1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - CN Nam Hà Nội_3

93 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

---***--- LUẬN VĂN THẠC SĨ NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CẤU VỐN ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CN NAM HÀ NỘI Ng

Trang 1

Ngoại thương Việt Nam - CN Nam Hà Nội

Đinh Thị Kim Thương June 10, 2020

Trường Đại học Ngoại thương

Hà Nội, Việt Nam

Trang 2

-*** -

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CẤU VỐN ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CN NAM HÀ NỘI

Ngành: Tài chính ngân hàng

ĐINH THỊ KIM THƯƠNG

Hà Nội - 2020

Trang 3

-*** -

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CẤU VỐN ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CN NAM HÀ NỘI

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài Luận văn Thạc sỹ “Nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam – CN Nam Hà Nội” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được người khác công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ nội dung trong Luận văn này là do tôi thực hiện

Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2020

Tác Giả

Đinh Thị Kim Thương

Trang 5

Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo PGS TS Nguyễn Việt Dũng, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ

và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi có thể hoàn thiện luận văn này

Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế, luận văn không thể tránh khỏi những sơ suất thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến của các thầy cô giáo cùng các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2020

Tác Giả

Đinh Thị Kim Thương

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ, BẢNG vi

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ CƠ CẤU VỐN VÀ KHẢ NĂNG TRẢ NỢ CỦA KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 1

1.1 Tổng quan về cơ cấu vốn 1

1.1.1 Khái niệm cơ cấu vốn 1

1.1.2 Các nhân tố cấu thành cơ cấu vốn 1

1.1.3 Các chỉ số đo lường cơ cấu vốn 2

1.1.4 Các lý thuyết về cơ cấu vốn 3

1.2 Khái niệm nợ vay và khả năng trả nợ 11

1.2.1 Nợ vay 11

1.2.2 Khả năng trả nợ 15

1.3 Lý thuyết tổng quan về đánh giá khả năng trả nợ 15

1.3.1 Đánh giá thông qua phân tích chỉ số 15

1.3.2 Đánh giá thông qua mô hình 5 P 16

1.3.3 Đánh giá thông qua hệ thống xếp hạng tín dụng 18

1.3.4 Đánh giá thông qua hệ thống xác suất vỡ nợ 19

1.3.5 Đánh giá thông qua Mô hình tiếp cận theo phương pháp thị trường22 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ 23

1.4.1 Yếu tố thuộc về doanh nghiệp 23

1.4.2 Yếu tố thuộc về đặc điểm khoản vay 25

1.4.3 Yếu tố thuộc về Ngân hàng 26

1.4.4 Yếu tố vĩ mô 26

Trang 7

CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CẤU VỐN ĐẾN KHẢ NĂNG

TRẢ NỢ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI VCB NAM HÀ NỘI 27

2.1 Thực trạng hoạt động tại Vietcombank Chi nhánh Nam Hà Nội 27

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 27

2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh 31

2.2.1 Hoạt động huy động vốn 31

2.2.2 Hoạt động cho vay 33

2.2.3 Hoạt động tài trợ thương mại – thanh toán quốc tế 35

2.2.4 Hoạt động khác 37

2.3 Mô hình đánh giá khả năng trả nợ tại VCB 37

2.4 Mô hình nghiên cứu 41

2.4.1 Mô hình Logistic 41

2.4.2 Dữ liệu nghiên cứu 43

2.5 Kết quả nghiên cứu 44

2.5.1 Thống kê mô tả dữ liệu 44

2.5.2 Kiểm định mô hình hồi quy 47

2.5.3 Phân tích kết quả hồi quy 48

CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51

3.1 Hàm ý từ kết quả nghiên cứu 51

3.2 Đề xuất trong nội bộ Vietcombank 51

3.2.1 Đối với quy trình thẩm định KHDN 52

3.2.2 Đối với hệ thống công văn và chính sách tín dụng 53

3.2.3 Đối với yếu tố con người 54

3.3 Kiến nghị với các tổ chức khác 56

3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước 56

3.3.2 Kiến nghị với các cơ quan pháp luật 58

3.3.3 Kiến nghị với các doanh nghiệp 63

3.3.4 Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo 64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

1 DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ, BẢNG

DANH MỤC HÌNH

Sơ đồ 2-1 Bộ máy tổ chức Vietcombank Nam Hà Nội 29

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2-1 Số liệu huy động vốn giai đoạn 2015 - 2019 32

Biểu đồ 2-2 Số liệu dư nợ cuối kỳ giai đoạn 2015 – 2019 33

Biểu đồ 2-3 Doanh số thanh toán quốc tế giai đoạn 2015 -2019 36

Biểu đồ 2-4 Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu giai đoạn 2015 – 2019 36

Biểu đồ 2-5 Số liệu Thẻ tín dụng quốc tế và thẻ ghi nợ giai đoạn 2015 - 2019 37

DANH MỤC BẢNG Bảng 2-1 Số liệu chi tiết dư nợ cuối kỳ giai đoạn 2015 -2019 34

Bảng 2-2 Bảng tính điểm xếp hạng và phân loại nợ của doanh nghiệp 40

Bảng 2-3 Thống kê mô tả mẫu 45

Bảng 2-4 Biến phụ thuộc Khả năng trả nợ đúng hạn 45

Bảng 2-5 Kết quả hồi quy 48

Bảng 2-6 Kết quả quan sát và dự đoán 48

Bảng 2-7 Bảng phương trình hồi quy 49

Trang 10

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Luận văn với đề tài “Nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến khả năng trả

nợ của các doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam – CN Nam Hà Nội” bao gồm 03 chương với tóm tắt kết quả nghiên cứu

như sau:

Thứ nhất, luận văn đã trình bày rõ các khái niệm về cơ cấu vốn và khả năng trả nợ Bên cạnh đó, luận văn cũng đưa ra lý thuyết tổng quan về đánh giá khả năng trả nợ và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ Các nghiên cứu về khả năng trả

nợ cũng được luận bàn tóm tắt trong luận văn

Thứ hai, luận văn đã mô tả thực trạng hoạt động tại Vietcombank Chi nhánh Nam Hà Nội Ngoài ra luận văn cũng đưa ra mô hình nghiên cứu đánh giá khả năng trả nợ của các khách hàng vay vốn tại Vietcombank Chi nhánh Nam Hà Nội và trình bày kết quả nghiên cứu

Thứ ba, từ những nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã đưa ra hàm ý từ kết quả nghiên cứu và một số đề xuất, kiến nghị đối với nội bộ Vietcombank và một

số tổ chức khác như Ngân hàng nhà nước, các cơ quan pháp luật và các doanh nghiệp Đồng thời luận văn cũng đã chỉ ra các hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cơ cấu nguồn vốn là một chủ đề nghiên cứu đã, đang, và sẽ tiếp tục thu hút sự chú ý của rất nhiều học giả trong và ngoài nước Nghiên cứu về cơ cấu nguồn vốn trên thế giới có lịch sử từ khá lâu với hai câu hỏi xuyên suốt về (i) tác động của cơ cấu nguồn vốn đến giá trị doanh nghiệp; (ii) có tồn tại một cơ cấu nguồn vốn tối ưu hay không? Cách tiếp cận lợi nhuận ròng hoạt động (Net Operating Income) được

đề xuất bởi Durand cho rằng thị trường sẽ xem xét doanh nghiệp như là một tổng thể và chiết khấu ở một mức tỷ suất sinh lời đòi hỏi nhất định Do vậy, cơ cấu nguồn vốn không có tác động đến giá trị doanh nghiệp Trái lại, quan điểm truyền thống về cơ cấu nguồn vốn cho rằng tồn tại một cơ cấu nguồn vốn tối ưu tại đó, chi phí sử dụng vốn bình quân được tối thiểu hoá và giá trị doanh nghiệp được tối đa hoá Lý thuyết của Modigliani &Miller (1958, 1963) là sự kết hợp của hai quan điểm trên khi cho rằng sự tác động của cơ cấu nguồn vốn đến giá trị doanh nghiệp phụ thuộc vào tính hiệu quả của thị trường vốn Theo đó, mệnh đề 1 của M&M cho rằng cơ cấu nguồn vốn không có tác động đến giá trị doanh nghiệp khi những giả định về thị trường vốn được đảm bảo Tuy nhiên, trong điều kiện có thuế thu nhập doanh nghiệp và chi phí phá sản, cơ cấu nguồn vốn sẽ có tác động đến giá trị doanh nghiệp và tồn tại một cơ cấu nguồn vốn tối ưu giúp tối đa hoá giá trị doanh nghiệp Trên cơ sở những lý thuyết nền tảng này, các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm kiếm

và phát triển những lý thuyết mới nhằm làm rõ tác động của cơ cấu nguồn vốn đến giá trị doanh nghiệp cũng như đánh giá sự phù hợp của các lý thuyết trong từng bối cảnh nghiên cứu Mặc dù các nghiên cứu về cơ cấu nguồn vốn chưa có sự đồng nhất quan điểm song đã đặt nền tảng vững chắc giúp các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp xây dựng một cơ cấu nguồn vốn phù hợp cũng như lý giải hành vi lựa chọn các hình thức tài trợ vốn của nhà quản trị Một cơ cấu nguồn vốn hợp lý là tiền đề

để doanh nghiệp đảm bảo an toàn tài chính, gia tăng giá trị doanh nghiệp, và tối đa hoá giá trị cho chủ sở hữu Tuy nhiên hiện nay một hướng nghiên cứu đang được bỏ ngỏ là nghiên cứu từ góc nhìn của Ngân hàng tài trợ vốn cho các doanh nghiệp, câu hỏi “Thế nào là một cơ cấu nguồn vốn hợp lý khi cấp vốn cho doanh nghiệp?”

Trang 12

không phải là điều đơn giản để trả lời Cơ cấu vốn là yếu tố thường được đặt ra ngay trong bước đầu đàm phán, thương lượng với doanh nghiệp và được NHTM tin tưởng là 1 trong yếu tố hàng đầu để bảo đảm sự cam kết trong trả nợ của doanh nghiệp Vậy trên thực tế thì cơ cấu vốn có ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp hay không? Và nếu có ảnh hưởng thì chiều hướng tác động của cơ cấu vốn đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào?

