Nhiều vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn gây nhiều thiệt hại về kinh tế, làm ô nhiễm môi trường...Lý do là hệ thống PCCCR chưa đáp ứng đầy đủ và hiệu quả còn thấp chính vì thế cần dự báo t
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
ĐOÀN THỊ MAI
ỨNG DỤNG VIỄN THÁM VÀ GIS TRONG NGHIÊN CỨU PHÒNG CHỐNG CHÁY RỪNG
Trang 2L ỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS- TS Nguyễn Văn Lợi Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy, người đã tận tình dạy
dỗ, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Lãnh đạo, các cô chú ở Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Hới; Phòng thống kê; Chi cục khí tượng thủy văn; Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Quảng Bình; Lâm trường Đồng Hới; Lâm trường Vĩnh Long; Hạt Kiểm lâm thành phố Đồng Hới đã tận tình giúp đỡ, cung cấp thông tin và số liệu để tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm Huế; các anh chị học viên cao học chuyên ngành Lâm Học khóa
2013 – 2015 của Trường Đại học Nông Lâm Huế đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận
lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin dành tất cả tình cảm sâu sắc nhất tới gia đình, người thân và bạn
bè đã động viên, chia sẽ, hỗ trợ tôi về tinh thần cũng như vật chất trong suốt thời gian tôi
học tập và thực hiện luận văn
Tác giả luận văn
Đoàn Thị Mai
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “ Ứng dụng Viễn thám và GIS trong nghiên cứu
phòng chống cháy rừng ở thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình” là công
trình nghiên cứu của riêng bản thân tôi Các số liệu sử dụng trong luận văn là
trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn có tính kế thừa, phát triển từ
các tài liệu , các công trình nghiên cứu đã được công bố Kết quả nghiên cứu
trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ tài liệu nào khác
Tác giả luận văn
Đoàn Thị Mai
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
2.1 Ý nghĩa khoa học 2
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÁY RỪNG 4
1.1.1 Một số khái niệm 4
1.1.2 Điều kiện của cháy rừng 4
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cháy rừng 5
1.1.4 Phân loại cháy rừng 9
1.1.5 Đặc điểm cháy rừng ở từng vùng sinh thái của Việt Nam 13
1.2 DỰ BÁO, CẢNH BÁO NGUY CƠ CHÁY RỪNG 17
1.2.1 Cấp dự báo nguy cơ cháy rừng 17
1.2.2 Mùa cháy rừng 19
1.2.3 Phương pháp dự báo cháy rừng 21
1.3 TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU THẢM THỰC VẬT RỪNG DỄ CHÁY VÀ DỰ BÁO CHÁY RỪNG 26
1.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới 26
1.3.2 Những nghiên cứu trong nước 30
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 MỤC TIÊU 34
2.1.1 Mục tiêu chung 34
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 34
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CÚU 34
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
Trang 52.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 35
2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu số hóa 36
2.3.3 Phương pháp sử dụng tư liệu ảnh viễn thám để đánh giá hiện trạng và biến động diện tích thảm thực vật 36
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI 46
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 46
3.1.2 Tình hình dân sinh – kinh tế xã hội 50
3.1.3 Tài nguyên đất rừng và rừng của thành phố Đồng Hới 51
3.1.4 Đánh giá chung 52
3.2 THỰC TRẠNG CHÁY RỪNG VÀ CÔNG TÁC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY RỪNG THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI 53
3.2.1 Tình hình cháy rừng 53
3.2.2 Nguyên nhân cháy rừng 55
3.2.3 Công tác phòng cháy chữa cháy rừng ở thành phố Đồng Hới 56
3.3 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ BIẾN ĐỘNG DIỆN TÍCH THẢM THỰC VẬT GIAI ĐOẠN 2005 – 2010 VÀ GIAI ĐOẠN 2010 – 2014 THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI TỈNH QUẢNG BÌNH 60
3.4 PHÂN CẤP NGUY CƠ CHÁY RỪNG 62
3.4.1 Lựa chọn các chỉ tiêu để xây dựng bản đồ nguy cơ cháy rừng 63
3.4.2 Xây dựng bản đồ cảnh báo cháy rừng 82
3.5 HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY RỪNG THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI 86
3.6 QUY HOẠCH HỆ THỐNG PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY RỪNG TẠI THÀNH PHỐ ĐỒNG HƠI, TỈNH QUẢNG BÌNH 89
3.6.1 Quy hoạch Chòi canh lửa, Trạm quản lý bảo vệ rừng, băng cản lửa 89
3.6.2 Bản đồ quy hoạch hệ thống PCCCR thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình 91
3.7 CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY RỪNG 92
3.7.1 Biện pháp tuyên truyền giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực 92
3.7.2 Giải pháp về tổ chức lực lượng PCCCR 93
3.7.3 Phân công lực lượng canh gác trên địa bàn 93
3.7.4 Biện pháp kỹ thuật 93
Trang 63.7.5 Tổ chức điều hành khi cháy rừng xảy ra 95
3.7.6 Biện pháp xử lý sau các vụ cháy rừng 96
3.7.7 Công tác tổ chức thực hiện 96
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
1 Kết luận 98
2 Kiến nghị 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC
Trang 7ĐĐN : Đông Đông Nam
FAO : Tổ chức Nông lương Liên Hợp quốc
GIS : Hệ thống thông tin địa lý
HST : Hệ sinh thái
HDND Hội đồng nhân dân
NN-PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
PCCCR : Phòng cháy, chữa cháy rừng PCCR Phòng chống cháy rừng
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Đặc trưng tiêu biểu của thời tiết khô nóng gió Tây ở các vùng 17
Bảng 1.2 Phân cấp dự báo nguy cơ cháy rừng và các biện pháp thực hiện PCCCR 18
Bảng 1.3 Chế độ khô ẩm ở Việt Nam theo Thái Văn Trừng 20
Bảng 1.4 Mùa cháy rừng theo các vùng sinh thái 20
Bảng 1.5 Đánh giá khả năng cháy rừng theo chỉ số Angstrom 21
Bảng 1.6 Cách tính chỉ tiêu tổng hợp của Nexterov 22
Bảng 1.7 Bảng tra điểm sương 22
Bảng 1.8 Cấp nguy cơ cháy rừng theo chỉ số P 23
Bảng 1.9 Chỉ số nguy cơ cháy rừng P hiệu chỉnh 23
Bảng 1.10 Cấp dự báo cháy rừng theo chỉ số H 24
Bảng 1.11 Cấp dự báo cháy rừng theo độ ẩm vật liệu cháy 24
Bảng 1.12 Phân cấp nguy cơ cháy theo hệ số khả năng bắt cháy 25
Bảng 2.1.Thang so sánh các tiêu chí 39
Bảng 2.2 Ma trận so sánh cặp đôi tầm quan trọng giữa các yếu tố 39
Bảng 2.3.Ma trận trọng số các tiêu chí 40
Bảng 2.4 Nhân tố chính và nhân tố phụ xác định 41
Bảng 2.5 Điểm phân cấp nguy cơ cháy rừng theo các chỉ tiêu đầu vào được lựa chọn 41
Bảng 3.1 Tổng hợp tình hình cháy rừng trên địa bàn thành phố từ năm 2009 đến năm 2014 54
Bảng 3.2 Diện tích các loại thảm thực vật qua các năm 62
Bảng 3.3.Đề xuất phân cấp theo nguy cơ cháy rừng của đề tài 63
Bảng 3.4 Bảng phân loại thảm thực vật thành phố Đồng Hới 64
Bảng 3.5 Phân cấp nguy cơ cháy rừng theo hiện trạng 65
Bảng 3.6 Các ngưỡng giá trị của K của công thức chỉ số khô hạn cán cân nước 69
Bảng 3.7 Tổng hợp tổng số vụ cháy theo khoảng cách từ khu dân cư đến điểm cháy 72 Bảng 3.8 Phân cấp nguy cơ cháy theo khu vực dân cư 73
Bảng 3.9 Tổng hợp tổng số vụ cháy theo khoảng cách từ đường giao thông đến điểm cháy 75
Trang 9Bảng 3.10 Phân cấp nguy cơ cháy theo đường giao thông 76
Bảng 3.11 Phân cấp mức độ ảnh hưởng của mật độ sông suối 78
Bảng 3.12 Phân cấp nguy cơ cháy rừng theo độ cao 79
Bảng 3.13 Phân cấp nguy cơ cháy theo độ dốc 80
Bảng 3.14 Phân cấp nguy cơ cháy theo hướng dốc 82
Bảng 3.15.Ma trận so sánh cặp đôi các nhân tố 83
Bảng 3.16 Trọng số của các nhân tố ảnh hưởng đến nguy cơ cháy rừng 83
Bảng 3.17 Tổng hợp phân vùng nguy cơ cháy rừng 84
Bảng 3.18 Tổng hợp kiểm chứng kết quả phân cấp nguy cơ cháy rừng so với số liệu thống kê các vụ cháy rừng 86
Bảng 3.19 Toạ độ vị trí các chòi canh 86
Bảng 3.20 Vùng quan sát Chòi canh lửa 87
Bảng 3.21 Toạ độ vị trí các Trạm quản lý bảo vệ rừng 88
Bảng 3.22 Vùng quan sát Trạm quản lý bảo vệ rừng 88
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
Biểu đồ 3.1 Nhiệt độ trung bình tháng các trạm quan trắc 67
Biểu đồ 3.2 Chỉ số khô hạn tháng trạm quan trắc 70
Biểu đồ 3.3 Tổng số vụ cháy theo khoảng cách khu dân cư 72
Biểu đồ 3.4 Tồng số vụ cháy theo khoảng cách đường giao thông 75
Biểu đồ 3.5 Biểu đồ diện tích phân cấp theo các nguy cơ cháy 85
Hình 1.1 Cháy dưới tán với ngọn lửa cháy lan trên bề mặt đất 10
Hình 1.2 Cháy tán diễn ra với ngọn lửa lan nhanh trên tán rừng 11
Hình 1.3 Cháy ngầm trong tầng than bùn và thảm mục sâu dưới mặt đất 13
Hình 2.1 Quy trình giải đoán ảnh viễn thám bằng phần mềm ENVI 37
Hình 2.2 Sơ đồ các bước xây dựng bản đồ nhạy cảm cháy rừng 43
Hình 2.3 Sơ đồ các bước xây dựng bản đồ quy hoạch phòng chống cháy rừng 45
Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng 57
Hình 3.2 Bản đồ hiện trạng thảm thực vật năm 2005 60
Hình 3.3 Bản đồ hiện trạng thảm thực vật rừng năm 2010 61
Hình 3.4 Bản đồ hiện trạng thảm thực vật rừng năm 2014 61
Hình 3.5 Bản đồ phân cấp nguy cơ cháy rừng theo hiện trạng 65
Hình 3.6 Bản đồ nhiệt độ bề mặt thành phố Đồng Hới 66
Hình 3.7 Bản đồ nhiệt độ tháng mức ảnh hưởng nguy hiểm 68
Hình 3.8 Bản đồ chỉ số khô hạn tháng 7 71
Hình 3.9 Bản đồ vị trí dân cư và điểm cháy 73
Hình 3.10 Bản đồ phân cấp nguy cơ cháy theo dân cư 74
Hình 3.11 Bản đồ vị trí điểm cháy và giao thông 76
Hình 3.12 Bản đồ phân cấp nguy cơ cháy theo đường giao thông 77
Hình 3.13 Bản đồ tiêu chí mật độ sông suối 78
