1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hiện trạng và đánh giá các mô hình trồng cây dược liệu tại huyện quảng trạch tỉnh quảng bình

163 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (11)
  • 2. Mục đích nghiên cứu (12)
  • 3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn (12)
  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (14)
    • 1. Tài nguyên cây dược liệu trên Thế giới và Việt Nam (14)
      • 1.1. Trên thế giới (14)
      • 1.2. Ở Việt Nam (16)
    • 2. Thực trạng nhu cầu và hoạt động sản xuất kinh doanh cây dược liệu ở Việt Nam (19)
    • 3. Tổng quan nghiên cứu về cây thuốc trên Thế giới và ở Việt Nam (0)
      • 3.1. Trên thế giới (24)
      • 3.2. Ở Việt Nam (28)
  • CHƯƠNG 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (32)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (32)
    • 2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (32)
      • 2.2.1. Đối tượng nghiên cứu (32)
      • 2.2.2. Phạm vi nghiên cứu (33)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (33)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (0)
      • 2.4.1. Phương pháp thu thập thông tin (35)
      • 2.4.2. Phương pháp nội nghiệp và phân tích, xử lý thông tin (37)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (38)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu (38)
      • 3.1.1. Điều kiện tự nhiên (38)
      • 3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (44)
    • 3.2. Hiện trạng về tài nguyên cây dược liệu tại địa bàn nghiên cứu (48)
      • 3.2.1. Danh lục các loài cây dược liệu tại địa bàn nghiên cứu (48)
      • 3.2.2. Sự đa dạng về dạng sống của các cây dược liệu tại địa bàn nghiên cứu (49)
      • 3.2.3. Sự đa dạng về bộ phận sử dụng của các cây dược liệu tại địa bàn nghiên cứu (50)
      • 3.2.4. Sự đa dạng về sinh cảnh sống của các cây dược liệu tại địa bàn nghiên cứu (51)
      • 3.2.5. Giá trị sử dụng của các loài cây dược liệu tại địa bàn nghiên cứu (53)
      • 3.2.6. Những cây thuốc có tiềm năng khai thác phát triển kinh tế (54)
    • 3.3. Tình hình khai thác, sử dụng tài nguyên cây dược liệu của cộng đồng địa phương (56)
      • 3.3.1. Tình hình khai thác cây dược liệu của cộng đồng địa phương (56)
      • 3.3.2. Cách khai thác và chế biến cây dược liệu của cộng đồng địa phương (57)
      • 3.3.3. Mức độ sử dụng cây dược liệu của cộng đồng địa phương (58)
      • 3.3.4. Những cây dược liệu quý hiếm, nguy cấp cần được bảo vệ ở khu vực nghiên cứu (61)
      • 3.3.5. Giải pháp bảo tồn nguồn gen cây dược liệu tại huyện Quảng Trạch (62)
      • 3.3.6. Những tri thức bản địa trong việc sử dụng tài nguyên cây dược liệu của cộng đồng địa phương (62)
    • 3.4. Tìm hiểu và đánh giá các mối đe doạ đến sự tồn tại và phát triển tài nguyên cây thuốc tại địa phương (0)
      • 3.4.1. Sự hạn chế về nhận thức trong khai thác bền vững cây thuốc (64)
      • 3.4.2. Sự lãng phí tài nguyên cây thuốc (66)
      • 3.4.3. Khai thác tràn lan, không chú ý đến tái tạo, bảo tồn (67)
    • 3.5. Khảo sát, đánh giá các mô hình trồng cây dược liệu tại địa bàn nghiên cứu (0)
      • 3.5.1. Thống kê và phân loại các mô hình trồng dược liệu hiện có tại địa phương (68)
      • 3.5.2. Quá trình và điều kiện hình thành mô hình trồng cây dược liệu (70)
      • 3.5.3. Một số thông tin chung và đặc điểm của các loài cây dược liệu trong các mô hình (71)
      • 3.5.4. Kết quả khảo sát các mô hình trồng cây dược liệu tại huyện Quảng Trạch (76)
    • 3.6. Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc tại địa bàn nghiên cứu (0)
      • 3.6.1. Giải pháp tuyên truyền, giáo dục (96)
      • 3.6.2. Giải pháp nâng cao năng lực (96)
      • 3.6.3. Giải pháp chính sách (97)
      • 3.6.4. Giải pháp khoa học - công nghệ (98)
    • 1. Kết luận (100)
    • 2. Đề nghị (102)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (103)

