1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tài liệu tập huấn về sở hữu trí tuệ - Dành cho cán bộ quản lý sở hữu trí tuệ thuộc các cơ quan nhà nước

164 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Tập Huấn Về Sở Hữu Trí Tuệ - Dành Cho Cán Bộ Quản Lý Sở Hữu Trí Tuệ Thuộc Các Cơ Quan Nhà Nước
Tác giả Cục Sở Hữu Trí Tuệ
Trường học Bộ Khoa Học Và Công Nghệ
Chuyên ngành Sở Hữu Trí Tuệ
Thể loại tài liệu tập huấn
Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI GIỚI THIỆU

  • Chuyên đề 1 TỔNG QUAN VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆVÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

    • 1. Vai trò, ý nghĩa của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

    • 2. Lịch sử ra đời và phát triển chế độ bảo hộ quyền sởhữu trí tuệ

    • 3. Các khái niệm cơ bản về sở hữu trí tuệ

    • 4. Các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ

    • 5. Hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành củaViệt Nam(

  • Chuyên đề 2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

    • 1. Một số vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước về sởhữu trí tuệ

    • 2. Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về sở hữutrí tuệ

    • 3. Nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước vềsở hữu trí tuệ

  • Chuyên đề 3 HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ XÁC LẬPVÀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

    • 1. Những vấn đề chung về xác lập và bảo vệ quyền sở hữutrí tuệ

    • 2. Căn cứ pháp lý của các hoạt động hỗ trợ xác lập vàbảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

    • 3. Nội dung hoạt động hỗ trợ xác lập và bảo vệ quyềnsở hữu trí tuệ

    • 4. Hiện trạng hoạt động hỗ trợ xác lập, phát triển vàbảo vệ tài sản trí tuệ

    • 5. Phương hướng phát triển các hoạt động hỗ trợxác lập, phát triển và bảo vệ tài sản trí tuệ

  • Chuyên đề 4 ĐĂNG KÝ, XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

    • 1. Các đối tượng sở hữu trí tuệ cần/nên tiến hànhđăng ký, xác lập quyền sở hữu trí tuệ

    • 2. Khái niệm, yêu cầu bảo hộ các đối tượng sở hữutrí tuệ(

    • 3. Thủ tục đăng ký xác lập quyền sở hữu trí tuệ

    • 4. Theo đuổi đơn đăng ký, những thiếu sót thườnggặp trong quá trình đăng ký

  • Chuyên đề 5 HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ (THỰC THI)QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

    • 1. Khái niệm về thực thi quyền sở hữu trí tuệ

    • 2. Các biện pháp thực thi quyền sở hữu trí tuệ

    • 3. Thủ tục thực thi quyền sở hữu trí tuệ

    • 4. Các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thựcthi quyền sở hữu trí tuệ

  • Chuyên đề 6 THÔNG TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

    • 1. Thông tin sở hữu trí tuệ, vai trò của thông tin sởhữu trí tuệ

    • 2. Khai thác và sử dụng thông tin sở hữu công nghiệp

    • 3. Các dịch vụ cung cấp thông tin của Cục Sở hữu trí tuệ

  • DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

Lịch sử ra đời và phát triển chế độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

2.1 Lịch sử ra đời và phát triển chế độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên thế giới

Sở hữu trí tuệ là một khái niệm đã có từ lâu đời Luật Venice năm

Luật 1474 được xem là sự tiếp cận hệ thống đầu tiên đối với việc bảo hộ sáng chế thông qua độc quyền sáng chế, đánh dấu lần đầu tiên cá nhân được cấp độc quyền hạn chế lợi ích công cộng Vào thế kỷ 16, dưới triều đại Tudor, Anh đã thiết lập hệ thống độc quyền sáng chế, với Đạo luật Đặc quyền năm 1642 là văn bản pháp lý đầu tiên quy định việc cấp đặc quyền cho sáng chế trong thời hạn nhất định Cuối thế kỷ 19, sự giao thương toàn cầu đã thúc đẩy nhu cầu bảo hộ sáng chế quốc tế, khi nhiều quốc gia nhận thấy sự cần thiết phải bảo vệ ý tưởng sáng tạo Sự kiện tại Triển lãm Sáng chế Quốc tế năm 1873, khi các nhà sáng chế từ chối trưng bày sản phẩm do lo ngại bị đánh cắp ý tưởng, đã dẫn đến việc hình thành Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1883, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người sáng tạo trên phạm vi quốc tế.

Vào giữa thế kỷ 19, nhiều tác giả nổi tiếng, trong đó có Victor Hugo với tác phẩm "Những người khốn khổ", đã nhận ra rằng các tác phẩm của họ bị sao chép trái phép để bán ở các quốc gia khác mà không có sự cho phép và họ không nhận được bất kỳ khoản nhuận bút nào Để ngăn chặn tình trạng này, họ đã kêu gọi bảo vệ quyền tác giả và thúc đẩy việc thực thi các quy định về bản quyền.

"Thằng gù nhà thờ Đức bà" đã thành lập Hiệp hội Văn học quốc tế, sau này được biết đến là Hiệp hội Văn học và Nghệ thuật quốc tế, nhằm bảo vệ quyền tác giả cho các tác phẩm của các nhà văn.

Năm 1886, Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật đã được ký kết nhằm thiết lập cơ sở cho việc công nhận lẫn nhau về quyền tác giả giữa các quốc gia.

Cốt lõi của hai công ước là nguyên tắc đối xử quốc gia, đảm bảo bảo hộ ngang bằng cho cả người trong nước và người nước ngoài Nội dung chính của các công ước này sẽ được trình bày trong phần Các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ.

Trong một thế kỷ đầu tiên kể từ khi Công ước Berne và Công ước Paris được thiết lập, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ về bảo hộ sáng chế, nhãn hiệu và quyền tác giả trên toàn cầu Khoảng thời gian này đã đặt nền tảng cho sự hợp tác giữa các quốc gia trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Sự ủng hộ liên tục đối với hệ thống bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong suốt thế kỷ qua cho thấy hầu hết các quốc gia đều công nhận vai trò quan trọng của sở hữu trí tuệ trong việc thúc đẩy đổi mới công nghệ và nghệ thuật.

2.2 Lịch sử ra đời và phát triển chế độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam

2.2.1 Hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ

Hệ thống pháp luật tại Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau Sau giải phóng, ưu tiên hàng đầu là xây dựng đất nước, dẫn đến việc khoa học và công nghệ chưa được chú trọng, và kinh nghiệm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ còn hạn chế.

Cải cách mở cửa và chính sách đổi mới đã thay đổi nhận thức của người dân về khoa học và công nghệ Việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và nhu cầu giao thương quốc tế yêu cầu Việt Nam xây dựng hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.

Trước thực tế đó, hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam bắt đầu được hình thành từ đầu thập niên 1980 của thế kỷ 20 (trước năm

Từ năm 1980, Nhà nước đã ban hành một số văn bản pháp luật liên quan đến quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp, nhưng chủ yếu tập trung vào việc thúc đẩy hoạt động sáng tạo mà chưa coi đó là tài sản cần bảo hộ Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ đã trải qua các giai đoạn hình thành, củng cố và phát triển, bắt đầu chỉ với các nghị định của Chính phủ điều chỉnh từng nhóm đối tượng riêng lẻ Đến năm 1995, quyền sở hữu trí tuệ đã được quy định trong Bộ luật Dân sự, và đặc biệt, năm 2005, Quốc hội thông qua Luật Sở hữu trí tuệ để đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế, cùng với các văn bản hướng dẫn thực hiện từ Chính phủ và các cơ quan liên quan.

Luật Sở hữu trí tuệ đã được sửa đổi và bổ sung vào tháng 6 năm 2009, nhằm khắc phục những bất cập và đáp ứng nhu cầu mới trong bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế.

Hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam, mặc dù mới hình thành, đã phát triển nhanh chóng và phù hợp với đặc thù phát triển của đất nước Hệ thống pháp luật và các cơ quan sở hữu trí tuệ đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho cả doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài trong việc đầu tư và kinh doanh tài sản trí tuệ tại Việt Nam.

2.2.2 Hệ thống quản lý sở hữu trí tuệ

Với sự phát triển của hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ, các cơ quan quản lý nhà nước cũng đã được thành lập để thực hiện chức năng quản lý trong lĩnh vực này.

 Cục Sở hữu trí tuệ:

Năm 1959, Uỷ ban Khoa học Nhà nước được thành lập với Phòng Sáng kiến cải tiến kỹ thuật Đến năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 125/HĐBT để sửa đổi tổ chức bộ máy của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, trong đó Cục Sáng chế trở thành một đơn vị trực thuộc Cục Sáng chế sau đó được đổi tên thành Cục Sở hữu công nghiệp và hiện nay là Cục Sở hữu trí tuệ Cơ quan này thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, chịu trách nhiệm quản lý nhà nước và đảm bảo các hoạt động chuyên ngành về sở hữu trí tuệ.

Cục Bản quyền tác giả, được thành lập vào năm 1987 và thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, là cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan trên toàn quốc.

 Văn phòng Bảo hộ giống cây trồng trực thuộc Cục Trồng trọt của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, được thành lập năm 2002 là cơ quan quản lý nhà nước trong phạm vi toàn quốc về giống cây trồng mới

Hệ thống thực thi quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo các quyền này được tôn trọng Để hỗ trợ các quy định về xác lập quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật, các cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ cũng cần được quy định một cách đầy đủ.

Các khái niệm cơ bản về sở hữu trí tuệ

Tài sản trí tuệ bao gồm các sản phẩm từ hoạt động sáng tạo và đầu tư, thương mại, như ý tưởng, tác phẩm văn học nghệ thuật, kết quả nghiên cứu khoa học, sáng chế và phần mềm máy tính.

Tài sản trí tuệ có một số đặc tính cơ bản sau:

 Là một bộ phận của tài sản vô hình;

 Là thành quả đầu tư sáng tạo trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, khoa học công nghệ hoặc thành quả đầu tư uy tín thương mại;

 Tồn tại dưới dạng thông tin và có khả năng lan truyền vô tận;

 Dễ bị người khác sao chép;

 Có thể định giá được bằng tiền và có thể được trao đổi, mua bán;

Tài sản của doanh nghiệp không chỉ có khả năng gia tăng giá trị mà còn có thể bị hao mòn Trước đây, giá trị tài sản được đánh giá dựa trên các tài sản hữu hình như nhà xưởng và máy móc, nhưng hiện nay, các công ty lớn trên thế giới chủ yếu sở hữu tài sản vô hình.

Trong tổng giá trị tài sản của các công ty lớn, tỷ lệ tài sản vô hình chiếm phần lớn, chẳng hạn như Công ty Walt Disney với 70,9%, Philip Morris 78,8%, Johnson & Johnson 87,9%, Procter & Gamble 88,5%, và Microsoft lên tới 97,8% Theo đánh giá của Tạp chí Thương hiệu thế giới năm 2009, giá trị nhãn hiệu Coca Cola đạt 68,734 tỷ đô la Mỹ, IBM 60,211 tỷ đô la, và McDonald's 32,275 tỷ đô la.

3.2 Quyền sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ là các quyền hợp pháp liên quan đến tài sản trí tuệ Hiện tại, chưa có khái niệm thống nhất về sở hữu trí tuệ trong các điều ước quốc tế và pháp luật của các quốc gia, mà thường chỉ liệt kê các phạm trù của nó một cách tổng quát.

Công ước thành lập WIPO năm 1967 quy định rằng sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền đối với:

 Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học;

 Chương trình biểu diễn của các nghệ sỹ biểu diễn, các bản ghi âm và chương trình phát thanh, truyền hình;

 Sáng chế trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người;

 Các phát minh khoa học;

 Nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn thương mại và tên thương mại;

 Bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh;

 Tất cả những quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật

Kể từ khi Công ước này được thông qua, quyền sở hữu trí tuệ đã được mở rộng, bao gồm quyền đối với giống cây trồng, mạch tích hợp bán dẫn, bí mật thương mại, thông tin bí mật và thể hiện nghệ thuật truyền thống dân gian Phần II của Hiệp định TRIPS liệt kê một danh mục đầy đủ về các quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và thông tin bí mật.

Theo pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới, quyền sở hữu trí tuệ được chia thành các nhánh sau:

 Quyền tác giả và các quyền liên quan đến quyền tác giả:

+ Quyền tác giả: là quyền hợp pháp đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học;

Quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền hợp pháp bảo vệ các buổi biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, cũng như các buổi phát sóng và tín hiệu vệ tinh chứa chương trình đã được mã hóa.

Quyền sở hữu công nghiệp là quyền hợp pháp liên quan đến các đối tượng như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bí mật thương mại và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

 Quyền đối với giống cây trồng: là quyền hợp pháp đối với giống cây trồng mới được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển.

Các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ

Vào cuối thế kỷ 19, vấn đề phối hợp quốc tế trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã được đặt ra, dẫn đến sự ra đời của hai công ước quan trọng Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp là một trong những kết quả rõ nét nhất của nỗ lực này, đánh dấu bước tiến trong việc bảo vệ các thành quả sáng tạo trí tuệ trên toàn cầu.

(1883) và Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật

Từ năm 1886, hoạt động phối hợp quốc tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đã phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn chiều sâu Ngoài các điều ước quốc tế chung, đã xuất hiện nhiều điều ước riêng biệt dành cho từng đối tượng cụ thể như sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả và quyền liên quan.

Ngày càng nhiều điều ước quốc tế song phương và khu vực được ký kết giữa các quốc gia, bất kể chế độ chính trị, kinh tế hay vị trí địa lý.

(1) Thông tin chi tiết về các điều ước quốc tế nêu tại mục này có trên trang web của Cục

Sở hữu trí tuệ: www.noip.gov.vn

4.1 Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (Công ước Paris)

Công ước Paris, ký kết vào ngày 20/3/1883 tại Paris, đã trải qua nhiều lần xem xét và sửa đổi tại các thành phố như Brussels (1900), Washington (1911), Lahay (1925), Luân Đôn (1934), Lisbon (1958), Stockholm (1967) và được sửa đổi vào năm 1979 Ban đầu, Công ước có 11 thành viên, nhưng đến giữa năm 2010, số lượng này đã tăng lên 173 nước, trong đó Việt Nam gia nhập vào ngày 8/3/1949.

Công ước Paris bao gồm 46 điều, quy định về sở hữu công nghiệp, bao gồm sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, mẫu hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc, tên gọi xuất xứ, và các biện pháp chống cạnh tranh không lành mạnh.

Công ước Paris quy định các nguyên tắc quan trọng liên quan đến đối xử quốc gia, quyền ưu tiên và nguyên tắc lãnh thổ trong quyền sở hữu công nghiệp.

4.2 Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật

Công ước Berne, được thông qua vào ngày 9/9/1886, là điều ước quốc tế lâu đời nhất trong lĩnh vực bản quyền tác giả Để nâng cao hệ thống bảo hộ quốc tế, Công ước đã trải qua nhiều lần sửa đổi, với lần sửa đổi cơ bản đầu tiên diễn ra tại Berlin vào năm 1908, tiếp theo là các lần sửa đổi tại Rome (1928), Brussels (1984), Stockholm (1967) và Paris (1971) Đến giữa năm 2010, có 164 quốc gia trở thành thành viên của Công ước Berne, trong đó Việt Nam chính thức gia nhập vào ngày 16/10/2004.

Công ước Berne nhằm bảo vệ hiệu quả và thống nhất quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật Điều 1 khẳng định rằng các quốc gia tham gia phải công nhận và bảo vệ quyền này.

(1) Nguyên văn tiếng Anh của Công ước và danh sách các thành viên của Công ước có trên trang web: http://www.wipo.int/treaties/en/ip/paris/

Công ước Berne, được thông qua vào năm 1886, là một hiệp định quốc tế nhằm bảo vệ quyền lợi của các tác giả đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật Công ước này cung cấp cho các nhà sáng tạo, bao gồm tác giả, nhạc sĩ, nhà thơ và họa sĩ, quyền kiểm soát việc sử dụng tác phẩm của họ Thông tin chi tiết về Công ước và danh sách các thành viên có thể được tìm thấy trên trang web của WIPO.

Các nguyên tắc cơ bản của Công ước bao gồm nguyên tắc "đối xử quốc gia", quy định bảo hộ tự động mà không cần thủ tục đăng ký, và nguyên tắc bảo hộ độc lập, thể hiện tính lãnh thổ của quy định.

Hiệp ước hợp tác sáng chế (Patent Cooperation Treaty - PCT) được thông qua vào tháng 6 năm 1970 tại Washington, D.C nhằm khắc phục các vấn đề trong hệ thống sáng chế quốc gia Hiệp ước này chính thức có hiệu lực từ ngày 24/1/1978 và hoạt động từ ngày 1/6/1978 với 18 nước thành viên ban đầu Tính đến giữa năm 2010, có 142 quốc gia tham gia PCT, trong đó Việt Nam gia nhập vào ngày 10/3/1993.

Hệ thống PCT hỗ trợ các cơ quan sáng chế quốc gia trong bối cảnh hạn chế về nguồn nhân lực và cơ sở dữ liệu, đồng thời đơn giản hóa thủ tục và giảm chi phí cho người nộp đơn khi muốn bảo hộ sáng chế tại nhiều quốc gia khác nhau.

4.4 Thoả ước Madrid và Nghị định thư Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu

Hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu, hay còn gọi là Hệ thống Madrid, được điều chỉnh bởi Thoả ước Madrid (có hiệu lực từ năm 1891) và Nghị định thư Madrid (có hiệu lực từ 01/12/1995, chính thức hoạt động từ 01/04/1996) Tính đến giữa năm 2010, hệ thống này đã thu hút 56 quốc gia tham gia Thoả ước Madrid và 81 quốc gia tham gia Nghị định thư Madrid.

Hiệp ước Madrid và danh sách các thành viên có thể được tìm thấy trên trang web của WIPO Việt Nam đã tham gia Thoả ước Madrid vào ngày 8 tháng 3 năm 1949 và gia nhập Nghị định thư Madrid vào ngày 11 tháng 7 năm 2006.

Hệ thống Madrid cho phép công dân và pháp nhân của các nước thành viên bảo hộ nhãn hiệu cho hàng hóa và dịch vụ tại các quốc gia khác khi nhãn hiệu đã được đăng ký hoặc nộp đơn tại nước xuất xứ Quá trình này diễn ra thông qua việc nộp đơn quốc tế tại Văn phòng quốc tế của WIPO, thông qua Cơ quan Nhãn hiệu tại nước xuất xứ Một trong những ưu điểm nổi bật của hệ thống Madrid là chủ nhãn hiệu chỉ cần nộp một đơn duy nhất bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp cho Văn phòng quốc tế sau khi nhãn hiệu đã được đăng ký tại Cơ quan xuất xứ.

Hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành của Việt Nam

Việt Nam đã xây dựng một hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ hoàn chỉnh, với các quy định chặt chẽ và đồng bộ từ Hiến pháp đến các luật chuyên ngành như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Hải quan Cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam rõ ràng và minh bạch, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quốc tế.

5.1 Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ và điều kiện bảo hộ

 Quyền tác giả Đối tượng bảo hộ của quyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, bao gồm:

 Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc các ký tự khác;

 Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

 Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự;

 Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;

 Bản hoạ đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học;

(1) Tham khảo các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ tại trang web: www.noip.gov.vn; www.cov.gov.vn; www.mard.gov.vn

 Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;

Để được bảo hộ, chương trình máy tính và sưu tập dữ liệu cần có tính nguyên gốc và phải được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phân biệt về nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện hay ngôn ngữ thể hiện.

 Quyền liên quan Đối tượng bảo hộ của quyền liên quan gồm:

 Cuộc biểu diễn, trình diễn;

 Bản ghi âm, ghi hình;

Chương trình phát sóng và tín hiệu vệ tinh chứa nội dung được mã hóa nhằm bảo vệ quyền lợi của các đối tượng liên quan Những đối tượng này không được làm tổn hại đến quyền tác giả của tác phẩm đã được trình diễn, ghi âm và phát sóng, đảm bảo sự tuân thủ các quy định về bản quyền trong lĩnh vực truyền thông.

Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết vấn đề cụ thể bằng cách ứng dụng quy luật tự nhiên Để được bảo hộ bằng Bằng độc quyền sáng chế, giải pháp cần có tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp Ngược lại, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích yêu cầu giải pháp không phải là hiểu biết thông thường, có tính mới và khả năng áp dụng công nghiệp.

Kiểu dáng công nghiệp bảo vệ hình dáng bên ngoài của sản phẩm, bao gồm hình khối, đường nét và màu sắc Để được bảo hộ, kiểu dáng cần đáp ứng ba tiêu chí: tính mới so với thế giới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng trong công nghiệp.

Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn được bảo hộ với đối tượng là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết giữa chúng Để được bảo vệ, thiết kế này cần đáp ứng hai tiêu chí quan trọng: tính nguyên gốc và tính mới thương mại.

Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính và trí tuệ, chưa được công khai và có khả năng ứng dụng trong lĩnh vực kinh doanh Để được bảo vệ, thông tin này phải đáp ứng những tiêu chí nhất định.

 Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được;

Sử dụng bí mật kinh doanh mang lại lợi thế cạnh tranh cho người sở hữu, giúp họ vượt trội hơn so với những người không nắm giữ hoặc không khai thác bí mật đó.

 Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa và dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau Theo pháp luật Việt Nam, chỉ những dấu hiệu thể hiện dưới dạng đồ họa mới được bảo hộ, trong khi các dấu hiệu âm thanh, mùi vị và những dấu hiệu không nhìn thấy bằng mắt thường sẽ không được bảo vệ Để được cấp quyền bảo hộ, nhãn hiệu cần đáp ứng hai điều kiện cụ thể.

Dấu hiệu là biểu hiện rõ ràng dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, bao gồm cả hình ba chiều và sự kết hợp của các yếu tố này, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.

 Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác

Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu nhận diện sản phẩm có nguồn gốc từ một khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia cụ thể Để được bảo hộ, chỉ dẫn địa lý cần đáp ứng hai điều kiện quan trọng.

 Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý;

Sản phẩm có chỉ dẫn địa lý nổi bật với danh tiếng và chất lượng, chủ yếu được hình thành bởi các điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, hoặc quốc gia tương ứng.

Tên thương mại là tên gọi mà tổ chức hoặc cá nhân sử dụng trong hoạt động kinh doanh, nhằm phân biệt mình với các chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực Khu vực kinh doanh được xác định là khu vực địa lý nơi mà chủ thể có khách hàng, bạn hàng hoặc danh tiếng.

Tên thương mại và nhãn hiệu đều có chức năng phân biệt, nhưng tên thương mại dùng để phân biệt các doanh nghiệp với nhau, trong khi nhãn hiệu phân biệt hàng hoá và dịch vụ Để được bảo hộ, tên thương mại cần có khả năng phân biệt doanh nghiệp sở hữu với các doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

 Giống cây trồng Đối tượng bảo hộ là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch

Giống cây trồng là quần thể cây thuộc cùng một cấp phân loại thực vật, có hình thái đồng nhất và ổn định qua các chu kỳ nhân giống Chúng có thể nhận biết qua các tính trạng di truyền, khác biệt với các quần thể cây trồng khác Để được bảo hộ, giống cây trồng cần phải được chọn tạo hoặc phát hiện, thuộc Danh mục loài cây trồng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành, và phải đáp ứng các tiêu chí như tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định và có tên gọi phù hợp.

5.2 Căn cứ phát sinh quyền sở hữu trí tuệ

 Căn cứ phát sinh quyền tác giả và quyền liên quan

Ngày đăng: 02/07/2021, 23:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Bài viết: "Khai thác hiệu quả thông tin Sở hữu công nghiệp", S. Suzuki Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác hiệu quả thông tin Sở hữu công nghiệp
8. Bài viết: "Hệ thống thông tin Sở hữu công nghiệp ở Việt Nam: Hiện trạng và tương lai" – Phạm Phi Anh  Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống thông tin Sở hữu công nghiệp ở Việt Nam: Hiện trạng và tương lai
Tác giả: Phạm Phi Anh
1. Cẩm nang sở hữu trí tuệ: Chính sách, pháp luật và áp dụng  Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, 2005 Khác
2. Những điều cần biết về sở hữu trí tuệ  Tài liệu hướng dẫn dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ  Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, 2009 Khác
3. Quyền sở hữu trí tuệ bảo vệ thành quả đầu tư của doanh nghiệp – Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương, 2007 Khác
4. Sở hữu trí tuệ  Một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế  Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới Khác
5. Các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập Khác
6. Báo cáo thường niên hoạt động của Cục Sở hữu trí tuệ năm 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w