Hình 3.14 Bản đồ phân cấp nguy cơ cháy rừng theo độ cao 79
Hình 3.15 Bản đồ phân cấp cháy rừng theo độ dốc 81
Hình 3.16 Bản đồ phân cấp nguy cơ cháy theo hướng dốc 82
Hình 3.17 Bản đồ vùng trọng điểm cháy rừng thành phố Đồng Hới 84
Hình 3.18 Bản đồ vùng quan sát chòi canh lửa 87
Hình 3 19 Bản đồ vùng quan sát trạm quản lý bảo v ệ rừng 88
Hình 3 20 Bản đồ quy ho ạch hệ thống P CCCR thà nh phố Đồng Hới 91
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rừng vốn được coi như lá phổi xanh của nhân loại, là tài nguyên quý báu có khả năng tái tạo, là bộ phận của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh
tế quốc dân Vậy mà, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, trong thời gian gần đây diện
tích cũng như chất lượng rừng đang bị suy giảm nghiêm trọng Một trong những
nguyên nhân quan trọng làm mất rừng đó là do cháy rừng
Cháy rừng là vấn nạn lớn của thế giới đương đại trong những năm gần đây, xảy
ra ở hầu hết các quốc gia có rừng trên thế giới, trong đó có Việt Nam Gây thiệt hại lớn
đối với tính mạng và tài sản của con người, phá vỡ cảnh quan, tác động xấu đến an
ninh quốc phòng và làm giảm tính đa dạng sinh học Theo số liệu báo cáo, hiện Việt
Nam có khoảng trên 6 triệu ha rừng dễ cháy, bao gồm rừng thông, rừng tràm, rừng tre
nứa, rừng bạch đàn, rừng khộp, rừng non khoanh nuôi tái sinh tự nhiên và rừng đặc
sản Cùng với diện tích rừng dễ cháy tăng lên thêm hàng năm, diễn biến thời tiết khí
hậu ngày càng phức tạp và khó lường ở Việt Nam đã và đang là những nguy cơ tiềm
ẩn về cháy rừng và cháy lớn ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn Chính vì vậy, công
tác PCCCR luôn được coi là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của các cấp các
ngành và toàn bộ xã hội
Tỉnh Quảng Bình với tổng diện tích tự nhiên là 806.527 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp 601.388 ha, chiếm 74,6% diện tích tự nhiên của tỉnh Tổng diện tích
rừng là 486.688 ha trong đó rừng tự nhiên 447.837 ha chiếm 92%, Rừng trồng 38,851
ha chiếm 7.9 % Hiện nay trên địa bàn tỉnh đang trong thời kỳ cao điểm về khô hạn và
cháy rừng, hầu hết những diện tích rừng của địa phương có nguy cơ cháy rất cao
Nhiều vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn gây nhiều thiệt hại về kinh tế, làm ô nhiễm môi
trường Lý do là hệ thống PCCCR chưa đáp ứng đầy đủ và hiệu quả còn thấp chính vì
thế cần dự báo trước nguy cơ xảy ra cháy rừng và phát hiện sớm các điểm cháy rừng
luôn có tầm quan trọng đặc biệt từ đó chủ động lên phương án và biện pháp khắc phục
trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng
Từ trước đến nay các đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố hình thành cháy, vật liệu cháy và dự báo các vùng trọng điểm cháy Việc ứng dụng viễn thám và công
nghệ GIS cho công tác quy hoạch phòng cháy chữa cháy rừng cho chúng ta có cách
nhìn tổng quát toàn diện thì vẫn chưa được thực hiện nên hệ thống PCCR vẫn chưa
phát huy hết tiềm năng của chúng Trên địa bàn thành phố Đồng Hới hệ thống PCCR
bố trí chỉ mang tính cục bộ mà chưa có nghiên cứu khoa học nào ứng dụng công nghệ
GIS để quy hoạch mang lại hiệu quả cao nhất của hệ thống PCCR
Trang 12Hệ thống thông tin địa lý (GIS Geographic Information Systems) đã bắt đầu sử dụng rộng rãi ở các nước phát triển hơn 2 thập kỷ qua, đây là một dạng ứng dụng công
nghệ tin học nhằm mô tả thế giới thực mà loài người đang sống - tìm hiểu- khai thác.[
12] Ở Việt Nam, công tác điều tra, quy hoạch, quản lý và bảo vệ rừng áp dụng kỹ
thuật tin học nói chung và hệ thống xử lý thông tin bản đồ GIS là nhu cầu cấp bách
hiện nay Viễn thám (RS remote sensing) là kỹ thuật thu nhận thông tin của các đối
tượng mà không cần tiếp xúc trực tiếp với các đối tượng đó Ngày nay ở nước ta cũng
như các nước khác trên thế giới, công nghệ viễn thám được sử dụng rộng rãi trong
nhiều lĩnh vực như thành lập, chỉnh lý bản đồ địa hình, điều tra hiện trạng sử dụng đất,
điều tra thảm thực vật, nghiên cứu tài nguyên môi trường, nghiên cứu biển Việc ứng
dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) và viễn thám để xây dựng hệ thống cảnh báo sớm
giúp cho việc xây dựng kế hoạch ứng phó với nguy cơ cháy rừng có hiệu quả và rất
cần thiết trong công tác phòng chống cháy rừng về cơ sở khoa học cũng như thực tiễn
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài “Ứng dụng viễn thám và GIS trong
nghiên cứu phòng chống cháy rừng ở thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình”
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
phòng chống cháy rừng tại thành phố Đồng Hới, tỉnh quảng Bình
- Đề xuất hướng quản lý thích hợp cho công tác phòng chống chữa cháy rừng trên địa bàn thành phố
- Kết quả đề tài còn làm cơ sở cho công tác quy hoạch công trình phòng chống cháy cho các địa bàn khác trong và ngoài tỉnh áp dụng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Rừng và đất rừng tại thành phố Đồng Hới
- Nhân tố ảnh hưởng đến cháy rừng
- Nghiên cứu quy hoạch PCCCR tại thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình
Trang 133.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài thực hiện tại thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình
- Phạm vi thời gian: thực hiện từ tháng 08/2014 đến tháng 06/2015
Trang 14Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÁY RỪNG
1.1.1 Một số khái niệm
a) Cháy rừng: Cháy rừng là đám cháy được phát sinh trong rừng, tác động và
làm tiêu huỷ sinh vật ở trong rừng Nói cách khác, cháy rừng là quá trình cháy làm tiêu
huỷ những vật liệu của rừng mà sự hình thành và phát triển của đám cháy diễn ra
không theo sự kiểm soát của chủ rừng
Trong tài liệu về quản lý lửa rừng, FAO đưa ra khái niệm về cháy rừng và đến
nay thường được sử dụng: “Cháy rừng là sự xuất hiện và lan truyền của những đám
cháy trong rừng mà không nằm trong sự kiểm soát của con người; gây nên những tổn
thất nhiều mặt về tài nguyên, của cải và môi trường” [2]
b) Thảm thực vật rừng dễ cháy: Trong công tác PCCCR ở Việt Nam đã xuất
hiện khái niệm rừng dễ cháy Theo đó, rừng dễ cháy là các loại rừng có khả năng tích
lũy khối lượng vật liệu lớn, rất dễ xảy ra Theo phân loại, thảm thực vật rừng dễ cháy ở
Việt Nam gồm: rừng thông, rừng tràm, rừng tre nứa, rừng bạch đàn, rừng khộp, rừng
keo các loại, rừng non khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, rừng đặc sản, [2]
1.1.2 Điều kiện của cháy rừng
Cháy rừng được coi là một dạng thảm họa và là một hiện tượng phức tạp Nó cháy tự do trong HST rừng và chịu sự chi phối của VLC, điều kiện môi trường và hoạt
động dân sinh, kinh tế - xã hội Cháy rừng xuất hiện khi có sự kết hợp đồng thời của
ba yếu tố gồm: vật liệu cháy (chất bị cháy), ôxy (chất duy trì sự cháy) và nguồn nhiệt
gây ra cháy [11]:
- Vật liệu cháy: Chất bị cháy, có sẵn trong rừng VLC là tất cả những chất có
khả năng bén lửa và bốc cháy trong điều kiện có đủ nguồn nhiệt và ôxy
- Ôxy: Chất duy trì sự cháy, sẵn có trong không khí (Chiếm khoảng 21% bầu
không khí tự nhiên) Dưới tán rừng tỷ lệ này có thể thấp hơn do quá trính phân giải
một số hợp chất hữu cơ làm cho lượng CO2 tăng lên
- Nguồn nhiệt: Là yếu tố duy nhất không sẵn có trong rừng Nhiệt độ cần để đốt
cháy VLC ở thời điểm ban đầu gọi là điểm bén lửa Các VLC trong rừng thường có
điểm bén lửa trong khoảng từ 220 - 250 0C Hầu hết nguồn nhiệt gây cháy rừng được
xuất phát từ các hoạt động của con người
Các nghiên cứu đã chỉ rõ, nguồn VLC có độ ẩm ≤ 25% thì khả năng bắt lửa là
Trang 15dễ dàng Khi đồng thời có cả 3 yếu tố trên là điều kiện cần cho một đám cháy Đồng
thời, các yếu tố đủ cho đám cháy như độ ẩm thấp, nhiệt độ cao, gió mạnh và địa hình
cùng hướng gió, thì đám cháy sẽ bắt đầu Trong điều kiện có gió, đám cháy sẽ dễ
dàng lan rộng theo hướng gió và tốc độ lan rộng tùy thưộc vào tốc độ gió
Như vậy, mỗi kiểu thảm thực vật rừng có liên quan trực tiếp đến khối lượng, kết cấu và tính chất của VLC, từ đó dẫn đến tính dễ bắt lửa và quy mô đám cháy Các kiểu
thảm thực vật rừng khác nhau sẽ có các hệ số bắt cháy khác nhau Dựa trên tính chất
và cấu trúc của từng kiểu thảm thực vật rừng sẽ xác định được các hệ số bắt cháy
tương ứng, kết hợp với đặc điểm khí hậu - thời tiết và các nguồn nhiệt phát sinh, từ đó
cho phép xây dựng được phân loại thảm thực vật rừng dễ cháy theo nguy cơ cháy/ khả
năng cháy phục vụ cho công tác phòng chống cháy rừng hiệu quả
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cháy rừng
1.1.3.1 Các nhân tố về điều kiện tự nhiên
a) Kiểu thảm thực vật rừng và loại hình thực bì: VLC gồm thảm khô (cành,
nhánh, lá, vỏ, hoa, quả, trảng cỏ, cây bụi, ), cây khô, than bùn, thân cây và cành lá
còn tươi có chứa tinh dầu, Nguy cơ cháy rừng tăng lên cùng với sự gia tăng VLC
Kiểu rừng và loại hình thực bì có liên quan trực tiếp tới nguồn VLC, tính chất
và khối lượng VLC do đặc điểm của kiểu rừng và loại hình thực bì quyết định, từ đó
dẫn đến tính bắt lửa và quy mô đám cháy
Ở các kiểu rừng thông, tràm, bạch đàn, rừng khộp sản phẩm rơi rụng là những cành, lá, hoa quả, vỏ cây và thân cây khô… thường có tinh dầu hoặc nhựa rất dễ bắt lửa
và cháy rất đượm Những khu rừng tre nứa thuần loài hoặc tre nứa chiếm ưu thế, ngoài
những cành khô, lá rụng, cây chết, còn có trường hợp tre nứa bị hiện tượng “khuy” chết
