Vấn đề tồn dư thuốc kháng sinh trong thực phẩm nói chung và trong thịt giacầm nói riêng đang là mối lo ngại cho cơ quan quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm và người tiêu dùng vì nó không c
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp,ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ quý báu
của nhà trường, quý Thầy Cô, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS Nguyễn Đức Hưng đã động viên,hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp
Xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Lã Văn Kính - chủ trì đề tài cấp
Bộ “ Nghiên cứu sản xuất một số chế phẩm có nguồn gốc thảo dược để phòng và trị
hội chứng hô hấp trên gà và lợn” đã hỗ trợ kinh phí cũng như đã hướng dẫn tận tình để
tôi hoàn thành đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy giáo, Cô giáo Khoa Chăn nuôi - Thú y,Trường Đại học Nông Lâm Huế đã góp ý và chỉ bảo để luận văn của tôi được hoàn
thành
Tôi xin cảm ơn Ông Vũ Văn Tú đã tạo điều kiện, cũng như gửi lời cảm ơn đếncác bạn sinh viên lớp Chăn nuôi - Thú y khóa 46 trường Đại học Nông Lâm Huế đã
cùng tôi thực hiện đề tài
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể lớp cao học Chăn nuôi, cao học Thú
y khóa 19 trường Đại học Nông Lâm Huế đã đồng hành, giúp đỡ tôi trong thời gian
học cũng như hoàn thành đề tài
Đặc biệt, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ tôi trong thờigian vừa qua
Thừa Thiên Huế ngày 10 - 08 - 2015
Tác giả luận văn
Phạm Ngọc Trung
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những công bố trong luận văn này là trung thực và là mộtphần trong đề tài “Nghiên cứu sản xuất một số chế phẩm có nguồn gốc thảo dược để
phòng và trị hội chứng hô hấp trên gà và lợn” thuộc đề tài cấp bộ do PGS.TS Lã Văn
Kính làm chủ nhiệm Những số liệu trong luận văn được phép công bố với sự đồng ý
của chủ nhiệm đề tài
Học viên
Phạm Ngọc Trung
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ vii
MỞ ĐẦU 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2
Ý nghĩa khoa học 2
Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1.1.1 Thảo dược (phytogenic, phytobiotic, botanical) 3
1.1.2 Đặc điểm các thành phần trong chế phẩm thảo dược 9
1.1.3 Hội chứng hô hấp trên gà 13
1.1.4 Đặc điểm tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng ở gia cầm 16
1.1.5 Nhu cầu dinh dưỡng gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng 18
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 25
1.2.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm trên thế giới và trong nước 25
1.2.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng thảo dược trong chăn nuôi 29
1.2.3 Tình hình nghiên cứu các thảo dược là đối tượng nghiên cứu của đề tài 33 Chương 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 MỤC TIÊU CỤ THỂ 38
2.2 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 38
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 42.2.1 Phạm vi nghiên cứu 38
2.2.2 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 38
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 39
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.4.1 Bố trí thí nghiệm 39
2.4.2 Chỉ tiêu nghiên cứu 41
2.4.3 Phương pháp quản lý và xử lý số liệu 44
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 45
3.1 TỈ LỆ NUÔI SỐNG CỦA GÀ THÍ NGHIỆM 45
3.2 TỈ LỆ MẮC BỆNH HÔ HẤP CỦA GÀ THÍ NGHIỆM 46
3.3 KHỐI LƯỢNG GÀ QUA CÁC TUẦN TUỔI 48
3.5 LƯỢNG THỨC ĂN ĂN VÀO CỦA GÀ THÍ NGHIỆM 52
3.6 HỆ SỐ CHUYỂN HÓA THỨC ĂN CỦA GÀ THÍ NGHIỆM 54
3.7 NĂNG SUẤT GIẾT MỔ GÀ THÍ NGHIỆM 56
3.8 CHỈ SỐ SẢN XUẤT 58
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
KẾT LUẬN 60
ĐỀ NGHỊ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
TÀI LIỆU TIẾNG ANH 61
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Thành phần hóa học và cơ chế kháng khuẩn của chất chiết thực vật 5
Bảng 1.2 Ảnh hưởng của tinh dầu thảo dược đến năng suất sinh trưởng của gà thịt 8
Bảng 1.3 Nhu cầu axit amin không thay thế cho gà thịt 22
Bảng 1.4 Số lượng gia cầm thế giới và các châu lục giai đoạn 2004 - 2013 26
Bảng 1.5 Số lượng gia cầm theo khu vực giai đoạn 2004 - 2013 29
Bảng 2.2.Thành phần dinh dưỡng của khẩu phần cơ sở cho gà 39
Bảng 2.3 Bố trí thí nghiệm 40
Bảng 2.4 Loại kháng sinh sử dụng 40
Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các giai đoạn tuổi (%) 45
Bảng 3.2 Tỷ lệ mắc bệnh hô hấp của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) 47
Bảng 3.3 Khối lượng của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (g/con) 48
Bảng 3.5 Lượng thức ăn ăn vào của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi(g/con/ngày) 52 Bảng 3.6 Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) cho 1 kg khối lượng tăng 54
của gà thí nghiệm 54
Bảng 3.7.1 Năng suất thịt gà thí nghiệm lúc 9 tuần tuổi 56
Bảng 3.7.2 Kết quả phân tích kháng sinh tồn dư trong thịt 57
Bảng 3.8 Chỉ số sản xuất (PN) của gà khi kết thúc thí nghiệm (9 tuần tuổi) 58
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
Đồ thị 1.1 Số lượng gia cầm thế giới giai đoạn 2004 - 2013 26
Đồ thị 1.2 Số lượng gia cầm của Việt Nam giai đoạn 2004 - 2013 28
Biểu đồ 3.1: Khối lượng của gà ở lô đối chứng và các chế phẩm 50
Biểu đồ 3.2 Tốc độ sinh trưởng của gà ở lô đối chứng và các chế phẩm 51
Biểu đồ 3.3 Lượng thức ăn ăn vào của gà ở lô đối chứng và các chế phẩm 54
Biểu đồ 3.4 Hệ số chuyển hóa thức ăn của gà ở lô đối chứng và các chế phẩm 55 Biểu đồ 3.5 Chỉ số sản xuất của gà giữa các nghiệm thức 58
Biểu đồ 3.6 Chỉ số sản xuất của gà giữa lô đối chứng so với các chế phẩm 59
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 8MỞ ĐẦUĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi gà nói riêng và gia cầm nói chung đóng vai trò hết sức quan trọng,gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp của người nông dân Việt Nam qua nhiều
thế hệ, là ngành kinh tế không thể thiếu trong nền sản xuất nông nghiệp của Việt Nam
Vấn đề tồn dư thuốc kháng sinh trong thực phẩm nói chung và trong thịt giacầm nói riêng đang là mối lo ngại cho cơ quan quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm và
người tiêu dùng vì nó không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm, sức khỏe
cộng đồng mà còn là rào cản khắc nghiệt đối với doanh nghiệp xuất khẩu thịt động vật
Tại các nước EU Avoparcin đã bị cấm sử dụng năm 1997, Tylosin, Virginiamycin,
Sporamicin, Carbadox và Olaquindox bị cấm sử dụng cho gia cầm năm 1999 (Janie
Martitz, 2004)
Ở nước ta kết quả điều tra thịt gà sản xuất từ 18 cơ sở chăn nuôi tại miền Bắc
cho thấy có 5 mẫu chiếm 27,78% có kháng sinh tồn dư quá ngưỡng từ 13,8 – 30,3 lần
Tại các cơ sở miền Nam cũng nhận thấy có 4 cơ sở chiếm 22,2% các loại thịt gà có tồn
dư các loại kháng sinh Tetracyline, Amoxycillin, Erofloxacine với hàm lượng cao gấp
từ 1,4 – 30,9 lần so với ngưỡng cho phép Cũng trong kết quả khảo sát của trường Đại
học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: trong 149 mẫu thịt gà được kiểm tra
có 44,96 mẫu có hàm lượng kháng sinh vượt quá mức quy định cho phép từ 2,5 đến
1100 lần so với tiêu chuẩn cho phép (Phùng Đức Tiến, 2010)
Bởi thế, huynh hướng “thực phẩm sạch”, “thực phẩm gần tự nhiên” là mongước mà nhân loại đang muốn đạt được Nhưng nếu nuôi kiểu công nghiệp, sử dụng
nhiều loại chất kích thích: các hormone, các kháng sinh… gây tăng trọng nhanh một
cách giả tạo, đánh mất đi các tập tính sinh lý sinh trưởng, miễn dịch c ủa vật nuôi đồng
thời các yếu tố bất lợi còn tồn dư trong thịt, trứng làm giảm tính thơm ngon của thực
phẩm và gây hại đến sức khỏe con người…
Trong bối cảnh tồn tại rất nhiều biện pháp thay thế kháng sinh bổ sung vào thức
ăn chăn nuôi với mục đích kích thích sinh trưởng như cân bằng dinh dưỡng, bổ sung
acid hữu cơ, khoáng hữu cơ, bổ sung enzyme thức ăn, bổ sung các chế phẩm trợ sinh
(probiotic) và tiền sinh (prebiotic), bổ sung các chế phẩm giàu kháng thể và sử dụng
kháng sinh có nguồn gốc thảo dược (Banerjee,1998; Fulton và ctv, 2002; Vũ Duy
Giảng, 2009) Trong các biện pháp trên thì hướng sử dụng các chế phẩm thảo dược
trong thiên nhiên để thay thế kháng sinh, các chất kích thích sinh trưởng trong chăn
nuôi nhằm cải thiện nâng cao năng suất gia súc gia cầm và sản xuất sản phẩm chăn
nuôi an toàn là biện pháp hiệu quả, rẻ tiền và đặc biệt không tồn dư trong sản phẩm
(Windisch và ctv, 2007) Đã có những nghiên cứu sản xuất các chế phẩm từ thảo dược
ứng dụng ở một số nước tiên tiến như Mỹ, Đan mạch Các công ty đa quốc gia như
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 92Alltech, Biomin… cũng đã sản xuất và thương mại hóa các sản phẩm được chiết xuất
từ thảo dược (Biomin P.E.P, Biomin C-EX)
Sau một số năm nghiên cứu, PGS TS Lã Văn Kính – Giám đốc Phân viện Chănnuôi Nam Bộ, cùng các nhóm nghiên cứu gần đây đã giới thiệu một số chế phẩm có nguồn
gốc thảo dược bổ sung vào thức ăn nhằm mục đích thay thế kháng sinh trong quá trình
chăn nuôi Tuy vậy, để hoàn thiện và đưa vào thực tế, các chế phẩm cần được kiểm chứng
qua các đề tài nghiên cứu trên các đối tượng vật nuôi và điều kiện nhất định
Để kiểm tra, đánh giá hiệu quả của các chế phẩm thảo dược đến một số chỉ tiêusản xuất của gà nuôi tại tỉnh Thừa Thiên Huế Được sự cho phép của trường Đại học
Nông Lâm Huế, sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn PGS TS Nguyễn Đức Hưng tôi
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chế phẩm có nguồn gốc thảo
dược đến sức sản xuất của gà nuôi thịt tại Thừa Thiên Huế”.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định hiệu quả của ba chế phẩm có nguồn gốc thảo dược với ba liều dùng
khác nhau đến sức sản xuất và hội chứng hô hấp ở gà thịt;
- Hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược so với việc sử
dụng kháng sinh và không sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi gà thịt
Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu góp phần đánh giá được tác động của các chế phẩm thảo
dược đến sức sản xuất của gà, mở ra triển vọng cho việc sử dụng thảo dược vào thực
tiễn chăn nuôi
- Đánh giá khả năng thay thế của chế phẩm cho việc sử dụng các loại kháng
sinh trên gà
Ý nghĩa thực tiễn
- Chế phẩm thảo dược bao gồm các thành phần tự nhiên, có ý nghĩa lớn trong
chăn nuôi sinh học
- Kết quả của quá trình nuôi thí nghiệm là tiền đề để đưa vào sử dụng đại trà,
ứng dụng rộng rãi cho người dân
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 10chuyển hóa thức ăn, tăng năng suất và tăng chất lượng thức ăn có nguồn gốc từ động
vật Một định nghĩa khác, thức ăn bổ sung từ thực vật là nhóm các chất kích thích sinh
trưởng tự nhiên hoặc các chất kích thích sinh trưởng không kháng sinh có nguồn gốc
từ thảo mộc, cây gia vị và những cây khác (Hashemi và ctv, 2010)
Theo định nghĩa của cơ quan Y Tế Thế Giới (WHO), một sản phẩm được coi làthảo dược khi hoạt chất của thảo mộc nằm trên không hay dưới đất, trong hình dạng
nguyên thủy hay được chế biến Khi có pha lẫn bất cứ hóa chất hay khoáng chất thì
thuốc không còn là dược thảo nữa
1.1.1.2 Phân loại thảo dược
Theo Phạm Thanh Kỳ và ctv (2002); Windisch và ctv (2007), nếu xét về khíacạnh nguồn gốc sinh học, mô tả hóa học và độ tinh khiết thì thảo dược được chia thành
4 phân nhóm chính bao gồm: (1) Thảo mộc (herb) gồm những sản phẩm từ hoa, cây
thân thảo có đặc tính chữa bệnh (2) Cây gia vị gồm các loại thảo mộc có mùi, vị
thường được dùng làm thực phẩm cho con người (3) Tinh dầu là dung dịch có mùi
thơm được chiết xuất từ các bộ phận khác nhau của cây như lá, rễ, trái và hoa và
thường được chiết bằng phương pháp bay hơi nước (4) Nhựa dầu là chất chiết bằng
phương pháp chiết khô từ các bộ phận khác nhau của cây
Hiện nay có khoảng 250.000 - 500.000 loại thảo dược (Borris, 1996) trong đókhoảng 1-10 % được sử dụng làm thức ăn cho người và gia súc (Cowan, 1999) So với
các chất kháng sinh tổng hợp hay các chất hóa vô cơ khác thì sử dụng thảo dược an
toàn hơn, hiệu quả hơn, rẻ tiền hơn, ít độc tố và ít tồn dư (Hashemi và ctv, 2008) Một
thảo dược có chất lượng tốt hay xấu chủ yếu là do hàm lượng hoạt chất chứa trong
thảo dược nhiều hay ít Bao gồm các nhóm hoạt chất hóa học chính như: tinh dầu,
alkaloid, acid, steroid, tannin, saponin Hoạt chất trong thảo dược thay đổi bởi các
yếu tố như trồng trọt, thu hái, phơi sấy, bảo quản (Hashemi và ctv, 2010)
1.1.1.3 Tác dụng của thảo dược
Chức năng chính của các chất thảo dược là: (1) kiểm soát hoặc đề kháng lại sựgây bệnh của vi sinh vật và nấm mốc (Guo và ctv, 2004), (2) Hoạt động chống oxy hóa
(Hashemi và ctv, 2009), kiểm soát các stress mà nguyên nhân bởi các gốc tự do trong
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 114máu trong quá trình trao đổi chất (Chattopadhyay và ctv, 2005), (3) Chống lại các độc
tố như mycotoxin và đảm bảo tốt chức năng hoạt động của gan (Clayton, 1999[11]),
(4)tăng tính ngon miệng và trợ giúp tiêu hóa như kích thích hoạt động của các enzyme
nội sinh, đảm bảo duy trì tốt các chức năng sinh lý và sinh hóa của cơ thể từ đó kích
thích sinh trưởng và nâng cao năng suất (Franco và ctv, 2007; Hashemi và ctv, 2009)
và (5) tăng cường miễn dịch (Guo và ctv, 2004)
Sử dụng thảo dược có nhiều tác dụng có lợi hơn khi dùng kháng sinh Thảodược có khả năng kích thích sinh trưởng nâng cao năng suất như khi dùng acid hữu cơ
hay các chế phẩm trợ sinh (probiotic) Thảo dược được xem là chất kích thích sinh
trưởng không kháng sinh dùng cho gia súc gia cầm Dùng thảo dược cho gà thịt, gà
giống và đặt biệt gà đẻ trứng thương phẩm rất tốt, sử dụng với thời gian dài mà không
sợ bị tồn dư trong sản phẩm (Windisch và ctv, 2007; Hashemi và ctv, 2010)
* Chức năng chống oxy hóa của thảo dược
Một số loài thực vật có khả năng sản sinh ra các thành phần chống oxy hóa
Trong đó, tinh dầu từ họ Labiatae (cây bạc hà) được quan tâm nhiều nhất, kế đến là
những sản phẩm có nguồn gốc từ cây hương thảo (Nakatani 2000)
Theo Cavin và ctv (1998), xác định được 3 hợp chất: cis-feruloyltyramine, trans-feruloyltyramine và secoisolariciresinol có tính chống oxy hóa được thu thập tại
N-Indonesia từ thân cây cóc
Gia vị của một số loài thực vật từ họ Zingiberaceae (gừng và nghệ) và họUmbelliferae (hồi và rau mùi) và những loại cây giàu flavonoids (trà xanh) và anthocyans
(các loại trái cây) cũng có khả năng chống oxy hóa rất tốt (Nakatani, 2000)
Khả năng chống oxy hóa của nhiều hợp chất thảo dược đóng vai trò quan trọngnhằm bảo vệ những lipit của thức ăn tránh khỏi sự hư hoảng của quá trình oxy hóa,
chẳng hạn như bổ sung những chất có khả năng chống oxy hóa (α – tocopheryl acetate,
butylated hydroxytoluene) vào khẩu phần thức ăn của heo và gia cầm
* Chức năng kháng khuẩn của thảo dược
Thảo dược được chiết suất từ thực vật bằng cách hòa tan trong dung môi haychưng cất Những chiết này có thể hoạt động trợ lực nhau để kiểm soát vi khuẩn, virus
và nấm mốc Các chất này gồm terpene, phenol, acid hữu cơ, alchohol, aldehyde,
ketone và dẫn xuất flavon, chúng có đặc tính và nồng độ thấp và có mùi thơm đặc
trưng Ngoài việc kiểm soát sự sinh trưởng của vi khuẩn, nấm mốc, nấm men, các chất
này còn có tác dụng kích thích tiết dịch tụy, dịch tiêu hóa, cũng như kích thích tăng tiết
men nội sinh, cải thiện sự tích lũy nitơ, tăng cường hoạt động của nhung mao đường
ruột (Silvia và ctv, 2002)
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 125Hoạt tính kháng khuẩn chủ yếu của một số thảo dược tương tự như khả năngchống oxy hóa tập trung vào hoạt chất chính là phenolic trong chất chiết của chúng
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 13Cách thức kháng khuẩn xảy ra khi có sự xuất hiện của điện thế kỵ nước chủ yếu làtinh dầu, cho phép chúng đi vào bên trong tế bào vi khuẩn thông qua màng phospholipids
sau đó xâm nhập vào màng tế bào vi khuẩn làm phá vỡ cấu trúc màng tế bào làm thay đổi
khả năng thẩm thấu màng tế bào và gây nên sự mất các ion từ bên trong tế bào ra môi
trường bên ngoài Sự tiêu biến các ion là nguyên nhân hàng đầu làm suy yếu các quá trình
thiết yếu trong tế bào, tạo ra những khe hở để thẩm thấu các cation làm mất cân bằng nước
dẫn đến cái chết của vi khuẩn Ngoài ra, tinh dầu còn có vai trò kiểm soát năng lượng hay
quá trình tổng hợp cấu trúc tế bào vi khuẩn (Burt, 2004)
* Chức năng kích thích sinh trưởng của thảo dược
Trong những năm gần đây, xu hướng sử dụng thảo dược thay thế kháng sinh vớimục đích kích thích sinh trưởng đang tăng cao do những ưu điểm của thảo dược là an
toàn, hiệu quả, rẻ tiền và đặc biệt là ít độc tố và ít tồn dư trong sản phẩm Vì vậy, đây
là hướng nghiên cứu đầy tiềm năng nhằm thay thế phần nào kháng sinh trong chăn
nuôi, đặc biệt ở các nước Châu Âu khi mà kháng sinh bị cấm sử dụng hoàn toàn Chức
năng kích thích sinh trưởng của thảo dược tương tự kháng sinh nhưng phương thức tác
động thì khác nhau
Phương thức tác động của kháng sinh với mục đích kích thích sinh trưởng chủyếu là khả năng chống khuẩn của một vài loại vi khuẩn đặc hiệu Còn thảo dược tác
động rộng hơn, tổng hợp hơn, chúng tác động gián tiếp cung cấp cho gia súc hàng rào
bảo vệ cơ học nội sinh để chống lại nhiều yếu tố nguy hại tiềm ẩn trong thời gian dài
mà không gây nguy hại cho gia súc cũng như người tiêu thụ sản phẩm từ gia súc
Thảo dược đóng vai trò quan trọng trong hệ thống phòng vệ gia súc gia cầmbằng cách cải thiện điều kiện sinh lý của ruột và tăng cường chức năng miễn dịch do
đó kiểm soát được mầm bệnh Hệ vi sinh vật gây bệnh ở đường ruột ít sẽ làm tăng khả
năng loại trừ các nhiễm trùng và giảm sự sản sinh độc tố gây giảm trọng lượng và
giảm hấp thu chất dinh dưỡng trong đường ruột vật nuôi (Roth và ctv, 1998; Hashemi
và ctv, 2010) Điều này đặc biệt quan trọng đối với heo con sau cai sữa và gà mới nở
Bởi vì hệ đường ruột khỏe, con vật sẽ ít bị nhiễm độc tố do vi khuẩn tiết ra, khả năng
phòng bệnh cao, kết quả là khả năng tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng tốt con vật sẽ
sinh trưởng phát triển tối đa như tiềm năng vốn có của con vật
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 14Thảo dược
Cải thiện
Hệ vi sinh vật đường ruột
Helander và ctv (1998)Mitsch và ctv (2004)Kroismayr (2008)Peric và ctv (2008)
Nâng cao khả năng tiêu hóa Giảm bớt sự cạnh tranh các chất dinh dưỡng
Giảm độc tố do vi khuẩn sinh ra Giảm nhu cầu miễn dịch
Windisch và ctv (2008)Peric và ctv (2008)Steiner và ctv (2006)
Tăng năng suất
tế bào vi khuẩn bằng cách làm biến tính và làm đông vón protein trong cấu trúc màng tế
bào Phenol tương tác với màng tế bào chất bằng cách làm thay đổi sự thẩm thấu các
cation như H+ và K+ Sự tiêu biến các thang nồng độ là nguyên nhân hàng đầu làm suy
yếu các quá trình thiết yếu trong tế bào tạo ra những kẽ hở để thẩm thấu các
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 158cation Kết quả làm mất cân bằng nước và tế bào vi khuẩn sẽ chết Một điểm đặc trưngnữa của thảo dược là chúng có tác dụng sinh học nhờ vào sự ảnh hưởng hoạt động củahỗn hợp nhiều phân tử có trong thảo dược Ví dụ như quả táo tàu có tác dụng kíchthích tiêu hóa và kích thích sinh trưởng chứa hơn 70 loại hóa chất hữu cơ, các chấtchưa xác định và các thành phần hoạt động sinh học (Wang và ctv, 1998).
