Phương pháp SWOT để phân tích các thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý, chăm sóc bảo vệ hệ thống cây xanh đô thị và cây cô thụ, cây di sản trên địa bàn Kết quả chính của đề tài: Đ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản ly bảo tồn cây cô
thụ trong hệ thống cây xanh đô thị tại hai quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn, thành
phố Đà Nẵng” là đề tài do chính bản thân tôi thực hiện Các số liệu nghiên cứu, kết
quả điều tra, kết quả phân tích là trung thực, khách quan chưa từng được công bố
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu kết quả là sản phẩm kế thừa hoặc đã công
bố của người khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Lan
Trang 2“Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản ly bảo tồn cây cô thụ trong
hệ thống cây xanh đô thị tại hai quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà
Nẵng”.
Bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân mình, đề tài còn được sự giúp đỡ tậntình của các quý thầy giáo, cô giáo, các bạn học viên, các cấp, các ban ngành liên quan
cùng bạn bè đồng nghiệp Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến quý thầy cô giáo
trong khoa Lâm nghiệp, Phòng đào tạo sau Đại học trường Đại học Nông Lâm Huế,
Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ Công ty Công viên – Cây xanh Đà Nẵng và đặc biệt là
thầy giáo TS Trần Minh Đức, người trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực
hiện đề tài Cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các bạn đồng nghiệp, của các cơ quan,
chính quyền địa phương đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài của mình
Do thời gian và kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế nên trong quá trình thựchiện đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô giáo, các cơ
quan, bạn bè đồng nghiệp đóng góp thêm ý kiến để bản thân tôi có thể hoàn thiện hơn
trong nghiên cứu khoa học và có nhiều kinh nghiệm hơn trên con đường tiếp theo
Xin chân thành cảm ơn!
Huế, 29 tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Lan
Trang 3TÓM TẮT
Cây xanh, một thành phần quan trọng trong các công trình kiến trúc đô thị, đóngvai trò hết sức quan trọng trong việc điều hòa khí hâu, bảo vệ môi trường và giải quyết
các vấn đề về môi sinh Đà Nẵng là một thành phố có tốc độ phát triển rất nhanh về cơ
sở hạ tầng, cộng với những biến động của thời gian như chiến tranh, thiên tai, dịch hại
và nhận thức con người trong bối cảnh kinh tế thị trường đã làm cho số lượng cây cô
thụ tại đây ngày càng suy giảm và có nguy cơ vắng bóng hoàn toàn nếu không có giải
pháp quản lý bảo tồn hợp lý Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản ly bảo tồn
cây cổ thụ trong hệ thống cây xanh đô thị tại hai quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn,
thành phố Đà Nẵng”.
Với mục đích: Xây dựng cơ sở dữ liệu về hiện trạng và luận cứ khoa học chocông tác quản lý và bảo tồn các cá thể và quần thể cây cô thụ trên địa bàn hai quận
phía Đông thành phố Đà Nẵng
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài dự kiến sẽ vận dụng các hướng tiếp cận: Tiếpcận thông quan tham khảo và kế thừa có chọn lọc trên cơ sở phúc tra, kiểm chứng tại
địa bàn nghiên cứu; Tiếp cận có sự tham gia; Tiếp cận bằng cách lồng ghép: phối hợp
giữa hoạt động nghiên cứu với hoạt động thường xuyên của đơn vị công tác; Tiếp cận
bằng phương pháp chuyên gia
Các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp; phươngpháp thu thập số liệu sơ cấp; phương pháp điều tra trên hiện trường; phương pháp phân
tích, xử lý số liệu (Sử dụng tài liệu chuyên môn để phân loại đối tượng nghiên cứu, ma
trận và tiêu chí đánh giá để bình chọn đối tượng ưu tiên và nhân tố chủ yếu Sử dụng
sơ đồ Venn để phân tích các bên liên quan trong quản lý và bảo tồn cây cô thụ Phương
pháp SWOT để phân tích các thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý, chăm sóc bảo
vệ hệ thống cây xanh đô thị và cây cô thụ, cây di sản trên địa bàn)
Kết quả chính của đề tài: Đánh giá thực trạng và năng lực quản lý hệ thống câyxanh đô thị trên địa bàn Thành phố Đà nẵng Điều tra hiện trạng hệ thống cây xanh cô
thụ trên địa bàn hai quận Ngũ Hành Sơn và Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, đánh giá
điều kiện sống và các mối đe dọa tập đoàn cây cô thụ ở khu vực nghiên cứu, đánh giá
công tác quản lý bảo tồn cây cô thụ tại địa bàn nghiên cứu Từ đó, đề xuất các giải
pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo tồn cây cô thụ ở quận Sơn Trà và quận
Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng: Giải pháp chính sách, pháp luật; giải pháp tô chức
quản lý; giải pháp truyền thông; giải pháp khoa học và công nghệ trong công tác quản
lý, chăm sóc bảo vệ hệ thống cây cô thụ, cây di sản trên địa bàn quận Sơn Trà và quận
Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích của đề tài 1
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
4 Những điểm mới của đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu 3
1.1.1 Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu 3
1.1.2 Cơ sở thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu 6
1.2 Tông quan vấn đề nghiên cứu 16
1.2.1 Trên thế giới 16
1.2.2 Ở Việt Nam 18
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Mục tiêu cụ thể 20
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
2.4 Nội dung nghiên cứu 20
2.5 Phương pháp nghiên cứu 23
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội quận Ngũ Hành Sơn và Sơn Trà 26
Trang 53.1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Quận Ngũ Hành Sơn 26
3.1.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Quận Sơn Trà 29
3.1.3 Các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến sự tồn tại và công tác quản lý bảo tồn cây cô thụ tại khu vực nghiên cứu 30
3.2 Đánh giá thực trạng và năng lực quản lý hệ thống cây xanh đô thị trên địa bàn Thành phố Đà nẵng 31
3.2.1 Đánh giá hiện trạng cây xanh đô thị trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng 31
3.3 Điều tra hiện trạng hệ thống cây xanh cô thụ trên địa bàn hai quận Ngũ Hành Sơn và Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng 56
3.3.1 Hiện trạng hệ thống cây xanh trên các tuyến đường chính trên địa bàn hai Quận Ngũ Hành Sơn và Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng 56
3.3.2 Điều tra hiện trạng cây cô thụ ở các khu vực nghiên cứu 59
3.4 Đánh giá công tác quản lý bảo tồn cây cô thụ tại địa bàn nghiên cứu Error! Bookmark not defined. 3.5 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo tồn cây cô thụ ở quận Sơn Trà và quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng 79
3.5.1 Giải pháp chính sách, pháp luật 79
3.5.2 Giải pháp tô chức quản lý 79
3.5.3 Giải pháp truyền thông: tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về cảnh quan, môi trường, pháp luật và quảng bá hình ảnh cây cô thụ, cây di sản 82
3.5.4 Giải pháp khoa học và công nghệ 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
1 Kết luận 87
2 Tồn tại 89
3 Đề nghị 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCVT
CN - TTCNCSDLCVCXGTVTKCNTCNTĐCTM-DVUBND
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Bảng phân loại cây bóng mát và các yêu cầu kỹ thuật 37
Bảng 3.2: Thành phần loài cây bóng mát trong công viên và ở đường phố Đà Nẵng 45
Bảng 3.3: Đặc trưng hình thái và vật hậu của một số loài cây bóng mát ở Thành phố
Bảng 3.10: Tông hợp số lượng các loài cây cô thụ trên địa bàn nghiên cứu 68
Bảng 3.11: Số lượng cây trên các tuyến đường, địa điểm phân bố cây cô thụ trên địa
bàn nghiên cứu 69
Bảng 3.12: Các khuyết tật, yếu tố tôn hại và đe dọa cây cô thụ 70
Bảng 3.13: Các hoạt động ảnh hưởng đến không gian sinh trưởng của cây xanh cô thụ 72
Bảng 3.14: Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cây cô thụ trên các tuyến phố 75
Bảng 3.15: Phân tích SWOT đối với công tác tô chức, quản lý cây xanh đường phố tại
thành phố Đà Nẵng 76
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 3.1: Cây bị mục rỗng 74
Hình 3.2: Cây bị phụ sinh bám gởi 74
Trang 9MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cây xanh, một thành phần quan trọng trong các công trình kiến trúc đô thị, đóng vaitrò hết sức quan trọng trong việc điều hòa khí hâu, bảo vệ môi trường và giải quyết các
vấn đề về môi sinh Cây xanh giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường thì việc sử dụng cây
xanh đang là giải pháp hiệu quả trong việc bảo vệ môi trường Do vậy, vấn đề cây xanh đô
thị trở thành vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và nhà quản lý
Bên cạnh việc tăng số lượng và diện tích cây xanh bằng cách quy hoạch và trồngmới ở các vị trí thích hợp thì việc bảo vệ những cây hiện có đặc biệt là những cây cô
thụ có nghĩa rất lớn lĩnh vực quản lý và phát triển hệ thống cây xanh của các đô thị
trong đó có thành phố Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng là đô thị lớn của nước ta, là trung tâm kinh tế lớn về côngnghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch của nước ta và khu vực Đông Nam Á Đi cùng
với sự phát triển kinh tế, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa với tốc độ khá nhanh đã
làm phá vỡ sự cân bằng của môi trường sinh thái, từ đó đặt ra vấn đề sinh thái và cảnh
quan cần thiết phải giải quyết, nhu cầu bảo vệ những cây xanh hiện có đồng thời gia
tăng diện tích cây xanh trong đô thị, như trên đường phố, trong khuôn viên, công viên
là vấn đề cấp thiết trong tình hình hiện nay
Khác với các đô thị cô khác ở miền Trung và cả nước, Đà Nẵng là một thành phố
có tốc độ phát triển rất nhanh về cơ sở hạ tầng, cộng với những biến động của thời
gian như chiến tranh, thiên tai, dịch hại và nhận thức con người trong bối cảnh kinh tế
thị trường đã làm cho số lượng cây cô thụ tại đây ngày càng suy giảm và có nguy cơ
vắng bóng hoàn toàn nếu không có giải pháp quản lý bảo tồn hợp lý
Bảo tồn cây cô thụ thực chất là bảo tồn các chứng tích lịch sử, giữ gìn cảnh quansinh thái - văn hóa và góp phần bảo tồn đa dạng sinh học của địa phương và đất nước
Để bảo tồn được cây cô thụ trong hệ thống cây xanh đô thị cần có những dữ liệu
và cơ sở khoa học thông qua những công trình nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu
Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản ly bảo tồn cây cô thụ trong hệ thống
cây xanh đô thị tại hai quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng”.
2. Mục đích của đề tài
Xây dựng cơ sở dữ liệu về hiện trạng và luận cứ khoa học cho công tác quản lý
và bảo tồn các cá thể và quần thể cây cô thụ trên địa bàn hai quận phía Đông thành phố
Đà Nẵng
Trang 103 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
a Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần đánh giá được thực trạng hệ thống vàcông tác quản lý cây xanh đô thị nói chung và cây cô thụ nói riêng trong các thành phố
lớn của Việt Nam
Từ các luận cứ khoa học thu được sẽ đề xuất được những giải pháp chủ yếu đểquản lý bảo tồn cây cô thụ trong hệ thống cây xanh đô thị của địa bàn nghiên cứu và
các địa phương khác có đặc điểm tương đồng
b Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ đề xuất các giải pháp làm cơ sở khoa học cho việc xâydựng chiến lược, kế hoạch hành động, giải pháp quản lý và bảo tồn các cá thể và quần
thể cây cô thụ trên địa bàn quận Sơn Trà và quận Ngũ Hành Sơn có hiệu quả
4 Những điểm mới của đề tài
Đề tài là nghiên cứu đầu tiên về cây cô thụ trong thành phố của miền Trung, vìvậy kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở đề xuất các giải pháp giải pháp quản lý và
bảo tồn đồng thời làm cơ sở và dữ liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo trong
khu vực
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu.