hàng loạt, vì vậy nguồn VLC sẽ rất lớn Một số loại rừng rụng lá theo mùa (như rừng
khộp) cũng là nguồn VLC tiềm tàng tại thời điểm rụng lá hoặc tích lũy hàng năm
b) Điều kiện thời tiết và các nhân tố khí tượng: Thời tiết và các nhân tố khí
tượng là một tác nhân cho sự phát sinh, phát triển của một đám cháy rừng
- Nhiệt độ: Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình cháy rừng như
làm khô, nỏ VLC; làm độ ẩm không khí giảm và bề mặt đất nóng lên,… Khi xem xét
vai trò của nhiệt độ đối với cháy rừng thường đánh giá ảnh hưởng của nó tới các mặt:
Nhiệt độ làm rút ngắn quá trình khô của VLC;
Làm nóng và khô nhanh mặt đất dẫn đến lớp không khí sát mặt đất nóng lên
Như vậy, nhiệt độ gồm hai thành phần là nhiệt độ đất và nhiệt độ không khí
- Độ ẩm: Độ ẩm là nhân tố gây ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến quá trình
phát sinh cháy rừng và quy mô đám cháy Độ ẩm không khí càng cao thì VLC càng
Trang 16ẩm, khó xảy ra cháy Ngược lại, độ ẩm thấp VLC khô dẫn tới dễ xảy ra cháy rừng và
cháy lớn Để có biện pháp phòng ngừa và cảnh báo cháy rừng cụ thể, độ ẩm được chia
làm 3 loại sau:
Độ ẩm không khí: Nhìn chung, độ ẩm không khí ở các vùng có rừng cao hơn
nhiều so với các khu vực không có rừng Nguyên nhân là do sự thoát hơi nước của thực vật Mặt khác, do đất dưới tán rừng luôn ẩm ướt, quá trình bốc hơi vật
lý thường xuyên xảy ra cung cấp độ ẩm cho lớp không khí Ngoài ra, ở trong rừng tính từ giới hạn mặt đất tới tán cây, do mật độ cây dày, cành lá rậm rạp làm cho dòng bốc thoát hơi trong rừng diễn ra chậm, làm độ ẩm không khí trong rừng cao hơn bên ngoài rừng
Độ ẩm VLC: Độ ẩm của VLC tỷ lệ thuận với độ ẩm của không khí và ảnh
hưởng tới khả năng bén lửa Độ ẩm càng thấp khả năng bén lửa càng cao và ngược lại Mặt khác, độ ẩm VLC còn phụ thuộc vào lượng mưa Mưa càng lâu, càng lớn thì độ ẩm VLC càng cao và thời gian ẩm ướt kéo dài
Độ ẩm của đất: Lượng nước tạo thành độ ẩm của đất trong rừng gồm nước mưa
đọng trên mặt đất; lượng nước thực tế trong tầng đất mặt và nước ngầm thường xuyên duy trì và làm ẩm mặt đất bằng hiện tượng mao dẫn (mực nước ngầm thường xuyên biến động theo mùa, về mùa khô thường nằm sâu hơn so với mùa mưa, còn ở địa hình đồi núi cao mực nước ngầm ít có ảnh hưởng tới độ ẩm của lớp bề mặt)
Nhìn chung, độ ẩm tương đối của đất rừng cao hơn so với bên ngoài và phụ thuộc nhiều vào các đặc điểm của cấu trúc rừng gồm: mật độ cây rừng, loài cây, tính
chất đất, dạng địa hình, hướng phơi, Nước trong đất rừng thường xuyên bốc hơi làm
tăng độ ẩm không khí trong rừng, thời gian ẩm kéo dài thì khả năng bắt lửa của VLC
giảm đi Nói chung, với độ ẩm của đất rừng thích hợp, dưới tác động của nhiệt độ
không khí và nhiệt độ đất, vi sinh vật hoạt động thuận lợi, đẩy nhanh quá trình phân
giải VLC trên mặt đất, kể cả quá trình khoáng hoá các chất hữu cơ nằm dưới mặt đất
Trong những trường hợp như vậy, khả năng tích luỹ các chất hữu cơ dưới và trên mặt
đất càng giảm nhanh Điều này cũng giải thích vì sao ở trên những vùng rừng ở độ cao
từ 800 - 1000 m trở lên, lớp cành khô lá rụng thường phủ dày vì tốc độ phân huỷ kém
Kết quả khảo sát của nhiều đoàn điều tra rừng thuộc khu vực núi Phan Xi Păng cho
thấy, từ độ cao 1000 m trở lên, dưới mặt đất rừng thông, Pơ mu, Samu gần như thuần
loại, tầng thảm mục có chỗ dày trên 1m nên ở đây rất dễ phát sinh cháy rừng bề mặt và
cháy ngầm [2]
- Gió: Là nhân tố ảnh hưởng rất nhiều đến cháy rừng, gió thúc đẩy nhanh quá
trình làm khô VLC; làm bùng phát ngọn lửa và đẩy nhanh tốc độ đám cháy; mang theo
tàn lửa gây các đám cháy khác, làm đám cháy phát triển nhanh và lan rộng
Trang 17Phần lớn diện tích rừng của Việt Nam phân bố trên các dạng địa hình đồi núi và thung lũng Mỗi dạng địa hình gây ra hoàn lưu gió cục bộ, địa phương khác nhau Điển
hình nhất là hệ thống gió núi và thung lũng, chúng hình thành theo từng khoảng thời
gian trong ngày
Ở các thời điểm khác nhau trong ngày, hệ thống gió núi và thung lũng phụ thuộc rất chặt chẽ vào sự phân bố năng lượng nhiệt của mặt trời, từ đó chi phối hoàn
lưu gió theo thời gian cũng khác nhau, làm cho quy mô và mức độ lan tràn của một
đám cháy ở thung lũng cũng khác nhau Tuy nhiên, sự lan tràn này còn phụ thuộc vào
vị trí của đám lửa phát sinh ở bìa rừng hoặc ở phía trong sát bìa rừng hoặc nằm sâu
trong rừng Vì vậy, sự xâm nhập của gió vào trong rừng, ở các vị trí khác nhau tác
động tới đám cháy ở mức độ khác nhau Nói cách khác, sự xâm nhập của gió theo
chiều nằm ngang và chiều thẳng đứng cũng có những tác động khác nhau tới sự phát
triển ban đầu của đám cháy, do đó biện pháp hạn chế lửa lan tràn không thể không đề
cập tới yếu tố này
Ở Việt Nam, khi phân tích ảnh hưởng của tốc độ gió đến nguy cơ cháy rừng
Cooper (1991) [26] đã đề nghị hiệu chỉnh chỉ tiêu P của Nesterop dùng để phản ánh
nguy cơ cháy rừng (Bảng 1.10)
- Mưa: Chế độ mưa và mùa mưa sẽ ảnh hưởng và quyết định đến nhân tố độ
ẩm Khi có mưa làm tăng độ ẩm của VLC, ít có nguy cơ cháy rừng Ngược lại, khi
không có mưa hoặc lượng mưa nhỏ (dưới 5 mm/ngày) thì VLC sẽ khô và khi đó nguy
cơ cháy rừng có thể xảy ra
c) Điều kiện địa hình: Địa hình có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cháy
rừng và liên quan trực tiếp đến sự phát triển của đám cháy; có tác dụng ngăn chặn các
hệ thống gió, hình thành các khu vực tiểu khí hậu khác nhau như: tạo ra các khu vực
thường xuyên có mưa hoặc các khu vực khô hạn ít mưa
Ở những khu vực có địa hình cao thường khô hạn kéo dài, nắng nhiều và dao động nhiệt lớn hơn rất nhiều so với nơi thấp Ở địa hình sườn dốc, do khác hướng phơi
nên năng lượng nhận được khác nhau, sườn dốc còn tạo điều kiện thuận lợi cho các
dòng đối lưu phát triển mạnh hơn so với khu vực khác Ngoài ra, các loại gió địa
phương do sự điều chỉnh của địa hình đối với hệ thống gió chính có thể làm tăng tốc
độ gió,… Các yếu tố địa hình tạo ra có ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện bốc hơi nước
và độ ẩm của VLC hoặc chi phối quy mô, tốc độ lan tràn các đám cháy rừng
1.1.3.2 Các nhân tố về điều kiện kinh tế - xã hội
a) Do các hoạt sản xuất của con người:
- Đốt rừng để lấy đất sản xuất, tập quán đốt nương làm rẫy ở miền núi và đốt rơm rạ ở đồng ruộng gây cháy lan sang rừng, đốt quang thực bì để thu nhặt kim loại,
Trang 18đốt dọn VLC dưới các tán rừng không có kiểm soát, đốt dọn và làm đường giao thông,
hun khói để lấy mật ong gây cháy rừng,
- Vào rừng khai thác gỗ, củi vô ý gây cháy rừng Nhiều diện tích rừng trồng xong không được chăm sóc kịp thời làm tăng nguồn VLC nên về mùa khô gặp tàn
- Khách tham quan du lịch sinh thái trong rừng vô ý gây cháy rừng
- Các hoạt động dã ngoại và bắn đạn thật trong quân đội gây cháy rừng
1.1.3.3 Nhân tố về quản lý và điều hành
Công tác PCCCR đã được quy định trong hệ thống văn bản chỉ đạo và điều hành của Chính phủ và Bộ NN-PTNT, được củng cố và hoàn thiện tới cấp xã Các
phương án PCCCR được triển khai mạnh mẽ ở các cấp Tuy nhiên, việc kiểm soát
cháy rừng và hiệu quả chữa cháy rừng chưa cao Nguyên nhân chủ yếu là:
- Thiếu hệ thống quản lý chặt chẽ từ Trung ương xuống cơ sở về lĩnh PCCCR
Công tác chỉ đạo, điều hành chậm do không nắm bắt được thông tin kịp thời và chính
xác, thiếu phương tiện, trang thiết bị chỉ đạo, chỉ huy Việc triển khai tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục pháp luật, các chủ trương chính sách và chỉ đạo ở cấp huyện, xã,
các thôn bản còn chậm, nhiều hạn chế Chính quyền địa phương, đặc biệt cấp xã ở
nhiều nơi chưa quan tâm đúng mức, đúng trách nhiệm theo Quyết định
245/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 21 tháng 12 năm 1998 về thực hiện trách nhiệm
quản lý nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp
Tính thực tiễn của các phương PCCCR chưa cao cũng là nguyên nhân làm giảm hiệu quả của công tác PCCCR Các phương án PCCCR thường không nêu ra vùng
trọng điểm cháy rừng, những hành động thích hợp nhất đối với cán bộ chỉ huy, lực
lượng dập cháy, lực lượng hậu cần ứng với những trường hợp cháy rừng cụ thể của địa
phương Đây là nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng lúng túng trong tổ chức và thực
hiện các hoạt động PCCCR, đặc biệt khi có cháy lớn xảy ra
Công tác dự báo, cảnh báo và phát hiện sớm điểm cháy của lực lượng Kiểm lâm
đã được triển khai nhưng còn nhiều hạn chế do thiếu kinh phí, trang thiết bị Mặt khác,
nguồn số liệu tập hợp để đưa vào tính toán cấp dự báo chưa đại diện cho các vùng và
tiểu vùng trong cả nước, cũng như tính khoa học của việc tính toán cấp dự báo không
cao Hiện tại chỉ mới dự báo nguy cơ cháy rừng trên diện rộng, chưa dự báo trực tiếp
Trang 19các vị trí, khu vực trọng điểm, chưa phát hiện sớm được điểm cháy để kịp thời xử lý
- Không có lực lượng chữa cháy rừng chuyên trách, trong khi Luật phòng cháy, chữa cháy có quy định Lực lượng thường trực PCCCR hiện nay chủ yếu là lực lượng
Kiểm lâm, nhưng lại rất mỏng, phân tán; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về công tác
PCCCR còn hạn chế Cục Kiểm lâm chưa được đầu tư để xây dựng, đào tạo huấn
luyện một lực lượng chữa cháy rừng có tính chuyên nghiệp cao Trung bình trên 1.200
ha rừng/01 biên chế kiểm lâm; biên chế trực tiếp cho lực lượng chữa cháy rừng không