Trên cơ sở đó, tôi xin chọn đề tài mang tính ứng dụng “Nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam – CN Nam Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp cao học

2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Một số nghiên cứu trước đây đã cố gắng giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng Ajah, Eyo, Ofem (2014) trong nghiên cứu về độ tín nhiệm tín dụng đối với doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp tại Cross River State, Nigeria, sử dụng bộ dữ liệu từ các hộ nông nghiệp vay vốn tại Quỹ hỗ trợ nông nghiệp Nigeria trong năm 2008-2009 Kết quả nghiên cứu cho thấy độ tín nhiệm tín dụng chịu ảnh hưởng bởi trình độ học vấn, quy mô trang trại, thu nhập, tuổi và kinh nghiệm của chủ hộ nông nghiệp Ngoài ra nghiên cứu còn chứng minh khả năng quản lý khoản vay của ngân hàng cũng có ảnh hưởng đến quyết định trả nợ của khách hàng

Liên quan đến việc dự báo khó khăn tài chính, Ohlson (1980) là người đầu tiên

sử dụng hồi quy logistic để dự đoán khả năng phá sản của doanh nghiệp Tác giả sử dụng bộ dữ liệu bao gồm 2058 công ty niêm yết tại Wall Street trong giai đoạn 1970

- 1976 Ông đã tìm thấy mối tương quan âm giữa xác suất của sự phá sản và quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời và tính thanh khoản của công ty, và mối tương quan dương giữa xác suất của sự phá sản và quy mô nợ của công ty

Trương Đông Lộc (2011), nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả

nợ vay đúng hạn của nông hộ ở tỉnh Hậu Giang Nghiên cứu sử dụng mô hình Probit trên bộ số liệu thu thập từ việc khảo sát những nông hộ có vay vốn trong năm

2009, tổng số hộ được chọn để khảo sát là 436 hộ ở 07 huyện, thị xã thuộc tỉnh Hậu

Trang 13

Giang Kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập sau khi vay, trình độ kinh nghiệm của chủ nông hộ có tương quan dương với khả năng trả nợ vay đúng hạn của nông hộ, trong khi lãi suất vay có tương quan âm (lãi suất vay càng cao thì khả năng trả nợ vay càng thấp) Ngoài ra, tác giả còn dự kiến mối tương quan dương giữa việc sử dụng vốn đúng mục đích và việc trả nợ đúng hạn Tuy nhiên kết quả mô hình lại không có ý nghĩa thống kê, hay nói cách khác việc sử dụng vốn vay không có quan

hệ gì với khả năng trả nợ đúng hạn của nông hộ

Hoàng Tùng (2011) phân tích rủi ro tín dụng doanh nghiệp, sử dụng mô hình logistic trên bộ dữ liệu gồm 463 công ty đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Mẫu được chia thành 2 nhóm: nhóm 1 gồm các công ty có rủi ro tín dụng (93 công ty) và nhóm 2 gồm các công ty không có rủi ro tín dụng (370 công ty) 7 chỉ tiêu (biến độc lập) được tính toán từ báo cáo tài chính năm 2009 của các công

ty Từ kết quả nghiên cứu tác giả đã xây dựng được một hàm số dự báo rủi ro tín dụng cho các doanh nghiệp trên cơ sở các chỉ tiêu tài chính với mức độ chính xác của dự báo rất cao (trong 93 trường hợp có rủi ro, mô hình dự đoán đúng 91 trường hợp (97.8%); trong 370 trường hợp không có rủi ro mô hình dự đoán đúng 366 trường hợp (98.9%) Tỷ lệ dự đoán đúng của toàn bộ mẫu là 98.7%) Đồng thời mô hình cũng giúp cho việc xác định hạng tín dụng của các doanh nghiệp

Võ Văn Dứt (2012) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa ngân hàng thương mại và doanh nghiệp tại Cần Thơ, sử dụng bộ dữ liệu thu thập từ

12 chi nhánh ngân hàng với 199 doanh nghiệp tại Cần Thơ Số liệu điều tra cho thấy, số mối quan hệ trung bình của một doanh nghiệp là 2,34 Số doanh nghiệp quan hệ với một ngân hàng chỉ chiếm gần 1/3 số doanh nghiệp trong mẫu Ðặc biệt,

có những doanh nghiệp có quan hệ với hơn 5 ngân hàng

Lê Phương Dung và Nguyễn Thị Nam Thanh (2013), nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nợ vay ngắn hạn ngân hàng của doanh nghiệp trong ngành sản xuất chế biến thực phẩm, nghiên cứu sử dụng số liệu từ báo cáo tài chính quý 1/2007 đến quý 4/2011 của 39 doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, sử dụng mô hình dữ liệu bảng động với các tiếp cận theo phương pháp: mô hình ảnh hưởng cố định (FEM) và mô hình ảnh hưởng

Trang 14

ngẫu nhiên (REM) Kết quả nghiên cứu cho thấy danh tiếng của doanh nghiệp (đo lường bằng độ tuổi của doanh nghiệp và hình thức sở hữu) có tác động đến khả năng vay nợ và trả nợ của doanh nghiệp

Nguyễn Thùy Dương và Nguyễn Thanh Tùng (2013), nghiên cứu về lựa chọn

mô hình đo lường rủi ro thích hợp cho một khoản vay tập đoàn kinh tế nhà nước tại các NHTM Việt Nam, sử dụng mô hình hồi quy Logit trên bộ dữ liệu nghiên cứu bao gồm 490 khách hàng có mối quan hệ với các NHTM Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2011 Kết quả nghiên cứu cho thấy với độ tin cậy 90%, nếu khách hàng vay là Tập đoàn kinh tế Nhà nước, khả năng không hoàn trả nợ vay đúng kỳ hạn và trong vòng 90 ngày cao hơn so với doanh nghiệp khác (Tập đoàn kinh tế Nhà nước thường là đối tượng có mối quan hệ lâu năm với ngân hàng, luôn đáp ứng được các điều kiện đảm bảo tiền vay và điều kiện ràng buộc bổ sung, mục đích vay vốn tập trung vào bất động sản, xây dựng và có giá trị khoản vay thường rất lớn) Với mẫu nghiên cứu đề tài, trong số khách hàng không hoàn trả nợ vay cho ngân hàng đúng hạn và sau 90 ngày khách hàng là Tập đoàn kinh tế Nhà nước chiếm tới gần 50% nhưng tổng giá trị các khoản vay tương ứng chiếm hơn 70% trong giá trị khoản vay của mẫu nghiên cứu và mục đích các món vay đó chủ yếu dành cho xây dựng và bất động sản Từ đó, tác giả đặt ra vấn đề cấp thiết cần phải có các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả tín dụng đối với nhóm khách hàng này Ngoài ra theo

kỳ vọng của tác giả, những doanh nghiệp có chất lượng tín dụng càng thấp, họ càng tìm kiếm nhiều ngân hàng có thể chấp nhận thêm các khoản cho vay Do đó dự kiến mối tương quan dương giữa số lượng ngân hàng mà doanh nghiệp có quan hệ và việc trả nợ không đúng hạn Tuy nhiên kết quả mô hình lại không có ý nghĩa thống

kê, hay nói cách khác việc các doanh nghiệp tiếp cận vốn tại nhiều tổ chức tín dụng không quyết định tới việc khoản vay của khách hàng có trả nợ trong vòng 90 ngày

kể từ khi khoản vay đến hạn hay là không

Phùng Mai Lan (2014) nghiên cứu về tác động của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, sử dụng bộ dữ liệu bảng của 1.255 doanh nghiệp sản xuất trên cả nước trong 12 năm từ năm 2000 đến năm 2011 (15.060 quan sát) và các số liệu vĩ mô của Tổng cục Thống kê hàng năm Để ước lượng hiệu quả của doanh

Trang 15

nghiệp, tác giả đã sử dụng mô hình hàm sản xuất đường biên ngẫu nhiên của Battese và Coelli (1993, 1995); đồng thời sử dụng phương pháp dữ liệu bảng với 3

mô hình khác nhau: Mô hình đánh giá tác động ngẫu nhiên - random effects (REM),

mô hình đánh giá tác động cố định - fixed effects (FEM) và mô hình Pooled OLS để đánh giá tác động Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng biến LR (biểu thị mức thay đổi lãi suất cho vay) mang giá trị âm và có ý nghĩa thống kê ở mức cao cho thấy nhân tố này có tác động tiêu cực đến hiệu quả doanh nghiệp vì chúng làm tăng chi phí vốn của doanh nghiệp, tăng chi phí và tiền lương thực tế của doanh nghiệp Chính vì vậy, đã làm giảm cơ hội đầu tư, giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến khả năng vay nợ cũng như khả năng trả nợ của doanh nghiệp

3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Cơ cấu vốn có ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp hay không? Chiều hướng tác động của cơ cấu vốn đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào? Các giải pháp để cải thiện khả năng trả nợ của khách hàng là gì?

Trang 16

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Ứng dụng mô hình Logistic trong việc đo lường khả năng trả nợ của KHDN tại VCB Nam Hà Nội;

Dựa trên kết quả nghiên cứu đề xuất các giải pháp liên quan đến cải thiện khả năng trả nợ của KHDN

5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố tác động tới khả năng trả nợ của khách hàng doanh nghiệp (KHDN) trong đó tập trung vào yếu tố cơ cấu vốn Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với các khách hàng doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – CN Nam Hà Nội từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2019

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

 Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu được thu thập từ Báo cáo dư nợ KHDN năm 2019 và thông tin trích xuất từ hệ thống XHTD nội bộ của VCB

 Phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu: gồm 130 khách hàng đang có quan hệ tín dụng với VCB Nam Hà Nội với điều kiện cung cấp đầy đủ BCTC 2018 và có kết quả XHTD kỳ gần nhất tại VCB Nam Hà Nội KHDN được chọn không thuộc các KHDN có cấu trúc đặc biệt như công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán ngân hàng (đối tượng cấp tín dụng đặc biệt của VCB) để đảm bảo tính đại diện của mẫu cho tổng thể

Phương pháp xử lý số liệu:

 Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm STATA để xác định các yếu

tố liên quan đến khả năng trả nợ của KHDN tại VCB Nam Hà Nội;

 Dùng các đại lượng để thống kê mô tả mẫu như tần số, giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất;

 Tiến hành đưa biến phụ thuộc và biến độc lập kỳ vọng vào phân tích hồi quy Logistic

Trang 17

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan lý thuyết về cơ cấu vốn và khả năng trả nợ của khách hàng doanh nghiệp

Chương 2: Nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay vốn tại VCB Nam Hà Nội

Chương 3: Kiến nghị và đề xuất từ kết quả nghiên cứu

Trang 18

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ CƠ CẤU VỐN VÀ KHẢ

NĂNG TRẢ NỢ CỦA KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan về cơ cấu vốn