1.1.1 Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu
1.1.1.1 Đô thị và cây xanh trong môi trường đô thị
Hệ sinh thái trong môi trường đô thị là một hệ sinh thái nhân tạo, do con ngườitác động vào Con người cải tạo hoặc hoàn toàn tạo dựng nhằm đáp ứng những nhu
cầu cuộc sống của mình Mỗi đô thị đều mang những đặc trưng cảnh quan riêng cho
mình, phù hợp với điều kiện sản xuất, trình độ, không gian kiến trúc
Cây xanh, một thành phần quan trọng trong các công trình kiến trúc, có vai tròhết sức quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và giải quyết các
vấn đề môi sinh Cùng với việc giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì sử dụng cây xanh đang
là giải pháp hiệu quả nhất trong việc bảo vệ môi trường: Cây xanh làm giảm sự nhiễm
bẩn môi trường không khí; Nguồn lợi kinh tế gián tiếp của cây xanh; Cây xanh góp
phần an ninh, quốc phòng;
Trồng cây xanh trong khu đô thị hay xung quanh khu dân cư, khu công nghiệp đểche nắng, giảm lượng bức xạ mặt trời, giảm tiếng ồn và bụi phát tán ra bên ngoài nhà
máy, đồng thời tạo thẩm mỹ, cảnh quan môi trường trong khuôn viên các nhà máy của
khu công nghiệp và tạo cảm giác êm dịu về màu sắc cho môi trường khu vực
Không khí chứa bụi khi thôi qua các hàng cây xanh thì các hạt bụi sẽ bám vàomặt lá cây do lực ma sát và trọng lượng của bản thân hạt bụi Các luồng không khí thôi
qua tán lá cây sẽ bị lực cản làm cho tốc độ của luồng không khí giảm và loãng đi Do
đó một phần hạt bụi sẽ ngưng đọng trên lá cây, vì vậy có thể nói cây xanh có tác dụng
lọc sạch bụi trong không khí
Do đó, để hạn chế các tác động tiêu cực tới môi trường tự nhiên, đồng thời làmđẹp thêm cảnh quan khu dân cư, cần quan tâm tới việc quy hoạch hàng rào cây xanh
và tăng số lượng cây trồng trong khuôn viên khu dân cư Diện tích trồng cây xanh
trong dân cư đô thị phải đảm bảo 15% tông diện tích khu đô thị
1.1.1.2 Lịch sử quá trình phát triển không gian cây xanh đô thị
Từ xa xưa, trước khi thế giới hình thành Liên đoàn Kiến trúc sư Cảnh quan Quốc
tế (International federation of landscape architects) thì nghệ thuật vườn và hệ thống
cây xanh được con người sử dụng trang trí trong các khu vực tường rào của các khu
cung điện, dinh thự, nhà ở quý tộc, nho sĩ Mục đích sử dụng cây xanh là để tô điểm
nơi ở, nghỉ ngơi giải trí cho một số ít người Hệ thống cây xanh lúc này chỉ có hình
thức điểm, xuyến Trải qua quá trình phát triển của xã hội, cùng với sự phát triển của
Trang 12các ngành kinh tế, thương mại Ngành trồng cây xanh, trong quá trình trao đôi buôn
bán, đã hình thành các vườn sưu tập cây phát triển theo Một số nước trên thế giới bắt
đầu xuất hiện những bản vẽ thiết kế hoa viên rất nôi tiếng, đặc biệt ở các nước phương
Đông như: Các vườn cảnh (Vườn treo Babylon nôi tiếng), các kiểu vườn Thượng
uyển, các tác phẩm nghệ thuật bonsai đã có từ rất lâu đời và được trưng bày trong các
cung đình ở Trung Quốc, Nhật Bản Ngay từ những năm 1618, trong cuốn sách “A
New Orchard and Garden” của William Lawson đã trình bày khá chi tiết về cách chăm
sóc cây (Gene W Grey – Frederik J Deneke, 1996) Tùy vào tình hình phát triển kinh
tế, xã hội của mỗi nước, từng giai đoạn khác nhau, hệ thống cây xanh đô thị phát triển
cũng khác nhau Nhìn chung trên thế giới có 3 giai đoạn phát triển không gian xanh đô
thị
- Thế kỷ XIX: Từ nửa sau Thế kỷ XIX, ở châu Âu bắt đầu có xu hướng đưakhông gian tự nhiên vào đô thị (theo quan niệm trước đây, đô thị tập trung ở một số
nơi và không gian tự nhiên nằm ngoài đô thị) Mục đích là để tạo sự cân bằng cho đô
thị trong quá trình phát triển, có các hình thức bố trí cây như sau: Trồng cây hai bên bờ
sông tạo thành lối đi dạo, dọc theo các đại lộ, ở quảng trường… Ngay từ thời kỳ này,
nhiều tài liệu đã có giải thích lý do phải đưa không gian tự nhiên vào đô thị vì các lợi
ích về môi trường, lợi ích về xã hội và lợi ích về kinh tế Ba yếu tố này ngày nay chính
là 3 trụ cột của phát triển bền vững Từ nhận thức đó, việc trồng cây xanh đã được tô
chức trồng rất tốt cả về số lượng lẫn chất lượng Ngoài ra, do về mặt tô chức, các cơ
quan trồng cây, quản lý cây xanh, quản lý đường giao thông và hạ tầng kỹ thuật là một,
nên việc thực hiện các công việc được phối hợp hài hòa
- Thế kỷ XX: Không gian xanh, hệ thống cây xanh có nhiều giảm sút, lý do chủyếu là: Giá trị được theo đuôi vào Thế kỷ XX không còn là sự cân bằng giữa đô thị và
thiên nhiên, mà ưu tiên cho các lợi ích về kinh tế, giao thông, nhất là giao thông xe
hơi Do đó nhiều không gian xanh đã bị phá bỏ để làm đường, mở rộng đường và làm
chỗ đậu xe… Trong công tác quản lý bắt đầu có sự chuyên môn hóa, mỗi ngành chỉ lo
phần việc của mình và thiếu sự phối hợp hài hòa Kết quả là các không gian xanh bị
xâm hại, giảm đi đáng kể Trong giai đoạn 1980-1990, do lạm dụng quá mức các
không gian xanh để xây dựng các không gian chức năng khác nên chất lượng môi
trường sống giảm đi rõ rệt Người dân phàn nàn và chất vấn lãnh đạo Thành phố về mô
hình phát triển của đô thị Nhiều Hội đoàn bảo vệ môi trường sinh thái được thành lập
Từ đó chính quyền đô thị bắt đầu lưu ý đến không gian tự nhiên trong chiến lược phát
triển đô thị với mục tiêu bảo vệ các không gian xanh và đưa mục tiêu này vào quy
hoạch chung của đô thị Giai đoạn 1990-2000, Chính quyền đô thị ban hành các chính
sách cụ thể để đạt được mục tiêu bảo vệ và phát triển các không gian xanh đã được đề
ra trong quy hoạch chung
Trang 13- Đến nay: Là thế kỷ XXI, bắt đầu có sự liên kết giữa các chính sách về đô thị.
Theo đó, không triển khai rời rạc theo từng ngành (không có các chương trình, chính
sách riêng về nhà ở, giao thông, cây xanh, không gian xanh…) mà kết hợp chung
trong một chương trình, chính sách Mô hình phát triển đô thị theo hướng đa trung
tâm, đa chức năng Các trung tâm nối với nhau bằng hành lang giao thông, lớp đệm
chuyển tiếp từ khu đô thị này sang khu đô thị khác là vùng không gian xanh tự nhiên
“Frédéric Ségur, Quy hoạch và quản ly về không gian xanh, chính sách bảo tồn và
phát triển cây xanh đô thị, tài liệu tập huấn năm 2011”.
1.1.1.3 Khái niệm và tiêu chí đánh giá cây cô thụ
* Cây cổ thụ:
- Khái niệm: Cây cô thụ là cây thân gỗ lâu năm được trồng hoặc mọc tự nhiên
11/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ, đã quy định rõ: Cây cô thụ là cây thân gỗ lâu
năm được trồng hoặc mọc tự nhiên, có độ tuôi tối thiểu 50 năm hoặc cây có đường
kính từ 50cm trở lên tại chiều cao 1,3m của cây (tính từ gốc)
* Cây di sản:
Cây cô thụ gắn với di tích lịch sử, văn hóa và truyền thống cách mạng Cây côthụ, cây di tích là những chứng tích lịch sử - văn hóa, ghi nhận những giá trị truyền
thống; nhiều cây cô thụ trong các thời kỳ kháng chiến được sử dụng làm địa điểm liên
lạc, đài quan sát, nơi cắm cờ cách mạng, gắn liền với truyền thống cách mạng của dân
tộc Những cây cô thụ này được Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam
(VACNE) công nhận là cây di sản Có thể thấy, VACNE là một tô chức tiên phong đi
đầu trong việc bảo vệ cây quý khi phát động phong trào công nhận Cây di sản Bảo tồn
Cây di sản có nghĩa là trực tiếp bảo tồn được nguồn gen đa dạng sinh học, cái vốn quý
nhất của sự sống Cây Di sản Việt Nam có ý nghĩa thiết thực về bảo vệ cây, bảo tồn đa
dạng sinh học, là phương thức bảo tồn mang tính chất cộng đồng, giáo dục con người
thân thiện với môi trường và khơi dậy nét đẹp văn hoá truyền thống quê hương
Theo VACNE, Tiêu chí để đánh giá cây di sản được phân loại như sau:
Cây tự nhiên: là cây sống trên 200 năm, cao to hùng vĩ; Cao trên 40m, chu vi
trên 6m đối với cây gỗ đơn thân; Cao trên 25m, chu vi trên 15m đối với các cây đa, si
thuộc chi Ficus; Có hình dáng đặc sắc; Đặc biệt ưu tiên các loài đặc hữu, quý hiếm, có
giá trị văn hoá, lịch sử
Trang 14Cây trồng: Cây sống trên 100 năm, cao to hùng vĩ; Cao trên 30m, chu vi trên
3,5m đối với cây gỗ đơn thân; Cao trên 20m, chu vi trên 10m, đối với cây đa, si thuộc
chi Ficus; Có hình dáng đặc sắc; Đặc biệt ưu tiên các loài có giá trị cảnh quan, văn
hóa, lịch sử
Các cây khác: Cây không đạt các tiêu chí kỹ thuật đã nêu, nhưng có giá trị đặc
biệt về khoa học, hoặc lịch sử, hoặc văn hoá, hoặc mỹ quan; Cây cảnh độc đáo; Các
cây gần đạt các tiêu chí nhóm A, B nêu trên nhưng có giá trị đặc biệt về khoa học,
hoặc văn hoá, hoặc lịch sử, hoặc mỹ quan
Ghi chú: Chu vi cây đơn thân đo cách mặt đất 1,3m; chu vi cây có bạnh vè đo
trên bạnh vè 20cm; chu vi các loài đa, si đo cả chu vi các rễ phụ
Do tác động của thiên tai, chiến tranh, biến đôi khí hậu và sự thiếu ý thức của conngười, các di sản địa phương trong đó có cây cô thụ đã mai một dần, đặc biệt những
cây cô thụ trong rừng thì việc giữ gìn, bảo tồn là vô cùng khó khăn Bên cạnh những
cây đã chết, trong số cây còn lại bị mục rỗng, thiếu dinh dưỡng, sâu bệnh có nguy cơ
mất dần là rất lớn Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách nghiên cứu thực trạng cây cô thụ
để từ đó có giải pháp bảo tồn, tôn tạo những chứng tích văn hóa lịch sử quý giá này
Việc bảo tồn giữ gìn tôn tạo cây cô thụ, một tài sản vô giá không chỉ có ý nghĩalịch sử, văn hóa, cảnh quan, môi trường sinh thái mà phải trở thành tình cảm và trách
nhiệm của mỗi chúng ta vì bảo vệ nuôi dưỡng cây cô thụ sẽ làm tăng vẻ đẹp phong
cảnh là những nét chấm phá trong bức tranh phong cảnh đất nước, là tư liệu quý để
nghiên cứu lịch sử tự nhiên, qua đó có thể tìm hiểu tình hình khí hậu, và những biến
thiên khí hậu trong quá khứ Cây cô thụ còn có ý nghĩa đặc biệt trong nghiên cứu sinh
lí cây thân gỗ qua từng năm của chúng để nghiên cứu quá trình sinh trưởng phát triển,
già cỗi và tử vong của chúng
1.1.2 Cơ sở thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu
1.1.2.1 Hiện trạng cây xanh đô thị tại một số thành phố lớn của Việt Nam
Ở Việt Nam công tác phát triển cây xanh đô thị hiện đã được các cấp, các ngànhđặc biệt quan tâm Diện tích cây xanh đô thị từng bước tăng dần cả về số lượng và chất
lượng, cây trồng đặc biệt ở các đường phố lớn ngày càng đa dạng và phong phú
Từ sau ngày miền Bắc được giải phóng, công tác trồng cây làm xanh tươi lại đấtnước đã được Trung ương Đảng, Chính phủ và đặc biệt Hồ Chủ Tịch hết sức quan tâm
Đảng và Chính phủ đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị vạch ra phương hướng và nhiệm vụ
cho công tác trồng cây, gây rừng thực hiện việc trồng cây trong cả nước Trong hoàn
cảnh đất nước trải qua cuộc chiến tranh phá hoại tàn khốc của giặc Mỹ, công tác cải
tạo và xây dựng đô thị bị đình đốn, công tác cây xanh không phát triển Nơi nào nhận
thức được lợi ích của cây xanh đô thị và quan tâm chỉ đạo thì phong trào
Trang 15trồng cây đường phố, bảo vệ cây và các công viên, vườn hoa làm tốt, điển hình là Hà