có, Vì vậy, khi cháy rừng xảy ra và cháy lớn, mặc dù huy động rất nhiều người tham
gia chữa cháy song hiệu quả chữa cháy rừng vẫn rất thấp
- Nhiều địa phương kinh phí đầu tư cho công tác PCCCR rất hạn chế; phương tiện, trang thiết bị vừa thô sơ, lạc hậu, vừa thiếu, chỉ có một số máy bơm công suất nhỏ
và chủ yếu là dụng cụ chữa cháy thủ công như: cuốc, xẻng, dao phát,
- Sự phối hợp giữa các lực lượng tham gia chữa cháy rừng chưa nhịp nhàng, chưa thống nhất, kém hiệu quả, lúng túng trong chỉ đạo điều hành, không phân định rõ
cơ chế chỉ đạo, điều hành và cơ chế phối hợp Lực lượng chữa cháy đông nhưng không
có nghiệp vụ, hiệu quả chữa cháy rừng thấp Đây là bài học kinh nghiệm được rút ra từ
02 vụ cháy lớn tập trung ở Kiên Giang và Cà Mau trong năm 2002; vụ cháy rừng ở
VQG Hoàng Liên trong những năm gần đây
- Xã hội hóa công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCCR đã và đang thực hiện có hiệu quả ở địa phương, các cấp chính quyền, chủ rừng và các tầng lớp xã hội bước đầu
đã nhận thức được vai trò, tránh nhiệm của mình trong công tác PCCCR Tuy nhiên,
lực lượng này chỉ có thể tham gia giập tắt những đám cháy nhỏ, còn các đám cháy lớn
không thể kiểm soát được
- Chế độ đãi ngộ với lực lượng tham gia chữa cháy chưa cụ thể, rõ ràng nên chưa động viên, khuyến khích mọi lực lượng tham gia công tác PCCCR một cách chủ
khu vực miền Trung
1.1.4 Phân loại cháy rừng
Từ thực tế các vụ cháy rừng đã xảy ra, đã thống kê có 3 tầng phân bố VLC chủ yếu ở trong rừng là: ở dưới mặt đất, ở sát mặt đất và ở trên tán rừng Cháy rừng có thể
Trang 20xảy ra ở một hoặc cả ba tầng vật liệu này Từ cơ sở khoa học theo sự phân bố theo
không gian và thực tiễn trong sản xuất kinh doanh, quản lý bảo vệ và phát triển rừng
người ta chia làm 3 loại cháy rừng là: Cháy dưới tán (cháy mặt đất), cháy tán rừng và
cháy ngầm (cháy lớp thảm mục dày dưới mặt đất, cháy than bùn) [2, 10]
a) Cháy dưới tán rừng (cháy trên bề mặt đất rừng): Cháy dưới tán rừng là
những đám cháy mà ngọn lửa cháy lan tràn trên mặt đất làm tiêu hủy một phần hoặc
toàn bộ lớp thảm mục, cành khô, lá rụng, cỏ khô, thảm tươi, cây bụi, cây tái sinh cháy
sém vỏ và một phần nào đó ở gốc cây, rễ cây nổi lên trên mặt đất và ở sát mặt đất
Cháy dưới tán rừng là loại cháy thường xảy ra nhiều nhất, lửa cháy lan nhanh, nhưng ngọn lửa nhỏ không vươn lên tán cây rừng, thường là ở dưới đoạn phân cành
Sau khi cháy, mặt đất bị cháy trụi, trong rừng chủ yếu còn lại những loại cây lớn
Hình 1.1 Cháy dưới tán với ngọn lửa cháy lan trên bề mặt đất [3]
Loại cháy này thường gặp ở những kiểu rừng thưa, rừng phân bố trên địa hình tương đối dốc, các sa van trong đó cây bụi, thảm cỏ chiếm ưu thế và ở những khu rừng
khô, rụng lá theo mùa, rừng trồng có tầng thảm mục khô nỏ nhưng không dày lắm Ở
các sa van cỏ và cây bụi, cháy lan theo chiều gió rất nhanh nhưng chóng tàn Cháy
dưới tán rừng tiêu huỷ hầu hết các loài cây tái sinh dưới tán rừng Thân và gốc cây lớn
cháy sém hoặc cháy nham nhở để lại nhiều vết tích, cành lá trên tán khô Sau này cây
thường có nhiều
- Cháy lướt nhanh ở mặt đất rừng: Là loại cháy xảy ra khi VLC khô, tốc độ cháy có thể đạt 180 - 300 m/h Nó chịu ảnh hưởng trực tiếp của tốc độ gió ở trên bề
mặt đất rừng, nó rất dễ chuyển thành cháy tán rừng Đặc biệt rừng Thông và rừng
Khộp khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ
- Cháy dưới chậm ổn định: Là cháy hoàn toàn lớp thảm tươi cây bụi, cây non tái
Trang 21sinh và thảm mục, cháy xung quanh rễ và vỏ cây rừng,… gây thiệt hại nặng cho rừng
và ảnh hưởng xấu đối với cây rừng còn lại; làm mất khả năng tái sinh phục hồi của
rừng, một số cây rừng sinh trưởng chậm hoặc ngừng sinh trưởng và chết,…
Loại cháy này, tốc độ cháy chậm, khói nhiều và đen hơn; cháy dưới tán ổn định rất dễ chuyển thành cháy ngầm ở những nơi có tầng than bùn Còn đối với rừng non và
rừng nhiều tầng thường cháy cây tái sinh và cây bụi sẽ chuyển thành cháy trên tán
Nhìn chung, số lượng cây rừng sẽ bị thiệt hại không chỉ phụ thuộc vào cường
độ cháy mà còn phụ thuộc vào loài cây, tuổi cây, mật độ, loại hình phân bố và hệ
thống rễ của chúng
Cháy dưới tán rừng thường gây thiệt hại cho tất cả các loài cây còn non ( các cây tái sinh) và phần lớn các loài cây có khả năng chịu nắng, chịu lửa kém Có những
cây to vẫn sống được vì khả năng chống chịu lớn hơn (đối với những đám cháy nhỏ
hoặc trung bình) đa số các loài cây có khả năng chịu lửa tốt thì không bị hại khi gặp
cháy lớn dưới tán ( kể cả khi bị tổn thương ở tượng tầng) Cháy dưới tán mạnh có thể
gây hại cho tượng tầng và để lại những vết sẹo trên thân cây và ở những nơi bị cháy
lặp đi lặp lại nhiều lần gây tổn thương cơ giới làm cho cây dễ bị rỗng ruột, gỗ kém
phẩm chất, gây nhiều vết nứt trên thân cây thậm chí làm cho cây bị chết hoặc gãy đổ
b) Cháy tán rừng (cháy trên ngọn): Cháy tán rừng là hình thức cháy được phát
triển từ cháy dưới tán cháy lên đến tán rừng Khi cháy dưới tán, ngọn lửa sẽ đốt nóng
và sấy khô tán rừng sau đó cháy qua thảm cây bụi, các cây tái sinh rồi cháy lên tán
rừng và ngọn lửa sẽ cháy lan từ tán này lan sang tán khác
Cháy tán rừng thường xuất hiện ở kiểu rừng có mật độ tán dày của những loài cây có dầu, khi có gió mạnh và thời tiết nóng hạn kéo dài Cháy tán có hai loại: Cháy
ổn định (cháy toàn bộ tán rừng) và cháy lướt nhanh
Hình 1.2 Cháy tán diễn ra với ngọn lửa lan nhanh trên tán rừng [3]
Trang 22- Cháy tán ổn định (cháy toàn bộ tán rừng): Khi ngọn lửa cháy lan tràn theo tất
cả các tầng của tán rừng, từ lớp thảm tươi bên dưới đến tán rừng Rừng sẽ bị thiệt hại
hoàn toàn, tốc độ lan truyền không lớn, bình quân khoảng 0,5 km/h, có lúc có thể đạt 4
- 5 km/h
- Cháy lướt nhanh trên tán: Chỉ phát triển khi có tốc độ gió mạnh Ngọn lửa
thường lan theo tán rừng và thường được phát triển từ cháy dưới tán cháy lên
Sự lan truyền ngọn lửa của loại cháy rừng này không giống nhau mà chúng cuốn theo hướng gió Lúc đầu khi mới bén đến tán rừng, ngọn lửa lan tràn rất nhanh,
sau đó ít phút tốc độ của nó giảm đi rõ rệt, chính vào lúc đó các VLC ở dưới mặt đất
được đốt nóng và sấy khô, rồi các cây gỗ cũng bị cháy Cường độ cháy ở tán rừng sẽ
rất lớn, đốt nóng và chuẩn bị cho sự bốc cháy ở các tán bên cạnh Thiếu sự đốt nóng
đó thì cháy tán sẽ dừng lại và khi cháy dưới tán đi qua khu vực đã cháy trụi tán các
cây, sự đốt nóng và làm khô tương đối các tán cây bên cạnh theo hướng gió đã bắt đầu,
sau đó các tán sẽ bốc cháy và ngọn lửa nhanh chóng lan tràn sang khu vực đã sấy khô
tương đối Sự phát triển của đám cháy tán rừng như thế lan từ tán cây này sang tán cây
khác làm cho quy mô cháy và cường độ cháy tăng lên Tốc độ của ngọn lửa trong các
đám cháy tán có thể đạt đến 20 - 25 km/h
Ở Việt Nam, cháy tán thường xảy ra ở những khu rừng thuần loài lá có tinh dầu hay nhựa dễ bắt cháy như: rừng thông, rừng long não, bạch đàn,… Cháy tán cũng có
thể gặp ở rừng tự nhiên hỗn giao có độ dốc lớn ( 150- 300), tán cây nọ gối tán cây kia
và ngày một lên cao dần theo sườn dốc Các đám cháy thường rất rộng, gây thiệt hại
lớn Thông thường sau khi cháy tán rừng xảy ra cây rừng bị cháy trụi và đổ gẫy, rừng
chỉ còn lại đất trống
c) Cháy ngầm: Là loại cháy mà ngọn lửa cháy lan tràn dưới mặt đất làm tiêu
hủy lớp mùn, than bùn và tiêu hủy những vật liệu hữu cơ khác đã được tích luỹ dưới
lớp đất mặt trong nhiều năm
Mùn, than bùn và các chất hữu cơ đã được tích tụ lâu ngày trong quá trình phát sinh, phát triển của rừng, gồm tầng thảm mục do cành khô, lá rụng, các thân cây gẫy,
đổ, tầng rễ cây đã chết, bị vùi lấp ở phía dưới mặt đất Ở Việt Nam có thể gặp được
lớp mùn và than bùn tương đối điển hình dưới các rừng Tràm ở Kiên Giang, Cà Mau,
Sóc Trăng, Long An, Đồng Tháp Lớp thảm mục dày cũng có thể gặp được ở một số
trạng thái rừng mưa ẩm thường xanh núi cao phân bố trên dãy Hoàng Liên Sơn ở Lào
Cai, Yên Bái Trong loại cháy ngầm, lửa có thể cháy lan xuống ở các tầng hữu cơ nằm
sâu từ 0,8 - 1 m, thậm trí có thể sâu tới vài mét Đặc trưng của loại cháy này là tốc độ
lan truyền chậm (0,5 - 5,0 m/ngày), cháy âm ỉ, mép cháy không có ngọn lửa hoặc bùng
cháy lên rất nhỏ mỗi khi có gió thổi, ít khói và thường khó nhận thấy Cháy ngầm hay
xảy ra ở các khu rừng Tràm vùng Tây Nam Bộ Điển hình của loại cháy này là 2 vụ
Trang 23cháy rừng tràm lớn tại U Minh Thượng thiệt hại 2.712 ha và U Minh Hạ thiệt hại
2.703 ha trong mùa khô 2001 - 2002
Hình 1.3 Cháy ngầm trong tầng than bùn và thảm mục sâu dưới mặt đất [3]
Cháy ngầm không có ngọn lửa và ít khói nên khó phát hiện Khi cháy lớp mùn, than bùn và vật liệu hữu cơ dưới đất, nói chung như mùn, rễ cây, động vật đất và các
vi sinh vật có thể bị tiêu hủy một phần hoặc hoàn toàn Vì vậy, cũng làm chết hầu hết
cây rừng Khi cháy ngầm ngọn lửa cháy lan chậm và cháy trong điều kiện nhiệt độ rất
cao, nên cháy lâu có khi tới vài tháng Cháy ngầm có thể gây nguy cơ cháy mặt đất và
cháy tán rừng khi có gió thổi làm cho ngọn lửa cháy bùng lên Dập lửa cháy ngầm
thường sẽ khó khăn hơn nhiều so với các loại cháy khác và rất nguy hiểm cho tính
mạng của những người tham gia chữa cháy
Về cường độ cháy rừng và sự phát triển các đám cháy thường lặp lại rất khác nhau, vì nó phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, sự tích luỹ VLC và khả năng bắt lửa của
