1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC TÔN GIÁO RA ĐỜI Ở NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

207 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 207
Dung lượng 3,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều yếu tố lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội Nam Bộ đương thời là tác nhân đối với các tôn giáo: môi trường khắc nghiệt của vùng đất mới; vùng đồi núi Thất Sơn huyền bí, vùng giáp bi

Trang 1

NGUYỄN XUÂN HẬU

ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC TÔN GIÁO RA ĐỜI

Ở NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH TÔN GIÁO HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

NGUYỄN XUÂN HẬU

ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC TÔN GIÁO RA ĐỜI

Ở NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH TÔN GIÁO HỌC

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Nguyễn Xuân Hậu

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1.1 Tổng quan tư liệu, tài liệu 5 1.2 Một số vấn đề đã nghiên cứu và cần tiếp tục nghiên cứu 18 1.3 Cách tiếp cận, lý thuyết nghiên cứu và một số khái niệm cơ bản 20

Chương 2: ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

CỦA CÁC TÔN GIÁO Ở NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ

Chương 3: ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN TRONG LÝ THUYẾT VÀ THỰC

HÀNH ĐỨC TIN CỦA CÁC TÔN GIÁO RA ĐỜI Ở NAM BỘ CUỐI

3.1 Một số đặc trưng trong lý thuyết tôn giáo 62 3.2 Một số đặc trưng trong thực hành đức tin tôn giáo 90

Chương 4: GIÁ TRỊ ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC TÔN GIÁO RA ĐỜI Ở

NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ MỘT SỐ

Trang 5

BSKH Bửu sơn Kỳ hương

CĐ Đạo Cao đài

PGHH Phật giáo Hòa Hảo

PGHNTL Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn TAHN Tứ ân Hiếu nghĩa

TĐCSPHVN Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, bên cạnh các tôn giáo ngoại nhập như Phật giáo, Islam giáo (thường gọi là Hồi giáo), Công giáo, đạo Tin lành…, ở Nam Bộ có sự hiện diện khá nhiều tôn giáo ra đời ngay tại vùng đất này, tiêu biểu là Bửu sơn Kỳ hương (BSKH), Tứ ân Hiếu nghĩa (TAHN), Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn (PGHNTL), Phật giáo Hòa Hảo (PGHH), đạo Cao đài (CĐ), Tịnh

độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam (TĐCSPHVN),v.v

Các tôn giáo nêu trên ra đời trong bối cảnh vùng đất Nam Bộ đã hình thành và đang phát triển Nhiều yếu tố lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội Nam Bộ đương thời là tác nhân đối với các tôn giáo: môi trường khắc nghiệt của vùng đất mới; vùng đồi núi Thất Sơn huyền bí, vùng giáp biên Tây Ninh - nơi lý tưởng của chốn tâm linh; sự ảnh hưởng của Thiên Địa hội từ người Hoa đến Hội kín của người Việt; sự dung hợp tư tưởng Tam giáo truyền thống cùng tín ngưỡng dân gian; sự yếu thế của các tôn giáo truyền thống; sự mất vai trò của triều đình nhà Nguyễn; xứ thuộc địa Nam Kỳ thuộc Pháp,v.v Tất cả tạo nên khoảng trống sâu sắc trong một xã hội bị hụt hẫng niềm tin, thiếu sự lãnh đạo chủ đạo về thần quyền và thế quyền Người dân Nam Bộ rất cần một phong trào tôn giáo mới để khỏa lấp khoảng trống ấy

Sự ra đời của các tôn giáo ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX không nằm ngoài bối cảnh chung của văn hóa, xã hội Nam Bộ Chúng dung hợp, sắp xếp, điều chỉnh để phù hợp với hoàn cảnh xã hội mới, lôi cuốn người dân thực hành cả các hoạt động tôn giáo lẫn các hoạt động xã hội Mục đích đó đạt được không chỉ vào thời điểm các tôn giáo ra đời mà còn vào những thời điểm

về sau khi nhiều sự biến đổi ở Nam Bộ diễn ra làm cho vùng đất này thay đổi diện mạo Điều đó cho thấy, các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ có tính bền vững nhất định bởi những giá trị không thể phủ nhận của các tôn giáo này

Trải qua quá trình tồn tại và phát triển, các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ đã tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội khu vực này Về tác động tích cực,

Trang 7

các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ góp phần làm phong phú diện mạo tôn giáo, đáp ứng nhu cầu tâm linh cho lưu dân; mở mang vùng đất mới, gây dựng và cố kết cộng đồng; tham gia vào các cuộc khởi nghĩa, kháng chiến cách mạng,v.v Tuy vậy, hoạt động của các tôn giáo này cũng cho thấy những tác động tiêu cực, nhất

là một số tôn giáo bị chính quyền Sài Gòn sử dụng để chống phá cách mạng; một

số chức sắc dựa vào tôn giáo để hoạt động chính trị Vậy nên, việc một số tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX sớm bị phân liệt, không chỉ do yếu tố nội bộ mà còn do yếu tố bên ngoài

Cho đến nay, nhóm tôn giáo ra đời ở Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX được nghiên cứu ở các mức độ với nhiều góc độ khác nhau như: tôn giáo học, triết học, nhân học, xã hội học, văn hóa học, tâm lý học, sử học Các công trình tập trung lý giải mối quan hệ giữa vùng đất mới với tâm lý của lưu dân mở đất; mối quan hệ giữa tôn giáo với phong trào yêu nước; mối quan hệ giữa tôn giáo mới với tôn giáo truyền thống,v.v Nhìn chung, các nghiên cứu trước đây đều thừa nhận tầm quan trọng của phong trào các tôn giáo mới trong bối cảnh văn hóa, chính trị, xã hội Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Dù giá trị và đóng góp của các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ được nhiều người bàn đến, nhưng nhận diện những đặc trưng của chúng như: loại hình tôn giáo, danh xưng tôn giáo, quan hệ chính giáo, nhất là dạng thức nội sinh,… cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Kế thừa thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước, nhằm đóng góp nhiều hơn đối với lĩnh vực tôn giáo học nói riêng,

khoa học xã hội và nhân văn nói chung, tôi chọn đề tài “Đặc trưng của các tôn

giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đàu XX” làm luận án tiến sĩ, chuyên

Trang 8

2.2 Nhiệm vụ của luận án

- Thứ nhất, tổng quan một số vấn đề lý luận liên quan đến các tôn giáo ra

đời ở Nam Bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

- Thứ hai, trình bày hệ thống điều kiện ra đời và quá trình phát triển của

các tôn giáo ở Nam Bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

- Thứ ba, làm rõ đặc trưng cơ bản của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ vào

cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

- Thứ tư, đi sâu phân tích giá trị và khuyến nghị từ đặc trưng của các tôn

giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc trưng các tôn giáo ra đời ở Nam

Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, gồm: nhóm tôn giáo thuộc phong trào Ông Đạo (Bửu sơn Kỳ hương, Tứ ân Hiếu nghĩa, Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn, Phật giáo Hòa Hảo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam) và nhóm tôn giáo thuộc phong trào Cơ Bút (đạo Cao đài, Minh Sư đạo, Minh Lý đạo)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: khu vực Nam Bộ, nơi ra đời, tồn tại chủ yếu của các tôn giáo nội sinh được lựa chọn nghiên cứu Ngoài ra, không gian nghiên cứu của luận án còn mở rộng đến một số địa phương khác có sự lan truyền, ảnh hưởng của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

- Về thời gian: từ giữa thế kỷ XIX (năm 1849, thời điểm ra đời đạo Bửu sơn Kỳ hương) cho đến hiện nay (2019, thời điểm hoàn thành luận án)

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, với lý thuyết “Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo” [12, tr.569] “Nhà nước ấy, xã hội ấy” được hiểu là bối cảnh xã hội cụ thể, khu vực cụ thể, giai đoạn cụ thể Với Nam Bộ, đó là

Trang 9

những đặc điểm địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị của cư dân vùng đất mới, nơi hình thành các tôn giáo vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội và nhân văn, như: phân tích - tổng hợp tư liệu (tư liệu gốc, tài liệu thứ cấp); phỏng vấn sâu, lấy ý kiến chuyên gia (học giả, chức sắc, chức việc, tín đồ); các phương pháp cụ thể như so sánh, khái quát, đối chiếu,v.v

5 Đóng góp khoa học của luận án

Từ phương diện Tôn giáo học, luận án góp phần làm rõ những đặc trưng

cơ bản và một số vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau liên quan đến các tôn giáo

ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XIX

Kết quả luận án còn đóng góp luận cứ khoa học cho việc nhận thức và ứng xử đúng đắn hơn và khách quan hơn đối với các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

Thông qua phân tích những đặc trưng cơ bản của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, luận án đóng góp những luận cứ khoa học trong nghiên cứu quy luật hình thành và phát triển của tôn giáo; mối quan hệ tương tác qua lại giữa tôn giáo với các lĩnh vực của đời sống xã hội

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành Tôn giáo học và nhiều bộ môn khoa học xã hội và nhân văn; đóng góp luận cứ khoa học cho việc tiếp tục hoàn thiện chính sách và pháp luật về tôn giáo, nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo của nước ta thời gian tới

7 Kết cấu của luận án

Ngoài Lời cam đoan, Mục lục, Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác giả đã công bố liên quan đến luận án, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương, 09 tiết và tiểu kết các chương

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU, TÀI LIỆU

1.1.1 Tổng quan tư liệu gốc

1.1.1.1 Kinh sách của các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ

- Kinh sách của Bửu sơn Kỳ hương: nội dung giáo lý, lễ nghi của BSKH

thể hiện ở các bài giảng (vãn, sấm) do môn đệ hoặc người đời sau ghi chép lại lời thuyết giảng của ông Đoàn Minh Huyên, chủ yếu do Ban Quản tự chùa Tòng

Sơn ấn hành, như: Giảng Giáp Thìn Thầy ở Gò Công, Giảng Mùa Đông (ba tập:

Mùa Đông, Năm Ông, Mười Sầu) Nguyễn Văn Hầu biên khảo và chú thích,

Sấm truyền Phật Thầy Tây An, Tòng Sơn Cổ Tự xuất bản 1973 [50]

Ngoài ra, tư liệu kinh sách của BSKH còn phải kể đến: Giảng xưa căn gốc

ông bà, Dưới bóng cội tùng, Lời sấm của Đức Phật Trùm, Sấm giảng Người đời, Mười điều khuyến tu của Đức Phật Thầy Tây An Riêng Sấm truyền Đức Phật Thầy Tây An, luận án sử dụng quyển do Nguyễn Văn Hầu sưu tầm và biên soạn

được Tòng Sơn Cổ tự xuất bản năm 1973 [82], những quyển khác dùng để tham khảo và đối chiếu

- Kinh sách của Tứ ân Hiếu nghĩa: Kế thừa BSKH, nhưng TAHN có

thêm một số kinh sách, có thể chia làm 3 loại: Một là, kinh sách do ông Ngô Lợi

và ông Nguyễn Hội Chân (Nguyễn Hội Chơn) sáng tác Hai là, kinh điển tiếp thu, kế thừa từ BSKH Ba là, các thể loại khác, nổi bật là những kinh khuyến

thiện Luận án chủ yếu sử dụng các quyển: Linh Sơn hội thượng kinh, Hiếu

nghĩa kinh, Chuyển trạc kinh, Ngọc lịch đồ thơ tập chú, Ngũ giáo văn của Đức Bổn Sư Núi Tượng do Tam Bửu Tự - Phi Lai ấn hành