Nội, Hải Phòng Nhiều nơi công tác cây xanh không được chú ý, không có tô chức
chuyên trách, thiếu kế hoạch ươm và trồng cây Nhiều nơi đã trồng cây một cách tuỳ
tiện và cây trồng không đúng tiêu chuẩn quy phạm xây dựng đô thị đã làm hư hỏng
nhà cửa và các hệ thống công trình ngầm, hạn chế ánh sáng và gió mát Nhưng từ
những nỗ lự ban đầu đó, kết quả đã trồng được nhiều cây bóng mát, cây phong cảnh
cho đường phố, khu nhà ở, những nơi sinh hoạt văn hoá công cộng Trồng được những
đai cây xanh ở ngoại ô có tác dụng phòng hộ cho thành phố, diện tích cây xanh đô thị
được tăng lên gấp từ 3 đến 5 lần so với thời gian trước khi miền Bắc giải phóng
Tại Hà Nội phần lớn cây xanh trên đường phố, công viên và trong các vườn Báchthảo được người Pháp trồng vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX Như có hơn 1.400
cây Sấu cô thụ, trồng ở khắp nơi trong thành phố và nhiều nhất ở phố Phan Đình
Phùng được người Pháp trồng vào cuối thế kỷ XIX Ở phố Lò Đúc, con phố duy nhất
trồng Sao đen ở Hà Nội đầu thế kỷ XX Hồ Gươm trước đây khá rộng, nhà dân ở ra sát
mép hồ Tháng 11năm 1885 giải tỏa các hộ dân sống xung quanh hồ và khởi công đô
đất cạp hố, cho san lấp những vùng trũng thấp Đến đầu năm 1893, con đường nhựa
chạy quanh Hồ Gươm được khánh thành, thì thảm cây xanh quanh Hồ Gươm cũng
được trồng với nhiều loài cây được đưa từ nhiều miền của đất nước Vì vậy thảm cây
xanh ở đây hoàn toàn là cây nội địa, khác với thảm cây xanh ở khu vực Bách thảo Có
thể nói đây là thảm cây xanh quý nhất của thủ đô Hà Nội và ít chịu tác động nhất bởi
quá trình đô thị hóa [14]
Ở thành phố Hồ Chí Minh, vào những năm đầu khi Sài Gòn vừa bị đánh chiếm vàcòn nằm dưới quyền cai trị của các đô đốc, thì Hải quân Pháp đã bắt đầu cho trồng
hàng loạt cây Me ven các đường sá kể từ khoảng 1863-1865, cứ 5m một cây dọc theo
vệ đường Ở hai bên bờ kênh Charner (nay là đại lộ Nguyễn Huệ), kể từ năm 1870 cây
Me được trồng lấn ra dần dần theo nhịp độ lấp từng đoạn con "kênh lớn" này Hiện nay
ở khu vực nội thành và nội thành mở rộng, đường phố đang trong thời kỳ chỉnh trang
nên các dãy cây xanh đường phố không đều và không liên tục Chỉ có các dãy cây
xanh trồng trên đường phố ở khu vực nội thành liên tục trên một số tuyến ở Quận 1, 3
và một số các trục đường lớn ở các Quận khác có từ trước năm 1975 đã tạo được
vi khí hậu dãy cây tạo bóng mát người đi bộ Thống kê mới nhất của Phòng Quản lý
công viên – cây xanh, Sở Giao thông vận tải TPHCM, đến nay toàn bộ diện tích công
viên, vườn hoa và cây xanh dải phân cách trên địa bàn thành phố chỉ còn khoảng 535
héc ta, giảm gần 50% so với năm 1998 [14]
Tiếp đến thành phố Huế, vào thời kỳ triều Nguyễn cây xanh đã được chú trọngtrồng trên các con đường, trong mỗi vườn nhà Nay cây xanh ở Huế được trồng nơi nơi
như các điểm xanh công cộng, công viên, đương phố, vườn đồi, ven sông, góp phần
quan trọng để tạo nên một nét Huế riêng Đến thời điểm này, ở Thừa Thiên Huế có 43
Trang 16loài thực vật quý hiếm, 170 loài cây cho bóng mát và cây cảnh, nếu tính cả các loài cây
nhỏ thì hơn 300 loài, đủ màu, đủ chủng loại và kiểu dáng Theo Trưởng phòng Kế
hoạch Trung tâm Công viên cây xanh Huế khẳng định Huế đã đạt 80-100m2 cây
xanh/người Trong khi đó 3 thành phố của Pháp được chọn là thành phố xanh sạch
gồm Besancon, Amiens và Mans cũng chỉ có tỷ lệ 60m2 cây xanh/người
Như vậy, vấn đề về phát triển cây xanh đường phố ở Việt Nam có lịch sử hơn 100năm và nay nó được thể hiện trong các văn bản pháp quy dưới đây
- Chỉ thị 45-TTg năm 1974 Về công tác trồng cây xanh ở các đô thị do Thủ tướngChính phủ ban hành [3]
- TCVN4449:1987 Quy hoạch xây dựng đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế [12]
- Tập I - Quy chuẩn xây dựng Việt Nam: Nghị định 08/2005 về Quy hoạch Xây dựng [9]
- Luật quy hoạch đô thị “Điều 68” Quản lý cây xanh, công viên, cảnh quan tự nhiên và mặt nước [11]
- Bộ Xây dựng ban hành theo Quyết định số 01/QĐ-BXD ngày 05 tháng 01 năm
2006 về TCVN 362 : 2005 - “Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị
- Tiêu chuẩn thiết kế” quy định các chỉ tiêu diện tích cây xanh sử dụng công cộng
trong các đô thị và các nguyên tắc thiết kế, được đã xác định cây xanh trong đô thị bao
gồm: cây xanh công cộng, cây xanh sử dụng hạn chế, cây xanh chuyên dụng [2]
- Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ
về “quản lý cây xanh đô thị”, theo đó, Chính phủ thống nhất quản lý cây xanh đô thị,
có phân công, phân cấp trách nhiệm theo quy định của pháp luật; nhà nước có trách
nhiệm đầu tư, phát triển cây xanh đô thị nhằm mục đích phục vụ lợi ích cộng đồng;
khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi để các tô chức, cá nhân tham gia quy hoạch,
trồng, chăm sóc, ươm cây, bảo vệ cây xanh đô thị
- Thông tư của Bộ xây dựng số 20/2005/TT-BXD ngày 20 tháng 12 năm 2005 hướng dẫn quản lý cây xanh độ thị [10]
Từ việc xác định rõ vai trò quan trọng của cây xanh đô thị nói chung và cây xanhđường phố nói riêng nhiều công trình nghiên cứu và bài viết liên quan đến quy hoạch
xây dựng đô thị, phát triển cây xanh và quản lý trong môi trường đô thị, kiến trúc cảnh
quan đô thị, chủng loại cây xanh đô thị,… đã được nghiên cứu, có thể kể tới một số
công trình tiêu biểu như:
Các tác giả như Hàn Tất Ngạn, Phạm Kim Giao, Nguyễn Thị Thanh Thủy,… đãnghiên cứu và biên soạn nhiều tài liệu về quy hoạch xây dựng đô thị, phát triển cây
xanh và quản lý cây xanh đô thị,… Phần lớn các nghiên cứu này đều xem cây xanh
như một thành phần hữu cơ trong cấu thành của đô thị, một bộ phận không thể tách rời
của cảnh quan thiên
Trang 17Công tác tuyển chọn chủng loại cây xanh đô thị, nghệ thuật vườn - công viên,vườn cảnh Đông phương, bố cục vườn,… đã được các tác giả Hà Tất Ngạn, Trần Hợp,
Phương Thảo,… quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu này giới thiệu khá
chi tiết về chủng loại loài cây, mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái loài nên có ý nghĩa
rất lớn trong việc gây trồng và phát triển cây xanh đô thị ở các thành phố lớn như Hà
Nội, thành phố Hồ Chí Minh,… góp phần quan trọng trong phát triển cảnh quan đô thị
của nước ta
Tác giả Vũ Xuân Đề (1993) [5] đã vạch ra kế hoạch tông thể cho việc phát triểnmảng xanh ngoại thành nhằm bô sung cho lượng khoảng xanh thiếu hụt ở nội thành
trên cơ sở phương pháp luận “cân bằng sinh thái đô thị giản đơn” tức cân bằng giữa
nhu cầu sinh thái của con người với lượng mảng xanh tiêu chuẩn tối thiểu và dùng
phương pháp “cân bằng dần” từ ngoại thành vào nội đô làm cơ sở định lượng phân bố
diện tích đất đai cho mảng xanh Ngoài ra, Vũ Xuân Đề còn có một số công trình
nghiên cứu liên quan đến việc quy hoạch mảng xanh bảo vệ môi trường cảnh quan đô
thị (1995) [6]; xác định các chỉ số khoảng xanh đô thị cho từng khu chức năng như:
Khu công nghiệp, chung cư, trường học,… (1998) [7] Các nghiên cứu này cũng như
đề tài phân vùng đất đã dựa trên nhu cầu sinh thái con người trong mối quan hệ với các
hoạt động kinh tế xã hội của thành phố,… đề xuất các chỉ số khoảng xanh và căn cứ
vào tiềm năng quỹ đất dành cho cây xanh để bố trí, quy hoạch Tuy nhiên, các chỉ số
khoảng xanh cho từng quận, huyện, khu chức năng,… chưa nói lên được hết sự khác
biệt về nhu cầu khoảng xanh từng nơi dựa trên các hoạt động kinh tế xã hội (số lượng
nhà máy, xí nghiệp, chung cư,…) vốn không đồng nhất cho từng địa bàn
Nghiên cứu của tác giả Trần Viết Mỹ (2001) [8] đã cho thấy mức độ ô nhiễm môitrường thành phố Hồ Chí Minh ngày càng trở nên nghiêm trọng, đặc biệt là ở khu vực
nội thành Đến năm 2010, các hoạt động sản xuất, giao thông, sinh hoạt sẽ thải vào bầu
khí quyển thành phố hơn 5.000 tấn bụi và bụi chì, 2.850.000 tấn CO2 và khí thải khác,
tiếng ồn vào giờ cao điểm lên đến 90 - 91dB Để đảm bảo cân bằng sinh thái, điều hòa
khí hậu, cải thiện môi trường, về số lượng thành phố cần 15.000 - 18.000 ha diện tích
xanh, trong đó nội thành cần 7.500 ha, nội thành mở rộng cần 4.100 - 5.500 ha Tác giả
đã dựa vào hiện trạng, dự báo tông lượng khí thải đến năm 2010 và khả năng hấp thụ
các chất này của cây xanh tính toán nhu cầu diện tích xanh bình quân đầu người nội
thành là 25 m2/người, tỷ lệ che phủ 53,5 - 54,0%, nhưng tiềm năng quỹ đất tối đa chỉ
có thể giải quyết 10,2 m2/người và tỷ lệ che phủ 21,9%; nội thành mở rộng 18,5 - 20
m2/người; tỷ lệ che phủ 13,9 - 18,4% nhưng tiềm năng quỹ đất tối đa có thể giải quyết
đến 56,6 m2/người và tỉ lệ che phủ 41,0%; diện tích khuôn viên đạt 3.180 – 3.680 ha
Bên cạnh đó, dựa vào đặc điểm sinh học loài cây và sử dụng ngôn ngữ lập trình Pascal
tác giả đã bước đầu sắp xếp lại các loài cây trồng hiện hữu ở thành phố Hồ Chí Minh
theo từng nhóm phù hợp với từng khu vực cụ thể (đường phố, vườn hoa
Trang 18công viên, trường học, công sở, bệnh viện, đình chùa,…) và bô sung thêm 22 loài cây
trồng mới dự kiến dẫn nhập từ rừng và nhập nội để làm phong phú thêm tập đoàn cây
trồng đô thị, đồng thời đưa ra khuyến cáo không nên trồng một số loài cây làm cảnh
quan đô thị
Khi nghiên cứu, đánh giá và xây dựng tiêu chuẩn cây xanh đô thị của các nướctrên thế giới và vận dụng vào Việt Nam, trong quy phạm thiết kế xây dựng đô thị số
20TCVN-82-81, Bộ Xây dựng đã ban hành tiêu chuẩn cây xanh cho các thành phố
Việt Nam như sau:
trồng đặc biệt ở các đô thị lớn ngày càng phong phú Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ diện
tích đất xanh trung bình ở các đô thị còn rất thấp và khác nhau theo nhóm đô thị [1]
- Đối với đô thị loại đặc biệt như thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh có tỷ lệ diện tích đất xanh chiếm khoảng 5 m2/người
- Đối với đô thị loại I, tỷ lệ này rất khác nhau, thành phố Đà Nẵng hiện nay bìnhquân mới đạt 0,5 m2/người, trong khi thành phố Huế có tỷ lệ đất xanh đạt tương đối
cao khoảng 10,2 m2/người
- Các đô thị loại II, tỷ lệ diện tích đất xanh trung bình chỉ khoảng 3 - 5 m2/người (Nha Trang: 4,7 m2/người; Nam Định: 3,13 m2/người)
- Các đô thị loại III và IV như thị xã Vĩnh Yên, thành phố Bắc Giang, thị xã Bến Tre tỷ lệ diện tích đất xanh trung bình khoảng 4,3 m2/người
- Các đô thị loại V tỷ lệ này rất thấp hầu như không đáng kể [1]
Theo kết quả nghiên cứu của Ủy ban kiến thiết cơ bản Nhà nước Việt Nam đã chothấy nhiệt độ không khí trong vùng có cây xanh thấp hơn những nơi không có cây
xanh Ở vườn Bách Thảo Hà Nội, nhiệt độ nơi không có cây là 32,30C, dưới tán cây là
28,290C Nhiệt độ trên mặt đường nhựa là 39,50C và dưới tán cây bóng mát là 34,30C
Lượng bụi trung bình khu vực không có cây xanh là 0,9 mg/m3, dưới tán cây gỗ là
0,52 mg/m3 không khí Như vậy, cây xanh có khả năng làm giảm lượng bụi 42% Với
âm thanh, cây lá rộng hấp thụ được 26% âm lượng, còn 74% phản xạ và khuếch tán