nó, phụ thuộc vào loại đất, đặc điểm địa hình nơi đó,
Trong thực tế, tuỳ theo mức độ của cháy rừng mà người ta phân loại ra cháy yếu, cháy trung bình và cháy mạnh Ngoài ra, còn một khái niệm nữa đó là cháy lớn,
tức là những đám cháy bao gồm tất cả các loại cháy đồng thời xảy ra Ở nước ta, cháy
rừng với diện tích bị cháy trên 2,5 ha được gọi là cháy lớn Nhưng ở những nước phát
triển thì cháy lớn được quy định là có diện tích trên 100 ha Hiện nay, người ta thường
căn cứ vào các loại cháy, đặc điểm khu rừng đang cháy để xác định phương thức và
chiến thuật chữa cháy rừng sao cho đạt hiệu quả cao nhất và nhanh nhất
1.1.5 Đặc điểm cháy rừng ở từng vùng sinh thái của Việt Nam
a) Vùng Tây Bắc: Tổng diện tích rừng toàn vùng tính đến 31/12/2013 khoảng
1.689.817 ha (chiếm 12,1% diện tích rừng toàn quốc) Trong đó, rừng tự nhiên có
1.507.889 ha (chiếm 89,2% diện tích có rừng) và rừng trồng khoảng 181.928 ha
Trang 24(chiếm 10,8% diện tích có rừng) [4] Rừng dễ cháy gồm các loại: pơmu, samu, bạch
đàn, keo, tre, nứa và các loại rừng non, rừng thứ sinh nghèo kiệt, Cùng các trảng cây
bụi và lau sậy phân bố trên các vùng núi và trung du Đặc điểm và nguyên nhân cơ bản
gây ra cháy rừng ở khu vực Tây Bắc là:
- Hàng năm, nguồn vật liệu trong rừng và ven rừng trải qua mùa đông khô hạn
6 tháng (từ cuối tháng 10 đến hết tháng 4 năm sau) Trong thời kỳ này, thời tiết khô,
hạn, có nhiều đợt gió mùa Đông Bắc hanh khô, kiệt kéo dài Đặc biệt, ở khu vực này
còn chịu ảnh hưởng của gió Tây khô và nóng dẫn đến độ ẩm không khí thấp, VLC trở
nên khô, nỏ dẫn đến nguy cơ cháy rừng cao
- Đồng bào các dân tộc các dân tộc như Mường, Thái, Cao Lan, Hơ Mông, Hà Nhì, có tập quán phát, đốt rừng làm nương rẫy; du canh, du cư hoặc định cư nhưng
còn du canh, hàng năm thường phát rừng vào các tháng 12 và 1, 2 năm sau; đến tháng
3, 4 là những tháng cao điểm về cháy của khu vực Đồng bào đốt, phát nương để tra
lúa, ngô, đậu, Do canh tác lạc hậu, không theo quy hoạch và hoạt động phát, đốt
phát, đốt tràn lan không tuân theo đúng quy trình kỹ thuật, không có người kiểm soát
lửa nên dễ để cháy lan vào rừng
- Ngoài ra, còn một số nguyên nhân khác như: đốt đồng cỏ để lấy cỏ non chăn thả gia súc không kiểm soát được gây cháy rừng, người đi săn bắt động vật hoang, trẻ
em đi chăn thả gia súc đốt sưởi ấm vô ý gây cháy rừng, xử lý thực bì để trồng rừng,
thăm dò địa chất, làm đường giao thông, khai hoang, dễ gây ra cháy rừng
Ở vùng Tây Bắc, Lai Châu được xác định là tỉnh trọng điểm về cháy rừng
b) Vùng Đông Bắc: Tổng diện tích rừng năm 2013 khoảng 3.642.698 ha
(chiếm 26,1% diện tích rừng toàn quốc) Trong đó, rừng tự nhiên có 2.375.557 ha
(chiếm 64,7% diện tích có rừng) và rừng trồng là 1.232.031 ha ( chiếm 35,3% diện
tích có rừng) [4] Diện tích rừng dễ cháy gồm các loại: pơmu, samu, thông, bạch đàn,
mỡ, bồ đề, keo, phi lao, tre, nứa, phân bố trên các vùng núi và trung du Đặc điểm và
nguyên nhân cơ bản gây ra cháy rừng ở khu vực Đông Bắc là:
- Vào mùa khô, nguồn VLC trong rừng và ven rừng chịu đựng mùa đông khô hạn từ tháng 11 đến hết tháng 4 năm sau Thời kỳ này, thời tiết khô, hạn và chịu ảnh
hưởng của nhiều đợt gió mùa Đông Bắc hanh khô kéo dài Đặc biệt, còn chịu ảnh
hưởng của gió Tây, gió ô quy hồ (gió địa phương ở khu vực Sa Pa), hanh và khô làm
cho độ ẩm không khí giảm xuống thấp, dẫn đến vật liệu khô và nỏ Trong thời gian
này, nguy cơ cháy rừng luôn ở mức cao
- Ở khu vực này có đồng bào các dân tộc như Dao, Thái, Cao Lan, Tày, Nùng,
Hơ Mông, Hà Nhì, còn tập quán canh tác nương rẫy, hàng năm thường phát, đốt
nương vào các tháng cao điểm của mùa khô từ tháng 1 đến tháng 3 Do không phát đốt
Trang 25nương đúng nơi quy hoạch, kém chuyên môn kỹ thuật phát, đốt khi làm rẫy; thiếu ý
thức sử dụng lửa, không kiểm soát lửa lên dễ để cháy lan vào các khu rừng
- Ngoài ra, còn một nguyên nhân khác như: đốt các khu vực đất trống lấy cỏ non mùa mưa phục vụ chăn thả gia súc, làm đường giao thông, xử lý thực bì để trồng
rừng, thăm dò địa chất, khai hoang, người dân vào rừng săn bắn, lấy củi, sử dụng lửa
thiếu ý thức gây cháy rừng,
Các tỉnh trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao là Quảng Ninh, Phú Thọ, Yên Bái, Bắc Giang, Lào Cai, Bắc Kạn
c) Đồng bằng Sông Hồng: Có diện tích rừng thấp nhất cả nước, khoảng 92.824
ha (chiếm 0,7% diện tích rừng toàn quốc) Trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 46.366
ha ( chiếm 49,9% diện tích có rừng) và diện tích rừng trồng là 46.457 ha ( chiếm 50%
diện tích có rừng) [4] Các loại rừng dễ cháy bao gồm: thông, bạch đàn, keo và các loại
rừng non khoanh nuôi tái sinh Nguyên nhân cơ bản gây ra cháy rừng ở khu vực này la
do sức ép dân số bao chiếm đất lâm nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông
nghiệp và nhà ở; người dân vào rừng khai thác củi, Trong quá trình sử dụng do dùng
lửa vô ý gây cháy rừng
d) Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ: Gồm 14 tỉnh từ Thanh Hóa đến Bình
Thuận với tổng diện tích rừng năm 2013 khoảng 4.931.401 ha (chiếm 35,3% diện tích
rừng toàn quốc) Trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 3.632.669 ha ( chiếm 73,6% diện
tích có rừng)và rừng trồng khoảng 1.298.702% ha ( chiếm 26,3% diện tích có rừng)
[4] Rừng dễ cháy ở đây chủ yếu là: thông, bạch đàn, keo, phi lao, tre, nứa, luồng và
rừng non khoanh nuôi tái sinh, Miền Trung do chịu ảnh hưởng nặng nề của điều kiện
gió Tây Nam khô, nóng thổi trực tiếp từ Lào vượt qua dãy Trường Sơn sang lãnh thổ
nước ta, hàng năm kéo dài 6 tháng (từ tháng 4 đến tháng 9) Đặc điểm mùa gió Tây
Nam là khô, nắng, oi bức, nóng, độ ẩm rất thấp (có thể giảm xuống dưới 30%); nhiệt
độ không khí có ngày lên tới 40 - 42oC Đây là dạng thời tiết rất nguy hiểm, cộng với
các hoạt động trái phép hay vô tình của con người như: canh tác nương rẫy; đốt đồng
mía; đã tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho cháy rừng và tiềm ẩn nguy cơ cháy
Trang 26mm/tháng, với độ ẩm VLC và thời tiết như vậy thì nguy cơ xảy ra cháy rừng và cháy
lớn rất cao, có thể chỉ cần 1 tàn thuốc lá cũng có thể gây nên cháy rừng
e) Đông Nam Bộ và Tây Nguyên: Có tổng diện tích rừng năm 2013 khoảng
3.315.567 ha (chiếm 23,7% diện tích rừng toàn quốc) Trong đó, diện tích rừng tự
nhiên là 2.794.74 ha ( chiếm 84,3% diện tích có rừng) và rừng trồng là 520.827 ha (
chiếm 15,7% diện tích có rừng) [4] Rừng dễ cháy ở khu vực này chủ yếu là các loại
rừng: thông; khộp họ dầu (Diptero Carpacea); bạch đàn, keo, sao, vên vên, hỗn giao
tre nứa, Hàng năm nguồn VLC rừng trải qua một mùa khô nắng, nóng kéo dài
khoảng 6 tháng (từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau), nhiệt độ không khí có khi lên tới
38 - 40oC; lượng mưa rất thấp và nhiều tháng không có mưa, có năm tới 2 - 3 tháng
không có mưa; tốc độ gió mạnh, bốc thoát hơi nước tiềm năng rất cao, một năm có từ
1 - 2 tháng kiệt (lượng mưa trung bình tháng kiệt ≤ 5 mm); 2 - 3 tháng hạn (lượng mưa
trung bình tháng ≤ 1 lần nhiệt độ không khí trung bình tháng hạn); 2 - 3 tháng khô
(lượng mưa ≤ 2 lần nhiệt độ không khí trung bình tháng khô) tính theo chỉ số khô hạn
của Thái Văn Trừng [12]; độ ẩm VLC vào tháng kiệt có khi xuống 10 - 15% (< 25% là
điều kiện xảy ra cháy rừng)
Rừng thông, rừng họ dầu là các dạng rừng có nguy cơ cháy cao, bởi chúng là những loài cây chứa tinh dầu và có khối lượng VLC khô tương đối lớn thường từ 5-10
tấn/ha Riêng rừng khộp có thể xem là một dạng đặc trưng của dạng rừng rụng lá theo
mùa ở Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Bình Dương, Bình Phước, bao gồm nhiều cây
gỗ lớn mọc khá thưa, ít tầng Chúng có đặc điểm chung là rụng lá về mùa khô tạo
thành một lớp vật liệu dày, dễ cháy, dễ bắt lửa và cháy lớn vào mùa khô Đây là vùng
trọng điểm cháy lớn, nguy hiểm bởi hiện tượng cháy lan và cháy lướt ở Tây Nguyên
và Đông Nam Bộ
Đồng thời, ở khu vực Tây Nguyên có khoảng 47 dân tộc cùng sinh sống Trong
đó, có nhiều đồng bào dân tộc với tập quán đốt nương làm rẫy, đốt phá rừng lấy đất
sản xuất nông nghiệp, săn bắn, là những nguyên nhân chính gây ra các vụ cháy rừng
f) Tây Nam Bộ: Với tổng diện tích rừng năm 2013 là 282.148 ha ( chiếm
2,02% diện tích rừng toàn quốc); trong đó rừng tự nhiên là 59.268 ha ( chiếm 21%
diện tích có rừng) và rừng trồng là 222.88 ha ( chiếm 79% diện tích có rừng)[4] Rừng
dễ cháy chủ yếu là rừng tràm, bạch đàn, keo, Hàng năm nguồn VLC rừng chịu đựng
một mùa khô nắng, nóng kéo dài từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau, nhiệt độ trung bình
có ngày lên tới 38 - 40oC; nhiều ngày không mưa liên tục kéo dài, có năm tới 2 - 3
tháng không có mưa; tốc độ gió mạnh, bốc thoát hơi nước tiềm năng rất cao: một năm
có từ 1 - 2 tháng kiệt; 2 -3 tháng hạn; 2 - 3 tháng khô làm cho độ ẩm VLC vào tháng
kiệt có khi xuống < 15%, với độ ẩm VLC như vậy thì nguy cơ xảy ra cháy rừng và
cháy lớn rất cao,
Trang 27Rừng Tràm ở Tây Nam Bộ có tầng than bùn dày trung bình 0,8 - 1,2 m, một năm thường có 6 tháng ngập nước, 6 tháng khô; về mùa khô nguồn nước rút ra biển và
bốc hơi làm cho nguồn vật liệu khổng lồ từ 15 - 22 tấn/ha rất dễ bắt lửa và lan ra gây
nên cháy lan mặt đất, cháy lướt tán rừng và cháy ngầm rất nguy hiểm, huỷ diệt nhanh
chóng nguồn tài nguyên quý giá ở Tây Nam Bộ
Thực tế về mùa gió Tây ở các vùng núi Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Trung Trung
Bộ tần suất xảy ra cháy rừng thường cao hơn so với những nơi khác và so với những
khoảng thời gian khác trong năm, sự khác nhau đó được thống kê như sau:
Bảng 1.1 Đặc trưng tiêu biểu của thời tiết khô nóng gió Tây ở các vùng
Vùng Gió (lúc 13h) Nhiệt độ ( o C) Độ ẩm (%) Hiện tượng
thời tiết đặc trưng
Hướng Vận tốc
(m/s)
Trung bình Tối cao
Tối thấp
Trung bình
Tối thấp Đông Bắc
Vùng núi phía Bắc ĐN 2 - 4 28 35 21 80 55 Khô hanh
Đồng bằng sông Hồng ĐĐN 2 - 3 28 - 30 33 - 38 26 80 65 Mù, khô
Tây Bắc ĐĐN 2 - 3 26 - 27 36 - 38 20 60 30 Hạn
Bắc Trung Bộ TN 3 30 - 33 38 26 - 28 65 40 Khô, kiệt
Trung Trung Bộ TN 6 - 8 30 - 33 38 - 40,5 26 - 27 75 40 Khô, hạn
Nam Trung Bộ ĐĐN 2 - 4 30 35 - 40 25 - 27 75 55 Hạn, kiệt
Nam Bộ TTN 2 30 - 31 35 - 38 28 - 29 75 50 Hạn
“Nguồn: Cẩm nang ngành lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT, 2004 [2]”
Trên đây là một số dạng thời tiết quan trọng, liên quan nhiều đến sự phát sinh cháy rừng Do đó, nắm bắt được những hiểu biết về nội dung này là yếu tố rất quan
trọng cho công tác xác định mùa cháy, dự báo và PCCCR của những người làm công
tác bảo vệ rừng và các cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp nói chung
1.2 DỰ BÁO, CẢNH BÁO NGUY CƠ CHÁY RỪNG
1.2.1 Cấp dự báo nguy cơ cháy rừng
Dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng là biện pháp phòng cháy dựa trên mối quan hệ đa chiều giữa các yếu tố thời tiết, khí hậu, thuỷ văn với nguồn VLC rừng để
dự tính, dự báo khả năng xuất hiện cháy rừng, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp phòng
chống thích hợp và chữa cháy rừng một cách có hiệu quả
Ở Việt Nam hiện nay, cấp dự báo cháy rừng sử dụng gồm 5 cấp được quy định trong Quyết định số 127/2000/QĐ-BNN-KL ngày 11/12/2000 của Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 28Bảng 1.2 Phân cấp dự báo nguy cơ cháy rừng và các biện pháp thực hiện PCCCR
Ban Chỉ huy PCCCR cấp xã và các chủ rừng chủ động triển khai phương án phòng cháy, chữa cháy rừng
Cần theo dõi diễn biến thời tiết ở các bản tin tiếp theo
để chủ động trong công tác chữa cháy rừng
2 II
Cấp trung bình:
Có khả năng xảy ra cháy rừng
Ban Chỉ huy PCCCR cấp xã và các chủ rừng tăng cường kiểm tra bố trí người canh phòng và lực lượng sẵn sàng ứng cứu khi xảy ra cháy rừng; kiểm soát kỹ thuật phát đốt nương rẫy
3 III
Cấp cao: Thời tiết
khô hanh, dễ xảy
ra cháy rừng
Ban Chỉ huy PCCCR cấp huyện tăng cường kiểm tra đôn đốc công tác phòng cháy, chữa cháy rừng của các chủ rừng Cấm phát đốt nương rẫy
Cần theo dõi diễn biến thời tiết ở các bản tin tiếp theo
4 IV
Cấp nguy hiểm:
Thời tiết khô hanh, nắng hạn dài ngày, nguy cơ cháy rừng cao, nếu xảy ra cháy lửa dễ lan nhanh
Ban Chỉ huy PCCCR cấp huyện thường xuyên kiểm tra, đôn đốc công tác PCCCR tại địa phương
Thông tin cảnh báo liên tục, kịp thời cấp dự báo cháy rừng ở vùng trọng điểm cháy
Chủ rừng và lực lượng Kiểm lâm tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ vùng trọng điểm cháy; bố trí lực lượng canh phòng 24/24 giờ hàng ngày; phát hiện kịp thời điểm cháy để dập tắt ngay đám cháy không để lây lan
5 V
Cấp cực kỳ nguy hiểm: Thời tiết
khô hanh, nắng hạn kéo dài, thảm thực vật khô kiệt, nguy cơ cháy rừng rất lớn và lan nhanh trên tất cả các loại rừng
Ban Chỉ huy PCCCR cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo kiểm tra, đôn đốc chính quyền các cấp và các chủ rừng tăng cường kiểm tra, chủ động và sẵn sàng ứng cứu chữa cháy rừng
Thông tin cảnh báo thường xuyên liên tục, kịp thời cấp
dự báo cháy rừng ở vùng trọng điểm cháy
Bố trí lực lượng canh phòng 24/24 giờ hàng ngày, không cho người qua lại các khu vục trọng điểm Khi xảy ra cháy phải khoanh vùng, dập tắt ngay đám cháy
“Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2000”
Các bước dự báo cháy rừng theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn như sau:
- Xác định mùa cháy cho từng tỉnh, vùng sinh thái
Trang 29- Xây dựng cấp dự báo cháy rừng theo phương pháp dự báo tổng hợp Nội dung của phương pháp là: chỉ tiêu tổng hợp biểu thị mức độ nguy hiểm cháy rừng ở thời
điểm tính toán, xác định, thường là tính cho một ngày; chỉ tiêu tổng hợp phụ thuộc vào
3 yếu tố chính gồm: nhiệt độ lúc 13 giờ, độ chênh lệch bão hoà lúc 13 giờ và lượng
mưa trong ngày
- Tính toán và công bố cấp dự báo cháy rừng:
+ Thu thập số liệu quan trắc từ các trạm quan trắc khí tượng thuỷ văn trên địa bàn toàn quốc, nhập dữ liệu vào phần mềm để xử lý và đưa ra bản dự báo cháy rừng
hàng ngày, theo các cấp dự báo cháy trên nền bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng
+ Phối hợp với Đài phát thanh, truyền hình để thông báo thường xuyên cấp dự
báo cháy rừng trên chuyên mục dự báo thời tiết
1.2.2 Mùa cháy rừng
Mùa cháy rừng là khoảng thời gian thường xảy ra cháy rừng trong năm Mùa cháy rừng có thể xác định bằng hai nhóm phương pháp: thực nghiệm và lý thuyết
Theo nhóm phương pháp thực nghiệm: mùa cháy rừng được xác định thông qua
số liệu thống kê về tình hình cháy rừng nhiều năm Đó là thời gian bao gồm những
tháng xảy ra cháy rừng với tổng tần suất xuất hiện vượt quá 90% cả năm
Theo nhóm phương pháp lý thuyết: mùa cháy rừng được xác định thông qua phân tích diễn biến của những chỉ tiêu khí hậu có liên quan chặt với nguy cơ cháy rừng
như chỉ tiêu khí tượng tổng hợp của Nexterov, chỉ số tháng khô hạn Gaussel - Walter,
chỉ số về số ngày khô hạn liên tục của Phạm Ngọc Hưng, [11] Mùa cháy rừng được
xem là thời gian mà các chỉ số này vượt qua một giới hạn nhất định làm cho nguy cơ
của tháng khô thỏa mãn biểu thức: t ≤ P ≤ 2t;
P là lượng mưa trung bình tháng (mm);
t là nhiệt độ trung bình của tháng (oC);
Trang 30A là số tháng hạn, với các tháng có lượng mưa nhỏ hơn một lần nhiệt trung bình tháng nhưng lớn hơn 5 mm Tương quan giữa lượng mưa và nhiệt độ của tháng hạn
thỏa mãn biểu thức sau: 5 mm ≤ P < t;
D là số tháng kiệt, với các tháng có lượng mưa nhỏ hơn 5 mm Lượng mưa tháng kiệt thỏa mãn biểu thức sau: P ≤ 5 mm
Trên cơ sở công thức trên, Thái Văn Trừng đã tính toán và đề xuất phân loại chế độ ẩm và các chỉ số khô hạn ở Việt Nam trong Bảng 1.3
Bảng 1.3 Chế độ khô ẩm ở Việt Nam theo Thái Văn Trừng
Lượng mưa trung bình năm (mm)
Chỉ số khô hạn (số tháng) Độ ẩm tương đối
trung bình thấp nhất (%)
600 - 1.200 (Cấp III)
300 - 600
“Nguồn: Thái Văn Trừng, 1978 [19]”
Bảng 1.4 Mùa cháy rừng theo các vùng sinh thái
“Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2004 [2]”
Dấu ( -) là tháng hạn, kiệt và cực kỳ nguy hiểm về cháy rừng trong mùa cháy
Dấu (x) là tháng khô có khả năng xuất hiện cháy rừng
Trang 311.2.3 Phương pháp dự báo cháy rừng
Để chủ động phòng chống cháy rừng và hạn chế thiệt hại gây ra do cháy rừng, cần dự báo được mùa cháy, thời điểm có khả năng cháy rừng Dự báo cháy rừng gồm
dự báo ngắn hạn (hàng ngày) và dự báo dài hạn (tuần: 7 - 10 ngày)
a) Xác định khả năng cháy rừng theo chỉ số Angstrom (Thụy Điển)
Chỉ số Angstrom được tính theo công thức:
Trong đó:
- R: Độ ẩm tương đối (%) của không khí thấp nhất trong ngày
- T: Nhiệt độ không khí (0C) cao nhất trong ngày Sau khi tính I, đánh giá khả năng cháy rừng như trình bày ở Bảng 1.5
Bảng 1.5 Đánh giá khả năng cháy rừng theo chỉ số Angstrom
Cấp cháy Chỉ số I Khả năng phát sinh cháy rừng
I I >4,0 Không có khả năng cháy rừng
II 2,5 < 1 < 4,0 Ít có khả năng xuất hiện cháy rừng III 2,0 < I < 2,5 Có nhiều khả năng xuất hiện cháy rừng
IV I < 2,0 Rất có khả năng xuất hiện cháy rừng Phương pháp này đơn giản và dễ tính toán, tuy nhiên do chỉ tính từng ngày riêng biệt, chỉ tiêu Angstrom không nêu được ảnh hưởng tích luỹ của nhiệt độ và độ
ẩm không khí, cũng không đề cập đến tác động của gió và mưa nên không phản ảnh
chính xác sự thay đổi độ ẩm vật liệu cháy
b) Phương pháp dự báo ngắn hạn: Dự báo ngắn hạn là xác định khả năng cháy rừng
hàng ngày Ở Việt Nam, các nhà lâm nghiệp thường dự báo ngắn hạn dựa theo phương
pháp của Nexterov (1940) Theo đó, mức độ nguy hiểm của cháy rừng có thể được
cháy nhiều nhất); Di là nhiệt độ điểm sương lúc 13 giờ Nhiệt độ điểm sương là nhiệt
độ ở thời điểm không khí bão hoà hơi nước 100% Khi không khí bão hoà hơi nước thì
Trang 32quá trình ngưng kết hơi nước trong không khí sẽ xảy ra
Nếu lượng mưa ngày cuối cùng lớn hơn hay nhỏ hơn 5 mm thì chỉ số P được bổ sung thêm hệ số K như sau:
𝑃 = 𝐾 ∗ ∑ 𝑇𝑖(𝑇𝑖 − 𝐷𝑖)
𝑛
1
( 2.4)
Trị số K lấy giá trị như sau: ngày có lượng mưa lớn hơn 5 mm thì K = 0; ngày
có lượng mưa nhỏ hơn 5 mm thì K = 1
Chỉ tiêu P được tính dựa trên tài liệu đo đếm ở các trạm khí tượng gần nhất với địa phương cần dự báo cháy rừng Cách tính chỉ tiêu tổng hợp P thể hiện tại (Bảng
1.6)
Bảng 1.6 Cách tính chỉ tiêu tổng hợp của Nexterov
Ngày Lượng mưa (mm) T i ( o C) T i - D i P
8/7 Không mưa 17,9 2,5 25,4 + (17,9*2,5) = 70,2 9/7 Không mưa 26,8 21,2 70,2 + (26,8*21,2) = 638,3 10/7 Không mưa 24,1 15,1 638,3 + (24,1*15,1) = 1.002,2 Trị số Di được tra theo bảng tra điểm sương tại (Bảng 1.7)
Bảng 1.7 Bảng tra điểm sương
Khả năng chứa nước của không khí (gam) Nhiệt độ (
30
15
10
Cột 1 cho biết lượng nước tối đa mà không khí có thể chứa ở nhiệt độ tương ứng với cột 2
Trang 33Căn cứ vào độ lớn của P, Phạm Ngọc Hưng (1988) đã phân chia thành 5 cấp cháy rừng thông nhựa ở Quảng Ninh thể hiện trong (Bảng 1.8) [8]
Bảng 1.8 Cấp nguy cơ cháy rừng theo chỉ số P
cơ cháy rừng P của Nexterov như sau.[16]
Bảng 1.9 Chỉ số nguy cơ cháy rừng P hiệu chỉnh
“Nguồn: Nguyễn Văn Thêm, 2009 [16]”
Theo Cooper, nếu chỉ số P có đưa vào hệ số hiệu chỉnh do ảnh hưởng của cháy thì thời gian dự báo có giá trị trong 24 giờ kế tiếp Ngược lại, nếu giá trị P không được
hiệu chỉnh theo hệ số gió thì P của ngày kế tiếp được tính theo công thức (2.3) và
(2.4) Tùy theo điều kiện khí hậu địa phương, mỗi vùng có thể lập một bảng phân cấp
phòng cháy riêng
c) Phương pháp dự báo dài hạn: Dự báo dài hạn là xác định số ngày khô hạn
liên tục có khả năng cháy rừng Ở Việt Nam, Phạm Ngọc Hưng (1988) đưa ra công
thức dự báo dài hạn dựa theo chỉ số Hi [8]:
Hi = K(Hi-1 +1) (2.5)
Trong đó: Hi là số ngày khô hạn liên tục (lượng mưa trung bình ngày < 5 mm);
Hi-1 là số ngày khô hạn tính đến ngày i-1; K là hệ số điều chỉnh theo lượng mưa
Trang 34Từ công thức (2.5) cho thấy, muốn xác định được số ngày khô hạn liên tục, dự báo viên chỉ cần đếm số ngày liên tục có lượng mưa nhỏ hơn 5 mm Để dễ tính toán
cấp cháy rừng, người ta có thể lập một biểu tra cấp dự báo cháy rừng dài hạn như công
thức (2.5) Căn cứ vào lượng mưa do đài khí tượng thủy văn cung cấp, thể tính được
số ngày khô hạn trong một tháng của mùa cháy rừng Ví dụ: đến ngày 10/12 đã đếm
được 12 ngày không mưa Từ ngày 11/12 - 20/12 có 5 ngày mưa lớn hơn 5 mm Vậy
số ngày không mưa tính đến 20/12 là 12 + 5 = 17 ngày Từ Bảng 1.10, có thể xác định
được cấp cháy đến ngày thứ 20/12 là cấp III
Bảng 1.10 Cấp dự báo cháy rừng theo chỉ số H
c) Phương pháp dự báo cháy rừng dựa theo độ ẩm VLC: Giữa độ ẩm VLC và
khả năng cháy có quan hệ chặt chẽ với nhau Vì thế, có thể dự báo cháy rừng dựa theo
độ ẩm VLC được nêu trong (Bảng 1.11)
Bảng 1.11 Cấp dự báo cháy rừng theo độ ẩm vật liệu cháy
STT Cấp cháy Độ ẩm vật liệu cháy (%) Mức độ nguy hiểm
“Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2004) [2]”
Như vậy, muốn dự báo cháy rừng theo độ ẩm VLC, chúng ta cần phải đo tính được độ ẩm VLC Độ ẩm VLC được chia thành hai loại: tương đối và tuyệt đối
- Độ ẩm tương đối của VLC: W (%) = [(m1 - m2)/m1]*100 (2.6)
- Độ ẩm tuyệt đối của VLC: W (%) = [(m1 - m2)/m0]*100 (2.7)
Trang 35Trong đó, m1 là trọng lượng VLC ở trạng thái ướt (kg), m2 là trọng lượng VLC
ở trạng thái khô không khí (kg), m0 là trọng lượng VLC ở trạng thái khô tuyệt đối (kg)
d) Phân cấp nguy cơ cháy theo hệ số khả năng bắt cháy: Hệ số bắt cháy (k)
phản ánh khả năng bắt cháy của VLC dưới các tán rừng và được xác định qua công
thức sau:
Trong đó, m1 là trọng lượng vật liệu khô (kg), M1 là tổng trọng lượng vật liệu khô và tươi (kg)
Bảng 1.12 Phân cấp nguy cơ cháy theo hệ số khả năng bắt cháy
STT Hệ số khả năng bắt cháy (k) Mức nguy cơ cháy
được xây dựng trên cơ sở áp dụng chỉ tiêu khí tượng tổng hợp (P) của Nexterov và chỉ
số ngày khô hạn của Phạm Ngọc Hưng [10] Ưu điểm của các phương pháp này là đơn
giản, dễ tính toán Nhưng các phương pháp này cũng có nhiều hạn chế: (1) chưa tính
hết các nhân tố ảnh hưởng đến cháy rừng; (2) để tính được các cấp cháy, hàng ngày dự
báo viên phải đo đạc các thông tin ở hiện trường vào lúc 13 giờ; (3) cần phải có các
dụng cụ và máy móc quan trắc khí tượng; (4) chỉ số P được phân chia quá rộng, và khi
P thay đổi 1 vài đơn vị thì cấp cháy cũng thay đổi; (5) dự báo viên phải theo dõi liên
tục ngày có mưa hay không mưa,
Trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cháy rừng và một số kết quả nghiên cứu của các tác giả trước đây, Đề tài đã lựa chọn được 9 chỉ tiêu (kiểu thảm
thực vật rừng, nhiệt độ trung bình tháng, chỉ số khô hạn, khoảng cách tiếp cận từ khu
dân cư, khoảng cách tiếp cận từ đường giao thông, thủy văn, độ dốc, hướng sườn đón
gió, độ cao) để xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ cháy rừng
Trang 361.3 TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU THẢM THỰC VẬT RỪNG DỄ
CHÁY VÀ DỰ BÁO CHÁY RỪNG
1.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về PCCCR trên thế giới được quan tâm từ những năm đầu của thế
kỷ XX Thời kỳ đầu, chủ yếu tập trung ở các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ,
Nga, Đức, Thuỵ điển, Canada, Pháp, Austraylia, Sau đó mở rộng ở hầu hết các nước
có hoạt động lâm nghiệp Người ta phân chia 5 lĩnh vực chính của nghiên cứu phòng
chống cháy rừng: (1) bản chất của cháy rừng, (2) phương pháp dự báo nguy cơ cháy
rừng, (3) các công trình phòng chống cháy rừng, (4) phương pháp chữa cháy rừng và
(5) phương tiện chữa cháy rừng Phân loại thảm thực vật rừng theo nguy cơ cháy là
phương pháp quan trọng trong công tác dự báo cháy rừng và quản lý lửa rừng
- Nghiên cứu bản chất của cháy rừng: Các kết quả nghiên cứu đã khẳng định
rằng cháy rừng là hiện tượng ôxy hoá các vật liệu hữu cơ do rừng tạo ra ở nhiệt độ cao
Nó xảy ra khi có mặt đồng thời của 3 thành tố (còn gọi là tam giác lửa): nguồn nhiệt,
ôxy và VLC Tuỳ thuộc vào đặc điểm của 3 yếu tố trên mà cháy rừng có thể được hình
thành, phát triển hay bị ngăn chặn hoặc suy yếu đi (Brown, 1979; Belop, 1982;
Chandler, 1983) [32, 24] Vì vậy, về bản chất, những biện pháp phòng chống cháy
rừng chính là những biện pháp tác động vào 3 yếu tố trên theo chiều hướng ngăn chặn
và giảm thiểu quá trình cháy
Như trình bày ở trên, các nhà khoa học phân biệt 3 loại cháy rừng: (1) cháy dưới tán cây hay cháy mặt đất rừng; (2) cháy tán rừng (ngọn cây); (3) cháy ngầm
.Trong một đám cháy rừng có thể xảy ra một hoặc đồng thời 2, 3 loại cháy trên Tùy
theo loại cháy rừng mà người ta đưa ra những biện pháp phòng và chữa cháy khác
nhau (Brown, 1979; Mc Arthur, 1986; Gromovist, 1993) [32, 23, 29]
Kết quả nghiên cứu của một số tác giả trên thế giới cũng chỉ ra 3 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển cháy rừng là: thời tiết, kiểu thảm
thực vật rừng và hoạt động kinh tế - xã hội của con người (Belop,1982) Thời tiết, đặc
biệt là lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm không khí ảnh hưởng quyết định đến tốc độ bốc
hơi và độ ẩm VLC dưới rừng, qua đó ảnh hưởng đến khả năng bén lửa và tốc độ lan
của đám cháy Kiểu rừng ảnh hưởng đến tính chất vật lý, hoá học, khối lượng và phân
bố của VLC, qua đó ảnh hưởng đến loại cháy, khả năng hình thành của đám cháy
Hoạt động kinh tế - xã hội của con người như đốt nương rẫy, săn bắn, du lịch, ảnh
hưởng đến mật độ và phân bố nguồn lửa khởi đầu của các đám cháy Phần lớn các biện
pháp PCCCR đều được xây dựng trên cơ sở phân tích đặc điểm của của 3 yếu tố trên
trong hoàn cảnh cụ thể của địa phương (Richmond, 1976; Laslo Pancel, 1993)
Trang 37- Nghiên cứu phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng: Các kết quả nghiên
cứu đều khẳng định mối liên hệ chặt giữa điều kiện thời tiết với độ ẩm VLC và khả
năng xuất hiện cháy rừng Vì vậy, hầu hết các phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng
đều tính đến đặc điểm diễn biến hàng ngày của lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm không
khí (MiBbach, 1972; Belop, 1982; Chandler, 1983) [24] Ở một số nước, khi dự báo
nguy cơ cháy rừng ngoài căn cứ vào yếu tố khí tượng người ta còn căn cứ vào một số
yếu tố khác, chẳng hạn ở Đức và Mỹ người ta sử dụng thêm độ ẩm của VLC (Brown,
1979) [32], ở Pháp tính thêm lượng nước hữu hiệu trong đất và độ ẩm VLC, ở Trung
Quốc có bổ sung thêm cả tốc độ gió, số ngày không mưa và lượng bốc hơi,… Cũng có
sự khác biệt nhất định khi sử dụng các yếu tố khí tượng để dự báo nguy cơ cháy rừng,
chẳng hạn ở Thuỵ điển và một số nước ở bán đảo Scandinavia đã sử dụng độ ẩm
không khí thấp nhất và nhiệt độ không khí cao nhất trong ngày Trong khi đó, ở Nga
và một số nước khác lại dùng nhiệt độ và độ ẩm không khí lúc 13 giờ (ở Việt Nam
cũng sử dụng chỉ tiêu này) Những năm gần đây, ở Trung Quốc đã nghiên cứu phương
pháp cho điểm các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ cháy rừng, trong đó có cả những yếu
tố kinh tế - xã hội, và nguy cơ cháy rừng được tính theo tổng số điểm của các yếu tố
Mặc dù có những nét giống nhau nhưng cho đến nay vẫn không có phương pháp dự
báo cháy rừng chung cho cả thế giới, mà ở mỗi quốc gia, thậm chí mỗi địa phương vẫn
nghiên cứu xây dựng phương pháp riêng Ngoài ra, vẫn còn rất ít phương pháp dự báo
nguy cơ cháy rừng có tính đến yếu tố kinh tế - xã hội và loại rừng Đây có thể là một
trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả của phòng chống cháy rừng ngay cả ở
những nước phát triển
Hiện nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ vũ trụ, các loại tư liệu viễn thám đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới và mang lại hiệu quả
cao trong công tác giám sát và cảnh báo nguy cơ cháy rừng Các thế hệ vệ tinh giám
sát Trái đất với khả năng bao quát trên phạm vi rộng lớn và đa thời gian được phóng
lên quỹ đạo đã trở thành một công cụ quan trọng trong công tác điều tra, phân loại và
hỗ trợ cảnh báo cháy rừng Những loại ảnh viễn thám được sử dụng phổ biến hiện nay
trong lĩnh vực lâm nghiệp gồm Landsat TM và ETM, SPOT các thế hệ, MODIS,
NOAA-AVHRR, IKONOS, IRS và QuickBird,
Một số loại ảnh vệ tinh cho phép xác định được các điểm có dị thường nhiệt, các dấu hiệu của cháy rừng (bụi, khói) và sự phát triển của đám cháy theo thời gian,
Công việc này có thể xác định được thông qua đặc trưng nhiệt độ của các đối tượng
trong dải phổ hồng ngoại nhiệt và cận hồng ngoại Các thế hệ vệ tinh hiện nay có gắn
các bộ cảm để thu được các tín hiệu nhiệt phát xạ của các đối tượng trên mặt đất Việc
ứng dụng ảnh vệ tinh trong lâm nghiệp đã được thực hiện từ lâu Mỗi nghiên cứu đều
có những cách tiếp cận khác nhau liên quan đến nguồn tư liệu được sử dụng, mục đích
được quan tâm khai thác và phương pháp kết hợp các loại ảnh Một số nhà khoa học
Trang 38Hàn Quốc (Kim Hwa Lim và ctv) đã tiến hành nghiên cứu sử dụng tư liệu ảnh SPOT
để quan trắc cháy rừng Bằng việc sử dụng ảnh tổ hợp màu các kênh 4, 3, 2 của
SPOT4 (SWIR: 4, NIR: 3 và Red: 2) có ảnh hưởng đặc biệt cho việc phát hiện các
đám cháy thể hiện rõ ràng phần sáng màu đỏ của đám cháy và khói của đám cháy thể
hiện ở màu xanh nhạt Nhóm này còn gợi ý đưa ra tổ hợp SPOT4 432 trong đó kênh
NIR được thay thế bởi giá trị trung bình của kênh NIR và Green, với tổ hợp này thì
đám cháy và khói của chúng được thể hiện rõ ràng, đồng thời xác định nhiệt độ tại các
đám cháy bức xạ từ kênh hồng ngoại SWIR là khoảng 331,34 K (58,34 °C)
- Nghiên cứu về công trình PCCCR: Kết quả nghiên cứu trên thế giới đã
khẳng định hiệu quả của các loại băng cản lửa, các vành đai cây xanh và hệ thống kênh
mương ngăn cản cháy rừng (Gromovist, 1993) [29] Các nhà khoa học đã nghiên cứu
tập đoàn cây trồng trên băng xanh cản lửa, trồng rừng hỗn giao và giữ nước ở hồ đập
để làm giảm nguy cơ cháy rừng Đồng thời, nghiên cứu hiệu lực của các hệ thống cảnh
báo cháy rừng như chòi canh, tuyến tuần tra, điểm đặt biển báo nguy cơ cháy rừng
Nhìn chung, thế giới đã nghiên cứu hiệu quả của nhiều kiểu công trình phòng chống
cháy rừng Tuy nhiên, hiện vẫn chưa đưa ra được phương pháp xác định tiêu chuẩn kỹ
thuật cho các công trình đó Những thông số kỹ thuật đưa ra đều mang tính gợi ý và
luôn được điều chỉnh theo ý kiến các chuyên gia cho phù hợp với đặc điểm của mỗi
loại rừng và điều kiện địa lý, vật lý địa phương
- Nghiên cứu về biện pháp PCCCR: Khi nghiên cứu các biện pháp phòng
chống cháy rừng người ta chủ yếu hướng vào làm suy giảm 3 thành phần của tam giác
lửa: (1) giảm nguồn lửa bằng cách tuyên truyền không mang lửa vào rừng, dập tắt tàn
than sau khi dùng lửa, thực hiện các biện pháp dọn VLC trên mặt đất thành băng, đào
rãnh sâu, hoặc chặt cây theo dải để ngăn đám cháy lan sang phần rừng còn lại; (2) đốt
trước một phần VLC vào đầu mùa khô khi chúng còn ẩm để giảm khối lượng VLC vào
thời kỳ khô hạn nhất, hoặc đốt theo hướng ngược với hướng lan tràn của đám cháy để
cô lập đám cháy; (3) dùng chất dập cháy để giảm nhiệt lượng của đám cháy hoặc ngăn
cách VLC với ôxy không khí (nước, đất, cát, hoá chất dập cháy,…)
- Nghiên cứu về phương tiện PCCCR: Những phương tiện PCCCR đã được
quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây, đặc biệt là phương tiện dự báo, phát
hiện đám cháy, thông tin về cháy rừng và phương tiện dập lửa trong các đám cháy
Các phương pháp dự báo đã được mô hình hoá và xây dựng thành những phần mềm làm giảm nhẹ công việc và tăng độ chính xác của dự báo nguy cơ cháy rừng
Việc ứng dụng ảnh viễn thám và công nghệ GIS đã cho phép phân tích được những
diễn biến thời tiết, dự báo nhanh chóng và chính xác khả năng xuất hiện cháy rừng,
phát hiện sớm đám cháy trên những vùng rộng lớn
Trang 39Những thông tin về khả năng xuất hiện cháy rừng, nguy cơ cháy rừng và biện pháp phòng chống cháy rừng hiện nay được truyền qua nhiều kênh khác nhau đến các
lực lượng phòng chống cháy rừng và cộng đồng dân cư như hệ thống biển báo, thư tín,
đài phát thanh, báo địa phương và trung ương, truyền hình, các mạng máy tính,…
Những phương tiện dập tắt các đám cháy được nghiên cứu theo cả hướng phát triển phương tiện thủ công như cào, cuốc, dao, câu liêm đến các loại phương tiện cơ
giới như cưa xăng, máy kéo, máy gạt đất, máy đào rãnh, máy phun nước, máy phun
bọt chống cháy, máy thổi gió, máy bay rải chất chống cháy và bom dập lửa,…
Mặc dù các phương pháp và phương tiện phòng chống cháy rừng đã được phát triển ở mức cao, song những thiệt hại do cháy rừng vẫn rất khủng khiếp ngay cả ở
những nước phát triển có hệ thống phòng chống cháy rừng hiện đại như Mỹ, Úc,
Nga, Trong nhiều trường hợp việc khống chế các đám cháy vẫn không hiệu quả
Người ta cho rằng, ngăn chặn nguồn lửa để không xảy ra cháy vẫn là quan trọng nhất
Vì vậy, đã có những nghiên cứu về đặc điểm xã hội của cháy rừng và những giải pháp
xã hội cho phòng chống cháy rừng (Cooper, 1991) [26] Hiện nay, các giải pháp xã hội
phòng chống cháy rừng chủ yếu được tập trung vào tuyên truyền, giáo dục tác hại của
cháy rừng, nghĩa vụ của công dân trong việc phòng chống cháy rừng, những hình phạt
đối với người gây cháy rừng Trong thực tế còn ít những nghiên cứu về ảnh hưởng của
thể chế và chính sách quản lý sử dụng tài nguyên, chính sách chia sẻ lợi ích, những
quy định của cộng đồng, những phong tục, tập quán, những nhận thức và kiến thức của
người dân đến cháy rừng Cũng còn rất ít những nghiên cứu về nguyên nhân cháy rừng
do hậu quả sinh thái của sự phát triển kinh tế xã hội gây nên, về những giải pháp lồng
ghép hoạt động phòng chống cháy rừng với hoạt động phát triển kinh tế và bảo vệ môi
trường khác Đây sẽ là những căn cứ quan trọng để xây dựng giải pháp kinh tế - xã hội
cho phòng chống cháy rừng
Tóm lại, những nghiên cứu của các nhà khoa học về vấn đề cháy rừng, giảm thiểu nguy cơ xảy ra cháy rừng trên thế giới tập trung ở các vấn đề sau:
- Những nghiên cứu sử dụng các công nghệ mới như sử dụng ảnh viễn thám và
hệ thống định vị toàn cầu (GPS) trong việc xác định toạ độ các điểm cháy rừng và dự
báo các khu vực có nguy cơ xảy ra cháy rừng
- Nghiên cứu về tính chất của nguồn VLC xây dựng các chỉ số cháy của các loài thực vật khác nhau và xây dựng hệ thống dự báo cháy
- Tích hợp thông tin trong việc xây dựng các bản đồ về mức độ rủi ro và ảnh hưởng của cháy rừng tới môi trường, trợ giúp cho việc giảm thiểu tác hại của cháy
rừng và giúp cho các cơ quan quản lý cháy rừng ra quyết định
Trang 40- Mô phỏng và mô hình hóa hiện tượng cháy trong tự nhiên theo không gian, trên cơ sở đó có biện pháp phòng và giảm thiểu tác hại của cháy rừng
1.3.2 Những nghiên cứu trong nước
- Nghiên cứu về dự báo nguy cơ cháy rừng: Công tác dự báo nguy cơ cháy
rừng ở Việt Nam được bắt đằu từ năm 1981 Tuy nhiên, trong thời gian đầu chủ yếu áp
dụng phương pháp dự báo của Nesterop (Ngô Quang Đê, 1983) [6]. Đây là phương
pháp đơn giản, cấp nguy hiểm của cháy rừng được xác định theo giá trị P bằng tổng
của tích số giữa nhiệt độ và độ thiếu hụt bão hoà của không khí lúc 13 giờ hàng ngày
kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa lớn hơn 3 mm Đến năm 1988 nghiên cứu của
Phạm Ngọc Hưng đã cho thấy, phương pháp của Nesterop sẽ có độ chính xác cao hơn
nếu tính giá trị P kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa lớn hơn 5 mm Ngoài ra, trên cơ
sở phát hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa số ngày khô hạn liên tục H (số ngày liên tục có
lượng mưa dưới 5 mm) với chỉ số P, Phạm Ngọc Hưng cũng đã đưa ra phương pháp
dự báo nguy cơ cháy rừng theo số ngày khô hạn liên tục [8] Ông xây dựng một bảng
tra cấp nguy hiểm của cháy rừng căn cứ vào số ngày khô hạn liên tục cho các mùa khí
hậu trong năm
Tuy nhiên, khi nghiên cứu về tính thích hợp của một số phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng ở miền Bắc Việt Nam, Bế Minh Châu (2001) [1] đã khẳng định
phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng theo chỉ tiêu P và H có độ chính xác thấp ở
những vùng có sự luân phiên thường xuyên của các khối không khí biển và lục địa
hoặc vào các thời gian chuyển mùa Trong những trường hợp như vậy, mức độ liên hệ
của chỉ số P và H với độ ẩm vật liệu dưới rừng và tần suất xuất hiện của cháy rừng rất
thấp Từ 1989 - 1991, Dự án tăng cường khả năng phòng chống cháy rừng cho Việt
Nam của UNDP đã nghiên cứu, soạn thảo phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng
theo chỉ tiêu khí tượng tổng hợp P của Nesterop nhưng thêm yếu tố gió (Cooper,
1991) Chỉ tiêu P của Nesterop đã được Cooper hiệu chỉnh khi nhân với hệ số là 1,0;
1,5; 2;0, và 3,0 nếu có tốc độ gió tương ứng là 0 - 4, 5 - 15, 16 - 25, và lớn hơn 25
km/giờ Tuy nhiên, đến nay chỉ tiêu này vẫn chỉ đang ở giai đoạn thử nghiệm
Năm 1993, Võ Đình Tiến đã đưa ra phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng từng tháng ở Bình Thuận theo 6 yếu tố: nhiệt độ không khí trung bình, lượng mưa
trung bình, độ ẩm không khí trung bình, vận tốc gió trung bình, số vụ cháy rừng trung
bình, lượng người vào rừng trung bình Tác giả đã xác định được cấp nguy hiểm với
cháy rừng của từng tháng trong cả mùa cháy Đây là chỉ tiêu có tính đến cả yếu tố thời
tiết và yếu tố kinh tế - xã hội liên quan đến nguy cơ cháy rừng Tuy nhiên, vì căn cứ
vào số liệu khí tượng trung bình nhiều năm nên cấp dự báo của tác giả chỉ thay đổi
theo thời gian của lịch mà không thay đổi theo thời tiết hàng ngày Vì vậy, nó mang ý
nghĩa của phương pháp xác định mùa cháy nhiều hơn là dự báo nguy cơ cháy rừng