì nó thể hiện được vai trò,nhiệm vụ của Viện kiểm sát Do đó, để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo phápluật trong quá trình giải quyết các vụ, việc dân sự Viện kiểm sát có quyền áp dụng cácbiện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để phát hiện, yêu cầu khắc phục vàphòng ngừa vi phạm pháp luật trong quá trình tố tụng nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ
án đúng pháp luật, kịp thời
Để có một quyết định kháng nghị phúc thẩm có chất lượng, đúng pháp luật, việcnắm vững quyền năng pháp lý quy định về thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm của Việnkiểm sát được quy định trong Luật tổ chức VKSND, Bộ luật Tố tụng dân sự là hết sứcquan trọng Chỉ có nắm vững thẩm quyền mới có điều kiện thực hiện tốt kháng nghị.Như nghiên cứu để kháng nghị phúc thẩm đối với một số loại án, trước hết phải xác địnhchính xác mối quan hệ tranh chấp, các đương sự tham gia vụ kiện, các thủ tục pháp lýtrong tố tụng dân sự Tòa án đã áp dụng đầy đủ, đúng pháp luật chưa, trong trường hợp có
Trang 16sai sót về thủ tục thì khi nghiên cứu để kháng nghị cần được phân tích, đánh giá để làm
rõ vi phạm trong kháng nghị Đặc biệt là về nội dung, mỗi loại việc đều có tính đặc thùriêng, phải đánh giá chính xác vi phạm của bản án, quyết định, các điều luật áp dụng, cácvăn bản của liên ngành quy định Trên cơ sở đó để có nhận định, đánh giá vi phạm và đềxuất đường lối giải quyết ở trình tự phúc thẩm Quyết định kháng nghị cần phải kiểm tra
kỹ về hình thức và nội dung trước khi ban hành
Nhìn chung, kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân đối với bản án,quyết định dân sự sơ thẩm của Tòa án là một trong những biện pháp thể hiện rõ nét nhấtchức năng kiểm tra, giám sát của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc giải quyết vụ việccủa Tòa án Kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân góp phần phát hiện vàkhắc phục vi phạm trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của các bên
Vì vậy, kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự vừa là nhiệm vụ vừa là quyền hạn củaViện kiểm sát nhân dân khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động của Tòa án trongviệc thụ lý giải quyết các vụ, việc dân sự Viện kiểm sát không chỉ bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của công dân, tổ chức mà còn bảo đảm mọi hoạt động của cơ quan xét xử,bản án, quyết định của Tòa án phải có căn cứ và đúng pháp luật
1.3 Điều kiện kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Để thực hiện việc kháng nghị phúc thẩm có chất lượng, đúng pháp luật việc đánhgiá quyết định, bản án của Tòa án những vi phạm về nội dung là rất quan trọng, phải căn
cứ vào những quy định của pháp luật về nội dung để thể hiện quan điểm trong quyết địnhkháng nghị của Viện kiểm sát Trước hết đó là Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luậtkhác như: Luật đất đai, Luật hôn nhân và gia đình…Nghị quyết của quốc hội, Uỷ banThường vụ quốc hội, các Nghị định của Chính phủ, các Thông tư liên tịch, Nghị quyếtHội đồng thẩm phán TANDTC và các văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyềnkhác liên quan đến dân sự, trong đó, chú trọng vận dụng những văn bản hướng dẫn củangành Kiểm sát hoặc liên ngành TANDTC – VKSNDTC về một số vấn đề cụ thể trong
áp dụng pháp luật tố tụng, pháp luật nội dung đã được sự thống nhất của hai ngành
Những văn bản pháp luật hiện nay quy định về thủ tục, về nội dung làm căn cứkháng nghị phúc thẩm nhiều, tuy nhiên để xây dựng thành những tiêu chí làm căn cứkháng nghị, trên cơ sở quy định của pháp luật và hoạt động thực tiễn khi thực hiện khángnghị phúc thẩm các bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật cần có mộttrong những căn cứ sau đây:
- Việc điều tra vụ án không đầy đủ;
Trang 17- Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;
- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;
- Có sai lầm nghiêm trọng việc áp dụng pháp luật
Đó là tiêu chí đánh giá vụ án dân sự cần được kháng nghị phúc thẩm, trong trườnghợp bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm một trong 04 căn cứ trên thìViện kiểm sát thực hiện kháng nghị phúc thẩm theo quy định của pháp luật
Tuy nhiên, khi xem xét những vi phạm về thủ tục (Điểm 03 nêu trên) phải lưu ý là
vi phạm đó có tính nghiêm trọng hay không (Ví dụ như: Vụ án không đưa đầy đủ người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; không tham gia hòa giải ) Cũng chính
từ việc vi phạm về thủ tục đó dẫn tới nội dung vụ án có sai sót, không bảo vệ được quyềnlợi của những người liên quan Vì vậy, Viện kiểm sát cần kháng nghị để khắc phục.Trong trường hợp có vi phạm tố tụng, nhưng ít nghiêm trọng, chưa đến lúc phải khángnghị Ví dụ: Khi xét xử vụ án chia thừa kế, thủ tục triệu tập một đương sự là người cóquyền lợi liên quan chưa hợp lệ nên họ vắng mặt tại phiên tòa, song bản án vẫn quyếtđịnh chia phần thừa kế đúng quy định pháp luật, sau đó họ cũng không kháng cáo, trongtrường hợp này thì Viện kiểm sát chỉ cần kiến nghị để yêu cầu Tòa án khắc phục những
vi phạm tương tự Còn các vi phạm những căn cứ khác như: Việc điều tra không đầy đủ;Kết luận trong bản án, quyết định sai lệch với những tình tiết khách quan của vụ án hoặc
có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật thì cần thiết kháng nghị để xét xửlại theo thủ tục phúc thẩm
1.4 Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 1.4.1 Cơ sở lý luận của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
- Trong xã hội, ngoài cá nhân còn có nhiều tổ chức với quy mô, hình thức khác nhauhình thành nên trật tự xã hội Để tồn tại và phát triển, mọi cá nhân, tổ chức đều tham gia vàocác quan hệ xã hội nhằm dịch chuyển, lưu thông các giá trị vật chất, tinh thần, nó được xem
là lợi ích của mỗi bên trong các quan hệ đó Do vậy, việc pháp luật ghi nhận, bảo vệ lợi ích
đó, không chỉ có ý nghĩa bảo vệ lợi ích của Nhà nước, cộng đồng mà còn nhằm giữ vững sự
ổn định chung của xã hội Về nguyên lý, pháp luật bảo hộ lợi ích của Nhà nước, cộng đồngđều theo nguyên tắc bình đẳng, nhưng xét trên phương diện vai trò tác động, ảnh hưởng chiphối của mỗi chủ thể đến trật tự xã hội thì việc bảo hộ lợi ích đối với các chủ thể này thểhiện sự nghiêm minh, chặt chẽ ở mức độ khác nhau Tùy theo tính chất, mức độ của hành vi
vi phạm, hậu quả thiệt hại đến lợi ích của chủ thể, pháp luật quy định các phương thức bảo
hộ khác nhau thông qua việc áp dụng trách nhiệm hình sự hay trách nhiệm dân sự Xét riêng
về trách nhiệm dân sự, việc bảo vệ lợi
Trang 18ích hợp pháp được thực hiện trên cơ sở hoạt động xét xử của Tòa án bằng các phán quyết
áp dụng hình thức trách nhiệm pháp lý cụ thể đối với người có hành vi vi phạm Do đó,Tòa án với nhiệm vụ thực hành quyền tư pháp của Nhà nước, trong phạm vi xét xử củamình phải đảm bảo xét xử đúng pháp luật, hoạt động xét xử của Tòa án dựa trên nguyêntắc “độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”; Bản án, quyết định của Tòa án không chỉ ảnhhưởng đến những người tham gia tố tụng mà còn ảnh hưởng đến sự công bằng của xãhội Chính vì vậy, bản án, quyết định của Tòa án được tuyên ra phải đảm bảo chính xác,đúng pháp luật Nhưng không phải trong mọi trường hợp Tòa án, đặc biệt là Tòa án cấp
sơ thẩm đều đáp ứng được nhu cầu này Cũng chính vì điều đó mà ngoài việc kháng cáocủa đương sự đối với bản án phúc thẩm thì quy định về kháng nghị phúc thẩm của Việnkiểm sát đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực của Tòa là hết sức cần thiết vì Việnkiểm sát là cơ quan duy nhất có chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt độngxét xử tại phiên tòa nên nên quan điểm của Viện kiểm sát về hoạt động xét xử này là thểhiện sự thống nhất hay không thống nhất với đường lối xét xử của Tòa án ngay khi bản
án chưa có hiệu lực pháp luật Quan điểm này không phụ thuộc vào sự chủ quan cá nhânđồng tình hay không đồng tình với phán quyết của Tòa án mà là quan điểm khách quancủa cơ quan bảo vệ pháp luật đối với phán quyết của Tòa án có căn cứ