Độ ồn nơi đường phố không trồng cây xanh gấp 5 lần ở nơi có trồng cây xanh
Theo Nguyễn Danh và cộng sự (2010) [4], tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai hiện
có 165 loài cây xanh đô thị thuộc 140 chi của 69 họ trong 3 ngành thực vật bậc cao
Trang 19Trong đó, cây xanh đường phố có 57 loài thuộc 28 họ, cây xanh công viên có 130 loài,
với 45 loài cây bóng mát thuộc 21 họ Hệ thống cây xanh đô thị còn tương đối trẻ
Diện tích đất cây xanh sử dụng công cộng ở thành phố Pleiku theo đầu người là 1,48
m2/người (chỉ đạt tỷ lệ 21,14% so với TCXDVN 362:2005) Cây xanh ở đường phố
được bố trí khác nhau trên các hoàn cảnh đường phố khác nhau, gồm các mô hình
đường phố 1 hàng cây, 2 hàng cây và 4 hàng cây Mô hình trồng cây trong các công
viên ở thành phố Pleiku tương đối đa dạng: gồm các mô hình công viên hành lang kỹ
thuật giao thông như vòng xoay, băng két và các mô hình bồn hoa trang trí trong các
công viên nghỉ ngơi - giải trí
1.1.2.2 Hiện trạng và công tác quản ly bảo tồn cây xanh cô thụ
* Tại Việt Nam
Nhiều năm qua, đã có 972 danh mộc cô thụ thuộc 70 loài đã được vinh danh trảidài từ Bắc tới Nam, từ Tây Nguyên tới hải đảo, theo thống kê của Hội Bảo vệ thiên
nhiên và Môi trường Việt Nam, hiện đã có 600 cây các loại trên cả nước được vinh
danh là Cây di sản, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ nguồn gen quý hiếm của hệ
thực vật của nước ta
Hà Nội, Thủ đô ngàn năm của nước Việt Nam vốn yên bình, rợp bóng mát với hệthống cây xanh tuyệt đẹp được xem như “di sản” văn hóa vật thể và phi vật thể của đất
Hà Thành Hà Nội nôi tiếng vì nét đẹp cô kính với những ngõ phố rợp cây xanh bóng
mát, những hàng cây cô thụ không chỉ tạo bóng mát, cảnh quan mà còn được xem là
'di sản' lâu đời tạo nên một phần chất lượng đô thị cũng như bản sắc của thủ đô Từ
trước tới nay, thủ đô Hà Nội đã được bạn bè quốc tế biết đến là thành phố xanh với
nhiều dãy cây cô thụ được trồng cách đây cả trăm năm Hà Nội hiện có 725 cây cô thụ
quý cần được bảo vệ Trong số này có cây Bồ đề 700 tuôi, những cây Muỗm 300 – 400
năm tuôi, cây Lim 250 tuôi Đây là những tài sản quý giá cần được bảo vệ và gìn giữ
một cách khoa học Những cây cô thụ không chỉ mang lại màu xanh mà còn là nhân
chứng lịch sử, là biểu trưng văn hóa trong quá trình phát triển của Hà Nội nghìn năm
văn hiến Ông Nguyễn Nguyên Cương, Giám đốc Trung tâm Giáo dục Truyền thông
và Môi trường (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) cho biết, từ
ý tưởng cây cô thụ là tài sản quý hiếm, nhóm nghiên cứu của Trung tâm đã tiến hành
khảo sát và lập bản đồ cây cô thụ Hà Nội (Atlas) từ hơn 3 năm nay trên địa bàn 14
quận huyện Hà Nội (cũ) Sau khi tham khảo ý kiến của các nhà khoa học, tiêu chí cây
cô thụ do nhóm các nhà khoa học thuộc Trung tâm Giáo dục Truyền thông và Môi
trường xác định là "những cây sống trên 70 năm, đường kính trên 70cm" Bên cạnh đó,
Trung tâm cũng đưa vào danh sách những cây có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, cây có
nguồn gen quý hiếm… Bởi trên thực tế, ngoài những cây đáp ứng được độ tuôi thì
cũng có những cây tuy ít tuôi hơn nhưng lại gắn bó với một sự kiện có tính lịch sử, văn
Trang 20hóa (như cây Đa Bác Hồ) hoặc trong những cây Xà cừ 100 tuôi thì phải chọn cây nôi
trội như dãy cây Xà cừ ở phố Phan Đình Phùng… Căn cứ vào những tiêu chí phân loại
này, nhóm khảo sát xác định Hà Nội có 725 cây cô quý cần được bảo vệ thuộc 62 loài
và 30 họ thực vật khác nhau Về phân bố, có 596 cây tập trung ở 9 quận nội thành (chủ
yếu ở các quận Ba Đình, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm); 129 cây ở 5 huyện ngoại thành
Nhóm khảo sát cũng “đánh dấu” những cây cô thụ có đặc điểm đặc biệt như: cây cao
tuôi (17 cây); cây có kích cỡ lớn (19 cây); cây thuộc gen quý hiếm (6 cây, tập trung
chủ yếu ở vườn Bách Thảo) Trong số này đáng chú ý là vẫn còn 1 cây Lim cô thụ
(trên 250 tuôi) trong vườn nhà anh Vũ Đức Kỳ ở xóm 3, xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn
Ngoài ra, nhóm cây cô thụ cao tuôi nhất đã sống trên 400-700 năm chủ yếu phân bố tại
các đình làng, chùa, điển hình như cây Bồ đề tại đình Kiêu Kỵ (xã Kiêu Kỵ, Gia Lâm)
có trên 700 năm tuôi Những cây cô thụ được xếp vào loại đặc biệt đều gắn với những
di tích lịch sử: cây Thị ở đình Chèm, cây Muỗm ở đền Quán Thánh, cây Gạo ở Bảo
tàng Lịch sử… ; có cây gắn với những dấu tích lịch sử như cây Muỗm trên 300 năm
tuôi gắn với việc trùng tu đền Quán Thánh (thế kỷ XVII) Chính những cây xanh này
cũng đã góp phần tạo nên một Hà Nội thanh lịch, hài hòa giữa thiên nhiên và môi
trường Trong bối cảnh biến đôi khí hậu đang ngày diễn biến phức tạp, sự xuất hiện
của cây xanh tại các vùng đô thị có mật độ dân cư lớn, đô thị hóa nhanh lại càng có ý
nghĩa to lớn Thậm chí những con đường “phố cô” với hàng cây cao được trồng từ thời
Pháp thuộc đến nay đã hàng trăm năm tuôi, là “chứng nhân” cho bao cuộc đời người
Hà Nội, chứng kiến bao đôi thay thăng trầm của Thủ đô, là cảm hứng sáng tác của bao
nhà thơ, nhạc sĩ… Hiện nay, Hà Nội có khoảng 120.000 cây xanh bóng mát thuộc 70
loài, được trồng trên nhiều tuyến đường Trong đó đã có nhiều cây sâu mục ở thân,
gốc, rễ bị xén chặt để hạ đường điện, để mở đường, nhiều cây cong, nghiêng, ảnh
hưởng mỹ quan đô thị, an toàn giao thông, gây nguy hiểm đến tính mạng, tài sản của
nhân dân Khi thành phố phát triển với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, hệ thống cây
xanh phải “cõng” trên mình nhiều áp lực Nhà cao tầng mọc san sát, nhiều nhà lấn
chiếm vỉa hè, sử dụng mái che, mái vẩy đua ra đường, che bóng cây xanh Theo quy
luật quang học, cây xanh phải vươn ra tìm ánh sáng, nên chủ yếu ngả ra hướng lòng
đường, gây mất cảnh quan và thiếu an toàn Còn khi cây phát triển lên cao, lại không
được chặt tỉa cành thường xuyên, cây mọc không thẳng và phát triển trái quy luật Đặc
thù thô nhưỡng của Hà Nội là có hệ thống nước ngầm cao, cách mặt đất chừng 1 mét
Do đó, khi rễ cây phát triển, gặp hệ thống nước mặt, rễ cây sẽ không phát triển theo
chiều thẳng xuống mà lại lan tỏa thành các chùm rễ, nằm cạn trên bề mặt; chưa kể, đất
trồng cây tơi xốp, nhiều nơi bị ô nhiễm, đất xen lẫn rác, lá cây, hệ thống nước thải bẩn
làm cho rễ cây không chắc khỏe Ngoài ra, đô thị phát triển, hàng quán, nhà hàng, gara
ô tô mọc san sát, thiếu chỗ dựng xe, vì vậy một số người dân đã tìm cách triệt hạ cây
(đô nước nóng, a xít, dầu luyn hay bịt xi măng vào gốc cây để làm cho cây chết) Một
thực tế nữa là, thời gian qua Hà Nội phát triển mạnh hệ thống hạ tầng ngầm như: cống
Trang 21mương thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc, đường xá… nên không tránh khỏi việc
đào bới đất để thi công, dẫn tới rễ cây bị ảnh hưởng, cây khó bám chặt vào đất Theo
thống kê chưa đầy đủ của Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Công viên cây
xanh Hà Nội, chỉ tính từ năm 2010 – 2012 trên địa bàn Hà Nội xảy ra 126 vụ xâm hại
cây xanh, trong thực tế vẫn còn rất nhiều vụ chưa được phát hiện Bên cạnh đó, thuộc
vùng khí hậu nhiệt đới, mỗi năm Hà Nội luôn có mùa mưa bão Cứ đến mùa này, chính
quyền và người dân Thủ đô lại lo lắng tình trạng: ngập nước và cây đô Thực tế đã xảy
ra, năm nào có mưa gió lớn, hàng trăm cây xanh lại đô xuống đường, gây thiệt hại lớn
về tài sản cho người dân Hiện nay, có một thực tế đáng lo ngại là các cây cô thụ đang
có nguy cơ suy giảm do tác động mạnh từ con người, từ quá trình đô thị hóa và cả sự
khắc nghiệt của thời gian
Những kết quả điều tra cho thấy một thực trạng đáng buồn là các cây cô thụ của
Hà Nội đang bị suy giảm cả số lượng và chất lượng vì già cỗi không được chăm sóc,
như cây Muồng ngủ (vườn Bách Thảo), cây Vông nem (hồ Hoàn Kiếm); bị sâu bệnh
như cây Sao đen (Lò Đúc), cây Thị (đình làng Vẽ) đáng nói hơn cả là cây đã bị chính
con người “quật ngã” bởi các hành động vô ý thức như đóng đinh, bóc vỏ, treo biển,
đèn quảng cáo, thậm chí vì lợi ích kinh doanh, một số cửa hàng còn ngấm ngầm “bức
tử” cây “Cây cô thụ có thể được coi là tài sản quốc gia nhưng thực tế nhiều cây hiện
chỉ được quản lý về mặt giấy tờ Chính vì chưa có cơ quan quản lý chính thức, nên cây
cô thụ ở Hà Nội chưa được chú ý bảo vệ” Hiện các nhà khoa học đã “khoanh vùng”
những cây đang bị xâm hại và đề xuất biện pháp bảo vệ Cụ thể là, đề nghị UBND
thành phố Hà Nội sớm ban hành quy định quản lý bảo vệ cây cô thụ, trong đó qui định
rõ trách nhiệm cụ thể cho đơn vị quản lý cơ sở và hộ gia đình; đồng thời có mức phạt
thật nặng những hành vi gây tôn hại đối với cây cô thụ Đối với một số cây cô thụ có
giá trị đặc biệt về văn hoá, lịch sử và khoa học cần được xem xét để công nhận là di
tích văn hoá lịch sử và giao cho Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch Hà Nội quản lý Một
số cây cần được đánh số treo biển, xây dựng lý lịch và có chế độ theo dõi, chăm sóc
định kỳ Bảo vệ các cây cô thụ ở Hà Nội là việc cần làm và phải làm trên cơ sở khoa
học nhằm gìn giữ màu xanh cho thành phố và đó cũng chính là bảo vệ, gìn giữ những
di sản quý giá của chúng ta [Công TTĐT]
Thực trạng cây xanh Hà Nội cần có một đề án khoa học căn cơ để cải tạo, pháttriển cây xanh đô thị Tuy nhiên, Đề án cải tạo, thay thế 6.700 cây xanh đô thị hai bên
đường phố mới đây của Sở Xây dựng Hà Nội đang gây tranh cãi Việc triển khai cấp
tốc, triệt hạ cây xanh có tô chức đã vướng phản đối mạnh mẽ của người dân, các nhà
khoa học và giới văn nghệ sĩ Việc chặt hạ hàng ngàn cây xanh, làm mất đi thảm xanh
của thiên nhiên, chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến con người, nhiệt độ, nhất là
trong bối cảnh biến đôi khí hậu đang diễn biến phức tạp và ô nhiễm không khí đang
ngày nhức nhối hơn Một đô thị phát triển không thể thiếu đường giao thông hiện đại,
Trang 22thiếu nhà cao tầng, thiếu những công trình đồ sộ Nhưng một đô thị hiện đại văn minh
cũng không thể vắng thiên nhiên mà cây xanh là yếu tố quan trọng nhất (Nguyễn Văn
Cảnh - TTXVN)
Ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có những hàng cây rất đẹp, chúng có tuôiđời trên 100 năm Những hàng cây này có từ khi mà cả hai thành phố này còn rất nhỏ
bé Những hàng cây Dầu, cây Sao, cây Lim xẹt ở trung tâm Sài Gòn được người Pháp
trồng vào những năm 1870, còn ở Hà Nội thì sau chừng 20 năm Khi ấy người ta trồng
cây cho thành phố Sài Gòn với quy hoạch chừng 500.000 dân cùng với những con
đường hẹp, ngắn và giao cắt nhau liên tục Sau hơn 100 năm, cả hai thành phố đã đôi
khác, hiện đại hơn, hoành tráng hơn và do vậy cây xanh cũng phải được “hiện đại hóa”
cho phù hợp với bối cảnh mới, nhiều cây xanh cô thụ không còn phù hợp nữa trong
quá trình cải tạo nâng cấp đô thị, muốn giữ cũng rất khó bởi:
Ở thành phố hiện đại, tất cả các thứ lằng nhằng như dây điện tiêu dùng, điệnthoại, cáp truyền hình, hệ thống đèn giao thông, hệ thống cấp và thoát nước mà chúng
ta thấy bắt buộc phải đưa xuống các hào kỹ thuật ngầm dưới lòng đất, các hào kỹ thuật
này thường được thiết kế nằm dọc theo vỉa hè, do vậy không thể giữ lại hay trồng mới
cây trên vỉa hè được, phải phá bỏ mới thi công được, còn trồng mới thì dù là cây rễ
chùm thì trước sau cũng phá hỏng các công trình ngầm, phá hỏng vỉa hè và công trình
xây dựng kế cận Ngoài ra phải kể đến một loạt công trình ngầm khác khó đồng hành
với cây xanh cô thụ được như hệ thống đường ngầm, ga của metro; các hầm ngầm ở
các cao ốc, các đường ngầm dẫn dưới lòng đất kết nối các khu vực với nhau, các khu
thương mại, dịch vụ ngầm dưới đất
Hệ thống giao thông nhanh, hiện đại của đô thị xung đột với cây xanh vỉa hè
Giao thông xưa chủ yếu bằng xe ngựa, xe thô sơ, sau này là xe đạp nên đường nhỏ
hẹp, tốc độ chậm nên việc trồng cây không đòi hỏi khắt khe về tiêu chuẩn kỹ thuật,
miễn sao là đẹp và râm mát là được Hiện nay hệ thống giao thông đô thị phức tạp hơn,
mật độ xe quá lớn, các phương tiện di chuyển trên đường có nhiều chủng loại, tốc độ
rất nhanh, do vậy mà những cây xanh vỉa hè, cây xanh ở các tiểu đảo làm che chắn tầm
nhìn, gây ra nguy hiểm cho người lái xe và cả người bộ hành
Những lý do trên cho thấy khi triển khai các công trình mới ở thành phố Hồ ChíMinh, đường trên cao ở Hà Nội thì việc chặt hạ cây xanh là điều không thể tránh khỏi
Bên cạnh đó những cây không đẹp, già cỗi, bị sâu mọt, cong nghiêng, ảnh hưởng đến
mỹ quan và an toàn thì phải hạ bỏ là đương nhiên Cho dù ai trong chúng ta cũng cảm
thấy xót xa, tiếc nuối nhưng việc cần thì vẫn cứ phải thực hiện
Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là việc cải tạo mảng xanh, trồng cây mới như thế nàocho hợp lý và hợp lòng dân Trước hết, muốn quy hoạch, điều chỉnh lại mảng xanh đô
thị, tập thể cây trong một thành phố thì điều đầu tiên là phải lập cho được hồ sơ điều
Trang 23tra về các vùng cây tập trung và cây đơn lẻ Với sự trợ giúp kỹ thuật của công nghệ
thông tin, các nhà chuyên môn hoàn toàn có thể làm được việc này Tức là phải kiểm
đếm, thống kê, phân loại, đánh giá xem thực trạng cây xanh của một thành phố ra sao
Bao nhiêu cây cần phải loại bỏ vì lý do bệnh, cong, nghiêng, già cỗi; bao nhiêu cây
ảnh hưởng đến công trình xây dựng trong thời điểm hiện tại và tương lai, bao nhiêu
cây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống dân cư (mùi hoa, nhựa cây, che chắn tầm nhìn,
phá hỏng nhà cửa) và các phương án thay thế tối ưu Thứ hai là việc điều chỉnh mảng
xanh cần được xây dựng thành một dự án nghiên túc bởi các nhà khoa học, nhà quản
lý và dự án này phải được công bố rộng rãi cho nhân dân biết Người dân thảo luận,
góp ý, hiến kế cùng chính quyền tìm ra sự đồng thuận
Chúng ta thường mong ước và rèn luyện, giữ gìn để sống được trăm tuôi, còn cáccây cô thụ thường đã sống được hàng trăm năm, thậm trí hàng ngàn năm, trải qua bao
thăng trầm của lịch sử, của thời gian và môi trường sống đầy khắc nghiệt Việc bảo tồn
giữ gìn tôn tạo cây cô thụ, một tài sản vô giá không chỉ có ý nghĩa lịch sử, văn hóa,
cảnh quan, môi trường sinh thái mà phải trở thành tình cảm và trách nhiệm của mỗi
chúng ta vì bảo vệ nuôi dưỡng cây cô thụ sẽ làm tăng vẻ đẹp phong cảnh là những nét
chấm phá trong bức tranh phong cảnh đất nước, là tư liệu quy để nghiên cứu lịch sử tự
nhiên, qua đó có thể tìm hiểu tình hình khí hậu, và những biến thiên khí hậu trong quá
khứ Cây cô thụ còn có ý nghĩa đặc biệt trong nghiên cứu sinh lí cây thân gỗ qua từng
năm của chúng để nghiên cứu quá trình sinh trưởng phát triển, già cỗi và tử vong của
chúng Từ ý nghĩa sâu xa đó, việc tô chức điều tra bước đầu về cây cô thụ là rất cần
thiết Để bảo vệ lâu dài những cây đã được xác định trên bản đồ sau khi UBND tỉnh ra
quyết định công nhận là "Cây cô thụ quý hiếm được xếp loại bảo tồn", xây dựng quy
chế bảo tồn cây cô thụ, các ngành, các cấp, các cơ sở cần tiến hành bảo vệ tôn tạo,
trước mắt là những cây có nguy cơ xâm hại cần được xây bồn bao quanh gốc, tạo mặt
thoáng, và bón phân chăm sóc, có biển ghi tên cây để bảo vệ, xây dựng quy ước trong
nhân dân, không chặt cây, đẽo vỏ cây, trích một phần kinh phí địa phương để hỗ trợ
cho việc chăm sóc bảo vệ cây
Ngoài những giá trị truyền thống như cung cấp ôxy, ngăn bụi, tiếng ồn, tạo bóngrâm, tạo cảnh quan mỹ thuật, thư giãn, giảm sức ép tâm lý,… thì cây xanh còn có
những giá trị khác nữa như tham gia kết nối cộng đồng, gia tăng giá trị di sản và đặc
biệt là làm giàu ký ức, biểu tượng của kỷ niệm… Do vậy mà cây xanh đô thị trở thành
một khoa học mang tính liên ngành kết nối cùng lúc: quy hoạch, kiến trúc, xây dựng,
thiết kế, mỹ thuật, sinh học, môi trường…
* Tại thành phố Đà Nẵng
Hiện nay, trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng việc quản lý hệ thống cây xanh cô thụ
trên phạm vi toàn thành phố chưa có ranh giới rỏ ràng giữa các sở ban nghành (Sở Tài
Trang 24nguyên và Môi trường, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lich, Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, Sở Xây dựng) Do vậy, mà chưa có số liệu thống kê chính xác về số
lượng cây xanh trên địa bàn toàn thành phố, mà chỉ có số liệu về cây “Di sản” do Sở
Tài nguyên và Môi trường, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch quản lý Trong khi đó,
hiện nay trên phạm vi toàn thành phố một số lượng không nhỏ cây xanh cô thụ, tạo
nên nét riêng cho thành phố, tạo nét văn hóa, cảnh quan sinh thái của từng vùng miền,
văn hóa tâm linh,… lại đang bỏ ngõ, chưa được quan tâm và bảo tồn đúng mực Thành
phố hiện có rất nhiều nhà cao tầng mọc lên, chúng đứng san sát nhau Những tòa nhà
này vươn cao tạo ra các cột dựng đứng, các bức tường thành không lồ và chính các cao
ốc này đã tạo ra các hào bê tông trên cao làm cho các dòng không khí bị đôi chiều, tạo
ra dòng xoáy rất nguy hiểm, đặc biệt nguy hiểm với những thành phố gần biển, gần
sông, những lúc gió mạnh hoặc xung đột giữa khí nóng và khí lạnh luồn lách qua các
tòa cao ốc tạo ra dòng khí làm cho các cây cao bị vặn gãy hàng loạt, gây chết người
Cùng với tốc độ đô thị hóa ngày một phát triển, quy hoạch đô thị diễn ra, việc bảo tồn
cây xanh cô thụ trở thành nhu cầu cấp thiết trong việc giữ gìn ký ức cũng như nét văn
hóa đặc trưng khu phố, khu dân cư, làng,…
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.2.1 Trên thế giới
Hệ thống cây xanh cô thụ là tài sản vô giá, không chỉ là nét đẹp của cảnh quanmôi trường, cảnh quan thiên nhiên, chứng tích cho lịch sử Vì vậy, trên thế giới có một
số cây cô thụ đã gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước như cây Bách "El arbol"
tại quảng trường của thành phố Tule ở Mêhicô có tuôi thọ trên 2.000 năm tuôi với chu
vi gốc đạt 58m, cây Moabi trong rừng già châu Phi có tuôi thọ đến 2.500 năm, quần
thể cây Thông trong sa mạc White Mountains ở California có tuôi thọ hơn 4.000 năm
tuôi, đặc biệt cây già nhất thế giới là cây "Mathusalem" có tuôi đời 4.771 tuôi
Nhưng hiện nay, số lượng cây cô thụ đang giảm dần nên trên thế giới đã có nhiềunghiên cứu về vấn đề này, một báo cáo được thực hiện bởi ba nhà sinh thái học hàng
đầu thế giới được công bố trên tạp chí Khoa học (Science) cảnh báo về sự gia tăng
đáng báo động về tỉ lệ chết của các cây cô thụ có tuôi từ 100-300 năm trong nhiều khu
rừng của thế giới, các khu rừng, các hoang mạc, các khu vực nông nghiệp và thậm chí
trong cả các thành phố Trưởng nhóm nghiên cứu, giáo sư David Lindenmayer của
Trung tâm Excellence for Environmental Decisions (CEED) và Đại học Quốc gia Úc
(Australian National University) cho biết."Đó là một vấn đề trên toàn thế giới và đang
xảy ra trong hầu hết các kiểu rừng" [David B Lindenmayer, William F Laurance, and
Jerry F Franklin Global Decline in Large Old Trees Science, 2012; 338 (6112):
1305-1306 ]
Trang 25Theo David Lindenmayer và các đồng nghiệp, giáo sư Bill Laurance của Đại họcJames Cook, Australia, và giáo sư Jerry Franklin của đại học Washington, Hoa Kỳ, nói
trong bản báo cáo khoa học của họ :"Các cây cổ thụ lớn là rất quan trọng trong nhiều
môi trường tự nhiên và các môi trường do con người thống trị Các nghiên cứu về các
hệ sinh thái trên toàn thế giới cho thấy quần thể những cây cổ thụ này đang suy giảm
nhanh chóng", do vậy "Nghiên cứu là cần thiết để xác định nguyên nhân gây ra sự
biến mất nhanh chóng của các cây cổ thụ lớn và và đưa ra các chiến lược quản ly để
cải thiện tình hình Thiếu những thay đổi về chính sách, các cây cổ thụ to lớn sẽ giảm
hoặc biến mất trong rất nhiều hệ sinh thái, dẫn đến sự suy giảm chức năng hệ sinh
thái và khu hệ sinh vật liên quan của chúng" [David B Lindenmayer, William F.
Laurance, and Jerry F Franklin Global Decline in Large Old Trees Science, 2012;
338 (6112): 1305-1306].
Giáo sư Lindenmayer cho biết họ lần đầu tiên báo về sự mất mát của các cây côthụ trong khi kiểm tra các số liệu về rừng của Thụy Điển quay ngược lại đến những
năm 1860 Sau đó, một nghiên cứu 30 năm về rừng Mountain Ash (Eucalyptus
regnans) ở Úc đã xác nhận rằng không chỉ các cây cô thụ đang chết hàng loạt trong các
vụ cháy rừng, mà còn tồi tệ gấp mười lần tỷ lệ bình thường trong năm không xảy ra
cháy - rõ ràng là do hạn hán, nhiệt độ cao, khai thác gỗ và các nguyên nhân khác
Xem xét trên toàn thế giới, các nhà khoa học tìm thấy xu hướng tương tự ở tất cảcác vĩ độ, Vườn quốc gia Yosemite của California, trên các hoang mạc châu Phi, trong
rừng nhiệt đới của Brazil, khu rừng ôn đới của châu Âu và các khu rừng phương Bắc
xa về phía Bắc Sự suy giảm các cây có kích thước lớn cũng đã được tuyên bố tại các
khu vực nông nghiệp và thậm chí cả các thành phố, nơi mà người dân thực hiện các nỗ
lực để bảo tồn chúng
Giáo sư Bill Laurance của Đại học James Cook đã nói: "Đó là một xu hướng rất đáng lo ngại Chúng ta đang nói về sự biến mất của các sinh vật sống có kích thước
lớn nhất hành tinh, các thực vật có hoa lớn nhất hành tinh, của các sinh vật đóng một
vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh và làm phong phú thêm thế giới của chúng
ta" Cây cô thụ lớn đóng vai trò quan trọng sinh thái cung cấp nơi làm tô hoặc các chỗ
trú ẩn cho khoảng 30% các loài chim và động vật trong một số hệ sinh thái Chúng lưu
trữ một lượng lớn carbon Chúng tái tạo các chất dinh dưỡng trong đất, tạo ra môi
trường sống phong phú và ảnh hưởng đến dòng chảy của nước trong cảnh quan và vi
khí hậu
Và theo ông Bill Laurance "Trong các khu vực nông nghiệp, các cây cổ thụ lớn
có thể là đầu mối cho việc phục hồi thảm thực vật, chúng giúp kết nối các cảnh quan
bằng cách hoạt động như các bậc đá cho nhiều loài động vật phân tán hạt giống và
phấn hoa".
Trang 26Sự suy giảm đáng báo động số lượng các cây cô thụ trong nhiều kiểu rừng xuấthiện được thúc đẩy bởi một sự kết hợp của các lực lượng, bao gồm cả chặt phá làm
quang đất đai, hoạt động nông nghiệp, những thay đôi nhân tạo trong chế độ lửa, khai
thác gỗ và thu thập gỗ, côn trùng tấn công và các biến đôi khí hậu nhanh, giáo sư Jerry
Franklin cho biết
Các nhà nghiên cứu so sánh sự thiệt hại các cây cô thụ toàn cầu với các bi kịch đãxảy đến với các loài động vật có vú lớn nhất trên thế giới như Voi, Tê giác, Hô và Cá
voi, cảnh báo rằng hầu như không nơi nào thực hiện các chương trình đối thoại có các
khung thời gian các thế kỷ trước, điều này là cần thiết để đảm bảo sự tồn tại của các
cây cô thụ
Các nhà khoa học kêu gọi một cuộc điều tra khẩn cấp trên toàn thế giới để đánhgiá mức độ mất mát các cây có kích thước lớn, và để xác định các khu vực nơi mà các
cây gỗ lớn có cơ hội sống sót tốt hơn
Bài báo của họ "Sự suy giảm nhanh chóng các cây cổ thụ lớn trên toàn thế giới”
("Rapid Worldwide Declines of Large Old Trees) của David B Lindenmayer, William
F Laurance và Jerry F Franklin xuất hiện trong chuyên mục Vấn đề ngày hôm nay của
tạp chí Science
1.2.2 Ở Việt Nam
Trong thiên nhiên trên hành tinh nói chung và Việt Nam nói riêng giới thực vật làmột thành phần cơ bản tạo nên tính đa dạng sinh học vô cùng phong phú Sự đa dạng
của hệ thực vật không những về thành phần loài, cấu trúc, vùng phân bố địa lý mà còn
có sự khác nhau về dạng sống và tuôi đời Có những loài cây có tuôi đời rất ngắn chỉ
một năm, một số năm nhưng cũng có các loài cây sống đến hàng trăm năm thậm chí
hàng nghìn năm
Ở Việt Nam, có cây Chò xanh (Terminalia myriocarpa) đã sống trên 1.000 năm
đang hiện hữu ở khu rừng ẩm thường xanh mưa mùa nhiệt đới tại Vườn Quốc gia
(VQG) Cúc Phương - Ninh Bình; Cây Sa mu dầu (Cunninghamia konishii) trên 1.000
năm cao trên 50m trong khu rừng nguyên sinh ở Khe Bu tại VQG Pù Mát - Nghệ An;
Cây Dã hương (Cinnamomum camphora) ở Tiên Lục - Bắc Giang cũng trên 1.000 tuôi
đang chống chọi với thiên nhiên và đứng vững trên vùng đất quan họ thật kỳ vĩ hoành
tráng, đây là một trong hai cây Dã hương cô nhất trên thế giói đã có tên trong từ điển
Bách khoa của Pháp năm 1932
Hệ thống cây xanh cô thụ có vai trò hết sức to lớn trong việc điều hoà khí hậu,bảo vệ môi trường và kiến trúc cảnh quan Với những ý nghĩa và vai trò đó nên ở Việt
Nam đã tiến hành một số hội thảo, công trình nghiên cứu nhằm bảo tồn hệ thống cây
xanh cô thụ như ở Đà Nẵng đã có hội thảo về vấn đề chăm sóc cây cô thụ, cây Di sản
Trang 27Việt Nam Ở khu di tích đền Trần - chùa Tháp, thành phố Nam Định, Ths Trần Thị Lợi
- Trung tâm sinh học bảo vệ đê đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu bảo tồn
một số loài cây cô thụ tại khu di tích lịch sử - văn hoá đền Trần - chùa Tháp thành phố
Nam Định”; tại khu di tích Phủ Chủ tịch, thành phố Hà Nội, đã nghiên cứu “Giải pháp
nhằm bảo tồn cây di tích tại Khu di tích Phủ Chủ tịch”; Hội Sinh vật cảnh Ninh Bình
thực hiện đề án "Điều tra và đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn cây cô
thụ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình"; Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang đã tiến
hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đề xuất phương án bảo tồn và phát triển loài Trám
đen cô thụ tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang”
Do vậy, hệ thống cây xanh cô thụ có vai trò hết sức to lớn trong việc điều hoà khíhậu, bảo vệ môi trường và kiến trúc cảnh quan, ngày nay vấn đề bảo tồn cây cô thụ giữ
vai trò bức thiết trong quá trình đô thị hóa ngày một phát triển mạnh mẽ tại các thành
phố lớn, góp phần quan trọng trong việc giữ gìn nét văn hóa tâm linh, là bảo tồn các
chứng tích lịch sử, giữ gìn cảnh quan sinh thái - văn hóa và góp phần bảo tồn đa dạng
sinh học của địa phương và đất nước
Thành phố Đà Nẵng nói chung và các quận Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà nói riêng cótốc độ phát triển rất nhanh về cơ sở hạ tầng, cộng với những biến động của thời gian
như chiến tranh, thiên tai, dịch hại và nhận thức con người trong bối cảnh kinh tế thị
trường đã làm cho số lượng cây cô thụ tại đây ngày càng suy giảm và có nguy cơ vắng
bóng hoàn toàn nếu không có giải pháp quản lý bảo tồn hợp lý
Trang 28CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được hiện trạng công tác quản lý hệ thống cây xanh trên địa bàn thànhphố Đà Nẵng
- Tư liệu hóa được hiện trạng cây xanh cô thụ tại hai quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn
- Đánh giá được các tác nhân gây tôn hại cho cây xanh cô tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo tồn cây xanh cô thụ
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là+ Toàn các cây cô thụ thuộc hệ thống cây xanh đô thị trên địa bàn hai quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
Hệ thống tô chức quản lý cây xanh đô thị thành phố Đà Nẵng; các văn bản pháp luật,
chính sách, chủ trương có liên quan
+ Các yếu tố ảnh hưởng và gây tôn hại cho cây cô thụ tại thành phố Đà Nẵng
Trong đó tiêu chí để xác định đối tượng cây cô thụ là: căn cứ vào Nghị định số64/2010/NĐ-CP, ngày 11/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Quản lý hệ thống cây
xanh đô thị, Tại khoản 6, điều 2, chương 1 của Nghị định đã quy định: Cây cô thụ là
cây thân gỗ lâu năm được trồng hoặc mọc tự nhiên, có độ tuôi tối thiểu 50 năm hoặc
cây có đường kính từ 50cm trở lên tại chiều cao 1,3m của cây (tính từ gốc)
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 7/2015 đến tháng 04/2016
2.4 Nội dung nghiên cứu
1) Tìm hiểu các yếu tố tự nhiên và kinh tế – xã hội của khu vực nghiên cứu có liên quan đến sự hình thành, tồn tại và phát triển của cây xanh cổ thụ
o Địa lý, địa hình, đất đai
o Khí hậu, thủy văn
Trang 29o Tài nguyên thực vật và đa dạng sinh học
o Các dạng thiên tai, dịch hại có liên quan
o Dân cư, tập quán, văn hóa
o Ngành nghề, kinh tế
o Cơ sở hạ tầng
o Hiện trạng môi trường đô thị, các sự cố môi trường (nếu có)2) Đánh giá thực trạng và năng lực quản lý hệ thống cây xanh đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
o Các văn bản pháp lý, chủ trương, chính sách có liên quan
o Các bên liên quan
o Bộ máy tô chức và năng lực của cơ quan chuyên trách
o Kết quả hoạt động quản lý cây xanh đô thị
o Những tồn tại, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm3) Điều tra hiện trạng cây cổ thụ ở các khu vực nghiên cứu.
❖ Điều tra địa điểm phân bố, định danh, đánh giá hiện trạng sinh trưởng, phát triển, chất lượng sống và lập hồ sơ quản lý cho từng cá thể cây cô thụ
❖ Thống kê thành phần loài, số lượng và vùng phân bố cho từng đơn vị quản lý sử dụng cây xanh (đường, cơ quan, khu phố, khu di tích, phường, quận); Phân loại cây theo các nhóm mục tiêu /
giá trị sử dụng
❖ Điều tra tình trạng sinh vật gây hại trên cây cô thụ ở khu vực nghiên cứu
o Thành phần loài/ nhóm loài gây hại
o Các phương thức gây hại và tác hại/ mức độ nguy hiểm
o Hiện trạng cây xanh di tích bị hại
o Các biện pháp phòng chống đã áp dụng và kết quả đạt được
o Những khó khăn về kỹ thuật
➢ Đánh giá điều kiện sống và các mối đe dọa tập đoàn cây cô thụ ở khu vực nghiên cứu.
o Khí hậu, thời tiết, thiên tai
o Chất lượng đất
Trang 30o Không gian sống
o Điều kiện chăm sóc, quản lý
o Các mối đe dọa chất lượng môi trường và hành vi xâm hại (nếu có)
o Nhu cầu cải thiện điều kiện sống của cây xanh cô thụ
4) Đánh giá công tác quản lý và bảo tồn cây cổ thụ tại địa bàn nghiên cứu
• Tìm hiểu hệ thống văn bản, chính sách chủ trương do địa phương ban hành
có liên quan đến công tác quản lý bảo tồn cây cô thụ trên địa bàn
• Bộ máy tô chức quản lý (nếu có) và các bên liên quan trong hoạt động quản
lý và bảo tồn cây cô thụ
• Các nguồn lực thực hiện nhiệm vụ (đội ngũ cán bộ chuyên trách, trình độ vàkinh nghiệm công tác, trang thiết bị chuyên dụng )
• Nội dung các hoạt động quản lý bảo tồn đã thực hiện và kết quả đạt được
• Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động quản lý và bảo tồn cây cô thụ
5) Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo tồn cây
cổ thụ ở quận Sơn Trà và quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng
❖ Giải pháp chính sách, pháp luật
o Rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy ở cấp địa phương
o Xây dựng chính sách khuyến khích hoạt động quản lý, bảo tồn (đầu tư,
hỗ trợ, khen thưởng )
❖ Giải pháp tô chức quản lý
o Xây dựng quy ước bảo vệ cây cô thụ, cây di sản o Nâng cao năng lực đội ngũ
o Đóng bảng tên cây, bảng nội quy, xây dựng rào bảo vệ
o Lập hồ sơ quản lý và lưu trữ dữ liệu
o Vinh danh cây cô thụ, cây di sản
o Xây dựng cơ chế phối hợp và đồng quản lý giữa các bên liên quan o Xây dựng chế độ báo cáo
❖ Giải pháp truyền thông: tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về cảnh quan, môi trường, pháp luật và quảng bá hình ảnh cây cô thụ, cây di sản
❖ Giải pháp khoa học và công nghệ
o Nghiên cứu giải pháp bồi dục
o Nghiên cứu giải pháp cải tạo điều kiện sống
o Nghiên cứu giải pháp phòng trừ sinh vật gây hại
o Nghiên cứu giải pháp cắt tỉa, chống đỡ
o Xây dựng phần mềm Map info, GIS để quản lý hệ thống cây cô thụ
Trang 312.5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dự kiến sẽ vận dụng các hướng tiếp cận sau đây:
+ Tiếp cận thông quan tham khảo và kế thừa có chọn lọc trên cơ sở phúc tra,
kiểm chứng tại địa bàn nghiên cứu
o Các tài liệu trong nước, ngoài nước về các phương pháp bảo tồn hệ thống cây xanh và các loài sâu bệnh, dịch hại trên cây xanh
o Các công trình nghiên cứu, các dự án đã tiến hành về các lĩnh vực hay nội dung có liên quan;
o Tông kết hoạt động thực tiễn của đơn vị và các cơ quan, tô chức có liên quan;
+ Tiếp cận có sự tham gia: phỏng vấn, tham vấn chia sẻ kinh nghiệm và kết quả
nghiên cứu, tham quan học tập các mô hình trong nước
+ Tiếp cận bằng cách lồng ghép: phối hợp giữa hoạt động nghiên cứu với hoạt
động thường xuyên của đơn vị công tác
+ Tiếp cận bằng phương pháp chuyên gia: thông qua hoạt động điều tra theo
phương pháp chuyên ngành
o Lấy mẫu thực vật, mẫu đất, sâu, bệnh ở một số cây cô thụ
o Xác định định tên cây, loài sâu, bệnh gây hại trong phòng thí nghiệm
2) Các phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
+ Thu thập các thông tin đã có sẵn của các đơn vị, cơ quan quản lý hệ thống câyxanh trên địa bàn (số lượng, chủng loại, vị trí phân bố, số lượng cây bị chết, bị gãy đô
hay chặt hạ, di dời hàng năm, tình hình sâu bệnh hại và các yếu tố gây tôn hại khác )
+ Thừa kế kết quả điều tra do các tô chức trong và ngoài nước thực hiện
b Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
Sử dụng bản câu hỏi có định hướng trên các phiếu điều tra để phỏng vấn các bên liên quan:
Trang 32o Cán bộ chuyên trách quản lý cây xanh
o Công nhân công trình đô thị
o Người dân địa phương và du khách
❖ Nội dung các câu hỏi phỏng vấn tập trung vào các vấn đề sau:
o Nhận thức về pháp luật (các bộ Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định, Chỉ thị ) có liên quan đến quản lý cây xanh đô thị, cây cô thụ, cây di sản
o Quan điểm, nguyện vọng, thái độ đối với nội dung và đối tượng nghiên cứu của đề tài (Tán thành? Ủng hộ? Tham gia? Đề nghị )
o Thông tin về phân bố, chủng loại, nguồn gốc và lịch sử của các cá thể cây côthụ trên địa bàn (cây gì, ở đâu, có từ bao giờ, do ai trồng, hiện do ai quảnlý )
o Các thông tin về chiều hướng, diễn biến số lượng, chất lượng, chủng loại cây cô thụ trên địa bàn
o Các giá trị của cây cô thụ (cảnh quan, môi trường, lịch sử, văn hóa, kinh tế ); các loài và cá thể cây cô thụ cần ưu tiên bảo tồn tại địa phương
o Các mối đe dọa phô biến đối với hệ thống cây xanh nói chung và cây cô thụ
nói riêng
o Kinh nghiệm, tri thức bản địa trong bảo tồn cây cô thụ
o Các sáng kiến và ý kiến đề xuất nhằm quản lý, bảo tồn cây cô thụ có hiệu quả trên địa bàn
- Điều tra thực địa để thu thập, bô sung số liệu:
• Định vị cây bằng bản đồ cầm tay, GPS và bản đồ số hóa
• Điều tra xác định thành phần chủng loại cây xanh bằng phương pháp so sánh hình thái, thu thập lưu trữ mẫu tiêu bản, mẫu ảnh
• Điều tra hiện trạng sinh trưởng cây xanh bằng cách đo đếm các chỉ tiêu, chiềucao cây bằng thước đo cao kỹ thuật chuyên dụng, đo đường kính thân, kích thước tán
bằng thước dây
• Điều tra đánh giá chất lượng cây bằng phương pháp mục trắc thân, tán cây để xếp theo 5 nhóm:
+ Thân cong vênh, thân nghiêng, xiêu vẹo, tán lệch, tán khuyết (gọi tắt là cong vênh)
+ Cây còi cọc, cằn cỗi, khô cành (gọi tắt là còi cọc)
+ Cụt ngọn, gãy đô thân chính (gọi tắt là cụt ngọn)
+ Sâu ăn lá, đụt thân, mối mọt, bệnh hại, bọng ruột (gọi tắt là sâu bệnh)
Trang 33+ Bị cây kí sinh, phụ sinh, hoại sinh đeo bám nhiều có nguy cơ ngừng sinh trưởng hoặc chết dần (gọi tắt là bị kí sinh).
- Sử dụng tài liệu chuyên môn để phân loại đối tượng nghiên cứu
- Sử dụng ma trận và tiêu chí đánh giá để bình chọn đối tượng ưu tiên và nhân tố chủ yếu
- Sử dụng sơ đồ Venn để phân tích các bên liên quan trong quản lý và bảo tồn cây
cô thụ
- Phương pháp SWOT (Strong, Weaknees, Opportunity, Threaten) để phân tíchcác thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý, chăm sóc bảo vệ hệ thống cây xanh đô
thị và cây cô thụ, cây di sản trên địa bàn
- Số liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học và một số phần mềm máy tính chuyên dụng
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội quận Ngũ Hành Sơn và Sơn Trà 3.1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Quận Ngũ Hành Sơn
3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Ngũ Hành Sơn là một quận của thành phố Đà Nẵng được thành lập theo Nghịđịnh số 07/CP ngày 23 tháng 1 năm 1997 của Chính phủ và Quyết định 181/QĐ-UB
ngày 27 tháng 1 năm 1997 của Uỷ ban nhân dân lâm thời thành phố Đà Nẵng
Quận Ngũ Hành Sơn nằm về phía Đông Nam của thành phố, phía Đông giáp biểnĐông; phía Tây giáp với huyện Hoà Vang và quận Cẩm Lệ; phía Bắc giáp với quận
Hải Châu và quận Sơn Trà; phía Nam giáp với huyện Điện Bàn của tỉnh Quảng Nam
Địa hình của Ngũ Hành Sơn tương đối bằng phẳng, đất đai khá đồng nhất về tínhchất vật lý, hoá học Cấu tạo địa chất chủ yếu là cát, thành phần hạt thô hơn so với
cùng loại ở khu sát biển Ngoài ra lớp cát mịn được phân bố rộng khắp trong vùng, với
chiều dày biến động từ 4 đến 11m, có kết cấu chặt vừa
Quận Ngũ Hành Sơn nằm trong khu vực có chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa
và ảnh hưởng khí hậu ven biển của miền Trung Lượng mưa và độ ẩm trung bình
tương đối thuận lợi cho phát triển sản xuất lương thực và thực phẩm Mùa mưa trùng
với mùa đông và mùa khô trùng với mùa hạ Nhiệt độ trung bình là 25,60C, nhiệt độ
cao tuyệt đối 40,90C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 15,50C Do đặc điểm địa hình có đồng
bằng phía Tây và đèo Hải Vân chắn ngang nên khí hậu khu vực Đà Nẵng nói chung và
quận Ngũ Hành Sơn nói riêng không bị khắc nghiệt như khí hậu phía Bắc đèo Hải
Vân Ảnh hưởng của gió Tây Bắc không lớn Ngũ Hành Sơn có nắng ấm gần như
quanh năm; chỉ mưa vào các tháng 9, 10 và 11, nhưng vì nằm trong khu vực gió mùa
nên lượng mưa hàng năm của Ngũ Hành Sơn thường cao hơn một số nơi khác Theo
thống kê nhiều năm, lượng mưa hàng năm của Ngũ Hành Sơn cụ thể như sau: lượng
mưa trung bình năm là 2066mm, lượng mưa lớn nhất là 3307mm (1964), lượng mưa
thấp nhất là 1400 mm (1974), lượng mưa ngày thấp nhất là 322mm Lượng mưa trong
năm thường phân bố không đều giữa các mùa và các tháng Thường thì mưa lớn tập
trung vào các tháng 9,10,11,12 và chiếm khoảng 70% tông lượng mưa của cả năm Độ
ẩm trung bình trong năm dao động từ 75% đến 90% Độ ẩm trung bình năm là 82%,
độ ẩm cao nhất trung bình là 90%, độ ẩm thấp nhất trung bình là 75 % và độ ẩm thấp
Trang 35tháng 10 đến tháng 3 năm sau Tốc độ gió trung bình là 3,3m/s, tốc độ gió mạnh nhất
là 40m/s Gió bão thường xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 11 hằng năm, thôi từ biển
Đông vào đất liền, với cấp bão thường gặp là từ cấp 9 đến cấp 10, làm ảnh hưởng nặng
nề đến sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp của nhân dân trong quận
Về chế độ thuỷ văn: Trên địa bàn Ngũ Hành Sơn có 3 con sông chảy qua, đó làsông Hàn, sông Cô Cò (nhân dân địa phương thường gọi là sông Bãi Dài, sông Dài hay
Trường Giang, còn trong các sách của triều Nguyễn thường ghi là Lộ Cảnh Giang) và
sông Vĩnh Điện Sông Hàn là hợp lưu của sông Vĩnh Điện, sông Cô Cò và sông Cẩm
Lệ tại tại khu vực ngã sông, nơi tiếp giáp giữa phường Hoà Cường của quận Hải Châu,
xã Hoà Xuân của huyện Hoà Vang và phường Khuê Mỹ của quận Ngũ Hành Sơn và đô
nước ra Vũng Thùng, hình thành nên cảng sông Hàn và cảng biển Tiên Sa Sông Vĩnh
Điện, dài 17 km, là một nhánh của con sông Thu Bồn chảy theo hướng Tây Nam
- Đông Bắc, đô ra sông Hàn Sông Vĩnh Điện chủ yếu phục vụ cho giao thông hàng
hoá giữa các huyện Bắc Quảng Nam với thành phố Đà Nẵng Sông Cô Cò, là con sông
nôi tiếng trong lịch sử ngoại thương của xứ Đàng Trong trước đây, nối liền tiền cảng
Đà Nẵng với thương cảng Hội An sầm uất vào các thế kỷ 16, 17 Sau này, sông Cô Cò
bị bồi lấp, gãy đứt thành nhiều đoạn Trên địa bàn Ngũ Hành Sơn, sông Cô Cò tách
thành hai nhánh là sông Cô Cò và sông Cầu Biện Sông Cô Cò hiện dài 3,5km, rộng
10m, bị bồi lấp nhiều, chưa có điều kiện để nạo vét nên đáy sông bị bồi lấp rất khó
khăn cho ghe thuyền đi lại, nhất là vào mùa khô Sông Cầu Biện dài 2km, rộng 20m,
hiện tại bị lấp nhiều, một số đoạn đã bị chặn lại để nuôi trồng thuỷ sản
Chế độ thuỷ triều của Biển Đông ở khu vực này là chế độ bán nhật triều; mỗingày lên xuống 2 lần với biên độ dao động khoảng 0,5m Độ nhiễm mặn do nước biển
xâm thực tùy thuộc vào mùa mưa và lượng mưa hàng năm Lượng mưa càng lớn độ
nhiễm mặn càng nhỏ, ngược lại, lượng mưa càng ít, độ nhiễm mặn càng lớn, ảnh
hưởng đến sản xuất nông nghiệp và dân sinh
Quận Ngũ Hành Sơn có 2 nhóm đất chính là đất cát và đất phù sa Nhóm đất phù
sa phân bố chủ yếu ở ven các con sông chảy qua địa bàn quận
Trên cơ sở nguồn tài nguyên khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm và nguồn tài nguyênđất đai nêu trên, Ngũ Hành Sơn có nguồn tài nguyên rừng và thảm thực vật tương đối
đa dạng, gồm rừng trồng ở dọc biển và rừng tự nhiên ở khu vực núi Non Nước - Ngũ
Hành Sơn Thảm thực vật tự nhiên trên núi Ngũ Hành Sơn đa dạng về chủng loại:
thường xanh quanh năm và có độ che phủ tương đối lớn
Rừng trồng tập trung nhất là ở vùng Đông, chạy dọc bờ biển từ Hoà Hải ra đến
Mỹ An với cây trồng chủ yếu là Dương liễu (Phi lao) và Bạch đàn Mục đích của rừng
trồng là phủ xanh đất trống đồi trọc, chống xói mòn rửa trôi đất, làm rừng phòng hộ
ven biển kết hợp với sản xuất lâm nghiệp
Trang 36Vùng biển của quận nằm trong ngư trường lớn biển Bắc Quảng Nam với nguồnhải sản có giá trị kinh tế, thuận lợi cho các sinh vật biển gồm các loài cá, tôm, mực và
các loại đặc sản khác như nghêu, bào ngư, rong biển sinh sôi nảy nở Do ở vị trí cuối
sông đầu biển, các con sông Cô Cò, Cầu Biện của Ngũ Hành Sơn ở trong môi trường
nước mặn lợ độc đáo, một vùng nuôi trồng thủy sản xuất khẩu giàu tiềm năng
3.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Ngũ Hành Sơn có cả mạng lưới giao thông bằng đường bộ và đường thuỷ rấtthuận lợi; nối liền với trung tâm thành phố; rất gần với cảng hàng không quốc tế Đà
Nẵng, nhà ga đường sắt Đà Nẵng và cảng biển Tiên Sa Quận Ngũ Hành Sơn nằm trên
trục đường bộ nối thành phố Đà Nẵng hiện đại với đô thị cô Hội An - một di sản văn
hoá thế giới được UNESCO công nhận và nằm ở chặng cuối cùng của trục hành lang
kinh tế Đông - Tây, dài 1450 km, nối các nước tiểu vùng sông Mê Kông mà điểm cuối
đường ở phía Đông là cảng biển Tiên Sa Cây cầu Tuyên Sơn bắc qua sông Hàn với
đầu cầu phía Tây ở quận Hải Châu và đầu cầu phía Đông ở quận Ngũ Hành Sơn, là cây
cầu cuối cùng trên tuyến hành lang xuyên quốc gia quan trọng này
Kết cấu hạ tầng của Quận đang ngày càng hoàn thiện, công tác chỉnh trang, đô thịhoá diễn ra nhanh, nhiều dự án lớn của Thành phố và Trung ương đã và đang triển khai
trên địa bàn làm cho công tác quy hoạch, chỉnh trang đô thị được thực hiện đều khắp
và đồng bộ, tạo ra diện mạo đô thị trẻ ngày càng sầm uất, hấp dẫn Với các điều kiện
về địa lý, tài nguyên và môi trường như trên, Ngũ Hành Sơn có các lợi thế để phát
triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội theo theo hướng văn minh hiện đại
Về diện tích tự nhiên có: 3.911,7818 ha Trong đó, diện tích đất nông nghiệp:
770,5361 ha chiếm 19,6978% (bao gồm đất sản xuất nông nghiệp: 733,7237 ha chiếm
18,7568%, đất lâm nghiệp: 26,6985 ha chiếm 0,6825%, đất nuôi trồng thủy sản:
10,1139 ha chiếm 0,2585%); đất phi nông nghiệp: 2.589,4019 ha chiếm 66,1949%
(bao gồm đất ở: 708,5649 chiếm 18,1136%; đất chuyên dùng: 1383,2097 ha chiếm
35,3601%; đất tôn giáo, tín ngưỡng: 20,7650 ha chiếm 0,5308%; đất nghĩa trang,
nghĩa địa: 107,3276 ha chiếm 2,7437%; đất sông suối và mặt nước: 362,2047 ha chiếm
9,2593%; đất phi nông nghiệp khác: 7,3300 ha chiếm 0,1874%); đất chưa sử dụng:
551,8438 ha chiếm 14,1072%; đất có mặt nước ven biển: 73,9200 ha chiếm 1,8897%
Về dân số có: 43 084 người với mật độ dân số: 1.171 người/km2 Hiện nay, dân
số tăng lên 61.441 với 16.470 hộ, trong đó số luợng người trong độ tuôi lao động là
40.765 người, chiếm 66,35% so với tông dân số của quận Tốc độ tăng dân số bình
quân hằng năm là 1,20% (theo số liệu thống kê ngày 01 tháng 4 năm 2009)
Trang 373.1.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Quận Sơn Trà
3.1.2.1 Điều kiện tự nhiên:
Sơn Trà là một quận nội thành của thành phố Đà Nẵng, Quận Sơn Trà đượcthành lập từ tháng 01/1997, có vị trí khá đặc biệt trên bản đồ thành phố Đà Nẵng, ngăn
cách với quận Hải Châu bằng một con sông về phía Tây, phía Nam giáp quận Ngũ
Hành Sơn, phía Đông và Bắc giáp biển Đông, có vị trí quan trọng, điều kiện thuận lợi
tiếp giáp với Biển Đông trong việc giao lưu kinh tế và phát triển du lịch dựa trên du
lịch sinh thái và du lịch biển
Vị trí của Quận Sơn Trà: Ba mặt giáp sông, biển; phía Bắc và Đông giáp biểnĐông; phía Tây giáp Vũng Thùng (Vịnh Đà Nẵng) và sông Hàn; phía Nam giáp quận
Ngũ Hành Sơn
3.1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội:
Quận Sơn Trà có diện tích: 59,32 km2, chiếm 4,62% diện tích toàn thành phố;
dân số: 132.944 người, chiếm 14,4% dân số toàn thành phố, mật độ dân số: 2.241
người/km2 (Theo niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng năm 2010)
Quận Sơn Trà gồm 7 đơn vị hành chính cấp phường: Thọ Quang (do Nam Thọ vàMân Quang sát nhập), Mân Thái (do Cô Mân và Tân Thái sát nhập), Phước Mỹ (do
Phước Trường và Mỹ Khê sát nhập), An Hải Bắc (do 5 thôn của đại xã An Hải tách ra
là An Nhơn, An Đồn, An Tân, An Hoà và An Cư), An Hải Đông (do 6 thôn của đại xã
An Hải chia tách ra là An Hiệp, An Thành, An Cư 1, An Cư 2, An Cư 3 và An Cư 4),
An Hải Tây (do 5 thôn của đại xã An Hải chia tách ra là: An Trung, An Vĩnh, An
Thuần, An Mỹ và An Thị) Riêng thôn An Thượng của đại xã An Hải, chia cắt sát nhập
cùng với làng Mỹ Thị thành phường Mỹ An, thuộc quận Ngũ Hành Sơn Sơn Trà là
một quận vừa có vị trí thuận lợi về phát triển kinh tế, có đường nội quận nối với quốc
lộ 14B nối Tây Nguyên - Lào, vừa là địa bàn quan trọng về quốc phòng - an ninh, có
cảng nước sâu Tiên Sa là cửa khẩu quan hệ kinh tế quốc tế không chỉ của thành phố Đà
Nẵng mà của cả khu vực, có bờ biển đẹp, là khu vực tập trung các cơ sở quốc phòng,
có vị trí quan trọng trong chiến lược an ninh khu vực và quốc gia
Với Khu Bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, tông diện tích tự nhiên là 4.439 ha, trong
đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 4.180 ha, trong đó đất có rừng là 3.431 ha (rừng
tự nhiên 2.806 ha, rừng trồng 625 ha), đất chưa có rừng 748 ha Đây là Khu Bảo tồn
thiên nhiên vừa có hệ sinh thái đất ướt ven biển vừa có thảm rừng nhiệt đới mưa ẩm
nguyên sinh Nguồn gen thực vật nhiệt đới của Sơn Trà rất đa dạng, phong phú với số
lượng cá thể lớn có khả năng cung cấp giống cây bản địa phục vụ trồng rừng như: Chò
chai, Dẻ cau, Dầu lá bóng Điều đặc biệt là Sơn Trà còn có những loài động vật quý
hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, trong đó Voọc vá có thể được xem là loài thú sinh
Trang 38trưởng đặc hữu của Đông Dương cần được bảo vệ Mặt khác Sơn Trà còn là nguồn cung
cấp nước ngọt cho thành phố và là nơi có nhiều cảnh đẹp và di tích lịch sử nên rất có giá
trị về du lịch Ngoài ra, Sơn Trà còn là bức bình phong che chắn gió bão cho thành phố,
một dãy bờ biển đẹp với nhiều bãi san hô lớn, Sơn Trà có điều kiện thuận lợi trong việc
giao lưu kinh tế và phát triển du lịch dựa trên du lịch sinh thái và du lịch biển
Trên địa bàn Quận có các di tích lịch sử, lễ hội văn hóa truyền thống như: Nghinhông, Cầu Ngư, Thống chế Thoại Ngọc Hầu, đình làng An Hải – An Hải Tây
3.1.3 Các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến sự tồn tại và công tác quản lý bảo tồn cây cổ thụ tại khu vực nghiên cứu
Ngũ Hành Sơn và Sơn Trà là 2 quận có vị trí thuận lợi cho việc đi lại và phát triểnthương mại, dịch vụ và các dịch vụ du lịch sinh thái Thời tiết ôn hoà rất phù hợp cho sản
xuất nông nghiệp, có nguồn lao động dồi dào Hệ thống cơ sở hạ tầng của địa phương đã
được cải thiện nhiều phục vụ cho đời sống của nhân dân Địa bàn quận đang trong quá
trình quy hoạch, nâng cấp nên việc quy hoạch phát triển trồng cây phân tán, cũng như việc
bảo tồn hệ thống cây cô thụ trên các tuyến đường phố là rất cần thiết
Bên cạnh những thuận lợi trên vẫn còn tồn tại các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội cóảnh hưởng đến sự tồn tại và công tác quản lý bảo tồn cây cô thụ tại khu vực nghiên cứu:
- Diện tích đất nông nghiệp bình quân/hộ rất ít do bị thu hồi đất để thực hiệnquá trình đô thị hoá Điều này sẽ gây khó khăn cho việc giải quyết sinh kế và tăng thu
nhập cho hộ nông dân Quỹ đất hẹp sẽ rất khó khăn cho việc mở rộng quy mô (kể cả
trồng trọt và chăn nuôi) để phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
- Hướng gió thịnh hành thường thay đôi theo mùa và các tháng trong năm Cóhai hướng gió chủ đạo thường gặp trên địa bàn quận là gió Đông và gió Bắc Gió Đông
thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm Gió Bắc thịnh hành từ tháng 10 đến tháng
3 năm sau Tốc độ gió trung bình là 3,3m/s, tốc độ gió mạnh nhất là 40m/s Gió bão
thường xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 11 hằng năm, thôi từ biển Đông vào đất liền, với
cấp bão thường gặp là từ cấp 9 đến cấp 10, đây cũng là một rong nhũng yếu tố làm ảnh
hưởng nặng nề đến việc ngã, đô cũng như sự tồn tại và công tác quản lý bảo tồn cây cô
thụ trên địa bàn quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà nẵng
- Đất đai khá đồng nhất về tính chất vật lý, hoá học Cấu tạo địa chất chủ yếu làcát, thành phần hạt thô hơn so với cùng loại ở khu sát biển Ngoài ra lớp cát mịn được
phân bố rộng khắp trong vùng, với chiều dày biến động từ 4 đến 11m, có kết cấu chặt
vừa Đất chủ yếu là đất cát thành phần nghèo chất dinh dưỡng do vậy ảnh hưởng đến
sự sinh trưởng, phát triển cũng như sức chống đỡ trong mùa mưa bão, của tập đoàn
cây cô thụ, công tác quản lý bảo tồn cây cô thụ trên địa bàn
Trang 39- Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và ảnh hưởng khí hậu ven biển của miền Trungvới lượng mưa và độ ẩm trung bình Mùa mưa trùng với mùa đông và mùa khô trùng
với mùa hạ Nhiệt độ trung bình là 25,60C, nhiệt độ cao tuyệt đối 40,90C, nhiệt độ thấp
tuyệt đối là 15,50C Chế độ thuỷ triều của Biển Đông ở khu vực này là chế độ bán nhật
triều; mỗi ngày lên xuống 2 lần với biên độ dao động khoảng 0,5m Độ nhiễm mặn do
nước biển xâm thực tùy thuộc vào mùa mưa và lượng mưa hàng năm Lượng mưa
càng lớn độ nhiễm mặn càng nhỏ, ngược lại, lượng mưa càng ít, độ nhiễm mặn càng
lớn, nhũng yếu tố của chế độ thủy văn và khí hậu thời tiết làm ảnh hưởng không nhỏ
đến sự sinh trưởng, phát triển cũng như sức chống đỡ trong mùa mưa và mùa khô của
tập đoàn cây cô thụ, cũng như trong công tác quản lý bảo tồn cây cô thụ trên địa bàn
3.2 Đánh giá thực trạng và năng lực quản lý hệ thống cây xanh đô thị trên địa bàn Thành phố Đà nẵng
3.2.1 Đánh giá hiện trạng cây xanh đô thị trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
3.2.1.1 Các văn bản pháp ly, chủ trương, chính sách có liên quan
Hệ thống các văn bản pháp luật về tô chức, quản lý cây xanh đường phố được
áp dụng tại thành phố Đà Nẵng
Hiện nay, trong quá trình quản lý, duy trì cây xanh đường phố nói chung vàthành phố Đà Nẵng nói riêng đã áp dụng và cụ thể hóa các văn bản của Trung ương,
của tỉnh về các quy phạm kỹ thuật trong quản lý, duy trì cây xanh đường phố, có thể
điểm qua một số văn bản chính như sau:
• Chỉ thị 45-TTg năm 1974 Về công tác trồng cây xanh ở các đô thị do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
• Nghị định số 64/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ về quản ly cây
xanh đô thị
Theo Nghị định này có 2 điểm chính liên quan đến chọn loài cây xanh trồng trên đường phố là:
- Cây xanh sử dụng công cộng đô thị là các loại cây xanh được trồng trên đườngphố (gồm cây bóng mát, cây trang trí, dây leo, cây mọc tự nhiên, thảm cỏ trồng trên hè
phố, dải phân cách, đảo giao thông); cây xanh trong công viên, vườn hoa; cây xanh và
thảm cỏ tại quảng trường và các khu vực công cộng khác trong đô thị
- Loài cây được chọn phải phù hợp với yêu cầu và mục tiêu của quy hoạch đô thị
và phát triển đô thị; phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu, thô nhưỡng, tính chất,
chức năng, truyền thống, văn hóa và bản sắc của đô thị; kết hợp hài hòa với không
gian mặt nước, cảnh quan và môi trường; đáp ứng các yêu cầu về quản lý và sử dụng
Trang 40• Quyết định số 01/2006/QĐ-BXD ngày 05/01/2006 của Bộ Xây dựng ban
hành TCXDVN 362:2005 về Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô
thị - tiêu chuẩn thiết kế Tiêu chuẩn này quy định các chỉ tiêu về cây xanh sử dụng
công cộng trong các đô thị như sau:
- Cây xanh đường phố: Thường bao gồm dải cây xanh ven đường đi bộ (vỉa hè), dải cây xanh trang trí, dải cây xanh ngăn cách giữa các đường, hướng giao thông,…
- Khi thiết kế công viên, vườn hoa phải lựa chọn loại cây trồng và giải pháp thíchhợp nhằm tạo được bản sắc địa phương, dân tộc và hiện đại, không xa lạ với tập quán
địa phương Ngoài ra lựa chọn cây trồng trên các vườn hoa nhỏ phải đảm bảo sự sinh
trưởng và phát triển không ảnh hưởng đến tầm nhìn các phương tiện giao thông
- Cây xanh sử dụng công cộng phải được gắn kết chung với các loại cây xanh sửdụng hạn chế, cây xanh chuyên môn và vành đai xanh ngoài đô thị (kể cả mặt nước)
thành một hệ thống hoàn chỉnh, liên tục
- Quy hoạch và trồng cây xanh công cộng không được làm ảnh hưởng tới an toàngiao thông, làm hư hại công trình kiến trúc, hạ tầng, kỹ thuật đô thị, không gây nguy
hiểm tới người sử dụng và môi trường sống của cộng đồng
- Cây xanh đường phố phải căn cứ phân cấp tầng bậc và tính chất các loại đường
mà bố trí cây trồng:
• Nghị định số 64/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ về quản ly
cây xanh đô thị
Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ
về “quản lý cây xanh đô thị”, theo đó, Chính phủ thống nhất quản lý cây xanh đô thị,
có phân công, phân cấp trách nhiệm theo quy định của pháp luật; nhà nước có trách
nhiệm đầu tư, phát triển cây xanh đô thị nhằm mục đích phục vụ lợi ích cộng đồng;
khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi để các tô chức, cá nhân tham gia quy hoạch,
trồng, chăm sóc, ươm cây, bảo vệ cây xanh đô thị
Theo nghị định, cây xanh đường phố phải được trồng, chăm sóc, ươm cây, bảo
vệ, chặt hạ, dịch chuyển theo những quy định chủ yếu sau:
* Quy định chung về trồng, chăm sóc
- Việc trồng cây xanh đô thị phải tuân thủ quy hoạch đô thị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt