Thời gian qua, Chi cục Thuế quận 12, thuộc Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, về thu thuế thu nhập doanh nghiệp của cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng
Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp để nâng cao sự tuân thủ thuế của các DNNVV thuộc sự quản lý tại chi cục thuế quận 12
- Phân tích và đánh giá thực trạng tuân thủ thuế của các DNNVV tại Chi cục Thuế Quận 12.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao sự tuân thủ thuế thu nhập doanh nghiệp của cácDNNVV tại Chi cục Thuế Quận 12.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp diễn dịch, quy nạp sử dụng để hệ thống hóa cơ sở lý luận về sự tuân thủ thuế của các DNNVV tại các chi cục thuế.
Hệ thống phương pháp thống kê (số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân và các hình thức trình bày số liệu thống kê như: Bảng thống kê, biểu đồ) sử dụng để phân tích và đánh giá thực trạng sự tuân thủ thuế của các DNNVV tại các chi cục thuế quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để đề xuất các giải pháp nâng cao sự tuân thủ thuế thuế thu nhập doanh nghiệp của các DNNVV tại Chi cụcThuế Quận 12, TP.HCM.
Tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan
5.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Có nhiều nghiên cứu về tuân thủ thuế trên Thế giới, dưới đây khảo lược một số nghiên cứu nước ngoài cơ bản có liên quan đến đề tài:
1 Hauptman et al (2014) thực hiện nghiên cứu “Cải thiện các dịch vụ quản lý thuế như là một nhân tố của việc tuân thủ luật thuế”: Trường hợp kiểm tra thuế” tại Slovenia Theo nghiên cứu này, trốn thuế xuất phát từ hoạt động kinh tế ngầm và báo cáo không đầy đủ về thu nhập trong các bản khai thuế, dẫn đến phân phối lại không chủ định từ những người tôn trọng các quy tắc đối với những người không tôn trọng quy tắc đó và gây ra cạnh tranh không lành mạnh giữa các bên chính thức và phi chính thức, làm suy yếu hơn đạo đức thuế và có thể dẫn đến trốn thuế nhiều hơn Do đó, giảm tình trạng trốn thuế và cải thiện việc tuân thủ thuế là rất quan trọng Mục tiêu của cơ quan thuế là thu toàn bộ số thuế và thuế phải nộp theo luật định Cơ quan thuế nên nhắm vào giảm khoảng cách về thuế, đồng thời giảm thiểu chi phí quản lý thu thuế cho chính phủ (chi phí thu) và đóng thuế cho người nộp thuế (chi phí tuân thủ) Điều này có thể được thực hiện bằng cách áp dụng các chính sách nhằm tạo điều kiện và kích thích tuân thủ “tự nguyện”, ngăn chặn và làm nản chí các ý định trốn thuế, phát hiện và chống gian lận thuế, thực thi tuân thủ cũng như thu nhập có hiệu quả các khoản thuế đến hạn và còn thiếu Các chính sách này được liên kết với nhau: tạo điều kiện cho việc tuân thủ tự nguyện làm giảm nhu cầu thực thi, trong khi chính sách thực thi có hiệu quả sẽ đóng góp vào sự tuân thủ tự nguyện hơn Nói chung, các chính sách nhằm tăng cường sự tuân thủ tự nguyện sẽ có tác động tích cực đến giảm gánh nặng hành chính, trong khi ngược lại có thể là các chính sách cưỡng chế Tuy nhiên, một chính sách quản lý thuế cần phải bao gồm cả hai Thách thức là phải cân bằng hai yếu tố này.
2 Jepkoech and Muya (2016) thực hiện nghiên cứu “Đánh giá tác động về nhận thức của người nộp thuế về thanh toán thuế và kiểm tra thuế đối với sự tuân thủ thuế trong số các cửa hàng lớn và đại siêu thị trong Quận kinh doanh trung tâm Eldoret (CBD)” tại Kenya Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá các nhân tố của tuân thủ thuế trong các cửa hàng lớn và đại siêu thị tại CBD Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là đánh giá tác động nhận thức của người nộp thuế đối với việc thanh toán thuế và xác định tác động của kiểm tra thuế đối với việc tuân thủ thuế. Các phát hiện của nghiên cứu cho thấy rằng nhận thức của người đóng thuế về thanh toán thuế có tác động tích cực đến việc tuân thủ thuế trong khi KTT tiêu cực không đáng kể lên việc tuân thủ thuế hay nói cách khác đi là có tác động ngược chiều Nghiên cứu kết luận rằng, nhận thức về sự công bằng trong thanh toán thuế có ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế, trong khi kiểm tra thuế ảnh hưởng không đáng kể đến việc tuân thủ thuế.
Tóm lại: Vấn đề tuân thủ thuế đã được nhiều học giả, các nhà nghiên cứu trên Thế giới thực hiện Tuân thủ thuế thể hiện sự quan tâm không chỉ của Nhà nước trong việc đạt được mục tiêu thu thuế, còn là sự quan tâm của nhà nghiên cứu khoa học để góp phần đảm bảo sự công bằng về thuế trong kinh doanh Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế được khảo lược ở trên tập trung vào các yếu tố như nhận thức của người nộp thuế, công tác kiểm tra thuế của cơ quan thuế, chính sách cưỡng chế thuế, thuế suất, sự sẵn có của thông tin thuế, chi phí tuân thủ thuế, thái độ của người nộp thuế, giáo dục thuế về cơ chế thuế tự đánh giá, ưu đãi thuế.
5.2 Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp đang được quan tâm nhiều hơn nhưng các nghiên cứu về tuân thủ thuế trong các DNNVV tại Việt Nam chưa có nhiều Dưới đây đề cập đến một số nghiên cứu tác giả thu thập:
1 Võ Thanh Sang (2015), luận văn thạc sỹ đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát thuế TNDN tại Chi cục Thuế quận 6, TP.HCM” Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, xử lý nguồn dữ liệu thu thập được từ quá trình khảo sát dưới hình thức phỏng vấn các Cán bộ thuế, kiểm định các giả thuyết đã đặt ra trong mô hình nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ tuân thủ thuế của người nộp thuế chịu tác động của 2 nhân tố chính là "Kiểm soát thuế” và “Tin cậy” trong đó “Kiểm soát thuế” có tác động mạnh nhất Những khuyến nghị: Ưu tiên cải thiện các nhân tố này góp phần nâng cao mức độ tuân thủ thuế của người nộp thuế
Tuy nhiên, nghiên cứu có một số hạn chế : (1) Nghiên cứu chỉ thực hiện trên phạm vi các doanh nghiệp thuộc địa bàn quận 6, TP.HCM do Chi cục Thuế quận 6 quản lý trực tiếp nên sự bao quát và tính đại diện chưa cao; (2) Nghiên cứu chỉ đánh giá được mức độ tuân thủ của người nộp thuế.
2 Phan Thị Mỹ Dung và Lê Quốc Hiếu (7/2015, đăng trên Tạp chí Tài chính, 2) thực hiện nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của các doanh nghiệp” trên địa bàn TP.HCM Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, đã xác định được các yếu tố ảnh hưởng và mức độ của từng yếu tố đến sự tuân thủ thuế của người nộp thuế Đồng thời, đã khuyến nghị cách ứng xử phù hợp, hiệu quả trong thực tiễn điều hành quản lý thuế Tuy nhiện, nghiên cứu chỉ tập trung vào doanh nghiệp nói chung, chưa đi sâu vào sự tuân thủ thuế của DNNVV. Thêm nữa, nghiên cứu chủ yếu dựa trên các dữ liệu sơ cấp là chủ yếu trong khi dữ liệu thứ cấp từ thực tiễn phát sinh lại chưa được phân tích đầy đủ để đánh giá thực trạng.
3 Bùi Ngọc Toản (2017, nguồn Tạp chí Khoa học – Đại học Huế, 126 (5A), 77-78) với chủ đề “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập của doanh nghiệp” Nghiên cứu thực nghiệm trên địa bàn TP.HCM” Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, đã xác định được các yếu tố ảnh hưởng và mức độ của từng yếu tố đến sự tuân thủ thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp nộp thuế Kết quả nghiên cứu cho thấy có 7 nhân tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp gồm: (1) Đặc điểm của cơ quan thuế; (2) Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp; (3) Yếu tố xã hội; (4) Yếu tố kinh tế; (5) Đặc điểm tâm lý của doanh nghiệp; (6) Yếu tố pháp luật, chính sách về thuế; (7) Đặc điểm ngành Tuy nhiên, tác giả chưa chỉ ra sự khác biệt về sự tuân thủ thuế của nhóm doanh nghiệp lớn với nhóm DNNVV Thêm nữa việc phân tích theo địa bàn quận huyện chưa được đề cập.
4 Lý Phương Duyên (2017, đăng trên Tạp chí Quản Lý Kinh tế, 1(65), 50-57) nghiên cứu đề tài “Quản lý thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay” tại Việt Nam Tác giả đã phân tích đặc điểm của DNNVV và những tác động đối với quản lý thuế Tác giả làm rõ mối quan hệ giữa cơ quan quản lý với đối tượng bị quản lý và chỉ ra các nội dung cơ bản của quản lý thuế nói chung, quản lý thuế đối với DNNVV nói riêng, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế Tuy nhiên, nghiên cứu này thiếu các số liệu chi tiết minh chứng cho sự hạn chế trong quản lý thuế và sự tuân thủ thuế của đối tượng DNNVV.
Tóm lại: Khảo lược các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy nghiên cứu về sự tuân thủ thuế được thực hiện khá nhiều, các lý thuyết nền tảng hỗ trợ cho các nghiên cứu cũng không ngừng được phát triển Tuy nhiên, các nghiên cứu thường ở dạng hàn lâm và khái quát cho một phạm vi nghiên cứu rộng ở mức độ ngành và quốc gia Bên cạnh đó, vẫn có nhiều nghiên cứu tuân thủ thuế của doanh nghiệp tại một địa phương, nhưng khác nhau về đặc điểm doanh nghiệp, địa lý và chính sách quản lý, nên sự tuân thủ thuế có sự khác biệt, vì vậy đây được xem là lỗ hỏng cho các nghiên cứu tiếp theo, trong đó có đề tài của tác giả Thêm nữa, nghiên cứu về sự tuân thủ thuế của DNNVV trên địa bàn quận 12, theo khảo sát của tác giả chưa có công trình nào được công bố, nên chủ đề nghiên cứu của tác giả trong luận văn này không trùng lắp với các nghiên cứu trước có liên quan hoặc về không gian hoặc về thời gian hoặc về nội dung Đồng thời, các nghiên cứu trước có liên quan, tác gia có thể kế thừa khung lý thuyết và rút ra các bài học kinh nghiệm về quản lý thuế choChi cục Thuế quận 12, TP.HCM.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu trong luận văn cung cấp bằng chứng về thực trạng tuân thủ thuếTNDN của DNNVV tại Chi cục Thuế quận 12, TP.HCM là tài liệu tham khảo cho các đối tượng quan tâm như học viên, sinh viên…và đặc biệt với các nhà quản lý của Chi cục Thuế quận 12, các quận huyện khác, cũng như Cục thuế TP.HCM.
Kết cấu đề tài luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của Luận văn gồm 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về sự tuân thủ thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nội dung chương này sẽ trình bày tổng quan về thuế, về DNNVV; sự tuân thủ thuế của DNNVV; ý nghĩa của việc nâng cao sự tuân thủ thuế đối với doanh nghiệp nộp thuế; Kinh nghiệm về sự tuân thủ thuế ở một số nước và bài học đối với Chi cục Thuế Quận 12- Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 2: Thực trạng tuân thủ nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục Thuế Quận 12 – Cục thuế Thành Phố Hồ Chí Minh.
Trong chương này sẽ giới thiệu về Chi cục thuế Quận 12; thực trạng thu thuế và tuân thủ thuế TNDN của DNNVV tại Chi cục Thuế Quận 12 Đánh giá kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.
Chương 3: Giải pháp nâng cao sự tuân thủ thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục Thuế quận 12.
Nội dung chương này sẽ trình bày định hướng hoạt động của Chi cục ThuếQuận 12- Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Mính và giải pháp nâng cao sự tuân thủ thuế của DNNVV trên địa bàn và những kiến nghị cần thiết với các đối tượng có liên quan để các giải pháp được khả thi, hiệu quả.
LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ NGHĨA VỤ NỘP THUẾ TNDN ĐỐI VỚI
Lý luận về thuế
Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước và sự phát triển tồn tại của nền kinh tế hàng hóa, tiền tệ Nhà nước sử dụng thuế như một công cụ để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình Lịch sử càng phát triển, các hình thức thuế khoá và pháp luật thuế ngày càng đa dạng và hoàn thiện cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, các khoản đóng góp của người dân cho Nhà nước được xác định và được quy định công khai bằng luật pháp của Nhà nước.
Có rất nhiều các quan điểm nhìn nhận thuế dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng đứng trên góc độ tài chính, có thể xem xét thuế dưới khái niệm như sau:
“Thuế là các khoản thu có tính chất bắt buộc mà các đơn vị kinh tế, các tổ chức, cá nhân bắt buộc phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
Thuế là nguồn thu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu của NSNN Thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân đối với đất nước" (PGS TS Nguyễn Đăng Dờn, 2017)
- Là nguồn thu chủ yếu của NSNN Đây là vai trò đầu tiên của thuế Mỗi loại thuế Nhà nước ban hành điều nhằm vào mục đích là tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước.
Nguồn thu vào Ngân sách Nhà nước bao gồm nhiều loại, nhưng thuế là nguồn thu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu Ngân sách Nhà nước.
- Công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội
Thuế không chỉ là công cụ tài chính nhằm huy động khoản thu chủ yếu cho Nhà nước, thuế còn được Nhà nước sử dụng điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội, hướng nền kinh tế phát triển theo cơ cấu được xác định, đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các vùng, miền, trên cơ sở khai thác mọi nguồn lực sẵn có Bên cạnh đó, thuế cũng góp phần ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát.
Chính sách thuế góp phần định hướng đầu tư trong nước, thu hút đầu tư từ nước ngoài, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhà nước thông qua thuế suất, các ưu đãi thuế, miễn giảm thuế, … khi đầu tư mới theo vùng lãnh thổ hay ngành kinh tế Từ đó góp phần vào việc tái cấu trúc nền kinh tế theo ngành và vùng lãnh thổ giúp phân bổ hợp lý các nguồn lực kinh tế xã hội.
Thông qua thuế suất, miễn giảm thuế hay quy định về các trường hợp chịu thuế, không chịu thuế Chính sách thuế có thể khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh ngành nghề hoặc sản phẩm nào đó, góp phần vào việc xác lập quan hệ cân đối giữa cung – cầu hàng hóa, dịch vụ và tác động đến cân bằng thị trường.
- Công cụ điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội
Thông qua chính sách thuế Nhà nước, thiết lập sự công bằng tương đối trong xã hội, thực hiện điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư vốn bị phân hóa khi phát triển nền kinh tế thị trường, tạo sự công bằng xã hội Nếu không có sự can thiệp của Nhà nước, để thị trường tự điều chỉnh thì sự phân phối của cải và thu nhập sẽ mang tính tập trung rất cao: một số ít người sẽ giàu lên nhanh chóng, đa số người dân còn lại có mức thu nhập thấp Thực tế, sự phát triển của một đất nước là kết quả nỗ lực của cả một cộng đồng, sẽ không công bằng nếu không chia sẻ thành quả phát triển kinh tế cho mọi người, bởi vậy cần có sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình phân phối thu nhập, sự can thiệp này đặc biệt hiệu quả bằng cách sử dụng công cụ thuế.
1.1.3 Các yếu tố cơ bản hợp thành luật thuế
Hệ thống thuế gồm nhiều luật thuế với nội dung và phạm vi khác nhau, nhưng các luật thuế đều có những yếu tố cấu thành cơ bản sau:
- Tên gọi của luật thuế Đây là yếu tố không thể thiếu của bất kỳ loại thuế nào để phân biệt giữa các loại thuế Tên gọi xác định chính thức một loại thuế được ban hành.
- Đối tượng đánh thuế (đối tượng để xác định mức thuế phải nộp) Đối tượng đánh thuế là mục tiêu tác động của thuế Thông thường đối tượng đánh thuế là các hàng hóa, dịch vụ, thu nhập hay tài sản.
- Đối tượng không chịu thuế Đối tượng không chịu thuế không là mục tiêu tác động của thuế Đối tượng không thuộc diện chịu thuế thường là các hàng hóa, dịch vụ, thu nhập hay tài sản được liệt kê trong danh sách các đối tượng không thuộc diện chịu thuế do luật thuế quy định.
Người nộp thuế là các tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm phải nộp thuế theo luật định Tùy thuộc vào tính chất trực thu hay gián thu của thuế, người nộp thuế có thể là người chịu thuế hay chỉ là người có trách nhiệm pháp lý phải nộp khoản tiền thuế đã nhận của người chịu thuế vào Kho bạc Nhà nước
Mỗi loại thuế có căn cứ tính thuế khác nhau Tuy nhiên, các luật thuế đều căn cứ vào: Thuế suất và giá trị của đối tượng chịu thuế.
Thuế suất là mức thu quy định theo tỷ lệ phần trăm của nhà nước, là một trong các căn cứ tính thuế Mỗi loại thuế có biểu thuế với các mức thuế suất khác nhau, nhằm thực hiện yêu cầu của nhà nước đặt ra cho một loại thuế.
Số thuế được miễn hoặc giảm, thực chất là số phải nộp nhưng được để lại cho người nộp thuế, như vậy yếu tố này hoàn toàn khác với trường hợp không chịu thuế quy định trong luật thuế.
Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp
Theo Luật doanh nghiệp tại Việt Nam (Luật số: 68/2014/QH13): Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh – tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
1.2.1.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tại Việt Nam, theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) Cụ thể như sau:
Bảng 1.1: Phân loại DNNVV theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP
DN siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động Tổng nguồn Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động vốn
I Nông, lâm 10 người 20 tỷ đồng trở từ > 10 người từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp, thủy sản trở xuống xuống đến 200 người đồng-100 tỷ đồng đến 300 người
II Công nghiệp 10 người 20 tỷ đồng trở từ >10 người- từ > 20 tỷ đồng - từ trên 200 và xây dựng trở xuống xuống 200 người 100 tỷ đồng đến 300 người
III Thương mại 10 người 10 tỷ đồng trở từ >10 người - 50 từ trên 10-50 tỷ từ trên 50 và dịch vụ trở xuống xuống người đồng đến 100 người
Nghị định 39/2018/NĐ: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn, số lao động tham gia bảo hiểm xã hội (Tổng nguồn vốn được xác định trong bảng cân đối kế toán thể hiện trên Báo cáo tài chính của năm trước liền kề mà doanh nghiệp nộp cho cơ quan quản lý thuế hoặc tổng doanh thu của năm là tổng doanh thu bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp và được xác định trên Báo cáo tài chính của năm trước liền kề mà doanh nghiệp nộp cho cơ quan quản lý thuế và số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân được tính bằng tổng số lao động tham gia bảo hiểm xã hội của các tháng hoạt động chia cho số tháng hoạt động) (tổng doanh thu và số lao động tham gia bảo hiểm là tiêu chí ưu tiên) (Chính phủ, 2018), cụ thể như sau:
Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao Tổng Tổng Số lao Tổng Tổng Số lao Tổng Tổng động nguồ doanh động nguồn doanh động nguồ doanh tham n vốn thu của tham gia vốn thu của tham n vốn thu gia bảo (Tỷ năm bảo (Tỷ năm gia bảo (Tỷ của hiểm đồng) (Tỷ hiểm đồng) (Tỷ hiểm đồng) năm
(Người đồng) (Người) đồng) (Người (Tỷ
I Nông, lâm < 10 < 3 < 3 < 100 < 20 < 50 < 200 < 100 < 200 nghiệp và thủy sản
II Công nghiệp < 10 < 3 < 3 < 100 < 20 < 50 < 200 < 100 < 200 và xây dựng
III Thương mại < 10 < 3 < 10 < 50 < 50 < 100 < 100 < 100 < 300 và dịch vụ
(Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP)
1.2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
DNNVV chiếm số lượng đông đảo, rất đa dạng về ngành nghề và quy mô, có một số đặc điểm nổi bật dễ nhận thấy như sau:
Thứ nhất , DNNVV có quy mô vốn và năng lực tài chính thấp.
25 Đây là đặc điểm nổi bật nhất của các DNNVV Các DNNVV có quy mô vốn ban đầu thấp, cho nên khả năng huy động vốn theo đó cũng không cao, thiếu vốn và khó tiếp cận các nguồn vốn chính thức (khó khăn trong tiếp cận tín dụng ngân hàng) Dễ khởi nghiệp nhưng chịu rất nhiều rủi ro trong kinh doanh.
Do vốn ban đầu thấp cũng ảnh hưởng đến quy mô đầu tư trang thiết bị của
DN, khả năng đầu tư chiều sâu,…và nhiều yếu tố khác.
Thứ hai , DNNVV sử dụng công nghệ và thiết bị lạc hậu. Đặc điểm trên cũng xuất phát từ quy mô vốn thấp của các DNNVV Việc đầu tư nâng cấp công nghệ và thiết bị hiện đại rất khó khăn, nên thường sử dụng công nghệ và thiết bị lạc hậu, khó tiếp cận và đổi mới công nghệ sản xuất tiên tiến, nhất là công nghệ sản xuất xanh.
Thứ ba , trình độ quản lý còn thấp.
Phong cách điều hành theo kiểu gia đình và hay xung đột về sở hữu Các nhà quản lý DNNVV thường chưa được đào tạo bài bản về chuyên môn, nghiệp vụ, thiếu hiểu biết đầy đủ về quản trị doanh nghiệp, dẫn đến nhiều giám đốc doanh nghiệp không lập được kế hoạch tài chính, không xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh khả thi, hiệu quả… Ngoài ra, chất lượng nguồn lao động của các DNNVV được đánh giá không cao.
Thứ tư , khả năng tiếp cận thông tin và nghiên cứu thị trường còn hạn chế.
Việc thiếu những thông tin về nhu cầu thị trường, về thiết bị, nguyên vật liệu,
… đã khiến cho sức cạnh tranh của các DNNVV yếu hơn các doanh nghiệp lớn. Hơn nữa, do thiếu thông tin khiến cho quá trình sản xuất kinh doanh không được định hướng chính xác.
Thứ năm , DNNVV có nhiều lợi thế, thể hiện: (1) Cơ cấu tổ chức đơn giản, bộ máy quản lý gọn nhẹ, số lượng nhân viên ít Đây là lợi thế giúp DNNVV linh hoạt, dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường, khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh, thường lựa chọn các ngành kinh doanh có lợi nhuận cao, có khả năng sáng tạo cao và thường là thành viên chính của công nghiệp phụ trợ.
1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
DNNVV có một vai trò hết sức quan trọng trong bất kỳ nền kinh tế nào Đối với các nước đang phát triển DNNVV càng có vai trò quan trọng hơn Đây chính là
26 động lực giúp nền kinh tế phát triển một cách năng động (Vương Đức Hoàng Quân , 2015).
Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế là không thể phủ nhận và được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Huy động nguồn vốn hiệu quả nguồn vốn trong dân cư, đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt với khu vực nông thôn
Các DNNVV mang tính tư hữu cao, chủ yếu do các cá nhân có vốn tự đầu tư hoặc góp vốn cùng nhau kinh doanh ở bất kỳ nơi đâu, bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào với quy mô thường không lớn, nên có khả năng huy động các nguồn vốn tiết kiệm từ người thân, bạn bè, cho hoạt động kinh doanh của mình Bên cạnh đó, việc phát triển rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, từ những khu vực có điều kiện thuận lợi đến các địa bàn vùng sâu, vùng xa, do đó nên có thể tận dụng mọi nguồn lực lao động ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng giá trị xuất khẩu và làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng của nhà nước.
Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, góp phần ổn định xã hội
DNNVV tạo công ăn, việc làm, giải quyết một số lượng lớn chổ làm việc và làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo ở cả khu đô thị v à các vùng nông thôn, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong dân cư, đặc biệt là lao động thiếu kỹ thuật Thêm vào đó, đa số DNNVV không đòi hỏi nhân công có trình độ chuyên môn cao, nên tận dụng nguồn nhân lực tại địa phương với chi phí lao động thấp.
Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Sự ra đời và phát triển của các DNNVV tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các DNNVV với nhau và giữa DNNVV với doanh nghiệp lớn, làm tăng tính mềm dẻo, linh hoạt, buộc các DN phải tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường.
DNNVV làm vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn và là tiền đề hình thành các doanh nghiệp lớn
Các DNNVV có thể bổ trợ cho các ngành công nghiệp lớn với tư cách là người cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, cung cấp dịch vụ hoặc là trung gian tiêu thụ sản phẩm đầu ra, hoặc cũng có thể với tư cách là người gia công một vài công đoạn sản phẩm của DN lớn Mặt khác, quá trình phát triển DNNVV cũng là quá trình tích tụ vốn, tìm kiếm, mở rộng thị trường để phát triển thành các DN lớn.
Góp phần đào tạo, bồi dưỡng doanh nhân - nguồn nhân lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội
Sự tuân thủ thuế TNDN của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tuân thủ thuế, cách hiểu đơn giản nhất là mức độ đối tượng chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế (James and Alley, 2002).
Theo quan niệm quốc tế: Tính tuân thủ của người nộp thuế là việc người nộp thuế tự nguyện chấp hành và thực hiện một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời các quy định, thủ tục về thuế theo pháp luật (OECD, 2004) Theo quan điểm này thì tính tuân thủ của người nộp thuế được chia thành 2 nhóm chính gồm: (1) Tuân thủ quy định hành chính là việc người nộp thuế tuân thủ các quy định hành chính về việc kê khai, nộp thuế đúng hạn (2) Tuân thủ kỹ thuật: là việc người nộp thuế thực hiện tính toán và nộp thuế đúng theo quy định tại các điều của luật thuế.
Tóm lại, tuân thủ thuế của doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng là việc chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng mục đích của luật một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian.
- Nâng cao sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Từ khái niệm về sự tuân thủ thuế của DNNVV là việc chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng mục đích của Luật quản lý thuế một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian.
Dựa vào khái niệm này, có thể hiểu nâng cao sự tuân thủ thuế của DNNVV là hạn chế đến mức thấp hơn kỳ này so với kỳ trước việc không chấp hành nghĩa vụ thuế theo quy định đối với DNNVV (hay nói cách khác: làm cho việc chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng mục đích của luật một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian kỳ này/kỳ nghiên cứu tăng hơn so với kỳ trước trước /kỳ gốc.
1.3.2 Các tiêu chí xác định sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Các tiêu chí xác định sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng cơ bản đều giống nhau Trên cơ sở các số liệu về quản lý thuế, mức độ tuân thủ thường được ước tính cho ba giai đoạn chính hay cho các chức năng quản lý thuế chính (kê khai, tính thuế và nộp thuế/ thu thuế) (Lê Minh Tuấn ev al., 2011).
1.3.2.1 Chỉ tiêu định tính, thể hiện:
- Mức độ quan tâm và am hiểu của người nộp thuế đối với các quy định pháp luật thuế, đặc biệt là các quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế.
- Sự tự nguyện hay miễn cưỡng trong tuân thủ thuế.
-Tổ chức quản lý thuế của cơ quan thuế
1.3.2.2 Chỉ tiêu định lượng, thể hiện:
(1.1) Chỉ tiêu số tương đối kết cấu
Tỷ lệ về mức độ bộ phận Mức độ bộ phận thứ i thứ i so với mức độ tổng = x 100%
Mức độ của tổng thể
Chỉ tiêu (1.1) sử dụng để xác định và đánh giá : (1) Tỷ lệ số tờ khai đã nộp so với tổng số tờ khai phải nộp; (2) Tỷ lệ tổng số tờ khai nộp đúng hạn trên tổng số tờ khai đã nộp; (3) Tỷ lệ số tờ khai có sai sót trên tổng số tờ khai đã nộp; (4) Tỷ lệ số người nộp thuế kê khai sai thuế được phát hiện so với số người nộp thuế được thanh tra, kiểm tra; (5) Tỷ lệ giữa người nộp thuế có hành vi vi phạm pháp luật thuế với tổng số người đang quản lý hoặc kiểm tra; (6) Tỷ lệ người nộp thuế bị phát hiện trốn thuế so với tổng số người nộp thuế được thanh tra, kiểm tra; (7) Tỷ lệ người nộp thuế vi phạm về thời gian đăng ký thuế so với tổng số đối tượng phải đăng ký thuế; (8) Tỷ lệ người nộp thuế khai đăng ký thuế có sai sót, nhầm lẫn so với tổng số người nộp thuế đã thực hiện đăng ký thuế; (8) Tỷ lệ người nộp thuế bị phát hiện trốn thuế so với tổng số người nộp thuế được thanh tra, kiểm tra; (9) Tỷ lệ người nộp thuế đúng hạn trên tổng số ngừoi nộp thuế có số thuế phải nộp theo nghĩa vụ của người nộp thuế; (10) Tỷ lệ số thuế được nộp đúng hạn trên tổng số thuế phải nộp theo nghĩa vụ thuế của ngừoi nộp thuế; (11) Tỷ lệ giữa số thuế nợ so với tổng số thuế phải nộp hoặc so với tổng số thuế ghi trong kỳ tính thuế.
(1.2) Chỉ tiêu về tốc độ tăng (+) hoặc giảm (-) của chỉ tiêu nghiên cứu
Mức độ tăng (+), giảm(-) của chỉ Tốc độ tăng (+), giảm (-) tiêu nghiên cứu kỳ t so với kỳ t-1 của chỉ tiêu nghiên cứu = x 100%
Mức độ của kỳ t-1 kỳ t so với kỳ t-1
Chỉ tiêu (1.2) sử dụng để xác định: Tốc độ tăng (+), giảm(-) về số tờ kê khai thuế nộp không đúng hạn kỳ này so với kỳ trước, hoặc bình quân năm trong một giai đoạn Tương tự: Số tờ khai có sai sót đã nộp; Số người nộp thuế kê khai sai thuế được phát hiện khi thanh tra, kiểm tra; Số người nộp thuế có hành vi vi phạm pháp luật thuế, trốn thuế.
(1.3) Chỉ tiêu về mức tăng (+) hoặc giảm (-) tuyệt đối chỉ tiêu nghiên cứu
Mức độ tăng (+), giảm (-) Mức độ tuyệt Mức độ tuyệt tuyệt đối của chỉ tiêu nghiên
- đối của chỉ tiêu cứu kỳ t so với kỳ t-1 nghiên cứu kỳ t kỳ t-1
Chỉ tiêu (1.3) sử dụng để xác định: Mức độ tăng (+), giảm (-) về số tờ kê khai thuế nộp không đúng hạn kỳ này (t) so với kỳ trước (t-1) hoặc bình quân năm trong một giai đoạn Tương tự: Số tờ khai có sai sót đã nộp; Số người nộp thuế kê khai sai
Nhân tố tác động đến tuân thủ thuế TNDN đối với DNNVV
1.4 Nhân tố tác động đến tuân thủ thuế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. 1.4.1 Nhân tố khách quan - Môi trường pháp lý
Một số nghiên cứu cho thấy khi mức thuế tăng thì hành vi tuân thủ giảm và ngược lại Clotfelter (1983) qua nghiên cứu thực nghiệm cho thấy việc áp dụng thuế suất lũy tiến (biên) so với thuế suất cố định là biến cấu trúc có liên quan đáng kể đến hành vi không tuân thủ thuế là không khai báo đầy đủ mức doanh thu Đồng thời, cũng cho rằng việc cắt giảm thuế suất không phải là chính sách duy nhất có khả năng hạn chế trốn thuế Clotfelter cũng khẳng định giữa thuế suất và trốn thuế có mối quan hệ đáng kể bởi vì thuế suất được sử dụng như một công cụ có thể được áp dụng cho những mục tiêu chính sách nhất định Gia tăng thuế suất biên có thể khuyến khích người nộp thuế trốn thuế nhiều hơn (Ali & Cộng sự, 2001) trong khi việc giảm thuế suất không nhất thiết sẽ làm tăng mức độ tuân thủ thuế và khai báo không đầy đủ (Kirchler, 2007).
- Tính đơn giản của việc kê khai thuế
Mức độ đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng của việc kê khai thuế là một trong những yếu tố phi kinh tế ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế Sự phức tạp của hệ thống thuế bao gồm kê khai và hoàn thuế làm giảm mức sẵn lòng chi trả tiền thuế của người nộp thuế Trong bối cảnh của hành vi tuân thủ thuế, mức độ phức tạp có thể được thấy trên các khía cạnh như quá nhiều chi tiết trong luật thuế, quá nhiều loại thuế, nhiều cách tính toán khác nhau, và cần quá nhiều thời gian Cách thức khai báo cần tạo điều kiện dễ dàng cho người nộp thuế có thể tự hiểu những quy tắc tính thuế để xác định chính xác tiền thuế phải nộp, tránh dẫn đến việc không khai báo thuế (Clotfelter, 1983) Tổ chức OECD (2001) cho rằng pháp luật thuế ở nhiều nước còn chưa chính xác và chưa rõ ràng và đây chính là mảnh đất màu mỡ cho các doanh nghiệp tích cực lợi dụng để trốn hoặc tránh thuế Điều này đặc biệt đúng ở các nước đang phát triển với công tác quản lý và trách nhiệm giải trình còn yếu kém, thiếu văn hóa thuế và hệ thống thuế còn khá phức tạp.
Mức độ phức tạp của thủ tục thuế đã trở thành một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế tại nhiều quốc gia phát triển Khi áp dụng cơ chế
31 tự khai tự nộp, đòi hỏi tối thiểu đặt ra là tờ khai thuế phải đơn giản bởi vì người nộp thuế đến từ nhiều thành phần khác nhau, trình độ giáo dục khác nhau, thu nhập và quan trọng nhất là mức độ am hiểu kiến thức thuế là khác nhau Để hỗ trợ người nộp thuế hoàn thành chính xác tờ khai thuế, cơ quan thuế nên tiến đến việc xây dựng tờ khai thuế đơn giản nhưng đầy đủ Đan Mạch, Canada và New Zealand là những quốc gia đi đầu trong việc đưa ra tờ khai thuế đơn giản bằng cách giảm số trang cho đơn giản và gia tăng tính tuân thủ tự nguyện giữa những người nộp thuế (Mohani, 2001).
Silvani & Baer (1997) cho rằng tờ khai thuế đơn giản sẽ khuyến khích người nộp thuế tự hoàn thành tờ khai thay vì phải tiếp cận và nhờ sự tư vấn của các công ty tư vấn thuế, nhờ đó tiết kiệm chi phí tuân thủ Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng chứng minh giữa tính phức tạp trong các yêu cầu khai báo với những lỗi được phát hiện trong quá trình kiểm tra thuế là có quan hệ mật thiết với nhau (Long, 1988). Nếu cơ quan thuế phát hiện nhiều lỗi sai trên tờ khai thuế, và những lỗi này lặp lại trong nhiều năm ở những người nộp thuế khác nhau, điều đó có nghĩa là cách diễn đạt và câu văn trong tờ khai ít nhiều mang một phần lỗi nào đó ) Người nộp thuế mong muốn cơ quan thuế cung cấp đầy đủ thông tin các quy định về thuế để họ có thể hoàn thành chính xác tờ khai thuế Vì vậy người ta cho rằng việc tăng cường cung cấp thông tin về thuế có thể giúp tăng nhận thức của người nộp thuế về tính công bằng và tuân thủ thuế tốt hơn (Wartick, 1994).
- Nhận thức về tính công bằng của hệ thống thuế
Một trong những nguyên tắc chính của việc xây dựng hệ thống thuế là tính công bằng theo cả hai chiều ngang (người có cùng thu nhập hoặc cùng nhóm thu nhập phải trả cùng một mức thuế) và chiều dọc (tiền thuế phải trả gia tăng với mức thu nhập tính thuế) Cân bằng theo chiều dọc muốn nói lên một điều là người nào có khả năng chi trả tiền thuế nhiều hơn thì nên đóng nhiều hơn những người có khả năng chi trả thấp Công bằng là mối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế Tính công bằng là một đòi hỏi khách quan trong tiến trình phát triển của Ngành Thuế.Khi hệ thống thuế đảm bảo công bằng trong việc huy động nghĩa vụ thuế, người nộp thuế tích cực tuân thủ thuế hơn Các nhà quản lý và người nộp thuế tin rằng việc không hài lòng với sự công bằng của hệ thống thuế là nguyên nhân chủ yếu gia tăng tính không tuân thủ.
Vì vậy, sự không công bằng của hệ thống thuế có thể phản ánh người nộp thuế nhận thức rằng họ đang trả quá cao các loại thuế liên quan đến giá trị những dịch vụ do chính phủ cung cấp hoặc liên quan đến khoản thuế của những nguời nộp thuế khác Porcano (1984) nhận thấy rằng nhu cầu của người nộp thuế và khả năng chi trả là những biến có ảnh hưởng đáng kể nhất đến quan niệm về sự công bằng của hệ thống thuế.
Kirchler và Cộng sự (2008) khi nói đến khía cạnh phân phối công bằng cho rằng một cá nhân luôn kỳ vọng có được sự công bằng tương thích với thành tích, nỗ lực và nhu cầu của cá nhân như những người khác Nếu bản thân một người cảm thấy gánh nặng thuế của mình cao hơn so với những người khác trong cùng nhóm thu nhập, việc tuân thủ thuế của người nộp thuế sẽ giảm Người nộp thuế muốn có sự công bằng giữa những người trong nhóm thu nhập của họ so với những người trong các nhóm thu nhập khác Nếu một nhóm nào đó nhận thấy nghĩa vụ thuế của họ cao hơn so với những nhóm khác, việc trốn thuế có thể xảy ra giữa các thành viên trong nhóm (Spice và Cộng sự, 1980).
Xét ở mức độ toàn xã hội, kết quả nghiên cứu của Allingham & Sandmo
(1972) cho thấy mức độ tuân thủ thuế sẽ giảm đi khi người dân trong xã hội có nhận định rằng hệ thống thuế không công bằng và hậu quả sẽ là mức độ né tránh thuế sẽ xảy ra với quy mô lớn hơn Ngược lại, nếu xã hội thừa nhận rằng hệ thống thuế công bằng với mọi người, với các tầng lớp xã hội, hành vi tuân thủ tự nguyện được ký vọng sẽ lên Theo Leventhal (1980), cân bằng về mặt qui trình khi các vần đề sau đây được đáp ứng: qui trình phải nhất quán, chính xác, không có sai sót, mang tính đại diện cao, có yếu tố đạo đức, và có thể điều chỉnh Tyler và Lind
(1992) bổ sung thêm một số tiêu chí công bằng về thủ tục là được cán bộ cơ quan thuế đối xử tôn trọng, tính trung lập của những thủ tục được sử dụng, độ tin cậy của cơ quan thuế, thái độ lịch sự, nghiêm chỉnh và đáng tôn trọng của cán bộ thuế.
Xét ở khía cạnh xử phạt công bằng, việc kiểm tra thuế không hợp lý và hình phạt không công bằng sẽ dẫn đến căng thẳng và người nộp thuế không hài lòng (Spicer và Lundsted, 1976) Khi người nộp thuế có thái độ không thiện chí về khía cạnh công bằng trong xử phạt có thể dẫn đến hành vi không tuân thủ và do đó gia tăng mức độ né tránh thuế và làm tăng thêm khoảng cách thuế dự kiến và thực thu. Đặc tính công bằng bị ảnh hưởng bởi mức độ phức tạp của luật pháp, mức
33 độ minh bạch, hiệu quả của thông tin, và cách xử lý kiểm tra, thanh tra chuyên nghiệp và nể trọng Nhận thức về tính công bằng phụ thuộc rất nhiều vào mức độ mà người nộp thuế cảm nhận về hành động của các cán bộ thuế Người nộp thuế có thể có một cảm nhận được đối xử công bằng từ cán bộ thuế nếu người cán bộ có một cách hành xử tốt, ngay cả khi họ có kết quả khác với kỳ vọng ban đầu Điều này sẽ đưa đến kết quả là cơ quan thuế nhận ít điều phàn nàn từ phía người nộp thuế Do vậy, điều quan trọng ở đây là không phải kết quả là tốt hay xấu, mà là cách đối xử có công bằng không (Wenzel, 2002).
- Nhận thức về chi tiêu ngân sách nhà nước
Nhận thức về chi tiêu ngân sách nhà nước là một trong những yếu tố tâm lý xã hội (phi kinh tế) ảnh hưởng đến tuân thủ thuế Thách thức ở nhiều nước đang phát triển không nhất thiết là đánh thuế nhiều hơn, mà là đánh thuế nhiều đối tượng cá nhân và doanh nghiệp hơn dựa trên sự kết hợp liên ứng giữa hai yếu tố mức độ sẵn sàng đóng thuế của người nộp thuế cao hơn và xu hướng đòi hỏi cao hơn đối với các dịch vụ công được cung cấp cũng như cách thức chính phủ sử dụng tiền thuế của dân như thế nào (Schukla và cộng sự, 2011).
Trong những năm gần đây, yếu tố chi tiêu ngân sách của nhà nước và tuân thủ được quan tâm thực hiện nhiều trong những nghiên cứu thuế, hoặc mối quan hệ giữa chi tiêu ngân sách nhà nước và hành vi né tránh thuế Người nộp thuế, nhất là những người đã trả nhiều tiền thuế sẽ rất nhạy cảm với việc nhà nước chi tiêu tiền thuế của họ vào những việc nào.
Roberts & Cộng sự (1994) cho rằng nếu nhà nước chi tiêu tiền thuế một cách khôn ngoan, ví dụ như đầu tư vào giáo dục, y tế, bảo hiểm, giao thông công cộng, an ninh quốc phòng thì hành vi tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế sẽ tăng Ngược lại, nếu người nộp thuế thấy rằng nhà nước chi quá nhiều vào những khoản không cần thiết hoặc không mang lại lợi ích cho người nộp thuế, cho xã hội, họ sẽ cảm thấy bị lừa dối và do đó sẽ dễ dàng tìm những cách thứ để né tránh thuế hơn, mà không phải cân nhắc hay đắn đo Palil (2010) cũng tìm thấy mối tương quan đáng kể của nhận thức của người nộp thuế về chi tiêu ngân sách và tác động đến hành vi tuân thủ thuế.
- Quy định về kiểm tra, thanh tra thuế
Ý nghĩa của việc nâng cao sự tuân thủ thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 38 1 Đối với cơ quan thuế
1.5 Ý nghĩa của nâng cao sự tuân thủ thuế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.5.1 Đối với cơ quan thuế.
Số lượng DNNVV chiếm tỷ trọng lớn so với tổng số doanh nghiệp hiện có tại quận 12,TP.HCM Vì vậy, nâng cao sự tuân thủ thuế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo thuận lợi cho chi cục thuế quận 12, thuộc Cục thuế TP.HCM hoàn thành dự toán thu ngân sách nói chung và thu thuế nói riêng.
1.5.2 Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nâng cao sự tuân thủ thuế góp phần bảo đảm sự công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Sự tuân thủ thuế của đại bộ phận doanh nghiệp, tăng cường tính pháp chế, nâng cao ý thức chấp hành luật thuế sẽ góp phần xây dựng một nền văn hóa tuân thủ thuế trong cộng đồng các doanh nghiệp.
Nâng cao sự tuân thủ thuế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, góp phần hoàn thành dự toán thu ngân sách nhà nước hàng năm, tạo quỹ tiền tệ sử dụng thực hiện nhiệm chi của nhà nước, thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế, điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội …
Nâng cao sự tuân thủ thuế của DNNVV, đặc biệt là sự tuân thủ tự nguyện chính là cơ sở để duy trì những nguồn thu hiện tại và mở rộng nguồn thu tương lai.
Bài học từ kinh nghiệm về nâng cao sự tuân thủ thuế ở một số nước trên Thế giới đối với Việt Nam và đối với Chi cục Thuế quận 12 TP.HCM
1.6.1 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới
Kinh nghiệm về của Singapore
Quản lý thu thuế ở Singapore, mục đích trở thành cơ quan quản lý thu thuế hàng đầu thế giới thông qua chiến lược tối đa hóa sự tuân thủ tự nguyện của đối tượng nộp thuế Trên cơ sở thừa nhận sự khác nhau về mức độ, hành vi tuân thủ, nhu cầu mong muốn giữa các đối tượng nộp thuế khác nhau, quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ở Singapore, căn cứ vào lịch sử tuân thủ (dựa vào hồ sơ, các hành vi kê khai, nộp thuế trong một thời gian) và đặc điểm của từng nhóm đối tượng để chia doanh nghiệp thành các nhóm theo mức độ tuân thủ, đồng thời sử dụng các chiến lược thích hợp đối với từng nhóm.
Nhóm A là nhóm tuân thủ tốt, có ý thức tuân thủ cao, thường xuyên nộp tờ khai và nộp thuế đúng hạn Chiến lược đối với nhóm A là tập trung vào cung cấp các dịch vụ hoàn hảo, chất lượng tốt, tạo điều kiện cho doanh nghiệp kê khai và nộp thuế nhanh chóng, dễ dàng, tiết kiệm chi phí và mang lại những “lợi nhuận tuân thủ”, đồng thời bất kỳ một lời phàn nàn nào của đối tượng nộp thuế này đều chắc chắn được coi trọng và giải quyết Bên cạnh đó, các công cụ xử phạt cưỡng chế rất linh hoạt đối với nhóm đối tượng này Ví dụ “đối tượng nộp thuế nhóm A nếu quá hạn nộp thuế sau 30 ngày mới bị nhắc nhở, nếu sau khi nhận thư nhắc nộp, nộp thuế ngay thì các khoản tiền phạt có thể được xóa bỏ”.
Nhóm B là nhóm có quá khứ tuân thủ tốt, tuy nhiên đối tượng nộp thuế này thỉnh thoảng không tuân thủ nhưng không cố tình trốn thuế Sự không tuân thủ này có thể xuất phát từ những nguyên nhân như sự thay đổi phức tạp của chính sách thuế, sự thiếu hiểu biết của đối tượng nộp thuế Chiến lược của cơ quan thuế Singapore đối với đối tượng nhóm B là chuyển dần các đối tượng nộp thuế thuộc nhóm này sang nhóm A Chiến lược quản lý thu thuế từ đó tập trung vào giáo dục, khuyến khích, nhắc nhở doanh nghiệp thực hiện hành vi kê khai thuế, nộp thuế đúng hạn; cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cần thiết để doanh nghiệp tiếp cận tốt các chính sách thuế và sử dụng các hình thức cưỡng chế từ nhẹ nhàng đến nghiêm khắc.
Nhóm C là nhóm có ý thức tuân thủ kém, bao gồm những đối tượng nộp thuế cố tình không kê khai, không nộp thuế, nợ thuế rất khó thu hay cố tình kê khai và nộp thuế muộn Chiến lược chủ yếu sử dụng đối với nhóm C là chiến lược cưỡng chế nhanh, mạnh nhằm đảm bảo thu nợ lớn nhất.