- Trong tình hình hiện nay, nền kinh tế nước ta đang trong thời kỳ phát triển và hộinhập quốc tế, giao lưu dân sự ngày càng nhiều và rất đa dạng, tranh chấp dân sự cũng từ
đó phát sinh nhiều và ngày càng phúc tạp Pháp luật về dân sự, kinh tế tuy đã được sữađổi, bổ sung nhưng vẫn chưa theo kịp sự phát triển của xã hội, nhất là trong điều kiện hộinhập kinh tế thế giới Nên khi có vi phạm trong quá trình giải quyết các vụ, việc dân sựphức tạp sẽ làm nảy sinh tranh chấp khiếu kiện kéo dài, nhiều trường hợp phải xử đi xửlại nhiều lần nhưng vẩn chưa kết thúc, thậm chí có những trường hợp bức xúc có nhữnghành động gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, làm giảm lòng tin củangười dân đối với pháp luật và Nhà nước Việc kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng dân
sự sẽ kịp thời phát hiện các sai sót, vi phạm trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân
sự để bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân bị xâm phạm,
sẽ mang lại kết quả thiết thực, tạo được niểm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhànước, đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật
- Một yêu cầu cũng hết sức quan trọng trong tình hình hiện nay là việc áp dụngpháp luật nói chung, trong đó có pháp luật dân sự đòi hỏi phải bảo đảm tính minh bạch
và công bằng, mọi người đều được hưởng sự bình đẳng của pháp luật, nhất là trong tìnhhình người dân nhận thức về pháp luật còn hạn chế, chưa phân biệt được đúng sai trongquá trình giải quyết tranh chấp, nên không tự bảo vệ được mình khi quyền và lợi ích hợppháp của chính mình bị xâm phạm Trong thực tế có không ít những trường hợp tranh
Trang 19chấp, sau khi được Tòa án giải quyết, đương sự không biết phán quyết của Tòa án làđúng hay sai, không biết quyền lợi hợp pháp của mình có bị xâm phạm hay không nên họkhông làm đơn kháng cáo Khi bản án, quyết định có hiệu lực được đưa ra thi hành mớiphát hiện những sai lầm, nghịch lý, không thể thi hành được Ngược lại, có nhiều trườnghợp đương sự phải chấp nhận thi hành những bản án sai mà họ không hề biết, nếu không
có sự phát hiện và can thiệp của các cơ quan bảo vệ pháp luật Kháng nghị phúc thẩmdiễn ra khi bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực nhằm giải quyết, ngăn chặn,khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong việc xét xử và sửa chữa những sai lầm, thiếu sót
đó để không gây ra những thiệt hại làm ảnh hưởng quyền lợi, lợi ích hợp pháp của cácbên tham gia tố tụng
- Mặt khác, việc quy định kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát khi có vi phạmgiúp cho Tòa án cấp phúc thẩm có điều kiện xem xét những sai lầm, thiếu sót trong việcxét xử sơ thẩm và có sự chỉ đạo, hướng dẫn, kịp thời khắc phục những sai phạm và rútkinh nghiệm cho công tác xét xử, đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật thống nhất củaTòa án các cấp
- Từ những vấn đề nêu trên, kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự còn có một ýnghĩa pháp lý quan trọng khác, là cơ sở để ghi nhận cũng như đảm bảo thực hiện một sốnguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng dân sự “ là cơ sở để hình thành nguyên tắc “thực hiệnchế độ hai cấp xét xử” Tòa án là cơ quan được Nhà nước giao quyền xét xử, chính vìvậy, việc Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại bản án, quyết định khi có kháng nghị phúcthẩm đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền nhằm bảo đảm sự công bằng của phápluật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, cũng như đảm bảo mục đích xét xửthì thì chế định kháng nghị phúc thẩm đặt ra là yêu cầu tất yếu
1.4.2 Cơ sở pháp lý quy định kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Căn cứ pháp lý để Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sựđược quy định trong BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011, trong Luật Tổ chức Viện kiểmsát nhân dân và được hướng dẫn trong quy chế nghiệp vụ do Viện trưởng VKSND tốicao ban hành
Điều 250 BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định: “ Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm” Tiếp đó, các Điều từ 251 đến Điều 256 BLTTDS
sửa đổi, bổ sung 2011 quy định về thời hạn, thủ tục kháng nghị phúc thẩm
Luật Tổ chức VKSND 2002 quy định tại Điều 6: “Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát nhân dân có quyền ra quyết định kháng nghị, kiến
Trang 20nghị, yêu cầu và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các văn bản đó” Điều 21 quy định:
“Khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình… và những việc khác theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ và quyền hạn… yêu cầu Tòa án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình… và những việc khác theo quy định của pháp luật để xem xét, quyết định việc kháng nghị”; Tiếp theo, Điều 22 quy định: “Khi kiểm sát việc giải quyết các vụ
án dân sự, hôn nhân và gia đình…và những việc khác theo quy định của pháp luật, VKSND có quyền kháng nghị”.
Khoản 1, Điều 21 BLTTDS 2004 quy định: “Viện KSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong Tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết các vụ, việc dân sự kịp thời đúng pháp luật”.
Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự ban hành kèm theoquyết định số 567/QĐ-VKSTC ngày 08/10/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dânTối cao tại khoản 1, 2 Điều 9 đã quy định thẩm quyền và hướng dẫn quy định về thựchiện quyền kháng nghị phúc thẩm
Như vậy kháng nghị phúc thẩm là việc thực hiện quyền năng pháp lý của VKSND, là một trong những hoạt động rõ nhất về chức năng giám sát, kiểm tra của VKSND đốivới hoạt động Tố tụng dân sự của TAND ở giai đoạn sơ thẩm Việc kháng nghị đúngpháp luật, giúp Tòa án ra được bản án có căn cứ, hợp pháp là góp phần nâng cao hiệu lựcpháp luật, tăng cường pháp chế theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự
1.5 Sơ lƣợc về quy định kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện kiệm sát nhân dân
Ngày 2/9/1945 chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ranước Việt Nam dân chủ cộng hòa Ngay sau khi ra đời, bộ máy Nhà nước đã nhanhchóng được thành lập để kịp thời lãnh đạo nhân dân xây dựng và bảo vệ Nhà nước; Cùngvới sự ra đời của Tòa án, thì hoạt động kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Việnkiểm sát nhân dân cũng hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn của lịch sử
1.5.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến 1989
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ngay sau khi giành được chínhquyền, Ngày 09/1/1946, Quốc hội ban hành Hiến pháp đầu tiên tạo cơ sở pháp lý choviệc xây dựng và quản lý bộ máy nhà nước Các sắc lệnh về Tố tụng dân sự đã được banhành như sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 đã quy định về tổ chức các Tòa án và cácngạch thẩm phán đã ghi nhận nguyên tắc “Tòa án thực hiện hai cấp xét xử”; Sắc lệnh số85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và Luật Tố tụng quy định tại Điều 15:
Trang 21“Công tố viên có quyền kháng cáo cả việc Hình và việc Hộ” Trong tờ trình về Sắc lệnh
này đã nêu rõ: “Trái với quan niệm xưa cho rằng việc hộ thường chỉ có lợi hoặc có hạiriêng cho tư nhân nên xã hội không cần can thiệp đến, thì nay công tố Viện có kháng cáocác án hộ nếu xét thấy cần thiết”2
Sau năm 1954, đất nước ta bị chia cắt thành hai miền, miền Bắc được hoàn toàngiải phóng và tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam vẫn chịu sự thống trị củachính quyền Ngụy Sài Gòn và đế quốc Mỹ Vì vậy, hai miền Nam, Bắc có hai hệ thốngpháp luật khác nhau
Trong hoàn cảnh mới của đất nước, bản Hiến pháp năm 1946 không còn phù hợpnên được thay thế bằng Hiến pháp năm 1959 Hiến pháp năm 1959 - Hiến pháp đầu tiêntrong lịch sử lập hiến của nước ta ghi nhận sự ra đời của một loại hình cơ quan nhà nướcmới trong bộ máy nhà nước, đó là cơ quan Viện kiểm sát Tại Điều 105 Hiến pháp năm
1959 quy định “Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hoà kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi do luật định”.
Sự ra đời của mô hình Viện kiểm sát thay thế cho mô hình Viện công tố ở nước tagắn liền với yêu cầu của nhiệm vụ bảo đảm pháp chế thống nhất - điều kiện nền tảng choviệc xây dựng nhà nước kiểu mới Ngày 26/7/1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Lệnhcông bố Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân năm 1960 đã quy định: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố nhà nước, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” Và quyền kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát
nhân dân đã được quy định trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 TheoĐiều 17 của Luật này, VKSND Tối cao và các VKSND địa phương có quyền kháng nghịnhững bản án hoặc quyết định sơ thẩm của TAND cùng cấp và dưới một cấp
Đến năm 1975, đất nước ta được hoàn toàn thống nhất, mở ra thời kỳ cả nước đilên Chủ nghĩa xã hội, ngành Kiểm sát được tổ chức và hoạt động trên phạm vi cả nước
Hệ thống Viện kiểm sát ở miền Nam mới được thành lập theo Sắc lệnh số 01/SL-76 ngày15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Namquy định về tổ chức TAND và VKSND Theo Điều 16 của Sắc lệnh này, Viện kiểm sát cóquyền kháng nghị đối với các bản án và quyết định của TAND thấy cần xem xét lại.Cùng với sự độc lập của đất nước, Hiến pháp năm 1980 đã ra đời thay thế cho Hiến pháp
2 Xem: Bộ tư pháp, Tập luật lệ về tư pháp (theo các văn bản đã công bố đến ngày 10/7/1957), 1957, tr.10.
Trang 22năm 1959 Cùng với bản Hiến pháp mới, quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân
sự của Viện kiểm sát tiếp tục được quy định trong Luật tổ chức VKSND năm 19813
Tóm lại, trong giai đoạn này từ khi Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được banhành năm 1960, các vấn đề về kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đã được luật hóa cụ thể
và được áp dụng thống nhất trong cả nước
1.5.2 Giai đoạn từ năm 1989 đến 2004
Đây là giai đoạn Nhà nước ta bước sang thời kỳ đổi mới, xóa bỏ nền kinh tế baocấp, xây dựng kinh tế phát triển theo hướng cơ chế thị trường định hướng XHCN Trêntinh thần Đại hội Đảng lần thứ VI (ngày 12/01/1986) là tăng cường quản lý bằng phápluật, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân Ngày 29/11/1989, Hội đồng Nhà nướcCHXHCN Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Tại Pháplệnh này, kháng nghị phúc thẩm đã được quy định tại chương XI từ Điều 58 đến Điều 62,các vần đề căn bản như thẩm quyền kháng nghị, thời hạn kháng nghị… đều được quyđịnh khá chi tiết trong Pháp lệnh Nhằm cụ thể hóa các quy định về kháng nghị phúcthẩm, văn bản hướng dẫn đã được ban hành, cụ thể là Nghị quyết số 03/NQ-HĐTP ngày19/10/1990 của Hội đồng thẩm phám TAND Tối cao đã hướng dẫn một số quy định vềkháng nghị phúc thẩm trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
Năm 1992 thì Luật tổ chức VKSND năm 1992 được ban hành thay thế Luật tổchức VKSND năm 1981, kháng nghị phúc thẩm của VKSND được quy định tại khoản 4,Điều 17 “Khi thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, VKSND cónhững nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:…Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốcthẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tốtụng dân sư” Bên cạnh đó, giai đoạn này, Nhà nước ta cũng ban hành 2 Pháp lệnh quyđịnh về thủ tục kháng nghị phúc thẩm Đó là Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh
tế ngày 16/3/1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động ngày11/4/1996 Tại Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 vấn đề khángnghị phúc thẩm được quy định tại các Điều 59 đến Điều 64; Trong Pháp lệnh thủ tục giảiquyết các tranh chấp lao động, vấn đề kháng nghị phúc thẩm cũng được quy định tại cácĐiều 60 đến Điều 64 Hầu hết các quy định về kháng nghị phúc thẩm giải quyết vụ ánkinh tế, lao động không có sự khác biệt nhiều so với những quy đinh trong Pháp lệnh thủtục giải quyết các vụ án dân sự
Trên cơ sở kế thừa các quy định của các văn bản pháp luật trước (Luật tổ chứcVKSND năm 1981, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnhthủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh
3 Xem: khoản 4 Điều 13.
Trang 23chấp lao động năm 1996), Điều 22 Luật tổ chức VKSND năm 2002 tiếp tục quy địnhquyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự của Viện kiểm sát So với quy địnhtrong các văn bản pháp luật đã ban hành trước đây, các quy định về quyền kháng nghịphúc thẩm của Viện kiểm sát trong các văn bản pháp luật này không có gì khác và phạm
vi kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự của Viện kiểm sát vẫn không bị giới hạn
1.5.3 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay
Ngày 15/6/2004, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt Nam thông quaBLTTDS đã đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam.BLTTDS đầu tiên của nước ta được ban hành trên cơ sở kế thừa và phát triển các quyđịnh của các Pháp lệnh và có hiệu lực thi hành ngày 1/1/2005 là một bước tiến mới củaluật Tố tụng dân sự Việt Nam - đáp ứng yêu cầu về đổi mới hoạt động của các cơ quan tưpháp Trong bộ luật này, các quy định về kháng nghị phúc thẩm được quy định khá cụ thểtại chương XVII phần thứ ba của BLTTDS Các quy định về thẩm quyền, thủ tục, thờihạn và các quy định về thông báo về việc kháng nghị; hậu quả của việc kháng nghị…cũng được quy định chi tiết từ Điều 250 đến Điều 256 Như vậy, với việc quy định cácđiều khoản về kháng nghị phúc thẩm vụ ám dân sự, đã làm cho thủ tục kháng nghị phúcthẩm vụ án dân sự được chặt chẽ hơn, bao quát và mang tính hiệu quả hơn Cùng với việcban hành BLTTDS năm 2004, Hội đồng thẩm phán TANDTC đã ban hành Nghị quyếthướng dẫn số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04/8/2006 hướng dẫn thi hành một số quy địnhtrong phần thứ ba “thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của BLTTDS; Việntrưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Quy chế về công tác kiểm sát việcgiải quyết các vụ việc dân sự, trong đó có những hướng dẫn về kháng nghị theo thủ tụcphúc thẩm
Có thể nói BLTTDS năm 2004 ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lớn của hoạtđộng tố tụng dân sự nói chung và hoạt động kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự nóiriêng Với sự ra đời của BLTTDS, các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được bảo đảmthực hiện, đồng thời giúp hạn chế đến mức thấp nhất những sai lầm trong các bản án,quyết định của Tòa án trước khi có hiệu lực pháp luật Các quy định về kháng nghị phúcthẩm trong tố tụng dân sự đã được quy định một cách chi tiết và cụ thể tại một văn bảnpháp luật có giá trị pháp lý cao nhất của luật tố tụng dân sự
Tuy nhiên qua hơn 6 năm thực hiện, trước những yêu cầu mới của sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc, một số Điều của Bộ luật còn có những bất cập cần phải sửa đổi,
bổ sung cho phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn Vì vậy, ngày 29/3/2011 Quốc hội khóaXII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm
2004, Nghị quyết thi hành Luật Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 Với
Trang 24sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 đã làm cho BLTTDS dần được hoàn thiện hơn Như vậycùng với việc sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2004, thì Hội đồng thẩmphán TANDTC đã ban hành Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 hướngdẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấpphúc thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung nam 2011 và có hiệu lực thi hành kể
từ ngày 01/7/2013 (thay cho Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04/8/2006 về việchướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa
án cấp phúc thẩm” của BLTTDS năm 2004) Hầu hết các quy định về kháng nghị phúcthẩm trong BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 này không có sự khác biệt sovới những quy định của BLTTDS trước đó (năm 2004)
Như vậy, các vấn đề về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự hiện nay của VKSND
đã được quy định tương đối đầy đủ, chặt chẽ, các quy định đã có nhiều điểm mới, bảođảm hơn quyền và lợi ích của các đương sự và ngày càng được bổ sung, hoàn thiện đểphù hợp với bối cảnh đất nước
Kết luận chương 1: Trong phạm vi chương 1, khóa luận đã làm rõ một số vấn
chung về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự Trên cơ sở tìm hiểu, nhận xét, đưa ra một
số vấn đề lý luận liên quan đến kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự, từ đó nêu ra đượckhái niệm và đặc điểm, ý nghĩa của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự cũng như nêuđược vai trò, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự.Khóa luận cũng đã nêu được cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của kháng nghị phúc thẩm vụ
án dân sự
Trang 25CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
VỀ KHÁNG NGHỊ PHÖC THẨM
Trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành, chỉ Viện kiểm sát mới có quyềnkháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm Để thực hiệnquyền kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự, Viện kiểm sát phải tuân theo các quy định màpháp luật đã quy định về kháng nghị phúc thẩm Do đó, để hiểu thêm về hoạt động khángnghị phúc thẩm của VKSND, chương này sẽ trình bày về những quy định mà Bộ luật tốtụng dân sự hiện hành đã quy định về hoạt động kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự củaViện kiểm sát nhân dân
2.1 Phạm vi, thẩm quyền, thời hạn kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 2.1.1 Phạm vi kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Để thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự, Viện kiểm sát cần phảixác định rõ phạm vi kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự là những bản án, quyết địnhnào? Đây là một vấn đề mà các Pháp lệnh trước đây không quy định cụ thể, như Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự tại khoản 2 Điều 58 quy định:“Viện kiểm sát…
có quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm” Như vậy, Pháp lệnh
đã cho phép Viện kiểm sát có quyền kháng nghị phúc thẩm đối với mọi bản án, mọiquyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
BLTTDS hiện hành lại quy định cụ thể hơn về vấn đề này, theo đó Viện kiểm sát
có quyền kháng nghị mọi bản án của Tòa án cấp sơ thẩm nhưng lại giới hạn quyền khángnghị phúc thẩm của Viện kiểm sát đối với các quyết định như quyết định tạm đình chỉ,đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm (Điều 250 BLTTDS sửa đổi, bổsung năm 2011) Đối với các quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm về việc giải quyết
vụ án dân sự như: quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, quyết định ápdụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định đưa vụ án ra xét xử… thì Viện kiểmsát không có quyền kháng nghị phúc thẩm
Ta thấy về nội dung giữa Pháp lệnh và BLTTDS hiện hành có quy định khác nhau
về quyền kháng nghị quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm Các Pháp lệnh quy định Việnkiểm sát có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, như vậy đã không giớihạn những quyết định mà Viện kiểm sát có quyền kháng nghị Nay Bộ luật tố tụng lạiquy định cụ thể Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với quyết định tạm đình chỉ, đìnhchỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm, như vậy là có giới hạn nhất định Từphân tích, ta thấy trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Tòa án cấp sơ thẩm có thể ranhiều quyết định khác nhau Tuy nhiên, theo quy định hiện hành thì chỉ đối với quyết
Trang 26định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự và quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sựcủa Tòa án cấp sơ thẩm thì mới là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm Vậy tại sao phápluật đã hạn chế đi quyền kháng nghị phúc thẩm của VKSND đối với các quyết định củaTòa án cấp sơ thẩm?
Thiết nghĩ, với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là quyết định kết thúcviệc giải quyết vụ án dân sự khi có căn cứ do pháp luật quy định Khi Tòa án cấp sơ thẩmquyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (Điều 192 BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm2011) thì việc giải quyết vụ án dân sự được ngừng lại hẳn và đương sự không có quyềnkhởi kiện lại vụ án đó Để quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đúng và bảo đảmquyền bảo vệ của các đương sự trong Tố tụng dân sự, pháp luật phải quy định Viện kiểmsát có quyền kháng nghị đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa áncấp sơ thẩm Còn với quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, là việc tòa ánquyết định tạm ngừng (không ngừng hẳn) việc giải quyết vụ án dân sự khi có những căn
cứ quy định tại Điều 189 BLTTDS hiện hành, do đó cũng như quyết định đình chỉ, khi
mà các căn cứ của tòa án không đúng dẫn đến quyết định tạm đình chỉ, thì cũng sẽ gâyảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự và dẫn đến vụ án kéo dài do đó quyết địnhtạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cũng phải là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm.Còn đối với các quyết định khác, chẳng hạn như quyết định công nhận sự thỏa thuận củacác đương sự thì Tòa án cấp sơ thẩm chỉ giải quyết về mặt tố tụng như ghi nhận lại sựthỏa thuận của các đương sự làm cơ sở cho việc thi hành nên không thuộc đối tượng củakháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
2.1.2 Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Để bảo đảm tính hợp pháp và có căn cứ của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm Điều 250 BLTTDS hiện hành quy định: “Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm” Theo đó, BLTTDS hiện hành đã quy định rõ chức danh người
ký kháng nghị là Viện trưởng VKSND cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền khángnghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.Quy định nhằm nâng cao vai trò và trách nhiệm của Viện kiểm sát các cấp trong việcthực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa ántrong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có viphạm trong quá trình giải quyết thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị để yêu cầu Tòa áncấp trên xét xử lại, cụ thể quy định cả Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trêntrực tiếp đều có quyền kháng nghị là nhằm phát hiện và khắc phục kịp thời những sai sót
Trang 27về xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, bảo đảm tính hợp pháp và có căn cứ của bản án, quyếtđịnh sơ thẩm trước khi được đưa ra thi hành.
So với các Pháp lệnh trước đây, thì không quy định cụ thể và thống nhất về người
có quyền ký quyết định kháng nghị mà chỉ quy định chung chung như Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án dân sự tại khoản 2 Điều 58 quy định:“ Viện kiểm sát cùng cấp hoặc trên một cấp có quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm” Tuy
nhiên, ta biết Viện kiểm sát nhân dân có hai chức danh pháp lý đó là Viện trưởng Việnkiểm sát và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nên việc quy định như vậy dễ dẫn đến nhận thứckhác nhau về người có thẩm quyền ký quyết định kháng nghị và trên thực tế đã có nhiềutrường hợp áp dụng quy định này không thống nhất, có quyết định kháng nghị do Việntrưởng Viện kiểm sát ký, có quyết định kháng nghị do Kiểm sát viên Viện kiểm sát ký
Để khắc phục tình trạng đó, Điều 250 BLTTDS hiện hành đã quy định rõ chức danhngười ký quyết định kháng nghị phúc thẩm, theo đó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dâncùng cấp và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghịbản án, quyết định dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Việc quyđịnh người có thẩm quyền kháng nghị nêu trong BLTTDS hiện hành đã thống nhất nhữngnhận thức khác nhau trước đây về người và cơ quan có quyền kháng nghị
Mặt khác, tại khoản 2 Điều 44 BLTTDS hiện hành quy định: “Khi Viện trường vắng mặt thì Phó Viện trưởng được Viện trưởng ủy quyền thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của Viện trưởng quy định tại khoản 1 Điều này…” Do vậy, trong thực tế trên cơ sở phân
công các khâu công tác nghiệp vụ của Ngành kiểm sát, phần lớn Viện trưởng ủy quyềncho Phó Viện trưởng ký quyết định kháng nghị
Từ thực tế đó, thẩm quyền kháng nghị của Viện kiểm sát các cấp cụ thể như sau4:
- Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng VKSND cấp huyện được Viện trưởng ủyquyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyếtđịnh đình chỉ giải quyết vụ án chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cùng cấp
- Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng VKSND cấp tỉnh được Viện trưởng ủy quyềnkháng nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyết địnhđình chỉ giải quyết vụ án chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh và TAND cấphuyện
- Viện trưởng Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm thừa ủyquyền của Viện trưởng VKSND Tối cao ký kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối vớibản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp tỉnh chưa cóhiệu lực khi phát hiện có vi phạm pháp luật
4 Xem: Khoản 1 Điều 9 Quy chế về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự.
Trang 28So với các Pháp lệnh trước đây, xuất phát từ yêu cầu của việc giải quyết các tranhchấp dân sự, kinh tế, lao động và nội dung, tính chất của mỗi loại tranh chấp nên có việcquy định khác nhau về thời hạn kháng nghị trong các văn bản pháp luật về tố tụng, cụ thểlà: tại Điều 59 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định thời hạn khángnghị phúc thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên là 30ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án hoặc ra quyết định, Điều 61 Pháp lệnh thủ tục giảiquyết các vụ án kinh tế quy định thời hạn ngắn hơn: 10 ngày đối với Viện kiểm sát cùngcấp và 20 ngày đối với Viện kiểm sát cấp trên và Điều 61 Pháp lệnh thủ tục giải quyếtcác tranh chấp lao động quy định thời hạn 7 ngày đối với Viện kiểm sát cùng cấp và 10ngày đối với Viện kiểm sát cấp trên Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòathì thời hạn kháng nghị được tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản sao bản
án, quyết định của Tòa án mà không phân biệt thời hạn kháng nghị bản án và thời hạnkháng nghị quyết định
Nay BLTTDS hiện hành bên cạnh việc quy định thống nhất về thời hạn khángnghị phúc thẩm đối với việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế,thương mại và lao động, còn có sự phân biệt thời hạn kháng nghị đối với bản án và thờihạn kháng nghị đối với quyết định (quyết định tạm đình chỉ và quyết định đình chỉ) Cụthể bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật có thể bị Việnkiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị một phần hoặc toàn bộtrong thời hạn luật định:
- Đối với các bản án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm, khoản 1 Điều 252 BLTTDShiện hành quy định thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp là 15 ngày,của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày tuyên án Trường hợpViện kiểm sát không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểmsát nhận được bản án
Trang 29- Trường hợp đối tượng bị kháng nghị là quyết định tạm đình chỉ và quyết địnhđình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm thì thời hạn kháng nghị của Việnkiểm sát cùng cấp là 7 ngày, của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể
từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định (khoản 2 Điều 252 BLTTDS sửađổi, bổ sung năm 2011)
Như vậy, thời hạn kháng nghị đối với các bản án của Tòa án cấp sơ thẩm thốngnhất là 15 ngày và 30 ngày tùy từng cấp ban hành quyết định kháng nghị không phân biệtloại án dân sự, kinh tế hay lao động
Đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm thì thời hạn kháng nghị của Viện kiểmsát có khác nhau tùy thuộc vào từng cấp ban hành kháng nghị: 7 ngày và 10 ngày đối vớiquyết định tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết các vụ án
Trường hợp mà Luật tố tụng quy định Viện kiểm sát không bắt buộc phải tham giaphiên tòa sơ thẩm thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận đượcbản sao quyết định, nếu Kiểm sát viên vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm Những phiên tòa
mà luật tố tụng quy định Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghịtính từ ngày Tòa án ra quyết định, không được tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhậnđược bản sao quyết định
Tóm lại, thời hạn kháng nghị phúc thẩm của VKSND cấp trên trực tiếp dài hơnVKSND cùng cấp; thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát từng cấp đối với các bản ándài hơn so với thời hạn kháng nghị các quyết định (tạm đình chỉ, đình chỉ) giải quyết vụ
án dân sự Quy định như vậy là phù hợp với từng loại đối tượng bị kháng nghị và phùhợp với việc nghiên cứu hồ sơ, bổ sung chứng cứ làm cơ sở cho hoạt động kháng nghịphúc thẩm của Viện kiểm sát và nhằm khắc phục tình trạng kéo dài thời hạn giải quyết vụán
sơ thẩm
5 Xem : khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012.
Trang 30Ví dụ: Ngày 01/10/2013, Tòa án xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và cùng ngày01/10/2013 Tòa án tuyên án, thì ngày được xác định và thời điểm bắt đầu tính thời hạnkháng nghị như sau:
+ Trường hợp đại diện Viện kiểm sát cùng cấp có tham gia phiên tòa sơthẩm, thì ngày được xác định là ngày 01/10/2013, và thời điểm bắt đầu tính thời hạnkháng nghị mười lăm ngày (đối với Viện kiểm sát cùng cấp), ba mươi ngày (đối với Việnkiểm sát cấp trên trực tiếp) là ngày 02/10/2013
+ Trường hợp đại diện Viện kiểm sát cùng cấp không tham gia phiên tòa sơthẩm và giả sử ngày 15/10/2013, Viện kiểm sát cùng cấp mới nhận được bản án của Tòa
án cấp sơ thẩm, thì ngày được xác định là ngày 15/10/2013 và thời điểm bắt đầu tính thờihạn kháng nghị mười lăm ngày (đối với Viện kiểm sát cùng cấp), ba mươi ngày (đối vớiViện kiểm sát cấp trên trực tiếp) là ngày 16/10/2013
- Thời điểm bắt đầu thời hạn kháng nghị quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giảiquyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là ngày tiếp theo của ngày được xác định Ngàyđược xác định là ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định đó
+ Trường hợp quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án được banhành tại phiên tòa sơ thẩm và đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa (nếu có), thìngày được xác định là ngày ban hành quyết định đó Nếu đại diện Viện kiểm sát khôngtham gia phiên tòa, thì ngày được xác định là ngày giao quyết định cho Viện kiểm sátcùng cấp
+ Trường hợp quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án được banhành trước khi mở phiên tòa sơ thẩm hoặc tại phiên tòa sơ thẩm (trường hợp Viện kiểmsát không tham gia phiên tòa), thì ngày được xác định đối với Viện kiểm sát cùng cấp vàcấp trên trực tiếp là ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định đó
- Thời điểm kết thúc thời hạn kháng nghị là thời điểm kết thúc ngày cuối cùng củathời hạn Nếu ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần (thứ bảy, chủ nhật)hoặc ngày nghỉ lễ, thì thời hạn kháng nghị kết thúc vào lúc hai mươi tư giờ của ngày làmviệc đầu tiên tiếp theo ngày nghỉ đó
Ví dụ: Thời hạn là 15 ngày được tính bắt đầu từ ngày 02/10/2013 Theo quy địnhtại khoản 1 Điều 252 của BLTTDS hiện hành, thì thời hạn 15 ngày (đối với trường hợpđại diện Viện kiểm sát có mặt tại phiên tòa) kết thúc vào lúc 24 giờ ngày 16/10/2013 (nếukhông đúng vào ngày nghỉ cuối tuần, ngày nghỉ lễ) Giả sử ngày 16/10/2013 là ngày nghỉ
lễ, thì thời hạn 15 ngày kết thúc vào lúc 24 giờ ngày 17/10/2013 (nếu không đúng vàongày nghỉ cuối tuần); giả sử sau ngày nghỉ lễ (17/10/2013), ngày 18/10/2013 đúng vàongày thứ bảy, thì thời hạn 15 ngày kết thúc vào lúc 24 giờ ngày 20/10/2013
Trang 31Tòa án cấp sơ thẩm cần lập biên bản giao nhận để xác định ngày Viện kiểm sátcùng cấp nhận được bán án, quyết định sơ thẩm, trên cơ sở đó xác định thời hạn khángnghị.
2.2 Hình thức và nội dung quyết định kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Điều 251 BLTTDS hiện hành quy định về quyết định kháng nghị của Viện kiểmsát Theo quy định tại Điều luật này thì quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát phảiđáp ứng các yêu cầu sau đây về mặt hình thức và nội dung:
- Quyết định kháng nghị phải bằng văn bản, trong đó phải nêu cụ thể những vi phạm pháp luật của bản án, quyết định sơ thẩm 6
- Quyết định kháng nghị phải có các nội dung chính sau đây:
“ a Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng nghị;
b. Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị;
c. Kháng nghị phần nào của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật;
d. Lý do của việc kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát;
đ Họ, tên của người ký quyết định kháng nghị và đóng dấu của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị”.
So với các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và Pháp lệnh thủ tục giảiquyết các tranh chấp lao động không quy định cụ thể về hình thức và nội dung của khángnghị, đây là điểm hạn chế của pháp luật tố tụng dân sự Đây cũng là một trong nhữngnguyên nhân chủ yếu đã xảy ra không ít trường hợp kháng nghị tùy tiện Chỉ có Pháplệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế quy định tương đối rõ vấn đề này tại Điều 60:Viện kiểm sát kháng nghị bằng văn bản, trong kháng nghị phải nêu rõ:
a Nội dung phần quyết định của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bịkháng nghị;
b Lý do kháng nghị;
c Yêu cầu của kháng nghị
Kế thừa Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, khắc phục bất cập trongquy định của các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và Pháp lệnh thủ tục giảiquyết các tranh chấp lao động, Điều 251 BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định
nội dung và hình thức quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát như sau: “Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát phải bằng văn bản và có các nội dung chính sau đây:
6 Xem: Khoản 2 Điều 9 Quy chế về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự.
Trang 32a Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng nghị;
b. Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị;
c. Kháng nghị phần nào của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;
d Lý do của việc kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát;
đ Họ, tên của người ký quyết định kháng nghị và đóng dấu của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị”.
Như vậy, BLTTDS hiện hành có quy định cụ thể chi tiết hơn cả về hình thức vànội dung của bản kháng nghị Khi có căn cứ vi phạm của bản án, quyết định của Tòa áncấp sơ thẩm để làm cơ sở cho việc ban hành kháng nghị phúc thẩm, thì văn bản khángnghị cần phải tuân thủ hình thức của kháng nghị mà pháp luật quy định (kháng nghị phảibằng văn bản) theo quy định tại Điều 251 BLTTDS hiện hành, đó là yêu cầu bắt buộc vàphải đáp ứng nội dung buộc phải có trong mỗi bản kháng nghị
Cụ thể, khi đề cập nội dung trong phần c: “Kháng nghị phần nào của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật”, bản kháng nghị phải thể
hiện rõ nội dung vụ việc, phân tích các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ đối chiếu với bản
án, quyết định sơ thẩm, xác định vi phạm của bản án, quyết định sơ thẩm đó Về lý do (căn cứ) kháng phúc thẩm quy định tại mục d, khi ban hành kháng nghị cần phải lưu ý:
BLTTDS hiện hành không có quy định về căn cứ kháng nghị phúc thẩm Điều đó cũng
có nghĩa, Viện kiểm sát về nguyên tắc có thể kháng nghị phúc thẩm đối với mọi bản án,quyết định sơ thẩm có vi phạm về pháp luật nội dung hoặc pháp luật hình thức Tuynhiên, trên thực tế, Viện kiểm sát chỉ tiến hành kháng nghị phúc thẩm đối với những bản
án, quyết định sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Đối với những trườnghợp bản án, quyết định dân sự mắc sai lầm trong việc áp dụng pháp luật nhưng không viphạm thủ tục tố tụng thì để đảm bảo nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương
sự, Viện kiểm sát không kháng nghị, việc kháng cáo hay không kháng cáo hoàn toàn dođương sự quyết định
Sau khi nêu rõ lý do việc kháng nghị, bản kháng nghị phải nêu rõ quan điểm vàhướng giải quyết vụ việc dân sự ở Tòa án cấp phúc thẩm Tùy thuộc vào đối tượng củakháng nghị mà quan điểm về hướng giải quyết của vụ án dân sự ở Tòa án cấp phúc thẩm
có khác nhau:
Đối với bản án sơ thẩm có vi phạm, kháng nghị yêu cầu Hội đồng xét xử phúc
thẩm giải quyết lại vụ án theo một trong những hướng sau: Sửa bản án sơ thẩm; Hủy bản
án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án; Hủy bản
Trang 33án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án (khoản 2, 3, 4 Điều 275 BLTTDS sửa đổi, bổsung năm 2011).
Đối với quyết định sơ thẩm có vi phạm, kháng nghị yêu cầu Hội đồng phúc thẩm
xem xét và quyết định theo một trong những hướng sau: Sửa quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm; Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ việc dân sự choTòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ việc (điểm b, c khoản 5 Điều 280 BLTTDSsửa đổi, bổ sung năm 2011)
Ngoài ra việc sử dụng văn phong pháp lý, các vấn đề, sự việc phải được trình bàyngắn gọn, rõ ràng, chính xác, dễ hiểu Khi viện dẫn các quy phạm pháp luật và văn bảnpháp luật phải ghi đúng tên loại, trích yếu nội dung văn bản: số ký hiệu văn bản, ngày,tháng, năm ban hành văn bản và cơ quan, tổ chức ban hành văn bản
2.3 Hậu quả của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Trong thời hạn kháng nghị, toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật Khi hết thời hạn kháng nghị mà có quyết định kháng nghị thì nhữngphần của bản án, quyết định bị kháng nghị chưa được đưa ra thi hành Tại Điều 254BLTTDS hiện hành quy định: bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị phần nào thì phần
đó chưa có hiệu lực và chưa đưa ra thi hành, trừ các quyết định mà pháp luật cho thi hànhngay như các quyết định về cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, trả tiềncông lao động, cấm hoặc buộc phải thực hiện hành vi nhất định thì Hội đồng xét xử có thểquyết định cho thi hành ngay mà không cần chờ bản án, quyết định phúc thẩm7
Bản án, quyết định hoặc những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa ánkhông bị kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị Bêncạnh đó, xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm phần bản án, quyết định sơ thẩm không bịkháng nghị có hiệu lực thi hành, góp phần bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc nhanhchóng, chính xác và đúng pháp luật BLTTDS hiện hành quy định Tòa án cấp phúc thẩmchỉ xem xét lại phần của bản án, quyết định sơ thẩm có kháng nghị hoặc có liên quan đếnviệc xem xét nội dung kháng nghị (Điều 263 BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011) Do
bị giới hạn bởi nội dung kháng nghị, đối với những phần của bản án, quyết định sơ thẩmkhông có kháng cáo, kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dungkháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có thẩm quyền xem xét, quyết định
Những phần của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng nghị thì có hiệu lựcpháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị và được đưa ra thi hành khi có đầy đủ cácđiều kiện sau đây 8:
7 Xem: Khoản 2 Điều 375 BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011.
Trang 34- Độc lập với những phần của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị;
- Việc xét kháng nghị đối với những phần của bản án, quyết định sơ thẩm bịkháng nghị không có liên quan đến những phần của bản án, quyết định sơ thẩm không bịkháng nghị
Ví dụ: Tại bản án số 35/2006/HNGĐ-ST ngày 15/02/2013, Tòa án nhân dânhuyện H, tỉnh HT đã quyết định cho anh A được ly hôn với chị B; giao chị B trông nôm,nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục con chung là cháu C, anh A phải có nghĩa vụ cấp dưỡngcon mỗi tháng là 200.000 đồng và chia tài sản chung của vợ chồng cho anh A và chị B.Sau khi xét xử sơ thẩm, anh A chị B không kháng cáo, chỉ Viện kiểm sát kháng nghị bản
án sơ thẩm về quyết định chia tài sản chung của vợ chồng Trong trường hợp này, nhữngphần của bản án sơ thẩm về ly hôn giữa anh A và chị B; về trông nôm, nuôi dưỡng, chămsóc, giáo dục con, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn không bị kháng nghị, độclập với phần bản án sơ thẩm mà bị Viện kiểm sát kháng nghị và việc xét kháng nghị phầnbản án sơ thẩm này không có liên quan đến những phần của bản án sơ thẩm không bịkháng nghị; do đó những phần của bản án sơ thẩm không bị kháng nghị có hiệu lực phápluật và được đưa ra thi hành
So với các Pháp lệnh trước đây (Điều 62 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án dân sự), tuy quy định của BLTTDS hiện hành không có sự thay đổi, nhưng có sửa đổi
về câu chữ thể hiện và chia thành 2 khoản; cụ thể là:
- Những phần của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật cho thi hành ngay
- Bản án, Quyết định hoặc những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị
Ngoài ra, ta cần lưu ý là Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi văn bản thông báo về việckháng nghị cho cơ quan Thi hành án dân sự để cơ quan Thi hành án dân sự có cơ sở đưa
ra thi hành những phần bản án, quyết định sơ thẩm không có kháng nghị, nếu đương sự
- Quyết định sơ thẩm không có kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật vào ngày thứ
11 (kể từ ngày giao quyết định cho Viện kiểm sát cùng cấp sơ thẩm)
Trang 352.4 Trình tự thủ tục kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
2.4.1 Gửi quyết định kháng nghị cho Tòa án
Sau khi ban hành văn bản kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự, Viện kiểm sát đãban hành kháng nghị phải gửi ngay quyết định kháng nghị cho Tòa án cấp sơ thẩm đã rabản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị để Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tụctheo quy định tại Điều 255 BLTTDS hiện hành Kèm theo quyết định kháng nghị là tàiliệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng nghị của Viện kiểm sát là cócăn cứ và hợp pháp
Trước đây, Pháp lệnh không có quy định về việc kháng nghị phải bằng văn bản, vềnội dung của quyết định kháng nghị, về việc phải gửi ngay kháng nghị cho Tòa án cấp sơthẩm, về việc gửi kèm các tài liệu, chứng cứ bổ sung để chứng minh tính hợp pháp và cócăn cứ của kháng nghị (do đó, có một số trường hợp quyết định kháng nghị có thiếu sót
về nội dung như: không ghi số hoặc không ghi ngày hoặc không nêu rõ yêu cầu của Việnkiểm sát trong kháng nghị…)
Nay BLTTDS hiện hành có quy định rõ những vấn đề này để việc ra quyết địnhkháng nghị được chặt chẽ, rõ ràng Điều 251 BLTTDS hiện hành quy định về việc gửi
quyết định kháng nghị cho Tòa án cấp sơ thẩm tại khoản 2 Điều 251: “Quyết định kháng nghị phải được gửi ngay cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị để Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định”.
Việc gửi các quyết định kháng nghị cho Tòa án thực tiễn vẫn được thực hiện từtrước đến nay, tuy nhiên về mặt pháp lý chưa được quy định trong các Pháp lệnh, trongkhi đó các Pháp lệnh chỉ quy định Viện kiểm sát gửi bản kháng nghị cho người có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị Nay BLTTDS hiện hành đã bổ sung quyđịnh về việc gửi quyết định kháng nghị cho Tòa án cấp sơ thẩm như vậy là chặt chẽ vàđầy đủ hơn về mặt pháp lý
2.4.2 Thông báo về việc kháng nghị
Điều 253 BLTTDS hiện hành quy định về thông báo về việc kháng nghị Theo
quy định tại Điều luật này, thì Viện kiểm sát đã ra quyết định kháng nghị phải gửi ngay quyết định kháng nghị đó cho các đương sự có liên quan đến kháng nghị Người được thông báo về việc kháng nghị có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm Văn bản nêu ý kiến của người được thông báo phải được lưu vào hồ sơ vụ án.
Trường hợp người được thông báo gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dungkháng nghị cho Tòa án cấp sơ thẩm mà hồ sơ vụ án chưa gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm,thì Tòa án cấp sơ thẩm đưa văn bản này vào hồ sơ vụ án và gửi cho Tòa án cấp phúc
Trang 36thẩm; nếu hồ sơ vụ án đã gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm, thì Tòa án cấp sơ thẩm phải gửivăn bản đó cho Tòa án cấp phúc thẩm để đưa vào hồ sơ vụ án và xem xét khi xét xử phúcthẩm.
Trước đây, tại khoản 1 Điều 61 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự cóquy định Viện kiểm sát gửi bản kháng nghị cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanđến nội dung kháng nghị Nay Bộ luật vẫn có quy định như Pháp lệnh, nhưng còn có quy
định bổ sung: “người được thông báo về việc kháng nghị có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm Văn bản nêu ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án”.
Như vậy, ngoài việc gửi quyết định kháng nghị cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết
vụ việc thì việc gửi quyết định kháng nghị cho các đương sự cũng là trách nhiệm củaViện kiểm sát, không phải của Tòa án
2.4.3 Gửi hồ sơ vụ án và kháng nghị
Điều 255 BLTTDS hiện hành quy định về gửi hồ sơ vụ án có kháng nghị Theoquy định tại Điều luật này, thì việc gửi hồ sơ vụ án có kháng nghị được thực hiện nhưsau: Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án có kháng nghị, tài liệu, chứng cứ kèm theocho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạnkháng nghị
Như vậy, khi có căn cứ để Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị phúc thẩm vụ
án dân sự, thì quyết định kháng nghị phải gửi ngay cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án,quyết định sơ thẩm bị kháng nghị để Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục gửi hồ sơ
vụ việc cho Tòa án cấp phúc thẩm theo quy định Kèm theo đó là các tài liệu, chứng cứ
bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ và hợppháp Đồng thời quyết định kháng nghị cũng phải được gửi ngay cho các đương sự cóliên quan đến kháng nghị
2.5 Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị phúc thẩm và hậu quả pháp lý của thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Để bảo đảm sự tôn trọng quan điểm của Viện kiểm sát và của người ký quyết địnhkháng nghị, trong trường hợp họ muốn thay đổi, bổ sung hoặc rút kháng nghị, pháp luật
đã quy định trình tự thay đổi, bổ sung kháng nghị nhằm bảo đảm việc kháng nghị đượcchính xác, đầy đủ và cần thiết
Về vấn đề này, các Pháp lệnh trước đây có quy định không thống nhất: Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án dân sự tại Điều 60 quy định: “Trước hoặc trong phiên tòa Viện kiểm sát có quyền sửa đổi nội dung kháng nghị hoặc rút kháng nghị”; trong khi đó,
Điều 67 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Điều 63 Pháp lệnh thủ tục giải
Trang 37quyết các tranh chấp lao động lại không quy định về việc thay đổi, bổ sung kháng nghịcủa Viện kiểm sát mà chỉ quy định về việc rút kháng nghị Đây là một thiếu sót lớn trongcác quy định của pháp luật về quyền kháng nghị phúc thẩm của VKSND đồng thờikhông phù hợp với thực tiễn xét xử Ngoài ra, việc Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ ándân sự quy định về quyền sửa đổi nội dung kháng nghị và rút kháng nghị mà không giớihạn phạm vi sửa đổi, rút kháng nghị của Viện kiểm sát có thể dẫn đến tình trạng sửa đổi,rút kháng nghị tùy tiện, gây bất lợi cho đương sự.
BLTTDS hiện hành đã khắc phục được những điểm hạn chế của các Pháp lệnhbằng quy định cụ thể tại Điều 256 BLTTDS về thay đổi, bổ sung và rút kháng nghị củaViện kiểm sát nhân dân:
“Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưng không được vượt quá phạm vi, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã hết.
Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị.
Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những phần của vụ
án mà Viện kiểm sát đã rút kháng nghị.
Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải được làm thành văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho các đương sự biết về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị.
Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa”.
So với trước đây (Điều 60 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự) thì chỉquy định chung chung là trước hoặc trong phiên tòa phúc thẩm Viện kiểm sát có quyềnsửa đổi nội dung đã kháng nghị hoặc rút kháng nghị Nay Bộ luật tố tụng vẫn có quyđịnh như Pháp lệnh, nhưng có bổ sung quy định cụ thể hơn:
- Về việc thay đổi, bổ sung kháng nghị:
+ Trường hợp vẫn còn thời hạn kháng nghị quy định tại Điều 252 BLTTDShiện hành, thì Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung nội dung khángnghị đối với phần bản án hoặc toàn bộ bản án mà mình có quyền kháng nghị
+ Trường hợp Viện kiểm sát đã rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị nhưngsau đó có kháng nghị lại mà vẫn còn trong thời hạn kháng nghị thì vẫn được chấp nhận
để xét xử phúc thẩm theo thủ tục chung
Trang 38+ Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại Điều 252 BLTTDShiện hành, thì trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm Viện kiểm sát đãkháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị nhưng không được vượt quá phạm vikháng nghị đã gửi cho Tòa án trong thời hạn kháng nghị.
Chỉ được thay đổi, bổ sung kháng nghị trong phạm vi kháng nghị ban đầu, nếuthời hạn kháng nghị đã hết (nếu thời hạn kháng nghị chưa hết thì việc thay đổi, bổ sungkháng nghị không bị hạn chế trong phạm vi kháng nghị ban đầu)
Trong trường hợp thay đổi, bổ sung kháng nghị được chấp nhận, Tòa án cấp phúcthẩm phải thông báo cho các đương sự biết về nội dung thay đổi, bổ sung trước khi mởphiên tòa (hoặc tại phiên tòa)
Ví dụ: Trong ví dụ tại mục 2.3, sau khi xét xử sơ thẩm, anh A chị B không khángcáo, mà chỉ Viện kiểm sát kháng nghị bản án sơ thẩm về quyết định chia tài sản chungcủa vợ chồng Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm hoặc tại phiên Tòa phúc thẩm nếu Việnkiểm sát rút kháng nghị, thì Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúcthẩm đối với phần của vụ án mà Viện kiểm sát đã rút kháng nghị vì trong vụ án không cókháng cáo của đương sự mà chỉ có kháng nghị của Viện kiểm sát
+ Nếu việc rút kháng nghị được thực hiện trước khi mở phiên tòa thì Thẩmphán được phân công Chủ tọa phiên tòa ký quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm , còn tạiphiên tòa do Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm
Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp,các đương sự có liên quan đến việc giải quyết kháng nghị và cơ quan thi hành án dân sự
có thẩm quyền (Quyết định này được coi là thông báo cho các đương sự biết về việc rútkháng nghị)
Từ phân tích trên, khi thực hiện việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị phúc thẩm
vụ án dân sự thì chủ thể đã ban hành quyết định kháng nghị cần lưu ý một số vấn đề sauđây:
Trang 39- Chủ thể bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị: Chỉ có người ban hành kháng nghị(Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát đã kháng nghị) mới có quyền thay đổi,
bổ sung kháng nghị Việc rút kháng nghị chỉ được thực hiện bởi Viện trưởng (hoặc PhóViện trưởng) Viện kiểm sát đã ban hành kháng nghị hoặc Viện trưởng (Phó Viện trưởng)Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp (Đối với trường hợp Phó Viện trưởng thì chỉ khi đượcViện trưởng ủy quyền để Phó Viện trưởng ký quyết định kháng nghị phúc thẩm)
- Phạm vi thay đổi, bổ sung kháng nghị: Khi thời hạn kháng nghị đã hết thì nộidung thay đổi, bổ sung kháng nghị không được vượt quá phạm vi kháng nghị ban đầu.Trong trường hợp thời hạn kháng nghị chưa hết thì việc thay đổi, bổ sung kháng nghị cóthể vượt quá phạm vi kháng nghị ban đầu;
- Thời điểm thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị: trước hoặc tại phiên tòa phúc thẩm,Viện trưởng Viện kiểm sát đã ban hành kháng nghị hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát cấptrên trực tiếp có thể thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị;
- Hình thức thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị: Trước phiên tòa phúc thẩm việcthay đổi, bổ sung, rút kháng nghị phải làm thành văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúcthẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho đương sự biết về việc thay đổi, bổ sung,rút kháng nghị Tại phiên tòa phúc thẩm việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị do kiểmsát viên tham gia phiên tòa trực tiếp thực hiện theo sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểmsát cấp mình trên cơ sở Quy chế nghiệp vụ của Ngành Việc thay đổi, bổ sung, rút khángnghị tại phiên tòa phúc thầm không nhất thiết phải được làm thành văn bản nhưng phảiđược ghi vào biên bản phiên tòa phúc thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo bằng văn bản9 về việc thay đổi, bổ sung, rútkháng nghị đó cho các đương sự biết theo quy định tại khoản 3 Điều 256 BLTTDS sửađổi, bổ sung năm 2011, đồng thời tiến hành các công việc theo quy định của BLTTDShiện hành để mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án dân sự theo thủ tục chung đối vớikháng nghị đã được thay đổi, bổ sung
- Hậu quả pháp lý của việc rút kháng nghị: Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử
vụ án đối với những phần của vụ án mà Viện kiểm sát đã rút kháng nghị
Tóm lại, việc quy định bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị tại Điều 256 BLTTDSsửa đổi, bổ sung năm 2011 đã tạo điều kiện để chủ thể ra quyết định kháng nghị (Việnkiểm sát nhân dân) thực hiện đầy đủ thẩm quyền để đạt hết yêu cầu của mình, cũng nhưkịp thời thay đổi những nội dung kháng nghị mà theo họ chưa thỏa đáng, giúp cho Tòa
án cấp phúc thẩm có cơ sở xét xử vụ án được toàn diện, đầy đủ Quy định này cũng làm
9 Xem: Phụ lục 4 + Phụ lục 5 (mẫu số 10 và 11 ban hành kèm theo Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012).
Trang 40giảm bớt số lượng án mà cấp phúc thẩm phải xét xử (trường hợp rút kháng nghị) và hạnchế chi phí tố tụng, giúp cho bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm nhanh chốngđược thi hành.
Kết luận chương 2: Kháng nghị phúc thẩm là quyền năng pháp lý mà pháp luật
chỉ trao cho Viện kiểm sát, Tòa án không có quyền này Đây là quyền xong cũng đồngthời là trách nhiệm của Viện kiểm sát phải chú trọng thực hiện để góp phần đảm bảo chopháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, đảm bảo quyền lợi chính đángcủa công dân, cơ quan, tổ chức Để thực hiện đúng thẩm quyền và hoàn thành tráchnhiệm mà pháp luật đã trao cho VKSND, khi thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm vụ
án dân sự thì cần phải nắm vững những quy định mà pháp luật cụ thể là BLTTDS hiệnhành đã quy định và vận dụng chính xác trong quá trình giải quyết vụ việc