Nội dung

Trong số các địa phương thuộc tỉnh Quảng Bình thì huyện Quảng Trạch có nhiều nét đặc thù về tài nguyên, hoạt động khai thác, sử dụng và phát triển cây dược liệu.. Bên cạnh đó, nhiều địa

Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam có điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi nên có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng Theo thống kê sơ bộ, ở Việt Nam hiện đã biết khoảng

10.350 loài thực vật bậc cao có mạch, khoảng 800 loài Rêu, 600 loài Nấm và hơn 2000 loài Tảo Trong đó có nhiều loài làm thuốc [20]

Ngày nay, việc tìm kiếm các hoạt chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao để làm thuốc là một xu thế được rất nhiều các nhà khoa học quan tâm Việt Nam là một trong những quốc gia thuộc các vùng nhiệt đới - nơi chứa đựng giá trị đa dạng sinh học cao chưa được khám phá Bên cạnh đó, cộng đồng các dân tộc ở nước ta cũng có vốn tri thức bản địa sử dụng các loài động vật, thực vật và khoáng vật làm thuốc [37]

Việt Nam có một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, một tiềm năng lớn về tài nguyên cây dược liệu nói riêng và tài nguyên dược liệu (thực vật, động vật, khoáng vật) nói chung Điều này thể hiện ở sự đa dạng về chủng loại cây dược liệu (trong số hơn 12.000 loài thực vật Việt Nam thì có gần 4.000 loài cho công dụng làm thuốc), vùng phân bố rộng khắp cả nước, có nhiều loài dược liệu được xếp vào loài quý và hiếm trên thế giới, như: Sâm ngọc linh, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Bách hợp,

Thông đỏ, Vàng đắng, Hoàng liên ô rô, Hoàng liên gai, Thanh thiên quỳ, Ba gạc Vĩnh

Theo kết quả điều tra của Viện Dược liệu, tính đến 2005 đã ghi nhận được 3948 loài thực vật và nấm lớn có công dụng làm thuốc; 52 loài tảo biển, 408 loài động vật và 75 loại khoáng vật có công dụng làm thuốc ở Việt Nam Kết quả này cũng đã cho thấy nguồn dược liệu ở nước ta rất phong phú Trong tổng số 3.948 loài cây thuốc, gần

90% là cây thuốc mọc tự nhiên, tập trung chủ yếu trong các quần xã rừng, chỉ có gần

Tiềm năng to lớn là vậy, song công cuộc bảo tồn và phát triển dược liệu ở nước ta cũng đang gặp phải một số hạn chế, khó khăn, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến quy hoạch phát triển dược liệu, công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen dược liệu, việc tiêu chuẩn hóa dược liệu, cũng như việc hiện đại hóa sản xuất thuốc từ dược liệu [37]

Với nhu cầu sử dụng các loài dược liệu làm thuốc ngày càng tăng, do khai thác dược liệu quá mức mà không đi đôi với việc tái tạo, bảo tồn, cộng với nhiều nguyên nhân khác đã làm cho nguồn tài nguyên dược liệu bị giảm sút nghiêm trọng, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng [20]

Quảng Bình là một tỉnh nằm ở vị trí trung tâm khu vực Bắc Trung Bộ, có điều kiện địa hình, khí hậu thuận lợi để nhiều loài động, thực vật sinh trưởng và phát triển, nhiều trong số chúng có giá trị cao trong việc chăm sóc sức khoẻ và điều trị bệnh cho con người [7]

Trong số các địa phương thuộc tỉnh Quảng Bình thì huyện Quảng Trạch có nhiều nét đặc thù về tài nguyên, hoạt động khai thác, sử dụng và phát triển cây dược liệu Với dãy Hoành Sơn án ngữ hoàn toàn phía Bắc, biển Đông và sông Gianh bao bọc phía các phía còn lại của huyện đã tạo cho nơi đây một kiểu địa hình và khí hậu độc đáo của tiểu khu vực Bình Trị Thiên Hình ảnh “cỏ cây chen đá, lá chen hoa” của địa phương nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Bình này đã phần nào nói lên tiềm năng giá trị cảnh quan và đa dạng sinh học tại đây, trong đó có tài nguyên cây dược liệu

Kết quả khảo sát bước đầu của Bộ môn Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường (Khoa

Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Huế) cho thấy Quảng Trạch có tài nguyên cây thuốc rất đa dạng, trong đó có nhiều loài rất khó tìm thấy ở các địa phương khác trong tỉnh và khu vực như: Đại kế, Bạch tật lê, Bố chính sâm, Tiên mao sâm, Giảo cổ lam, Nhân trần cát, Chùm ngây [7]

Từ những cây cỏ mọc hoang dại giữa đại ngàn rừng hay lẫn khuất trong những đám cỏ cây ven sông, ven suối, bãi cát ven biển, người dân và các lương y tại địa phương đã phát hiện và bào chế thành những bài thuốc nam quý giá Nhiều hộ gia đình hiện cũng đã đưa cây thuốc nam về trồng trong vườn nhà như một nỗ lực để góp phần bảo tồn và phát triển tài nguyên cây dược liệu [7]

Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi thực hiện đề tài : “Nghiên cứu hiện trạng và đánh giá các mô hình trồng cây dược liệu tại huyện Quảng Trạch - tỉnh

Mục đích nghiên cứu

Xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học về hiện trạng tài nguyên cây dược liệu và đánh giá khả năng nhân rộng mô hình trồng một số cây dược liệu chủ yếu tại huyện

Quảng Trạch - tỉnh Quảng Bình.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp dữ liệu về hiện trạng tài nguyên và tiến trình phát triển, nhân giống và nhân giống các loài cây dược liệu có giá trị bảo tồn trên cơ sở cộng đồng người dân địa phương

- Đánh giá được tiềm năng cũng như thuận lợi, khó khăn của người dân địa phương trong việc thực hiện các mô hình trồng cây dược liệu

- Cung cấp cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc của cộng đồng người dân tại khu vực nghiên cứu b Ý nghĩa thực tiễn

- Góp phần phục hồi và phát triển tài nguyên cây dược liệu có giá trị kinh tế và bảo tồn tại khu vực nghiên cứu

- Là cơ sở để đề xuất giải pháp chủ yếu góp phần giải quyết những khó khăn hiện nay ở các mô hình trồng cây dược liệu cũng như một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và nhân rộng mô hình

- Góp phần đa dạng hoá cây trồng nói chung, cây lâm sản ngoài gỗ nói riêng và phát triển sinh kế hộ gia đình, tạo thêm sản phẩm hàng hoá và nguồn dược liệu tại chỗ hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ người dân nghèo tại địa phương.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Tài nguyên cây dược liệu trên Thế giới và Việt Nam

Việc sử dụng cây cỏ làm thuốc đã có một bề dày lịch sử và đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm Theo đánh giá chung của tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì có tới 80% dân số toàn thế giới vẫn thường xuyên sử dụng cây thuốc cho việc chăm sóc sức khỏe ban đầu (Inglis, 1994) [31]

Trước Công nguyên, loài người đã biết sử dụng nhiều loại thực vật và động vật để làm thuốc Trải qua hàng nghìn năm sử dụng và tìm hiểu, con người đã có sự hiểu biết sâu sắc hơn về dược liệu, đồng thời sử dụng ngày càng nhiều vào mục đích phòng, trị bệnh Đến nay, có hơn 80.000 loài thực vật được sử dụng làm thuốc chữa bệnh

Dược liệu ngày càng có giá trị to lớn trong Y học nói chung và nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng Ước tính có đến 25% trong số các loại thuốc ở các nước phát triển có nguồn gốc từ thảo mộc Mức độ sử dụng dược liệu vào điều trị ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật và một số nước Châu Á rất lớn [31]

Có thể nói Trung Quốc là nước có truyền thống lâu đời về việc nghiên cứu sử dụng cây thuốc Kể từ thời Sheng- Nong (gần 3000 năm trước Công Nguyên), đã có

365 loài thực, động vật và khoáng vật được ghi nhận là có tác dụng chữa bệnh (Pie,

1987) Người ta đã ước tính rằng, số loài cây thuốc được dùng trong hệ thống Y dược

Trung Quốc là 8.000, trong đó, thuốc của Tây Tạng 3.294 loài, thuốc của Mông Cổ là

1.430, của dân tộc Yi là 3.294, của dân tộc Max là 800, dân tộc Wa là 1.430, dân tộc

Dai là 800 và cuối cùng là các loại thuốc thông thường được dùng là 201 loài [31]

Tại Trung Quốc, hằng năm tiêu thụ khoảng 700.000 tấn dược liệu, trong đó có trên 5.000 loài thực vật; giá trị kinh tế năm 2003 ước đạt 6 tỷ USD và năm 2008 ước đạt 26 tỷ USD Giá trị kinh tế từ các nguồn dược liệu tại Mỹ năm 2004 ước đạt 17 tỷ

USD và tại Nhật Bản năm 2006 ước đạt 1,1 tỷ USD Đến nay, việc nghiên cứu và sử dụng dược liệu ở các nước này ngày càng phát triển Đặc biệt, để bảo đảm chất lượng dược liệu trong phòng và điều trị bệnh, nhiều nước đã xây dựng hệ thống tiêu chuẩn hóa cao cho các dược liệu như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia [31]

Văn minh của người Ấn Độ cổ đại đã phát triển cách đây 5000 năm dọc theo bờ sông Indus ở miền Nam Ấn Độ Trong bộ sử thi Vedas (năm 1500 TCN), chứa đựng những kiến thức phong phú về dược thảo thời kỳ đó Những công dụng của cây thuốc này cũng được ghi lại trong cuốn sách dược thảo “Charaka Samhita”, viết năm 400

TCN Sau này, vào khoảng 100 năm SCN, một học giả người Ấn Độ đã mô tả chi tiết

341 loại dược thảo cũng như những loại thuốc có nguồn gốc từ khoáng chất và động vật Hiện nay tại Ấn Độ, đã ghi nhận có khoảng 8.000 loài cây thuốc được ứng dụng trong Y học của hơn 4.000 cộng đồng dân tộc thiểu số và hàng năm doanh thu của Ấn Độ từ các hoạt động buôn bán cây thuốc trong nước và xuất khẩu là 1 tỷ Đô la Mỹ [1]

Từ thời xa xưa, thực vật làm thuốc đóng một vai trò quan trọng đối với đời sống của con người và ngày nay chúng vẫn giữ được vai trò ấy đối với các nước đang phát triển ở Châu Á Mặc dù vậy, người dân đang phát triển ở các nước Châu Á chỉ mới khai thác cây thuốc từ thiên nhiên hoặc được trồng với mục đích phục vụ trong gia đình, trừ các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Nepal là trồng chúng với mục đích thương mại Tuy nhiên, các quốc gia này cũng chỉ gây trồng ở quy mô nhỏ và chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước (Batugal et al., 2004) [36] Ở các nước khác như Anh, Đức, Mỹ, nền y học cổ truyền cũng phát triển mạnh

Tại Đức, một ủy ban gồm nhiều bác sĩ, dược sĩ, chuyên gia về chất độc đã hoàn thành một tài liệu với trên 400 chuyên đề tả công dụng, tác dụng phụ, phân lượng của nhiều dược thảo Tại Mỹ, dược thảo rất thông dụng với thổ dân bản xứ Năm 1716, nhà thám hiểm

Pháp Lafitau đã tìm ra Sâm Mỹ ở vùng New World Hiện nay Sâm là tài nguyên xuất khẩu quan trọng của Hoa Kỳ Hội đồng thực vật Mỹ (Austin-Texas), dựa vào hai công trình của Đức và Anh, đã soạn thảo một tài liệu nói về 26 dược thảo thông dụng [36]

Gần đây, theo số liệu của Tổ chức Y học Thế giới (WHO), đến năm 1995 đã có gần 20.000 loài thực vật (trong tổng số 250.000 loài được biết đến) được sử dụng làm thuốc hay cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc Trong đó, Ấn Độ có khoảng 6.000 loài, Trung Quốc có khoảng 5.000 loài [25]

Cũng theo WHO thì mức độ sử dụng thực vật làm thuốc ngày càng cao như: hàng năm Trung Quốc tiêu thụ 700.000 tấn dược liệu, sản phẩm thuốc Y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,7 tỷ USD vào năm 1986 Tại Nhật Bản, năm 1979 nhập 21.000 tấn, đến năm 1980 tăng lên 22.640 tấn dược liệu, tương đương 50 triệu USD Điều này chứng tỏ ở các nước phát triển thì cây thuốc phục vụ cho Y học cổ truyền cũng phát triển mạnh Cây thuốc là loại cây kinh tế, nó cung cấp nhiều loại thuốc dân tộc và hiện đại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe con người [55]

Chữa bệnh bằng cây cỏ đang dần trở thành xu hướng của thế giới Trong khoảng 30 năm gần đây, Viện Ung thư Hoa Kỳ (CNI) đã điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây thuốc có khả năng chữa trị bệnh ung thư, 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế phẩm có dược tính mạnh được điều chế từ một loài Hoa hồng (Cantharanthus roseus) Đặc biệt ở Madagasca, người ta dùng cây này để chữa bệnh máu trắng cho trẻ em và rất hiệu quả, đã làm tăng tỷ lệ sống của trẻ em từ 10 lên đến 90% [39], [27]

Tuy nhiên, ngày nay do các hoạt động mưu cầu của cuộc sống con người đã và đang gây sức ép lên sự sinh tồn của các loài cây thuốc trên thế giới Nhiều loài cây thuốc quý hiếm bị khai thác bừa bãi nên đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc đã bị tuyệt chủng Theo P Raven (1987) và Ole Harmann (1988), trong vòng hơn 100 năm trở lại đây, có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới 60.000 loài gặp rủi ro hay sự tồn tại của chúng bị đe dọa vào thế kỷ tới Trong số những loài thực vật đã mất đi hoặc đang bị đe dọa gay gắt, có một tỷ lệ không nhỏ là thực vật làm thuốc

Thực trạng nhu cầu và hoạt động sản xuất kinh doanh cây dược liệu ở Việt Nam

Là một trong những nước có nhu cầu sử dụng cây dược liệu lớn, tuy nhiên Việt Nam hiện đang phải nhập đến từ 70 - 80% nguồn nguyên liệu từ các quốc gia khác Đây là con số đáng phải suy nghĩ bởi ngoài điều kiện tự nhiên thuận lợi, Việt Nam còn được đánh giá có nguồn dược liệu phong phú và đa dạng [5]

Nằm tại một vị trí tự nhiên hiếm có, khí hậu có nhiều nét độc đáo và đa dạng, Việt Nam được ưu đãi với hệ thống sinh thái phong phú, đa dạng về chủng loại các cây dược liệu với hơn 12 nghìn loài thực vật, trong đó có gần 4 nghìn loài có công dụng làm thuốc được xếp vào loại quý hiếm trên thế giới như: Sâm ngọc linh, Sâm vũ diệp,

Tam thất hoang, Bách hợp, Thông đỏ, Vàng đắng, Hoàng liên ô rô, Hoàng liên gai,

Thanh thiên quỳ, Ba gạc Vĩnh Phú…[5]

Bên cạnh đó, người Việt Nam đã có kinh nghiệm và truyền thống sử dụng các loại cây để làm thuốc đã góp phần hình thành nên một nền kho tàng tri thức về y học

Với những thói quen đó, thị trường tiêu thụ dược liệu và các sản phẩm dược liệu trong nước hiện đang rất lớn [5]

Hiện nay, các nhà khoa học đã thống kê được gần 300 loài cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng, thường xuyên được khai thác với khối lượng từ 10000 - 20000 tấn mỗi năm cung cấp thị trường trong nước và xuất khẩu Các loài thuốc đang được khai thác với số lượng lớn như Vàng Đắng, Thiên niên kiện, Cầu tích, Hoàng đắng, Chè dây [23]

Số liệu thống kê của ngành Y tế gần đây cho biết, mỗi năm ở Việt Nam tiêu thụ từ 30 - 50.000 tấn các loại dược liệu khác nhau Trên 2/3 khối lượng này được khai thác từ nguồn cây thuốc mọc tự nhiên và trồng trọt trong nước Riêng từ nguồn cây thuốc tự nhiên đã cung cấp tới trên 20.000 tấn mỗi năm Tuy vậy, khối lượng dược liệu này trên thực tế mới chỉ bao gồm từ 200 loài được khai thác và đưa vào thương mại có tính phổ biến hiện nay Bên cạnh đó còn nhiều loài cây thuốc khác vẫn được thu hái sử dụng tại chỗ trong cộng đồng, hiện chưa có con số thống kê cụ thể [61]

Theo điều tra của viện Dược liệu, hiện Việt nam có khoảng 136 loài cây thuốc đang được trồng khá tập trung tại một số vùng sinh thái trên cả nước (chủ yếu ở 18 vùng trồng có tính truyền thống), cung cấp khoảng 15.500 tấn dược liệu cho thị trường [21]

Những dược liệu có giá tăng cao thường là những dược liệu có nhu cầu sử dụng tăng Việc lựa chọn cây trồng phù hợp để ưu tiên phát triển đáp ứng nhu cầu thị trường là cần thiết Phát triển dược liệu cũng là giải pháp tạo việc làm, khai thác quĩ đất một cách hiệu quả Ngoài việc quy hoạch các vùng trồng dược liệu tập trung, một trong những xu hướng phát triển hiện nay nhằm xóa đói giảm nghèo là sử dụng các cộng đồng dân cư phát triển kinh tế hộ gia đình trên cơ sở phát triển trồng dược liệu [21]

Trong tổng số 3948 loài cây thuốc và nấm làm thuốc đã biết, chỉ có khoảng 500 loài là cây thuốc trồng hay từ các loài cây trồng khác nhưng có bộ phận được dùng làm thuốc Song trên thực tế, hiện chỉ có 44 loài trong tổng số đó là cây thuốc trồng sản xuất ra hàng hóa (ở các mức độ khác nhau) [20]

Nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu, công tác trồng cây thuốc luôn được quan tâm Ngay từ những năm 1960, để phục vụ cho chương trình phòng chống giun sán ở miền Bắc, Viện Dược liệu đã triển khai nghiên cứu đưa cây Dầu giun mọc hoang dại vào trồng rộng rãi Viện Dược liệu chỉ đạo và phối hợp với các trạm Dược liệu trồng một số cây thuốc quan trọng như: ích mẫu, Tam thất, Bạch truật, Đỗ trọng, Hoàng bá, Hoàng cầm, Vân mộc hương, Cát cánh, Bắc sa sâm, Độc hoạt, Đương qui, Bạc hà, Kim ngân Xác định và chọn được một số vùng có thể triển khai trồng lớn, như trồng Ích mẫu ở Hà Bắc; trồng Tam thất ở

Thông Nông (Cao Bằng); trồng các cây nhập nội từ Trung Quốc ở Sa Pa và Tam Đảo; cung cấp giống cho Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Văn Điển - Hà Nội, Nam Hà để phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu dược liệu sang Đông Âu và Liên Xô [21]

Trong khối công nghiệp dược, cả nước có 286 cơ sở sản xuất dược phẩm (bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, công ty, tổ hợp sản xuất, tư nhân) đang sản xuất

1.294 loại dược phẩm được sản xuất từ nguyên liệu thực vật hoặc chất chiết xuất từ thực vật, chiếm 23% số loại dược phẩm được phép sản xuất và lưu hành từ năm 1995-

2000, sử dụng 435 loài cây cỏ Nhu cầu dược liệu cho khối công nghiệp dược khoảng

20.000 tấn, và cho xuất khẩu khoảng 10.000 tấn/năm Theo số liệu năm 1998, Tổng công ty Dược Việt Nam đã xuất khẩu được 13 triệu USD, trong đó dược liệu, tinh dầu và các hoạt chất từ cây thuốc chiếm 74% Tiềm năng cung cấp dược liệu có thể đạt

Một số cây thuốc có tiềm năng đã được đầu tư và tổ chức thành công các vùng trồng để tạo nguyên liệu phục vụ trong nước và xuất khẩu, như trồng Thanh cao hoa vàng, Lão quan thảo, Mã đề, Ngưu tất, Sa nhân, Đương qui Nhật Bản, Lô hội, Hòe, Sả, Địa liền, Gừng, Tỏi, Cúc hoa, Diệp hạ châu, Trinh nữ hoàng cung, Kim tiền thảo,

Actiso, Râu mèo, Quế, Hồi, Hương nhu trắng, Hương nhu tía, Bạc hà, Thảo quả, Cốt khí củ, Hoắc hương, Bạch truật, Địa liền, Nga truật, Nhân trần, Bồ bồ, Thảo quyết minh, Xuyên khung, Mạch môn, Ngải cứu, Xạ can, Sen,…[21]

Tổng quan nghiên cứu về cây thuốc trên Thế giới và ở Việt Nam

được đầu ra, Trung tâm sẽ dùng nó để sản xuất trà túi lọc linh chi cung cấp cho thị trường nội tỉnh Tuy mới ở giai đoạn đầu của dự án, nhưng mô hình trồng nấm đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho 40 hộ tham gia và có tác dụng kích thích một số hộ tự bỏ thêm vốn để đầu tư mở rộng sản xuất Điển hình là hộ ông Nguyễn Hữu Nghị, xã

Phúc Trạch, tự bỏ vốn sản xuất thêm hơn 400 bịch nấm linh chi; hộ anh Trần Xuân

Thành, xã Sơn Trạch, đầu tư thêm gần 600 bịch nấm linh chi [61]

3 Tổng quan nghiên cứu về cây thuốc trên Thế giới và ở Việt Nam

Từ thời cổ xưa, loài người đã biết khai thác và sử dụng cây thuốc vào công tác chăm sóc sức khỏe và các nhu cầu của cuộc sống mình

Theo Aristote (384 - 322 trước công nguyên) đã tổng kết trên 4000 năm trước, các dân tộc vùng Trung cận đông đã biết đến cả ngàn cây thuốc, sau này người Ai Cập đã biết cách chế biến và sử dụng chúng [40]

Theo thông tin của tổ chức Y tế thế giới đến năm 1985, trên toàn thế giới đã biết tới trên 20.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao (trong tổng số hơn 250.000 loài thực vật đã biết) được sử dụng trực tiếp làm thuốc hay có xuất xứ cung cấp các hoạt chất để làm thuốc (N.R.Farnsworth và D.D.Soejarto, 1985) Theo Napralert năm

1990 con số này được ước tính từ 30.000 đến 70.000 loài cây thuốc Trong đó, ở

Trung Quốc đã có tới trên 10.000 loài thực vật được coi là cây thuốc, Ấn Độ hơn

6.000 loài, vùng nhiệt đới Đông Nam Á khoảng 6.500 loài [23]

Ngành dược thế giới bắt đầu phát triển từ những năm 20 của thế kỷ trước Thụy

Sĩ, Đức và Ý là những nước đầu tiên phát triển công nghiệp dược, tiếp sau đó là Anh,

Mỹ, Bỉ, Hà Lan,… Qua nhiều thập kỷ phát triển, môi trường sản xuất và kinh doanh dược phẩm có nhiều thay đổi, hoạt động mua bán sáp nhập trên quy mô toàn cầu làm một số tập đoàn dược phẩm khổng lồ thống trị thị trường dược thế giới và kiểm soát nền công nghiệp dược toàn cầu [60]

Năm 2011, Mỹ dẫn đầu, chiếm 34% tổng giá trị tiêu thụ thuốc trên thế giới, kế đến là Nhật 12% Tổng giá trị tiêu thụ thuốc tăng trưởng chủ yếu ở các nước có nền công nghiệp dược đang phát triển, dự báo đến 2016 tăng đến 30%, tuy vậy chưa có thay đổi vị trí thứ hạng của các nước [60]

Biểu đồ 1.1 Tỷ trọng giá trị tiêu thụ thuốc theo quốc gia

Trên thế giới, nhiều nước đã xuất khẩu dược liệu và thu được nguồn ngoại tệ đáng kể Ví dụ như ở Trung Quốc, vị thuốc Đông trùng hạ thảo (Cordyceps sinensis) có giá tới 2.000-5.000 USD/kg Hoặc ở Triều Tiên, cây Nhân sâm đã mang lại một nguồn kinh tế khá lớn cho những cơ sở trồng trọt và sản xuất thuốc từ cây này Hằng năm, công ty Hồng Sâm (Hàn Quốc) đã sử dụng trên 6.000 tấn Nhân sâm, để tạo ra sản phẩm trên 460 triệu USD [23]

Ngày nay, ước lượng có khoảng 35.000 - 70.000 loài trong số 250.000 - 300.000 loài cây cỏ được sử dụng vào mục đích chữa bệnh ở khắp nơi trên thế giới

Trong đó Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.500 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Nepal có hơn 700 loài, Srilanka có khoảng 550 - 700 loài [26]

Giai đoạn 2012 - 2017, tăng trưởng hàng năm của thị trường dược phẩm ở các nước có công nghiệp dược phát triển sẽ chậm lại, bình quân khoảng 1% - 4%, đáng lưu ý là Pháp và Tây Ban Nha dự kiến sẽ tăng trưởng âm Nhóm các quốc gia có công nghiệp dược đang phát triển sẽ có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ do chi tiêu cho dược phẩm của người dân các nước này hiện còn khá thấp Trong đó, Trung Quốc dẫn đầu với mức tăng trưởng 15% - 18%, điều này sẽ làm cho Trung Quốc có tổng giá trị tiêu thụ thuốc đứng thứ nhì thế giới, chỉ sau Mỹ trong vài ba năm tới; Ấn Độ sẽ có mức tăng trưởng từ 11% - 14% [60]

Tương lai thị trường dược phẩm khu vực Đông Nam Á đầy hứa hẹn, Singapore sẽ có mức tăng trưởng hàng năm là 9,3%, sẽ là trung tâm thương mại dược phẩm quan trọng thế giới, kết nối khu vực này với phía Tây [60]

Bảng 1.1 Dự báo mức tăng trưởng hàng năm của thị trường dược phẩm ở một số nước (2012 - 2017)

Các thị trường phát triển

Tăng trưởng bình quân hàng năm (%)

Các thị trường đang phát triển

Tăng trưởng bình quân hàng năm (%)

Nhật Bản 2 - 5 Nhóm 2: 10 - 13 Đức 1 - 4 Brazil 11 - 14

(Nguồn: Công ty cổ phần chứng khoán FPT) Ở Ấn Độ, nền y học cổ truyền được hình thành cách đây hơn 3000 năm Chủ trương của người Ấn là ngừa bệnh là chính, nếu phải điều trị bệnh thì các liệu pháp tự nhiên chủ yếu thông qua thực phẩm và thảo mộc sẽ giúp loại bỏ gốc rễ căn bệnh Ấn Độ là quốc gia rất phát triển về nghiên cứu thảo dược như tổng hợp chất hữu cơ, tách chiết chứng minh cấu trúc, sàng lọc sinh học, thử nghiệm độc tính, và nghiên cứu tác dụng hóa học của các chất tới cơ thể con người Hiện nay, chính phủ khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong trồng cây thuốc Hầu hết các viện nghiên cứu dược của Ấn Độ đã tham gia vào nghiên cứu chuyển hóa các loại thuốc và hợp chất có hoạt tính từ thực vật [26]

Ngày nay theo thống kê của quỹ quốc tế và bảo vệ thiên nhiên (WWF), trên thế giới có khoảng 250.000 - 270.000 loài thực vật bậc cao thì có đến 35.000 - 70.000 loài được sử dụng vào mục đích làm thuốc chữa bệnh Trong đó Trung quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.500 - 8.000 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Nepal có hơn 700 loài, Srilanka có khoảng 550 - 700 loài và Hàn

Quốc có khoảng 1.000 loài có thể sử dụng được trong Y học truyền thống Châu Mỹ

La tinh nơi có 1/3 số loài thực vật trên thế giới cũng có truyền thống sử dụng cây cỏ làm thuốc, đặc biệt là ở người dân bản địa Schule đã phát hiện gần 2.000 loài cây thuốc được sử dụng ở vùng Amazon thuộc Colombia [56]

Các quốc gia Châu Phi thường số loài cây thuốc ít hơn như Somalia có 200 loài, Botswana có 314 loài Cùng với phương thức chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học trên thế giới tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các hợp chất hóa học trong cây có tác dụng chữa bệnh, đúc rút thành những cuốn sách có giá trị

Các nhà khoa học công nhận rằng hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh, đó là khả năng miễn dịch tự nhiên của thực vật Tác dụng kháng khuẩn do các hợp chất tự nhiên có mặt phổ biến trong thực vật như phenolic, antoxy, các dẫn xuất quino, ancaloid, flavonoid, saponin,…[26]

Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO), có trên 20.000 loài thực vật bậc cao có mạch và ngành thực vật bậc thấp được sử dụng trực tiếp làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất tự nhiên để làm thuốc Trong đó, vùng nhiệt đới Châu Mỹ có hơn 1.900 loài, vùng nhiệt đới Châu Á có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa được dùng làm thuốc Mức độ sử dụng thuốc thảo dược ngày càng cao [56]

Theo thống kê trên toàn thế giới, giá trị của công nghiệp dược sử dụng cây cỏ là

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 03/07/2021, 05:33

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w