Trong các giải pháp chiến lược quản lý thu thuế, Cơ quan thu nội địa Singapore (IRAS) chú ý nhất tới các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp Các dịch vụ hoàn hảo được cung cấp dựa trên điều tra lấy ý kiến, gặp gỡ tiếp xúc trực tiếp với khách hàng “IRAS đặt ra những chiến lược lắng nghe và học hỏi khác nhau để nắm được những sở thích, nhu cầu của từng nhóm đối tượng nộp thuế nhằm phát triển các sản phẩm và dịch vụ” IRAS phát triển một đội ngũ nhân viên có năng lực, kỹ năng để có những dịch vụ có chất lượng cao Công nghệ thông tin hóa các dịch vụ hỗ trợ phát triển mạnh mẽ của IRAS cũng là một trong những yếu tố làm nên thành công trong nâng cao dịch vụ khách hàng và tính tuân thủ mà IRAS theo đuổi.
Kinh nghiệm của Trung Quốc
Quan điểm chính trong quản lý thu thuế ở Trung Quốc là “đối tượng nộp thuế là trung tâm” và “tất cả cán bộ thuế đều phục vụ đối tượng nộp thuế” Cơ quan thuế Trung Quốc đã chuyển từ phương thức “tập trung chủ yếu vào thu thuế” sang
“tập trung chủ yếu vào dịch vụ”.
Dịch vụ cơ quan thuế cung cấp cho doanh nghiệp nằm ở tất cả các khâu từ khâu trước khi nộp thuế đến khâu nộp thuế và khâu sau nộp thuế Đối với khâu trước nộp thuế, các dịch vụ tập trung cung cấp thông tin và hướng dẫn cho doanh nghiệp Ở khâu nộp thuế, cơ quan thuế tạo mọi điều kiện cho doanh nghiệp nộp thuế nhanh chóng, thuận tiện Các dịch vụ sau nộp thuế cung cấp các kênh thông tin cho doanh nghiệp có thể theo dõi, khiếu nại, hoặc đòi trả, bồi thường các khoản chi phí một cách nhanh chóng và thuận tiện Để đảm bảo thông tin cho doanh nghiệp ở tất cả các khâu trên, dịch vụ cơ quan thuế Trung Quốc hiện nay cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ thuế, dịch vụ thông tin, dịch vụ hỗ trợ về thuế… Cơ quan thuế Trung Quốc đã đảm bảo những dịch vụ chuẩn hóa, thông qua xây dựng các điều kiện cần thiết như khảo sát đánh giá của doanh nghiệp; đổi mới cơ cấu tổ chức hướng tới dịch vụ; nâng cao năng lực của cán bộ thuế; xây dựng cơ chế phối hợp giữa các bộ phận của cơ quan thuế, xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng công việc vv.
1.6.2 Bài học đối với Chi cục thuế Quận 12 – Cục thuế TP.HCM
- Cần thay đổi quan điểm về vị trí của doanh nghiệp trong hệ thống thuế
Cần thay đổi quan điểm từ vị trí là đối tượng nộp thuế sang vị trí khách hàng đối với quản lý thu thuế nhằm đảm bảo sự tuân thủ tự nguyện cao nhất của doanh nghiệp Sự thay đổi này phù hợp với xu thế.
- Quản lý thu thuế dựa trên sự phân đoạn doanh nghiệp theo mức độ tuân thủ thuế
Kinh nghiệm các quốc gia cho thấy mức độ tuân thủ của doanh nghiệp khá đa dạng Vì vậy, xây dựng chiến lược quản lý thu thuế khác nhau xuất phát từ nghiên cứu các nhóm doanh nghiệp có sự tuân thủ khác nhau là một cơ chế quản lý nhằm phát hiện và khuyến khích sự tuân thủ thuế một cách tự nguyện và đầy đủ. Những chiến lược quản lý dựa trên sự phân đoạn đối tượng nộp thuế theo mức độ tuân thủ được thực thi thành công ở nhiều quốc gia như Australia, Hà Lan, New Zealand, Singapore hay Trung quốc (Ví dụ: cơ quan thuế Singapore điều tra hành
41 vi tuân thủ thuế để xác định các nhóm đối tượng nộp thuế có mức độ tuân thủ khác nhau Cơ quan thuế Anh nghiên cứu lịch sử tuân thủ thuế của doanh nghiệp để xác định mức độ tuân thủ thuế Cơ quan thuế tại Canada, Hà Lan xác định mức độ tuân thủ dựa trên phân tích nợ thuế hiện tại của doanh nghiệp.
- Quản lý thu thuế dựa trên sự phân đoạn theo đặc điểm quy mô doanh nghiệp
Căn cứ vào việc phân loại doanh nghiệp theo quy mô lớn, vừa và nhỏ Xác định chiến lược với từng đối tượng để quản lý thuế dựa trên đặc điểm tuân thủ của từng nhóm là chiến lược cấp ngành được nhiều quốc gia sử dụng như ở Australia, Hoa Kỳ, Singapore…
- Tăng cường xây dựng và thực thi hoạt động nghiên cứu dự báo hành vi tuân thủ thuế và tìm hiểu nhu cầu của doanh nghiệp Đây là hoạt động cung cấp cơ sở thông tin cho sự phân đoạn thị trường và quản lý sự tuân thủ của doanh nghiệp Ngoài ra, hoạt động nghiên cứu nhu cầu của doanh nghiệp nhằm hướng tới mục tiêu quản lý tốt mối quan hệ với đối tượng nộp thuế ở nhiều quốc gia.
Tăng cường xây dựng và thực thi hoạt động nghiên cứu dự báo hành vi tuân thủ thuế thông qua hoạt động điều tra khảo sát hành vi và nhu cầu của doanh nghiệp hàng năm như: gặp gỡ, tiếp xúc với khách hàng với các đại lý thuế; tổ chức các cuộc đối thoại để lấy ý kiến của các nhóm doanh nghiệp trọng điểm hay ý kiến của các đại lý thuế; theo dõi phản ứng của người dân từ các phương tiện truyền thông; tổ chức nhận phiếu góp ý qua các hòm thư/ điện thoại….
Thông tin từ hoạt động nghiên cứu, nhằm tìm hiểu nhu cầu, sự phàn nàn, mức độ tin cậy của doanh nghiệp đối với cơ quan thuế để xử lý, cải tiến sản phẩm và dịch vụ tốt hơn
- Đa dạng hóa dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, cung cấp thông tin thuận tiện, nhanh chóng và kịp thời
Mục tiêu là dịch vụ hỗ trợ phải đảm bảo cung cấp thông tin tốt nhất cho doanh nghiệp, tối thiểu hóa chi phí tiếp cận thông tin và thúc đẩy tính tuân thủ tự nguyện của doanh nghiệp đồng thời tăng hiệu quả dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp.