1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cơ cấu giống lúa trên đất lúa tại huyện tân hưng, tỉnh long an

113 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả hồi quy Binary Logistic và thực hiện một số kiểm định của mô hình, cho thấy có 05 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi giống lúa của nông hộ trên địa bàn huyện Tân Hưng, tỉ

Trang 1

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỂN ĐỔI

CƠ CẤU GIỐNG LÚA TRÊN ĐẤT LÚA TẠI HUYỆN TÂN HƯNG, TỈNH LONG AN

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ CÔNG NGHIỆP LONG AN

-

NGUYỄN THỊ THÙY TRANG

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỂN ĐỔI

CƠ CẤU GIỐNG LÚA TRÊN ĐẤT LÚA TẠI HUYỆN TÂN HƯNG, TỈNH LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh

Mã ngành: 8.34.01.01

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thanh Nguyên

Long An, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các tạp chí khoa học và công trình nào khác

Các thông tin số liệu trong luận văn này đều có nguồn gốc và được ghi chú rõ ràng./

Tác giả

Nguyễn Thị Thùy Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tác giả xin gửi lời trân trọng cảm ơn đến Thầy TS Nguyễn Thanh Nguyên - Người hướng dẫn khoa học của tác giả Thầy đã nhiệt tình hướng dẫn và định hướng về mặt khoa học cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn

Đồng thời, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An cùng các Quý Thầy, Cô của Khoa Đào tạo Sau Đại học đã truyền đạt những kiến thức, phương pháp và kinh nghiệm nghiên cứu quý báu cho tác giả trong suốt quá trình học tập tại trường

Xin gửi lời cảm ơn đến các cơ quan Sở, ngành cấp tỉnh, huyện Tân Hưng, đặc biệt là Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Long An, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tân Hưng và các xã của huyện Tân Hưng, tỉnh Long An, Cục Thống kê tỉnh Long An đã hợp tác, chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tài liệu quan trọng và giúp tôi hoàn thành tốt luận văn, đồng thời tác giả cũng xin chân thành cảm ơn đến các hộ nông dân đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả thu thập dữ liệu

Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu của mình

Tác giả

Nguyễn Thị Thùy Trang

Trang 5

Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện thông qua bảng câu hỏi phác thảo, hỏi ý kiến chuyên gia tiến hành phỏng vấn thử 5 nông hộ ở huyện Tân Hưng, tỉnh Long An, từ đó hoàn chỉnh bảng câu hỏi điều tra chính thức và đưa ra mô hình nghiên cứu Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định tính kết hợp nghiên cứu định lượng thông qua khảo sát chính thức, với kích thước mẫu hợp

lệ thu về có giá trị sử dụng là 198/200 mẫu ở 05 xã thuộc huyện Tân Hưng, tỉnh Long An làm đại diện cho tổng thể nghiên cứu, cuộc khảo sát được thực hiện từ tháng 2-4 năm 2019 Dữ liệu sau khi thu thập được phân tích thống kê mô tả và phân tích hồi quy Binary Logistic

Kết quả hồi quy Binary Logistic và thực hiện một số kiểm định của mô hình, cho thấy có 05 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi giống lúa của nông hộ trên địa bàn huyện Tân Hưng, tỉnh Long An theo thứ tự tác động của các nhân tố gồm: Hỗ trợ đầu tư sản xuất hoặc tiêu thụ sản phẩm, Tiếp cận tín dụng, Tham gia tổ chức chính trị xã hội, Học vấn, Đất đai khí hậu thời tiết với mức ý nghĩa thống kê từ 1%, 5%

Dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số khuyến nghị đối với chính quyền địa phương cũng như đối với nông hộ dựa trên các biến có ý nghĩa thống kê của mô hình nghiên cứu để góp phần tăng cường hoặc hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố đến sự chuyển đổi cơ cấu giống lúa trên đất lúa tại huyện Tân Hưng, tỉnh Long An

Trang 6

THE CONTENT IN SUMMARY

The research topic is in the terms of "Factors affecting the transformation of rice seed structure on land in Tan Hung district, Long An province" carried out to determine the factors affecting to making the decisions to change the structure of rice seeds grown by households in Tan Hung district, Long An province Thereby,

to propose solutions that help to strengthening or limiting the influence of factors on the transformation of rice seed structure on land in Tan Hung district, Long An province contributing to the implementation of Vietnam's Rice Restructuring Scheme to 2020 and vision to 2030

The study has been carried out in two stages, preliminary research and official one Preliminary research was carried out through sketch questionnaires, consulted experts to conduct interviews with 5 farmers in Tan Hung district, Long

An province, thereby completing the official survey questionnaire and creating a research model While official research was performed by a qualitative method combining quantitative research through formal surveys, with valid sample sizes collected that have valuable use of 198/200 samples in 05 communes of Tan Hung district, Long An province as a representative of the overall study, the survey was conducted from the 2nd to 4th of April in 2019 The data after collecting were analyzed, statistically described and analyzed Binary Logistic regression

The results of Binary Logistic regression and implementation of some model tests expose 05 factors affecting to decisions made by farmers to convert their rice seeds in Tan Hung district, Long An province The impact of these factors in order

as including: Supporting investment in production or product consumption, accessing to credit, participating in socio-political organization, education, land and climate with significance statistics from 1%, 5%

According to the achieved results, the author would like to propose some recommendations for local authorities as well as farmers based on the statistically significant outcome of the research model contributed to strengthen or limit the influence of factors on the transformation of rice seed structure on land in Tan Hung district, Long An province

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

NỘI DUNG TÓM TẮT iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU x

DANH MỤC ĐỒ THỊ VÀ HÌNH VẼ xii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT xiii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH xiv

Ký hiệu xiv

Nội dung diễn giải xiv

NỘI DUNG LUẬN VĂN 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1

1.1 Sự cần thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể……….2

1.3 Đối tượng nghiên cứu……… 3

1.4 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Phạm vi về không gian địa điểm 3

Đề tài nghiên cứu tại địa bàn huyện Tân Hưng, tỉnh Long An 3

1.4.2 Phạm vi về thời gian 3

Dữ liệu thứ cấp: Từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 12 năm 2018 3

1.5 Câu hỏi nghiên cứu……… 3

1.6 Những đóng góp mới của luận văn 3

1.6.1 Đóng góp về phương diện khoa học 3

1.6.2 Đóng góp về phương diện thực tiễn 3

1.7 Phương pháp nghiên cứu……… 4

Trang 8

1.8 Tổng quan các công trình nghiên cứu trước 4

1.8.1 Các nghiên cứu trong nước 4

1.8.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài 7

1.9 Kết cấu của luận văn………8

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 10

2.1 Khái niệm cơ cấu giống lúa……… 10

2.2 Chuyển đổi cơ cấu giống………11

2.3 Vai trò của chuyển đổi cơ cấu giống lúa………12

2.4 Các lý thuyết liên quan đề tài nghiên cứu 14

2.4.1 Bản chất của thị trường lúa gạo 14

2.4.2 Thay đổi công nghệ 16

2.4.3 Sự cải tiến 16

2.4.4 Sự liên kết và sản xuất 17

2.4.5 Yếu tố quyết định mức độ hành vi chấp nhận của nông hộ 20

2.4.6 Sử dụng đầu vào tối ưu và lợi nhuận thu được từ đầu vào 21

2.4.7 Lý thuyết về đầu vào và đầu ra 22

2.4.8 Lý thuyết về hiệu quả kinh tế 23

2.4.9 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế 24

2.4.10 Lợi nhuận kỳ vọng 24

2.5 Các nghiên cứu trước liên quan……….25

2.6 Mô hình nghiên cứu 28

2.6.1 Mô hình nghiên cứu 28

2.6.2 Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 29

2.6.3 Điểm mới của mô hình nghiên cứu 34

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

3.1 Tổng quan về huyện Tân Hưng, tỉnh Long An……… 35

Trang 9

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, nguồn nhân lực 36

3.1.2 Hệ thống giao thông thủy lợi 38

3.2 Tình hình sản xuất vùng nghiên cứu 38

3.2.1 Các loại giống lúa chủ yếu 38

3.2.2 Các loại giống lúa khác 40

3.3 Quy trình nghiên cứu……….41

3.4 Phương pháp nghiên cứu 42

3.4.1 Nghiên cứu sơ bộ 42

3.4.2 Nghiên cứu chính thức 42

3.5 Dữ liệu nghiên cứu 42

3.5.1 Cách tiếp cận dữ liệu nghiên cứu 42

3.5.2 Cách thức thu thập dữ liệu sơ cấp 44

3.5.3 Mẫu nghiên cứu 44

3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 45

3.6 Phân tích dữ liệu và các kiểm định………45

3.6.1 Phân tích thống kê mô tả dữ liệu 45

3.6.2 Các kiểm định trong mô hình nghiên cứu 46

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48

4.1 Mô tả nghiên cứu……… 48

4.2 Thực trạng chuyển đổi cơ cấu giống lúa của huyện Tân Hưng 49

4.2.1 Thống kê số hộ chuyển đổi giống lúa 49

4.2.2 Lý do hộ chuyển đổi giống lúa 49

4.2.3 Thời gian hộ chuyển đổi giống lúa 50

4.2.4 Lý do hộ không chuyển đổi giống lúa 50

4.2.5 Thực trạng chuyển đổi giống lúa của hộ trồng lúa 51

4.3 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 52

Trang 10

4.3.1 Quyết định chuyển đổi giống lúa và nhóm yếu tố thuộc điều kiện của hộ 52

4.3.2 Quyết định chuyển đổi giống lúa và nhóm yếu tố thuộc nhóm hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển và chuyển đổi 57

4.3.3 Quyết định chuyển đổi giống lúa và nhóm yếu tố thị trường 58

4.3.4 Quyết định chuyển đổi giống lúa và nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên 59

4.4 Kiểm định sự tương quan……… 60

4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi giống lúa của hộ trồng lúa 60

4.5.1 Kiểm định ý nghĩa các hệ số hồi qui 60

4.5.2 Kiểm định mức độ phù hợp tổng quát của mô hình 61

4.5.3 Kiểm định khả năng giải thích của mô hình 62

4.5.4 Kiểm định mức độ dự báo chính xác của mô hình 62

4.5.5 Phân tích kết quả hồi quy Binary Logistic 63

4.6 Thảo luận kết quả nghiên cứu 63

4.6.1 Trình độ học vấn chủ hộ 63

4.6.2 Tham gia tổ chức chính trị xã hội ở địa phương 64

4.6.3 Hỗ trợ đầu tư SXTT 64

4.6.4 Đất đai, khí hậu, thời tiết 64

4.6.5 Tiếp cận tín dụng 65

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 70

5.1 Kết luận 70

5.2 Hàm ý quản trị về các yếu tố ảnh hưởng chuyển đổi cơ cấu giống lúa 72

5.2.1 Đối với yếu tố hỗ trợ đầu tư sản xuất và tiêu thụ………72

5.2.2 Đối với yếu tố tín dụng ngân hàng……… 73

5.2.3 Đối với yếu tố tham gia tổ chức chính trị xã hội……….73

5.2.4 Đối với yếu tố trình độ học vấn……… 73

5.2.5 Đối với yếu tố Đất đai, khí hậu, thời tiết………74

Trang 11

5.3 Hạn chế của đề tài……… 74

5.4 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC I: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT 80

PHỤ LỤC II: KHẢO SÁT CHUYÊN GIA 85

PHỤ LỤC III: SỐ LIỆU CƠ CẤU GIỐNG HUYỆN TÂN HƯNG TỪ NĂM 2014 ĐẾN NĂM 2018 VÀ CHỦNG LOẠI XUẤT KHẨU GẠO GIAI ĐOẠN 2016-2018 88

PHỤ LỤC IV: KẾT QUẢ THỐNG KÊ MÔ TẢ VÀ HỒI QUY 92

Trang 12

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Diện tích lúa 5 năm từ năm 2014 đến năm 2018 13

Bảng 2.2 Sản lượng lúa 5 năm từ năm 2014 đến năm

Bảng 2.3 Năng suất lúa 5 năm từ năm 2014 đến năm

Bảng 3.1 Cơ cấu các loại giống lúa gieo cấy từ năm 2014

Bảng 4.1 Hiện trạng trồng giống lúa của vùng điều tra 51

Bảng 4.2 Hiện trạng trồng giống lúa trước đó của vùng

Bảng 4.5 Đặc điểm giới tính của chủ hộ theo quyết định

Bảng 4.6 Quy mô hộ theo quyết định chuyển đổi giống

Bảng 4.7 Quy mô đất canh tác của hộ theo quyết định

Bảng 4.8 Quy mô vốn sở hữu của hộ trong tổng vốn đầu

Trang 13

Bảng 4.9 Chủ hộ hoặc thành viên trong gia đình tham gia

Bảng 4.15 Mùa vụ sản xuất theo quyết định chuyển đổi 59

Bảng 4.20 Ước lượng xác suất hộ tham gia chuyển đổi cây

trồng theo tác động biên của từng nhân tố 63

Trang 14

DANH MỤC ĐỒ THỊ VÀ HÌNH VẼ

ĐỒ THỊ VÀ

Hình 2.1 Sơ đồ chuỗi giá trị lúa gạo ở ĐBSCL, 2010 15

Hình 2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển

Hình 3.1 Biểu đồ Đánh giá về điều kiện đất đai, khí hậu

Hình 3.3 Biểu đồ Cơ cấu các loại giống lúa của huyện

Hình 4.2 Biểu đồ Quyết định chuyển đổi giống lúa nông

Trang 15

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh

SXTT Sản xuất tiêu thụ

TCCTXH Tổ chức chính trị xã hội

Trang 16

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH

SPSS Statistical Package for the Social Sciences

Chương trình được sử dụng để phân tích thống kê trong khoa học xã hội

OECD Organization for Economic Co-operation and Development:

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

Trang 17

NỘI DUNG LUẬN VĂN

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Sự cần thiết của đề tài

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng trọng điểm sản xuất lương thực của cả nước Trong đó, Long An là tỉnh có diện tích sản xuất vựa lúa gạo lớn trong vùng ĐBSCL

Diện tích đất của toàn tỉnh Long An là 449.494 ha Đất nông nghiệp là 360.251 ha, trong đó đất trồng lúa là 266.528 ha, chiếm 74% diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh, là cây trồng chủ lực của tỉnh (theo niên giám thống kê 2017)

Những năm qua, sản xuất lúa đã đóng góp quan trọng vào xuất khẩu gạo của tỉnh, cơ cấu giống lúa có nhiều thay đổi, ngày càng tăng cơ cấu giống lúa chất lượng cao Hiện nay tỉnh Long An đang triển khai xây dựng vùng sản xuất lúa ứng dụng công nghệ cao 20.000 ha trên địa bàn tỉnh Long An đến năm 2020 Việc chuyển đổi giống là một điều tất yếu trong sự phát triển sản xuất lúa

Trong đó huyện Tân Hưng là huyện chiếm diện tích trồng lúa lớn nhất trong

15 đơn vị hành chính của tỉnh Long An, trong đó đến năm 2018 huyện Tân Hưng đã gieo trồng thêm 06 loại giống lúa chất lượng cao mà năm 2014 không có như giống lúa RVT, Đài thơm 8, Nhật, OM 5451, OM 7347, Lộc trời 5 đây là các loại giống lúa đang được thị trường chấp nhận và mang lại hiệu quả cho người nông dân; đến nay giống lúa chất lượng cao, thơm, đặc sản chiếm 86,5%, tăng 18,5% so với năm

2014

Tuy nhiên các giống lúa phải phù hợp mùa vụ, thị trường và phù hợp với diễn biến nguồn nước, tình hình xâm nhập mặn Việc phát triển cơ cấu giống lúa cũng chưa hoàn toàn gắn kết với nhu cầu thị trường tiêu thụ; bên cạnh đó, việc nông dân chọn giống bị thoái hóa, giống kém chất lượng cũng ảnh hưởng tới năng suất và khả năng kháng bệnh của cây lúa

Trước yêu cầu từ thực tế sản xuất, những năm qua, ngành Nông nghiệp tỉnh

đã đưa các giống lúa mới vào khảo nghiệm, nhân rộng trên địa bàn huyện Tân

Trang 18

Hưng, giúp cho việc thay đổi cơ cấu giống ở các vùng trồng lúa có nhiều chuyển biến tích cực, đem lại những kết quả khả quan và đem lại lợi ích kinh tế cao; đặc biệt thay đổi cơ cấu giống lúa theo thị trường tiêu thụ thông qua thực hiện mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi khép kín là hết sức cần thiết và đây cũng là chủ trương của Chính phủ hiện nay và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai thực hiện Đề án Tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm

2030

Hiện nay, Chính phủ ban hành Nghị định 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp (thay thế Quyết định 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 trước đây) Đây cũng là chủ trương lớn để nông dân cần thay đổi cơ cấu giống phù hợp với đặt hàng của doanh nghiệp để có đầu ra ổn định, có hiệu quả kinh tế

Vì vậy, việc đánh giá, nhìn nhận lại hiệu quả, các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi giống của các hộ sản xuất lúa trên địa bàn huyện hiện nay là

rất cần thiết Do vậy tác giả chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cơ cấu giống lúa trên đất lúa tại huyện Tân Hưng, tỉnh Long An” làm nghiên cứu

luận văn thạc sỹ Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp một số thông tin hữu ích cho những người làm công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp, về nông hộ trong việc đầu tư, quy hoạch và phát triển cây lúa của huyện cho năng suất, sản lượng cao, ổn định và hiệu quả hơn trong thời gian tới gắn với nhu cầu thị trường, trên cơ sở đó, tác giả đề xuất, gợi ý một số biện pháp và chính sách nhằm tăng cường hoặc hạn chế các yếu tố

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu giống lúa

và đề xuất giải pháp đến chính quyền tại địa phương để đưa ra định hướng hoặc chính sách khuyến khích người nông dân chuyển đổi

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến quyết định chuyển đổi giống lúa của hộ nông dân

Trang 19

Đề xuất những khuyến nghị, giải pháp nhằm góp phần tăng cường hoặc hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố đến sự chuyển đổi cơ cấu giống lúa

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu giống lúa

Đối tượng khảo sát là các hộ nông dân trồng lúa

1.4 Phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Phạm vi về không gian địa điểm

Đề tài nghiên cứu tại địa bàn huyện Tân Hưng, tỉnh Long An

1.4.2 Phạm vi về thời gian

Dữ liệu sơ cấp (thực hiện điều tra): từ tháng 02 đến tháng 4 năm 2019

Dữ liệu thứ cấp: Từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 12 năm 2018

1.5 Câu hỏi nghiên cứu

Những câu hỏi đặt ra cần phải trả lời khi nghiên cứu:

Câu hỏi 1: Thực trạng cơ cấu giống lúa sản xuất tại huyện Tân Hưng, tỉnh Long An?

Câu hỏi 2: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến chuyển đổi giống lúa của hộ nông dân trồng lúa tại huyện Tân Hưng, tỉnh Long An?

Câu hỏi 3: Những giải pháp nào nhằm góp phần tăng cường hoặc hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố đến sự chuyển đổi cơ cấu giống lúa tại huyện Tân Hưng, tỉnh Long An?

1.6 Những đóng góp mới của luận văn

1.6.1 Đóng góp về phương diện khoa học

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận những yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cơ cấu giống lúa

- Để cho các nghiên cứu sau này trong cùng chung lĩnh vực nghiên cứu tham khảo

1.6.2 Đóng góp về phương diện thực tiễn

Đề tài nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo, cho chính quyền địa phương hiểu sâu hơn vấn đề và đưa ra các chính sách, biện pháp phù hợp, thúc đẩy phát triển kinh tế hộ nông dân và kinh tế địa phương

Trang 20

1.7 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này tác giả vận dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với phương pháp nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính được được thực hiện qua: thu thập dữ liệu, báo cáo, tham khảo ý kiến chuyên gia nhằm đánh giá thực trạng tình hình sản xuất các giống lúa, các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi giống lúa Việc nghiên cứu định tính giúp nhận diện các vấn đề liên quan đến đề tài, làm cơ sở để kiểm tra các yếu tố tác động được đề ra trong mô hình lý thuyết, thiết kế câu hỏi nghiên cứu, đưa ra mô hình nghiên cứu thực tế và là cơ sở để đo lường các biến trong nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định lượng được thực hiện với bảng khảo sát theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, cỡ mẫu cho nghiên cứu chính thức được thu thập trực tiếp (dự kiến n= 200) người nông dân tại các xã của huyện Tân Hưng Dữ liệu được thu thập sau khi loại bỏ những phiếu khảo sát không hợp lý (nếu có) tác giả đưa dữ liệu vào phần mềm SPSS 20.0 để xử lý và phân tích

Xử lý dữ liệu loại biến không hợp lệ, dữ liệu sau khi thu thập được phân tích thống kê mô tả và phân tích hồi quy Binary Logistic, kiểm định ý nghĩa hệ số hồi

quy

1.8 Tổng quan các công trình nghiên cứu trước

1.8.1 Các nghiên cứu trong nước

(1) Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Sáng (2009), Luận văn thạc sỹ, Đại học Nông nghiệp Hà Nội về “Chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Đông Sơn – tỉnh Thanh Hóa” Tác giả đã đưa ra các yếu tố liên quan đến đề tài nghiên cứu gồm: các yếu tố tự nhiên (đất, nước, khí hậu), các yếu tố sinh vật (cây trồng, vật nuôi), các yếu tố về kinh tế xã hội (cơ chế chính sách, thị trường, dịch vụ, điều kiện cơ sở hạ tầng và nông hộ) có ảnh hưởng trực tiếp đến việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa

(2) Nghiên cứu của tác giả Đinh Ngọc Lan (2013), Tạp chí Khoa học & Công nghệ, số 62, trang 129–133 về “Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất ruộng theo hướng sản xuất hàng hóa tại thành phố Lạng Sơn” Kết quả nghiên cứu cho thấy trở ngại chính đối với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng gồm: Điều

Trang 21

kiện sản xuất không thuận lợi như thiếu hệ thống thủy lợi, thiếu giống, chất lượng giống không tốt, thiếu thông tin cần thiết về đầu vào, đầu ra cho quá trình sản xuất, thiếu vốn đầu tư sản xuất, thiếu kỹ thuật, trình độ học vấn của người dân còn thấp Yếu tố thông tin thị trường và lợi nhuận đặc biệt tác động mạnh, chi phối đến quyết định lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh và mức độ đầu tư của nông hộ

(3) Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Cúc (2016), Luận văn Thạc sỹ, Đại học Mở TPHCM về “Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng mía ở tỉnh Long An” Đề tài sử dụng thống kê mô tả và mô hình hồi quy Binary Logistic để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng mía ở tỉnh Long An Kết quả hồi quy Binary Logistic và thực hiện một số kiểm định của mô hình, cho thấy có 08 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cây trồng của nông hộ trên địa bàn tỉnh Long An theo thứ tự tác động của các nhân tố gồm: Dịch vụ hỗ trợ chuyển giao công nghệ, Tiếp cận tín dụng, Tham gia cộng đồng nắm giữ công nghệ, Trình độ học vấn, Lợi nhuận kỳ vọng, Quy mô vốn sở hữu của hộ, Tuổi chủ hộ, Quy mô hộ với mức ý nghĩa thống

kê 1% và 10%

(4) Nghiên cứu của tác giả Lê Xuân Thái (2014), Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ, số 35 (2014), trang 79–86 về “Các yếu tố ảnh hưởng thu nhập của nông hộ trong các mô hình sản xuất trên đất lúa tại tỉnh Vĩnh Long” Các biến độc lập được đưa vào khảo sát là: số người trong hộ, tuổi chủ hộ, số năm đến trường của các lao động trong nông hộ, số ngày công lao động gia đình tham gia vào sản xuất trong một năm, diện tích canh tác của nông hộ, chi phí sản xuất, doanh thu sản xuất, lợi nhuận sản xuất trong một năm của nông hộ, nguồn thu nhập của nông hộ, tham gia tổ chức xã hội địa phương và nhận hỗ trợ sản xuất Kết quả phân tích cho thấy các yếu tố tác động làm tăng thu nhập bình quân người/hộ là diện tích canh tác, chi phí đầu tư sản xuất, tham gia tổ chức địa phương

(5) Nghiên cứu của tác giả Hà Vũ Sơn và Dương Ngọc Thành (2014), Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ, số 33 (2014) trang 87–93 về “So sánh hiệu quả tài chính giữa mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và mô hình không ứng dụng tiến

bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long” Theo kết quả kiểm

Trang 22

định, tác giả có thể kết luận rằng việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất lúa đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho nông hộ

(6) Nghiên cứu của tác giả Phạm Lê Thông, Huỳnh Thị Đan Xuân và Trần Thị Thu Duyên (2011), Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ, số 18a, trang 267–

276 về “So sánh hiệu quả kinh tế của vụ lúa hè thu và thu đông ở ĐBSCL” Kết quả nghiên cứu cho thấy mức hiệu quả kinh tế mà nông dân đạt được trong vụ hè thu và thu đông chỉ ở khoảng 57% Mức hiệu quả 02 vụ này tương đương nhau Tuy nhiên với cùng lượng đầu vào và giá cả, lợi nhuận của vụ hè thu cao hơn vụ thu đông từ

17 đến 19%, chủ yếu là do điều kiện thời tiết và canh tác thuận lợi hơn

(7) Nghiên cứu của tác giả Đỗ Quang Giám, Trần Quang Trung (2013), Tạp chí Phát triển kinh tế 273, trang 51 – 63 về “Tác động của các mô hình kết nối nông dân với thị trường đến thu nhập của hộ chăn nuôi heo thịt ở khu vực trung du miền núi Đông Bắc” Điều tra 360 hộ, kết quả phân tích cho thấy phần lớn các hộ nông dân chăn nuôi heo thịt tham gia kết nối thị trường ở các mô hình khác nhau đều có mức thu nhập cao hơn so với hộ không tham gia Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng tham gia kết nối nông dân – thị trường của nông hộ chăn nuôi heo thịt bao gồm: Quy mô sản xuất, trình độ học vấn và địa vị xã hội của chủ hộ, và biến động giá sản phẩm trên thị trường

(8) Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tiến Dũng và Lê Khương Ninh (2015), Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ, số 36, trang 116–125 về “Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ” Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của các nông

hộ tương đối thấp và chịu ảnh hưởng của các yếu tố nội tại như quy mô diện tích, phương thức mua vật tư, phương thức bán lúa, số lượng lao động gia đình, tập quán canh tác và lượng tiền nhàn rỗi, bên cạnh các yếu tố ngoại biên như thực trạng hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, khoảng cách từ nơi sinh sống của nông hộ các điểm chợ (9) Nghiên cứu của tác giả Phạm Ngọc Nhàn, Hồ Hoàng Chinh và Trần Thị Linka (2017) Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ, tập 50, Phần D, trang 87–

95 về “Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của nông dân trong hoạt động sản xuất lúa giống cộng đồng huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang năm 2016”

Trang 23

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tham gia của nông dân chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi yếu tố Nhận thức xã hội, thứ hai Năng lực cá nhân, Sự chấp thuận của thị trường và người tiêu dùng Các yếu tố chính sách nhà nước, các hoạt động hỗ trợ, Lợi ích cá nhân và xã hội không có ý nghĩa

(10) Nghiên cứu của tác giả Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son (2011) tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ về “Phân tích chuỗi giá trị lúa gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long” Đề tài phỏng vấn trực tiếp 564 đại diện các tác nhân tham gia chuỗi và 10 nhóm nông dân trồng lúa thuộc bốn tỉnh có diện tích và sản lượng lúa cao nhất vùng ĐBSCL Nghiên cứu đả đi sâu phân tích chuỗi giá trị lúa gạo nội địa và chuỗi giá trị lúa gạo xuất khẩu, phân tích kinh tế chuỗi nhấn mạnh phân phối lợi ích, chi phí, giá trị gia tăng cũng như tổng lợi nhuận của mỗi tác nhân

và toàn chuỗi

1.8.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài

(1) Nghiên cứu của tác giả Xaysongkhame Phimmasone, Nguyễn Hữu Ngoan (2015), Tạp chí Phát triển kinh tế 273, trang 51-63 về “Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tại tỉnh Bo Kẹo, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đó là: Hệ thống chính sách phát triển nông nghiệp hàng hóa (chính sách giao đất, giao rừng; chính sách tín dụng; cho vay vốn lãi suất thấp để phát triển; thu thuế sử dụng đất; chính sách khuyến khích sản xuất – tiêu thụ sản phẩm); nguồn lực của hộ nông dân (độ tuổi trung bình của chủ hộ, số nhân khẩu bình quân, tổng diện tích đất canh tác bình quân; thị trường lao động, vốn, tiêu thụ Kết luận các yếu tố gồm hệ thống chính sách, thị trường vốn, thị trường tiêu thụ đã

có tác động tích cực nhưng đất đai và lao động là hai yếu tố đang có tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp hàng hóa của hộ

(2) Uaiene và Rafael N (2006) nghiên cứu “Các yếu tố quyết định việc áp dụng công nghệ nông nghiệp bởi hộ gia đình nông thôn ở Mozambique” Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc tiếp cận giáo dục cao hơn, tiếp cận với các dịch vụ tư vấn phổ biến, và các thành viên hiệp hội nông nghiệp có nhiều khả năng áp dụng công nghệ mới trong nông nghiệp Khó khăn trong tiếp cận tín dụng là một trong những

Trang 24

trở ngại chính cho việc áp dụng công nghệ Các hộ gia đình dễ dàng tiếp cận đất đai thì ít có khả năng chấp nhận công nghệ mới, đặc biệt là đầu vào

(3) Uaiene và ctg (2009) Nghiên cứu “Các yếu tố quyết định cơ bản của việc

áp dụng công nghệ nông nghiệp bởi nông hộ ở Mozambique” Tiếp cận tín dụng, trình độ giáo dục cao hơn, tiếp cận với các dịch vụ tư vấn mở rộng, và các thành viên hiệp hội nông nghiệp có nhiều khả năng áp dụng công nghệ mới trong nông nghiệp

(4) Sarker và ctg (2005) nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng lên quyết định của nông nhân về việc áp dụng việc chấp nhận của hệ thống nông trại ở Bangladesh” Tác giả đưa ra các đặc tính nông hộ gồm Kinh tế xã hội: Giới tính, tuổi tác, giáo dục, các thành viên tích cực gia đình, thành viên phụ thuộc gia đình; nguồn lực: lực lượng lao động gia đình, quy mô trang trại, thu nhập hộ, kinh nghiệm

hộ

1.9 Kết cấu của luận văn

Gồm 5 chương và được trình bày theo thứ tự như sau:

Chương 1 Phần mở đầu: Chương này giới thiệu về lý do nghiên cứu đề tài,

mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, giới hạn và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu, kết cấu của nghiên cứu

Chương 2 Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước

Chương này trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết, mô hình lý thuyết và các kết quả của những nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài nghiên cứu Đồng thời đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài

Chương 3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu:

Chương này trình bày điều kiện tự nhiên, nguồn nhân lực, tình hình sản xuất vùng

nghiên cứu; đồng thời trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, xây

dựng mô hình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, phân tích dữ liệu và các kiểm định

Chương 4 Kết quả và thảo luận: Trình bày và phân tích dữ liệu nghiên

cứu, phân tích kết quả thống kê mô tả dữ liệu dùng trong nghiên cứu, kết quả kiểm

Trang 25

định các mô hình kinh tế lượng, để giải quyết, trả lời các câu hỏi, mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra

Chương 5 Kết luận và hàm ý quản trị: Trình bày tóm tắt các kết quả

nghiên cứu đã đạt được; trên cơ sở đó đề xuất, gợi ý một số chính sách liên quan Nêu những hạn chế của đề tài và gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo

Trang 26

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Khái niệm cơ cấu giống lúa

“Cơ cấu cây trồng là thành phần các giống và loài cây được bố trí theo không gian và thời gian trong một vùng sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi về tự nhiên, kinh tế - xã hội sẵn có Cơ cấu cây trồng được xác định trên cơ sở bố trí mùa vụ, chế độ luân canh cây trồng, thay đổi theo những tiến bộ khoa học kỹ thuật, giải quyết vấn đề mà thực tiễn sản xuất đòi hỏi và đặt ra cho ngành sản xuất trồng trọt những yêu cầu cần giải quyết” (Đào Thế Tuấn, 1984, trang 34)

Tên khoa học của cây lúa là Oryzae sativa L thuộc họ Hòa thảo Graminae Hạt thóc hay còn gọi là hạt lúa (paddy, rough rice) bao gồm gạo lật (brown rice – caryopsis) và trấu vốn bao bọc quanh gạo lật (Cây lúa Việt Nam – tập III,

2011, trang 466)

Chiều dài, chiều rộng và độ mảnh (thickness) của hạt thóc thay đổi trong một giới hạn rất rộng tùy theo giống lúa Kích thước và hình dạng hạt thóc cũng như hạt gạo là chỉ tiêu chất lượng bề ngoài quan trọng của gạo và trong việc buôn bán thương mại, thường thường gạo được phân loại dựa trên kích thước (size) và hình dạng (shape) hạt gạo và độ đồng đều (uniformity) của gạo

Từ đó có thể hiểu Cơ cấu giống lúa là thành phần các giống lúa được bố trí theo không gian và thời gian trong một vùng sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi về tự nhiên, kinh tế - xã hội sẵn có

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển tỉnh Long An năm 2019, Long An có các nhóm giống lúa sản xuất như sau:

Nhóm lúa thơm, đặc sản chiếm tỷ lệ 62,5%: (Đài thơm 8, Nàng Hoa 9, RVT, Tài nguyên, ST 24, VD 20, Nàng thơm và nếp (chiếm tỷ lệ 29,9%)

Nhóm lúa chất lượng cao chiếm tỷ lệ 23,25%: (OM 5451, OM 4900, OM

7347, OM 6976)

Nhóm chất lượng trung bình chiếm tỷ lệ 8,28%: (IR 50404, OM 1352)

Trang 27

Theo Đề án Tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt theo Quyết định số 1898/QĐ-BNN-TT ngày 23/5/2016 định hướng cơ cấu giống như sau:

“- Tập trung nghiên cứu chọn tạo các giống lúa chất lượng cao, lúa thơm, có giá bán cao, cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu và thị trường nội địa; chống chịu được với sâu bệnh hại chính; ưu tiên giống có thời gian sinh trưởng ngắn hoặc giống trung ngày có chất lượng cao, thơm Các giống lúa mới được tạo chọn ngoài tính chống chịu sâu bệnh cần có tính thích nghi trong Điều kiện biến đổi khí hậu như chịu mặn, hạn, ngập úng và nóng Các giống lúa địa phương đặc sản được bảo tồn, chọn lọc dòng thuần để cung ứng giống sản xuất gạo đặc sản phục vụ thị trường nội địa hoặc xuất khẩu diện hẹp, chuyên biệt

- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long hướng tới thị trường xuất khẩu là chính, đồng thời quan tâm đúng mức đến thị trường nội địa; sử dụng nhóm giống lúa chất lượng cao (gạo trắng, hạt dài, thơm nhẹ hoặc không thơm) chiếm Khoảng 50%; giống lúa thơm chiếm Khoảng 25%; giống Nếp, đặc sản địa phương Khoảng 15%, giống chất lượng trung bình Khoảng 10% diện tích gieo trồng.”

- Vùng Đồng bằng sông Hồng và các vùng sản xuất lúa hàng hóa còn lại hướng tới thị trường trong nước là chính; chủ yếu sử dụng các giống lúa có chất lượng gạo, cơm ngon, có giá bán cao phù hợp người tiêu dùng trong nước; tỷ lệ diện tích giống chất lượng cao, bao gồm cả nếp, japonica chiếm Khoảng 60%, giống năng suất cao Khoảng 40% diện tích gieo trồng

- Tỷ lệ giống lúa lai chiếm Khoảng 10% diện tích lúa cả nước, ưu tiên ở vùng cần đảm bảo an ninh lương thực (miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ), vùng đất thấp ven biển, vùng lúa - tôm ”

2.2 Chuyển đổi cơ cấu giống

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng là cải tiến hiện trạng cơ cấu cây trồng có trước sang cơ cấu cây trồng mới nhằm đáp ứng những yêu cầu sản xuất Thực chất của chuyển đổi cơ cấu cây trồng là thực hiện hàng hoạt các biện pháp (kinh tế, kỹ thuật, chính sách xã hội) nhằm thúc đẩy cơ cấu cây trồng phát triển, đáp ứng theo những mục tiêu của xã hội (Nguyễn Duy Tính, 1995)

Trang 28

Từ đó có thể hiểu Chuyển đổi cơ cấu giống là cải tiến hiện trạng cơ cấu giống có trước sang cơ cấu giống mới nhằm đáp ứng những yêu cầu sản xuất và kinh tế Thực chất của chuyển đổi cơ cấu giống là thực hiện hàng hoạt các biện pháp (kinh tế, kỹ thuật, chính sách xã hội) nhằm thúc đẩy cơ cấu giống phát triển, đáp ứng theo những mục tiêu của kinh tế xã hội yêu cầu

2.3 Vai trò của chuyển đổi cơ cấu giống lúa

Năng suất lúa bình quân cả nước cuối thế kỷ XIX có khoảng 1 tấn/ha Đến nay, qua gần thế kỷ rưỡi, ta đạt tới 5 – 6 tấn/ha, do ngày một cải thiện điều kiện sản xuất, bao gồm vốn đầu tư “đầu vào” cho việc đổi mới công nghệ sản xuất, dùng giống cao sản và tăng đầu tư phân hóa học và thuốc sát trùng, cũng như cơ chế chính sách ngày một hợp lý

Từ 1878 đến 1995, người nông dân sản xuất lúa chỉ dựa vào độ màu mỡ sẵn

có của đất với sức lao động của mình; hạt giống lúa tự chọn tự giữ Giống lúa cổ truyền cao cây, dài ngày, năng suất hạt thấp Các giống lúa địa phương đều yếu chịu phân bón

Nền nông nghiệp với nghề trồng lúa ở ĐBSCL mới bắt đầu khoảng 300 năm trước đây nhưng tập đoàn giống lúa rất đa dạng để thích ứng với điều kiện tự nhiên phức tạp

Từ năm 1960 đến 1985, năng suất lúa đạt 2-2,8 triệu tấn/ha Ta nhập và sản xuất thử kết hợp nhân giống mới từ thập kỷ 60 trở đi thì vai trò của giống lúa IR và những giống tương tự ngày càng rõ rệt và trở thành nhân tố quan trọng nhất, yếu tố tiền đề để tăng năng suất và sản lượng lúa Trong giai đoạn này là đưa vào sản xuất trên diện tích đại trà các giống lúa cao sản thấp cây ngắn ngày nhập từ Viện Lúa Quốc tế, năng suất lên 8-9-10 tấn Hệ số tăng vụ lúa cũng tăng lên tạo điều kiện để cho nông dân tăng vụ lúa, hay luân canh

Do năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn nên sản lượng lúa tăng nhanh, Việt Nam từ nước phải nhập khẩu lương thực sang xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới, chỉ sau Thái Lan Ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn tiếp theo nếu không có tiến bộ về giống và kỹ thuật mới áp dụng

Trang 29

Về sản xuất lúa, không những ta cần giống lúa chín sớm để tăng vụ và né tránh điều kiện bất thuận mà còn cần những giống lúa sống chung với lũ và những cây trồng luân xen canh

Từ 1990 đến 1999, năng suất lúa đạt từ 3,5 – 4,05 tấn 1 ha, tăng thêm 01 tấn, mất có 15 năm Bắt đầu từ năm 1989 trở đi, Việt Nam trở thành một nước xuất khẩu gạo bền vững, năm sau cao hơn năm trước, năm 2010 xuất khẩu lên đến 6,7 triệu tấn và năm 2018 là hơn 6 triệu tấn

Ưu điểm các giống lúa mới cao sản thấp cây, ngắn ngày phát huy tác dụng cùng với diện tích gieo trồng và sản lượng tăng nhanh Cơ cấu diện tích sử dạng các loại giống lúa trở nên ổn định hơn Đến giai đoạn này muốn tăng năng suất và sản lượng chủ yếu dựa vào kỹ thuật canh tác, vào công nghệ sản xuất, mức độ công nghiệp hóa và hiện đại hóa cao hơn là dựa vào giống năng suất cao

Từ năm 2000 đến nay, năng suất đạt từ 4 lên 5 tấn 1 ha, diện tích canh tác lúa giảm do công nghiệp hóa, tuy nhiên sản lượng lúa vẫn tiếp tục tăng

Bảng 2.1: Diện tích lúa 5 năm từ năm 2014 đến năm 2018

ĐVT: Nghìn ha

Giai đoạn 2014-

2018 (%)

Việt Nam 7.816,2 7.828 7.737,1 7.708,7 7.570 -0,85 Long An 519,13 522,88 527,4 526,72 511,26 -0,63

Tân

Hưng

Trang 30

Bảng 2.2: Sản lượng lúa 5 năm từ năm 2014 đến năm 2018

ĐVT: Ngàn Tấn

đoạn 2014-

2018 (%)

2018 (%)

2.4 Các lý thuyết liên quan đề tài nghiên cứu

2.4.1 Bản chất của thị trường lúa gạo

Hệ thống tiêu thụ lúa gạo ở Việt Nam khá phức tạp thông qua nhiều mắt xích liên hệ giữa các đối tác khác nhau: nông dân sản xuất lúa, người thu gom lúa, cơ sở xay xát, người bán buôn, người bán lẻ và các công ty quốc doanh lương thực (Cây lúa Việt Nam, tập II, 2009)

Trang 31

Nhìn chung kể từ 1980 công cuốc đổi mới cơ chế chính sách đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của một hệ thống lưu thông lúa gạo tự do ở Việt Nam Thị trường lúa gạo trong nước đã được tháo gỡ mọi hạn chế ràng buộc Hệ thống lưu thông phân phối và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo hiện nay hầu như hoàn toàn

tự do với nhiều đơn vị, nhiều thành phần kinh tế khác nhau

Cấu trúc ngành lúa gạo sẽ được phân chia thành hai phân khúc thị trường có mối quan hệ qua lại với nhau Đó là thị trường mua bán lúa và thị trường mua bán gạo (tiêu thụ nội địa trong nước và xuất khẩu) (Nguyễn Đức Thành và Đinh Tuấn Minh, 2015)

Đã có nhiều nghiên cứu về chuỗi giá trị của ngành lúa gạo khu vực ĐBSCL Các nghiên cứu đều chỉ ra thương lái và công ty xuất khẩu là những chủ thể đóng vai trò trong chuỗi giá trị gạo của vùng ĐBSCL Các công ty xuất khẩu là đơn vị quyết định giá bán gạo trên thị trường thế giới, từ đó truyền tín hiệu về giá dọc xuống toàn bộ chuỗi giá trị, thông qua các tác nhân bao gồm thương lái, nhà máy xay xát và các môi giới Trong khi đó chỉ một số nhỏ nông dân có quan hệ với công

ty xuất khẩu Hơn 90% sản lượng họ sản xuất ra được bán trực tiếp cho thương lái Thương lái cũng đóng vai trò quan trọng không chỉ trong khâu mua bán lúa, mà cả trong khâu mua bán gạo

Tổ hợp tác Câu lạc bộ

Thu gom

Nhà máy xay xát

Nhà máy lau bóng

Siêu thị Bán sỉ/lẻ

Công

ty lương thực

Tiêu dùng nội địa

Xuất khẩu

Trang 32

Hình 2.1: Sơ đồ chuỗi giá trị lúa gạo ở ĐBSCL, 2010

Nguồn: Tác giả Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son (2011)

2.4.2 Thay đổi công nghệ

OECD (2001) cho rằng thay đổi công nghệ (Technical change) là động lực thúc đẩy chủ yếu cho sự gia tăng năng suất trong nông nghiệp và thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp ở các nước OECD Trước đây, việc lựa chọn công nghệ và ứng dụng công nghệ để gia tăng sản xuất, năng suất và thu nhập của nông hộ Trong nhiều thập kỷ qua, các chính sách cho nông nghiệp, thương mại, nghiên cứu và phát triển, giáo dục, đào tạo và tư vấn đã ảnh hưởng mạnh đến sự lựa chọn công nghệ, trình độ sản xuất nông nghiệp và tình hình thực tế nông hộ

Ngày nay, nông hộ, chuyên gia tư vấn và nhà hoạch định chính sách đang đối mặt với nhiều lựa chọn phức tạp Họ đang phải đối mặt với hàng loạt các công nghệ

cả về công nghệ hiện có và công nghệ phát triển; đối phó với sự không chắc chắn của ảnh hưởng công nghệ mới thông qua chuỗi thực phẩm nông nghiệp và tác động của các chính sách có tính bền vững của hệ thống canh tác

Khái niệm về hệ thống canh tác bền vững đề cập đến năng lực của nông

nghiệp trong thời gian tới đóng góp vào phúc lợi tổng thể bằng cách cung cấp đủ lương thực và hàng hóa, dịch vụ thông qua hiệu quả kinh tế và lợi nhuận, trách nhiệm xã hội, trong khi đó cải thiện chất lượng môi trường (OECD, 2001)

Công nghệ của nông nghiệp bền vững bao gồm toàn bộ các hệ thống canh tác Tất cả các hệ thống nông nghiệp, từ canh tác chuyên sâu đến canh tác cơ bản để

đạt được sự bền vững tại địa phương Dù rằng trong thực tế nông hộ áp dụng công nghệ và quản lý phù hợp môi trường sinh thái trong khuôn khổ chính sách quy định Không có hệ thống nào được xác định là duy nhất (OECD, 2001)

2.4.3 Sự cải tiến

Sự đổi mới/cải tiến (Innovation) được định nghĩa là việc chấp nhận đầu tiên bởi những nông dân có tay nghề cao và nông dân có kinh nghiệm và sau đó lan rộng đến những nông dân tay nghề thấp bằng kinh nghiệm thông qua tích lũy công nghệ trong cộng đồng (Kislev và Shchori-Bachrach, 1973 trích bởi Katungi, 2007)

Trang 33

Cuộc cách mạng trong vùng nhiệt đới đã được đánh dấu bằng sự ra đời của những giống lúa năng suất cao, không đổ ngã và đáp ứng mạnh với phân bón Những giống lúa này đã giúp cho nông dân vùng nhiệt đới có thể theo kịp nông dân vùng ôn đới về mặt năng suất và sản lượng Những giống lúa mới đầu tiên đã cho thấy rõ việc chọn tạo giống là một phương tiện hữu hiệu để cải thiện năng suất và sản lượng lúa Tuy nhiên trong giai đoạn này mục tiêu chọn tạo giống chủ yếu nằm vào việc cải tiến các đặc trưng hình thái của cây để gia tăng năng suất Dần dần, do những hạn chế của các giống lúa mới trong khả năng thích nghi với các điều kiện môi trường khắc nghiệt Khi mở rộng diện tích canh tác lúa và sự phát triển ngày càng cao của các loại sâu bệnh, người ta thêm vào các mục tiêu chọn tạo giống tính thích nghi và kháng chịu với các điều kiện môi trường không thuận lợi và kháng sâu bệnh Khi đã đạt được năng suất tương đối cao và ổn định, mục tiêu chọn tạo giống lại nâng lên trên cơ sở sinh lý, sinh hóa của cây lúa để nâng cao tiềm năng năng suất hơn nữa, đồng thời phẩm chất hạt gạo cũng được chú ý cải thiện

Các phương pháp cải tiến giống lúa là phục tráng giống, lai tạo, sử dụng lúa

ưu thế lai, gây đột biến, cấy mô (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009)

Các yếu tố ảnh hưởng tới sản xuất Trong sản xuất thì có rất nhiều các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người Những yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất còn được gọi là các yếu tố đầu vào và sản phẩm tạo ra được gọi là các yếu tố đầu ra

Chuỗi giá trị mô tả toàn bộ những hoạt động cần thiết để đưa một sản phẩm

hay dịch vụ từ khái niệm, đi qua các công đoạn sản xuất khác nhau (liên quan đến

Trang 34

việc kết hợp giữa chuyển hóa vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đưa đến người tiêu dùng sau cùng, và bố trí sau sử dụng (Kaplinsky 1999; Kaplinsky & Morris 2001) Một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi đều hoạt động để tạo ra tối đa giá trị trong toàn chuỗi Các tác nhân trong chuỗi phải cùng nhau chuyển từ trạng thái cạnh tranh lẫn nhau sang cùng hợp tác, có chung tầm nhìn, chiến lược và mục tiêu cùng chia sẻ lợi nhuận và rủi ro Một chuỗi giá trị được hình thành không phải để đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi nhu cầu của người tiêu dùng ở tất cả các phân khúc thị trường mà là để đáp ứng nhu cầu của một nhóm người tiêu dùng với yêu cầu cụ thể

Trong thời gian qua, mô hình liên kết sản xuất trong nông nghiệp Việt Nam ngày càng trở nên đa đạng hơn Không chỉ có nông dân cần liên kết mà ngay cả các doanh nghiệp, tác nhân trong chuỗi sản xuất hàng hóa nông nghiệp cũng có nhu cầu

và tham gia tích cực vào chuỗi giá trị

Nông dân tiến hành tổ chức hành động tập thể theo quy trình sản xuất chung gắn với mô hình cánh đồng lớn Hộ nông dân liên kết lại bằng cách vào tổ hợp tác, hợp tác xã Sản xuất trong cánh đồng mẫu lớn, trong tổ hợp tác, nông dân giảm được ngày công lao động, giảm chi phí sản xuất do tất cả đều được cơ giới hóa Không chỉ vậy, nông dân cũng được nâng cao trình độ sản xuất thông qua các buổi tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất… Từ đó gắn kết giữa nông dân và nông dân ngày càng bền chặt Nhờ vào liên kết, nông dân mới có khả năng xây dựng và quản

lý nhãn hiệu tập thể, tiến đến xây dựng thương hiệu cho sản phẩm, quản lý về chất lượng sản phẩm để gia tăng giá trị, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường đối với các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đảm bảo an toàn, chất lượng Song song với sự liên kết giữa nông dân, liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp đã hình thành và củng cố, từ đó xây dựng kênh tiêu thụ mới trong chuỗi giá trị thông qua loại bỏ bớt tác nhân trung gian giữa người sản xuất và doanh nghiệp, rút ngắn độ dài của kênh tiêu thụ nông sản Sản xuất lớn tạo cơ sở để nông dân liên kết với những doanh nghiệp có khả năng chế biến sâu, bán sản phẩm trực tiếp, có thương hiệu đến người tiêu dùng thông qua các hệ thống phân phối trong và ngoài nước; hoặc liên kết với những doanh nghiệp chứng minh được họ đã liên kết, là một phần hữu cơ của một chuỗi hàng hóa nào đó trong các khía cạnh về chất lượng,

Trang 35

thương hiệu, rủi ro… Đã có nhiều doanh nghiệp tiêu thụ, xuất khẩu gạo liên kết với nông dân, xây dựng vùng nguyên liệu thông qua hợp đồng tiêu thụ, cung ứng vật tư,

Các đối tượng (sau đây gọi chung là các bên tham gia liên kết) bao gồm: Nông dân, chủ trang trại, người được ủy quyền đối với hộ nông dân, tổ hợp tác (sau đây gọi chung là nông dân); Cá nhân, người được ủy quyền đối với nhóm cá nhân,

hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh (sau đây gọi chung là cá nhân); Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (sau đây gọi chung là hợp tác xã); Doanh nghiệp

Các hình thức liên kết theo Nghị định số 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ:

(1) Liên kết từ cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, tổ chức sản xuất, thu hoạch, sơ chế hoặc chế biến gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

(2) Liên kết cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

(3) Liên kết tổ chức sản xuất, thu hoạch gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp (4) Liên kết cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, tổ chức sản xuất, thu hoạch gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

(5) Liên kết tổ chức sản xuất, thu hoạch, sơ chế hoặc chế biến gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

(6) Liên kết cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, sơ chế hoặc chế biến gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

(7) Liên kết sơ chế hoặc chế biến gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

Trang 36

2.4.5 Yếu tố quyết định mức độ hành vi chấp nhận của nông hộ

Dandedjrohoun và ctg (2014) trích Feder và ctg (1985) cho rằng việc áp dụng công nghệ ở các nước đang phát triển, thì các nhân tố khác nhau áp dụng công nghệ được chia thành 3 loại chính gồm: (1) Các yếu tố liên quan đến đặc điểm của sản xuất (gồm: trình độ học vấn, kinh nghiệm trong hoạt động, độ tuổi, giới tính, mức độ của sự giàu có, quy mô trang trại, lao động sẵn có, rủi ro không mong muốn,… ) ; (2) Các yếu tố liên quan đến đặc điểm và hiệu suất tương đối của công nghệ (gồm: thực phẩm và chức năng kinh tế của sản phẩm, nhận thức của cá nhân

về đặc điểm, tính năng phức tạp và hiệu suất của sự đổi mới, tính sẵn có và các yếu

tố đầu vào bổ sung, mức lợi nhuận tương đối của việc áp dụng công nghệ đó so với các công nghệ thay thế, giai đoạn phục hồi của đầu tư, tính nhạy cảm của công nghệ với các hiểm họa môi trường, …; (3) các yếu tố thể chế (gồm: tính sẵn có của tín dụng, sự sẵn có và chất lượng về thông tin công nghệ, khả năng tiếp cận thị trường cho các sản phẩm và yếu tố đầu vào, sở hữu đất đai và sự sẵn có đầy đủ của cơ sở

từ thu nhập hay lợi nhuận bằng cách chọn mức độ của các biến để kiểm soát, có thể

là phân bố một phần đất cho công nghệ mới hơn là chấp nhận hoàn toàn

Quy mô trang trại giảm theo thời gian khi không chắc chắn sẽ giảm bởi việc học tập và phổ biến thông tin từ việc sớm chấp nhận Hạn chế tín dụng cũng đã được xác định là một trở ngại cho việc chấp nhận công nghệ trong các nền kinh tế đang phát triển (Feder và ctg, 1985 trích bởi Katungi, 2007)

Trang 37

Quy mô trang trại nổi lên từ các nghiên cứu thực nghiệm của những năm

1970 và 1980 được xem là quan trọng đại diện cho một số các yếu tố như việc tiếp cận tín dụng, khả năng chịu rủi ro, tiếp cận đầu vào, sự giàu có, và tiếp cận thông tin (Feder, 1980; Feder và O'Mara, 1981; và Zilberman, 1983 trích bởi Katungi, 2007)

Và Katungi (2007) cũng xác định yếu tố đến việc chấp nhận công nghệ quản

lý cây trồng đối với các đầu vào bên ngoài ở mức độ thấp

Một trong những mối quan tâm là khả năng tài chính đối với các đầu vào từ bên ngoài (như phân bón, thuốc trừ sâu và máy móc) đó là giá cả và/hoặc thiếu khả năng tiếp cận thường làm cho họ không có hoặc không kham nổi việc thiếu nguồn lực Một nguồn lực khác của lãi suất là ảnh hưởng môi trường của nông nghiệp hiện đại, và những tác động như ô nhiễm thuốc trừ sâu, nạn phá rừng và suy thoái nguồn nước ngầm và tài nguyên nước mặt, mà đe dọa đến chất lượng môi trường

Katungi (2007) trích Rogers (1995) đưa ra giả thuyết năm thuộc tính công nghệ có ảnh hưởng đến tỷ lệ việc chấp nhận là: (1) lợi thế tương đối; (2) khả năng tương thích; (3) sự phức tạp; 4) năng lực thử nghiệm và (5) khả năng quan sát

2.4.6 Sử dụng đầu vào tối ưu và lợi nhuận thu được từ đầu vào

Các mô hình phát triển trong các nghiên cứu trước đây của việc áp dụng công nghệ là khái niệm trong lý thuyết tân cổ điển của sản xuất Trong lý thuyết tân

cổ điển, tối đa hóa lợi nhuận được giả định là mục tiêu cơ bản duy nhất của hành vi sản xuất Nhân tố quyết định phân bổ được dựa trên năng suất cận biên, được giả định là đồng đều trên các trang trại (nhà sản xuất) Giả định tối đa hóa lợi nhuận,

mô hình của việc ra quyết định nông hộ đòi hỏi sự tồn tại của thị trường hoàn hảo cho hàng hóa đầu ra và đầu vào, bao gồm cả lao động và tín dụng, do đó hàm ý rằng các quyết định sản xuất và tiêu thụ là đệ quy (Singh và ctg, 1986; de Janvry và ctg, 1991; trích bởi Katungi, 2007)

Foster và Rosenzweig (2013) đã nêu rằng tối đa hóa lợi nhuận là kết quả đóng góp biên của yếu tố đầu vào khấu trừ giá trị đầu ra bằng chi phí cận biên của chúng, hoặc lợi nhuận biên để lợi nhuận từ việc tăng giá trị của mỗi đầu vào là không Lợi nhuận cận biên là lợi nhuận từ việc sử dụng phân bón trên các nông hộ

là giống nhau Sử dụng phân bón và lợi nhuận trung bình từ sử dụng phân bón sẽ khác nhau giữa các nông hộ trong một mùa vụ nhất định

Trang 38

Có mối tương quan giữa lợi nhuận bình quân và sử dụng phân bón Nhưng

sự khác nhau giữa việc sử dụng phân bón và lợi nhuận trung bình không xác định suất sinh lợi biên của việc sử dụng phân bón và do đó cho dù phân bón đang được

sử dụng với giá cả không khác nhau

Với chút biến động giá cả và sự không đồng nhất của nông trại rất khó xác định lợi nhuận cho đầu vào đến những biến đổi trong việc sử dụng đầu vào và lợi nhuận của nông hộ thậm chí có sự thay đổi trong sử dụng đầu vào của nông hộ

Công nghệ ảnh hưởng tới lợi nhuận khi có sự không đồng nhất về đất canh tác của nông hộ Một nông hộ với nhiều thửa đất không đồng nhất sẽ tương thích với mỗi công nghệ mới

2.4.7 Lý thuyết về đầu vào và đầu ra

Giá nông sản thay đổi năm này qua năm khác và đặc biệt là biến động lớn theo mùa vụ sản xuất trong một năm Nhiều rủi ro có thể lường trước được nếu chu

kỳ sản xuất là rất ngắn nếu giá không kịp thay đổi Nhưng nông nghiệp lại có chu

kỳ sản xuất dài thường là 3 – 4 tháng và thậm chí là lâu hơn Do đó các quyết định sản xuất phải trước đó 3 – 4 tháng, với thời gian đó đủ để giá các nông sản có thể thay đổi Giá nông sản thay đổi do vô số lý do mà nông dân không có khả năng kiểm soát Cung nông sản chịu tác động của quyết định sản xuất của từng người nông dân và thời tiết xảy ra năm đó Còn nhu cầu nông sản cũng chịu ảnh hưởng bởi vô số yếu tố: thu nhập của người tiêu dùng, xuất khẩu và chính sách xuất khẩu, nền kinh tế nói chung, tất cả những cái đó đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhu cầu thông qua chính sách của chính phủ Biến động giá đầu vào và đầu ra là những nguồn quan trọng của rủi ro thị trường trong nông nghiệp (Nguyễn Quốc Nghi và Lê Thị Diệu Hiền, 2014)

Giá bán đầu ra thường không được biết ở tại thời điểm các quyết định sản xuất được thực hiện Mặt khác, nhu cầu không co giãn thường được xem là lời giải thích chủ yếu cho biến động giá cả trong nông nghiệp

David Begg (2009), chỉ ra rằng, một yếu tố đầu vào là một hàng hóa hoặc dịch vụ được sử dụng để sản xuất ra sản lượng đầu ra Yếu tố đầu vào bao gồm lao động, đất đai, máy móc, nhà xưởng, năng lượng, công nghệ

Trang 39

Việc tăng lượng yếu tố đầu vào làm tăng lượng sản phẩm đầu ra, nhưng đến mức nhất định thì sản lượng giảm dần Mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào với đầu

ra cần thiết phải có sự phối hợp nhiều yếu tố đầu vào khác nhau, giữa chúng có thể thay thế cho nhau Vì vậy, để tạo ra nông sản phẩm cần có sự phối hợp giữa các yếu

tố đầu vào và hiệu quả của nó tùy thuộc vào trình độ phối hợp hợp lý giữa các yếu

tố đầu vào của quá trình sản xuất (NEU, 2002)

2.4.8 Lý thuyết về hiệu quả kinh tế

Theo Samuelson và Nordhaus (2001), trích bởi Phạm Thị Thanh Xuân (2015), hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng hàng loạt của một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hóa khác Thực chất quan điểm hiệu quả này là đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội Việc phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực làm tăng hiệu quả

Hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ tỷ số giữa đầu ra có ích với đầu vào được sử dụng Đầu vào có thể tính theo số lao động, vốn hay thời gian lao động hao phí, chi phí thường xuyên Đầu ra thường là giá trị tăng thêm (Nguyễn Trần Quế và ctg, 2008; trích bởi Bùi Thị Sáu, 2013)

Cũng theo Nguyễn Văn Hậu (2010), hiệu quả kinh tế được tính bằng tổng giá trị trong một giai đoạn, phải trên mức bình quân của vùng, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền cho vay vốn ngân hàng Chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ trong, ngoài nước, hệ thống phải giảm mức thấp nhất thiệt hại (rủi ro)

do thiên tai, sâu bệnh,…

Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt được một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả phân bổ mới có điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho đạt hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thi khi đó mới đạt hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ tỷ số giữa đầu ra với đầu vào được sử dụng Đầu vào có thể tính theo số lao động, vốn hay thời gian lao động hao phí, chi

Trang 40

phí thường xuyên, đầu ra thường dùng giá trị tăng thêm Hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra Nó được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh (Hoàng Hùng, 2007; trích bởi Phạm Hoàng Long, 2013)

2.4.9 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế

Chi phí sản xuất: là toàn bộ các hao phí lao động sống, nguyên nhiên vật liệu

và các chi phí cần thiết khác mà nhà sản xuất phải chi ra trong quá trình sản xuất, được biểu hiện bằng thước đo tiền tệ và được tính cho một thời kỳ nhất định (Trần Thị Phiến, 2013)

Chi phí trong lĩnh vực sản xuất cây lúa được tính như sau: Chi phí lao động sống, nguyên nhiên vật liệu và các chi phí cần thiết khác mà chủ sản xuất phải bỏ ra trong quá trình canh tác được thể hiện bằng tiền và tính cho niên vụ một năm

- Lao động sống: lao động của nông dân, lao động thuê mướn khác trong quá trình canh tác

- Nguyên nhiên vật liệu: là chi phí về các vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sau, trừ cỏ, thuốc bảo về thực vật, giống…

- Chi phí khác gồm: Chi phí thuê mướn công cụ, thiết bị để làm đất, làm cỏ, cày bừa, bơm nước, lãi vay…

Doanh thu: Là khoảng thu của chủ sản xuất sau khi bán sản phẩm của mình

và được tính bằng tiền, thể hiện qua công thức:

Doanh thu = sản lượng x giá bán (2.1) Năng suất: Cho biết sản lượng thu hoạch được trên một đơn vị diện tích Lợi nhuận: Là kết quả chính của quá trình sản xuất, là thước đo hiệu quả hoạt động của sản xuất Lợi nhuận của nhà sản xuất là khoản dôi ra sau cùng mà nhà sản xuất nhận được sau khi bù đắp các khoản chi phí

Lợi nhuận có thể hiểu là phần thu được sau khi trừ tất cả các khoản chi phí bao gồm chi phí do gia đình đóng góp

Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí (2.2)

2.4.10 Lợi nhuận kỳ vọng

Lợi nhuận kỳ vọng là một trong những căn cứ giúp nông hộ lựa chọn quyết định nào trong số những quyết định có thể, được tính theo công thức sau:

Ngày đăng: 03/07/2021, 06:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w