1.1.1 Khái niệm cơ cấu vốn

Có rất nhiều khái niệm về cơ cấu vốn doanh nghiệp, tuy nhiên có thể tóm lại,

cơ cấu vốn của doanh nghiệp là mối quan hệ tỷ lệ giữa nợ vay trong tổng nguồn vốn

và vốn chủ của doanh nghiệp Cơ cấu vốn của doanh nghiệp thường biến động trong các chu kỳ kinh doanh và có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến lợi ích của chủ sở hữu (Nguyễn Đình Luận, 2016)

1.1.2 Các nhân tố cấu thành cơ cấu vốn

1.1.2.1 Nguồn vốn vay

Trong nền kinh tế thị trường, hầu như không một doanh nghiệp nào hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ bằng nguồn vốn tự có mà đều phải hoạt động bằng nhiều nguồn vốn, trong đó nguồn vốn vay sử dụng đáng kể

Nguồn vốn vay là nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài doanh nghiệp và doanh nghiệp phải thanh toán các khoản vay theo thời hạn cam kết và đồng thời phải trả tiền lãi vay theo lãi suất thỏa thuận Nguồn vốn vay mang một ý nghĩa rất quan trọng đối với việc mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp Trong cơ cấu vốn ta chỉ xét đến nguồn vốn vay ngắn hạn và dài hạn Cụ thế, vay ngắn hạn có thời gian đáo hạn ngắn hơn một năm Lãi suất của nguồn vốn vay ngắn hạn thường thấp hơn tín dụng dài hạn và thường được bổ sung vốn lưu động Ngược lại, vay dài hạn có thời gian đáo hạn dài hơn một năm Lãi suất vay dài hạn thường cao hơn so với lãi suất vay ngắn hạn Thường được dùng để bổ sung cho vốn xây dựng cơ bản hay mua sắm tài sản cố định

Nguồn vốn vay này có thể được huy động từ các tổ chức tài chính, ngân hàng hay việc phát hành trái phiếu Việc doanh nghiệp sử dụng loại nguồn vốn vay nào nhiều hay ít thì còn tùy thuộc vào đặc điểm của loại hình doanh nghiệp và doanh nghiệp đang ở trong chu kỳ sản xuất kinh doanh nào

Trang 19

1.1.2.2 Nguồn vốn chủ sở hữu

Nói đến nguồn vốn chủ sở hữu là nói đến nguồn vốn đầu tiên mà doanh nghiệp huy động được Bởi vì, đối với một doanh nghiệp trước khi đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải có vốn điều lệ (vốn góp nếu doanh nghiệp cổ phần, hoặc là vốn ngân sách nhà nước cấp nếu là doanh nghiệp nhà nước)

Tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trong tổng tài sản nợ phản ánh tình hình tự chủ

về tài chính của doanh nghiệp Sự khác biệt cơ bản giữa nguồn vốn vay và nguồn vốn chủ sở hữu là, đối với nguồn vốn vay: Doanh nghiệp phải trả lãi vay cho các khoản tiền vay Mức lãi suất phải trả cho các khoản vay theo mức ổn định, được thỏa thuận khi vay Doanh nghiệp phải hoàn trả nợ khi đáo hạn, ngoại trừ nguồn huy động từ tín dụng ưu đãi Doanh nghiệp có thể phải thế chấp tài sản hay nhờ bảo lãnh khi vay nợ

1.1.3 Các chỉ số đo lường cơ cấu vốn

 Tỷ số nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu = Nợ dài hạn / Vốn chủ sở hữu

Trong đó, nợ dài hạn là những khoản nợ có thời hạn thanh toán trên một năm chẳng hạn như vay dài hạn bằng phát hành trái phiếu, tài sản thuê mua Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn cổ phần và lợi nhuận giữ lại Vốn cổ phần bằng Mệnh giá cổ phiếu nhân Số cổ phiếu đang lưu hành Thu nhập giữ lại là thu nhập ròng sau khi đã chi trả cho cổ đông dưới dạng cổ tức Cách tính toán các cổ phần trên đây sử dụng giá trị trên sổ sách kế toán

 Tỷ số nợ = Nợ dài hạn/ Tổng tài sản Hoặc Tỷ số nợ = Tổng nợ vay/ Tổng tài sản Trong đó, Tổng tài sản bao gồm: Tài sản lưu động và tài sản cố định hay là tổng giá trị toàn bộ kinh phí đầu tư cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong phần bên trái của bảng cân đối kế toán Tổng nợ vay gồm nợ vay ngắn hạn và nợ vay dài hạn

 Tỷ số tự tài trợ = Vốn chủ sở hữu/ Tổng tài sản

Qua tỷ số này có thể thấy được khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp đối với các tài sản khác của mình (khả năng tự chủ về tài chính) Trên cơ sở xem xét mức

độ của các tỷ số này nhà quản trị có phương án để tăng hay giảm các tỷ số trên cho phù hợp với tình hình họat động và vị thế tài chính của doanh nghiệp

Trang 20

1.1.4 Các lý thuyết về cơ cấu vốn

Vấn đề cơ cấu vốn đã được nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu với hàng loạt các công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao Sau những quan điểm của Durand (1952) về tác động của chi phí sử dụng nợ vay và vốn chủ sở hữu đến giá trị doanh nghiệp, công trình nghiên cứu của Modigliani và Miller (1958) được coi là công trình lớn đầu tiên nghiên cứu chi tiết về vấn đề cấu trúc vốn và đây cũng là một công trình có ảnh hưởng lớn đến các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn

đề cấu trúc vốn nói riêng và lĩnh vực quản trị tài chính doanh nghiệp nói chung Các nhà nghiên cứu ngày càng mở rộng và quan tâm đến nhiều khía cạnh khác liên quan đến cơ cấu vốn trong doanh nghiệp, tuy vậy các nghiên cứu về cơ cấu vốn đều tập trung vào hai nhóm lý thuyết cơ bản, lý thuyết đánh đổi của cấu trúc vốn (TOT), lý thuyết trật tự phân hạng trong tài trợ (POT) Cụ thể về các lý thuyết trên được trình bày như sau:

1.1.4.1 Lý thuyết truyền thống về cơ cấu vốn của Durand

Quan điểm về cơ cấu vốn của Durand (1952) cho rằng giá trị của doanh nghiệp bị tác động bởi cơ cấu vốn của doanh nghiệp đó Lý thuyết của Durand đã chỉ ra ba điểm chính sau:

 Cách tiếp cận lợi nhuận ròng: Nợ vay thường có chi phí rẻ hơn so với vốn chủ sở hữu, vì vậy giá trị doanh nghiệp sẽ tăng lên nếu kết hợp sử dụng nhiều nợ vay hơn vốn chủ sở hữu do chi phí sử dụng vốn bình quân sẽ thấp hơn

 Cách tiếp cận lợi nhuận hoạt động ròng: Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu sẽ tăng lên khi sử dụng nhiều nợ vay hơn do các cổ đông yêu cầu một mức bù đắp rủi

ro cho việc tăng tài trợ bằng nợ vay Do đó, chi phí sử dụng vốn bình quân sẽ tăng lên, điều đó làm giảm giá trị doanh nghiệp

 Cách tiếp cận cơ cấu vốn tối ưu: Sự cân bằng ròng giữa sự gia tăng của chi phí sử dụng vốn chủ sỡ hữu và lợi ích của việc tài trợ bằng nợ vay có ảnh hưởng đến tác động của cơ cấu vốn đến giá trị doanh nghiệp Kết quả là sẽ tồn tại một cơ cấu vốn tối ưu khi chi phí vốn là nhỏ nhất hoặc giá trị doanh nghiệp là lớn nhất Nghiên cứu của Durand (1952) là nghiên cứu tiên phong về vấn đề cơ cấu vốn của doanh nghiệp Những lý thuyết truyền thống này của Durand đã đặt những nền

Trang 21

tảng đầu tiên và vững chắc cho các công trình nghiên cứu về lĩnh vực cơ cấu vốn của các nhà kinh tế và quản trị tài chính doanh nghiệp sau này

Lý thuyết truyền thống của Durand vẫn còn nhiều hạn chế khi chỉ tập trung vào mối quan hệ giữa chi phí nợ vay và chi phí vốn chủ sở hữu cũng như tác động của cơ cấu vốn lên giá trị doanh nghiệp, đồng thời Durand cũng chỉ mới đưa ra một khung giả thuyết cho các tình huống khác nhau, thiên lệch về phần bên phải bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Bên cạnh đó, quan điểm truyền thống lại không

có một lý thuyết cơ sở nào thể hiện mối quan hệ khi tỷ lệ giữa vốn và nợ thay đổi thì chi phí vốn chủ sở hữu nên tăng giảm ra sao, hay chi phí nợ nên tăng bao nhiêu

do nguy cơ vỡ nợ (Hồ Đình Bảo, 2014)

1.1.4.2 Lý thuyết về cơ cấu vốn doanh nghiệp của Modigliani và Miller

Khác với quan điểm truyền thống, Modigliani và Miller (1958) đã tìm hiểu khi doanh nghiệp tăng hay giảm vay mượn thì chi phí vốn tăng hay giảm Trong nghiên cứu của mình, Modigliani và Miller đã cho thấy trong điều kiện thị trường hoàn hảo, giá trị của doanh nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào lợi nhuận được tạo ra từ tài sản của doanh nghiệp bất kể cơ cấu vốn của doanh nghiệp như thế nào

Modigliani và Miller đã đặt điều kiện thị trường hoàn hảo với các giả định sau:

 Không tồn tại chi phí giao dịch;

 Không có thuế;

 Không có thông tin bất cân xứng;

 Dòng tiền là vô hạn;

 Mức lãi vay là phi rủi ro;

 Doanh nghiệp chỉ phát hành hai loại chứng khoán: Vốn cổ phần và nợ vay phi rủi ro;

 Dòng tiền độc lập với nợ và vốn chủ sở hữu

Trên cơ sở những giả định đó, Modigliani và Miller đã đưa ra hai định đề của mình

Trong định đề I, Modigliani và Miller cho rằng giá trị thị trường của doanh nghiệp độc lập với cơ cấu vốn, hay giá trị doanh nghiệp không sử dụng nợ vay và doanh nghiệp có sử dụng nợ vay là như nhau

Trang 22

Từ định đề I, Modigliani và Miller đã nêu ra định đề II về chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp như sau:

rs = r0 + (r0 – rB) * B/S Trong đó B và S lần lượt là nợ vay và vốn chủ sở hữu, rs là tỷ suất sinh lời đòi hỏi của vốn chủ sở hữu, r0 là chi phí sử dụng vốn nếu doanh nghiệp không sử dụng

nợ vay, rB là chi phí sử dụng nợ vay

Lý thuyết của Modigliani và Miller về cơ cấu vốn chủ yếu dựa trên các phân tích cơ bản về hai hành vi tài chính đó là:

 Hành vi 1: Nếu hai doanh nghiệp có cơ cấu vốn khác nhau còn giống nhau về mọi mặt khác thì khi có sự khác biệt về giá trị doanh nghiệp sẽ tạo ra cơ hội kinh doanh chênh lệch giá và kết quả sẽ khiến giá trị hai doanh nghiệp trở về trạng thái cân bằng

 Hành vi 2: Các nhà đầu tư luôn tỏ ra e ngại rủi ro khi gặp phải sự khác biệt

về rủi ro giữa nợ vay và vốn chủ sở hữu Điều này góp phần chứng minh việc chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu sẽ gia tăng cùng với sự gia tăng tỷ lệ nợ vay

Lý thuyết của Modigliani (1958) được coi là lý thuyết hiện đại đầu tiên về cơ cấu vốn bởi nó đã thách thức lý thuyết truyền thống của Durand (1952) khi cho rằng

cơ cấu vốn không tác động đến giá trị doanh nghiệp trong điều kiện thị trường hoàn hảo Mặc dù những giả định về thị trường vốn hoàn hảo là không có thực, tuy nhiên,

có 2 giả thiết cần được nhấn mạnh và chúng có tác động đáng kể đến kết quả

 Giả định là không có việc đánh thuế: đây là vấn đề quan trọng và một trong những thuận lợi then chốt của nợ là việc giảm nhẹ thuế do những chi tiêu tiền lãi

Nguy cơ trong lý thuyết của MM được tính toán hoàn toàn bởi tính biến đổi của các luồng tiền Họ bỏ qua khả năng các luồng tiền có thể dừng vì vỡ nợ Đây là một vấn đề đáng kể khác với lý thuyết này nếu nợ cao

Đưa ra các giả định này có nghĩa chỉ có một thuận lợi của việc vay tiền (nợ rẻ hơn và ít rủi ro cho nhà đầu tư) và một bất lợi (chi phí vốn chủ sở hữu tăng cùng với

nợ vì tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn)

Modigliani và Miler chỉ ra là những tác động này cân bằng một cách chính xác Việc sử dụng nợ mang đến cho chủ sở hữu tỷ suất lợi tức cao hơn, nhưng lợi

Trang 23

tức cao hơn này chính xác là những gì họ bù đắp cho nguy cơ tăng lên từ tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn Với các giả thuyết trên, dẫn đến các phương trình cho lý thuyết của Modigliani:

Vg = Vu: Tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng tổng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ

Năm 1963, Modilligani và Miller đưa ra một nghiên cứu tiếp theo với việc loại

bỏ giả thiết về thuế thu nhập doanh nghiệp Theo đó, với thuế thu nhập doanh nghiệp, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp Vì chi phí lãi vay là chi phí hợp lý được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó mà một phần thu nhập của doanh nghiệp có sử dụng nợ được chuyển cho các nhà đầu tư theo phương trình:

Vg = Vu + T.D Giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ cộng với khoản lợi từ việc sử dụng nợ

Trong đó, D là tổng số nợ sử dụng, T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, T.D là khoản lợi từ việc sử dụng nợ

Như vậy, theo mô hình thuế Modigliani và Miller (1963) Cơ cấu vốn có liên quan đến giá trị của doanh nghiệp Sử dụng nợ càng cao thì giá trị doanh nghiệp càng tăng và gia tăng đến tối đa khi doanh nghiệp được tài trợ 100% nợ

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, lý thuyết của Modigliani và Miller vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế Hạn chế lớn nhất của Modigliani và Miller đó là giả định

về thị trường hoàn hảo là hoàn toàn không có thật trong thực tế Điều này dẫn đến việc thiếu những bằng chứng thực tế để đánh giá các kết quả mà nghiên cứu thu được và việc áp dụng trong thực tiễn sẽ rất nhiều khó khăn

Dẫu vậy, các đóng góp trong nghiên cứu của Modigliani và Miller đã gợi mở

và góp phần giúp các nhà nghiên cứu khác trong việc xác định các nhân tố tác động đến cơ cấu vốn và tác động của cơ cấu vốn lên giá trị doanh nghiệp trong điều kiện thị trường không hoàn hảo (Hồ Đình Bảo, 2014)

Trang 24

1.1.4.3 Lý thuyết đánh đổi của cơ cấu vốn (Trade-off Theory)

Lý thuyết đánh đổi cơ cấu vốn (TOT) là một thuật ngữ được sử dụng bởi nhiều nhà nghiên cứu để nói đến các lý thuyết có liên quan đến nhau Trong các lý thuyết

đó, người đưa ra quyết định về cơ cấu vốn của doanh nghiệp sẽ xem xét và đánh giá tất cả các chi phí và lợi ích trong các tình huống có những trạng thái cơ cấu vốn khác nhau Các lý thuyết này đều đưa ra giả định rằng doanh nghiệp khi ra quyết định về cơ cấu vốn sẽ đạt được mức cân bằng giữa chi phí biên và lợi ích biên

Lý thuyết đánh đổi cơ cấu vốn khởi nguồn từ lý thuyết về cơ cấu vốn của Modigliani và Miller Khi yếu tố thuế được đưa vào mô hình trong nghiên cứu của Modigliani và Miller xuất hiện lợi ích thuế khi sử dụng nợ vay, theo đó cơ cấu vốn tối ưu là 100% nợ vay

Kraus và Litzenberger (1973) là hai nhà nghiên cứu đưa ra những lý thuyết đầu tiên về cơ cấu vốn tối ưu cho rằng cơ cấu vốn tối ưu là sự bù trừ giữa lợi ích từ thuế và chi phí phá sản Myers (1984) chỉ ra rằng cơ cấu vốn mục tiêu không thể quan sát trực tiếp được mà chỉ có thể ước lượng từ thực nghiệm, luật thuế thực tế phức tạp hơn nhiều so với giả định của lý thuyết, chi phí phá sản gây ra tổn thất thực tế chứ không chuyển từ người này sang người khác như trong lý thuyết, đồng thời chi phí giao dịch cũng phải được tính đến Sau nghiên cứu và những lập luận của Myers (1984), các nhà nghiên cứu đã chia lý thuyết trật tự phân hạng thành hai nhánh: Lý thuyết đánh đổi tĩnh của cơ cấu vốn (The Static Trade-off Theory) và lý thuyết đánh đổi động của cơ cấu vốn (The Dynamic Trade-off Theory)

 Lý thuyết đánh đổi tĩnh của cơ cấu vốn thì cho rẳng một doanh nghiệp sẽ xây dựng cơ cấu vốn mục tiêu cho riêng mình dựa trên tính toán về lợi ích nợ vay và chi phí phá sản

 Lý thuyết đánh đổi động của cơ cấu vốn cho rằng một doanh nghiệp sẽ điều chỉnh cơ cấu vốn của mình về mục tiêu theo thời gian nếu như cơ cấu vốn mục tiêu của họ lệch khỏi cơ cấu vốn mục tiêu ban đầu

Khi xem xét tác động của yếu tố lợi ích thuế phi nợ vay như khấu hao, tín dụng ưu đãi đầu tư…DeAngelo và Masulis (1980) đã nhận thấy rằng doanh nghiệp

Trang 25

có nhiều lợi ích từ thuế phi nợ vay sẽ giảm nợ vay trong cơ cấu vốn của mình vì lợi ích từ thuế phi nợ vay được xem là thay thế cho lợi ích thuế từ nợ vay

Đa số các nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng nợ vay mang lại lợi ích cho doanh nghiệp và họ cũng đồng ý rằng lợi ích mang lại từ thuế không phải là vô tận hay có chi phí sử dụng nợ vay Khi sử dụng nợ vay nhiều sẽ làm cho vốn chủ sở hữu mang nhiều rủi ro hơn và làm tăng nguy cơ phá sản cũng như tăng chi phí phá sản Chi phí phá sản gồm các chi phí trực tiếp và các chi phí gián tiếp

 Chi phí phá sản trực tiếp gồm có các chi phí pháp lý và các chi phí hành chính khi thanh lý và tái cấu trúc công ty Warner (1977) nghiên cứu và chỉ ra rằng chi phí này chiếm trung bình 1% giá trị thị trường của doanh nghiệp thời điểm bảy năm trước khi phá sản và chiếm 2,5% giá trị thị trường của doanh nghiệp tại thời điểm ba năm trước khi phá sản

 Chi phí phá sản gián tiếp bao gồm việc không thể hoạt động kinh doanh hay khuynh hướng đầu tư dưới mức tiềm năng Theo Altman (1984), tổng chi phí phá sản trực tiếp và gián tiếp chiếm từ 11% đến 17% tổng giá trị doanh nghiệp tại thời điểm ba năm trước khi phá sản Vài nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy các doanh nghiệp lớn thường có tỷ lệ nợ cao hơn các doanh nghiệp nhỏ bởi vì chi phí phá sản thấp hơn

Lý thuyết đánh đổi tĩnh của cơ cấu vốn đưa ra giả thuyết rằng các nhân tố đại

diện cho chi phí của nợ vay có tác động ngược chiều đến mức nợ vay, còn các nhân

tố đại diện cho lợi ích của nợ vay thì tác động cùng chiều Đồng thời, việc lựa chọn

cơ cấu vốn phụ thuộc vào mức tác động ròng của tất cả các nhân tố đó Lý thuyết cũng kết luận rằng tồn tại cơ cấu vốn tối ưu mà tại đó doanh nghiệp tối đa hóa giá trị của mình thông qua việc cân bằng giữa giá trị hiện tại của chi phí phá sản và giá trị hiện tại của lợi ích thuế nợ vay và phi nợ vay

Myers (1984) đã kết luận về lý thuyết này như sau:

 Chi phí về khó khăn tài chính tăng sẽ làm giảm tỷ lệ nợ mục tiêu;

 Lợi ích thuế phi nợ vay tăng thì tỷ lệ nợ mục tiêu sẽ giảm;

 Thuế thu nhập cá nhân đối với vốn chủ sở hữu tăng thì tỷ lệ nợ mục tiêu sẽ tăng;

Trang 26

 Tại cơ cấu vốn mục tiêu, thuế suất biên với chủ nợ tăng sẽ làm giảm tỷ lệ nợ mục tiêu;

 Nợ vay và rủi ro tỷ lệ nghịch với nhau

Các doanh nghiệp theo mô hình này sẽ xây dựng cơ cấu vốn mục tiêu và điều chỉnh dần về mục tiêu đó Lý thuyết đánh đổi tĩnh của cơ cấu vốn cũng cho rằng các doanh nghiệp có lợi nhuận thì sẽ có tỷ lệ nợ mục tiêu cao Điều này trái ngược với giả thuyết của lý thuyết trật tự phân hạng rằng các doanh nghiệp sẽ ít sử dụng nợ vay và có tỷ lệ nợ mục tiêu thấp khi càng có nhiều lợi nhuận

Lý thuyết đánh đổi động của cơ cấu vốn (Dynamic Trade - Off Theory)

Khác với lý thuyết đánh đổi tĩnh của cơ cấu vốn giả định rằng một doanh nghiệp luôn ở tại mức cơ cấu vốn tối ưu, lý thuyết đánh đổi động của cơ cấu vốn lại cho rằng trong thực tế quyết định cơ cấu vốn luôn thay đổi không ngừng và sự điều chỉnh cơ cấu vốn về cơ cấu vốn tối ưu phụ thuộc nhiều vào kỳ vọng cũng như chi phí của việc điều chỉnh cơ cấu vốn, chính bởi vậy các doanh nghiệp thường tái cơ cấu vốn theo thời gian

Mô hình lý thuyết động (Dynamic Model) cho rằng quyết định tài trợ sẽ phụ thuộc vào việc doanh nghiệp dự báo gì về tương lai Một vài doanh nghiệp dự tính chi trả cổ tức, trong khi một số khác lại dự định sẽ đi huy động vốn Để hiểu rõ hơn

về mô hình động, hãy xem xét hai ví dụ của Frank và Goyal (2007)

Tóm lại, lý thuyết đánh đổi động của cơ cấu vốn cho rằng cơ cấu vốn của một doanh nghiệp tại một thời điểm không phải là luôn luôn tối ưu và doanh nghiệp sẽ

cố gắng điều chỉnh cơ cấu vốn về cơ cấu vốn mục tiêu Trong mô hình động này, các yếu tố có ảnh hưởng đến cơ cấu vốn mục tiêu đã được nói đến và xem xét một cách khá đầy đủ hơn trong mô hình tĩnh như khả năng sinh lợi, chi phí cổ tức hay thuế thu nhập doanh nghiệp

Lý thuyết đánh đổi cơ cấu vốn được xem là lý thuyết trọng tâm của các lý thuyết về cơ cấu vốn bởi vì lý thuyết này giải thích cho các quyết định cơ cấu vốn tốt hơn so với các lý thuyết khác Tuy nhiên, lý thuyết này vẫn còn hạn chế trong việc không thể giải thích một số hiện tượng phổ biến trong việc lựa chọn cơ cấu vốn như trường hợp các doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao hay sự khác biệt trong

Trang 27

cơ cấu vốn giữa các doanh nghiệp cùng một ngành Nguyên nhân bởi vẫn còn tồn tại các biến số khác có ảnh hưởng đến cơ cấu vốn mục tiêu của doanh nghiệp

1.1.4.4 Lý thuyết trật tự phân hạng trong tài trợ (Pecking Order Theory)

Lý thuyết trật tự phân hạng trong tài trợ (POT) cho rằng vấn đề thông tin bất cân xứng giữa doanh nghiệp và các nhà đầu tư bên ngoài sẽ tạo ra sự chênh lệch về chi phí khi huy động nguồn vốn từ bên ngoài với huy động nguồn vốn nội sinh Myers và Majluf (1984) cho rằng chênh lệch thông tin sẽ làm cho vốn chủ sở hữu bị định giá sai trên thị trường và các nhà quản lý có khuynh hướng phát hành cổ phiếu khi doanh nghiệp được định giá cao, phát hành nợ vay khi doanh nghiệp bị định giá thấp

Đồng thời khi chi phí khó khăn tài chính tăng cao, doanh nghiệp có xu hướng huy động vốn từ bên ngoài nhiều hơn Ngược lại khi chi phí khó khăn tài chính thấp, doanh nghiệp sẽ phát hành các chứng khoán nợ và các chứng khoán lai (hybrid securities)

Lý thuyết trật tự phân hạng trong tài trợ còn giải thích những tác động cụ thể của dòng tiền đến quyết định cơ cấu vốn của doanh nghiệp rằng khi các nguồn vốn nội sinh không đảm bảo, doanh nghiệp sẽ sử dụng nguồn vốn nợ vay nhiều hơn Ngược lại, các doanh nghiệp có dòng tiền dồi dào hơn tương đối so với các khoản tiền cần để đầu tư thì doanh nghiệp sẽ sử dụng ít nợ vay hơn và cơ cấu vốn mục tiêu sẽ có khuynh hướng giảm xuống Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp

có nguồn tài sản khác nhau sẽ có cơ cấu vốn mục tiêu khác nhau, hay các nguồn vốn nội sinh của doanh nghiệp sẽ có tác động đến cơ cấu vốn mục tiêu của doanh nghiệp đó

Tóm lại, lý thuyết trật tự phân hạng trong tài trợ giả thuyết rằng tồn tại có sự thông tin bất cân xứng giữa các nhà quản lý, các cổ đông và các chủ nợ trong trường hợp cả vốn chủ sở hữu và nợ vay được sử dụng Lý thuyết trật tự phân hạng trong tài trợ cho rằng không hề tồn tại cơ cấu vốn tối ưu trong thực tế mà các doanh nghiệp sẽ tuân theo trật tự trong tài trợ như sau:

 Các doanh nghiệp ưa thích và ưu tiên nguồn vốn tài sản của bản thân mình (nguồn tài trợ nội sinh);

Trang 28

Cơ hội đầu tư sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ chi trả cổ tức của các doanh nghiệp và ảnh hưởng đến cả cơ cấu vốn mục tiêu của doanh nghiệp;

 Các doanh nghiệp sẽ giảm lượng tiền mặt và chứng khoán đầu tư nếu dòng tiền ít hơn chi phí đầu tư;

 Các doanh nghiệp sẽ phát hành chứng khoán an toàn trước nếu phải huy động vốn từ bên ngoài

Mặc dù lý thuyết trật tự phân hạng trong tài trợ (POT) giải thích được một vài khía cạnh có ảnh hưởng đến quyết định chọn nguồn vốn tài trợ của doanh nghiệp, lý thuyết này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế Smart và cộng sự (2007) đã kết luận rằng

lý thuyết trật tự phân hạng trong tài trợ còn nhiều thiết sót khi không giải thích được các tác động của thuế, chi phí phá sản, chi phí phát hành chứng khoán đến nợ vay của doanh nghiệp (Hồ Đình Bảo, 2014)

1.2 Khái niệm nợ vay và khả năng trả nợ

1.2.1 Nợ vay

Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”

Việc vay nợ, hay có thể nói một cách khác là sử dụng đòn bẩy tài chính, trên thực tế là điều rất thường gặp đối với tất cả các doanh nghiệp Theo Nguyễn Minh Kiều (2006), quyết định nguồn vốn là 01 trong 03 quyết định quan trọng nhất trong quản trị tài chính doanh nghiệp Doanh nghiệp thông thường phát sinh vay nợ vì một số nguyên nhân như:

 Quy mô vốn của doanh nghiệp nhỏ, nếu chỉ dựa vào vốn chủ sở hữu thì không thể mở rộng hoạt động kinh doanh (thống kê trong năm 2014, tại Việt Nam

có khoảng trên 500 nghìn doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), chiếm 97,5% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động Hàng năm, các doanh nghiệp SME đóng góp khoảng 40% GDP và thu hút 51% lực lượng lao động của cả nước)

 Theo lý thuyết, vì tài trợ bằng nợ vay rẻ hơn vốn cổ phần do lãi suất mà doanh nghiệp trả cho nợ vay được miễn thuế (thuế được đánh sau lãi vay), nên một

Trang 29

doanh nghiệp sử dụng nợ sẽ có khả năng tạo được kết quả hoạt động kinh doanh tốt hơn so với 100% vốn cổ phần do tận dụng lợi ích từ lá chắn thuế của nợ

Trên thực tế, không phải giá trị doanh nghiệp tăng mãi khi tỷ suất nợ gia tăng, bởi vì khi gia tăng việc sử dụng nợ sẽ gia tăng chi phí khánh tận tài chính, gia tăng khả năng phá sản và sẽ làm giảm giá trị doanh nghiệp, do đó cấu trúc tài chính tối

ưu là cấu trúc đỏi hỏi phải cân bằng giữa lợi ích do sử dụng nợ và chi phí khánh tận tài chính

Bên cạnh đó, lý thuyết trật tự phân hạng lại cho rằng nếu một doanh nghiệp phải sử dụng nguồn tài trợ bên ngoài thì nhà quản trị sẽ ưu tiên sử dụng nợ vay trước, sau đó là phát hành trái phiếu và giải pháp cuối cùng là phát hành cổ phiếu thường Trật tự này phản ánh động cơ của nhà quản trị tài chính là duy trì sự kiểm soát doanh nghiệp, giảm chi phí và tránh được những phản ứng của thị trường chứng khoán (Lê Phương Dung và Nguyễn Thị Nam Thanh, 2013)

Đòn bẩy tài chính xem xét mức độ sử dụng nợ dưới góc độ doanh nghiệp, tức góc độ khách hàng Doanh nghiệp quan tâm đến sử dụng đòn bẩy tài chính nhằm mục tiêu gia tăng khả năng sinh lợi cho chủ sở hữu Năng lực vay nợ xem xét mức

độ sử dụng nợ của doanh nghiệp dưới góc độ ngân hàng, tức góc độ người cho vay Ngân hàng quan tâm đến năng lực vay nợ của khách hàng nhằm mục tiêu gia tăng doanh số cho vay và mang lại thu nhập lãi vay cho ngân hàng (Tirole, 2006) Việc vay nợ sẽ dẫn đến hệ quả tất yếu là việc hoàn trả nợ vay trong tương lai, bao gồm cả gốc và lãi Đứng trên góc độ ngân hàng thì việc thu hồi nợ vay rất quan trọng, vì các nguyên nhân sau:

 Đây là nguồn thu nhập của ngân hàng để chi trả chi phí hoạt động và đảm bảo mức lợi nhuận (đặc thù đối với các ngân hàng Việt Nam thì đây là nguồn lớn nhất vì nguồn thu về dịch vụ ngân hàng chưa hoàn thiện như hệ thống ngân hàng tại các nước phát triển; Thống kê từ 22 ngân hàng thương mại (NHTM) đã công bố báo cáo tài chính quý III/2019 cho thấy nhiều nhà băng đang có dư nợ cho vay tăng trưởng ở mức cao trong 3 quý đầu năm So với chỉ tiêu tăng trưởng chung của toàn ngành ở mức 14% trong năm 2019, hiện có 6 NHTM tăng trưởng trên 14%, trong

đó 4 NHTM có dư nợ cho vay trong 9 tháng đã tăng trên 20%, thậm chí hơn 28%

Trang 30

Tính chung về cơ cấu thu nhập của các ngân hàng trong 9 tháng đầu năm, lãi thuần vẫn chiếm khoảng 2/3 tổng thu nhập

 Trường hợp không thu hồi được nợ, gây ra nợ xấu: Nguồn vốn để cho vay phần lớn là huy động từ khách hảng, nợ xấu cao và chậm được giải quyết sẽ ngày càng trở thành gánh nặng cho ngân hàng (mất thanh khoản và giảm lợi nhuận…), doanh nghiệp (khó tiếp cận vốn, số lượng doanh nghiệp dừng hoạt động, phá sản sẽ tiếp tục gia tăng) và cả nền kinh tế (hàng hóa chậm tiêu thụ, trì trệ, dần dần gây tê liệt nền kinh tế và nguy cơ bất ổn vĩ mô cao) Có thể liệt kê một số trường hợp Ngân hàng gây ra nợ xấu quá lớn, dẫn đến mất thanh khoản, mất vốn điều lệ như Ngân hàng Xây dựng (được Ngân hàng Nhà nước ra quyết định mua lại trong năm

2014 với giá 0 đồng), Ngân hàng Đại Dương Ngân hàng Đại Dương (OceanBank)

là trường hợp thứ 2 được mua lại với giá 0 đồng vào ngày 25/4/2015, giúp NHNN chủ động trong việc tái cơ cấu OceanBank, bảo đảm việc chi trả tiền gửi, ngăn ngừa

sự lây lan yếu kém từ OceanBank đến các ngân hàng khác, Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu (GP Bank) là ngân hàng thứ 3 bị NHNN mua lại bắt buộc toàn bộ cổ phần giá 0 đồng kể từ ngày 7 tháng 7 năm 2015

 Việc không thu hồi được nợ dẫn đến ngân hàng không có tiền trả lương nhân viên, vì thế những người có năng lực sẽ chuyển công tác gây khó khăn về vấn đề nhân lực có chất lượng và trình độ cho Ngân hàng

 Mặt khác, hoạt động của Ngân hàng liên quan đến hoạt động của cá nhân và doanh nghiệp nên khi một Ngân hàng gặp rủi ro tín dụng sẽ làm cho toàn bộ hệ thống Ngân hàng gặp khó khăn Bởi vì người gửi tiền ở hầu hết các Ngân hàng đều hoang mang lo sợ và có khả năng kéo nhau ồ ạt đến rút tiền Đây là vấn đề nhạy cảm đối với ngành Ngân hàng

Tóm lại, rủi ro không thu hồi được nợ vay của một Ngân hàng xảy ra ở những mức độ khác nhau và mức độ nặng nhất là khi ngân hàng không thu được vốn lãi,

nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến Ngân hàng bị thua lỗ và mất vốn Nếu kéo dài tình trạng này Ngân hàng sẽ có nguy cơ bị phá sản cao, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức cẩn trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay

Trang 31

Về tổng thể, Ngân hàng Nhà Nước đã ban hành thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013, trong đó đã phân loại nợ vay thành 5 nhóm có mức rủi ro khác nhau nhằm giúp các NHTM dễ dàng kiểm soát, quản lý các khoản nợ phát sinh để thực hiện công tác thu hồi nợ một cách tốt nhất

 Nợ nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn là các khoản nợ còn trong hạn trả nợ và nợ quá thời hạn trả trả nợ dưới 10 ngày

 Nợ nhóm 2: các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày

 Nợ nhóm 3: các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày

 Nợ nhóm 4: các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày

 Nợ nhóm 5: các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày

Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5 và chỉ tiêu nợ xấu là chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng Chỉ tiêu này càng cao thì càng rủi ro trong việc thu hồi nguồn vốn cho vay của ngân hàng Bởi nợ xấu là khoản nợ có khả năng mất vốn, do năng lực trả nợ của khách hàng giảm sút, gây nên trì trệ trong việc trả nợ vay cho ngân hàng

Vì những nguyên nhân trên, việc đánh giá khả năng trả nợ vay của khách hàng đối với ngân hàng là cực kỳ quan trọng Hơn nữa, rủi ro từ hoạt động cho vay là một trong những vấn đề rất nhạy cảm trong kinh doanh ngân hàng, vì vậy hạn chế rủi ro ngay từ đầu là một hoạt động thiết thực, cũng như xây dựng mô hình đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ đúng hạn của khách hàng để hỗ trợ cho cán bộ tín dụng trước và trong cho vay là vấn đề rất cần thiết

Trong phạm vi đề tài, để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, nghiên cứu không đi sâu vào việc đánh giá thông qua chỉ số, mà tập trung lượng hóa khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn theo các biến tác động như cơ cấu vốn, tài sản bảo đảm, lợi nhuận doanh nghiệp, Kết quả nghiên cứu được dùng tham khảo cho việc đánh giá mô hình xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của các ngân hàng đang áp dụng (trước hết là Vietcombank) có thực sự hiệu quả, hoặc đã phù hợp với tình hình các doanh nghiệp Việt Nam hay chưa

Trang 32

1.2.2 Khả năng trả nợ

Xét ở góc độ doanh nghiệp, khả năng trả nợ đề cập đến khả năng tài chính trong dài hạn và khả năng thanh toán nghĩa vụ nợ trong dài hạn Tất cả các hoạt động kinh doanh của công ty như tài trợ, đầu tư và hoạt động đều ảnh hưởng đến khả năng trả nợ doanh nghiệp

Ở góc độ ngân hàng, việc phân tích tín dụng nhằm xác định khả năng trả nợ của khách hàng chính là việc đánh giá độ tín nhiệm của doanh nghiệp Độ tín nhiệm

là khả năng một doanh nghiệp đảm bảo cho các nghĩa vụ trả nợ Hay nói cách khác,

nó là khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp Do đó, nội dung chính của việc phân tích là dựa trên rủi ro, chứ không phải trên khả năng sinh lợi (Nguyễn Thị Ngọc Trang và Nguyễn Thị Liên Hoa, 2008)

Căn cứ thông tư 02/2013/TT-NHNN do NHNN Việt Nam ban hành ngày 21/01/2013, nợ quá hạn được định nghĩa là “khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn” Như vậy, trả nợ vay đúng hạn nghĩa là Bên vay thanh toán gốc và lãi đầy đủ theo thỏa thuận cho Bên cho vay, không phát sinh nợ quá hạn

1.3 Lý thuyết tổng quan về đánh giá khả năng trả nợ

1.3.1 Đánh giá thông qua phân tích chỉ số

Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài có liên quan đến tài chính của doanh nghiệp Riêng đối với người cho vay, mối quan tâm của họ là hướng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp Qua việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, họ đặc biệt chú ý tới lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền nhanh chóng để từ đó có thể so sánh được và biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp Đồng thời họ cũng quan tâm đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp vì đó chính là cơ sở của việc hoàn trả vốn và lãi vay

Trang 33

Việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp đã có được khung lý thuyết khá đầy đủ Các giáo trình nước ngoài viết về đề tài này rất phong phú Trong đó có những giáo trình chuyên sâu như sách về phân tích báo cáo tài chính của Wild, John

J (2009); tài liệu hướng dẫn về quản lý và đo lường hoạt động doanh nghiệp của Helfert Erich A (1997); giáo trình về đánh giá quản trị tài chính của Higgins, Robert

C (2009); hay tài liệu hướng dẫn về phân tích tài chính với máy tính của White, Mark A (2000), trích bởi Trần Hòa Bình (2010)…

Nhìn chung, các giáo trình trên đều có các chương trình bày chi tiết về đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp, thông qua việc phân tích các nhóm chỉ số tài chính Một số chỉ tiêu thường được sử dụng như Chỉ số thanh toán, Chỉ số thanh toán nhanh, Tỷ số dòng tiền, Chỉ số tiền mặt trên tài sản lưu động, Chỉ số tiền mặt trên nợ ngắn hạn, Tỷ lệ thu nhập trên chi phí cố định, Thu nhập đảm bảo nợ vay…… Riêng tại Việt Nam, các giáo trình về phân tích tài chính doanh nghiệp cũng rất đa dạng, cụ thể như: tài liệu hướng dẫn về phân tích, dự báo và định giá cổ phiếu thông qua báo cáo tài chính doanh nghiệp của Phạm Thị Thủy và Nguyễn Thị Lan Anh (2013); sách hướng dẫn về cách lập, đọc và phân tích báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị của Võ Văn Nhị (2011); tài liệu về thực hành phân tích báo cáo tài chính của nhiều dịch giả (2013); giáo trình phân tích các báo cáo tài chính công ty của Nguyễn Minh Kiều (2008), trích bởi Trần Hòa Bình (2010)…

1.3.2 Đánh giá thông qua mô hình 5 P

Mô hình 5P nghiên cứu 5 nhóm tiêu chí của người đi vay, bao gồm: mục đích (purpose), thanh toán (payment), bảo đảm (protection), chính sách (policy) và định giá (pricing)

 Mục đích (purpose): Doanh nghiệp khi có nhu cầu vay vốn của ngân hàng thì nhất định phải chứng minh được mục đích sử dụng vốn cho phương án CBTĐ sẽ kiểm tra tính hợp pháp, phù hợp của mục đích vay để ra quyết định tài trợ cho doanh nghiệp Mục đích vay vốn thể hiện rõ trong đơn xin vay vốn, hợp đồng tín dụng và các chứng từ, hóa đơn

 Thanh toán (payment): Doanh nghiệp phải chứng minh được với ngân hàng mình có khả năng thanh toán các khoản vay đến hạn theo đúng quy định trong hợp

Trang 34

đồng tín dụng Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phụ thuộc vào nguồn thu nhập đến từ phương án vay Dựa vào các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán, ngân hàng sẽ tính toán các tỷ số thanh toán như tỷ số thanh toán hiện thời, tỷ số thanh toán nhanh…Nếu doanh nghiệp đạt được những chỉ tiêu về thanh toán thì ngân hàng sẽ đánh giá ban đầu doanh nghiệp có khả năng thanh toán đúng hạn và sẽ ra quyết định cho vay dễ dàng hơn Ngược lại, ngân hàng có thể yêu cầu doanh nghiệp

bổ sung thêm hồ sơ hoặc từ chối cho vay

 Bảo đảm (protection): Một khoản vay nợ được đảm bảo bằng tài sản của chính khách hàng hay của bên thứ ba sẽ gắn chặt với trách nhiệm và nghĩa vụ hơn là các khoản vay tín chấp Trường hợp xấu nhất khi khách hàng không còn khả năng thanh toán nợ vay, ngân hàng có thể sử dụng tài sản bảo đảm để làm nguồn thu cuối cùng của khoản vay Tùy thuộc vào quy mô của doanh nghiệp, phương án vay, tình hình tài chính hiện tại mà ngân hàng sẽ đòi hỏi các yêu cầu về tài sản khác nhau cũng như tỷ lệ tài trợ trên TSBĐ khác nhau Tuy nhiên, TSBĐ không thể hiện tính hiệu quả của khoản vay mà chỉ mang tính đảm bảo an toàn cho ngân hàng Các ngân hàng chấp nhận rủi ro với mong muốn thu được lãi suất cao từ các khoản vay vẫn có thể ra quyết định cho vay với một tỷ lệ tải sản thấp hơn hoặc không cần tài sản Điều này phụ thuộc vào bản thân khách hàng doanh nghiệp cũng như khẩu vị rủi ro của ngân hàng

 Chính sách (policy): Chính sách của doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định đến

sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong tương lai Việc đưa ra các chính sách ngắn hạn hoặc dài hạn của doanh nghiệp sẽ thể hiện được sự chuyên nghiệp và ổn định trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Một doanh nghiệp được định hướng hoạt động tốt, có các chính sách phát triển rõ ràng, cụ thể sẽ có khả năng tồn tại và phát triển một cách ổn định và vững chắc Và một doanh nghiệp có một tầm nhìn xa, luôn hướng tới sự phát triển sẽ dễ dàng tiếp cận được với các nguồn vốn của ngân hàng

 Định giá (pricing): Đối với mỗi ngân hàng khác nhau sẽ có những tiêu chí để đánh giá khách hàng khác nhau thông qua hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Một

số ngân hàng xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của mình dựa trên mô

Trang 35

hình điểm số Z của Alman để đánh giá và ra quyết định cho vay Mô hình này được

sử dụng để đo lường xác suất vỡ nợ của khách hàng thông qua các đặc điểm cơ bản của khách hàng Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro đối với người vay và phụ thuộc vào các yếu tố tài chính của người vay Từ mô hình này tính được xác suất vỡ nợ của người vay trên cơ sở số liệu trong quá khứ

1.3.3 Đánh giá thông qua hệ thống xếp hạng tín dụng

Xếp hạng tín nhiệm (Credit rating) là thuật ngữ do John Moody đưa ra vào năm 1909 trong ấn phẩm công bố kết quả xếp hạng trái phiếu ngành đường sắt (Lawrence, 2010; Moody’s, 2013, trích bởi Võ Hồng Đức và Nguyễn Đình Thiên, 2013) Hệ thống xếp hạng trình bày trong báo cáo này được ký hiệu gồm 3 chữ cái ABC được xếp lần lượt là AAA (mức ổn định cao nhất) đến C (mức rủi ro cao nhất) Kể từ đó đến nay, các tổ chức xếp hạng đóng vai trò quan trọng trong thị trường tài chính bằng các kết quả xếp hạng để đánh giá chất lượng của sản phẩm trên thị trường tài chính

Moody’s (2013), trích bởi Võ Hồng Đức và Nguyễn Đình Thiên (2013), cho rằng xếp hạng tín nhiệm nhằm mục đích đánh giá các rủi ro tín dụng liên quan đến nghĩa vụ tài chính của một tổ chức trong tương lai Xếp hạng tín nhiệm dài hạn đánh giá rủi ro của các khoản tín dụng có thời gian đáo hạn từ một năm trở lên, phản ánh khả năng thực hiện cam kết trả nợ và rủi ro suy giảm nguồn tài chính trong tương lai Trong khi đó, xếp hạng ngắn hạn chỉ dành cho các khoản tín dụng đáo hạn dưới 13 tháng và chỉ đánh giá về rủi ro trả nợ (Moody’s, 2007, trích bởi Võ Hồng Đức và Nguyễn Đình Thiên, 2013)

Theo Standard and Poor’s (2012), trích bởi Võ Hồng Đức và Nguyễn Đình Thiên (2013), xếp hạng tín nhiệm là đánh giá khả năng tín dụng của bên phải thực hiện nghĩa vụ tài chính trong tương lai dựa trên những yếu tố hiện tại và quan điểm của người đánh giá Nói cách khác, xếp hạng tín dụng được coi như là chỉ báo về độ an toàn khi đầu tư vào các giấy tờ có giá của tổ chức, chẳng hạn như trái phiếu, cổ phiếu hay những loại chứng chỉ nợ tương tự khác

Với quan điểm của Fitch thì xếp hạng tín nhiệm là đánh giá mức độ khả năng thực hiện các nghĩa vụ nợ như lãi suất, cổ tức ưu đãi, các khoản bảo hiểm hay các

Trang 36

khoản phải trả khác của một tổ chức Phương pháp xếp hạng tín nhiệm của Fitch là

sự kết hợp của cả yếu tố tài chính và phi tài chính

Tổng hợp các quan điểm trên, ta có thể thấy xếp hạng tín nhiệm là hoạt động đánh giá tình trạng tài chính của các đối tượng được đánh giá Xếp hạng tín nhiệm cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư biết về tình trạng tài chính và mức độ rủi ro của các tổ chức để có quyết định đầu tư phù hợp Các yếu tố để đánh giá thường bao gồm yếu tố về tài chính và phi tài chính Yếu tố tài chính bao gồm các tỷ số tài chính quan trọng thông qua các báo cáo tài chính Yếu tố phi tài chính là các yếu tố khó có thể định lượng như: chính trị, ngành nghề kinh doanh, môi trường kinh tế vĩ

mô … (Võ Hồng Đức và Nguyễn Đình Thiên, 2013)

1.3.4 Đánh giá thông qua hệ thống xác suất vỡ nợ

Hiện nay theo yêu cầu của Bộ Tiêu chuẩn vốn quốc tế Basel II (Nguyễn Đức Trung, 2014), các ngân hàng cần sử dụng các mô hình dựa trên hệ thống dữ liệu nội

bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng Các ngân hàng sẽ xác định các biến số như PD - Probability of Default: xác suất khách hàng không trả được nợ; LGD: Loss Given Default - tỷ trọng tổn thất ước tính; EAD: Exposure at Default - tổng dư

nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ Thông qua các biến

số trên, ngân hàng sẽ xác định được EL: Expected Loss - tổn thất có thể ước tính Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể ước tính được tính toán dựa trên công thức sau:

EL = PD x EAD x LGD Chúng ta sẽ xem xét lần lượt ba chỉ tiêu cấu thành công thức trên

Thứ nhất, PD - xác suất không trả được nợ: cơ sở của xác suất này là các số

liệu về các khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được Theo yêu cầu của Basel II, để tính toán được nợ trong vòng một năm của khách hàng, ngân hàng phải căn cứ vào

số liệu dư nợ của khách hàng trong vòng ít nhất là 5 năm trước đó Những dữ liệu được phân theo 3 nhóm sau:

 Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng cũng như các đánh giá của các tổ chức xếp hạng

Trang 37

 Nhóm dữ liệu định tính phi tài chính liên quan đến trình độ quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu về khả năng tăng trưởng của ngành,…

 Những dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện tượng báo hiệu khả năng không trả được nợ cho ngân hàng như số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi…

Từ những dữ liệu trên, ngân hàng nhập vào một mô hình định sẵn, từ đó tính được xác xuất không trả được nợ của khách hàng Đó có thể là mô hình tuyến tính,

mô hình probit… và thường được xây dựng bởi các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp

Thứ hai, EAD: Exposure at Default - tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ Đối với khoản vay có kỳ hạn, EAD được xác

định không quá khó khăn Tuy nhiên, đối với khoản vay theo hạn mức tín dụng, tín dụng tuần hoàn thì vấn đề lại khá phức tạp Theo thống kê của ủy ban Basel, tại thời điểm không trả được nợ, khách hàng thường có xu hướng rút vốn vay tới mức gần xấp xỉ hạn mức được cấp Do đó, ủy ban Basel II yêu cầu tính EAD như sau:

EAD = Dư nợ bình quân + LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân Trong đó, LEQ - Loan Equivalent Exposure là tỷ trọng phần vốn chưa sử dụng

có nhiều khả năng sẽ được khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ

“LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân” chính là phần dư nợ khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ ngoài mức dư nợ bình quân

Việc xác định LEQ - tỷ trọng phần vốn rút thêm có ý nghĩa quyết định đối với

độ chính xác của ước lượng về dư nợ của khách hàng tại thời điểm không trả được

nợ Cơ sở xác định LEQ là các số liệu quá khứ Điều này dẫn đến những khó khăn lớn trong tính toán Ví dụ, khách hàng uy tín, trả nợ đầy đủ thường hiếm khi rơi vào tình trạng này, do đó, không thể tính chính xác được LEQ của một khách hàng tốt Ngoài ra, một số vấn đề dẫn đến sự phức tạp của LEQ có thể còn gồm: loại hình kinh doanh của khách hàng, khả năng khách hàng tiếp cận với thị trường tài chính, quy mô hạn mức tín dụng, tỷ lệ dư nợ đang sử dụng so với hạn mức,…

Thứ ba, LGD: tỷ trọng tổn thất ước tính - đây là tỷ trọng phần vốn bị tổn thất trên tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ LGD không chỉ

bao gồm tổn thất về khoản vay mà còn bao gồm các tổn thất khác phát sinh khi

Trang 38

khách hàng không trả được nợ, đó là lãi suất đến hạn nhưng không được thanh toán

và các chi phí hành chính có thể phát sinh như: chi phí xử lý tài sản thế chấp, các chi phí cho dịch vụ pháp lý và một số chi phí liên quan

Tỷ trọng tổng thất ước tính có thể tính toán theo công thức sau đây:

LGD = (EAD - Số tiền có thể thu hồi)/EAD

Trong đó, số tiền có thể thu hồi bao gồm các khoản tiền mà khách hàng trả và các khoản tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp, cầm cố LGD cũng có thể được coi là 100% - tỷ lệ vốn có thể thu hồi được Theo thống kê của ủy ban Basel, tỷ lệ thu hồi vốn thường mang giá trị rất cao (70% - 80%) hoặc rất thấp (20 - 30%) Do

đó, chúng ta không nên sử dụng tỷ lệ thu hồi vốn bình quân Theo nghiên cứu của

ủy ban Basel, hai yếu tố giữ vai trò quan trọng nhất quyết định khả năng thu hồi vốn của ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ là tài sản bảo đảm của khoản vay

và cơ cấu tài sản của khách hàng Cơ cấu tài sản của khách hàng được nhắc đến ở đây với ý nghĩa thứ tự ưu tiên trả nợ khác nhau của các khoản phải trả trong trường hợp doanh nghiệp phải phá sản Trên thực tế, khi một doanh nghiệp phá sản, tỷ lệ thu hồi vốn từ các khoản vay của ngân hàng thường cao hơn tỷ lệ thu hồi vốn từ trái phiếu bởi ngân hàng có quyền được ưu tiên trả nợ trước các nhà đầu tư trái phiếu Bên cạnh đó, khi kinh tế trong tình trạng suy thoái, tỷ lệ thu hồi vốn cũng sụt giảm Ngành nghề kinh doanh cũng ảnh hưởng nhất định đến tỷ lệ thu hồi vốn: các khách hàng hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nặng thường cho tỷ lệ thu hồi vốn cao hơn các khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ

Hiện nay, tồn tại ba phương pháp chính để tính LGD:

Một là, Market LGD - tỷ trọng tổn thất căn cứ vào thị trường Phương pháp này được sử dụng khi các khoản tín dụng có thể được mua bán trên thị trường Ngân hàng có thể xác định tỷ trọng tổn thất của một khoản vay căn cứ vào giá của khoản vay đó một thời gian ngắn sau khi nó được xếp vào hạng không trả được nợ Giá này được tính trên cơ sở ước tính của thị trường bằng phương pháp hiện tại hóa tất cả các dòng tiền có thể thu hồi được của khoản vay trong tương lai

Hai là, Workout LGD - tỷ trọng tổn thất căn cứ vào việc xử lý các khoản tín dụng không trả được nợ Ngân hàng sẽ ước tính các luồng tiền trong tương lai,

Trang 39

khoảng thời gian dự kiến thu hồi được luồng tiền và chiết khấu các luồng tiền này Việc xác định lãi suất chiết khấu phù hợp là vấn đề mấu chốt và nan giải nhất

Ba là, Implied Market LGD - xác định tỷ trọng tổn thất căn cứ vào giá các trái phiếu rủi ro trên thị trường

Như vậy, thông qua các biến số LGD, PD và EAD, ngân hàng sẽ xác định được EL - tổn thất ước tính của các khoản cho vay Nếu ngân hàng tính chính xác được tổn thất ước tính của khoản cho vay thì sẽ mang lại cho ngân hàng rất nhiều ứng dụng chứ không chỉ đơn thuần giúp ngân hàng xác định chính xác hơn hệ số an toàn vốn tối thiểu trong mối quan hệ giữa vốn tự có với rủi ro tín dụng

1.3.5 Đánh giá thông qua Mô hình tiếp cận theo phương pháp thị trường

Mô hình KMV (viết tắt tên của Stephen Kealhofer, John McQuown và Oldrich Vasicek – những thành viên sáng lập ra công ty KMV vào năm 1989 về quản lý rủi

ro và phát triển mô hình KMV trong những năm 1990) Đây là mô hình khá phổ biến trên thế giới, trong đó vào năm 2004 có 40 trong số 50 tập đoàn tài chính lớn nhất thế giới có đăng ký sử dụng

Theo các chuyên gia kinh tế, về mặt lý thuyết, mô hình KMV là “phiên bản”

mở rộng của mô hình Merton Tuy nhiên, sức mạnh của mô hình KMV nằm ở công

cụ tính toán thực nghiệm và kiểm nghiệm dựa trên một cơ sở dữ liệu lớn của KMV Đại lượng trọng điểm trong mô hình KMV là xác suất vỡ nợ (EDF) EDF là xác suất (theo các con số thực tế) mà một công ty sẽ vỡ nợ (default) trong vòng 1 năm theo phương pháp tính toán của KMV

Rủi ro tín dụng (Credit Risk) là xác suất doanh nghiệp mất khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài chính theo cam kết (Klieštik và Cúg, 2015) Trong khi đó, phá sản là do doanh nghiệp quyết định ngưng thực hiện các nghĩa vụ nợ và thực hiện các thủ tục phá sản theo luật định (Crouhy và ctg, 2000)

Do đó, rủi ro tín dụng có thể dẫn đến rủi ro phá sản Hoặc với góc nhìn khác thì rủi ro tín dụng được định nghĩa là mức độ biến động giá trị các công cụ nợ và chứng khoán phái sinh do sự thay đổi chất lượng tín dụng tiềm ẩn của khách hàng vay nợ hoặc đối tác (Lopez và Saidenberg, 2000)

Mô hình đo lường rủi ro KMV kế thừa từ kết quả mô hình định giá tài sản của Merton (Valášková và Klieštik, 2014) Với mô hình dạng cấu trúc, biến động giá trị

Trang 40

tài sản của DN sử dụng như là một thước đo rủi ro tín dụng Trong khi đó, giá trị thị trường của DN tương lai không thể tính toán một cách dễ dàng

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về đo lường rủi ro tín dụng khá hiếm hoi, đặc biệt là ứng dụng mô hình KMV Gần đây nhất, Nguyễn Thị Cành và Phạm Chí Khoa (2014) áp dụng mô hình KMV trong tính toán, dự báo xác suất phá sản của các khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng Vietcombank

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ

1.4.1 Yếu tố thuộc về doanh nghiệp

 Doanh thu thuần/Tổng tài sản: theo nghiên cứu của Chiara Pederzoli, Costanza Torricelli, các chỉ số tài chính có mối quan hệ sâu sắc với khả năng vỡ nợ của doanh nghiệp Các chỉ số này dùng để đo lường sức khỏe của doanh nghiệp Doanh thu thuần là nguồn chính để trả nợ các khoản vay hình thành từ phương án

Tỷ số doanh thu thuần/Tổng tài sản càng cao thể hiện khả năng trả nợ của khách hàng càng tốt

Đòn bẩy tài chính: đây là chỉ tiêu kết hợp giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Đòn bẩy tài chính trong kinh tế doanh nghiệp được giải thích bằng một sự gia tăng rất nhỏ về sản lượng hoặc doanh thu có thể đạt được một sự gia tăng rất lớn về lợi nhuận Doanh nghiệp có hệ số đòn bẩy tài chính càng lớn sẽ càng làm tăng suất sinh lời của vốn chủ sở hữu khi hoạt động có hiệu quả và ngược lại, khi sử dụng không hiệu quả đòn bẩy tài chính sẽ gây ra tổn thất cho doanh nghiệp Theo nghiên cứu về đòn bẩy tài chính và khả năng trả nợ của doanh nghiệp (Marco Bigelli và Javier Sánchez-Vidal, 2012 và Beattie, V.Gooddacre, A.& Thomson, S., 2006) nhận thấy

có mối tương quan nghịch biến giữa đòn bẩy tài chính và khả năng trả nợ của doanh nghiệp

 Tỷ số nợ trên tổng tài sản (D/A): đo lường mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp để tài trợ cho tổng tài sản, nghĩa là trong tổng số tài sản hiện tại của công ty được tài trợ khoảng bao nhiêu phần trăm là nợ phải trả Vì vậy khi tỷ số này cao dẫn đến ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp

 Hiệu quả hoạt động kinh doanh: được đo lường theo các chỉ tiêu là tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ suất sinh lời càng cao thì khả năng trả nợ ngân hàng càng tốt

Ngày đăng: 02/07/2021, 23:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển VCB Chi nhánh Nam Hà Nội - Nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - CN Nam Hà Nội_3
2.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển VCB Chi nhánh Nam Hà Nội (Trang 46)
Bảng 2-1 Số liệu chi tiết dư nợ cuối kỳ giai đoạn 2015 -2019 - Nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - CN Nam Hà Nội_3
Bảng 2 1 Số liệu chi tiết dư nợ cuối kỳ giai đoạn 2015 -2019 (Trang 51)
2.3 Mô hình đánh giá khả năng trả nợ tại VCB - Nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - CN Nam Hà Nội_3
2.3 Mô hình đánh giá khả năng trả nợ tại VCB (Trang 54)
Bảng 2-2 Bảng tính điểm xếp hạng và phân loại nợ của doanh nghiệp - Nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - CN Nam Hà Nội_3
Bảng 2 2 Bảng tính điểm xếp hạng và phân loại nợ của doanh nghiệp (Trang 57)
Bảng 2-3 Thống kê mô tả mẫu - Nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - CN Nam Hà Nội_3
Bảng 2 3 Thống kê mô tả mẫu (Trang 62)
Bảng 2-4 Biến phụ thuộc Khả năng trả nợ đúng hạn - Nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - CN Nam Hà Nội_3
Bảng 2 4 Biến phụ thuộc Khả năng trả nợ đúng hạn (Trang 62)
2.5.2 Kiểm định mô hình hồi quy - Nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - CN Nam Hà Nội_3
2.5.2 Kiểm định mô hình hồi quy (Trang 64)
Bảng 2-6 Kết quả hồi quy Omnibus Tests of Model Coefficients - Nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - CN Nam Hà Nội_3
Bảng 2 6 Kết quả hồi quy Omnibus Tests of Model Coefficients (Trang 65)
Bảng Omnibus Tests of Model Coefficients cho kết quả phân tích các hệ số của mô hình. Cột Chi – square và Sig - Nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - CN Nam Hà Nội_3
ng Omnibus Tests of Model Coefficients cho kết quả phân tích các hệ số của mô hình. Cột Chi – square và Sig (Trang 65)
 Tỷ lệ dự đoán đúng trung bình của mô hình là 86,2%. - Nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - CN Nam Hà Nội_3
l ệ dự đoán đúng trung bình của mô hình là 86,2% (Trang 66)
1. Bảng dữ liệu - Nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - CN Nam Hà Nội_3
1. Bảng dữ liệu (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w