Đa số thảo dược dùng để bổ sung vào thức ăn có tác dụng kích thích dây thầnkinh khứu giác và vị giác, kích thích con vật ăn nhiều, kích thích tiết enzyme nội sinh
và dịch tiêu hóa làm tiêu hóa tốt thức ăn và có tính kháng khuẩn tốt từ đó tăng khảnăng miễn dịch, kích thích sinh trưởng và nâng cao năng suất cho gia súc, gia cầm(Windisch và ctv, 2007; Hashemi và ctv, 2010)
Bảng 1.2 Ảnh hưởng của tinh dầu thảo dược đến năng suất sinh trưởng của gà thịt
Chỉ tiêu
Garcia
và ctv (2007) Ertase
và ctv (2005) Jamroz
và ctv (2003)
Nguồn: Yang và ctv (2009)
1.1.1.4 Nhược điểm của thảo dược
Thảo dược cũng có một số hạn chế như khó tiêu chuẩn hóa về mặt chất lượng,khó kiểm soát các thành phần trong cây cỏ, đồng thời hiệu quả sử dụng còn phụ thuộcrất nhiều vào thời gian thu hái, bảo quản, chế biến thảo dược Nhìn chung, đa số cácloại thảo dược rất an toàn khi sử dụng đúng cách Tuy nhiên, một số loại thảo dược chỉ
an toàn với liều nhất định, nếu quá liều sẽ gây độc cho gan, thận và các cơ quan nộitạng khác
Khác với kháng sinh có tác động nhanh và thời gian ngắn, thảo dược có tácđộng chậm và lâu dài, do đó thảo dược thường không dùng cho các trường hợp bệnh
Trang 16PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 179cấp tính thể nặng mà dùng trong các trường hợp bệnh cấp tính nhẹ, mãn tính, phòng
bệnh hoặc kích thích sinh trưởng
1.1.1.5 Sự tương tác của các loại thảo dược
Hiệu quả sử dụng thảo dược phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sử dụng các bộphận khác nhau của cây, giống cây, tuổi của cây, liều dùng, phương pháp chiết xuất,
thời gian thu hoạch và sự tương hỗ cũng như tỷ lệ phối trộn khi phối hợp với các loại
thảo dược khác Vì thế khi bổ sung vào khẩu phần thức ăn cho gà các loại thảo dược
khác nhau thì kết quả đạt được về tăng trọng, tiêu tốn thức ăn, khả năng thu nhận thức
ăn cũng khác nhau (Yang và ctv, 2009) Thêm vào đó, hiệu lực của thảo dược còn phụ
thuộc vào các yếu tố bên ngoài như tình trạng dinh dưỡng, tình hình bệnh tật, thành
phần của khẩu phần cơ sở và điều kiện môi trường ảnh hưởng đến vật nuôi (Giannenas
và ctv, 2003; Lee và ctv, 2004)
Sự phối hợp nhiều loại thảo dược với nhiều thành phần hoạt chất khác nhau, cótác dụng vào nhiều bộ phận cơ thể hơn một thảo dược đơn lẽ chỉ tác dụng vào một
bệnh chỉ định Có rất nhiều thí nghiệm chứng minh rằng không có sự tương tác trái
ngược nhau khi sử dụng phối hợp các chế phẩm thảo dược với nhau hay giữa thảo
dược với các chất bổ sung có tác dụng kích thích sinh trưởng như acid hữu cơ, kháng
sinh hay probiotic (Sarica và ctv, 2005) đã báo cáo rằng không có tác dụng đối kháng
của tỏi và cỏ xạ hương với enzymes dùng cho gà thịt Tuy nhiên, (Anadon và ctv 2005)
cho biết thảo dược có tương tác âm với thức ăn bổ sung có protein do có chứa chất làm
se niêm mạc ruột vì vậy nó làm biến chất một phần protein
1.1.2 Đặc điểm các thành phần trong chế phẩm thảo dược
1.1.2.1 Đặc điểm của Xạ Can
- Tên khoa học: Belamcanda chinensis (L.) DC.
- Tên khác: Rẻ quạt, Lưỡi dòng
- Tên nước ngoài: Leopard lily, dwarf tiger – lily, leopard flower, blackberry
lily (Anh)
- Họ: La dơn (Iridaceae)
- Xạ can thuộc họ lá đơn, là cây thảo sống nhiều năm, cao 0,5-1m Thân rễ, mọc
bò, phân nhánh nhiều Thân ngắn bao bọc bởi những bẹ lá Lá hình dải, dài 30cm, rộng
2cm, gốc ốp lên nhau, đầu nhọn, gân song song, hai mặt nhẵn, gần như cùng màu;
Toàn bộ các lá xếp thành một mặt phẳng và xòe ra như cái quạt Cụm hoa phân nhánh,
dài 30-40cm Lá bắc dạng vảy, hoa có cuống dài, xếp trên nhánh như những tán đơn,
màu vàng cam điểm những đốm tía, đài có răng nhỏ hình mũi mác Tràng có cánh rộng
và dài hơn lá đài, nhị 3, đính ở gốc cánh hoa Quả nang hình trứng, hạt nhiều,
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 1810màu đen bóng Mùa hoa quả vào tháng 7-10 Cây có thể mọc hoang hoặc được trồng
như cây cảnh, ưa nắng nên thuận lợi cho việc trồng ở các tỉnh phía Nam có tỷ lệ hoa
quả cao Bộ phận dùng làm thuốc là thân, rễ Hiện nay, chưa có công trình nào nghiên
cứu trồng cây này
- Chất estrogen thực vật chiết cây xạ can có tác dụng trị ung thư tuyến Tiền liệt
(Morrissey C và ctv 2004; Paul Thelen và ctv 2005; Paul Thelen và ctv 2007) YU Jun
2001 phát hiện ra tác dụng kháng khuẩn của xạ can Kwang SeokAhn và ctv 2006 phát
hiện ra khả năng chống viêm nhiễm bằng cách tác động lên các đại thực bào (in vitro),
hạn chế suy giảm miễn dịch ở chuột
1.1.2.2 Đặc điểm của Quế
- Tên khoa học: Cinnamomum cassia Blume.
- Tên khác: Quế đơn, quế bì, quế Trung Quốc, nhục quế mạy quẻ (Tày), kía (Dao)
- Tên nước ngoài: Chinese cassia, Chinese cinnamon, cassia bark (Anh);
cannellier, cannellier casse, laurier casse, cinnamone (Pháp)
- Họ: Long não (Lauraceae)
- Cây quế là loài cây thân gỗ, sống lâu năm, ở cây trưởng thành có thể cao trên
15m, đường kính ngang ngực (1,3m) có thể đạt đến 40cm Quế có lá đơn mọc cách hay
gần đối lá có 3 gân gốc kéo dài đến tận đầu lá và nổi rõ ở mặt dưới của lá, các gân bên
gần như song song, mặt trên của lá xanh bóng, mặt dưới lá xanh đậm, lá trưởng thành
dài khoảng 18 – 20 cm, rộng khoảng 6 – 8 cm, cuống lá dài khoảng 1 cm Quế có tán
lá hình trứng, thường xanh quanh năm, thân cây tròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt
rạn theo chiều dọc Trong các bộ phận của cây quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa
tinh dầu, đặc biệt trong vỏ có hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4 – 5%
Tinh dầu quế có màu vàng, thành phần chủ yếu là Aldehyt Cinamic chiếm khoảng 70 –
90% Cây quế khoảng 8 đến 10 tuổi thì bắt đầu ra hoa, hoa quế mọc ở nách lá đầu
cành, hoa tự chùm, nhỏ chỉ bằng nửa hạt gạo, vươn lên phía trên của lá, màu trắng hay
phớt vàng Quế ra hoa vào tháng 4,5 và quả chín vào tháng 1,2 năm sau Quả quế khi
chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một
hạt, quả dài 1 đến 1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1 kg hạt quế có khoảng 2500 – 3000 hạt
Bộ rễ quế phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo
nhau vì vậy quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc Cây quế lúc còn
nhỏ cần có bóng che thích hợp mới sinh trưởng và phát triển tốt, càng lớn lên mức độ
chịu bóng càng giảm dần và sau khoảng 3 – 4 năm trồng thì cây quế hoàn toàn ưa
sáng Tinh dầu quế có vị thơm, cay, ngọt rất được ưa chuộng Trên thế giới quế phân
bố tự nhiên và được gây trồng trở thành hàng hoá ở một số nước châu Á và châu Phi
như Indonesia, Trung Quốc, Việt Nam, Xrilanca và Madagaxca Ở nước ta cây quế tự
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 1911nhiên mọc hỗn giao trong các khu rừng tự nhiên nhiệt đới ẩm, từ Bắc vào Nam Tuy nhiên
cho đến nay quế tự nhiên đã không còn nữa va thay vào đó cây quế đã được thuần hoá
thành cây trồng Có 4 vùng quế chính ở Việt nam là quế Yên Bái, quế Trà My, Trà Bồng
(Quảng Nam), quế Quế Phong, Thường Xuân (Nghệ An), quế Quảng Ninh
- Tính kháng sinh của tinh dầu quế được nghiên cứu và phát hiện qua các thí
nghiệm invitro trên E.coli, Salmonella, Campylobater jejuni Listeria monocytogenes,
Campylobacter jejuni, Salmonella enteritidis, Escherichia coli, Staphylococcus aureus
và Listeria monocytogenes (Friedman và ctv 2002; Inouye, S và ctv 2001 Quế còn có
tính kháng nấm mốc (Lima, E O và ctv 1993; Cheng, S S., Liu và ctv 2006)
Premanathan, M.,và ctv 2000 đã dựa vào nghiên cứu lâm sàng, chất chiết từ vỏ thân
cây Quế Cinnamomum cassia có hiệu quả kháng virus HIV.