- Kinh sách của Phật giáo Hòa Hảo: Kinh sách của PGHH gồm sấm

giảng của ông Huỳnh Phú Sổ được tập hợp thành bộ Sấm giảng thi văn toàn bộ (gồm 6 quyển: Sấm giảng khuyên người đời tu niệm, Kệ dân của Người Khùng,

Sấm giảng, Giác mê tâm kệ, Khuyến thiện, Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu

Trang 11

hiền) Bộ Sấm giảng thi văn toàn bộ được Ban Phổ truyền Giáo lý Trung ương

PGHH tái bản nhiều lần Luận án sử dụng bản Sấm giảng thi văn toàn bộ in năm

1966 [03] Những bản Sấm giảng thi văn toàn bộ khác được luận án dùng để

tham khảo và đối chiếu

- Kinh sách của Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn: Kinh sách PGHNTL gồm

Kinh Cứu khổ, Kinh Phổ môn, Triết Thánh đạo (Nguyễn Ngọc An viết năm

1961, An Bình tự ấn hành), Luật đạo (năm 1968, An Bình tự ấn hành) [58]; các bài vãn như: Thập ngoạt hoà thai của Nguyễn Ngọc An, Vãn Tà Lơn và Vãn Lan

Thiên của ông Cử Đa (An Bình tự ấn hành) [59]

- Kinh sách của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam: Kinh sách của

TĐCSPHVN tiêu biểu gồm: Lễ bái lục phương, Phu thê ngôn luận, Phương

pháp thực hành đạo đức, Giới luật Phật pháp tu hành, Phật học vấn đáp, Phương pháp kiến tánh, Phương pháp tu hành phước huệ song tu, Điều lệ người mới nhập môn, Thống nhất nghi thức do Huỳnh Văn Dơn và Như Pháp biên

soạn, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2007 và 2008

- Kinh sách của đạo Cao đài: Kinh sách của đạo CĐ tiêu biểu gồm Pháp

chánh truyền, Tân luật, Đạo luật, Bát đạo nghị định (tổng hợp thành quyển Luật pháp Cao Đài, Cao Đài Tây Ninh ấn hành và giữ bản quyền, tháng 9/2012)

Quyển Thánh ngôn hiệp tuyển trọn bộ (tổng hợp từ Thánh ngôn hiệp tuyển

quyển thứ nhất, Hội thánh Cao Đài Tây Ninh kết tập từ năm 1928, Nhà in Tam

Thanh, Sài Gòn, và Thánh ngôn hiệp tuyển quyển thứ hai được Hội thánh Cao

Đài Tây Ninh tổng hợp và xuất bản lần đầu năm 1963, Nhà in Tuyết Vân, Sài

Gòn Luận án sử dụng quyển Thánh ngôn hiệp tuyển trọn bộ in năm 1972, Tòa thánh Tây Ninh giữ bản quyền [28], và Thánh ngôn hiệp tuyển quyển 1 và 2 hợp

nhứt và chú thích do Nguyễn Văn Hồng biên soạn và chú thích, ấn hành năm

2000 [61]

Ngoài ra, kinh sách của đạo CĐ còn phải kể đến: Ngọc Đế chơn truyền

tân ước tri nguyên, của Hội thánh Bạch y Liên đoàn Chơn lý, Nxb Tôn giáo,

năm 2014 [17]; Đại thừa Chơn giáo, Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi,

Trang 12

Nxb Tam giáo Đồng nguyên [26]; Lời thuyết đạo của Đức Hộ pháp thiêng liêng

hằng sống, Cao Đài Tây Ninh ấn hành, năm 2011 [31]; Từ điển Cao Đài (quyển

1 và quyển 2) do Đức Nguyên biên soạn năm 2011 [92],v.v

1.1.1.2 Văn bản của các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ

Văn bản của các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ tiêu biểu gồm: Đạo thư của

Đức Quyền Giáo tông về việc phát hành quyển Pháp Chánh truyền, Đại đạo

Tam kỳ Phổ độ, ngày 24/04/1932; Thánh huấn, Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh, ngày 7 tháng 7 năm Đinh Hợi (1947); Thánh huấn, Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh, ngày 25 tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1952); Thánh huấn, Hội thánh Cửu Trùng Đài, ngày 19 tháng 5 năm Canh Tuất (1970); Thông tri, Hội thánh Cửu Trùng Đài, ngày 14 tháng 5 năm Canh Tuất (1970); Chưởng quản Hiệp Thiên

Đài, Đại đạo Tam kỳ Phổ độ, ngày 12 tháng 10 năm 1976; Điều lệ, Đại đạo Tam

kỳ Phổ độ, Giáo hội Bến Tre, Bộ Nội vụ duyệt y theo Nghị định số

378/BNV/KS/14, ngày 28/5/1970, Công báo Việt Nam Cộng hòa số 35; Hiến

chương Phật giáo Hòa Hảo (2014-2019), Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hòa

Hảo, nhiệm kỳ IV, ngày 22/5/2014; Hiến chương Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt

Nam, Ban Trị sự Trung ương Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam; Hiến chương Đại đạo Tam kỳ Phổ độ Tòa thánh Tây Ninh, Cao Đài Đại đạo Tam kỳ Phổ độ

(các năm 1965, 1997, 2007); Hiến chương đạo Tứ ân Hiếu nghĩa, Tứ ân Hiếu

nghĩa, Đại hội lần 1: 2010 - 2015, Đại hội lần 2: 2015-2020,v.v

Các tư liệu gốc nêu trên rất quan trọng để luận án nghiên cứu đặc trưng về các mặt giáo lý, lễ nghi, tổ chức của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ Tuy nhiên, các tư liệu này có nhiều phiên bản khác nhau, nên một số nội dung không đồng nhất Vì vậy, luận án rất chú ý việc lựa chọn, đối chiếu, so sánh các bản kinh, sách ở một mức độ phù hợp và tin cậy nhất có thể

1.1.2 Tổng quan những vấn đề nghiên cứu liên quan nội dung luận án

Cho đến nay, hầu hết các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nhanh chóng phát triển rộng khắp Nam Bộ, một phần ở Trung Bộ và Bắc Bộ Quá trình hình thành và phát triển, các tôn giáo này chịu sự ảnh hưởng

Trang 13

sâu đậm của thời cuộc ở Nam Bộ Vì thế, đã từ lâu, đề tài này được nhiều nhà

nghiên cứu ở các góc độ quan tâm, có thể phân thành các nhóm sau:

1.1.2.1 Nhóm công trình nghiên cứu sự ra đời của các tôn giáo ở Nam

Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Georges Coulet, trong tác phẩm viết năm 1926, Les Sociétés Secrètes en

terre d’Annam (Hội kín xứ An Nam ) [147] đã viện dẫn các minh chứng vai trò

của hội kín ở xứ An Nam từ khi mới xuất hiện cho đến đầu thế kỷ XX Đáng lưu

ý là, công trình này dành nhiều quan tâm mối quan hệ giữa hội kín người Hoa với hội kín người Việt, giữa hội kín với các phong trào tôn giáo nội sinh ở Nam

Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: “Bằng chứng lịch sử cho thấy, sự tồn tại gần gũi lý tưởng tôn giáo với lý tưởng hội kín, mặt khác trong thực tế tôn giáo và hội kín đôi khi tỏ ra hành động đồng cách cho một mục tiêu đồng nhất, chẳng hạn như đạo Lành (Tứ ân Hiếu nghĩa)” [147, tr.138]

Năm 1981, Phan Quang viết tác phẩm Đồng bằng sông Cửu Long [96]

Về các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ, dù không đề cập nhiều, nhưng với những trang viết về điều kiện cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Nam Bộ, có thể thấy, thời điểm bấy giờ, nơi đây đã hội tụ nhiều yếu tố lý tưởng cho sự ra đời hàng loạt hiện tượng tôn giáo mới

Trong tác phẩm Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ [79] do Huỳnh Lứa

chủ biên, từ nhiều thư tịch khác nhau, các tác giả giới thiệu quá trình di dân, khẩn hoang và cộng cư của các dân tộc Việt, Hoa, Khmer, Chăm trên vùng đất Nam Bộ Tác phẩm này không đề cập trực tiếp đến các tôn giáo nội sinh cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhưng có nhiều tư liệu về diễn trình khai phá Nam Bộ từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, cũng như sự biến đổi xã hội qua quá trình khai phá Nam Bộ thời gian về sau Các tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến biểu hiện của sự đoàn kết, gây dựng đời sống vật chất và đời sống tinh thần của các dân tộc anh

em, qua sự hòa hợp, hỗn dung những yếu tố truyền thống, tiếp thu những giá trị mới: “Nam Bộ nói chung [ ], ngay trong buổi đầu khai phá, đã có nhiều dân tộc sống chung, xen kẽ nhau Đó là một điểm đáng chú ý so với bất cứ vùng nào trên

Trang 14

đất nước Việt Nam” và “Sự hỗn hợp dân cư thuộc nhiều nguồn gốc địa phương, nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác biệt, nhiều trình độ phát triển về mặt xã hội trong nhiều thế kỷ qua đã không hề là yếu tố cản trở sự đoàn kết gắn bó nhau giữa các tộc người cùng chung sống trên địa bàn Nam Bộ” [79, tr.239-240]

Trần Hồng Liên năm 1996 với tác phẩm Phật giáo Nam Bộ từ thế kỷ XVII

đến 1975 [77], và năm 2004 với công trình Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam

Bộ (tập hợp các bài viết của tác giả) [78], đề cập đến một số tôn giáo nội sinh ở

Nam Bộ như BSKH, TAHN, PGHH,v.v Đáng chú ý khi tác giả cho rằng, những tôn giáo ra đời ở Nam Bộ là giáo phái/ hệ phái/ hay đạo giáo của Phật giáo Vì thế, trong phân tích của mình, tác giả đưa ra nhiều minh chứng về mối liên hệ giữa Phật giáo và các tôn giáo nội sinh, trở thành đạo giáo riêng có Nam Bộ: “ đã làm cho đạo Bửu Sơn Kỳ Hương trở thành một đạo giáo riêng có (hiểu theo nghĩa là một đạo giáo của Phật giáo) ở đồng bằng sông Cửu Long, chỉ

có trong cộng đồng người Việt” [78, tr.303]

Năm 1997, Nguyễn Đăng Duy viết tác phẩm Văn hoá tâm linh Nam Bộ

[37] Tác giả phân tích dòng chảy văn hóa tâm linh từ Đồng bằng sông Hồng đến Đồng bằng sông Cửu Long trong lịch sử văn hóa Việt Nam Những giá trị tâm linh luôn có sự tiếp nối và là mạng mạch không dừng của bao thế hệ người Việt Tác phẩm là một bức tranh khá tổng thể về đời sống tôn giáo, cũng như những nét đặc sắc khác trong tâm linh người dân Nam Bộ Nguyễn Đăng Duy chú trọng phân tích yếu tố dung hợp của các tôn giáo, tiêu biểu là đạo CĐ: “ Chúa Trời sáng tạo, an bài tất cả là từ đạo Gia tô, thần tiên giáng linh là từ đạo Lão, nhân nghĩa làm người là từ Nho giáo, ham muốn nhục dục vật chất là nguồn gốc gây

ra mọi đau khổ là từ đạo Phật” [37, tr.71]

Trong công trình Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam Bộ viết năm 2004 [90],

Nguyễn Hữu Hiếu đi sâu tìm hiểu một số dạng thức tâm linh điển hình ở Nam

Bộ, từ sự ra đời đến sự thay đổi của chúng qua thời gian và không gian, đến nguồn gốc, vai trò và ảnh hưởng của chúng Theo tác giả, các dạng thức tâm linh trong dòng tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ luôn có sự hòa nhập, dung hợp vốn văn

Trang 15

hóa có trước, nhưng không phải sự hòa nhập tùy tiện mà là có chọn lọc, phù hợp với tính cách người dân Nam Bộ

Một số tác phẩm của Sơn Nam như Đình miếu và lễ hội dân gian miền

Nam (1992) [83], Tiếp cận với Đồng bằng sông Cửu Long (2000) [84], Phong trào Duy Tân Bắc Trung Nam - Miền Nam đầu thế kỷ thứ XX - Thiên Địa hội và cuộc Minh Tân (2014) [85], Nói về miền Nam, Cá tính miền Nam, Thuần phong

mỹ tục Việt Nam (2009) [88], được Nxb Trẻ phát hành Những công trình của

“ông già Nam Bộ” biên khảo nhiều mặt đời sống xã hội, trong đó có sinh hoạt tôn giáo của người dân Nam Bộ, các tổ chức Thiên Địa hội, hội kín Nam Kỳ, những nghi vấn về mối quan hệ của các tôn giáo với các tổ chức của người Hoa, người Việt,v.v Những khảo cứu nêu trên được triển khai theo dạng kể chuyện không những phản ánh khá chân thật về tính cách văn hóa - gắn liền với sinh hoạt tâm linh của người dân Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, mà còn bàn sâu nguyên nhân và diễn biến của các tôn giáo ra đời ở khu vực này

1.1.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu đặc trưng các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

- Nhóm công trình nghiên cứu phong trào các Ông Đạo:

Năm 1956, Nguyễn Văn Hầu biên soạn quyển Đức Cố Quản hay là Cuộc

khởi nghĩa Bảy Thưa [49], giới thiệu thân thế và sự nghiệp của Trần Văn Thành,

một đại đệ tử của ông Đoàn Minh Huyên, trong đó những mẩu chuyện về khởi nghĩa của các nhà lãnh đạo phong trào kháng Pháp ở Nam Bộ như Thiên Hộ

Dương, Nguyễn Trung Trực hoặc việc ông được thầy giao quyền “cắm thẻ” Năm 1968, Nguyễn Văn Hầu ra mắt quyển Nhận thức Phật giáo Hòa Hảo [52]

khảo luận sâu sắc về nhiều vấn đề mà cho đến nay giới nghiên cứu tôn giáo đều quan tâm như: nguồn gốc PGHH, Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, PGHH với bản sắc dân tộc, PGHH có phải là một đoàn thể chính trị,v.v Trong lần tái bản năm

2017, Nxb Tôn giáo và Saigon Books đã bổ sung các bài viết về PGHH của Sơn Nam, Nguyễn Hiến Lê, Minh Chi, Phạm Cao Dương, Phạm Công Thiện Năm

1972, Nguyễn Văn Hầu cho ra đời quyển Thất Sơn màu nhiệm [51], giới thiệu về

Trang 16

vùng Thất Sơn khi còn thuộc Thủy Chân Lạp với những địa thế trọng yếu về kinh tế, xã hội và những bậc “siêu phàm” Ba tác phẩm nêu trên cho thấy, với tư cách vừa nhà nghiên cứu vừa là tín đồ của PGHH, Nguyễn Văn Hầu có điều kiện tiếp cận và lý giải khá sâu sắc về tôn giáo của mình, tuy không tránh khỏi một vài hạn chế về nhận thức của “người trong cuộc”

Một tác phẩm rất nổi tiếng của Tạ Chí Đại Trường mà hầu hết các nhà

nghiên cứu tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ không thể bỏ qua là Thần, Người và Đất

Việt [133], đề cập đến các hiện tượng tôn giáo ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu

thế kỷ XX Thuật ngữ “phong trào các Ông Đạo” được tác giả sử dụng là những

“hiện tượng tôn giáo mới” đương thời, với những đặc điểm cơ bản: là kết quả tập hợp thần linh mới, là “những dòng tiên tri tản mạn”, là “sự hội tụ các dòng tiên tri”,v.v Chương X của tác phẩm giới thiệu vùng đất Nam Bộ, nơi tập hợp những phong trào di dân cùng với hệ thống thần linh của mình, đặc biệt ảnh hưởng Thiên Địa hội của người Minh Hương Với Bửu Sơn Kỳ Hương, theo ông, đó là sự khởi đầu của dòng tiên tri cho đến TAHN, đều hoạt động trong bối cảnh dáng dấp là một hội kín: “Các tín đồ và hệ phái chống đối người Pháp, bị đàn áp gắt gao đến nỗi trước năm 1945, danh từ Bửu sơn Kỳ hương (và Tứ ân Hiếu nghĩa), ngay tại hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc, vùng phát tích mà chỉ được nói khẽ với nhau trong dân gian, ở xa đến người hiếu kỳ không làm sao tìm được tông tích” [133, tr.327]

Năm 1999, Đinh Văn Hạnh xuất bản cuốn Đạo Tứ ân Hiếu nghĩa của

người Việt ở Nam bộ (1867-1975) [48] Tác phẩm có khá nhiều thông tin về đạo

TAHN, không chỉ dừng lại những đặc điểm của tôn giáo này mà còn so sánh, đối chiếu với những tôn giáo khác ra đời ở Nam Bộ đương thời

Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn

Quốc gia (2003), Hội thảo khoa học về giáo phái Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt

Nam [137] Kỷ yếu tập hợp bài viết của nhiều nhà khoa học, chức việc và tín đồ

về những điểm mấu chốt của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam như lịch sử hình thành, vấn đề hành đạo, tác động đến đời sống tín đồ Cũng tại hội thảo này, vấn

Trang 17

đề Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam là tổ chức tôn giáo hay là một giáo phái Phật giáo rất được quan tâm đưa ra thảo luận

Phạm Bích Hợp, Người Nam Bộ và tôn giáo bản địa (Bửu sơn Kỳ hương -

Cao Đài - Hòa Hảo) [64], phân tích khá sâu sắc một số lý thuyết hình thành tôn

giáo nội sinh, trong đó có lý luận tôn giáo tính - phản ánh nhu cầu tôn giáo của con người và lý giải dưới góc độ tiếp cận tôn giáo của người dân với các tôn giáo mới được ra đời: “Đó là sự tương tác của một quá trình có thể nói là nội sinh (endogène) là sự hình thành những cộng đồng tôn giáo bản địa, chứ không phải

chỉ là bản địa hóa một tôn giáo ngoại nhập nào” [64, Mở đầu] Tác phẩm lý giải

vai trò tôn giáo đến cư dân Nam Bộ, khác với cách phát triển của các tôn giáo trên thế giới là từ tôn giáo bình dân đến tôn giáo tăng lữ, tôn giáo quý tộc, tôn giáo cung đình và sau cùng là tôn giáo quốc gia Chương II hệ thống quá trình ra đời từ BSKH đến PGHH, với những đặc điểm qua tư tưởng “học Phật tu nhân”,

“Tứ ân”, truyền thống “thờ cúng Tổ tiên” của người Việt và những yếu tố tôn giáo của cộng đồng các dân tộc khác cùng sinh sống trên vùng đất Nam Bộ Năm 2013, Hội Khoa học Lịch sử tỉnh An Giang tổ chức Hội thảo khoa

học Nhân vật lịch sử Đoàn Minh Huyên [70] Hội thảo tập hợp tham luận của các

nhà khoa học, nhà quản lý ở khu vực phía Nam, tập trung làm rõ tiểu sử của Đoàn Minh Huyên cũng như đóng góp của ông tại vùng đất Nam Bộ thời kỳ khai đạo Những nội dung này giúp luận án có được những cứ liệu liên quan đến giáo chủ của Bửu sơn Kỳ hương và một số vấn đề liên quan

- Các công trình nghiên cứu nhóm phong trào Cơ bút (tiêu biểu là đạo Cao Đài):

Nhà nghiên cứu người Pháp, đồng thời là tín đồ đạo CĐ Gabriel Gobron,

giai đoạn 1948 - 1949, đã xuất bản Lịch sử đạo Cao đài [145] và Lịch sử và triết

lý đạo Cao đài [146] Trong hai tác phẩm này, G Gobron phân tích khá sâu sắc

vai trò và yếu tố hình thành đạo CĐ, nhất là Thần linh học Trong phần giới thiệu triết lý CĐ, ông lưu ý vai trò liên kết những người đang sống với những người đã chết và chuẩn bị cho kiếp tái sinh Đây được xem là hai trong số những

Trang 18

công trình tiêu biểu của chức sắc CĐ về lược sử phát triển và ý niệm thiêng liêng khá độc đáo của đạo CĐ

Lê Văn Trung, Phương châm hành đạo [130], đề cập đến các nội dung:

người trong đạo, người ngoại đạo, phổ thông Thiên đạo, năng hầu đàn, điều lệ hầu đàn, luật xem kinh sách,… thể hiện khá rõ đặc trưng cơ bản của tín đồ đạo

CĐ trong tu hành ở gia đình, thánh thất và xã hội Nội dung quyển sách giúp luận án nghiên cứu đặc trưng của đạo CĐ nói riêng, của các tôn giáo ra đời ở khu vực Nam Bộ nói chung

Trương Văn Tràng, Đại đạo giáo lý [129] gồm 3 nội dung: mặt tôn giáo,

vũ trụ quan và nhân sinh quan, Thượng thừa và Hạ thừa, trình bày những nét căn bản về sự hình thành của đạo CĐ Đó là kết quả việc tổng hợp của ba nguồn học thuyết phương Đông truyền thống gồm Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo Tác phẩm

là tư liệu có giá trị trong việc tìm hiểu triết lý đạo CĐ

Giai đoạn 1967-1972, Đồng Tân viết cuốn Lịch sử Cao đài Đại đạo Tam

kỳ phổ độ - phần Vô vi [105] và cuốn Lịch sử Cao đài Đại đạo Tam kỳ phổ độ - phần Phổ độ [106] Năm 1997, Đồng Tân viết quyển Tìm hiểu đạo Cao đài

[107], một tập hợp 310 câu trả lời của các học giả nước ngoài tìm hiểu đạo CĐ

như Teb Dutton, Jeremy Davidson, Sergei A Blagov Trên lập trường một tín đồ

CĐ, Đồng Tân giải thích vấn đề đặt ra ở nhiều khía cạnh của đạo CĐ theo hướng tôn vinh tôn giáo của mình Các công trình của Đồng Tân có giá trị trong nghiên cứu về đạo CĐ ở Nam Bộ, nhất là vấn đề nội bộ và sự phân rẽ của tổ chức tôn giáo này Những tư liệu này giúp luận án đối chiếu, so sánh với nghiên cứu của những người ngoài CĐ

Năm 1974, trong quyển Đại đạo giáo lý và triết lý [98], Trần Văn Rạng

giới thiệu một cách khá căn bản những điểm mấu chốt của đạo CĐ như quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức, quan niệm về vũ trụ, quan niệm về con người, Đức Thượng Đế, Hội thánh Ngoại giáo

Werner Jayne Susan, Peasant politics and religious sectarianism peasant

priest in the Caodai in Vietnam xuất bản năm 1981 [158], Lê Anh Dũng trích

Trang 19

dịch đăng trên Tạp chí Xưa và Nay, số 81B tháng 11/2000 Nội dung tác phẩm

gồm: đạo CĐ ra đời ở Nam Bộ thuộc Pháp; địa chủ và nông dân; Tây Ninh - Thánh địa; bành trướng, suy vi và phần kết luận Công trình là bản rút gọn từ

luận án tiến sỹ năm 1976 của tác giả với đề tài: Đạo Cao đài: Chính trị của một

phong trào tôn giáo tổng hợp (The Caodai: The Politics of a Vietnamese

syncretic religious Movement), Yale University, Southeast Asia Studies, America Tác phẩm minh chứng rõ đặc trưng nhập thế của đạo CĐ với xã hội Nam Bộ Werner cho rằng, đạo CĐ là phong trào nông dân lớn nhất Việt Nam thời thuộc Pháp với hàng vạn tín đồ tham gia: “Đạo Cao Đài có một điều mới mẽ cho mọi người Sự khéo léo kết hợp truyền thống Tam giáo và sự diễn giải rõ ràng, chính xác truyền thống Tam giáo, không những tạo ra sức hút văn hóa mãnh liệt mà còn đưa ra nguồn sinh lực mới” [158, tr.55] Quan điểm nổi bật trong nghiên cứu này cho rằng chính trị là mục đích quan trọng ra đời đạo CĐ

Sergei Blagov, trong luận án tiến sĩ The Caodai: A New religious

movement (Đạo Cao đài: Một phong trào tôn giáo mới) [154] nhận định, sự ra

đời đạo CĐ là sự kết hợp giữa phong trào chính trị tôn giáo và tư tưởng truyền thống, một sự hòa giải văn minh phương Đông với văn minh phương Tây, một tổ chức chính trị tôn giáo ở Nam Bộ Quan điểm của tác giả khá rõ ràng về sự dung hợp của tôn giáo mới, nhưng một trong những yếu tố tạo nên đặc trưng của đạo

CĐ là Minh Sư đạo chưa được chú ý nhiều

Năm 1995, công trình Bước đầu tìm hiểu đạo Cao đài [135] do Đặng

Nghiêm Vạn chủ biên, giới thiệu khá chi tiết về đạo CĐ ở các vấn đề chính yếu như: lịch sử hình thành, sinh hoạt tôn giáo, tổ chức giáo hội và vai trò xã hội Đáng chú ý là, các tác giả đưa ra nhiều sự kiện liên quan đến Ngô Văn Chiêu, Phạm Công Tắc, Lê Văn Trung… Tác phẩm chia lịch sử đạo CĐ ra từng giai đoạn cụ thể với những sự kiện trọng yếu Về ảnh hưởng của đạo CĐ, tác phẩm cho rằng: “Đạo Cao đài mang tính thực hành, một đạo chú trọng đến việc thu hút quần chúng bằng cách đưa cho người dân đương thời món ăn tinh thần; trộn cái đời thường với cái siêu hình, muốn tìm cho họ con đường giải thoát ức chế của

Trang 20

cuộc sống thường ngày” [135, tr.165] Tác phẩm cũng bàn khá nhiều đến tính dân tộc, tính nhập thế biểu hiện qua sự ảnh hưởng của đạo CĐ đến cộng đồng người Việt ở Nam Bộ

Trần Văn Giàu (1997), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ

XIX đến Cách mạng Tháng Tám, tập 2: Hệ ý thức tư sản và sự bất lực của nó trước các nhiệm vụ lịch sử (tái bản lần thứ ba) [43], đề cập đến nguồn gốc, bản

chất đạo CĐ, cũng như vấn đề tư tưởng đặt ra trong những cuộc tranh biện hiện tượng đạo CĐ Trên cơ sở dẫn luận ý kiến của các tác giả người CĐ như Gabriel Gobron, Nguyễn Tử Thức , lẫn ngoài đạo CĐ như Hòa thượng Thái Điên, Nguyễn An Ninh, Trần Văn Giàu cho rằng: “Trong một điều kiện cụ thể nào đó, đạo Cao đài tuy là một tôn giáo vẫn, không nhiều thì ít, không trực tiếp thì gián tiếp, mang màu sắc và tính cách chính trị không làm cho dân sợ mà càng làm cho nhiều người chú ý đi theo” [43, tr.216] Phân tích của Trần Văn Giàu được luận

án kế thừa và tiếp tục chỉ ra lý do vì sao tôn giáo này lại phát triển rất mạnh ngay sau khi ra đời

Nguyễn Thanh Xuân, trong luận án tiến sĩ Sử học Quá trình ra đời và

phát triển của đạo Cao Đài từ năm 1926 đến năm 1975 [141], đi sâu khảo cứu

lịch sử đạo CĐ từ năm 1926 đến năm 1975 và ảnh hưởng của tôn giáo này đối với đời sống chính trị đất nước; làm rõ những nhân tố quan trọng hình thành nên đạo CĐ như: dân cư, địa lý, văn hóa, tín ngưỡng của vùng đất Nam Bộ; chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp; những bế tắc trong cuộc sống của cư dân Nam Bộ đương thời Đặc biệt, tác giả làm rõ mâu thuẫn nội bộ chức sắc đạo

CĐ, một trong những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến việc hình thành các chi phái trong quá trình phát triển của tôn giáo này

Trên cơ sở luận án của mình, Nguyễn Thanh Xuân sau này bổ sung, chỉnh

sửa và xuất bản thành cuốn “Đạo Cao đài hai khía cạnh: lịch sử và tôn giáo”

[220], tập trung bàn đến hoàn cảnh, điều kiện ra đời của đạo CĐ, quá trình phát triển của đạo CĐ cho đến việc chia rẽ thành các chi phái, rồi hợp nhất Với đời sống chính trị, tác giả đề cập đến đạo CĐ tham gia kháng chiến cứu quốc và thái

Trang 21

độ của các thế lực đế quốc; chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước và quá trình công nhận về tổ chức đạo CĐ Với khía cạnh lịch sử, tác giả phân tích sự hình thành, tồn tại của đạo CĐ từ một tổ chức thống nhất đến chia rẽ thành các hệ phái khác nhau và nỗ lực thống nhất của đạo CĐ, đồng thời chỉ rõ những đóng góp của đạo CĐ trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc Các tác phẩm của Nguyễn Thanh Xuân được luận án kế thừa trên phương diện lịch sử để tìm hiểu tiến trình và sự phân hóa của đạo CĐ

Năm 2015, Nguyễn Văn Trung với tác phẩm Hồ sơ về Lục Châu học -

Tìm hiểu con người ở vùng đất mới, dựa vào tài liệu văn, sử bằng quốc ngữ ở miền Nam từ 1865 - 1930 [131] Chương V của tác phẩm (Cao đài: Đạo ở vùng đất mới) [131; tr.298-377], đã tổng luận về đạo CĐ thông qua các tác phẩm của

Đào Trinh Nhất, Cái án Cao đài, Imp Commerciale Sài Gòn 1929; Băng Thanh,

Cái án Cao đài, Sài Gòn 1929; La Laurette et Vilmont: Le Caodaisme, bản đánh

máy, Sài Gòn 1933; Wener (Jayne Susan): Peasant polities and religious

sectarianisme peasant and priesf in the Cao đai in Viet Nam, Yale University

1981 Nguyễn Văn Trung có nhiều đánh giá độc đáo về đạo CĐ ở mỗi khía cạnh nghiên cứu Công trình này là một kho sử liệu quý về đạo CĐ, một trong những

cơ sở quan trọng để luận án nghiên cứu về các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX

- Nhóm công trình bàn về ý nghĩa của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX:

Trong luận án tiến sĩ Triết học Đạo Hòa Hảo và ảnh hưởng của nó ở đồng

bằng sông Cửu Long [99], Nguyễn Hoàng Sa giới thiệu tổng hợp về đặc điểm

của PGHH Là người An Giang, Nguyễn Hoàng Sa có điều kiện khảo sát điền dã nên công trình phân tích khá tường minh những yếu tố cơ bản của PGHH và ảnh hưởng của tôn giáo này đến đời sống xã hội Nam Bộ trong thập niên 90 của thế

kỷ XX Đóng góp lớn của công trình này là hệ thống các sự kiện lịch sử và chính trị của PGHH Tuy nhiên, luận án của Nguyễn Hoàng Sa chưa thực sự quan tâm phân tích “tính tôn giáo” của PGHH

Trang 22

Phan An, với công trình Người Nam bộ dưới góc nhìn tôn giáo [01], dưới

góc độ Dân tộc học, đã phân tích đặc điểm của các “Ông Đạo” ở Nam Bộ, lý giải nguyên nhân người Nam Bộ tin các “Ông Đạo”, nhấn mạnh vai trò của các “Ông Đạo” đối với lưu dân người Việt đương thời Cũng dưới góc độ Dân tộc học,

Ngô Văn Lệ có tác phẩm Các tôn giáo bản địa và ảnh hưởng của nó đến đời

sống văn hoá của người Việt ở Nam Bộ [76] Công trình đề cập các yếu tố tác

động đến dòng tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ; điểm chung của các tôn giáo ra đời

ở Nam Bộ; so sánh một vài đặc tính của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ với một

số tôn giáo truyền thống khác Đáng chú ý, tác giả đi sâu phân tích sự khác nhau giữa nhóm tôn giáo ra đời ở Tây Nam Bộ (khu vực Thất sơn, tỉnh An Giang) với đạo CĐ Điểm chung của hai công trình này là sự phân tích mối quan hệ giữa đặc tính người Nam Bộ với “tôn giáo tính” ở vùng đất này

Luận án tiến sĩ Tôn giáo học Phật giáo Hòa Hảo - Lịch sử và những vấn

đề hiện nay [46] của Bùi Văn Hải góp phần làm sáng tỏ hơn một số vấn đề về vị

trí, vai trò của PGHH ở Nam Bộ, đặc điểm của Đức Huỳnh Phú Sổ Nội dung chính luận án đánh giá thực trạng ảnh hưởng của PGHH đối với người dân Nam

Bộ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội hiện nay và xu hướng của tôn giáo này thời gian tới

Năm 2010, Huỳnh Ngọc Thu bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Nhân học

với đề tài Đời sống tôn giáo của tín đồ đạo Cao đài trong bối cảnh văn hóa Nam

Bộ [116] Luận án trình bày khái quát về đạo CĐ, các mối quan hệ của tôn giáo

này với đời sống chính trị - xã hội Chú trọng khảo sát điền dã, Huỳnh Ngọc Thu tiếp cận được nhiều ý kiến của tín đồ, chức sắc đạo CĐ trong bối cảnh hiện nay Dưới góc độ Nhân học, tác giả phân tích đặc điểm của đạo CĐ thông qua nghi lễ, giáo lý, tổ chức của tôn giáo này

Năm 2015, Nguyễn Thị Ánh Ngà bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Tôn

giáo học với đề tài Cao đài Đại đạo Chiếu Minh Tam thanh Vô vi: Quá trình

hình thành, phát triển và nếp sống đạo [89] Luận án đề cập toàn diện một hệ

phái của đạo CĐ ở Nam Bộ (chủ yếu ở thành phố Cần Thơ): ra đời và phát triển,

Trang 23

giáo lý, luật lệ, lễ nghi, nơi thờ tự và đối tượng thờ tự, nếp sống đạo hiện nay, ảnh hưởng của hệ phái này tới các lĩnh vực của đời sống xã hội

Năm 2017, luận án tiến sĩ của Đinh Quang Tiến về Giá trị văn hóa của

Cao đài trong đời sống cư dân Nam Bộ [118], dưới góc độ Văn hóa học, đã nhận

diện giá trị của đạo CĐ đối với nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ và sự tác động của những giá trị đó đến đời sống của cư dân Nam Bộ hiện nay Tác giả có nhiều lý giải văn hóa đạo CĐ từ khi hình thành đến diễn biến về sau, cho thấy sự chuyển biến trong bối cảnh biến động của tôn giáo này

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐÃ NGHIÊN CỨU VÀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.2.1 Một số vấn đề đã nghiên cứu

Điều kiện ra đời các tôn giáo ở Nam Bộ có thể xem là đóng góp tiêu biểu

và rõ rệt của các công trình đi trước Từ điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, cấu kết tộc người đến biến động chính trị cho thấy, Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX là một phức hợp của nhiều yếu tố Các yếu tố này tạo ra một “khoảng trống tâm linh” đối với người dân Nam Bộ

Các công trình đi trước đạt được nhiều kết quả đáng kể về lịch sử hình thành dân cư Nam Bộ, ảnh hưởng văn hóa của các dân tộc và vai trò của các dân tộc trong cộng đồng để tạo nên sự cố kết vừa chặt chẽ vừa cởi mở trong việc tiếp thu cái mới,v.v Đó là tiền đề quan trọng để các tôn giáo mới ra đời, trên sự kế thừa, dung hợp văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống

Một nội dung khác được các công trình đi trước chú trọng nghiên cứu là yếu tố chính trị ở Nam Bộ cuối thế thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đó là: vai trò triều Nguyễn, sự xâm lược và chính sách thuộc địa của thực dân Pháp đi cùng là một lớp văn hóa mới phương Tây,v.v Tất cả tạo nên một thách đố đối với các tôn giáo truyền thống Đó là tiền đề cốt lõi của quá trình hoạt động, biến đổi của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ

Hầu hết các tác giả cho rằng, các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ là sự hỗn dung tôn giáo, tín ngưỡng Nét đặc sắc của sự hỗn dung đó thể hiện qua yếu tố truyền

Trang 24

thống là nền tảng Dù còn quan điểm khác nhau, nhưng khi bàn đến các tôn giáo

ở Nam Bộ và đặc trưng của chúng, các nhà nghiên cứu thừa nhận, đó là những tổ chức tiếp nối tinh thần “Cần Vương” với kiểu thức tổ chức mang màu sắc tôn giáo, đảng phái tôn giáo chính trị hay phong trào tôn giáo cứu thế

Các tác giả đánh giá cao tính cứu thế, tính chính trị của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Đồng thời, với góc nhìn đa chiều, các tác giả chứng minh, sự biến động chính trị hết sức phức tạp qua nhiều giai đoạn lịch sử Nam Bộ làm cho các tôn giáo nội sinh nơi đây luôn biến đổi, có lúc gay gắt với các thể chế chính trị, cũng như chính quyền cách mạng, để khẳng định một tiếng nói trong chính trường Trải qua thời gian, sự biến đổi xã hội làm cho các tôn giáo phải tự thay đổi để thích ứng Điều này làm cho đặc trưng của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ có những biểu hiện mới, với các xu hướng thế tục hóa, hiện đại hóa không thể khác nếu chúng muốn tồn tại và phát triển

Một số nghiên cứu lưu tâm đến vai trò, ý nghĩa của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ trên nhiều lĩnh vực Đó là cách tiếp cận tôn giáo đương đại, tìm ra nguyên nhân, giải pháp để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của tôn giáo ra đời ở Nam Bộ, cũng như những vấn đề mới có thể tác động đến đời sống tôn giáo trong hiện tại và tương lai, trong đó đặc trưng của các tôn giáo có “tiếng nói” quan trọng của sự tiếp cận giữa tính truyền thống và tính hiện đại

1.2.2 Một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa kết quả các công trình đi trước, luận án sẽ tập trung nghiên cứu đặc trưng của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX ở một số phương diện cụ thể sau đây:

Về phương pháp luận, luận án làm rõ quy luật ra đời của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ Trong đó, luận án đặc biệt quan tâm đến sự tương quan giữa các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ với tôn giáo hoặc hiện tượng các tổ chức mang màu sắc tôn giáo khác cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, để làm sáng tỏ hơn quy luật của phong trào các tôn giáo mới

Trang 25

Về loại hình tôn giáo, luận án đi sâu phân tích nhằm giải đáp câu hỏi liệu các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có phải là những thực thể tôn giáo độc lập hay chúng chỉ là sự phái sinh của tôn giáo có trước được gắn bởi một tên gọi khác, hoặc các tôn giáo này có phải do các thế lực chính trị lập ra

Về phân loại đặc trưng tôn giáo, luận án sẽ khái quát hóa, hệ thống hóa các quan điểm có trước và đưa ra cách phân loại đặc trưng tôn giáo theo phương pháp và cách tiếp cận phù hợp của tôn giáo học Theo đó, đặc trưng của các tôn giáo tiêu biểu ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX sẽ được luận án phân loại theo hai nhóm vấn đề biểu hiện: đặc trưng về lý thuyết tôn giáo, đặc trưng về thực hành đức tin

Về góc độ tôn giáo học so sánh, luận án lưu tâm làm rõ những yếu tố tạo nên đặc trưng của các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ, chúng phản ánh điều gì trong đặc trưng đó Việc nghiên cứu đặc trưng của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có ý nghĩa gì đối với vấn đề nhận diện và ứng xử với các hiện tượng tôn giáo mới chủ yếu hình thành và tồn tại ở khu vực Miền Bắc nước ta từ nửa cuối thập niên 80 đến nay

1.3 CÁCH TIẾP CẬN, LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.3.1 Cách tiếp cận của đề tài

Cách tiếp cận Tôn giáo học: được luận án sử dụng nhằm phân loại, định

danh các đặc trưng tôn giáo, trong đó đặc biệt chú ý đến những yếu tố hình thành nên đặc trưng lý thuyết tôn giáo và đặc trưng thực hành đức tin, cụ thể là tính kế thừa, tính dung hợp, tính cứu thế, tính huyền linh, tính dân tộc, tính nhập thế, tính chính trị, tính địa phương,v.v

Cách tiếp cận Sử học tôn giáo: được luận án sử dụng nhằm tái hiện quá

khứ của các tôn giáo dưới hình thức cụ thể của chúng, tích lũy và bảo tồn thông tin về những đặc trưng tôn giáo đã và đang tồn tại; nguồn gốc hình thành và quá trình hoạt động của chúng

Trang 26

Cách tiếp cận Nhân học tôn giáo: được luận án sử dụng nhằm làm rõ tôn

giáo tính của dân tộc Việt ở Nam Bộ, qua sự tác động, ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người dân Từ việc nghiên cứu này, luận án khái quát một số lý luận giữa tôn giáo với cộng đồng tộc người ở nước ta nói chung, ở khu vực Nam

Bộ nói riêng

Cách tiếp cận Chính trị học tôn giáo: được luận án sử dụng nhằm nghiên

cứu một số phương diện của chính trị học tôn giáo như: hoàn cảnh, trạng thái đấu tranh chính trị của các tôn giáo, mối quan hệ chính trị giữa tôn giáo với các giai tầng và đoàn thể xã hội khác nhau; tác dụng xã hội của chức năng chính trị

mà các tôn giáo thể hiện; mối quan hệ giữa đấu tranh tôn giáo với đấu tranh chính trị ở Nam Bộ

Cách tiếp cận Văn hóa học tôn giáo: được luận án sử dụng nhằm nghiên

cứu mối quan hệ giữa tôn giáo với văn hóa của cư dân Nam Bộ; ảnh hưởng văn hóa tôn giáo tới văn hóa cộng đồng cư dân; quy luật biến thiên lịch sử, chức năng văn hóa tôn giáo trong diễn tiến lịch sử vùng đất Nam Bộ

1.3.2 Lý thuyết nghiên cứu

Lý thuyết thế tục hóa tôn giáo: Lý thuyết này phản ánh sự tác động của

đời sống xã hội thâm nhập ngày càng sâu vào đời sống tôn giáo, buộc tôn giáo phải thay đổi và thích nghi để tồn tại; phản ánh mối quan hệ qua lại giữa tôn giáo

và xã hội Luận án vận dụng lý thuyết thế tục hóa tôn giáo nghiên cứu đặc trưng các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX để thấy sự biến đổi tôn giáo của các tôn giáo mới này trùng hợp với thời điểm mà các tôn giáo truyền thống nhìn chung chưa đáp ứng tốt nhu cầu tinh thần cho xã hội thế tục đương thời Lý thuyết này cũng cho rằng, việc chuyển theo tôn giáo mới là một

xu hướng tìm kiếm vật chất và quyền lực, chứ không phải là giá trị siêu việt và tinh thần [18, tr.137-138] Các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với yếu tố vật chất, quyền lực ấy đã tác động và chi phối ra sao, mức

độ thế nào trên cơ sở lý thuyết thế tục là những vấn đề trong nghiên cứu đặc trưng tôn giáo đặt ra

Trang 27

Luận án sẽ làm rõ mối quan hệ qua lại giữa các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ với xã hội khu vực này cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trên cơ sở phân tích đặc trưng sự ra đời và bản chất của chúng Đó là sự tìm kiếm vật chất và quyền lực, cũng như sự đa dạng thể chế và đường hướng chính trị, nổi bật là xu hướng đối kháng và đa chiều trong thể chế chính trị ở Nam Bộ đương thời

Tuy nhiên, lý thuyết thế tục hóa tôn giáo không phải là duy nhất và bao quát cho sự nghiên cứu đặc trưng tôn giáo Bởi lý thuyết này chú trọng tính thực tiễn xã hội nhưng chưa đủ để làm rõ quá trình, mô hình và biểu hiện của đặc

trưng tôn giáo

Lý thuyết địa - tôn giáo: là thuật ngữ chỉ ảnh hưởng tôn giáo trên một

phạm vi lãnh thổ, khu vực nhất định Tôn giáo học phương Tây đôi khi còn gọi

là “thuyết địa lý nhân văn” (Theory of Human Geography) [19, tr.148-150] Mới đầu, thuật ngữ này chủ yếu chỉ tác động của yếu tố địa lý lên tôn giáo, nhưng hơn thế kỷ qua nó đã phát triển và mang nghĩa rộng, đó là:

Thứ nhất, địa - tôn giáo là lý thuyết nghiên cứu về sự tác động của các yếu

tố địa lý tới hành vi của tôn giáo và các quan hệ Cụ thể, lý thuyết địa - tôn giáo xem xét việc các điều kiện địa lý, khí hậu, tài nguyên, dân số, tác động như thế nào tới tôn giáo một quốc gia, một khu vực hay một vùng lãnh thổ và vị thế của tôn giáo đó trong các mối quan hệ mà chúng có vai trò Với cách tiếp cận này, luận án sử dụng lý thuyết địa - tôn giáo nghiên cứu sự ra đời của các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ là kết quả của một khu vực địa lý rất đặc biệt của vùng đất mới, cùng những yếu tố đặc trưng so với các vùng miền khác ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Thứ hai, lý thuyết địa - tôn giáo chứng minh các yếu tố địa lý có thể thúc

đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của tôn giáo, đồng thời góp phần định hình bản sắc và lịch sử của tôn giáo, nhóm tôn giáo ở khu vực địa lý đó Ngược lại, lý thuyết địa - tôn giáo còn phản ánh và khúc xạ diện mạo tôn giáo ở những khu vực địa lý khác nhau, tình trạng di chuyển của các quần thể tôn giáo ở các giai đoạn trên một khu vực địa lý Điều đó cho thấy, ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu

Trang 28

thế kỷ XX, sự linh thiêng hóa vùng Thất Sơn hay Tòa thánh Tây Ninh như các

“thánh địa” trong tâm thức người dân Theo E Routledge, “khu vực, địa phương

có môi trường địa lý, nhân văn đặc biệt: địa hình hiểm trở, sông lớn, dài và đa tộc người thường có hiện tượng văn hóa, tôn giáo đặc biệt” [18, tr.148-149] là không gian thiêng tôn giáo được hình thành tại vùng đất Nam Bộ và chúng được thể hiện khá rõ qua lý thuyết địa - tôn giáo

Trên cơ sở lý thuyết địa - tôn giáo, luận án phân tích những đặc trưng của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ, do những điều kiện hình thành nên chúng, nhất là

“khoảng trống tâm linh” và biến động chính trị ở xứ thuộc địa đã ảnh hưởng trực tiếp đến các đặc trưng của các tôn giáo, cùng với đó là sự biến chuyển của những đặc trưng này ở các giai đoạn lịch sử khác nhau

Lý thuyết vùng văn hóa: Lý thuyết này ban đầu được dùng để nghiên cứu

sự tương đồng văn hóa và đặc trưng văn hóa của vùng, qua đó phân biệt vùng văn hóa này với vùng văn hóa khác Có nhiều trường phái lý thuyết vùng văn hóa như: Trường phái Tây Âu tập trung vào “khuyếch tán văn hóa” là sự thiên

di, lan tỏa, mô phỏng nhằm giải thích các hiện tượng tương đồng văn hóa Trường phái Bắc Mỹ cho rằng, văn hóa của mỗi dân tộc được hình thành trong quá trình lịch sử, gắn liền với môi trường xã hội nhất định và điều kiện địa lý cụ thể Vì vậy, khi nghiên cứu văn hóa cần bắt đầu từ việc phân tích một tổ hợp các yếu tố văn hóa, không thể riêng từng khía cạnh Trường phái Xô Viết nhấn mạnh đến yếu tố giao lưu và ảnh hưởng lâu dài giữa các tộc người trong một khu vực

Sự thống nhất đó biểu hiện qua các đặc trưng ăn uống, đi lại, phong tục, lễ hội, tín ngưỡng,v.v

Ngô Đức Thịnh cho rằng, văn hóa vùng là vùng lãnh thổ có sự tương đồng

về tự nhiên, dân cư với mối quan hệ tương đồng về kinh tế, xã hội và con người

có sự giao lưu, ảnh hưởng văn hóa để hình thành văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân: “Văn hóa lãnh thổ hay văn hóa vùng là một dạng thức văn hóa, mà ở

đó trong một không gian địa lý xác định, các cộng đồng người do cùng sống trong một môi trường tự nhiên nhất định” [114, tr.14] Như vậy, văn hóa vùng là

Trang 29

thực thể văn hóa có đặc điểm riêng về địa lý, kinh tế, xã hội, văn hóa của một

cộng đồng thể hiện qua sinh hoạt, tổ chức, hoạt động của con người

Lý thuyết văn hóa vùng được luận án sử dụng phân tích đặc trưng các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX, vùng đất lịch sử ở trung tâm giao lưu của các nền văn hóa Nam - Bắc, Đông - Tây, theo quy luật hội tụ, giao thoa, kết tinh, lan tỏa Bởi vì, Nam Bộ mang đặc trưng về địa lý, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Điều này mang sắc thái riêng của không gian văn hóa tôn giáo được tiếp biến đậm nét

Lý thuyết loại hình tôn giáo: là tổng thể những thủ thuật phân chia và

phân nhóm khách thể nghiên cứu theo những dấu hiệu nhất định Kết quả của loại hình hóa là các nhóm dấu hiệu ổn định về mặt thống kê, những hiện tượng xác định Những dấu hiệu bất biến của một khách thể nào đó cho phép quy nó về một loại hình tương ứng Sự khác nhau về dấu hiệu các khách thể trong một loại hình mang tính ngẫu nhiên Sự khác biệt này không quan trọng so với sự khác biệt về đặc tính của những khách thể thuộc các loại hình khác Phương pháp loại hình hóa cho phép nhận biết được đặc trưng các loại hình tôn giáo trong lịch sử [63, tr.29]

Theo quan điểm mác xít có tôn giáo của xã hội tiền giai cấp và tôn giáo của xã hội có giai cấp X.A.Tocarev nhận định, tôn giáo trong xã hội tiền giai cấp là sự bất lực của con người trước những hiện tượng xung quanh; tôn giáo của những xã hội có giai cấp là tư tưởng của giai cấp áp bức, dựa trên sự biện hộ cho sự bất bình đẳng xã hội [157, tr.18] Một số nhà nghiên cứu khác phân loại tôn giáo thành tôn giáo dân tộc, tôn giáo khu vực, tôn giáo thế giới; tôn giáo bản địa, tôn giáo ngoại sinh; tôn giáo thuần nhất, tôn giáo hỗn hợp; tôn giáo truyền thống, tôn giáo hiện đại; tôn giáo cũ, tôn giáo mới,v.v

Với lý thuyết loại hình tôn giáo, luận án phân tích điều kiện, dấu hiệu đặc trưng tôn giáo của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

để phân loại chúng Đương nhiên, việc phân loại tôn giáo có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng đây là vấn đề tất yếu trong nghiên cứu tôn giáo nói riêng, nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn nói chung

Trang 30

Các lý thuyết nêu trên được luận án sử dụng theo hướng tổng hợp, hỗ trợ

và bổ sung cho nhau, nhằm tìm hiểu một cách toàn diện đặc trưng của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trên cả phương diện lý luận lẫn phương diện thực tiễn

1.3.3 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong luận án

Đặc trưng tôn giáo: là nét riêng biệt tiêu biểu của tôn giáo, phân biệt loại

hình tôn giáo này với loại hình tôn giáo khác Như vậy, đặc trưng các tôn giáo ra

đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là nét riêng biệt của loại hình tôn

giáo này so với loại hình tôn giáo khác cùng thời điểm, hoặc khác thời điểm Trong luận án này, các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ là các tôn giáo mới giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Khái niệm “các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX” đồng nghĩa với “các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ/ các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ/ các tôn giáo mới ở Nam Bộ”

Tôn giáo nội sinh: là những tôn giáo ra đời trong một quốc gia nào đó,

thay vì từ quốc gia khác truyền nhập vào (tôn giáo ngoại nhập) Do vậy, có thể

hiểu, khái niệm các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là

các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ Bởi vì, chúng ra đời trong một hoàn cảnh rất

đặc biệt, tồn tại khá lâu dài và có vai trò không hề nhỏ đến cư dân Nam Bộ đương thời và hiện nay

Tôn giáo hỗn hợp: là tôn giáo xây dựng giáo lý, giáo luật, tổ chức, lễ

nghi, thờ tự, dựa trên khuôn mẫu của nhiều tôn giáo có trước Sự chi phối ấy

có thể vì chịu ảnh hưởng xã hội của các tôn giáo có trước, có thể muốn thu hút tín đồ mới trong tín đồ tôn giáo cũ mang thói quen tín ngưỡng không dễ sửa bỏ

Ở góc độ tiếp cận của luận án, tính hỗn hợp của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ là

khá rõ qua các đặc trưng Do đó, khái niệm tôn giáo hỗn hợp được sử dụng ở

một số nội dung liên quan đến sự hỗn dung, sự dung hợp của các tôn giáo này

Tính cứu thế: là tôn giáo có tư tưởng và hành động cứu người đời thoát

khỏi cảnh đau khổ [93, tr.250] Nhiều nhà nghiên cứu sử dụng khái niệm tôn

giáo cứu thế khi bàn về bản chất của những tôn giáo ra đời ở Nam Bộ Có thể

Trang 31

hiểu, cứu thế là một đặc tính khi các tôn giáo ở Nam Bộ ra đời trong hoàn cảnh nhiều đau thương dưới sự đàn áp, bọc lột của các chế độ thực dân, phát xít, đế quốc và xa hơn nữa là sự bất mãn với triều đình phong kiến đương thời

Thuyết mạt thế (Mạt thế luận): được cho là sự kiện cuối cùng hoặc số

phận cuối cùng của nhân loại (tận thế), liên quan đến cái chết, phán xét, Thiên đàng,

Địa ngục và cần đến Đấng cứu thế Như vậy, Mạt thế luận của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ là thời Hạ nguyên của thuyết Tam nguyên với “Ngày phán xét cuối cùng”

để về với Hội Long Hoa/ Hội Long Vân hay Bạch Ngọc Kinh cùng Thượng đế

Tính huyền linh: là sự huyền bí, mầu nhiệm, linh thiêng ngoài hiểu biết

thường tình của con người Phần lớn các tôn giáo đều có tính huyền linh, bởi đó

là sự truyền thông của “Đấng thiêng liêng” được xem là cao hơn nhân loại truyền đến cho người chưa biết những điều mà “Ngài” đạt được Trong đặc trưng các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ, tính huyền linh là những hoạt động huyền bí, mầu nhiệm, linh thiêng mà giáo chủ được cho là sự hóa thân của Đấng thiêng liêng

mang đến cho tín đồ của mình

Tính kế thừa, tính dung hợp: kế thừa là thừa hưởng, giữ gìn và tiếp tục

phát huy; dung hợp là hợp chung nhiều thứ/ nhiều yếu tố, đôi khi khó phân định rạch ròi các thành phần của sự dung hợp Tính kế thừa, tính dung hợp của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ được hiểu là quá trình thừa hưởng, giữ gìn, dung nạp

và phát triển các yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng Đông - Tây mà các tôn giáo này vận dụng để trở thành những loại hình tôn giáo phù hợp với tư tưởng, triết lý, phương châm, cách thức hành đạo mới

Tính dân tộc/ dân tộc tính: là đặc tính của một dân tộc được truyền từ đời

này sang đời khác Tính dân tộc là một trong những đặc trưng các tôn giáo ra đời

ở Nam Bộ Bởi vì, các tôn giáo này mang trong mình những giá trị vốn có, trường tồn của văn hóa truyền thống người Việt Dẫu biết rằng, khi đến vùng đất mới, sự giao lưu, tiếp biến văn hóa, chúng sẽ phải kế thừa, dung hợp, tiếp thu những yếu tố mới, nhưng truyền thống dân tộc vẫn là yếu tố trội trong tư tưởng, triết lý tôn giáo

Trang 32

Tính nhập thế: là tôn giáo tham gia việc đời, đồng hành với đời sống xã

hội, không xa lánh cõi trần hay tu hành ẩn dật Tư tưởng nhập thế/ tính nhập thế được thể hiện cao độ, được xem là đặc trưng cơ bản nhất của các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Thông linh học (Spiritisme): xuất phát từ châu Mỹ truyền nhập vào châu

Âu nửa cuối thế kỷ XIX, sau đó nhanh chóng trở thành đối tượng tìm hiểu về triết lý ở phương Tây Thông linh học được biểu hiện qua phép thông công của đạo CĐ, là những cách thức giao tiếp của chức sắc và tín đồ tôn giáo này với thế giới siêu nhiên qua tục xây bàn, cầu cơ chấp bút (gọi tắt là cơ bút)

Cơ bút: là nghi lễ cầu cơ chấp bút, một nền tảng của đạo CĐ, được cho là

khai sinh và là phương tiện giảng truyền của đạo CĐ Cầu cơ chấp bút là phương pháp thông linh, đạo CĐ còn gọi nghi lễ này là phương pháp thông công

Thiên Nhãn: là biểu tượng tôn giáo của đạo CĐ: Thượng Đế Thiên Nhãn

còn là ý thức đại đồng của mọi tôn giáo theo quan niệm của đạo CĐ

Trần Điều: là một tấm khung màu nâu đỏ bằng vải hoặc bằng giấy - biểu

tượng tôn giáo của BSKH, TAHN, PGHNTL

Trần Dà: là một tấm khung màu nâu dà bằng vải hoặc giấy - biểu tượng

tôn giáo của PGHH

Chữ Nhất (Nhứt): 壹, là biểu tượng tôn giáo của TĐCSPHVN - với ý

nghĩa là “Nhất tâm”

Tứ Ân: bốn ân lớn gồm ân tổ tiên, ân đất nước, ân Tam bảo, ân đồng

bào và nhân loại - là rường cột trong giáo thuyết và thực hành đức tin của các tôn giáo thuộc nhóm phong trào các Ông Đạo

Ông Đạo: tên gọi chung của những người ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu

thế kỷ XX có phương pháp và cách thức tu hành riêng khác, ví dụ: Đạo Kiếng - ngồi trước kiếng, Đạo Nằm - nằm khi nói đạo lý, chữa bệnh; Đạo Cao - thân hình cao trên 2m, Đạo Dừa - chủ yếu uống nước dừa ; hoặc gắn liền với tên thật, thế thứ, công trạng: Đạo Huyên (Đoàn Minh Huyên), Đạo An (Nguyễn

Ngọc An), Đạo Lập (có công lập chùa),v.v

Trang 33

Chương 2 ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

CỦA CÁC TÔN GIÁO Ở NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

2.1 ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI CỦA CÁC TÔN GIÁO Ở NAM BỘ CUỐI THẾ

KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

2.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử, chính trị

* Về địa lý tự nhiên: Nam Bộ là vùng địa lý tự nhiên có nhiều nét riêng

biệt với những vùng khác trên cả nước Với một vị trí địa lý thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi, Nam Bộ trở thành vùng đất hứa của những người đi mở đất Tuy nhiên, Nam Bộ buổi đầu vô vàn khó khăn, thử thách đối với những người mới đến Thuận lợi và khó khăn góp phần hình thành nên những tôn giáo mới, vừa mang giá trị đặc trưng truyền thống, vừa có tính thiết yếu mới, hòa hợp với môi

trường nơi vừa mới khai lập

Mục “Phong tục chí”, sách Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức

viết: “… (Nam Bộ) đất rộng lương thực nhiều, không lo đói rét, cho nên ít chứa sẵn, tục dân sa hoa, kẻ sĩ đua nhau tài giỏi, người bốn phương ở lẫn nhau, mỗi nhà tự có tục riêng” [39, tr.141] Điều đó cho thấy, Nam Bộ được thiên nhiên ưu đãi quá nhiều Vùng đất màu mỡ, động thực vật phong phú, dễ làm ăn sinh sống, nhưng vẫn còn hoang sơ rậm rạp, nhiều cọp beo, cá sấu gây nên nỗi khiếp sợ cho những lưu dân mới đến, ngay cả khi quân Pháp mới xâm lược Nam Kỳ [xem: 83, tr.9-10]

“Sợ hãi tạo ra thần linh” [136, tr.516] Thật vậy, những điều nêu trên

khiến con người không thể không trở nên nhỏ bé trước thiên nhiên đầy tai hoạ, bệnh tật dễ dàng cướp đi mạng sống Mặc dù có tín ngưỡng truyền thống từ nhiều đời được mang theo, nhưng để cân bằng đời sống tâm linh ở miền đất mới, những lưu dân ở Nam Bộ đã nảy sinh những nét riêng: “Môi trường thiên nhiên Nam Bộ với những đặc điểm riêng biệt của nó, cũng đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần cũng như trong việc hình thành

Trang 34

tính cách của con người sinh sống ở đây” [95, tr.44] Mặt khác, với điều kiện tự nhiên như vậy, Nam Bộ có ưu thế mà ít nơi nào có được Theo Đinh Văn Hạnh,

ưu thế nổi trội khiến cho vùng đất Nam Bộ như “mở được mọi cửa” để tiếp cận

với xung quanh [48, tr.14] Đó là đặc điểm của tôn giáo, tín ngưỡng Nam Bộ, là

sự hội tụ văn hóa vùng, được kết tinh từ truyền thống dân tộc với văn hóa mới du nhập, vừa thích ứng với điều kiện sống, vừa đáp ứng nhu cầu tâm linh, đồng thời thể hiện tính kết nối có cải biên những gì đã có của lưu dân vùng đất mới

Hai nơi hội tụ thần linh ở Nam Bộ là vùng Thất Sơn và Tòa thánh Cao đài Tây Ninh Thất Sơn (Bảy Núi) thuộc tỉnh An Giang - nằm địa đầu Tây Nam Tổ quốc, phía Bắc và Tây Bắc tiếp giáp Campuchia với đường biên giới dài hơn 100km, chốn thiêng liêng trên con đường tu luyện của các Ông Đạo trước khi xuống núi lập đạo Phía Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang, nơi có đông cộng đồng người Hoa sinh sống, cũng là nơi PGHNTL ra đời Phía Nam tiếp giáp với thành phố Cần Thơ - trung tâm của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Đồng Tháp, quê hương của Đoàn Minh Huyên và nhiều Ông Đạo nổi tiếng khác Không những vậy, địa lý tự nhiên vùng Thất Sơn có nét đặc biệt so với các nơi khác ở Nam Bộ, đó là giữa vùng đồng bằng rộng lớn lại xuất hiện một hệ thống đồi núi điệp trùng, trải dài khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia, tạo nên vẻ kỳ vĩ, linh thiêng cho vùng đất này Có thể thấy rõ, Thất Sơn là nơi lý tưởng nhất cho việc tụ hội thần linh ở Đồng bằng sông Cửu Long Trung tâm của đạo CĐ là Tòa thánh Cao đài Tây Ninh Tỉnh Tây Ninh thuộc miền Đông Nam bộ, phía Tây và Tây Bắc giáp Campuchia, phía Đông giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước, phía Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An Tây Ninh là địa bàn chuyển tiếp giữa vùng núi và cao nguyên Trung bộ xuống Đồng bằng sông Cửu Long; có vị trí cầu nối giữa Thành phố Hồ Chí Minh với thủ đô Phnôm Pênh Những người sáng lập đạo

CĐ là các viên chức làm việc trong chính quyền Pháp có điều kiện tiếp cận văn hóa phương Tây, nên đạo CĐ có nhiều nét mới lạ đối với các tôn giáo ra

đời ở Nam Bộ

Trang 35

* Về lịch sử, chính trị: Trước khi trở thành nơi trù phú, Nam Bộ trải qua

quá trình hình thành lâu dài Nam Bộ được biết đến khoảng từ 4.000 năm đến 2.500 năm, là vùng tiếp giáp giữa cao nguyên đất đỏ và châu thổ sông Cửu Long [95, tr.39], từ vương quốc Phù Nam thế kỷ I đến đầu thế kỷ III, vương quốc Chămpa hình thành gồm cả phần đất Phù Nam; thế kỷ VI, vương triều Khmer (Chân Lạp) thôn tính và kế nghiệp Phù Nam Những thế kỷ tiếp theo của Nam

Bộ là khoảng thời gian đứt gãy cho đến khi các lưu dân tiếp tục đến đây

Từ thế kỷ XVII, bằng cả đường bộ lẫn đường biển, người Việt đến khai khẩn đất hoang, Nam Bộ trở thành vùng đất giàu sinh khí Bấy giờ, chúa Nguyễn đứng ra bảo trợ cho nhân dân tham gia các đợt di dân khẩn hoang Số lượng di dân vào Nam Bộ ngày càng nhiều, nhất là khi chiến tranh Trịnh - Nguyễn khốc liệt Mâu thuẫn giai cấp giữa địa chủ với nông dân ngày càng gay gắt, chúa Nguyễn có nhiều chính sách ưu đãi chiêu dân vào Nam Bộ Đến thế kỷ XVIII, việc khai phá Nam Bộ càng mạnh mẽ hơn Các trung tâm thương mại nơi đây khá phát triển như: Xoài Khôn, Chợ Lớn, nhất là lưu vực sông Đồng Nai, sông

Vàm Cỏ Tây, sông Tiền, sông Hậu Cuối thế kỷ XVIII, trong Phủ biên tạp lục,

Lê Quý Đôn miêu tả vùng Đồng bằng sông Cửu Long như sau:

Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu đi vào, toàn là rừng núi hàng ngàn dặm Đất ấy nhiều ngòi lạch, đường nước như mắc cửi, không tiện đi bộ Người buôn có chở thuyền lớn thì tất đèo theo xuồng nhỏ để thông đi các kênh Từ cửa biển đến đầu nguồn đi 6, 7 ngày, hết thảy là đồng ruộng, nhìn bát ngát, ruộng phẳng như thế đấy, rất hợp trồng lúa, lúa nếp tẻ, gạo đều

trắng dẻo [38, tr.443]

Đánh giá về công cuộc khai phá Nam Bộ, Li Tana viết:

Trải nghiệm mở rộng biên giới về phía Nam có vẻ như đặt vấn đề hình ảnh của một Việt Nam rất khác so với vùng lãnh thổ phía Bắc khi đó,

mở ra cánh cửa đến một thế giới khác, thế giới mà trong đó sự đa dạng được chấp nhận và tận dụng cho sự phát triển của chính Việt Nam…

Trang 36

Đàng Trong trở thành đầu tàu mang tính lịch sử, kéo trọng tâm quốc gia - dù được hình thành theo chính trị, kinh tế hay văn hóa - về hướng Nam từ thế kỷ XIX cho đến khi người Pháp áp đặt sự cai trị

Thử nghiệm của nhà Nguyễn đã mở ra một cánh cửa phát triển khác cho Việt Nam Cuối cùng cánh cửa này bị đóng lại khi trật tự trở thành một quan ngại xã hội to lớn của triều Nguyễn sau 1802 [156] Thời kỳ này được đánh dấu bằng những bước phát triển rất mạnh mẽ ở Nam Bộ dưới sự cai quản của triều đình phong kiến nhà Nguyễn, tạo nên khí thế mới với công cuộc khai hoang, cộng cư của các dân tộc Việt, Hoa, Khmer

Từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, phong kiến nhà Nguyễn mất vai trò cai trị đất nước Thực dân Pháp thực hiện chính sách kinh tế, chính trị, văn hoá khốc liệt, đẩy mạnh vơ vét và đàn áp nhân dân, tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa; thực thi chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp nặng nề, chính sách văn hoá nô dịch, gây tâm lý tự ti, vong bản Trước tình hình này, các hoạt động chống Pháp diễn ra liên tục ở khắp vùng Nam Bộ Khởi nghĩa Trương Định (1859-1864) là một trong những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu gây tiếng vang ở Nam

Kỳ Khởi nghĩa Võ Duy Dương (Thiên Hộ Dương) từ năm 1861, hoạt động mạnh nhất ở Tiền Giang và Đồng Tháp Mười Khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực, một trong những người có nhiều chiến công vang dội ngay từ buổi đầu chống Pháp, nhất là trận đốt tàu Esperance của Pháp trên sông Nhật Tảo (năm 1861) Phong trào kháng Pháp của Nguyễn Hữu Huân, Trần Văn Thành (Đức Cố Quản, đại đệ tử của Đoàn Minh Huyên) ở Châu Đốc, Long Xuyên,v.v

Các cuộc khởi nghĩa đều thất bại, nhưng không vì thế mà ngọn lửa đấu tranh của nhân dân Nam Bộ lụi tắt Phong trào kháng Pháp tiếp tục diễn ra ở Nam Bộ với một hình thức khác mang đậm màu sắc tôn giáo thần bí Đây là giai đoạn ra đời BSKH, TAHN và hàng loạt Ông Đạo gắn liền với khẩn hoang, lập làng, kháng Pháp, chống áp bức của quan lại triều đình phong kiến

Tư liệu lịch sử ghi nhận một lãnh tụ người Khmer tên là Asoa - gốc hoàng tộc - lập căn cứ vùng Thất Sơn, Châu Đốc từng cộng tác với Nguyễn Hữu Huân

Trang 37

chống Pháp [xem: 44, tr.151] Những hoạt động của Asoa được người Việt ở khu vực này ủng hộ và đi theo Cùng thời điểm còn có cuộc khởi nghĩa của Pôkumpao ở Sài Gòn và Tây Ninh, cũng là người Khmer có uy tín, tác động không nhỏ đến cộng đồng người Khmer ở Đông Nam Bộ Ông liên kết với các nhà ái quốc khác như Trương Quyền (con của Trương Định) Về sau, lực lượng này tác động là một thế lực mạnh trong chống Pháp kéo dài từ Tây Ninh đến Tây Nam Bộ với nhiều cuộc khởi nghĩa thành công rực rỡ Điều này thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa các cộng đồng dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở những nơi được xem là thánh địa của Nam Bộ

Cuối thế kỷ XIX, Paul Doumer trở thành Toàn quyền Đông Dương đem lại một chính sách cai trị thuộc địa táo bạo và lâu dài, dồn sức vào khai thác thuộc địa - chế độ trực trị của Pháp ở Nam Bộ Báo cáo của Paul Doumer gửi về Pháp ngày 22/3/1897 cho biết: “Toàn cõi Đông Dương không còn nơi nào đáng

lo ngại hay quá bi đát Thực tế thì tại nhiều nơi cũng có những việc khó khăn có thể trầm trọng thêm; nhân dân toàn xứ như đã khuất phục dưới quyền thống trị của ta rồi, nhưng chưa phải họ đã nhìn nhận tính chất vĩnh viễn của quyền thống trị của nước Pháp, họ đã sẵn sàng nắm lấy một thời cơ thuận lợi hay một giây phút yếu đuối của chúng ta để lật đổ cái ách đè trên đầu họ” [dẫn theo: 45, tr.667] Điều này cho thấy, cuối thế kỷ XIX, nhân dân Nam Bộ luôn chờ đợi thời

cơ để kháng Pháp cho dù phong trào Cần Vương đã tan rã Về sau, tiếp tục tinh thần đó, nhiều tôn giáo có những hoạt động chống Pháp, tác động lớn đến lịch

sử, chính trị, xã hội Nam Bộ đương thời

Đầu thế kỷ XX, một loạt cuộc biến loạn nổ ra như sự xuất hiện của hoàng thân Cường Để chống lại vua Tự Đức do Pháp lập ra nhằm tuyên truyền cho chiêu bài chống Pháp, hay năm 1908 với vụ Gilbert Chiếu (Trần Chánh Chiếu) lập tổ chức khuyến nông, dưới danh nghĩa hòa bình Để che giấu lời kêu gọi khởi nghĩa, ông đã lập ra tờ báo Lục tỉnh Tân văn và hội thương mại tên Minh Tân công nghệ, xưởng sản xuất xà phòng, khách sạn Nam Trung (Sài Gòn), khách sạn Minh Tân (Mỹ Tho) Những địa điểm này là nơi tụ hội của các thành viên

Trang 38

nhóm Gilbert Chiếu Ông cũng nỗ lực dẫn dắt và chu cấp cho thanh niên sang Hồng Kông rồi Nhật Bản, nơi có Phan Bội Châu đến trước Hoặc những hoạt động cuối cùng của Đề Thám (1908-1913) chứng kiến một sự bùng nổ hoạt động kháng Pháp liên quan trực tiếp đến hội kín, nhóm phái tôn giáo, điều mà thực dân Pháp vô cùng quan ngại và có những đối sách mới

Năm 1912, những nhà lập pháp của Pháp tỏ ra khôn ngoan, làm theo truyền thống An Nam khi thay thế án tử hình hoặc lưu đày bằng án phạt tiền hoặc phạt tù; quan tâm tối đa các tổ chức có thể trở thành hiểm họa xã hội ở chiến trận Đông Dương [xem: 147, tr.9] Các tổ chức mà Pháp quan tâm là các hội kín và các tôn giáo hoạt động dưới hình thức như hội kín đang hoạt động bí mật hoặc bán công khai tại Nam Bộ Tuy vậy, những cuộc phiến loạn vẫn tiếp tục diễn ra như ở nhà tù Biên Hòa, chợ Cầu Ông Lãnh, Khám Lớn Sài Gòn,v.v Như vậy, đến đầu thế kỷ XX, nhiều chí sĩ yêu nước tụ hội ở Nam Bộ với các hoạt động chống Pháp Năm 1914, Hồ Biểu Chánh về An Giang Năm 1921, Nguyễn Sinh Sắc hoạt động ở vùng Tịnh Biên và Tân Châu Năm 1924, Châu Văn Liêm về dạy học tại Long Xuyên Năm 1935, Nguyễn Hiến Lê từ Sơn Tây (Hà Nội) về Long Xuyên lập nghiệp,v.v Cùng với đó, phong trào Minh Tân diễn ra sôi nổi gắn liền với vai trò của Trần Chánh Chiếu, tích cực ủng hộ phong trào Đông Du của Phan Bội Châu Trần Chánh Chiếu chủ trương đánh đổ thực dân Pháp, thành lập chế độ quân chủ lập hiến Trên tinh thần Minh Tân, những Thiên Địa hội, một hình thức đấu tranh mang tính tôn giáo của người Hoa chống triều đình Mãn Thanh, khi đến Nam Bộ lại chống thực dân Pháp Không những thế, một trào lưu mới diễn ra ở Nam Bộ ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây, do tác động của điều kiện kinh tế - xã hội đương thời La Laurette nhận xét: “Kinh

tế Nam Kỳ ổn định, phát triển tốt Nhiều người giàu mới xuất hiện, đưa của gửi con du học Âu châu Những du học sinh này trở về, đóng góp thêm cho đà Âu hóa vùng đất này” [dẫn theo: 131, tr.333] Đà Âu hóa đầu thế kỷ XX cho ra đời đạo CĐ, không do một giáo chủ lập nên, mà do nhóm người Tây học sử dụng thuật thông linh hay ông Đạo Dừa, từng du học ở Pháp, có tham vọng chính trị

Trang 39

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

* Về kinh tế: Ngay từ thời gian đầu khai phá, do đặc thù địa lý, lịch sử,

con người và sự giao lưu văn hoá của các cộng đồng tộc người, kinh tế ở Nam

Bộ có nhiều điểm khác với các vùng miền trong cả nước Ở Nam Bộ không có chế độ công điền, công thổ, quan hệ thuê mướn là phổ biến chứ không phải phát canh thu tô như cố hương miền Trung và miền Bắc Từ lâu, vùng đất này có sự thông thương trong nước và ngoài nước, nên sớm hình thành những thị tứ, kinh

tế hàng hoá sớm phát triển Kinh tế điền chủ ở nông thôn kết hợp với kinh tế tiểu chủ ở thị tứ phổ biến đẩy nhanh hơn quan hệ sản xuất hàng hoá hai chiều Đặc biệt, ở Nam Bộ có hình thức phụ canh mà ở Bắc Bộ, Trung Bộ rất hiếm Đó là chủ sở hữu ruộng đất không phải là người bản xứ: “Ruộng đất phụ canh là loại

ruộng đất có chủ sở hữu không phải là người bản thôn xã” [40, tr.177]

Khi thực dân Pháp khai thác thuộc địa, Nam Bộ rơi vào cảnh bị bóc lột Nông dân bị mất đất vào tay địa chủ, trở thành tá điền “Trong số ruộng đất cướp đoạt thêm được, thì riêng Nam Bộ là 503.000 ha, bằng 2/3 tổng số” [141, tr.36]

Họ rơi vào thân phận mất nước, bị đàn áp, bóc lột ngay chính nơi tự tay khai phá Đây là một trong những yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến tinh thần cứu nhân độ thế của các tôn giáo giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

* Về xã hội: Nam Bộ từ lâu có dân sinh sống, đến thế kỷ XIII, người

Khmer ở Campuchia đến khai phá Họ thường ở những nơi cao ráo dọc theo các sông để trồng lúa và làm màu [21, tr.314] Theo Ngô Đức Thịnh, thời điểm người Khmer có mặt ở Nam Bộ sớm nhất khoảng thế kỷ XIII, sau khi Vương quốc Ăngko tan vỡ Nếu vậy, người Khmer đến khai thác vùng này sớm hơn người Việt khoảng 2-3 thế kỷ [115, tr.285] Đến thế kỷ XVI, người Việt có mặt

ở Nam Bộ, với nhiều nguồn gốc xã hội khác nhau Một số là tù nhân được đưa vào khai hoang Một số là giang hồ, dân nghèo tìm đến đây để cư trú Đa số là

binh lính, quan lại vào bảo vệ vùng đất mới, rồi ở lại [140, tr.269]

Khi nghiên cứu về cư dân Nam Bộ, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến

cụm từ “Miệt Hai huyện”, “Dân Hai huyện” Trong Lịch sử khẩn hoang Miền

Trang 40

Nam, Sơn Nam cho rằng, “Miệt Hai huyện” là nhóm người ngũ Quảng (Quảng

Bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Ngãi) vào Nam lập nghiệp Miệt Hai huyện là khu vực rạch Ông Chưởng (Long Xuyên) Hai huyện là huyện Tân Bình và huyện Phước Long, hai đơn vị hành chính đầu tiên do Chúa Nguyễn thiết lập ở miền Nam, nay là vùng Gia Định và Biên Hòa Còn với người Long Xuyên, được gọi là Dân Hai huyện, chắc là do xưa kia họ từ Biên Hòa, Gia Định xuống lập nghiệp, hoặc họ là binh sĩ từ ngũ Quảng vào định cư tại Long Xuyên

Trong biên khảo Tôn giáo trong dòng lịch sử dân tộc Việt, Cao Thế Dung

viết về Dân Hai huyện như sau: “Dân Hai huyện vẫn giữ được cá tính Việt Nam, đặc biệt là biểu tượng cho dòng văn hóa Việt trải dài từ Gia Định qua Định Tường đến Vĩnh Long, An Giang, Châu Đốc và Cao Lãnh Dân Hai huyện bành trướng rất nhanh, trong vùng An Giang ( ) Dân Hai huyện càng ngày càng đông, tổ chức thành thôn xóm theo định chế của triều đình, theo phong tục tập quán của ta đem theo trong cuộc trường chinh từ Bắc vô Nam qua trạm dừng chân là Gia Định” [34, tr.12-19] Khái lược về Dân Hai huyện để thấy lưu dân Nam Bộ chủ yếu từ miền Trung, trải qua chặng đường dài đến với Nam Bộ đã mang theo văn hóa từ quê cha đất tổ đến với vùng đất mới để được đổi đời Người Hoa cũng góp phần khai khẩn và phát triển vùng Nam Bộ Năm

1678, Mạc Cửu dẫn 400 người đến khai phá Hà Tiên Năm 1679, Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên được chúa Nguyễn cho vào định cư ở Mỹ Tho và Biên Hòa Nhóm người này được gọi là dân Minh Hương Về sau, đến thế kỷ

XX vẫn còn nhiều đợt người Hoa di cư đến Nam Bộ Với người Hoa, dù thuộc thành phần nào, ở đâu và làm gì, họ luôn kết hợp với nhau trong một tổ chức gọi

là bang, do một bang trưởng lãnh đạo [xem: 64, tr.56-57]

Người Hoa đến Nam Bộ mang trong mình khí chất trung quân Việc rời

bỏ Trung Hoa lưu tán sang các nước thể hiện chí khí trung quân - “phản Thanh

phục Minh” Dương Ngạn Địch bày tỏ nguyện vọng lên chúa Nguyễn: “Chúng

tôi là tôi lưu vong của nhà Đại Minh, vì nước thề hết lòng trung Nay lực kiệt, thế cùng, quốc tộc nhà Minh đã chấm dứt, chúng tôi chẳng chịu làm tôi tớ nhà

Ngày đăng: 02/07/2021, 23:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w