Song công việc kiểm soát chi thực tế rất phức tạp, việc kiểm soát chi ngân sách Nhà nước phải được thực hiện trước trong và sau quá trình cấp phát thanh toán.Các khoản chi phải có trong
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ CÔNG NGHIỆP LONG AN
-
NGUYỄN THỊ THIÊN HƯƠNG
KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ CÔNG NGHIỆP LONG AN
-
NGUYỄN THỊ THIÊN HƯƠNG
KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN
CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tài Chính Ngân Hàng
Mã số: 8.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Đình Viên
Long An, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu của đề tài là hoàn toàn trung thực và khách quan Đề tài nghiên cứu là kết quả của riêng tôi và không sao chép của bất kỳ đề tài nghiên cứu nào, các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, minh bạch Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của tôi
Cần Giuộc, ngày 08 tháng 07năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thiên Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của quý thầy cô Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại Kinh Tế Công Nghiệp Long An đã tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng như đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm đã cho chúng tôi có điều kiện học tập và nghiên cứu những vấn đề mới mẻ với những kiến thức sâu hơn, thiết thực hơn Đặc biệt là sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Đình Viên xuyên suốt trong thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc và tập thể cán bộ công chức Kho bạc Nhà nước Cần Giuộc đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn
Tác giả
Nguyễn Thị Thiên Hương
Trang 5NỘI DUNG TÓM TẮT
Công tác chi thường xuyên trong nhiều năm qua đối với chi NSNN các cấp đang tồn tại nhiều áp lực bởi ngành nào, lĩnh vực nào cũng quan trọng và đòi hỏi nguồn ngân sách cấp đúng hạn nhằm triển khai hiệu quả nhiệm vụ được giao Trong việc sử dụng NSNN chưa đem lại hiệu quả, vẫn còn tình trạng tham nhũng, lãng phí, chi sai chế độ, định mức Bên cạnh đó công tác kiểm soát chi của cơ quan Kho bạc cũng còn một số bất cập như trình độ chuyên môn còn hạn chế, các công cụ kiểm soát chi chưa đồng bộ Việc quản lý tốt chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước công bằng, đúng đối tượng luôn là đòi hỏi cấp thiết
Để Nhà nước tồn tại và phát triển bền vững thì yêu cầu đòi hỏi cần phải có sự quản lý về Ngân sách Nhà nước mà quan trọng là sự hiệu quả của kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước và phải quản lý tốt được việc chi Ngân sách Nhà nước đảm bảo chi đúng chế độ, định mức, sử dụng đúng mục đích, tránh lãng phí mang lại hiệu quả và tạo tiền đề cho tăng trưởng nền kinh tế
Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích phân tích thực trạng “Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại Kho Bạc Nhà Nước huyện Cần Giuộc Tỉnh LongAn” Kết quả nghiên cứu đã hệ thống được:
Thứ nhất, hệ thống hóa một cách cụ thể về cơ sở lý luận vể kiểm soát chi thường
xuyên qua Kho bạc nhà nước
Thứ hai,Phân tích thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN Huyện Cần
Giuộc Tỉnh Long An giai đoạn từ năm 2016-2018 Từ đó đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế
Thứ ba,Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên
qua KBNN Huyện Cần Giuộc Tỉnh Long An giai đoạn 2019-2020 và những năm tiếp theo
Tóm lại: Có thể nói đây là đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống về kiểm soát
chi thường xuyên NSNN Bằng luận văn của mình, tôi hy vọng làm sáng tỏ sự cần thiết phải nghiên cứu, hoàn thiện lĩnh vực này, những ưu điểm vượt trội của kiểm soát chi thường xuyên NSNN, đồng thời cũng thông qua đó hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận và thực tiễn làm nền tảng cho việc nghiên cứu thay đổi cơ bản phương pháp kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN Hy vọng rằng trong
Trang 6tương lai không xa, với những nghiên cứu và những giải pháp, đề xuất mang tính hệ thống của luận văn sẽ đóng góp một phần nhỏ hữu ích trong quá trình cải cách thủ tục
hành chính và hiện đại hóa hệ thống KBNN Việt Nam
Trang 7In order for the State to survive and develop sustainably, the management of the State Budget is required, but it is important that the effectiveness of the State Budget control and the management of the State budget must be well managed, which can ensure the right spending regime, norms and use for the right purpose, avoiding wastefulness and bringing about efficiency and premise for economic growth
Stemming from the above problem, the research was carried out to analyze the real situation of "Controlling state budget regular expenditures at the State Treasury in Can Giuoc district, Long An Province"
The research results have shown that:
Firstly, systematizing specifically the rationale for controlling regularexpenditures through the State Treasury
Secondly, analyzing the status of regular expenditure control through the State Treasury of Can Giuoc District Long An Province in the period of 2016-2018 Thereby assessing the achievements, limitations and causes of the limitations
Thirdly, proposing solutions to improve the effectiveness of regular expenditure control through the State Treasury of Can Giuoc District Long An Province in the period of 2019-2020 and subsequent years./
In conclusion: It can be said this is asystematical research in controlling State
budget’sregular expenditures.By my dissertation, I hope to clarify the need to research, and improve this field, the outstanding advantages of controlling State budget’s regular expenditures It also systematizes and deepens the theoretical and practical basis serving as afoundation for the study of fundamentally changing the method of controlling State budget’sregular expenditures through the State Treasury.Hopefully in
Trang 8the near future, with research and solutionsproposed by my dissertation will make part contribution in the process of reforming administrative procedures, and modernizing the Vietnamese State Treasury system
Trang 9MỤC LỤC
Trang
NỘI DUNG TÓM TẮT iii
ABSTRACT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU x
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ xi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài: 1 2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
3 Đối tượng nghiên cứu: 2 4 Phạm vi nghiên cứu 2 5 Câu hỏi nghiên cứu 2 6 Những đóng góp mới của luận văn 3 7.Phương pháp nghiên cứu 3 8.Tổng quan các công trình nghiên cứu trước 3 9 Kết cấu luận văn 4 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 5
1.1 Ngân sách nhà nước 5 1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước 5
1.1.2 Khái niệm về chi ngân sách nhà nước 6
1.1.3 Khái niệm về kiểm soát chi ngân sách nhà nước 6
1.2 Chi thường xuyên 7 1.2.1Khái niệmchi thường xuyên ngân sách nhà nước 7
1.2.2Đặc điểm của chi thường xuyên ngân sách nhà nước 8
1.2.3 Nội dung chi thường xuyên ngân sách nhànước 8
1.3 Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước 10 1.3.1 Khái niệm và đặc điểm kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạcnhà nước 10
Trang 101.3.2 Nội dung kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước 11 1.3.3 Quy trình kiểm soát chi thường xuyên của ngân sách nhà nước quakho bạc nhà nước 11 1.3.4 Các nguyên tắc kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước 15 1.3.5 Sự cần thiết phải kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước 19 1.3.6 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước 20 1.4 Kinh nghiệm kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc ở một số địa phương và bài học rút ra cho kho bạc nhà nước Huyện Cần Giuộc 21
1.4.1Kinh nghiệm kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước ở một số địa phương 21
1.4.2Bài học rút ra cho kho bạc nhà nướcHuyện Cần Giuộc 22
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN CẦN GIUỘC 24
2.1Khái quát về Kho bạc nhà nước huyện Cần Giuộc Tỉnh LongAn 24
2.1.1Giới thiệu chung về Kho bạc Nhà nước Cần Giuộc Long An 24 2.1.2Mô hình tổ chức bộ máy 25 2.2 Thực trạng kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc nhà nước huyện Cần Giuộc 27
2.2.1Quy trình kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc nhà nước 27 2.2.2Nội dung kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc nhà nước Huyện Cần Giuộc 35
2.2.3Tình hình kiểm soát cam kết chi thường xuyên NSNN qua KBNN: 45
2.2.4.Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc
nhànước HuyệnCần giuộc 48 2.2.4.1Kết quả thực hiện kiểm soát, thanh toán chi thường xuyên NSNN qua
2.2.5Đánh giá kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc huyện CầnGiuộc 52
Kết luận chương 2 61
Trang 11CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN CẦN GIUỘC
TỈNH LONG AN 62
3.1.Định hướng và quan điểm kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại Kho bạc nhà nước 62 3.1.1 Định hướng chi ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước 62
3.1.2 Quan điểm kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước 63
3.2Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bac nhà nướcHuyện Cần Giuộc Tỉnh Long An 64 3.2.1Tăng cường kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua KBNN Cần Giuộc Long An 64
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên đối với các đơn vị sử dụng NSNN 70
3.3 Một số kiến nghị 72 3.3.1 Kiến nghị với Kho bạc Nhà nước 72
3.3.2 Kiến nghị với KBNN Tỉnh Long An 72
3.3.3 Kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân huyện Cần Giuộc 73
Kết luận chương 3 73
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 12DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Cơ cấu các khoản chi thường xuyên NSNN qua KBNN Cần GiuộcLong An 36 Bảng 2.2: Bảng tổng hợp cam kết chi thường xuyên NSNN qua KBNN Huyện Cần Giuộc Tỉnh Long An 46 Bảng 2.3: Báo cáo điều chỉnh, bổ sung dự toán năm 2016 - 2018 48 Bảng 2.5: Bảng tổng hợp kết quả từ chối thanh toán chi thường xuyên NSNN qua KBNN Huyện Cần Giuộc Tỉnh Long An 2016 - 2018 50
Trang 13DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước Huyện Cần Giuộc 25
Sơ đồ 2.2: Quy trình cấp phát các khoản chi thường xuyên theo hình thức dự toán 27
Sơ đồ 2.3: Quy trình giao dịch một cửa 31
Trang 14KSC Kiểm soát chi
GVHD Giáo viên hướng dẫn
TABMIS Chương trình Kế toán NSNN và hoạt động nghiệp vụ KBNN( (Viết tắt
của 6 từ tiếng Anh “Treasury And Budget Management Information
System”)
Trang 15PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài:
Hiện nay, đất nước đang trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Một trong những nhân tố chính giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện đường lối đổi mới và hội nhập của Nhà nước đó chính là Ngân sách Nhà nước Vì Ngân sách Nhà nước là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội Để Nhà nước tồn tại và phát triển bền vững thì yêu cầu đòi hỏi cần phải có sự quản lý về Ngân sách Nhà nước mà quan trọng là sự hiệu quả của kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước và phải quản lý tốt được việc chi Ngân sách Nhà nước đảm bảo chi đúng chế độ, định mức, sử dụng đúng mục đích, tránh lãng phí mang lại hiệu quả và tạo tiền đề cho tăng trưởng nền kinh tế
Thực tế cho thấy trong quản lý và điều hành Ngân sách Nhà nước, Kho bạc Nhà nước đã trở thành một công cụ đắc lực giúp Nhà nước trong việc kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động tài chính Song công việc kiểm soát chi thực tế rất phức tạp, việc kiểm soát chi ngân sách Nhà nước phải được thực hiện trước trong và sau quá trình cấp phát thanh toán.Các khoản chi phải có trong dự toán được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Do vậy việc thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với Kho bạc Nhà nước là rất khó khăn, đòi hỏi Kho bạc Nhà nước phải có các gợi ý chính sách trong việc kiểm soát chi thường xuyên cho hợp lý, đúng chế độ, tiêu chuẩn
và đúng pháp luật tránh hiện tượng lãng phí NSNN và đảm bảo cân đối ngân sách một cách lành mạnh
Tuy nhiên thực tế trong công tác chi thường xuyên trong nhiều năm qua đối với chi NSNN các cấp đang tồn tại nhiều áp lực bởi ngành nào, lĩnh vực nào cũng quan trọng và đòi hỏi nguồn ngân sách cấp đúng hạn nhằm triển khai hiệu quả nhiệm vụ được giao Trong việc sử dụng NSNN chưa đem lại hiệu quả, vẫn còn tình trạng tham nhũng, lãng phí, chi sai chế độ, định mức.Bên cạnh đó công tác kiểm soát chi của cơ quan Kho bạc cũng còn một số bất cập như trình độ chuyên môn còn hạn chế, các công cụ kiểm soát chi chưa đồng bộ.Việc quản lý tốt chi thường xuyên NSNN công bằng, đúng đối tượng luôn là đòi hỏi cấp thiết
Trang 16Đối với Cần Giuộc là huyện trọng điểm về kinh tế ở phía nam tỉnh Long An, là
đô thị vệ tinh của thành phố Hồ Chí Minh, đang trên đà phát triển và hội nhập Vì thế công tác quản lý NSNN rất được sự quan tâm cấp chính quyền địa phương Là một huyện có doanh số chi NSNN lớn của tỉnh Long An Trong đó công tác kiềm soát chi thường xuyên ngân sách Nhà Nước cũng là một nhiệm vụ trọng tâm của KBNN huyện Cần Giuộc Nên việc nâng cao chất lượng kiểm soát chi thường xuyên nhằm tiết kiệm, chống lãng phí trong chi NSNN là vấn đề cấp thiết đang được đặt ra Đây cũng
là lí do tác giả chọn đề tài “Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại Kho Bạc Nhà Nước huyện Cần Giuộc Tỉnh LongAn” để thực hiện làm luận văn
thạc sĩ kinh tế
2 Mục tiêu nghiên cứu:
2.1 Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng và đánh giá hiệu quả của kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN Huyện Cần Giuộc
Đề xuất những giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên NSNN
2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận vể kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN
Phân tích thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN Huyện Cần Giuộc Tỉnh Long An giai đoạn từ năm 2016-2018 Từ đó đánh giá những thành tựu, hạn chế
và nguyên nhân của những hạn chế
Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN Huyện Cần Giuộc Tỉnh Long An giai đoạn 2019-2020 và những năm tiếp theo
3 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Phạm vi về không gian địa điểm: Tại KBNN Huyện Cần Giuộc Tỉnh Long
An
4.2 Phạm vi về thời gian: Từ năm 2016-2018
5 Câu hỏi nghiên cứu
Cơ sở lý luận kiểm soát chi thường xuyên tại KBNN Huyện Cần Giuộc?
Thực trạng kiểm soát chi tường xuyên tại KBNN Huyện Cần Giuộc Tỉnh Long
An thời gian qua diễn biến ra sao?
Trang 17Cần giải pháp nào để nâng cao hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN Huyện Cần Giuộc Tỉnh Long An trong thời gian tới?
6 Những đóng góp mới của luận văn
6.1 Đóng góp về phương diện khoa học:
Hệ thống hóa lý luận về kiểm soát chi thường xuyên và nâng cao hiệu quả chi thường xuyên NSNN tại KBNN, hình thành khung lý thuyết là cơ sở phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp
6.2 Đóng góp về phương diện thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn được ứng dụng trong thực tế, mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên tại KBNN, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội của tỉnh đề ra
7.Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính cụ thể:
- Phương pháp diễn dịch, quy nạp sử dụng để hệ thống hóa cơ sở lý luận về kiểm soát chi thường xuyên, hiệu quả chi thường xuyên và nâng cao hiệu quả chi thường xuyên NSNN tại KBNN
- Phương pháp thống kê mô tả để xử lý, phân tích và tổng hợp các số liệu, số liệu thu thập được từ thực tế kiểm soát chi thường xuyên, hiệu quả chi thường xuyên tại KBNN Cần Giuộc Tỉnh Long An, đánh giá kết quả đạt được cũng như những hạn chế và nguyên nhân của chúng
- Phương pháp thống kê đối chiếu so sánh để làm rõ và khách quan hơn các hạn chế, nguyên nhân, các nhân tố ảnh hưởng và các giải pháp cần thiết
8.Tổng quan các công trình nghiên cứu trước
8.1 Các nghiên cứu trong nước:
- Qua nghiên cứu chưa đầy đủ, trong những năm gần đây có nhiều đề tài cũng
như công trình nghiên cứu của các tác giả, tập trung phân tích, nhận diện, mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả, hiệu quả quản lý chi NSNN và đã đề xuất nhiều giải pháp để hoàn thiện quản lý chi NSNN, cụ thể như:
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế Kiểm soát chi bằng dự toán qua KBNN Vĩnh Phúc
của tác giả Dương Thị Kiều Loan (năm 2014) tại trường Đại học Kinh tế Quản trị kinh doanh Thái Nguyên Tác giả đề xuất những phương hướng và giải pháp hoàn thiện kiểm soát chi NSNN qua KBNN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, bao gồm các nhóm giải pháp như: hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của KBNN; hoàn thiện các phương pháp nghiệp vụ kiểm soát chi NSNN; đổi mới cơ chế quản lý NSNN và cơ chế quản lý tài chính của các đơn vị sử dụng NSNN,
Trang 18- Luận án Tiến sĩ “Đổi mới kiểm soát chi ngân sách thường xuyên của chính
quyền địa phương các cấp qua Kho bạc Nhà nước” năm 2015 của Nghiên cứu sinh
Nguyễn Quang Hưng, tại Học viện Tài chính, đã hệ thống hóa phân tích làm rõ thêm những vấn đề lý luận về: Chi thường xuyên NSNN của chính quyền địa phương các cấp qua Kho bạc Nhà nước; đã đi sâu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kiểm soát chi thường xuyên của chính quyền địa phương và đưa ra được một số giải pháp và kiến nghị Đã phân tích số liệu từ năm 2004 - 2013, quá trình phân tích vẫn còn một số nội dung chưa rõ
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế: “Nâng cao hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Tân Trụ Long an” năm 2016 của tác giả Phạm Văn Ràng, tại trường Đại học Maketing, TP Hồ Chí Minh
Qua tóm tắt các công trình nghiên cứu cho thấy không cò sự trùng lắp công trình “Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc nhà nước Huyện Cần Giuộc Tỉnh Long An” trong giai đoạn 2016-2018 Đó chính là nền tảng lý luận
mà luận văn này có thể đi sâu nghiên cứu và thực hiện
8.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài (Không có)
9 Kết cấu luận văn
Luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước
Chương 2 : Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước huyện Cần Giuộc Tỉnh Long An
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc nhà nước huyện Cần Giuộc Tỉnh Long An
Trang 19
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1 Ngân sách nhà nước
1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước
NSNN là một phạm trù lịch sử, phản ánh các quan hệ kinh tế trong điều kiện kinh tế hàng hoá - tiền tệ và được sử dụng như một công cụ để thực hiện chức năng của nhà nước Sự ra đời và tồn tại của NSNN gắn liền với sự tồn tại và phát triển của nhà nước
Tuy đã tồn tại khá lâu, nhưng đến nay, NSNN vẫn được nhìn nhận dưới nhiều gốc độ khác nhau và khái niệm NSNN cũng chưa thống nhất Nếu xem xét bề ngoài hay chỉ quan tâm về mặt lượng thì ngân sách là bảng liệt kê các khoản thu và chi bằng tiền của nhà nước trong một giai đoạn nhất định Có ý kiến cho rằng, ngân sách là văn kiện được nghị viện thảo luận và phê chuẩn mà trong đó, các nghiệp vụ tài chính của nhà nước được dự kiến và cho phép Một số ý kiến lại cho rằng, NSNN là kế hoạch thu chi tài chính hàng năm của nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp định
Theo Luật NSNN được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 16/12/2002: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”
Tuy nhiên, nếu nhìn nhận khái quát hơn và sâu xa hơn thì NSNN phản ánh các quan hệ phân phối cơ bản của nền tài chính quốc gia Về mặt kinh tế, NSNN thể hiện trong mối quan hệ kinh tế - tài chính giữa nhà nước với các chủ thể của nền kinh tế trong quá trình hình thành, phân bổ và sử dụng NSNN, quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của nhà nước
Ngân sách nhà nước có tính niên hạn với niên độ hay năm tài khoá thường là một năm Ở nước ta hiện nay, năm ngân sách bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm dương lịch NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm Trong đó, Quốc hội là cơ quan cao nhất có quyền quyết định dự toán và phê chuẩn quyết toán NSNN
Trang 20Ngân sách nhà nước có hai chức năng cơ bản là chức năng phân phối và chức năng giám đốc Chức năng phân phối của NSNN bao gồm phân phối thu nhập và các yếu tố đầu vào của sản xuất, đặc biệt là các nguồn lực tài chính Chức năng giám đốc thể hiện ở việc giám sát, đôn đốc, thanh tra, kiểm tra bằng đồng tiền gắn với quá trình thu, chi NSNN
Ngân sách nhà nước có vai trò rất to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội hiện đại Vai trò đó thể hiện trên các mặt như: vừa là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước, vừa là công cụ điều tiết vĩ mô kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục những khiếm khuyết của kinh tế thị trường, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, góp phần bảo vệ môi trường
1.1.2 Khái niệm về chi ngân sách nhà nước
Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho các chi phí của bộ máy nhà nước và thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội,
an ninh, quốc phòng Theo các nhà chuyên môn tài chính: "Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định"
Chi NSNN bao gồm nhiều khoản chi khác nhau tùy theo cách phân loại Theo lĩnh vực hoạt động, chi NSNN bao gồm: chi quản lý hành chính, chi đầu tư kinh tế, chi cho y tế, chi cho giáo dục, chi cho phúc lợi xã hội, chi cho an ninh quốc phòng; theo mục đích chi tiêu, chi NSNN bao gồm chi tích lũy, chi tiêu dùng; theo thời hạn tác động của các khoản chi, chi NSNN bao gồm: chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển
và chi khác (như chi cho vay, trả nợ, viện trợ )
Chi thường xuyên là nhóm chi NSNN đặc biệt quan trọng, gồm rất nhiều khoản chi và bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội
1.1.3 Khái niệm về kiểm soát chi ngân sách nhà nước
Kiểm soát chi NSNN là quá trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu do Nhà nước quy định dựa trên cơ sở những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong từng thời kỳ
Công tác kiểm soát chi NSNN phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Trang 21- Làm cho hoạt động chi NSNN đạt được hiệu quả cao nhất, có tác động tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế, tránh tình trạng làm cho quỹ NSNN bị cắt đoạn, phân tán, gây căng thẳng trong quá trình điều hành NSNN Vì vậy, cơ chế và chính sách kiểm soát chi NSNN phải quy định rõ ràng các điều kiện, trình tự cấp phát theo hướng cơ quan tài chính thực hiện cấp phát kinh phí phải căn cứ vào dự toán ngân sách năm đã được giao; về phương thức thanh toán phải đảm bảo mọi khoản chi của NSNN được thanh toán, chi trả trực tiếp qua KBNN cho các đối tượng thụ hưởng trên cơ sở
dự toán được duyệt, được thủ trưởng cơ quan, ĐVSDNS chuẩn chi và phù hợp với chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu hiện hành của Nhà nước
- Công tác quản lý và kiểm soát chi NSNN là một quy trình phức tạp từ lập dự toán, phân bổ dự toán tới cấp phát, thanh toán, hạch toán và quyết toán NSNN, có liên quan tới tất cả các Bộ, ngành, địa phương Do đó yêu cầu công tác quản lý và kiểm soát chi NSNN phải được tiến hành một cách chặt chẽ, thận trọng tuy nhiên không được máy móc gây phiền hà cho các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN cấp
- Tổ chức bộ máy theo hướng gọn nhẹ, đơn giản hóa các thủ tục hành chính Đồng thời cũng cần phân định rõ ràng vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan quản lý ngân sách, các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN, trong quá trình thực hiện chi NSNN từ khâu lập dự toán, cấp phát ngân sách, thực hiện chi đến khâu thông tin, báo cáo, quyết toán chi NSNN để tránh những trùng lặp, chồng chéo trong quá trình thực hiện Mặt khác, đảm bảo sự công khai, minh bạch và kiểm tra giám sát lẫn nhau giữa những cơ quan, đơn vị đó trong quá trình kiểm soát chi NSNN
- Kiểm soát chi NSNN cần được thực hiện đồng bộ, nhất quán và thống nhất với việc quản lý NSNN từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán đến quyết toán NSNN Đồng thời phải thống nhất với việc thực hiện các chính sách, cơ chế quản lý tài chính khác như chính sách thuế, phí và lệ phí, chính sách ổn định phát triển kinh tế,…
1.2 Chi thường xuyên
1.2.1 Khái niệm chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Chi thường xuyên NSNN là các khoản chi nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của nhà nước với các nội dung chủ yếu: chi tiền lương, tiền công; chi mua sắm hàng hoá, dịch vụ; chi chuyển giao thường xuyên
Trang 22Về thực chất, chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối lại nguồn vốn từ quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm duy trì hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước đảm nhiệm
1.2.2 Đặc điểm của chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Chi thường xuyên NSNN có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Một là, đại bộ phận các khoản chi thường xuyên từ NSNN đều mang tính ổn
định và có tính chu kỳ trong một khoảng thời gian hàng tháng, hàng quý, hàng năm
Hai là, các khoản chi thường xuyên phần lớn nhằm mục đích tiêu dùng Hầu hết
các khoản chi thường xuyên nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính, hoạt động sự nghiệp, về an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội và các hoạt động xã hội khác do Nhà nước tổ chức Các hoạt động này hầu như không trực tiếp tạo ra của cải vật chất Tuy nhiên, những khoản chi thường xuyên có tác dụng quan trọng đối với phát triển kinh tế vì nó tạo ra một môi trường kinh tế ổn định, nâng cao chất lượng lao động thông qua các khoản chi cho giáo dục - đào tạo
Ba là, phạm vi và mức độ chi thường xuyên NSNN gắn liền với cơ cấu tổ chức
bộ máy nhà nước và việc thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ Bởi lẽ, phần lớn các khoản chi thường xuyên nhằm duy trì bảo đảm hoạt động bình thường, hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước Hơn nữa, những quan điểm, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc định hướng, phạm vi và mức độ chi thường xuyên NSNN
1.2.3 Nội dung chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Nội dung chi thường xuyên NSNN được phân biệt theo lĩnh vực chi, đối tượng chi và tính chất chi tiêu Cụ thể như sau:
Theo lĩnh vực chi trả, chi thường xuyên NSNN bao gồm 12 nội dung chi theo
luật định, cụ thể như sau:
- Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp xã hội khác;
- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế;
- Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội;
- Hoạt động của các cơ quan nhà nước;
Trang 23- Hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam;
- Hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam;
- Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
- Phần chi thường xuyên thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước;
- Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội;
- Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội;
- Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp;
- Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật
Theo đối tượng chi trả, chi thường xuyên NSNN bao gồm các nội dung chủ yếu
sau:
- Các khoản chi cho con người thuộc khu vực hành chính - sự nghiệp như: tiền lương, tiền công, phụ cấp, phúc lợi tập thể, y tế, vệ sinh, học bổng cho học sinh và sinh viên v.v
- Các khoản chi về hàng hoá, dịch vụ tại các cơ quan nhà nước như: văn phòng phẩm, sách, báo, dịch vụ viễn thông và thông tin, điện, nước, công tác phí, chi phí hội nghị v.v
- Các khoản chi hỗ trợ và bổ sung nhằm thực hiện các chính sách xã hội hay thực hiện điều chỉnh vĩ mô của Nhà nước
- Các khoản chi trả lãi tiền vay trong và ngoài nước
- Các khoản chi khác
Theo tính chất của từng khoản chi, nội dung chi thường xuyên NSNN bao gồm
các khoản như sau:
- Chi thanh toán cá nhân: là các khoản chi liên quan trực tiếp đến con người như: chi tiền lương, phụ cấp lương, tiền công, chi học bổng, sinh hoạt phí của học sinh, sinh viên, chi đóng bảo hiểm xã hội cho người hưởng lương từ NSNN, chi tiền thưởng, phúc lợi tập thể
Trang 24- Chi nghiệp vụ chuyên môn: là các khoản chi đảm bảo hoạt động thường xuyên của đơn vị thụ hưởng NSNN như: chi mua văn phòng phẩm, chi trả dịch vụ công cộng, chi mua hàng hoá vật tư, công cụ dụng cụ dùng trong công tác chuyên môn của từng ngành, chi bảo hộ lao động, trang phục, đồng phục và các khoản khác
- Chi mua sắm, sửa chữa: chi mua sắm đồ dùng, trang thiết bị, phương tiện làm việc, sửa chữa lớn tài sản cố định và các khoản khác
- Chi khác: là các khoản chi ngoài các khoản chi nêu trên chẳng hạn như: chi hoàn thuế giá trị gia tăng, chi xử lý tài sản được xác lập sở hữu nhà nước và các khoản khác
1.3 Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước
Kiểm soát chi thường xuyên NSNN là quá trình các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi thường xuyên NSNN theo các chính sách, chế độ, định mức và tiêu chuẩn chi tiêu do Nhà nước quy định dựa trên cơ sở những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý trong từng thời
kỳ
Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN là việc KBNN thực hiện kiểm tra, kiểm soát việc tuân thủ của các chủ thể chi thường xuyên NSNN đối với các cơ chế, chính sách, quy trình, thủ tục, điều kiện để có thể thực hiện chi thường xuyên NSNN, trong đó thể hiện rõ là sự tuân thủ nội dung chi trong dự toán được duyệt hàng năm, mức chi luôn nằm trong khuôn khổ dự toán được duyệt, các định mức, tiêu chuẩn chi luôn đảm bảo đáp ứng quy định hiện hành của Nhà nước theo những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính
Chính vì vậy, xét về hình thức, kiểm soát chi thường xuyên NSNN sẽ lấy đối tượng là hồ sơ chứng từ, dự toán, Mục lục NSNN, Các chế độ của Nhà nước để thực hiện
Một là, kiểm soát chi thường xuyên gắn liền với những khoản chi thường xuyên
nênphần lớn công tác kiểm soát chi diễn ra đều đặn trong năm, ít có tính thời vụ, ngoại trừnhững khoản chi mua sắm tài sản, sửa chữa lớn tài sản cố định
Trang 25Hai là, kiểm soát chi thường xuyên diễn ra trên nhiều lĩnh vực và rất nhiều nội
dungnên rất đa dạng và phức tạp Chính vì thế, những quy định trong kiểm soát chi thườngxuyên cũng hết sức phong phú, với từng lĩnh vực chi có những quy định riêng, từng nộidung, từng tính chất nguồn kinh phí cũng có những tiêu chuẩn, định mức riêng
Ba là, kiểm soát chi thường xuyên bị áp lực lớn về mặt thời gian vì phần lớn
những
khoản chi thường xuyên đều mang tính cấp thiết như: chi về tiền lương, tiền công, học bổng gắn với cuộc sống hàng ngày của cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên; các khoản
chi về chuyên môn nghiệp vụ nhằm đảm bảo duy trì hoạt động thường xuyên của bộ máy nhà nước nên những khoản chi này cũng đòi hỏi phải được giải quyết nhanh chóng Bên cạnh đó, tất cả các đơn vị thụ hưởng NSNN đều có tâm lý muốn giải quyết kinh phí trong những ngày đầu tháng làm cho cơ quan kiểm soát chi là KBNN luôn gặp áp lực về thời gian trong những ngày đầu tháng
Bốn là, Kiểm soát chi thường xuyên thường phải kiểm soát những khoản chi
nhỏ, vìvậy cơ sở để kiểm soát chi như hoá đơn, chứng từ để chứng minh cho những nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh, thường không đầy đủ, không rõ ràng, thiếu tính pháp lý gây rất nhiều khó khăn cho giao dịch viên kiểm soát chi, đồng thời cũng rất khó
để có thể đưa ra những quy định bao quát hết những khoản chi này trong công tác kiểm soát chi
1.3.2 Nội dung kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà
Trang 26Kiểm tra, kiểm soát tính hợp pháp về con dấu và chữ ký của Thủ trưởng và Kế toán ĐVSDNS;
Kiểm tra, kiểm soát các điều kiện chi theo chế độ quy định, bao gồm:
+ Đã có trong dự toán chi NSNN hàng năm được giao Dự toán chi NSNN của các đơn vị phải phản ảnh đầy đủ các khoản chi theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức
do ĐVSDNS lập và cơ quan có thẩm quyền duyệt Các khoản chi phải theo nhóm mục của mục lục NSNN Cơ quan tài chính cùng cấp có trách nhiệm kiểm tra kết quả lập và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị Nếu có sự sai lệch so với nội dung dự toán được cấp có thẩm quyền giao thì yêu cầu đơn vị điều chỉnh lại
+ Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành là căn cứ quan trọng để KBNN kiểm soát chi khi cấp phát thanh toán cho ĐVSDNS Những khoản chi chưa có tiêu chuẩn định mức được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, KBNN căn cứ vào dự toán được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ để kiểm soát
+ Các khoản chi phải được Thủ trưởng ĐVSDNS chuẩn chi Trong quản lý và điều hành ngân sách, chuẩn chi là sự cho phép, đồng ý chi Thẩm quyền chuẩn chi phải
là người đứng đầu cơ quan, ĐVSDNS đồng thời là chủ tài khoản Chủ tài khoản phải đăng ký mẫu dấu, mẫu chữ ký của cơ quan, đơn vị tại KBNN nơi ĐVSDNS giao dịch
+ Các khoản chi phải có đủ hồ sơ, chứng từ hợp lệ Mỗi khoản chi đều phải có các loại hồ sơ, chứng từ theo mẫu chứng từ quy định KBNN có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ trước khi cấp phát, thanh toán kinh phí NSNN cho ĐVSDNS cụ thể
* Kiểm soát các khoản chi cho con người
- Đối với các khoản chi tiền lương, học bổng, sinh hoạt phí, các khoản đóng góp, chi cho cán bộ xã thôn, bản đương chức: danh sách những người hưởng lương, học bổng, sinh hoạt phí; danh sách những người hưởng tiền công lao động thường xuyên theo hợp đồng; danh sách cán bộ xã, thôn bản đương chức (gửi lần đầu và gửi khi có bổ sung, điều chỉnh)
- Chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan hành chính thực hiện khoán chi: theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị nhưng không vượt quá 01 lần lương
- Các khoản thanh toán khác cho cá nhân: danh sách theo từng lần thanh toán
Trang 27- Đối với thanh toán cá nhân thuê ngoài: hợp đồng thuê khoán, thanh lý hợp đồng (nếu có);
* Kiểm soát các khoản chi hàng hóa dịch vụ
- Chi thanh toán dịch vụ công cộng; thông tin, tuyên truyền liên lạc: Bảng kê chứng từ thanh toán
- Chi mua vật tư văn phòng: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có hợp đồng)
- Trường hợp đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện việc khoán phương tiện theo chế độ, khoán văn phòng phẩm, khoán điện thoại: văn bản quy định về mức chi, danh sách những người hưởng chế độ khoán (gửi một lần vào đầu năm và gửi khi có phát sinh thay đổi)
- Chi hội nghị: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có hợp đồng)
- Chi công tác phí: Bảng kê chứng từ thanh toán
- Chi phí thuê mướn: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi
có hợp đồng)
- Chi đoàn ra, đoàn vào: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với các khoản chi không có hợp đồng), hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi
có hợp đồng)
* Kiểm soát các khoản chi mua sắm, sửa chữa
Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có hợp đồng) đơn vị gửi KBNN các chứng từ sau: Giấy rút dự toán (tạm ứng), tùy theo hình thức lựa chọn nhà thầu, đơn vị gửi Quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu, Quyết định chỉ định thầu, Quyết định phê duyệt kết quả chào hàng cạnh tranh của cấp có thẩm quyền; Hợp đồng mua bán, sửa chữa, xây dựng
* Kiểm soát các khoản chi khác
Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có hợp đồng
Trang 28Quy trình kiểm soát chi thường xuyên
Trách nhiệm của từng cán bộ
Giao dịch viên quản lý tài khoản chi ngân sách của khách hàng :
- Hướng dẫn khách hàng nộp hồ sơ kiểm soát chi;
- Xem xét hồ sơ của khách hàng, kiểm tra sơ bộ về sự đầy đủ, tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ Trường hợp hồ sơ chưa đúng, chưa đủ theo quy định thì hướng dẫn
cụ thể, đầy đủ để đơn vị bổ sung, hoàn chỉnh; việc hướng dẫn có thể qua trao đổi trực tiếp với khách hàng, nhưng giao dịch viên phải ghi đầy đủ tên các loại tài liệu cần bổ sung, hoàn chỉnh, nội dung vắn tắt cần bổ sung, hoàn chỉnh vào phiếu nhận hồ sơ để trả lại khách hàng làm căn cứ hoàn thiện hồ sơ;
- Thực hiện việc kiểm soát hồ sơ, đảm bảo việc kiểm soát chi thường xuyên đúng pháp luật, chính sách, chế độ của nhà nước Trong quá trình kiểm soát hồ sơ, nếu phát hiện các khoản chi ngân sách không đủ điều kiện chi NSNN theo chế độ quy định; chi sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi; chi không đúng đối tượng, mục đích theo dự toán được duyệt hoặc số dư tài khoản của khách hàng không đủ thì giao dịch viên dự thảo công văn thông báo từ chối tạm ứng, thanh toán, báo cáo lãnh đạo phòng (bộ phận nghiệp vụ) trình lãnh đạo KBNN ký gửi khách hàng;
- Thực hiện luân chuyển hồ sơ cho các bộ phận nghiệp vụ có liên quan theo đúng quy trình này và quy định cụ thể của lãnh đạo KBNN;
- Sau khi hồ sơ đã có kết quả xử lý, giao dịch viên thông báo kết quả và trả lại
hồ sơ, chứng từ cho khách hàng
Trách nhiệm của Giám đốc các đơn vị KBNN thực hiện giao dịch một cửa:
- Chịu trách nhiệm toàn diện trước Tổng Giám đốc KBNN về việc triển khai thực hiện giao dịch một cửa trong kiểm soát chi thường xuyên NSNN
- Quy định cụ thể việc luân chuyển, giao nhận hồ sơ trong nội bộ đơn vị, thời gian giải quyết công việc của các bộ phận nghiệp vụ bảo đảm kiểm soát chặt chẽ các khoản chi NSNN, đúng thời hạn quy định, không gây phiền hà cho khách giao dịch
Các bước kiểm soát
- Căn cứ vào phân bổ dự toán được cấp có thẩm quyền giao và yêu cầu nhiệm vụ chi, đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách thường xuyên của chính quyền địa phương các cấp lập giấy rút dự toán ngân sách địa phương kèm theo hồ sơ thanh toán theo quy định (tại
Trang 29phụ lục 01/CTX ban hành kèm theo quyết định số 1116/QĐ-KBNN ngày 24/11/2009), đến KBNN nơi giao dịch làm thủ tục thanh toán chi ngân sách thường xuyên
- Kế toán viên làm công tác kiểm soát chi tiếp nhận hồ sơ, chứng từ của đơn vị giao dịch chuyển đến, lập phiếu giao nhận hồ sơ (mẫu số 02/PHS-CTX ban hành kèm theo quyết định số 1116/QĐ-KBNN ngày 24/11/2009); thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi ngân sách thường xuyên theo đúng quy định đối với từng khoản chi, thời gian kiểm soát chi theo quy định tại quyết định số 1116/QĐ-KBNN ngày 24/11/2009
- Giao dịch viên làm công tác kiểm soát chi ký kiểm soát (kế toán), định khoản kế toán, nhập chứng từ chi ngân sách thường xuyên (giấy rút dự toán) vào chương trình Kế toán NSNN và hoạt động nghiệp vụ KBNN (TABMIS), trình Kế toán trưởng (hoặc người được ủy quyền) hồ sơ, chứng từ được kiểm soát đủ điều kiện chi (tạm ứng/ thanh toán) kinh phí ngân sách thường xuyên
- Kế toán trưởng (hoặc người được ủy quyền) kiểm tra đủ điều kiện chi (tạm ứng/ thanh toán) sẽ ký kiểm soát (kế toán trưởng) đồng thời trên chứng từ giấy, trên chương trình TABMIS, chuyển hồ sơ cho giao dịch viên để trình Thủ trưởng KBNN (hoặc người được ủy quyền) quyết định
- Thủ trưởng KBNN (hoặc người được ủy quyền) xem xét, quyết định việc cấp phát, thanh toán hoặc từ chối cấp phát, thanh toán theo nguyên tắc:
+ Nếu các khoản chi ngân sách thường xuyên đủ điều kiện chi trả, thanh toán, tùy theo tính chất của từng khoản chi, KBNN duyệt cấp tạm ứng hoặc cấp thanh toán cho đơn
vị
+ Nếu các khoản chi ngân sách thường xuyên chưa đủ điều kiện thanh toán do hồsơ, chứng từ chưa đầy đủ; viết sai các yếu tố trên chứng từ KBNN trả lại hồ sơ, chứng từ và hướng dẫn các đơn vị hoàn chỉnh theo quy định
+ Nếu các khoản chi ngân sách thường xuyên không đúng chế độ quy định như: sai tiêu chuẩn, chế độ, định mức chi KBNN từ chối thanh toán, thông báo và trả lại hồ sơ, chứng cho đơn vị theo quy định
1.3.4 Các nguyên tắc kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước
* Nguyên tắc chi theo dự toán
Trang 30Lập dự toán là khâu mở đầu của một chu trình NSNN Những khoản chi thường xuyên một khi đã được ghi vào dự toán chi và đã được cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh Xét trên góc độ quản lý, số chi thường xuyên
đã được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của cơ quan chức năng quản lý tài chính Nhà nước với các đơn vị thụ hưởng NSNN Từ đó làm nảy sinh nguyên tắc quản lý chi thường xuyên theo dự toán Việc đòi hỏi quản lý chi thường xuyên của NSNN phải theo dự toán là xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn sau:
Thứ nhất, hoạt động của NSNN, đặc biệt là cơ cấu thu, chi của NSNN phụ
thuộc vào sự phán quyết của cơ quan quyền lực Nhà nước, Điều 3, Luật NSNN quy
định: “Quốc hội quyết định dự toán NSNN , phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn
quyết toán NSNN ”, đồng thời luôn phải chiu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan
quyền lực Nhà nước đó Do vậy mọi khoản chi từ NSNN chỉ có thể trở thành hiện thực khi và chỉ khi khoản chi đó đã nằm trong cơ cấu chi theo dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và thông qua
Thứ hai, phạm vi chi của NSNN rất đa dạng liên quan tới nhiều loại hình đơn vị
thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau Mức chi cho mỗi hoạt động được xác định theo đối tượng riêng, định mức riêng, hoặc ngay giữa các cơ quan trong cùng một lĩnh vực hoạt động nhưng điều kiện về trang bị cơ sở vật chất có sự khác nhau, quy mô và tính chất hoạt động có sự khác nhau sẽ dẫn đến mức chi từ NSNN cho các cơ quan đó cũng có sự khác nhau
Thứ ba, có sự quản lý theo dự toán mới đảm bảo được yêu cầu cân đối của
NSNN, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hành ngân sách, hạn chế được tính tuỳ tiện về nguyên tắc ở các đơn vị thụ hưởng ngân sách
Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi đơn vị phải căn cứ vào dự toán kinh phí đã được duyệt mà phân bổ và sử dụng cho các khoản, mục chi và phải hạch toán theo đúng mục lục NSNN đã quy định
Sự linh hoạt trong quá trình sử dụng kinh phí chi thường xuyên dẫn đến sai lệch về mức chi cho từng mục so với dự toán chỉ có thể được các cơ quan chức năng về quản
lý tài chính nhà nước chấp nhận khi đó là các khoản chi thuộc kinh phí mà đơn vị đã được giao tự chủ
Định kỳ, theo chế độ quyết toán kinh phí đã quy định các ngành, các cấp các đơn vị khi phân tích đánh giá kết quả thực hiện của kỳ báo cáo phải lấy dự toán làm
Trang 31căn cứ đối chiếu so sánh Muốn vậy, dự toán chi đã được xác lập theo các chỉ tiêu nào, theo khoản, mục nào thì quyết toán chi phí cũng phải được lập như vậy
* Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả
Có thể nói tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu của quản lý kinh tế, tài chính bởi vì:
Nguồn lực thì luôn có giới hạn nhưng nhu cầu thì không có mức giới hạn nào
Do vậy, trong quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực khan hiếm đó luôn phải tính toán sao cho với chi phí ít nhất nhưng đạt kết quả cao nhất Mặt khác do đặc thù hoạt động của NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp Nhu cầu chi từ NSNN luôn gia tăng với tốc độ nhanh trong khi khả năng huy động nguồn thu có hạn, nên càng phải tôn trọng nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong quản lý chi thường xuyên của NSNN
Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả chỉ có thể được tôn trọng khi quá trình quản lý chi NSNN làm tốt và làm đồng bộ một số nội dung sau:
- Thứ nhất: Phải xây dựng được chính sách, chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi
tiêu phù hợp với từng đối tượng hay tính chất công việc, đồng thời lại phải có tính thực tiễn cao Chỉ có như vậy các chính sách, chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi của NSNN mới trở thành căn cứ pháp lý xác đáng phục vụ cho quá trình quản lý chi
- Thứhai: Phải thiết lập các hình thức cấp phát đa dạng và lựa chọn hình thức
cấp phát thích hợp áp dụng cho mỗi loại hình đơn vị một cách phù hợp với yêu cầu quản lý của từng nhóm mục chi
- Thứba: Biết lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các hoạt động hoặc theo các nhóm
mục chi sao cho với tổng số chi có hạn nhưng khối lượng công việc vẫn hoàn thành và đạt chất lượng cao Để đạt được điều này, đòi hỏi phải có được các phương án phân phối và sử dụng kinh phí khác nhau Trên cơ sở đó mà lựa chọn phương án tối ưu nhất cho cả quá trình lập dự toán, phân bổ và quá trình sử dụng kinh phí
Có thể nói tiết kiệm, hiệu quả là hai mặt của nguyên tắc này, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Vì vậy khi xem xét đến vấn đề tiết kiệm các khoản chi thường xuyên NSNN phải đặt trong sự ràng buộc của tính hiệu quả và ngược lại
- Mặt khác, khi đánh giá tính hiệu quả của chi NSNN phải có quan điểm toàn diện Phải xem xét mức độ ảnh hưởng của mỗi khoản chi thường xuyên tới các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội khác và phải tính đến thời gian phát huy tác dụng của
Trang 32nó.Vì vậy, khi nói đến hiệu quả của chi thường xuyên từ NSNN người ta hiểu đó là những lợi ích về kinh tế xã hội mà toàn xã hội được thụ hưởng
* Nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước
Một trong những nguyên tắc quan trọng của KBNN là quản lý quỹ NSNN Vì vậy KBNN vừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi NSNN; đặc biệt là các khoản chi thường xuyên Để tăng cường vai trò của KBNN trong kiểm soát chi thường xuyên của NSNN, hiện nay ở nước ta đã và đang triển khai thực hiện “Chi trực tiếp qua KBNN” và coi đó như là một nguyên tắc trong quản lý khoản chi này
Chi trực tiếp qua KBNN là phương thức thanh toán chi trả có sự tham gia của
ba bên: Đơn vị sử dụng NSNN, KBNN, tổ chức hoặc cá nhân được nhận các khoản tiền do đơn vị sử dụng NSNN thanh toán chi trả (gọi chung là người được hưởng) bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Cách thức tiến hành cụ thể là: Đơn vị
sử dụng NSNN ủy quyền cho KBNN trích tiền từ tài khoản của mình để chuyển trả vào tài khoản cho người được hưởng ở một trung gian tài chính nào đó, nơi người được hưởng mở tài khoản giao dịch
Để thực hiện được nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN cần phải giải quyết tốt một số vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát một cách
chặt chẽ trong quá trình cấp phát, thanh toán Các khoản chi phải có trong dự toán NSNN được duyệt; tuân thủ đúng cơ chế quản lý tài chính được phép áp dụng cho mỗi khoản chi; và đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí NSNN chuẩn chi
Thứ hai, tất cả các cơ quan, đơn vị, các chủ dự án… sử dụng kinh phí NSNN
(gọi chung là đơn vị sử dụng kinh phí NSNN) phải mở tài khoản tại KBNN chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan Tài chính và KBNN trong quá trình lập dự toán, phân
bổ dự toán, cấp phát, thanh toán, hạch toán và quyết toán NSNN
Thứ ba, cơ quan Tài chính các cấp có trách nhiệm xem xét dự toán ngân sách
của các cơ quan, đơn vị cùng cấp; kiểm tra phương án phân bổ và giao dự toán của các đơn vị dự toán cấp trên cho các đơn vị dự toán cấp dưới nếu không đúng dự toán ngân sách được giao, không phù hợp với cơ chế quản lý tài chính được phép áp dụng cho mỗi khoản chi thì yêu cầu điều chỉnh lại Định kỳ, sau khi nhận được báo cáo quyết
Trang 33toán của các đơn vị dự toán cấp 1 trực thuộc, cơ quan Tài chính các cấp có trách nhiệm thẩm định các báo cáo quyết toán đó để tổng hợp số liệu vào quyết toán chi NSNN
Thứ tư, KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và
thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN theo đúng quy định; tham gia với các cơ quan Tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng NSNN và xác nhận số thực chi NSNN qua KBNN của các đơn vị
Thủ trưởng cơ quan KBNN có quyền từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đủ các điều kiện sau:
Không có trong dự toán NSNN được giao
Không phù hợp với cơ chế quản lý tài chính mà đơn vị được phép áp dụng đối với mỗi khoản chi
Chưa được thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN hoặc người được ủy quyền quyết định chi
Không đủ các điều kiện chi theo quy định hiện hành chi trả trực tiếp qua KBNN (các điều kiện này sẽ có thay đổi theo thời gian cùng với việc hoàn thiện công tác quản
lý chi NSNN qua KBNN)
Thứ năm, lựa chọn phương thức cấp phát, thanh toán đối với từng khoản chi
thường xuyên cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội hiện tại Cụ thể: Phương thức cấp phát, thanh toán đối với các khoản chi trả tiền lương và có tính chất như tiền lương
sẽ khác với phương thức cấp phát, thanh toán đối với các khoản mua sắm đồ dùng trang thiết bị, phương tiện làm việc, sửa chữa và xây dựng nhỏ,
1.3.5 Sự cần thiết phải kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước
Việc nâng cao kiểm soát chi NSNN xuất phát từ những yêu cầu khách quan Cụ thể như sau:
Một là, hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên NSNN nhằm phù hợp với quy
định pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật NSNN sửa đổi Luật NSNN và nhiều văn bản quy phạm pháp luật sau đó đã có những điều chỉnh, sửa đổi rất căn bản đối với hoạt động NSNN nói chung và chi NSNN nói riêng Đây là cơ sở pháp lý quan trọng đối với kiểm soát chi NSNN nói chung và kiểm soát chi thường xuyên NSNN nói
Trang 34riêng Vì vậy, KBNN cũng phải đổi mới cơ chế kiểm soát chi nói chung và kiểm soát chi thường xuyên nói riêng cho phù hợp với Luật NSNN sửa đổi và các văn bản pháp luật khác có liên quan
Hai là, yêu cầu đặt ra là các khoản chi NSNN phải đảm bảo đúng mục đích,
tiếtkiệm và có hiệu quả Hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên sẽ góp phần quan trọng trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tập trung mọi nguồn lực tài chính
để phát triển kinh tế - xã hội, chống các hiện tượng tiêu cực, chi tiêu lãng phí, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ và lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia
Ba là, việc hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc nhà nước
nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời những tiêu cực của các đơn vị sử dụng ngân sách; đồng thời, phát hiện những kẻ hở trong quản lý để kiến nghị, sửa đổi, bổ sung kịp thời, làm cho cơ chế quản lý, kiểm soát chi NSNN ngày càng được hoàn thiện và chặt chẽ hơn
Bốn là, tình trạng lãng phí và vi phạm chế độ chi tiêu NSNN còn phổ biến Phần
lớn các đơn vị hưởng kinh phí NSNN luôn có xu hướng xây dựng dự toán chi cao hơn nhu cầu thực tế và trong quá trình chấp hành dự toán thì luôn tìm cách sử dụng hết phần kinh phí đã được cấp mà không chú trọng đến tiết kiệm và hiệu quả trong sử dụng kinh phí NSNN,từ đó dẫn đến các khoản chi sai chế độ, không đúng đối tượng, vượt tiêu chuẩn, định mức… Thậm chí, một số đơn vị nguỵ tạo chứng từ để hợp thức hoá các khoản chi sai chế độ Vì vậy, KBNN cần phải có giải pháp tăng cường kiểm soát các khoản chi NSNN qua KBNN đảm bảo phát hiện và ngăn chặn kịp thời các khoản chi sai chế độ của đơn vị sử dụng ngân sách Đồng thời, cũng góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến quản lý và sử dụng NSNN
1.3.6 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác kiểm soát chi thường xuyên: Đánh giá
kết quả công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN được thực hiện thông qua các chỉ tiêu như:
- Số liệu kiểm soát, thanh toán
- Số liệu từ chối thanh toán
Trang 35- Thực hiện đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước
- Đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả
1.4 Kinh nghiệm kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc ở một số địa phương và bài học rút ra cho kho bạc nhà nước Huyện Cần Giuộc
1.4.1 Kinh nghiệm kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước ở một số địa phương
1.4.1.1 Kiểm soát chi thường xuyên NSNN của KBNN Cần Đước
Ngay từ khi Luật NSNN có hiệu lực và các chế độ về quản lý chi được ban hành, KBNN Cần Đước đã tổ chức triển khai đến toàn thể cán bộ công chức thuộc KBNN Cần Đước Đồng thời, Kho bạc phối hợp với cơ quan tài chính tham mưu cho UBND, HĐND tỉnh ban hành các chế độ về chi ngân sách địa phương, tổ chức triển khai Luật NSNN và các văn bản liên quan cho các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN trên địa bàn
Công tác tin học được KBNN Cần Đước phát triển rất sớm và đã hỗ trợ đắc lực cho công tác chi ngân sách và kiểm soát chi thường xuyên NSNN Các chương trình ứng dụng phục vụ cho công tác chi và kiểm soát chi được triển khai, đặc biệt, chương trình thanh toán điện tử đã giúp cải thiện công tác thanh toán trong hệ thống KBNN Những khoản thanh toán trước đây khi thực hiện bằng phương pháp thủ công phải mất nhiều thời gian thì hiện nay chỉ mất vài phút với sự hỗ trợ của chương trình thanh toán điện tử
KBNN Cần Đước xem cán bộ là nhân tố quyết định trong việc mang lại những thành quả to lớn của đơn vị Đơn vị đã chọn lọc, sắp xếp quy hoạch đội ngũ cán bộ công chức vào những vị trí phù hợp Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ công chức với nhiều hình thức
1.4.1.2 Kiểm soát chi thường xuyên NSNN của KBNN Bến Lức
Năm 2007, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản mới quy định lại một số cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ, chế độ, định mức chi NSNN như: mua sắm phương tiện đi lại, kiểm soát thanh toán vốn đầu tư, dự án và chương trình mục tiêu quốc gia, công tác phí, hội nghị, tiếp khách Theo đó, HĐND và UBND Bến Lứccũng
đã có các văn bản triển khai thực hiện tạo điều kiện thuận lợi cho Kho bạc hoàn thành
Trang 36nhiệm vụ kiểm soát chi ngân sách, góp phần thực hiện tốt Luật Phòng chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Trong công tác kiểm soát chi, KBNNBến Lứcluôn cải tiến quy trình nghiệp vụ
để giảm bớt thủ tục hành chính, chống lãng phí và thực hành tiết kiệm Quy trình “giao dịch một cửa” đã được triển khai tại Kho bạc từ ngày 01-10-2007 để tiếp nhận, luân chuyển, xử lý hồ sơ, trình ký và trả kết quả thanh toán chi cho các ĐVSDNS Khách hàng chỉ giao dịch với một bộ phận nghiệp vụ của Kho bạc lúc nộp hồ sơ đề nghị thanh toán và nhận lại kết quả duyệt chi
Sau một thời gian thực hiện quy trình giao dịch “một cửa” trong kiểm soát chi, KBNN Bến Lức đã tạo điều kiện thuận lợi và tiết kiệm thời gian cho các khách hàng là đơn vị thụ hưởng ngân sách đến giao dịch thanh toán Tuy nhiên, trong điều kiện biên chế nhân sự không tăng, lại phải bố trí một số cán bộ nghiệp vụ để thực hiện quy trình
“một cửa” nên áp lực công việc tăng cao, nhất là tại bộ phận nghiệp vụ trực tiếp giao dịch một cửa với khách hàng
Do đặc thù khách hàng đến giao dịch với nhiều nội dung chi, nhiều loại hồ sơ chi nên việc tách bạch hồ sơ để giao cho cán bộ kho bạc, đối với khách cũng còn nhiều lúng túng Khối lượng công việc quá tải, cán bộ giao dịch viên thuộc KBNN Bến Lức thì khối lượng hồ sơ giao nhận quá lớn trong khi kho bạc lại chịu áp lực về thời gian phải giải quyết chứng từ.Cán bộ giao dịch “một cửa” không phải là người trực tiếp xử
lý hồ sơ, chứng từ nên đôi khi có những giải đáp thắc mắc không thỏa mãn khách hàng nên một số khách hàng muốn làm việc trực tiếp với cán bộ kiểm soát chi
1.4.2 Bài học rút ra cho kho bạc nhà nước Huyện Cần Giuộc
Từ những kinh nghiệm kiểm soát thường xuyên NSNN tại các KBNN ở các địa phương nêu trên, có thể rút ra một số bài học đối với KBNN Cần Giuộc như sau:
Một là, phải nhận thức được rằng công tác kiểm soát chi không phải chỉ đơn
thuần là công việc của KBNN mà nó bao gồm nhiều khâu liên quan đến nhiều cấp, ngành và nhiều cơ quan, đơn vị Vì vậy, để thực hiện tốt công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN, Kho bạc phải biết phối hợp tốt với các cơ quan đơn vị trên địa bàn, tranh thủ sự hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền địa phương, chủ động tham mưu cho UBND, HĐND các cấp ban hành nhanh chóng và đầy đủ các văn bản thuộc lĩnh
Trang 37vực ngân sách để Kho bạc có cơ sở pháp lý thực hiện kiểm soát các khoản chi ngân sách do địa phương quản lý
Hai là, nhận thức tầm quan trọng của yếu tố con người trong công tác quản lý
NSNN và kiểm soát chi thường xuyên Để công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN ngày càng hoàn thiện hơn thì trước hết đội ngũ cán bộ công chức KBNN nói chung và cán bộ kiểm soát chi thường xuyên nói riêng cũng phải được hoàn thiện Để làm được điều đó, Kho bạc phải tăng cường công tác cán bộ trong tất
cả các khâu, việc bố trí cán bộ làm công tác kiểm soát chi, không chỉ chú trọng khả năng chuyên môn mà còn phải chọn người có đạo đức tốt, liêm khiết, công minh
Ba là, tăng cường ứng dụng tin học vào các hoạt động nghiệp vụ KBNN, đặc
biệt là công tác quản lý và kiểm soát chi NSNN
Bốn là, đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực kiểm soát chi thường
xuyên Nghiên cứu và áp dụng quy trình giao dịch “một cửa” trong kiểm soát chi với
mô hình tiên tiến sao cho vừa tạo thuận lợi cho khách hàng vừa nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi
Kết luận chương 1
Trong chương này của luận văn chủ yếu giải thích sự cần thiết phải kiểm soát chi NSNN, đưa ra những lý luận chung về chi thường xuyên NSNN Khái niệm và đặc điểm chi thường xuyên, nội dung và quy trình kiểm soát chi thường xuyên Bên cạnh
đó là tiếp thu những kinh nghiệm kiểm soát NSNN của các KBNN địa phương và bài học rút ra cho KBNN Cần Giuộc Dựa vào nghiên cứu lý luận về hoạt động kiểm soát chi thường xuyên NSNN và kinh nghiệm trong quá trình thực hiện, sẽ là tiền đề cho việc phân tích đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Cần Giuộc mà đề tài nghiên cứu
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN CẦN GIUỘC
2.1Khái quát về Kho bạc nhà nước huyện Cần Giuộc Tỉnh LongAn
2.1.1Giới thiệu chung về Kho bạc Nhà nước Cần Giuộc Long An
Kho bạc Nhà nước Cần Giuộc Long An được thành lập theo Quyết định
số 186TC/QĐ/TCCB ngày 21/3/1990 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, trực thuộc Kho bạc Nhà nước Long An
Kho bạc Nhà nước Cần Giuộc có nhiệm vụ chủ yếu là tập trung các khoản thu NSNN trên địa bàn, hạch toán các khoản thu cho các cấp ngân sách; Tổ chức thực hiện kiểm soát thanh toán, chi trả các khoản chi NSNN trên địa bàn; Quản lý quỹ ngân sách huyện và các quỹ tài chính khác được giao; quản lý các khoản tạm thu, tạm giữ, ký cược, ký quỹ theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; Thực hiện công tác phát hành, thanh toán trái phiếu Chính Phủ theo qui định; Quản lý vốn, tiền mặt, ấn chỉ, chứng từ có giá trị như tiền, tài sản theo chế độ quy định đảm bảo an toàn tuyệt đối; Thực hiện mở tài khoản thanh toán với các đơn vị và cá nhân theo đúng chế độ quy định; Thực hiện tốt công tác kế toán, thống kê, báo cáo, quyết toán các hoạt động của KBNN phát sinh trên địa bàn; Quản lý tốt cán bộ, tài sản, kinh phí nội bộ theo chế độ quy định; Thực hiện tốt các nhiệm vụ khác theo quyết định của Giám đốc KBNN tỉnh
Trong quá trình hoạt động và phát triển, Kho bạc nhà nước Cần Giuộc Long An luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đã được Kho bạc nhà nước tỉnh và Huyện ủy - HĐND - UBND huyện ghi nhận Với những thành tích đã đạt được, KBNN Cần Giuộc
đã được đón nhận nhiều phần thưởng cao quý Năm 2015, được UBND tỉnh tặng bằng khen; năm 2016, được Bộ Tài chính tặng bằng khen, năm 2017 được Tập thể lao động xuất sắc, được Kho bạc Nhà nước tặng Giấy khen năm 2018, được Bộ Tài chính tặng danh hiệu tập thể lao động xuất sắc; năm 2018, được UBND tỉnh tặng cờ thi đua đơn
vị xuất sắc ngành KBNN Long An, Tập thể lao động xuất sắc được KBNN tặng giấy khen
Trang 392.1.2Mô hình tổ chức bộ máy
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
Nguồn: Kho bạc Nhà nước huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
Tổ chức bộ máy KBNN Huyện Cần Giuộc hoạt động theo cơ chế thủ trưởng, Giám đốc KBNN Huyện Cần Giuộc chịu trách nhiệm toàn diện trước Giám đốc KBNN tỉnh Long An và trước pháp luật về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn; Quản lý tiền, tài sản, hồ sơ, tài liệu, công chức, lao động của đơn vị
Bộ máy tổ chức gồm 11 người trong biên chế, trong đó có 2 đồng chí lãnh đạo,
1 kế toán trưởng và 6 cán bộ nghiệp vụ, 2 đồng chí bảo vệ
Ban giám đốc: Có quyền quyết định cấp phát hay từ chối cấp phát các
khoản chi NSNN
Kế toán trưởng: Kiểm soát và ký duyệt các chứng từ thu, chi NSNN Thực hiện
nhiệm vụ khác do ban giám đốc giao
Giao dịch viên:
Trực tiếp quản lý, kiểm tra, kiểm soát các hồ sơ chứng từ chi NSNN
Tổ chức hạch toán, kế toán thu NSNN theo chế độ quy định
Gửi báo cáo tình hình thu chi cho cơ quan KBNN cấp trên, cơ quan đồng cấp (thuế, tài chính)
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
KẾ TOÁN TRƯỞNG
GIAO DỊCH VIÊN
Trang 40Xem xét đối chiếu, báo cáo quyết toán của đơn vị sử dụng kinh phí NSNN trình Giám đốc xác nhận số tạm ứng, thực chi NSNN qua KBNN
Chi tiền mặt, thanh toán cho đơn vị sử dụng kinh phí NSNN theo duyệt chi của Giám đốc KBNN
Theo dõi dự toán chi NSNN năm và cấp phát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn NSNN của các cơ quan
Kiểm tra, kiểm soát hồ sơ cấp phát thanh toán các khoản chi về đầu tư xây dựng cơ bản
Các đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước có giao dịch với KBNN Cần Giuộc:
- Trên địa bàn Huyện Cần Giuộc có 105 đơn vị sử dụng NSNN bao gồm 43 đơn vị
thuộc Cơ quan Nhà nước thực hiện cơ chế kiểm soát chi theo nghị định
130/2005/NĐ-CP và 59 đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế kiểm soát chi theo nghị định 43/2006/NĐ-CP và 3 đơn vị tổ chức khác mở tiền gửi tại KBNN Cần Giuộc như các đơn vị khối an ninh quốc phòng và được phân chia theo các cấp ngân sách như sau:
- Ngân sách Trung ương: 07 đơn vị
- Ngân sách địa phương: 95 đơn vị
và có sự thống nhất ý kiến của tất cả cán bộ công chức
- Một số đơn vị có ý thức tiết kiệm chi để tăng thu nhập cho cán bộ công chức bằng các biện pháp tiết kiệm chi phí như: tiết kiệm điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, hạn chế tổ chức hội nghị không cần thiết, xây dựng các quy trình cung cấp dịch vụ để tăng nguồn thu… góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị
- Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế như nhiều tiêu chuẩn của các ngành nghề đã lạc hậu, lỗi thời và không còn phù hợp với điều kiện phát triển hiện nay đó là các khoản học phí, viện phí, định mức biên chế của các ngành nghề, cơ chế tự chủ, tự chịu