1.1.2.3 Đặc điểm của Dâu Tằm
- Tên tiếng Việt: Dâu tằm
- Tên khác: Tang, Dâu cang, Dâu ta
- Tên khoa học: Morus alba L.,
- Tên nước ngoài: White mulberry (Anh)
- Họ Dâu tằm (Moraceae)
- Cây Dâu ưa khí hậu mát và khoẻ nên mọc được ở nhiều vùng đất, mọc nhiều ở
vùng nhiệt đới, còn vùng ôn đới thì mọc vào mùa hè Là cây lâu năm thân gỗ, sống lâu
năm, tuổi thọ 8-12 năm, cho năng suất từ năm thứ 2 đến năm thứ 8 Nếu đất tốt, chăm
sóc tốt tuổi thọ 50 năm Thân cành nhiều nhựa không gai, trên thân cành có nhiều
mầm, mầm đỉnh, mầm nách, khi cắt tỉa mầm có khả năng cho bật mầm Lá mọc so le,
hình bầu dục, hình tim hoặc hình trứng rộng, nguyên hoặc chia 3 thùy, có lá kèm, đầu
lá nhọn hoặc hơi tù Phía cuống hơi tròn hoặc hơi bằng, mép có răng cưa to Từ cuống
lá tỏa ra 3 gân rõ rệt Hoa đực mọc thành bông, có lá đài, 4 nhị (có khi 3) Lá hàng năm
rụng vào mùa đông Rễ ăn sâu và rộng 2-3 m, nhưng phân bố nhiều ở tầng đất 10-30
cm và rộng theo tán cây Nhiệt độ thích hợp 25-32°C còn trên 40°C hoặc dưới 12°C
hạn chế sinh trưởng Là cây ưa ánh sáng, phân bố rộng rãi ở Việt Nam
- Lá Dâu chứa Flavonoid và những hợp chất polyphenol khác là những nhóm
hợp chất có hoạt tính chống oxy hóa, kháng viêm, kháng khuẩn Chín flavonoid được
phân lập từ lá cây dâu tằm và hai trong số đó là
quercetin-3-O-β-D-glucopyranosyl-(1→
6)-β-D-glucopyranoside và quercetin có khả năng chống oxy hóa Các flavonoidmoralbanone, kuwanon S, mulberroside C, cyclomorusin, eudraflavone B
hydroperoxide, oxydihydromorusin, leachianone G và α-acetyl-amyrin được phân lập
từ vỏ rễ cây dâu tằm có khả năng kháng vi rút Herpes simplex 1 Cao methanol từ
nhánh con của cây dâu tằm có khả năng ức chế quá trình peroxide hóa lipid ở chuột và
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 2012một số hợp chất chống oxy hóa cũng đã được phân lập, công thức của chúng được xác
định là 6-geranylapigenin, 6-geranylnorartocarpetin, quercetin thông qua các phương
pháp hóa lý và quang phổ Nghiên cứu mới về lá cây dâu tằm đã chứng minh khả năng
chống loét niêm mạc dạ dày từ cao ethanol thử nghiệm trên chuột thể hiện ở việc giảm
sự tổn hại niêm mạc dạ dày và chứng phù Ở Trung Quốc, người ta dùng lá dâu làm
thuốc giảm sốt trong bệnh cảm lạnh Ở Ấn Độ, lá dâu được dùng làm thuốc ra mồ hôi
và làm dịu Nước sắc lá dùng súc miệng trị sưng họng
1.1.2.4 Đặc điểm của Bọ Mắm
- Tên tiếng Việt: Bọ mắm; Thuốc dòi
- Tên khoa học: Pouzolzia zeylanica (L.) Benn, từ đồng nghĩa: Parietaria
cochinchinensis Lour.
- Tên khác: Parietaria zeylanica L., Pouzolzia cochinchinensis Lour, Pouzolzia
indica (L.) Gaudich
- Tên tiếng Anh: Tuia
- Bọ mắm là một loài thực vật dạng cây thảo mọc hoang Cây Bọ mắm mọc bò
lan trên mặt đất ở những cánh đồng ẩm thấp, bản địa trải dài từ Ấn Độ và bán đảo
Đông Dương xuống Malaysia và quần đảo Philippin Lá cây mỏng, hình trứng thon,
nhọn đầu, dài 4-9 cm, ngang khoảng 2 cm Mặt lá lốm đốm chấm trắng Hoa nhỏ nở
thành chùm ở nách nhánh Trái Bọ mắm hình trứng nhọn có khía dọc như chia ra từng
múi Cây này dễ tìm do mọc hoang ở Việt nam nhưng sản lượng có thể khai thác thấp
Hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu trồng cây này
- Thành phần hóa học: Lã Văn Kính và ctv (2006) đã xác định thành phần hóa
học và hoạt tính kháng khuẩn của Bọ mắm gồm: Quercetin, vitexin, isovitexin,
phylanthin, metyl stearate, β-sitosterol-3-O-β-D-glucopyranoside Kết quả khảo
nghiệm chứng mính tằng vitexin và isovitexin có tính kháng khuẩn mạnh đối với các
chủng vi khuẩn Staphylococus aureu, Escherichia coli và Streptococcus
haemonlyticus Từ đó tác giả cho thấy Bọ mắm cần được phát triển và được sử dụng
rộng rãi để thay thế kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi
- Theo tài liệu Ấn Độ, Bọ mắm được dùng toàn cây, chiết bằng cồn 50o, bốc hơi
dịch chiết, rồi cô dưới áp lực giảm được cao khô Cao khô này nghiên cứu có hệ thống
các tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm, tác dụng trên amip, giun sán, virus, tác dụng hạ
đường huyết, tác dụng trên hô hấp, huyết áp, tác dụng trên hoạt động tự nhiên, tác
dụng giảm đau trên mô hình kẹp đuôi chuột, tác dụng chống co giật do sốc điện, tác
dụng lợi tiểu và tác dụng trên một số loại tế bào ung thư in vitro Nhưng chưa thấy có
kết quả, có thể các tác giả đã dùng liều tương đối thấp Cho chuột uống chỉ dùng cao
khô đến liều 250mg/kg, tính ra dược liệu khô khoảng 2,5g/kg
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 211.1.2.5 Đặc điểm của Viễn Chí
- Tên khoa học: Polygala japonica Houtt.
- Tên nước ngoài: Common indian milkwort (Anh); polygala, herbe af lait (Pháp)
- Họ: Viễn chí (Polygalaceae)
- Cây Viễn chí Polygala japonica Houtt, còn gọi là nam Viễn chí, hay Tiểu thảo
Cây thảo, cao 10-20cm, cành có ngay từ gốc Cành nhỏ hình sợi mọc lan ra, trên có
lông mịn Lá mọc so le, nhiều dạng: lá phía dưới hình bầu dục, rộng 4- 5mm; lá phía
trên hình dải, đầu nhọn, dài 20mm, rộng 3-5mm, mép lá cuốn xuống mặt dưới Hoa
mọc thành chùm gầy, ngắn Hoa xanh nhạt ở dưới, trắng ở giữa, tím ở đỉnh Quả nang,
nhẵn, hình bầu dục Ở Việt Nam có nhiều loài Viễn chí như Polygala japonica Houtt.,
Polygala sibirica L… mọc hoang ở Bắc Ninh, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Hà Nam…
nhưng chúng chưa được khai thác Hiện nay, chưa có nhiều công trình nào nghiên cứu
trồng cây này
- Năm chất saponin mới thuộc họ oleanane được Zhang D và ctv 1996 phát
hiện từ củ của cây Viễn chí Qing-Chun Xue và ctv 2009 đã tìm ra 3 chất Xanthone
mới trong củ cây Viễn chí là 1,dihydroxy-2,5,6,7-tetramethoxyxanthone (1),
3-hydroxy-1,2,5,6,7-pentamethoxyxanthone (2), and
3,8-dihydroxy-1,2,6-trimethoxyxanthone (3) Chất chiết từ rể Viễn chí trị bệnh thiếu máu cục bộ ở tim và
cơ Hye-Kyung Park và ctv 2005 đã phát hiện ra rằng lá cây Viễn chí có thể trị bệnh
hen suyễn, bệnh bạch hầu và cúm
1.1.3 Hội chứng hô hấp trên gà
- Căn bệnh: Bệnh hô hấp mãn tính (Chronic respiratory Disease: CRD) ở gia
cầm với biểu hiện đặc trưng là gà thở khò khè, sưng mặt Đây là một bệnh rất phổ biến
ởcầm trong giai đoạn chuyển mùa, thường xảy ra trên mọi lứa tuổi, nhưng gà 3-6 tuần
tuổi và gà mái sắp đẻ mẫn cảm hơn các nhóm gà khác
- Nguyên nhân: Do vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum gây ra Mycoplasma
sống chủ yếu trong cơ thể của gia cầm và gây bệnh, khi ra khỏi cơ thể chúng chỉ sống
được từ 1-3 ngày ở trong phân, dụng cụ chăn nuôi hoặc tồn tại được 4-5 ngày ở trong
dịch nhày
- Đường truyền lây: Bệnh chủ yếu lây qua đường hô hấp do tiếp xúc trực tiếp
giữa gà bệnh và gà khỏe, do thức ăn nước uống, do dụng cụ chăn nuôi hoặc do không
khí có chứa mầm bệnh Bệnh còn lây qua trứng nếu đàn gà giống bị bệnh CRD, mầm
bệnh truyền qua trứng, khi ấp nở gà con sẽ bị bệnh CRD Bệnh rất dễ nổ ra khi thời tiết
thay đổi, nhất là vào mùa mưa, khi ẩm độ không khí tăng cao hoặc do tiêm phòng, cắt
mỏ, chuyển chuồng
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 22- Triệu chứng:
+ Trên gà thịt: Bệnh hay xảy ra lúc đàn gà được 4-8 tuần, triệu chứng thường
nặng hơn so với các loại gà khác do sự phụ nhiễm các loại vi trùng khác mà thông
thường nhất là E.coli, vì vậy trên gà thịt người ta còn gọi là thể kết hợp E.coli – CRD
(C-CRD) với các triệu chứng giảm ăn, chảy nước mũi, xuất hiện âm rale khí quản, ho,
viêm kết mạc mắt, chảy nước mắt, sưng đầu, gà ủ rũ và chết sau khi mắc bệnh 3-4
ngày, tử số có thể lên đến 30%, số còn lại chậm lớn
+ Trên gà trưởng thành - gà đẻ: Bệnh phát ra khi thay đổi thời tiết, tiêm phòng,
chuyển chuồng, cắt mỏ… các triệu chứng chính vẫn là chảy nước mũi, thở khò khè, ăn
ít, gà trở nên gầy ốm, gà đẻ giảm sản lượng trứng, trứng ấp nở cho ra các gà con yếu
ớt Ở một số đàn gà đẻ đôi khi chỉ thấy xuất hiện sự giảm sản lượng trứng, gà con yếu,
tỷ lệ ấp nở kém, còn các triệu chứng khác không thấy xuất hiện
- Bệnh tích:
+ Dịch viêm xuất hiện ở xoang mũi, hai lỗ mũi và cả ở túi khí Dịch tiết lúc đầu
trong, có nhiều bọt, về sau trở nên vàng và đục hơn
+ Túi khí dày lên hoặc trở nên đục, có nhiều bọt khí hoặc phủ những hạt fibrin nhỏ.+ Viêm màng bao quanh gan
+ Viêm màng bao tim
+ Viêm xoang mũi
+ Vệ sinh chuồng trại, vệ sinh máy ấp thật tốt và bằng các loại thuốc sát trùng
+ Nuôi gà với mật độ vừa phải, cần lưu ý đến tiểu khí hậu chuồng nuôi, trong
đó thông thoáng và mát là hai yếu tố quan trọng Trong các chuồng trại thiếu thông
thoáng, nồng độ các loại khí độc như: NH2, H2S, Cl2, CO2 cao, các khí này gây các tổn
hại nhất định ở xoang mũi, thanh khí quản… sẽ tạo điều kiện cho sự bùng nổ CRD và
các bệnh hô hấp khác
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 2315+ Trên đàn gà giống, thường xuyên tiến hành kiểm tra máu để loại thải các gà
dương tính với CRD
+ Có chế độ dinh dưỡng hợp lý, đúng mức đối với sức sản xuất của đàn gà, cần
chú ý cung cấp đầy đủ các loại vitamin nhất là vitamin A, vitamin C, các chất điện giải
nhằm tăng cường sức đề kháng của đàn gà
- Phòng bệnh bằng kháng sinh hoặc vaccin + Về vaccin, hiện nay có 2 loại:
Vaccin sống chủng F: chủng cho gà con, nhằm ngăn chặn sự lan truyền mầmbệnh qua trứng Vaccin này chưa thật sự an toàn nên ít được sử dụng
Vaccin chết nhũ dầu, dùng chích cho gà sắp đẻ Vaccin được đánh giá rất tốt,kháng thể thụ động truyền qua trứng sẽ bảo vệ gà con khỏi CRD
Việc tiêm phòng CRD không đơn giản do phải xác định tình trạng đàn gà trướckhi lập kế hoạch tiêm phòng Nếu đàn gà đã nhiễm CRD, việc tiêm phòng có thể làm
phát bệnh
Do yếu tố phức tạp nêu trên, nhiều nhà chăn nuôi cho đến nay vẫn thích sử dụngkháng sinh để phòng bệnh Cần lưu ý hai vấn đề sau đây:
+ Trong số các kháng sinh và sulfamids chỉ có 3 nhóm kháng sinh sau đây có
hiệu lực với Mycoplasma:
Nhóm Tetracycline gồm: Oxytetracycline, Chlorte tracycline, Doxycycline
Nhóm Macrolides gồm: Erythromycin, Tylosine, Lincomycin, Spiramycin, Tiamuline
Nhóm Quinolones (Fluoroquinolones) gồm: Norfloxacin, Enrofloxacin
Các kháng sinh khác và các loại Sulfonamides có hiệu quả rất thấp hoặc không có hiệu quả
- Sau một thời gian sử dụng khá lâu, nhiều kháng sinh trước đây nhạy cảm với
Mycoplasma nay đã bị đề kháng như Tylosin, Erythromycine, Spiramycin,
+ Sử dụng kháng sinh nhạy cảm với CRD Đặc biệt cần quan sát kỹ bệnh tích
để đánh giá đúng mức thể CRD hoặc CRD kết hợp E coli Ở thể kết hợp CRD – E
coli, bệnh tích viêm màng ngoài tim, viêm màng bao quanh gan, xoang bụng phủ
nhiều Fibrin, xuất huyết ở ruột non thể hiện rất rõ và thường xuyên Ở thể bệnh này
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 24cần chọn lựa các chế phẩm kháng sinh kết hợp vừa có tác dụng với Mycoplasma vừa
có tác dụng trên vi trùng E coli
+ Sử dụng chất điện giải: Vita-Electrolytes, Aminotrolytes hoặc Electrolytes và
các loại Vitamin nhằm tăng sức kháng bệnh cho đàn gà
+ Nếu có điều kiện nên tăng độ thông thoáng và giảm bớt mật độ nuôi nhốt, hạn
chế tất cả các yếu tố có thể gây stress cho đàn gà
1.1.4 Đặc điểm tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng ở gia cầm
1.1.4.1 Đặc điểm tiêu hóa ở gia cầm
Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú
Cường độ tiêu hóa mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn
qua ống tiêu hóa Ở gà con, tốc độ này là 30 39 cm trong 1 giờ, ở gà lớn hơn là 32
-40 cm và ở gà trưởng thành là -40 - 42 cm Chiều dài của ống tiêu hóa gia cầm không
lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn
hơn rất nhiều so với động vật khác Do đó, để quá trình tiêu hóa thức ăn diễn ra thuận
lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp với tuổi và trạng thái sinh lý, được
chế biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất (Nguyễn Thị Mai,
2009[94])
Quá trình tiêu hóa ở gia cầm diễn ra rất nhanh, ở gà khoảng 8 giờ, ở vịt khoảng
16 - 26 giờ (Nguyễn Đức Hưng, 2006) Thức ăn vào miệng đến thực quản, diều, dạ
dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, ruột già và tận cùng là hậu môn
- Tiêu hóa ở miệngGia cầm lấy thức ăn bằng mỏ Miệng gia cầm không có răng nên không nhai thức
ăn, nhờ nhu động của lưỡi mà thức ăn được đưa nhanh xuống hầu, nước bọt của gia cầm
ít, thành phần chủ yếu của nước bọt là dịch nhầy có tác dụng thấm ướt thức ăn cho dễ
nuốt Gà mái có thể tiết 7 - 12 ml nước bọt trong 1 ngày đêm (Nguyễn Mạnh Hùng và ctv,
1994) Bình quân một ngày đêm tiết của gà khoảng 12 ml (Lê Văn Thọ và Đàm Văn Tiện,
1992) Gia cầm nuốt thức ăn nhờ động tác chuyển động rất nhanh của lưỡi, động tác
ngẩng đầu lên và đưa về trước, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào thực quản do
những co bóp nhu động của thành thực quản, nó được đẩy vào diều
- Tiêu hóa ở diều
Ở gà, diều chứa được 100 - 120g thức ăn Thức ăn ở diều được làm mềm ra,
quấy trộn và được tiêu hóa từng phần bởi các men của thức ăn và các vi khuẩn nằm
trong thức ăn thực vật Khi gia cầm ăn, một phần thức ăn dừng lại ở diều, phần còn lại
đi thẳng xuống dạ dày Diều co bóp đẩy thức ăn xuống dạ dày, khi dạ dày đầy thức ăn
thì diều ngừng co bóp
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 25- Tiêu hóa ở dạ dày
Dạ dày gia cầm gồm dạ dày tuyến và dạ dày cơ Thức ăn từ diều được chuyển vào
dạ dày tuyến, nó có dạng ống ngắn, vách dày, được nối với dạ dày cơ bằng một eo nhỏ
tuyến, có acid clohidric, enzyme và musin Sự tiết dịch dạ dày ở gia cầm là liên tục,
sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên Độ pH của dịch dạ dày ở gia cầm trung bình là 3,0
Độ pH sẽ giảm xuống sau khi tiếp nhận thức ăn giàu chất kiềm, cacbonat canxi, bột
xương Nguyễn Mạnh Hùng và ctv (1994), dịch vị tiết ra ở dạ dày tuyến (men enzyme
pepxin và clohydric) có độ pH = 3,1 - 4,5 Lượng dịch vị tiết ra sau khi ăn 30 phút của
gà là 11,3ml, nhiều nhất là một giờ sau khi ăn Dịch vị do dạ dày tuyến tiết ra sẽ theo
thức ăn xuống dạ dày cơ
ăn, trong dạ dày cơ thường có một lượng nhất định các hạt cát, sỏi nhỏ giúp cho việc
nghiền nát thức ăn dể dàng hơn khi dạ dày cơ co bóp Sự co bóp của dạ dày cơ diễn ra
có chu kỳ, bình quân cứ 20 - 30 giây co bóp một lần, khi đói nhịp co bóp chậm, khi no
co bóp nhanh lên Áp lực xoang dạ dày cơ khi co bóp tăng lên rất cao, đạt tới 140
mmHg ở gà (Nguyễn Đức Hưng, 2006) Ngoài việc thủy phân protein tạo thành
albumoza và pepton thì trong dạ dày cơ còn có quá trình phân giải hydratcacbon dưới
ảnh hưởng của vi khuẩn có trong thức ăn
- Tiêu hóa ở ruộtQuá trình tiêu hóa các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm Ở tátràng các chất được tiêu hóa và hấp thu với tốc độ mạnh dưới tác dụng của mật, tuyến
tụy và tuyến ruột Dịch mật được tiết ra từ gan, có màu xanh lá cây và sánh nhầy, trong
thành phần của nó chứa acid xtearic Tiêu hóa ở ruột già cũng có hai quá trình lên men
và thối rữa Lên men xảy ra mạnh ở manh tràng, thối rữa ở trực tràng Khi gia cầm ăn
nhiều thức ăn thực vật thô xơ thì quá trình lên men ở manh tràng khá mạnh làm cho
manh tràng phát triển
1.1.4.2 Quá trình hấp thu chất dinh dưỡng ở gia cầm
Hấp thu là quá trình vận chuyển chất dinh dưỡng được tiêu hóa đi xuyên quamàng nhầy ống tiêu hóa vào máu và bạch huyết Các chất dinh dưỡng được hấp thu
theo hai cơ chế khuyếch tán thẩm thấu và vận chuyển tích cực có tiêu tốn năng lượng
Ởgia cầm quá trình hấp thu chủ yếu xảy ra ở ruột non, nhờ các nhung mao tăng diện
tích hấp thu Ở đây các sản phẩm phân giải cuối cùng là protein, lipit, gluxit Các chất
chứa nitơ chủ yếu được hấp thu dưới dạng các acid amin Cường độ hấp thu các acid
amin riêng biệt không phụ thuộc vào khối lượng phân tử của chúng Ở gà thấy có sự
hấp thu một cách cạnh tranh giữa một số acid amin Việc hấp thu methionin ngừng lại
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 2618một thời gian ngắn khi có mặt phenialanin; sự hấp thu lơsin không bị thay đổi dưới tác
động của acid glutamic Các chất đồng phân riêng biệt của methionin được hấp thu
nhanh hơn Gluxit được hấp thu dưới dạng các đường đơn và đường đôi Khả năng hấp
thu đường ở gà được phát triển trong mười bốn ngày tuổi Glucose và galactose được
hấp thu nhanh hơn một cách đáng kể so với fructose và maltose
1.1.5 Nhu cầu dinh dưỡng gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng
1.1.5.1 Nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm
- Nhu cầu về năng lượngNăng lượng rất cần thiết cho việc duy trì các hoạt động, sinh trưởng và pháttriển của cơ thể Chính vì vậy cung cấp đầy đủ, cân đối và chính xác khẩu phần ăn cho
gia cầm thì yếu tố đầu tiên là mức năng lượng thích hợp trong khẩu phần Năng lượng
trong thức ăn được tiềm trữ trong các dạng vật chất của thức ăn đó như lipid, protein,
carbohydrate (Nguyễn Duy Hoan và ctv, 1999) Trong khẩu phần gia cầm, nguồn năng
lượng trước hết là carbohydrate, thứ đến là mỡ và cuối cùng là từ protein (Ewing
1963) Lượng năng lượng thừa so với nhu cầu sẽ tích lũy thành mỡ và một phần
chuyển thành nhiệt giải phóng ra ngoài Theo Nowland (1978), chi phí năng lượng
trong khẩu phần gia cầm khoảng 45 - 55 % tổng chi phí Mật độ năng lượng cho gà thịt
0 - 12 tuần tuổi khoảng 11,5 MJ ME/kg và cho gà broiler là 12,6 MJ ME/kg (Lê Đức
Ngoan, 2008) Năng lượng rất cần thiết cho sự sinh trưởng của mô bào, các hoạt động
và duy trì thân nhiệt Vì thế, năng lượng là “ngọn lửa của sự sống”
+ Nhu cầu năng lượng cho duy trìTheo Singh (1988), trong tổng số nhu cầu về năng lượng, năng lượng cho duytrì chiếm tỷ lệ cao hơn Năng lượng cho duy trì bao gồm năng lượng cho các hoạt động
bình thường và năng lượng cho trao đổi cơ bản
Nhu cầu năng lượng cho hoạt động bình thường phụ thuộc vào mức độ hoạtđộng của con vật Trong điều kiện nuôi dưỡng bình thường, nhu cầu năng lượng cho
hoạt động chiếm khoảng 50% so với nhu cầu năng lượng cho trao đổi cơ bản (Singh,
1988) Năng lượng trao đổi cơ bản là mức năng lượng cần thiết để đảm bảo sự sống,
được dùng trong các hoạt động như hô hấp, tuần hoàn của máu, hoạt động thần kinh
duy trì cường cơ, hoạt động của các cơ quan trong điều kiện không kích thích, năng
lượng để điều hòa thân nhiệt, sự biến dưỡng các mô, sự hấp thu và chuyên chở các hợp
chất trong cơ thể, sự thay thế các mô như biểu bì, tóc, móng, lông và sự sản xuất các
kích tố và enzyme (Dương Thanh Liêm, 2003)
Trong thực tiễn sản xuất, người ta thường tính nhu cầu năng lượng cho 1kg khốilượng trao đổi (W0,75), trị số khoảng 70 Kcal (15%) và ít biến động giữa các loài Đối
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 2719với gà, nhu cầu ME cho trao đổi cơ bản cho 1 kg thể trọng là 72 Kcal/ngày, còn cho
Trong đó: W là khối lượng cơ thể (kg)
+ Nhu cầu năng lượng cho sinh trưởng
Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1991), có thể tích nhu cầu năng lượng
cho tăng trọng theo công thức:
Pt (0,3 x 5,7 + 0,05 x 9,5)
0,82Trong đó:
Theo Hoàng Văn Tiến (1995), nhu cầu năng lượng gà thịt là:
ME = [105 + 4,6(25 – T)]Pm 0,75
+ 10,4L + 14,0PrTrong đó:
ME : Số Kcal ME cần thiết/con/ngày
Pm : Khối lượng trung bình (kg)
L : Lượng mỡ tích lũy (g/ngày)
Pr : Lượng protein tích lũy (g/ngày)
T : Nhiệt độ, nếu dưới 250C
Trang 28PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 29Theo MacLeod (1990), trong thời kỳ sinh trưởng, nhu cầu năng lượng của gia cầmrất khác nhau, không chỉ do sự thay đổi về tỷ lệ năng lượng chuyển thành nhiệt mà còn do
sự thay đổi về số lượng năng lượng được tích lũy và sự phân chia năng lượng tích lũy đó
trong protein và mỡ Khi mức năng lượng ăn vào cao, khoảng 85% năng lượng tích trong
mỡ và 15% năng lượng dự trữ trong protein Khi mức năng lượng ăn vào thấp, một lượng
mỡ cơ thể được huy động trong khi protein được tích lũy
+ Nhu cầu năng lượng cho sản xuất trứngTheo Singh (1988), nhu cầu năng lượng để sản xuất 1 quả trứng gà Leghorn là
86 Kcal ME Theo Nguyễn Mạnh Hùng và ctv (1994), nhu cầu năng lượng để sản xuất
1 quả trứng được tính theo công thức:
(P x 1,6)MEsxt =
0,8Trong đó:
P : Khối lượng của trứng (gam);
1,6 : Giá trị năng lượng của 1 gam trứng;
0,8 : Hiệu quả sử dụng năng lượng cho sản xuất trứng
- Nhu cầu protein và axit aminProtein là thành phần cấu trúc quan trọng nhất của cơ thể gia súc, gia cầm
Protein có những đặc tính mà các chất hữu cơ khác không có được Những đặc tính
này bảo đảm chức năng của protein như chất biểu hiện của sự sống Khác với lipit và
gluxit, trong cấu trúc của protein bao giờ cũng chứa nitơ (16%) Một số protein còn
chứa lượng nhỏ lưu huỳnh (S), đôi khi có chứa phốt pho (P) và một số các nguyên tố
vi lượng khác như sắt (Fe), kẽm (Zn), đồng (Cu), mangan (Mn)…
Trong cơ thể động vật nói chung và cơ thể gia cầm nói riêng, protein không thểtổng hợp từ lipit hay gluxit mà phải lấy protein từ thức ăn đưa vào hàng ngày với số
lượng đầy đủ và theo một tỷ lệ thích hợp theo nhu cầu của cơ thể (McDonald, 1988;
Singh, 1988; Vũ Duy Giảng và ctv, 2009)
Đối với gia cầm, protein có rất nhiều chức năng và là thành phần chính củaxương, dây chằng, lông, da, các cơ quan và cơ Do protein được sử dụng cho duy trì,
sinh trưởng và sản xuất nên nó được thường xuyên đưa vào cơ thể Nếu lượng protein
ăn vào thấp hơn nhu cầu thì độ sinh trưởng và điều kiện sống của các mô bào bị ảnh
hưởng, dẫn đến sự phát triển chậm các cơ quan cần thiết trong cơ thể
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 30+ Nhu cầu protein của gà thịt
Nhu cầu protein cho gà thịt bao gồm nhu cầu cho duy trì, cho tăng trưởng và cho tổng hợp lông Theo Singh (1988), nhu cầu protein tổng thể cho gà thịt là :
Pr (g)
0,64Trong đó:
+ Nhu cầu axit amin của gà thịt
Khả năng sinh trưởng của gia cầm liên quan mật thiết với hàm lượng các axitamin không thay thế trong khẩu phần Nếu các axit amin không thay thế trong khẩuphần thấp, gà sẽ giảm tốc độ sinh trưởng và hiệu quả chuyển đổi thức ăn Với các khẩuphần cùng lượng axit amin không thay thế, gà sẽ có cùng lượng axit amin ăn vào màkhông phải là cùng lượng năng lượng (Skinner và ctv, 1991) cho rằng khi gà được nuôidưỡng cùng mức axit amin không thay thế nhưng khác nhau về axit amin thay thế vànăng lượng thì gà sẽ tiêu tốn lượng thức ăn như nhau và tích lũy lượng protein nhưnhau Trong khẩu phần bổ sung cân đối axit amin không thay thế (methyonin, lysine)tuy mức protein thấp vẫn không ảnh hưởng đến gia cầm và nâng cao hiệu quả sản xuất(Đặng Thái Hải, 2007) Khi xác định nhu cầu các axit amin không thay thế trong khẩuphần của gà thịt thường dựa vào tỷ lệ tương đối của các axit amin so với lysine (vì
Trang 31PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 32lysine thường là axit amin giới hạn thứ nhất) (bảng 1.6).
Bảng 1.3 Nhu cầu axit amin không thay thế cho gà thịt
Axit amin
LyzinMethioninCystinIsolơxinTryptophanThreonin
(Nguồn: Larbier và Leelercq, 1993)
- Nhu cầu VitaminVitamin là các hợp chất hữu cơ tham gia trong mọi hoạt động sinh lý, sinh hóacủa cơ thể gà với quá trình xúc tác trong chuyển hóa các chất dinh dưỡng, các hoạt
động của các hocmon và enzym trong cơ thể Thừa hay thiếu vitamin đều có ảnh hưởng
đến sinh trưởng, sinh sản của gà Một số vitamin có liên quan trực tiếp với sức khỏe và
bảo vệ tổ chức, nhiều vitamin khác lại rất cần thiết cho trao đổi chất Trong chăn nuôi
gia cầm cần chú trọng các vitamin như: vitamin A, D, E, C và các vitamin nhóm B
Loại trừ các vitamin tan trong dầu mỡ, các vitamin dự trữ trong cơ thể rất ít, đặc biệt là
vitamin nhóm B và nhóm C (tan trong nước), nên cần phải cung cấp đầy đủ vitamin
trong khẩu phần ăn hàng ngày nhằm thỏa mãn nhu cầu của gia cầm Nhu cầu vitamin
của gà ở mỗi giai đoạn sinh trưởng là khác nhau, với các loại vitamin khác nhau thì
tương đương với các hàm lượng cần thiết cho gà cũng khác nhau Mọi sự thiếu hụt
vitamin đều dẫn đến rối loạn trao đổi chất, gây hại cho cơ thể động vật Đối với gia
cầm triệu chứng dễ phát hiện nhất khi thiếu vitamin là hiện tượng mổ lông nhau và nếu
không bổ sung kịp thời sẽ ảnh hưởng đến sức sống của gà thịt
- Nhu cầu về khoángKhoáng là thành phần chủ yếu của bộ xương, cấu tạo tế bào ở dạng muối của chúng Chất khoáng gồm nhóm đa lượng và vi lượng Gia cầm cần khoáng đa lượng và
vi lượng cho các hoạt động sống Vì vậy nếu thiếu khoáng gia cầm giảm sinh trưởng,
trường hợp thiếu nghiêm trọng gia cầm bị giảm sức khỏe và sức kháng bệnh Khẩu phần
ăn thiếu nguyên tố đa lượng hoặc vi lượng đều giảm khả năng tăng trọng, lượng thức ăn ăn
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 3323vào và hệ số chuyển đổi thức ăn của gia cầm Gia cầm ở từng giai đoạn sinh trưởng,
sản xuất khác nhau thì nhu cầu chất khoáng cũng khác nhau với một tỷ lệ rất thấp
1.1.5.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm
- Ảnh hưởng của di truyền giốngCác giống gia cầm khác nhau có khối lượng cơ thể, tốc độ sinh trưởng và năngsuất sản phẩm khác nhau do khả năng tiêu hóa, hấp thu cũng như quá trình trao đổi
chất của chúng khác nhau (Moral và Bilgilki, 1990; Han và Baker, 1993) Tùy theo
hướng sản xuất mà nhu cầu về các chất dinh dưỡng cho duy trì, sinh trưởng và sản
xuất khác nhau Giống gà nhẹ cân tiêu thụ ít thức ăn và ít năng lượng hơn so với gà có
tốc độ tăng trọng vừa Tăng trọng càng nhanh thì hiệu quả sử dụng thức ăn càng tốt bởi
phần thức ăn dành cho tăng trọng nhiều hơn Các giống gà khác nhau có phản ứng
khác nhau với mức protein và axit amin trong khẩu phần Gà có khối lượng cơ thể
càng lớn thì tiêu thụ thức ăn càng nhiều Gà có tốc độ tăng trọng cao đòi hỏi lượng
thức ăn ăn vào càng lớn Gà càng lớn thì chỉ số tiêu tốn thức ăn càng cao
- Ảnh hưởng của tính biệtTheo Singh (1988), quá trình trao đổi chất của gà trống và gà mái khác nhau
Con trống luôn có hệ số trao đổi chất cao hơn con mái Kết quả nghiên cứu của Bùi
Đức Lũng (1991) cho biết khối lượng cơ thể của gà trống cao hơn gà mái là 15 - 20 %
Lê Hồng Mận và ctv (1993) kết luận rằng gà trống và mái có quy luật sinh trưởng khác
nhau rõ rệt khi cùng nuôi khẩu phần có mức protein 24% và mức năng lượng 3100
Kcal/kg thức ăn
Theo Bùi Đức Lũng (1991), nhu cầu mức protein trong khẩu phần của gà máiluôn thấp hơn so với gà trống khi khẩu phần đó có cùng mức năng lượng Hàm lượng
protein trong khẩu phần nuôi gà trống phải trên 20% khi năng lượng trao đổi là 3220
Kcal/kg, trong khi đó mức protein để nuôi gà mái chỉ cần 16%
Mức năng lượng trong khẩu phần ảnh hưởng rất lớn đến tăng trọng của gà mái,trong khi đó ít ảnh hưởng đến tăng trọng của gà trống
- Ảnh hưởng của lứa tuổiNhu cầu các chất dinh dưỡng trong thức ăn của gà thịt trong quá trình phát triển
có khác nhau Nhu cầu năng lượng ngày càng tăng trong khi nhu cầu các chất dinh
dưỡng khác thì giảm dần theo lứa tuổi Vì có sự thay đổi về cấu trúc của cơ thể, gà
càng lớn nhu cầu năng lượng cho tăng trọng càng cao, trong khi đó nhu cầu protein
cho tăng trọng càng giảm
Gà càng lớn tuổi, khả năng tích lũy năng lượng so với mức thức ăn ăn vào của
gà càng giảm dần Kết quả nghiên cứu trên gà Plymouth Rock trắng cho thấy, hệ số
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 3424tích lũy năng lượng so với lượng thức ăn ăn vào ở giai đoạn đầu của gà trống là
46,71% và của gà mái là 40,64% ; Trong khi đó chỉ số này ở giai đoạn cuối lúc 56
ngày tuổi giảm xuống tương ứng còn 29,43% và 27,93% (Cheshmedzhiev, 1984)
- Ảnh hưởng của chất lượng thức ănChất lượng thức ăn và sự có mặt các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ảnhhưởng trực tiếp đến nhu cầu dinh dưỡng của gà Protein từ nguồn động vật có tỷ lệ tiêu
hóa và hấp thu tốt hơn so với nguồn protein từ thực vật Trong các loại thức ăn thực
vật, protein từ hạt nhiều dầu tốt hơn protein từ hạt ngũ cốc (Singh, 1988)
Các chất dinh dưỡng cần được đưa vào cơ thể với số lượng nhất định và theomột tỷ lệ hài hòa để đảm bảo sự hoạt động bình thường và nhịp nhàng của các cơ quan
chức năng Trong tất cả các chất dinh dưỡng, gia cầm luôn cố gắng tiếp nhận thức ăn
trước tiên là để đáp ứng nhu cầu năng lượng Năng lượng trong khẩu phần càng tăng,
mức thu nhận thức ăn của gà càng giảm và ngược lại nhưng tổng năng lượng ăn vào
gần như không đổi (Singh, 1988)
Khi protein trong khẩu phần được cung cấp đầy đủ và các axit amin đạt mứccân bằng chính xác thì tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn đạt mức cực
đại Khi khẩu phần thiếu một lượng nhỏ axit amin thì con vật có xu hướng ăn nhiều
hơn để thỏa mãn nhu cầu
Cân bằng các chất dinh dưỡng, đáp ứng đúng nhu cầu của gia cầm là biện pháptốt nhất để tăng năng suất sản phẩm và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn tốt nhất Trước
hết là khẩu phần đó có hàm lượng và tỷ lệ thích hợp giữa năng lượng và protein Tùy
theo giai đoạn phát triển của gia cầm mà giá trị dinh dưỡng của thức ăn cần có tỷ lệ
giữa năng lượng (Kcal) và % protein thô (ME/CP) khác nhau
- Ảnh hưởng của nhiệt độ môi trườngGia cầm là động vật đẳng nhiệt, thân nhiệt luôn ổn định mặc dù nhiệt độ môitrường có thể thay đổi lên xuống Thân nhiệt bình quân của gà trưởng thành dao động
từ 41,2 - 42,20C, cao hơn so với thân nhiệt của loài động vật có vú (36 - 390C) Gà con
mới nở có thân nhiệt thấp hơn 2 - 30C và đạt được thân nhiệt của gà trưởng thành sau 6
ngày tuổi do tích lũy lớp mỡ dưới da và phát triển bộ lông bao phủ có tác dụng cách
nhiệt Sự ổn định thân nhiệt của cơ thể gà được điều khiển bởi trung tâm điều hòa thân
nhiệt nằm ở vùng dưới đồi (hypothalamus) bằng hai quá trình sinh nhiệt và tỏa nhiệt
(Lê Văn Thọ và Đàm Văn Tiện, 1992)
Khi nhiệt độ môi trường tăng, nhu cầu năng lượng cho duy trì của gia cầmgiảm Mối liên quan đó được biểu thị theo phương trình:
MEm = 170 – (2,2 x T0C)
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 3525Trong đó:
MEm là nhu cầu năng lượng (Kcal/kg thể trọng/ngày)
T0C là nhiệt độ môi trườngKhoảng nhiệt độ tối thích đối với gà trưởng thành là 18 - 260C, gọi là vùngnhiệt độ trung bình Khi nhiệt độ môi trường cao hoặc thấp hơn khoảng nhiệt độ trên
đều gây bất lợi cho cơ thể và có thể gây cho quá trình điều hòa thân nhiệt khó khăn
Khi nhiệt độ chuồng nuôi dưới vùng trung bình, gia cầm phải ăn nhiều thức ăn để sinh
nhiệt, gây lãng phí thức ăn Khi nhiệt độ cao hơn vùng trung bình thì gà phải chịu hiện
tượng stress nhiệt
Theo Hurwitz (1980); Dale và Fuller (1980), ảnh hưởng nghiêm trọng nhất củastress nhiệt độ là làm giảm khả năng tiếp nhận thức ăn và dẫn đến giảm sức tăng trọng
của gà thịt Nếu nhiệt độ chuồng nuôi trong khoảng 21 – 30oC, cứ tăng 1oC thì lượng
ăn vào của gà giảm 1,5%, tương tự nhiệt độ chuồng nuôi trong khoảng 32 - 38oC, cứ
tăng 1oC thì lượng thức ăn giảm 4,6% Trong giai đoạn 3 - 8 tuần tuổi, mức tiêu thụ
thức ăn và tăng trọng của gà thịt giảm 0,12% cho mỗi 1oC tăng ngoài khoảng 21oC
(Han và Baker, 1993)
Theo Robert và Blaxter (1994), nếu gà 2 tuần tuổi tiêu thụ 0,045 lít/ngày ở nhiệt độ
210C thì chỉ số này tăng lên 0,064; 0,083 và 0,098 lít/ngày ở nhiệt độ tương ứng 27; 32 và
380C Gà giai đoạn 7 tuần tuổi tiêu thụ 0,212 lít/ngày ở nhiệt độ 210C thì lượng nước tiêu
thụ tăng lên 0,295; 0,382 và 0,466 lít/ngày ở nhiệt độ tương ứng 27; 32 và 380C
Điều kiện nhiệt độ cao, ẩm độ tương đối có ảnh hưởng lớn đến năng suất vàhiệu quả sử dụng thức ăn Ẩm độ tương đối trong khoảng 48 - 90% không ảnh hưởng
đến năng suất và khả năng chuyển hóa thức ăn của gà nếu nhiệt độ chuồng nuôi là
21oC Ngược lại, nếu nhiệt độ chuồng nuôi là 29 oC thì khi tăng độ ẩm từ 30% lên
70% đã ảnh hưởng xấu đến mức độ tăng trọng của gà thịt và năng suất trứng của gà đẻ
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm trên thế giới và trong nước
1.2.1.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm trên thế giới
Chăn nuôi gia cầm cũng như thương mại các sản phẩm gia cầm trên thế giớiphát triển khá mạnh trong những năm qua Sản lượng thịt và trứng gia cầm tăng nhanh
hơn sản lượng thịt trâu bò và thịt lợn Năm 2002, sản lượng thịt gia cầm thế giới chỉ
đạt 66,5 triệu tấn, thịt lợn là 93,2 triệu tấn, thịt trâu bò là 59,6 triệu tấn Năm 2011 sản
lượng của các loại thịt này tăng lên tương ứng là: 93,6; 110; 66 triệu tấn Sản lượng
thịt gia cầm năm 2002 chỉ bằng 71% sản lượng thịt lợn và 111% sản lượng thịt bò,
nhưng đến năm 2011 sản lượng thịt gia cầm tăng lên đáng kể bằng 85% sản lượng thịt
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 3626lợn và 142% sản lượng thịt trâu bò Sản lượng trứng gia cầm từ 57,6 triệu tấn năm
2002 lên 70,5 triệu tấn năm 2011 (FAO, 2015)
Theo số liệu của FAO (2015), tổng đàn gia cầm thế giới năm 2013 là 2396,90triệu con trong đó gà chiếm 21744,36 triệu con, vịt chiếm 1335,31 triệu con Tốc độ
tăng trưởng về số lượng gia cầm hàng năm của thế giới giai đoạn 2004 - 2013 đạt 2,54
%/mỗi năm (đồ thị 1.1) Chăn nuôi gia cầm có mặt ở hầu hết các nước và khu vực trên
toàn thế giới Tuy nhiên có sự khác nhau rất lớn về số lượng gia cầm ở các châu lục
trên thế giới cũng như tốc độ tăng trưởng ở các khu vực (bảng 1.4.)
Đồ thị 1.1 Số lượng gia cầm thế giới giai đoạn 2004 - 2013
Trang 3727Châu Âu
Châu Đại Dương
(Nguồn: http://faostat.fao.org, 2015)
Qua bảng 1.4 cho thấy, số lượng gia cầm lớn nhất là khu vực châu Á với 13959
triệu con năm 2013 (chiếm 58% so với tổng đàn của toàn thế giới); Tiếp theo là châu
Mỹ (chiếm 24%) và thấp nhất là châu Đại Dương (0,5%) Tốc độ tăng trưởng về số
lượng gia cầm ở châu Phi, châu Mỹ, châu Á, châu Âu, châu Đại Dương giai đoạn 2004
- 2013 lần lượt là 2,9%, 2,2%, 2,9%, 1,6%, 0,4% mỗi năm
1.2.1.2 Tình hình chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam
Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi gia cầm thế giới, ngành chăn nuôigia cầm Việt Nam trong những năm qua đã có những bước phát triển đáng kể Hàng
năm cung cấp khoảng 350 - 450 nghìn tấn thịt và hơn 2,5 - 3,5 tỷ quả trứng Mặc dầu
vậy, ngành chăn gia cầm của nước ta vẫn trong tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán, lạc
hậu, năng suất thấp, dịch bệnh nhiều, sản phẩm hàng hóa còn nhỏ bé Bình quân sản
lượng thịt xẻ, trứng/người chỉ đạt 4,5 - 5,4 kg/người/năm và 35 quả trứng/người/năm
(Cục chăn nuôi, 2007)
Chúng ta phải thừa nhận rằng ngành chăn nuôi gia cầm đã cung cấp một lượngthực phẩm lớn cho con người, cung cấp nguyên liệu cho các ngành chế biến thực
phẩm Góp phần tăng thu nhập nông hộ nhờ tận dụng nguồn thức ăn rẻ tiền, phụ phẩm
nông nghiệp, nguồn thức ăn sẵn có… Sau hơn 20 năm đổi mới ngành chăn nuôi gia
cầm đã có những bước phát triển đáng kể Qua số liệu thống kê cho thấy số lượng đàn
gia cầm của nước ta ngày càng tăng cụ thể: Năm 2002 là 233,3 triệu con, năm 2003 là
254,6 triệu con tăng 9,1 % so với năm 2002
Qua số liệu thống kê cho thấy số lượng đàn gia cầm của nước ta biến đổi hằngnăm Cụ thể như sau: Giai đoạn 2004 - 2006 số lượng gia cầm đã giảm đi đáng kể, cụ
thể năm 2004: 218,2 triệu con, năm 2005: 219,9 triệu con, năm 2006: 214,6 triệu con,
nguyên nhân do dịch bệnh có diễn biến phức tạp và ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm
H5N1 (Cục chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011)
Giai đoạn 2007 - 2011 số lượng đàn gia cầm tăng trở lại từ 226 triệu con năm
2007 tăng lên 322,6 triệu con năm 2011 Tốc độ tăng trưởng của giai đoạn này là 8,5%
mỗi năm, tăng trưởng năm 2011 so với cùng kỳ năm 2010 là 12,5% (FAO, 2015) Tốc
độ tăng trưởng bình quân của cả giai đoạn 2002 - 2013 là 3,42% mỗi năm
Giai đoạn 2011 – 2013 số lượng gia cầm có những ít biến đổi, có sự chững lại
Cụ thể là năm 2012 số lượng gia cầm là 308,5 triệu con và năm 2013 là 314,7 triệu
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 3828con Lý do là giai đoạn này giá thức ăn tăng cao, giá vật nuôi giảm nên người chăn
đó chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn chiếm ưu thế Tỷ trọng của ngành chăn nuôi đóng góp vào
GDP là 1,5% (chăn nuôi gia cầm chăn thả đóng góp khoảng 75% đàn gia cầm) Gia
cầm chăn thả nhỏ lẻ chiếm 2/3 sản lượng, 1/2 thị trường và có tầm quan trọng rất lớn
trong chiến lược sinh kế của người dân nông thôn (Vũ Chí Cương và ctv, 2010)
Theo Cục chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011), Phươngthức chăn nuôi nhỏ lẻ nông hộ gia đình vẫn chiếm 68,5% ở gà và chăn nuôi vịt thả
đồng chiếm 73,6% đang là nguy cơ lây lan phát tán mầm bệnh Chăn nuôi công nghiệp
và bán công nghiệp chỉ chiếm 31,5% ở gà và 26,4% ở vịt Chăn nuôi công nghiệp có
thể cho sản lượng thịt cao nhưng do công tác vệ sinh phòng dịch chưa được người
chăn nuôi chú trọng, công tác kiểm dịch chưa được triển khai thực hiện tốt ở nông thôn
nên còn gặp phải nhiều khó khăn Tình hình dịch bệnh vẫn xảy ra thường xuyên và đe
dọa sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam (Phùng Đức Tiến
Trang 3929con, thứ hai là Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung với 65,48 triệu con, ít nhất là
khu vực Tây Nguyên chỉ 14,37 triệu con (bảng 1.5).
Tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2004 - 2013 cao nhất là ở Tây Nguyên7%/năm Trong khi đó ở đồng bằng sông Hồng chỉ 3,4%/năm (khu vực luôn có số
lượng gia cầm lớn nhất nước); Đông Nam bộ 1,8% năm; Đồng bằng sông Cửu Long
3,3%/năm; Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung 3,9%/năm; Trung du và miền núi
Bắc Trung bộ và Duyênhải miền Trung
Tây NguyênĐông Nam bộĐồng bằngsông Cửu Long
(Nguồn: http://www.gso.gov.vn, 2015)
1.2.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng thảo dược trong chăn nuôi
1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên gia cầm, có rất nhiều nghiên cứu sử dụng thảo dược bổ sung vào thức ăncải thiện năng suất sản xuất hay tăng trọng không đổi nhưng giảm thức ăn ăn vào từ đó
cải thiện được hệ số tiêu tốn thức ăn Dĩ nhiên, tỷ lệ cải thiện năng suất khi bổ sung
thảo dược vào khẩu phần có thay đổi tùy thuộc vào nhiều yếu tố như sự chọn lựa thảo
dược phối trộn, thành phần các chất trong thảo dược hay liều lượng sử dụng
Tipakorn (2002) đã chứng minh bổ sung xuyên tâm liên vào thức ăn gà thịt tạiThái Lan không có sự khác biệt về tăng trọng hàng ngày, hệ số chuyển hóa thức ăn
giữa các lô thí nghiệm bổ sung xuyên tâm liên với tỉ lệ khác nhau và lô sử dụng kháng
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 4030sinh chlotetracycline Tuy nhiên, tỉ lệ chết giảm một cách có ý nghĩa ở mức bổ sung
0,4% xuyên tâm liên so với các lô khác
Jamroz và ctv (2003) đã thí nghiệm nghiên cứu bổ sung hỗn hợp chất chiết từcapsaisin, cinnamaldehyde và carvacrol với liều 150 ppm và 300 ppm cho gà thịt Kết
quả cho thấy khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng của gà sử dụng hỗn hợp thảo dược
này rất tốt, dẫn đến cải thiện khối lượng từ 5,4 đến 8,1% và tỷ lệ thịt xẻ đạt cao tương
đương với gà sử dụng kháng sinh avilamycin để kích thích sinh trưởng và làm cân
bằng hệ vi sinh đường ruột, làm giảm sự bài thải vi khuẩn có hại (E.coli và
C.perfringens) ra môi trường.
Hernández và ctv (2004) đã tiến hành 2 thí nghiệm pha trộn nhiều loại chấtchiết thảo dược với nhau trên gà thịt (oregano, cây quế và tiêu với liều 200 mg/kg; cây
ngải đắng, cỏ xạ hương và cây hương thảo với liều 5000 mg/kg) và kết luận rằng các
hỗn hợp thảo dược có tác dụng kích thích tiêu hóa và cải thiện năng suất đáng kể, tuy
nhiên sự sai khác không có ý nghĩa thống kê
Thí nghiệm ảnh hưởng của việc bổ sung hỗn hợp tinh dầu, axit hữu cơ và probiotictrên năng suất và tỷ lệ thân thịt của gà thịt của Alcicek và ctv (2004) cho thấy bổ sung hỗn
hợp tinh dầu đã cải thiện tăng trọng, thức ăn ăn vào, hệ số chuyển hóa thức ăn, tỷ lệ thịt xẻ
và trọng lượng phủ tạng của gà thí nghiệm tại thời điểm 42 ngày tuổi
Jamroz và ctv (2005) đã sử dụng khẩu phần bắp - đậu nành và khẩu phần lúa mì
- lúa mạch để đánh giá sự ảnh hưởng của capsaisin, cinnamaldehyde và carvacrol đến
năng suất của gà trống thịt Tác giả kết luận rằng tiêu tốn thức ăn cải thiện 4,2% khi
dùng khẩu phần bắp - đậu nành và 2,0% khi dùng khẩu phần lúa mì - lúa mạch
Mathivanan và ctv (2006) nghiên cứu sử dụng Xuyên tâm liên như chất thay thếkháng sinh kích thích tăng trưởng trong chăn nuôi gà thịt ở Ấn độ Kết quả thí nghiệm
cho thấy hệ số chuyển hóa thức ăn ở lô bổ sung Xuyên tâm liên (2g/ kg) cải thiện 0,2%
so với lô bổ sung kháng sinh virginiamycin và lô đối chứng không bổ sung bột Xuyên
tâm liên tại thời điểm 6 tuần tuổi
Cabuk và ctv (2006) đã thí nghiệm về sự ảnh hưởng của việc bổ sung hỗn hợptinh dầu gồm tinh dầu cây kinh giới (oregano oil), lá cây nguyệt quế (laurel leaf oil), lá
cây ngải đắng (sage leaf oil), lá cây mía (myrtle leaf oil), hạt cây thì là (fennel seed oil)
và vỏ cam quýt (citrus peel oil) vào khẩu phần gà thịt từ hai đàn bố mẹ có lứa tuổi
khác nhau 30 tuần tuổi và 80 tuần tuổi Kết quả cho thấy không có sự khác nhau có ý
nghĩa về tăng trọng của gà thịt của 2 đàn bố mẹ đó Tuy nhiên bổ sung hỗn hợp tinh
dầu này đã giảm thức ăn ăn vào và cải thiện đáng kể về chỉ tiêu hệ số chuyển hóa thức
ăn Đàn gà thịt từ đàn bố mẹ trẻ có hệ số chuyển hóa thức ăn tốt hơn đàn từ bố mẹ già
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm