1. Trang chủ
  2. » Tất cả

THS2384_Nguyen Luong Thien_GVHD Hoang Van Sam

98 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Bảo Tồn Thực Vật Ngành Thông (Pinophyta) Tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Xuân Nha, Tỉnh Sơn La
Tác giả Nguyễn Lương Thiện
Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Văn Sâm, TS. Lê Viết Lâm
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản Lý Tài Nguyên Rừng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (13)
    • 1.1. Nghiên cứu trên thế giới (13)
    • 1.2. Nghiên cứu tại Việt Nam (15)
    • 1.3. Nghiên cứu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha (22)
  • Chương 2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (24)
    • 2.2 Đối tượng nghiên cứu (24)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (24)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (25)
      • 2.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu (25)
      • 2.4.2. Phương pháp ngoại nghiệp (25)
      • 2.4.3. Phương pháp nội nghiệp (28)
  • Chương 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (30)
    • 3.1. Vị trí và ranh giới (30)
    • 3.2. Địa hình (30)
    • 3.3. Địa chất và thổ nhưỡng (31)
    • 3.4. Khí hậu, thuỷ văn (33)
    • 3.5. Tình hình chung về khu hệ thực vật (34)
    • 3.6. Dân số, dân tộc, lao động, phân bố dân cư, tỷ lệ tăng dân số (37)
      • 3.6.1. Tổng dân số 4 xã (37)
    • 3.7. Tập quán canh tác, sinh hoạt văn hoá (37)
      • 3.7.1. Tập quán canh tác (37)
      • 3.7.2. Sinh hoạt văn hoá, phong tục tập quán (38)
    • 3.8. Tình hình kinh tế (38)
      • 3.8.1. Các hoạt động kinh tế (38)
      • 3.8.2. Những tác động ảnh hưởng tới khu bảo tồn (39)
      • 3.8.3. Phân mức độ giàu nghèo (39)
    • 3.9. Văn hoá giáo dục, y tế, giao thông (40)
  • Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (42)
    • 4.1. Kết quả nghiên cứu t hành phần và xác định sự phân bố của các loài thuộc ngành Thông (Pinophyta) theo đai cao tại KBTTN Xuân Nha (42)
      • 4.1.1. Thành phần các loài thuộc ngành Thông tại KBTTN Xuân Nha. 33 4.1.2. Xác định sự phân bố của các loài theo đai cao (42)
    • 4.2. Hiện trạng bảo tồn các loài thuộc ngành Thông tại KBTTN Xuân Nha (8)
    • 4.3. Đặc điểm lâm học một số loài thuộc ngành Thông (Pinophyta) tại KBTTN Xuân Nha (48)
      • 4.3.1. Pơ mu (48)
      • 4.3.2. Du sam núi đất (0)
      • 4.3.3. Thông nàng (57)
      • 4.3.4. Kim giao (60)
      • 4.3.5. Bách xanh (62)
      • 4.3.6. Hoàng đàn giả (65)
      • 4.3.7. Dẻ tùng sọc trắng (67)
      • 4.3.8. Thông Pà cò (69)
      • 4.3.9. Sa mộc dầu (71)
    • 4.4. Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thuộc ngành Thông (Pinophyta) tại KBTTN Xuân Nha (74)
      • 4.4.1. Giải pháp về kỹ thuật (74)
      • 4.4.2. Giải pháp về cơ chế, chính sách và thu hút nguồn vốn đầu tư (77)
      • 4.4.3. Hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật (78)
      • 4.4.4. Giải pháp về kinh tế - xã hội (78)
  • PHỤ LỤC (84)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu trên thế giới

Thế giới thực vật vô cùng phong phú và đa dạng với khoảng 250.000 loài thực vật bậc cao, trong đó ngành Thông chiếm hơn 600 loài, một con số đáng kể.

Cây thuộc ngành Thông, có nguồn gốc từ cách đây hơn 300 triệu năm, là những loài cây cổ xưa nhất Ở Châu Âu, các vùng rừng tự nhiên nổi tiếng với các loài như Vân sam (Picea) và Thông.

(Pinus); Bắc Mỹ với các loài Thông (Pinus), Cù tùng (Sequoia, Sequoiadendron) và Thiết sam (Pseudotsuga); Đông Á như Trung Quốc và

Nhật Bản với các loài Tùng bách (Cupressus, Juniperus) và Liễu sam

Cây thuộc ngành Thông, như Cryptomeria, đã đóng góp đáng kể vào nền kinh tế của nhiều quốc gia như Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan và New Zealand Trung Quốc có một lịch sử lâu dài với các cây thông cổ thụ, mà tuổi thọ của chúng có thể được xác định qua các địa điểm nổi tiếng như cây Tùng ngũ đại phu trên núi Thái Sơn và cây Bạch quả đời Hán trên núi Thanh Thành Trên thế giới, nhiều cây cổ thụ khác cũng rất nổi tiếng, như cây Cù tùng ở California đã hơn 3.000 năm tuổi và cây Tuyết tùng trên đảo Ryukyu có tuổi thọ lên đến 7.200 năm Tại Li Băng, một khu rừng với 400 cây Bách Libăng nổi tiếng từ thời tiền sử vẫn còn tồn tại, trong đó có 13 cây cổ thụ hàng nghìn năm tuổi.

Cây thuộc ngành Thông là một trong những nhóm cây quan trọng nhất trên thế giới, đóng vai trò thiết yếu trong việc lọc khí carbon và điều hòa khí hậu toàn cầu Các khu rừng thông ở Bắc bán cầu không chỉ giúp điều hòa nước cho các hệ thống sông ngòi mà còn ảnh hưởng đến tình trạng lũ lụt ở các quốc gia như Trung Quốc và Ấn Độ do khai thác rừng quá mức Nhiều loài thực vật, động vật và nấm phụ thuộc vào cây thông để tồn tại, và sự mất mát của chúng có thể dẫn đến tuyệt chủng Ngành Thông cung cấp gỗ cho xây dựng, ván ép, bột giấy và nhiều sản phẩm khác, trong đó có những loài gỗ quý như Fitzroya cupressoides ở Chi Lê, có tuổi thọ trên 3.600 năm Thông Pinus radiata là loài thông được trồng phổ biến nhất, là nguyên liệu chính cho ngành công nghiệp rừng ở Úc, Nam Mỹ và Nam Phi Cây thông cũng cung cấp nhựa quan trọng và hạt của chúng là nguồn thực phẩm cho người dân ở nhiều vùng xa xôi Ngoài ra, cây thông chứa các hoạt chất sinh hóa được sử dụng trong điều trị bệnh ung thư và HIV, đồng thời có vai trò văn hóa quan trọng trong các nền văn minh phương Đông và phương Tây.

Anh Điêng ở Pehuenche, Chi Lê tin rằng các cây đực và cây cái loài Bách tán (Araucaria araucana) mang các linh hồn tạo nên thế giới của họ [12], [15]

Hiện nay, hơn 200 loài cây thuộc ngành Thông đang bị đe dọa tuyệt chủng toàn cầu, với nhiều loài khác cũng gặp nguy hiểm trong phân bố tự nhiên của chúng Các mối đe dọa chính bao gồm khai thác gỗ quá mức, phá rừng để chăn thả gia súc, trồng trọt, và xây dựng nơi ở cho con người, cùng với sự gia tăng các đám cháy rừng Việc bảo tồn cây thuộc ngành Thông là rất quan trọng cho thế giới, do đó cần triển khai nhiều chiến lược bảo tồn và sử dụng bền vững Bảo tồn tại chỗ qua việc thành lập các Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên là một giải pháp hiệu quả cho những khu vực còn rừng nguyên sinh Công tác bảo tồn cần sự hợp tác từ nhiều ngành nghề và tổ chức, với việc định danh chính xác các loài cây mục tiêu và cập nhật thông tin ở các cấp độ khác nhau.

Nghiên cứu tại Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam có khoảng 29 loài cây thuộc ngành Thông Mặc dù chỉ dưới 5% số loài cây trong ngành Thông trên toàn thế giới được phát hiện tại Việt Nam, nhưng ngành Thông Việt Nam lại chiếm 27% số các chi và 5 trong 8 họ đã biết.

Bảng 1.1 Cây thuộc ngành Thông ở Việt Nam trong so sánh với thế giới

Họ Số các chi / loài trên thế giới

Số loài / loài đặc hữu ở Việt Nam

Bách tán (Araucariaceae) 3/ 41 0 0/0 Đỉnh tùng (Cephalotaxaceae) 1/5-11 1 1/0

Một loài Thông mới được phát hiện ở Việt Nam có khả năng là loài đặc hữu Hiện tại, số lượng các loài Thông tre ở miền Bắc Việt Nam vẫn chưa được xác định rõ ràng, có thể tồn tại từ 2 đến 3 loài chưa được mô tả, và những loài này cũng có thể là loài đặc hữu.

Các loài cây ngành Thông ở Việt Nam mang ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là hai chi đặc hữu Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis) và Thuỷ tùng (Glyptostrobus pensilis) Chi Bách vàng được phát hiện vào năm 1999, trong khi chi Thuỷ tùng chỉ còn hai quần thể nhỏ với tổng số cây dưới 250 cây tại tỉnh Đắk Lắk, đại diện cho một dòng giống cây cổ xưa Hóa thạch của chúng đã được tìm thấy ở nhiều nơi, bao gồm cả Anh Năm 2001, một quần thể nhỏ hơn 100 cây Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides) cũng được phát hiện tại tỉnh này.

Lào Cai vừa phát hiện quần thể lớn của loài Sa mộc dầu Cunninghamia konishii, một chi cổ chỉ gồm hai loài, trước đây chỉ được biết đến ở Đài Loan, Vân Nam và Đông Bắc Myanmar Sự xuất hiện của loài này tại Nghệ An và các vùng lân cận đánh dấu một phát hiện quan trọng trong nghiên cứu thực vật học.

Lào Bốn trong số 6 loài Dẻ tùng (Amentotaxus) được biết (họ Thông đỏ -

Tại Việt Nam, có sự hiện diện của các loài cây thuộc họ Taxaceae, trong đó hai loài đặc hữu là Dẻ tùng pô lan (A poilanei) và Dẻ tùng sọc nâu (A hatuyenensis) Ngoài ra, các quần thể chính của Dẻ tùng sọc trắng (A argotaenia) và Dẻ tùng Vân Nam (A yunnanensis) cũng nằm trong lãnh thổ Việt Nam Đặc biệt, thông ba lá (Pinus kesiya), mặc dù không phải là loài đặc hữu, nhưng lại có ý nghĩa lớn, với nguồn gốc từ Đông Bắc Ấn Độ đến Philippines, và các giống cây ở Việt Nam đã cho năng suất cao nhất trong các thử nghiệm tại châu Phi và châu Úc Những thực tế này khẳng định tầm quan trọng của các loài thông Việt Nam đối với thế giới.

Ngành Thông Việt Nam đóng vai trò quan trọng nhờ vào sự ổn định địa chất và khí hậu trong hàng triệu năm, cùng với địa hình đa dạng và nhiều kiểu sinh cảnh Mặc dù khí hậu trái đất đã trở nên khô và lạnh hơn, nhiều loài cây ưa ấm và ẩm đã bị tuyệt chủng, nhưng một số loài vẫn di cư đến vùng khí hậu phù hợp như Tây Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam Các loài như Sa mộc (Cunninghamia konishii), Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides) và Dẻ tùng (Amentotaxus argotaenia) từng có phân bố rộng rãi Phạm vi vĩ độ và độ cao của Việt Nam tạo điều kiện cho sự tồn tại của nhiều sinh cảnh thích hợp, cho phép một số loài cây sống sót Những thay đổi khí hậu ở Bắc bán cầu đã ảnh hưởng đến ngành Thông, khiến một số loài tuyệt chủng hoặc di cư, trong khi một số khác tiến hóa để thích nghi Thông lá dẹt (Pinus krempfii) là loài cổ còn sót lại, trong khi Thông ba lá (P kesiya) là loài mới tiến hóa Sự gần gũi địa lý với vùng nhiệt đới cũng cho phép các loài thuộc họ Kim giao (Podocarpaceae) di cư lên phía Bắc, tạo nên sự đa dạng trong hệ thực vật ngành Thông Việt Nam với sự pha trộn giữa các loài từ Bắc và Nam bán cầu.

Ngành Thông Việt Nam gặp ở 4 vùng chính sau:

Hầu hết các loài Thông tự nhiên tại Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ bị đe dọa ở nhiều mức độ khác nhau Nhiều loài trong số này, như Pơ mu (Fokienia hodginsii) và Bách vàng, cung cấp gỗ quý, rất phù hợp cho việc chế tác đồ mỹ nghệ.

Các loài cây như Xanthocyparis, Thông Pinus, Du sam Keteleeria evelyniana, Pơ mu Fokienia hodginsii và Sa mộc dầu Cunninghamia konishii chủ yếu được sử dụng trong xây dựng Bên cạnh đó, một số loài khác như Hoàng đàn Cupressus funebris, Pơ mu Fokienia hodginsii và Bách xanh Calocedrus macrolepis có giá trị quý báu trong sản xuất hương liệu Ngoài ra, Kim giao cũng được sử dụng trong y học truyền thống.

Nageia fleuryi) hay y học hiện đại (Thông đỏ Taxus chinensis) Một số loài

Hình 1.1: Các vùng phân bố chính của Thông ở Việt Nam

3: Tây Bắc và Bắc Trung bộ

Nhiều loài cây chỉ được tìm thấy tại địa phương và có phân bố hạn chế, như Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis), đang đối mặt với nguy cơ do khai thác trực tiếp và việc chuyển đổi rừng thành đất nông nghiệp, đặc biệt ở vùng núi cao từ 800 đến 1.500m, nơi sinh sống của các loài như Du sam (Keteleeria evelyniana) và Bách xanh (Calocedrus macrolepis) Việc chia cắt các cánh rừng thành những khu vực nhỏ khiến chúng dễ bị cháy và chịu ảnh hưởng từ việc giảm tính di truyền Các loài với quần thể tự nhiên nhỏ, như nhiều loài trong họ Kim giao (Podocarpaceae), rất nhạy cảm với những mối đe dọa này Trong khi đó, những loài có phân bố rộng, như Du sam (Keteleeria evelyniana), có thể tạo cảm giác an toàn hơn, nhưng thực tế, khai thác quá mức và nạn phá rừng vẫn là vấn đề nghiêm trọng ở tất cả các nước Đông Nam Á.

Loài cây Hoàng đàn (Cupressus funebris) ở Đông Bắc Việt Nam đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, với chỉ một cây còn lại trong tự nhiên sau 5 năm Các cây khác đã bị chặt lấy gỗ và khai thác rễ để làm hương Loài Thuỷ tùng (Glyptostrobus pensilis) chỉ tồn tại ở hai khu bảo tồn nhỏ tại tỉnh Đắk Lắk, với số lượng còn lại dưới 250 cây, nhiều trong số đó đã bị ảnh hưởng bởi cháy rừng Hầu hết sinh cảnh của loài này đã bị chuyển đổi thành vườn cà phê, không có cây tái sinh Nếu không có biện pháp bảo tồn toàn diện, nhiều loài khác như Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides) và Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis) cũng sẽ đối mặt với tình trạng tương tự.

Trong 15 năm qua, nhiều Vườn quốc gia và khu bảo tồn đã được thiết lập tại Việt Nam nhằm bảo vệ các quần thể cây Thông đang bị đe dọa Mặc dù có các quy định pháp luật để ngăn chặn khai thác trái phép, tình trạng khai thác hợp pháp và trái phép vẫn là vấn đề nghiêm trọng Các loài có giá trị kinh tế cao thường gặp nguy cơ lớn, do đó, bảo tồn tại chỗ cần được bổ sung bởi các chương trình bảo tồn chuyển vị và lâm sinh Những chương trình này cần bao gồm kế hoạch giáo dục, thu hái và bảo quản hạt giống, trồng phục hồi và làm giàu rừng trong và xung quanh khu bảo tồn Các loài cây dẫn nhập cũng có thể hỗ trợ cho công tác bảo tồn tại chỗ.

Hai loài cây trong ngành Thông đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, vì vậy việc ngăn chặn các loài cây khác gia nhập danh sách này là mối quan tâm chung của tất cả mọi người.

Nhiều loài Thông có giá trị kinh tế và khoa học đã được nghiên cứu để phục vụ cho công tác bảo tồn và trồng rừng Tại Việt Nam, trong số 30 loài Thông, hơn một nửa đã được thử nghiệm nhân giống bằng giâm hom Hai tác giả Nguyễn Hoàng Nghĩa và Trần Văn Tiến đã thực hiện thí nghiệm nhân giống cho các loài Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Pơ mu (Fokienia hodginsii) và Thông đỏ (Taxus wallichiana) tại Lâm Đồng, sử dụng hom Bách xanh từ cây 2 tuổi và 7-8 tuổi, Pơ mu từ cây non 1 tuổi, và Thông đỏ từ cây lớn trong rừng tự nhiên, với các hom được xử lý bằng nhiều loại chất điều hòa sinh trưởng ở các nồng độ khác nhau.

Huỳnh Văn Kéo, Lương Viết Hùng, và Trương Văn Lung đã tiến hành nghiên cứu về việc giâm hom loài Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum) với việc sử dụng IBA ở các nồng độ khác nhau như một chất điều hòa sinh trưởng Kết quả cho thấy loài Hoàng đàn giả có khả năng nhân giống bằng hom, tuy nhiên tỷ lệ ra rễ của hom thu hái từ cây trưởng thành thấp hơn so với cây non Nhiều nghiên cứu khác cũng đã được thực hiện về thực vật ngành Thông tại Việt Nam.

Bộ thực vật chí Đông Dương, do H Lecomte chủ biên từ năm 1907 đến 1952, là một công trình quan trọng của các tác giả người Pháp, trong đó thu thập, định tên và mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn lãnh thổ Đông Dương Đặc biệt, các loài ngành Thông đã được giới thiệu và mô tả một cách rõ ràng trong bộ tài liệu này.

Trên cơ sở bộ thực vật chí Đông Dương, gần đây bộ thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville khởi xướng và chủ biên (1960-

1997) cùng với nhiều tác giả khác đã công bố rất nhiều các loài cây có mạch Trong đó các loài ngành Thông đã được giới thiệu

Nghiên cứu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha

Những nghiên cứu về thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha phải kể đến là:

Năm 2003, Ths Nguyễn Quang Huy cùng cán bộ Trung tâm phát triển rừng đã thực hiện báo cáo chuyên đề “Đặc điểm tài nguyên thực vật Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha”, thống kê 1101 loài thực vật và các loài quý hiếm như Pơ mu, Du sam núi đất, Thông tre, Thông pà cò, Thông nàng và Kim giao Báo cáo cũng đề xuất giải pháp bảo tồn và phục hồi tài nguyên rừng cho khu bảo tồn Đến năm 2007, TS Trần Huy Thái đã công bố nghiên cứu về đa dạng sinh học và hệ sinh thái khu bảo tồn, cập nhật danh lục thực vật với loài Sa mộc dầu, một loài quý hiếm có ý nghĩa khoa học và bảo tồn tại KBTTN Xuân Nha.

TS Lê Trần Chấn từ Trung tâm đa dạng và an toàn sinh học đã trình bày báo cáo tổng hợp dự án "Điều tra đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La" vào năm 2012 Báo cáo này đã ghi nhận 911 loài thực vật và cập nhật danh mục thực vật thuộc ngành Thông.

Ba loài quý hiếm gồm Thông đỏ (Taxus chinensis), Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia) và Thông xuân nha (Pinus armandii) vừa được ghi nhận tại Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm sự đa dạng thực vật của ngành Thông Nghiên cứu này đặt ra những thách thức mới cho các nhà bảo tồn tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Nha.

Năm 2013, nhóm nghiên cứu thuộc trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) đã công bố tài liệu "Chỉ dẫn về các loài Thông ở vùng núi Mai Châu – Mộc Châu của tỉnh Hòa Bình – Sơn La" Tài liệu này đã thống kê một cách đầy đủ về các loài Thông quý hiếm tại khu vực, bao gồm Thông đỏ (Taxus chinensis), Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia) và Thông tre.

(Podocarpus neriifolius), Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus) tại KBTTN Xuân Nha và KBTTN Hang Kia – Pà Cò.

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các loài thuộc ngành Thông hiện có tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, Sơn La.

Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của cây thuộc ngành Thông ở khu vực nghiên cứu

Nghiên cứu hiện trạng bảo tồn các loài cây thuộc ngành Thông ở khu vực nghiên cứu

Nghiên cứu đặc điểm lâm học của một số loài thực vật quý hiếm thuộc ngành Thông tại khu vực nghiên cứu là cần thiết Bài viết này đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả cho các loài thuộc ngành Thông, nhằm bảo vệ và duy trì sự đa dạng sinh học trong khu vực.

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

Những thông tin, tư liệu về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

Nghiên cứu về các loài cây thuộc ngành Thông tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha và Việt Nam đã được thực hiện bởi nhiều nhà khoa học trong những năm qua, cung cấp những kết quả và văn bản quan trọng liên quan đến sự đa dạng sinh học và giá trị bảo tồn của khu vực này.

2.4.2.1 Điều tra thu thập số liệu theo tuyến

Tuyến điều tra được lập kế hoạch cụ thể trên bản đồ địa hình nhằm kiểm tra các thông tin đã thảo luận với chuyên gia địa phương, bao gồm tình trạng phân bố và bảo tồn.

Các tuyến điều tra được thiết kế để phù hợp với các kiểu sinh cảnh có khả năng xuất hiện các loài trong khu vực Chiều dài của các tuyến này không giống nhau, nhưng đều đảm bảo đi qua tất cả các trạng thái rừng Tuyến được đánh dấu rõ ràng trên bản đồ và thực địa bằng sơn, phấn hoặc dây màu dễ nhận biết.

Các chuyên gia địa phương và cán bộ Kiểm Lâm của Khu bảo tồn đã tiến hành kiểm tra thông tin về sự xuất hiện của các loài thuộc ngành Thông trên tuyến điều tra.

Sử dụng máy định vị GPS giúp xác định sự phân bố của các loài trong các tuyến điều tra, từ đó tạo bản đồ thảm thực vật rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha Các tuyến điều tra được thực hiện nhằm thu thập dữ liệu chính xác về hệ sinh thái nơi đây.

- Tuyến số 1: Bản Khò Hồng – Núi Pha Luông

- Tuyến số 2: Bản Chiềng Hin – Núi Pha Luông

- Tuyến số 3: Bản Pha Luông – Núi Pha Luông

- Tuyến số 4: Bản Thín – Núi Pha Luông

- Tuyến số 5: Bản Chiềng Nưa – Núi Pha Luông

- Tuyến số 6: Bản Tây Tà Lào – Núi Pha Luông

- Tuyến số 7: Bản Ngà – Núi Pha Luông

- Tuyến số 8: Bản Cột Mốc – Núi Pha Luông

- Tuyến số 9: Bản Mường An – Bản An

2.4.2.2 Điều tra thu thập số liệu a/ Điều tra cá thể tầng cây cao Điều tra, thu thập tiêu bản, đo tính tất cả các cá thể loài Thông được tìm thấy có đường kính ngang ngực (D1.3) lớn hơn hoặc bằng 6cm Đo D1.3 bằng thước kẹp kính Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) bằng thước đo cao Blummleiss Đo đường kính tán (Dt) bằng thước dây theo hai chiều Đông Tây - Nam Bắc Đối với những cây khó tới gần (do địa hình hiểm trở) sử dụng phương pháp mục trắc theo kinh nghiệm từ những cây đã đo

Mẫu biểu 01: Biểu điều tra các cây theo tuyến

Tuyến số:……… Kiểu rừng chính:……… Tọa độ điểm đầu….……….Tọa độ điểm cuối……… Ngày điều tra:……… Người điều tra:……… ………

Sinh trưởng Ghi chú b/ Điều tra, đo đếm cây tái sinh Điều tra các loài Thông tái sinh tự nhiên theo tuyến

Quan sát tình trạng tái sinh trên tuyến điều tra Bình quân quan sát kỹ lưỡng khoảng 1/3 chiều dài tuyến, đặc biệt chú ý xung quanh gốc cây mẹ

Mẫu biểu 02: Biểu điều tra cây tái sinh tự nhiên theo tuyến

Tuyến số:……… Trạng thái rừng:……… Tọa độ điểm đầu….……….Tọa độ điểm cuố……… Người đo đếm:……….Ngày đo đếm:………

TT Loài cây Cấp chiều cao (cm) Nguồn gốc tái sinh Sinh trưởng

100 Hạt Chồi Tốt TB Xấu Điều tra các loài Thông tái sinh tự nhiên quanh gốc cây mẹ

Thiết lập các ô dạng bản kích thước 4m 2 (2m x 2m) quanh gốc cây mẹ theo bốn hướng, 04 ô trong tán, 04 ô ngoài tán

Xác định mật độ cây tái sinh: Mật độ cây (N) được tính theo công thức:

N: số cây đếm được trong diện tích S (cây)

S: diện tích đo đếm (m 2 ) c/ Xác định sự phân bố theo đai cao

Sử dụng GPS để xác định độ cao phân bố của từng cá thể thuộc ngành Thông, kết hợp với kết quả điều tra sự phân bố các loài và bản đồ địa hình số hoá theo các độ cao khác nhau, nhằm phân chia chính xác các đai cao Đồng thời, xác định các loài cạnh tranh trong khu vực.

Sử dụng công thức của Hegyi (1974) áp dụng để tính chỉ số cạnh trạnh cho cây trung tâm:

CI là chỉ số cạnh tranh của loài cây j đối với cây trung tâm, CI càng lớn cạnh tranh với cây trung tâm càng mạnh

Dj là các đường kính ngang ngực của cây cạnh tranh j

Di là đường kính ngang ngực của cây trung tâm

Lij là khoảng cách từ cây trung tâm đến cây cạnh tranh j

Bán kính của ô = đường kính tán lớn nhất có thể của cây trung tâm

Số liệu được xử lý trên phần mềm Excel

Tính trị số trung bình của các loài: D1.3(cm), Hvn (m), Hdc (m), Dt (m)

Sử dụng các cấp đánh giá của SĐVN 2007 (Phần II-Thực vật), danh mục đỏ của IUCN (2012), Nghị định 32/CP của Chính phủ và Quyết định 74/2008/QĐ-BNN, các loài động, thực vật hoang dã được quy định trong các phụ lục của Công ước CITES về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp đã được thống kê và bảo vệ.

2.4.3.2 Phỏng vấn chuyên gia địa phương

Làm việc với các chuyên gia lâm nghiệp và bảo tồn thiên nhiên tại địa phương, đặc biệt là cán bộ chuyên môn của Khu bảo tồn, để thảo luận về các vấn đề liên quan đến tài nguyên và môi trường.

+ Thành phần loài có mặt trong KBTTN Xuân Nha từ đó sơ bộ xác định phân bố các loài trên bản đồ (bản đồ phân bố lý thuyết)

+ Phân bố của một số loài trong KBTTN Xuân Nha và những điểm quan trọng khác

- Tiến hành phỏng vấn người dân để thu thập thông tin về phân bố quần thể của các loài cây cần nghiên cứu

2.4.3.3 Nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng và đánh giá nhanh nông thôn thông qua phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp người dân địa phương

PRA (Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân) là phương pháp sử dụng nhiều công cụ tiếp cận, giúp người dân chia sẻ, nâng cao và phân tích kiến thức về đời sống và điều kiện nông thôn Việc kết hợp các phương pháp này sẽ tối đa hóa năng lực cộng đồng thông qua sự tham gia tích cực vào hoạt động điều tra thực địa Đồng thời, PRA cũng giúp phân tích áp lực lên tài nguyên rừng và tìm ra các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững.

Đánh giá nhanh nông thôn (RRA) là một quá trình nghiên cứu quan trọng nhằm hiểu rõ tình hình địa phương Phương pháp RRA sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc để thu thập thông tin từ nhiều đối tượng, bao gồm nông dân, cư dân gần rừng, cán bộ quản lý và bảo vệ rừng, lãnh đạo chính quyền địa phương, cũng như các chuyên gia kỹ thuật và kiểm lâm.

Kết quả điều tra phỏng vấn đã được xử lý bằng phương pháp thống kê, và danh sách các loài thực vật đã được hiệu đính dựa trên tài liệu "Danh mục các loài thực vật Việt Nam 2001" và "Tên cây rừng Việt Nam 2000".

2.4.3.4 Tiến hành thống kê, phân tích đánh giá thực trạng tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu

2.4.3.5 Phương pháp bản đồ, sơ đồ

Sử dụng phần mềm GIS để tạo bản đồ phân bố các loài trong ngành Thông, dựa trên việc phân tích các số liệu đầu vào như tọa độ, độ cao và địa danh.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Vị trí và ranh giới

+ Toạ độ địa lý: Khu bảo tồn có toạ độ địa lý:

Từ 104 0 28’ 38’’ đến 104 0 50’ 28’’ vĩ độ bắc

Từ 20 0 84’ 45’’ đến 20 0 54’ 54’’ kinh độ đông

Khu bảo tồn nằm trong địa phận 4 xã vùng núi cao của huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, bao gồm Chiềng Sơn, Chiềng Xuân, Xuân Nha, và Tân Xuân Phía Bắc, khu bảo tồn giáp ranh với các xã Mường Sang, Vân Hồ, và Lóng Luông.

Phía Nam giáp huyện Mường Lát, huyện Quan Hoá, Thanh Hoá

Phía Đông giáp Khu bảo tồn Hang Kia Pà Cò, Hoà Bình

Phía Tây giáp nước Lào

Diện tích (cũ) 38.069 ha Diện tích hiện tại khoảng 22.000 ha.

Địa hình

Khu điều tra tài nguyên thực vật có địa hình đa dạng với núi đất và núi đá vôi, nằm ở phía Tây Bắc với độ cao từ 260 m đến 1.900 m, trung bình đạt 1.000 m so với mực nước biển, và dần thấp hơn về phía Đông Nam.

Vùng đất phía Tây Bắc khu bảo tồn có độ cao trung bình trên 1.100 m, với đỉnh Pha Luông cao 1.886 m là đỉnh cao nhất, nằm trên ranh giới xã Chiềng Sơn và nước Lào Trong khi đó, vùng giữa và phía Đông có độ cao thấp hơn, dao động từ 500-600 m, với đỉnh núi cao nhất thuộc xã Xuân Nha, đạt 936 m Địa hình chủ yếu là các dông núi của ba hệ thống núi khởi đầu của dãy Trường Sơn nổi tiếng.

+ Hệ thống núi đá vôi chạy dọc ranh giới phía Bắc KBTTN

+ Hệ thống núi đá vôi xen núi đất chạy từ Yên Châu về Hoà Bình

Hệ thống núi đất xen đá vôi kéo dài từ Yên Châu qua biên giới Việt - Lào đến Quan Hoá, Thanh Hoá, với hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam Trong các dông núi, có những dải đồi đất hẹp và dốc tụ chân núi, đóng vai trò quan trọng cho đời sống và canh tác của đồng bào Mường, Thái, Mông tại ba xã vùng cao Địa hình trong khu bảo tồn bị chia cắt không chỉ bởi ba dãy núi chính mà còn bởi nhiều dông núi phụ, tạo thành các thung, áng, khe suối sâu và các hút nước do hiện tượng Các-tơ của vùng núi đá vôi.

Khu bảo tồn có độ dốc trung bình từ 20-25 độ, với nhiều khu vực có độ dốc trên 35 độ, gây khó khăn trong việc di chuyển Địa hình chủ yếu thuộc loại trung và tiểu địa hình vùng núi, với độ cao và độ dốc tăng dần khi tiếp cận các đỉnh núi đá vôi Nơi đây có nhiều sườn núi đá và vách đá dựng đứng, tạo nên một địa hình phức tạp và bị chia cắt, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự đa dạng về thực vật và môi trường rừng, giúp bảo vệ thực vật khỏi sự tàn phá của con người.

Địa chất và thổ nhưỡng

Khu bảo tồn có nền địa chất hình thành từ kỷ Đệ Tam (Tortiazv), khoảng 220 triệu năm trước, với địa hình chịu ảnh hưởng từ hoạt động tạo sơn Indexin trong kỷ Triat của đại trung sinh Các dãy núi đá vôi ở đây có tuổi địa chất trẻ, được xem là núi trẻ với đỉnh nhọn, nhưng quá trình bào mòn tự nhiên không diễn ra mạnh mẽ.

+ Đá mẹ: Đá mẹ trong khu bảo tồn thuộc 3 nhóm chính:

- Đá Trầm tích mà Đá vôi, Cuội, Sỏi kết là đại diện cơ bản, rộng khắp

- Đá Mac ma axít với các loại đá phổ biến như Granit, Sa thạch khối, Phấn sa, Đá sét… có rải rác

- Đá biến chất với nhiều loại khác nhau nhưng không nhiều

Ngoài hệ thống đá vôi phân bố theo dải, các loại đá mẹ như đá sét, phiến thạch sét, phấn sa, sa thạch thô và cuội kết thường không đại diện và phân bố theo vệt, theo vùng nhỏ trên nền đá vôi cổ Sự đa dạng về đá mẹ đã tạo ra nhiều loại đất khác nhau, tạo điều kiện cho nhiều loài cây ưa thích đất đá khác nhau phát triển trong khu vực.

Trong khu vực, có các loại đất chính như đất Feralit mùn vàng nâu, phát triển trên các hang hốc của núi đá vôi Đặc điểm địa chất bao gồm đá biến chất và đá mác ma axit với tầng dày, thường có thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình, và thường phân bố ở độ cao trên 1.700 m, tuy nhiên rất hiếm gặp.

- Đất Feralit màu vàng sẫm phát triển trên đá sét hoặc đá biến chất, tầng đất dày, thành phần cơ giới trung bình (ở độ cao 700-1.700 m)

Đất Feralit có màu vàng nâu, thường phát triển trên nền đá vôi hoặc đá vôi biến chất, với tầng đất mỏng và thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, nằm ở độ cao từ 700 đến 1.700 mét.

- Đất Feralit màu vàng nhạt phát triển trên đá sét hoặc đá biến chất, tầng đất dày, thành phần cơ giới trung bình (ở độ cao 700-1.700 m)

Đất Feralit có màu vàng nhạt hoặc vàng xám, thường phát triển trên các loại đá như phiến thạch sét, phấn sa, đá cát, sa thạch và sỏi cuội kết Loại đất này thường có thành phần cơ giới trung bình hoặc nhẹ và thường xuất hiện ở những vùng đồi núi thấp với độ cao từ 300 đến 1.000 mét.

- Đất Feralit màu xám biến đổi do trồng lúa, có thành phần cơ giới trung bình, phân bố quanh làng bản và trên các sườn núi có nguồn nước

- Đất dốc tụ chân núi, ven suối có thành phần cơ giới trung bình, nhẹ có nhiều đá lăn

Khu vực này chủ yếu có đất sét và đất thịt nhẹ, màu nâu vàng hoặc vàng nhạt, với tầng đất dày và thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình Đất tơi xốp, độ ẩm thấp đến trung bình, có kết cấu viên nhỏ và tầng mùn trung bình, dễ bị rửa trôi và khô cứng ở những nơi mất rừng Ngược lại, đất ở những khu vực còn rừng hoặc có tính chất đất rừng thuận lợi cho sự phát triển và phục hồi rừng, trong khi đất ở nơi mất rừng dễ bị rửa trôi và thoái hóa, gây khó khăn cho quá trình này.

Khí hậu, thuỷ văn

Khí hậu nơi đây có hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9 với nhiệt độ trung bình từ 20-25°C, và mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau với nhiệt độ thường thấp hơn 20°C Mùa nóng thường có mưa lớn và độ ẩm cao, dao động từ 80-85% Trong các đợt rét, nhiệt độ có thể giảm xuống dưới mức bình thường.

13 0 C và cá biệt có khi xuống tới 3-5 0 C Trong mùa lạnh không khô, độ ẩm khá cao, thường 70-80% và nhiều ngày có sương mù, ẩm ướt

+ Khu bảo tồn có lượng mưa trung bình 1.700-2.000 mm

Mùa mưa có thể gây ngập úng cục bộ tại các thung lũng, khe suối hoặc xung quanh các lỗ hút nước Trong mùa lạnh, các khe suối thường cạn kiệt, chỉ còn lại một số vùng lầy lội, trong khi nguồn nước ngọt chủ yếu còn tồn tại tại các mỏ.

+ Sương mù: Tháng 1 và 2 trong mùa lạnh thường có sương mù

+ Sương muối: Thông thường không có sương muối trong năm, nhưng đôi khi có nhẹ không gây hại

Hướng gió chủ yếu tại khu bảo tồn là Đông Bắc và Đông Nam Trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm, có thể xuất hiện gió tây khô nóng, thường kéo dài từ 2 đến 4 ngày với tốc độ gió đạt 10-15 m/giây.

+ Mưa đá: Tần suất xuất hiện mưa đá rất nhỏ

Trong khu bảo tồn, không có sông hay suối lớn, nhưng có hệ thống suối nhỏ bắt nguồn từ dãy núi giáp ranh với Thanh Hóa Các suối này có đoạn lộ, đoạn mất và không có nước quanh năm Mật độ suối thấp, mặc dù độ dốc lớn, nhưng do có nhiều hút nước, sông ngầm và hang động trong vùng đá vôi, nên chỉ xảy ra lũ cục bộ vào những ngày mưa lớn và rất ít nước vào mùa khô.

Khu bảo tồn ở huyện Mộc Châu là vùng núi cao với khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt: mùa nóng ẩm với nhiệt độ cao và lượng mưa nhiều, và mùa đông lạnh nhẹ, khô hanh Mùa đông còn có sương mù, nhưng điều này không ảnh hưởng đáng kể đến sự sinh trưởng và phát triển của cây cối trong khu vực.

Tình hình chung về khu hệ thực vật

Rừng Xuân Nha, hình thành cách đây khoảng 220 triệu năm trên nền núi đá vôi thời kỳ Ladini thuộc kỷ Đệ tam, vẫn giữ được bộ mặt nguyên vẹn tại những khu vực hiểm trở mà con người không thể khai thác.

Trước năm 1985, rừng Xuân Nha từng nổi tiếng với nhiều cây lớn như Nghiến, Đinh, Trai, Chò chỉ, và nhiều loài khác Tuy nhiên, sau nhiều thập kỷ bị tàn phá bởi nạn đốt nương làm rẫy, khai thác gỗ trái phép và sử dụng củi đun, diện tích rừng hiện nay đã bị thu hẹp đáng kể, chỉ còn lại thảm thực vật nhỏ bé và thưa thớt.

Khu bảo tồn có hệ thực vật không đồng nhất, với phần lớn diện tích rừng đã bị tác động và không còn nguyên vẹn Rừng nguyên sinh chỉ còn tồn tại ở những vùng nhỏ, chủ yếu nằm ở các khu vực cao, xa xôi hoặc dọc theo các khe suối đá và sườn núi đá.

Khu bảo tồn rừng sở hữu sự đa dạng phong phú về loài thực vật, nhưng kích thước trung bình của các cá thể thường nhỏ Nhiều loài cây gỗ quý không chỉ giảm về số lượng mà còn có kích thước trung bình bị thu hẹp Các loài thực vật ưa sáng như Thôi chanh, Thôi ba, Lộc mại, và nhiều loài cỏ như Cỏ lào, Cúc đơn buốt đã gia tăng đáng kể về số lượng cá thể, dẫn đến sự biến đổi rõ rệt trong diện mạo thảm thực vật của khu vực.

Từ bảng danh lục thực vật ta có một số nhận xét về xuất xứ của thực vật khu vực như sau:

Khu hệ thực vật nhiệt đới núi thấp miền Bắc Việt Nam có nhiều họ thực vật điển hình và nguồn gốc bản địa, bao gồm các họ như Họ Dầu (Dipterocarpaceae), Dâu tằm (Moraceae) và Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) Những họ thực vật này đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học của khu vực Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa.

Cà phê thuộc họ Rubiaceae, trong khi họ Đậu (Fabaceae), họ Vang (Caesalpiniaceae), họ Mạ sưa (Proteaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Ráy (Arecaceae) và họ Bàng (Combretaceae) cũng bao gồm nhiều loài thực vật nhiệt đới đặc trưng Một số loài tiêu biểu như Chò nhai, Chò xanh, Đa, Sanh, Mít rừng, Ngái, Sui, Dâu da, Răng cưa, Lim xanh, Lim sẹt, Ráy dại, Củ nưa, Dây dất, Thị, Trôm, và Xoan, Bứa.

Nhiều họ thực vật tiêu biểu có nguồn gốc từ hệ thực vật á nhiệt đới, di cư từ Malaysia - Indonesia, Himalaya - Vân Nam - Quý Châu, Ấn Độ - Miến Điện, và định cư tại Việt Nam Các họ thực vật chính bao gồm họ Dầu (Dipterocarpaceae), Gạo (Bombacaceae), Hoa hồng (Rosaceae), Dẻ (Fagaceae), Re (Lauraceae), Trúc đào (Apocynaceae), Chè (Theaceae), và họ Ngọc lan (Magnoliaceae).

Hồ đào (Juglandaceae), Đỗ quyên (Ericaceae), Thích (Aceraceae), họ Ban (Hypericaceae) và Sau sau (Altingiaceae) là những họ thực vật quan trọng, bao gồm các loài tiêu biểu như Chò chỉ, Táu mật, Sồi, Dẻ gai, Chẹo tía, Giổi xanh, Ngọc lan, Thích, Vối thuốc và Sau sau Những loài này đóng góp đáng kể vào đa dạng sinh học và hệ sinh thái.

Thành ngạnh, Dẻ cau, Giổi mỡ, Giổi bà, Thích lá bóng, Xoan đào, Máu chó, Thông pà cò, Súm, Sặt, Chè rừng

Nhiều họ thực vật có sự phân bố rộng rãi ở khu vực nhiệt đới và á nhiệt đới, bao gồm các họ như Cỏ (Poaceae), Cúc (Asteraceae), Đậu (Fabaceae), Vang (Caesalpiniaceae), Trinh nữ (Mimosaceae), Khoai lang (Convolvulaceae), Nhân sâm (Araliaceae), Cau (Arecaceae), Chè (Theaceae) và phân họ Tre (Bambusoideae).

Nhiều họ thực vật lá kim phân bố ở vùng á nhiệt đới núi thấp, bao gồm các loài như Bách tán (Cupresaceae), Thông pà cò (Pinaceae), Thông tre, Thông nàng (Podocarpaceae) và Dây gắm (Gnetaceae).

Khu bảo tồn rừng vẫn giữ được sự phong phú về loài nhưng số lượng cá thể trong các loài lại nghèo nàn, với kích thước trung bình của cá thể nhỏ Nhiều loài cây gỗ quý như Lát hoa, Du sam, Chò chỉ, và các cây thuốc quý như Hài gấm, Hoàng đằng trở nên hiếm hoi Mặc dù vậy, một số loài thực vật ưa sáng và thân cỏ như Cỏ tranh, Cỏ chít lại gia tăng đáng kể về số lượng cá thể Rừng mặc dù bị tàn phá nhưng vẫn còn nhiều loài cây như Trai lý, Nghiến, và Chò nhai Thành phần thực vật tại Xuân Nha chủ yếu là thực vật nhiệt đới và á nhiệt đới, tuy có nhiều loài cây tại chỗ nhưng tỷ lệ đặc hữu chỉ đạt 17,9%, thấp hơn so với các khu vực khác như Hoàng Liên.

Dân số, dân tộc, lao động, phân bố dân cư, tỷ lệ tăng dân số

Qua điều tra dân sinh kinh tế năm 2011 và 212, 4 xã Chiềng Xuân, Xuân Nha, Tân Xuân và Chiềng Sơn cụ thể như sau:

- Xã Chiềng Sơn: 8.187 người; trong đó lao động nam 1.511 người, lao động nữ 1.519 người, tỷ lệ tăng dân số 2,6%; mật độ dân số bình quân 122 người/km 2

- Xã Xuân Nha: 3.667 người; trong đó nam 1.842 người, nữ 1.825 người; lao động chính 2.695 người, tỷ lệ tăng dân số 2,9%; mật độ dân số bình quân

Xã Tân Xuân, một xã nghèo vùng biên giới thuộc huyện Mộc Châu, có hơn 800 hộ dân và 3.417 người Trong năm qua, nhờ sự quan tâm của các cấp, ngành và nỗ lực của người dân, xã đã giảm được 365 hộ nghèo, đưa tỷ lệ hộ nghèo năm 2011 xuống còn 37,06%.

Xã Chiềng Xuân, được thành lập từ năm 2007, hiện có 8 bản với tổng cộng 525 hộ và 2.691 người dân Trong đó, dân tộc Kinh có 52 hộ với 163 người, dân tộc Thái có 105 hộ với 451 người, dân tộc Mường có 87 hộ với 382 người, và dân tộc Mông chiếm số lượng lớn nhất với 281 hộ và 1.686 người Tổng số lao động trong xã là 1.412 người, trong khi số hộ nghèo lên đến 350, chiếm 66,6% tổng số hộ Tổng diện tích tự nhiên của xã là 8.695,63 ha.

Tập quán canh tác, sinh hoạt văn hoá

Trong khu vực 3 xã và vùng bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, người dân tộc Thái và Mường đã ổn định canh tác lúa nước ở các vùng thấp, tương tự như người Kinh Trong khi đó, dân tộc HMông và các dân tộc khác sống trên cao có kinh nghiệm tạo ra ruộng nước bậc thang ven núi, rất quan trọng cho cuộc sống hàng ngày, nhưng chủ yếu vẫn phụ thuộc vào phát nương làm rẫy.

Tổng diện tích đất nông nghiệp của ba xã là 4.117 ha, trong đó diện tích ruộng nước chiếm 406 ha Bình quân mỗi người có 0,22 ha đất nương và 0,02 ha lúa nước mỗi năm.

Do diện tích ruộng đất trồng lúa nước hạn chế, người dân tộc ở đây thường thực hiện việc đốt nương làm rẫy để tăng cường diện tích canh tác cho các loại cây nông nghiệp như lúa, sắn, ngô, khoai, đậu và lạc.

3.7.2 Sinh hoạt văn hoá, phong tục tập quán

Trong khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, dân tộc Thái và H'Mông là hai nhóm dân tộc chủ yếu, trong khi dân tộc Khơ Mú và Puộc ít hơn Mỗi dân tộc đều có những phong tục, tập quán và văn hóa riêng, thể hiện bản sắc dân tộc, nhưng vẫn mang nét đặc trưng của làng bản Tuy nhiên, điều kiện giao thông và thông tin liên lạc trong khu vực này còn nhiều khó khăn Hiện nay, phong tục ma chay và cưới xin tại các bản làng thường lãng phí và lạc hậu, cần được tuyên truyền và giáo dục để xoá bỏ, đồng thời giữ gìn những bản sắc quý giá của dân tộc và phát triển theo yêu cầu của xã hội và cộng đồng.

Tình hình kinh tế

3.8.1 Các hoạt động kinh tế

Hiện nay hoạt động kinh tế trong và ngoài KBTTN Xuân Nha có thể đánh giá như sau:

- Đời sống kinh tế còn chậm phát triển, mang nặng tính tự túc, tự cấp

- Các hoạt động kinh tế chủ yếu là trồng cấy ruộng nước và phát rừng làm nương rẫy, du canh du cư, phụ thuộc vào tự nhiên

- Chăn nuôi gia súc gia cầm còn ở phạm vi gia đình và trao đổi trong khu vực, chưa hình thành chăn nuôi công nghiệp, sản xuất lớn

Phát triển công nghiệp tại khu vực này chủ yếu tập trung vào một số cây trồng như chè, mía và các loại cây ăn quả Tuy nhiên, do điều kiện giao thông khó khăn và trình độ nhận thức còn hạn chế, cây công nghiệp chưa phát triển mạnh mẽ, dẫn đến đời sống người dân vẫn thấp so với yêu cầu phát triển hiện nay.

3.8.2 Những tác động ảnh hưởng tới khu bảo tồn

Thiếu ruộng nước canh tác và khó khăn về lương thực đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến các cộng đồng trong khu bảo tồn, đặc biệt là ở những vùng nghiêm ngặt và phục hồi sinh thái Tình trạng đốt nương làm rẫy và du canh du cư vẫn diễn ra, gây tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái và làm giảm giá trị bảo tồn nguyên vẹn, ảnh hưởng đến việc phục hồi hệ sinh thái nguồn gen động thực vật rừng.

Sự gia tăng dân số tự nhiên và di dân tự do đã tạo ra áp lực lớn lên quản lý của chính quyền địa phương, ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế - xã hội tại KBTTN Xuân Nha Mức thu nhập bình quân đầu người trong khu vực chỉ đạt từ 150-250 kg thóc/người/năm, trong đó gạo và ngô chiếm 65-70%, còn lại là sắn, khoai và các nông sản khác.

Đời sống của người dân sống ven và trong khu vực bảo tồn thiên nhiên gặp nhiều khó khăn Sản xuất mùa vụ không ổn định đã dẫn đến tình trạng nhiều hộ gia đình thiếu ăn từ 5-6 tháng, đặc biệt là những hộ sống tại vùng phục hồi sinh thái và vùng cao của khu bảo tồn.

Đầu tư vào sản xuất cho các đối tượng này là rất cần thiết và cần được ưu tiên để hỗ trợ tích cực trong việc khôi phục hệ sinh thái rừng tại Xuân Nha.

3.8.3 Phân mức độ giàu nghèo

Mật độ dân số tại khu vực này ở mức thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quy hoạch khu dân cư và khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, nhằm phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế và xã hội của địa phương, cũng như đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.

Vùng có độ dốc trên 35 độ, tầng đất mặt mỏng và nhiều đá lẫn, cùng với hệ thống sông suối phong phú, tạo ra những thách thức lớn cho công tác quy hoạch và ổn định đời sống cư dân Tỷ lệ tăng dân số 2,8% và sự gia tăng dân số cơ giới thường xuyên gây áp lực lên nguồn tài nguyên và công tác bảo vệ phát triển hệ động, thực vật trong Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Nha.

Văn hoá giáo dục, y tế, giao thông

* Về văn hoá giáo dục

KBTTN Xuân Nha, nằm ở phía nam huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, bao gồm 4 xã thuộc vùng núi cao, nơi có sự hiện diện của nhiều dân tộc Tuy nhiên, đời sống văn hóa tại đây vẫn đơn điệu, chủ yếu diễn ra vào các ngày lễ Tết, với phong tục tập quán lạc hậu và ít sự tiếp cận với các hoạt động văn minh khác Việc tuyên truyền và giáo dục văn hóa mới trong các cộng đồng thôn bản chưa được thực hiện thường xuyên, dẫn đến sự hạn chế trong việc chuyển tải các chính sách xã hội đến người dân.

Tỷ lệ mù chữ và thất học vẫn còn cao trong các cộng đồng dân tộc thiểu số như H'Mông, Khơ Mú và Puộc Đặc biệt, cộng đồng người Puộc gần như không có người theo học ở cấp phổ thông cơ sở, điều này cho thấy sự cần thiết phải cải thiện chất lượng giáo dục và tăng cường tiếp cận học tập cho các nhóm này.

Mạng lưới y tế giữa huyện và xã vẫn còn nhiều bất cập, với khó khăn về thuốc men và cơ sở vật chất thiếu thốn Đội ngũ cán bộ y tế mỏng manh, trong khi dịch bệnh như sốt rét, đau mắt, tiêu chảy và các bệnh xã hội khác thường xuyên xảy ra Việc hướng dẫn phòng và chữa bệnh chưa đến tay hết người dân, và hiện tượng thầy mo cúng ma chữa bệnh vẫn diễn ra phổ biến.

Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Nha có tuyến đường 43b độc nhất chạy từ Mộc Châu qua Lóng Sập sang Lào, cùng với đường ô tô lâm nghiệp nối xuống đường 43b tại đội 11 giữa nông trường Chiềng Ve cũ và bản Nà Hiềng, trung tâm xã Xuân Nha Ngoài ra, khu vực này còn có nhiều đường mòn giao lưu với các khu vực lân cận.

* Tình hình sử dụng đất đai tài nguyên

Năm 2002 UBND tỉnh Sơn La đã có quyết định số 3440/2002/QĐ-UB ngày 11/11/2002 về việc thành lập KBTTN Xuân Nha thuộc chi cục Kiểm lâm Sơn La quản lý

Việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng và đất đai vẫn chưa được chú trọng đầy đủ, dẫn đến tình trạng tài nguyên rừng chưa được bảo vệ đúng mức Tập quán du canh du cư và khai thác rừng không hợp lý, đặc biệt ở những vùng cần bảo vệ nghiêm ngặt, đang diễn ra, ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái và chất lượng rừng, đặc biệt là ở các bản của dân tộc H'Mông.

Sản xuất trong khu vực vẫn chủ yếu mang tính tự túc và tự cấp, với năng suất thấp và cơ sở hạ tầng hạn chế Cuộc sống của người dân gặp nhiều khó khăn, trong khi hình thức du canh du cư và đốt nương làm rẫy vẫn diễn ra thường xuyên Ngoài ra, việc khai thác lâm sản và săn bắt động vật hoang dã quý hiếm vẫn chưa được ngăn chặn triệt để.

* Các cơ quan doanh nghiệp Nhà nước

Hiện tại, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Nha có một ban quản lý gồm 21 cán bộ kiểm lâm, trong đó có 6 cán bộ công chức và 15 cán bộ viên chức, với 8 người có trình độ đại học và 13 người có trình độ trung cấp Hai đồn biên phòng 473 và 469 cũng tham gia tích cực vào công tác quản lý và bảo vệ rừng Tuy nhiên, nghiệp vụ chuyên môn còn hạn chế, cùng với sự tham gia của cộng đồng dân tộc H'Mông từ nhiều nơi, đã gây ra không ít khó khăn cho việc bảo tồn tài nguyên rừng và thiên nhiên tại Xuân Nha.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Hiện trạng bảo tồn các loài thuộc ngành Thông tại KBTTN Xuân Nha

4.3.1 Tái sinh tự nhiên Pơ mu theo tuyến 43

4.3.2 Tái sinh quanh gốc cây mẹ của loài Pơ mu 44

4.3.3 Tái sinh Du sam núi đất theo tuyến 46

Tái sinh quanh gốc cây mẹ của loài Du sam núi đất và Thông nàng là quá trình quan trọng trong việc duy trì sự phát triển tự nhiên của các loài cây này Đặc biệt, tái sinh tự nhiên của Thông nàng theo tuyến giúp tăng cường sự đa dạng sinh học và ổn định hệ sinh thái Việc bảo vệ các gốc cây mẹ không chỉ hỗ trợ cho sự sống còn của loài mà còn góp phần vào việc khôi phục môi trường tự nhiên.

4.3.7 Tái sinh tự nhiên Bách xanh theo tuyến 54

4.3.8 Tái sinh quanh gốc cây mẹ của loài Bách xanh 55 4.3.9 Tái sinh quanh gốc cây mẹ của loài Dẻ tùng sọc trắng 60

1.1 Các vùng phân bố chính của Thông ở Việt Nam 9 4.1 Sự phân bố của các loài thuộc ngành Thông theo đai cao 36 ĐẶT VẤN ĐỀ

Hệ sinh thái rừng Việt Nam được công nhận với tính đa dạng và sự ổn định bền vững nhờ vào cấu trúc nhiều tầng, đa dạng loài và hình thức sống Sự phức tạp về địa hình và khí hậu ẩm nhiệt ở nước ta góp phần vào điều này Trong bối cảnh nhu cầu sử dụng tài nguyên ngày càng tăng trong xã hội hiện đại, việc bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên rừng trở nên hết sức quan trọng.

Ngành Thông bao gồm nhiều loại cây lá kim quan trọng, góp phần lọc khí carbon và điều hòa khí hậu toàn cầu Các rừng cây lá kim ở Bắc bán cầu đóng vai trò quyết định trong việc điều hòa nước cho các hệ thống sông ngòi chính, và việc khai thác rừng phòng hộ đầu nguồn đã dẫn đến những trận lụt nghiêm trọng Nhiều loài thực vật, động vật và nấm phụ thuộc vào cây ngành Thông, do đó, sự tuyệt chủng của chúng có thể xảy ra nếu không có biện pháp bảo vệ Gỗ cây ngành Thông, mặc dù dễ gia công và bền, nhưng đang bị khai thác cạn kiệt, đe dọa nhiều loài quý hiếm Việt Nam đã thành lập nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn nhằm bảo vệ các quần thể thực vật ngành Thông đang bị đe dọa Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, được thành lập năm 1986, là một trong những khu bảo tồn quan trọng với đa dạng sinh học cao và giá trị bảo tồn nguồn gen, đồng thời cũng là rừng phòng hộ đầu nguồn cho dòng sông Đà.

KBTTN Xuân Nha trải dài từ xã Lóng Sập qua Chiềng Sơn đến xã Tân Xuân, gần ranh giới với KBTTN Pà Cò tỉnh Hòa Bình Khu vực này thuộc vùng núi cao, nằm dọc biên giới Việt - Lào và giữa hai tỉnh Sơn La và Thanh Hóa, với địa hình hiểm trở, độ dốc cao và việc di chuyển gặp nhiều khó khăn.

Vào năm 1985, rừng ở khu vực này còn khá tốt, nhưng từ năm 1982 đến 1992, trong thời kỳ khai thác gỗ phục vụ cho công trường thủy điện Hòa Bình, nơi đây đã trở thành địa bàn khai thác của nhiều loại gỗ quý như Giổi, Du sam, Sến, Nghiến, và các loại gỗ khác Nạn khai thác trộm bừa bãi từ tư thương và người dân địa phương, cùng với việc đốt rừng làm nương rẫy, đã dẫn đến tình trạng tăng diện tích đất trống và đồi trọc ở vùng thấp chân núi Kết quả là diện tích rừng nghèo gia tăng, trong khi diện tích rừng tốt còn lại ngày càng ít, chủ yếu tập trung ở các sườn dốc và những vùng núi cao hiểm trở.

Nhiều diện tích rừng tự nhiên quanh các làng bản và dọc đường ô tô vào trung tâm xã đã bị chuyển đổi thành ruộng, nương, và đất trống, cùng với một số khu vực trở thành rừng trồng Việc chuyển đổi đất rừng thành trang trại cây ăn quả và cây công nghiệp đã dẫn đến sự suy giảm đáng kể về đa dạng thực vật trong khu bảo tồn.

Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu bảo tồn thực vật ngành Thông (Pinophyta) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La, nhằm đóng góp vào việc bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học không chỉ cho tỉnh Sơn La mà còn cho toàn quốc và thế giới.

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu trên thế giới

Thế giới thực vật vô cùng phong phú với khoảng 250.000 loài thực vật bậc cao, trong đó ngành Thông chiếm hơn 600 loài, một con số đáng chú ý.

Cây thuộc ngành Thông là một trong những loài cây cổ xưa nhất, có nguồn gốc từ hơn 300 triệu năm trước Ở Châu Âu, các vùng rừng tự nhiên nổi tiếng thường được biết đến với các loài như Vân sam (Picea) và Thông.

(Pinus); Bắc Mỹ với các loài Thông (Pinus), Cù tùng (Sequoia, Sequoiadendron) và Thiết sam (Pseudotsuga); Đông Á như Trung Quốc và

Nhật Bản với các loài Tùng bách (Cupressus, Juniperus) và Liễu sam

Cây thuộc ngành Thông, như Cryptomeria, đã đóng góp quan trọng vào nền kinh tế của nhiều quốc gia như Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan và New Zealand Trung Quốc cũng ghi nhận lịch sử lâu dài của các cây thông cổ thụ, cho phép ước lượng tuổi thọ của chúng Một số cây nổi bật bao gồm cây Tùng ngũ đại phu trên núi Thái Sơn, cây Bạch Hán tướng quân ở thư viện Tùng Dương, và cây Bạch quả đời Hán trên núi Thanh Thành Trên toàn cầu, cây Cù tùng ở California đã hơn 3.000 năm tuổi, trong khi cây Tuyết tùng trên đảo Ryukyu có tuổi thọ lên đến 7.200 năm Tại Li Băng, rừng Bách Libăng gồm 400 cây nổi tiếng từ thời tiền sử, trong đó có 13 cây cổ thụ hàng nghìn năm tuổi.

Cây thuộc ngành Thông là một trong những nhóm cây quan trọng nhất thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc lọc khí carbon và điều hòa khí hậu toàn cầu Các khu rừng thông ở Bắc bán cầu không chỉ ảnh hưởng đến dòng chảy của các hệ thống sông ngòi mà còn góp phần ngăn ngừa lũ lụt ở các khu vực thấp như Trung Quốc và Ấn Độ Nhiều loài thực vật, động vật và nấm phụ thuộc vào cây thông, do đó sự biến mất của chúng có thể dẫn đến tuyệt chủng Ngành Thông cung cấp gỗ cho xây dựng, ván ép và sản phẩm giấy, trong đó có những loài gỗ quý như Fitzroya cupressoides, có thể sống hơn 3.600 năm Thông Pinus radiata là loài thông được trồng phổ biến nhất, trở thành nguyên liệu chính cho ngành công nghiệp rừng tại nhiều khu vực trên thế giới Cây thông cũng là nguồn cung cấp nhựa quan trọng và hạt của nhiều loài thông là thức ăn cho người dân ở các vùng xa Ngoài ra, cây thông còn chứa các hoạt chất sinh hóa có tiềm năng chữa trị nhiều căn bệnh nghiêm trọng và giữ vai trò văn hóa quan trọng trong các nền văn minh ở cả phương Đông và phương Tây.

Anh Điêng ở Pehuenche, Chi Lê tin rằng các cây đực và cây cái loài Bách tán (Araucaria araucana) mang các linh hồn tạo nên thế giới của họ [12], [15]

Hiện nay, hơn 200 loài cây thuộc ngành Thông đang bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu, với nhiều loài khác cũng gặp nguy hiểm trong phần phân bố tự nhiên của chúng Các nguyên nhân chính bao gồm khai thác gỗ quá mức, phá rừng để chăn thả gia súc, trồng trọt và xây dựng khu dân cư, cùng với sự gia tăng tần suất cháy rừng Việc bảo tồn cây thuộc ngành Thông là rất quan trọng do tầm ảnh hưởng của chúng đối với môi trường Để bảo tồn và sử dụng bền vững các loài cây này, cần áp dụng nhiều chiến lược khác nhau, trong đó bảo tồn tại chỗ thông qua việc thành lập Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên là một giải pháp hiệu quả cho các khu vực rừng nguyên sinh Công tác bảo tồn đòi hỏi sự hợp tác từ nhiều ngành nghề và tổ chức, phụ thuộc vào việc xác định chính xác các loài cây mục tiêu và thông tin cập nhật ở các cấp độ khác nhau.

1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam có khoảng 29 loài cây thuộc ngành Thông Mặc dù chỉ có dưới 5% số loài cây ngành Thông trên toàn cầu được phát hiện tại Việt Nam, nhưng ngành Thông Việt Nam lại chiếm tới 27% số chi và 5 trong 8 họ đã biết.

Bảng 1.1 Cây thuộc ngành Thông ở Việt Nam trong so sánh với thế giới

Họ Số các chi / loài trên thế giới

Số loài / loài đặc hữu ở Việt Nam

Bách tán (Araucariaceae) 3/ 41 0 0/0 Đỉnh tùng (Cephalotaxaceae) 1/5-11 1 1/0

Một loài Thông mới vừa được phát hiện ở Việt Nam, có khả năng là loài đặc hữu Số lượng các loài Thông tre ở miền Bắc Việt Nam vẫn chưa được xác định rõ ràng, có thể tồn tại từ 2 đến 3 loài chưa được mô tả, và những loài này cũng có thể là loài đặc hữu.

Các loài cây ngành Thông ở Việt Nam, đặc biệt là hai chi Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis) và Thuỷ tùng (Glyptostrobus pensilis), mang ý nghĩa lớn về mặt sinh thái và di sản Bách vàng được phát hiện vào năm 1999, trong khi Thuỷ tùng chỉ còn lại hai quần thể nhỏ với tổng số cây dưới 250 ở Đắk Lắk, là đại diện cuối cùng của một dòng giống cây cổ xưa Các hóa thạch của chúng đã được tìm thấy ở nhiều nơi xa xôi, bao gồm cả Anh Năm 2001, một quần thể nhỏ hơn 100 cây Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides) cũng được phát hiện tại tỉnh này.

Đặc điểm lâm học một số loài thuộc ngành Thông (Pinophyta) tại KBTTN Xuân Nha

Nghiên cứu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha đã xác định được 13 loài thuộc ngành Thông (Pinophyta) Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian, đề tài chỉ tập trung vào việc nghiên cứu đặc điểm lâm học của 09 loài.

- Tên phổ thông: Pơ mu

- Tên địa phương: Mậy long lanh, Mậy vạc, Hòng

- Tên khoa học: Fokienia hodginsii (Dunn) A Henry & H Thomas

- Họ thực vật: Hoàng đàn (Cupressaceae)

Cây gỗ lớn thường xanh có chiều cao lên tới 30m và đường kính ngang ngực đạt 1,5m, với thân thẳng và tán tròn màu xanh thẫm Vỏ cây nâu đậm, nứt dọc không đều Cành cây mang lá dạng vảy, dẹt, dài từ 2 - 8mm, xếp thành hai cặp kích thước bằng nhau Nón cái trưởng thành hình cầu, khi chín tách thành 5 - 8 đôi vảy, mỗi quả chứa 10 - 12 hạt có 2 cánh lệch, trong khi nón đực có màu xanh vàng.

Pơ mu (Fokienia hodginsii) có sự phân bố gián đoạn với kích thước cá thể không đồng đều, được ghi nhận qua điều tra thực tế tại 9 tuyến trên núi Pha Luông Các tuyến như Bản Khò Hồng, Bản Chiềng Hin, Bản Pha Luông, Bản Tây Tà Lào, Bản Ngà và Bản Cột Mốc đều xuất hiện nhiều cây trưởng thành, với đường kính trung bình đạt 34.82 cm, trong đó có cây lên đến 90.6 cm Ngoài ra, cây tái sinh cũng phong phú, với 37.5% cây có chiều cao dưới 50 cm, 43.75% cây từ 50-100 cm, và 18.75% cây cao trên 100 cm Pơ mu thường sinh trưởng ở khu vực có độ dốc cao từ 30° đến 35°, với địa hình phức tạp và chia cắt.

Pơ mu thường mọc trên các sườn dông của núi Pha Luông, đặc biệt tập trung ở độ cao trên 1000m gần đỉnh đồi Qua các cuộc điều tra, đã phát hiện 36 cá thể pơ mu, bao gồm cả loài tái sinh xung quanh gốc cây mẹ Tuy nhiên, khu vực bản Mường An và Bản An không ghi nhận sự phân bố của loài này.

Pơ mu (Fokienia hodginsii) phân bố chủ yếu ở các kiểu rừng kín nhiệt đới thường xanh mưa mùa trên núi thấp, với độ cao từ 1000m trở lên Địa hình nơi Pơ mu sinh trưởng rất phức tạp, với độ dốc dao động từ 25-35 độ, đặc biệt là ở khu vực dông núi Pha Luông, nơi cây thường mọc trên các vách đá thẳng đứng Điều này gây khó khăn cho khả năng mở rộng phân bố của loài, dẫn đến hiện tượng phân bố hạn chế Hơn nữa, địa hình phức tạp cũng ảnh hưởng đến khả năng tái sinh của Pơ mu; cây con khó bám vào đất trên các sườn dốc lớn và thường bị cuốn trôi Những cây con sống sót thường rải rác, khiến cho sự phân bố của Pơ mu không đồng nhất Tại những nơi có sự chia cắt mạnh, như trên các vách đá, Pơ mu vẫn tồn tại do không bị khai thác, tuy nhiên, khả năng tái sinh tự nhiên của loài rất thấp và hầu như không có cây con xuất hiện dưới gốc cây mẹ.

- Đặc điểm cấu trúc của tầng cây gỗ

Trên tuyến đường từ Chiềng Hin đến núi Pha Luông, Pơ mu thể hiện ưu thế vượt trội so với các loài cây khác trong quần xã thực vật, với chỉ tiêu sinh trưởng và mật độ cao nhất Đặc điểm này cũng tương tự với sự phân bố diện tích của Pơ mu tại các khu vực trong Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Nha Do đó, khu vực này được xác định là vùng sinh thái phù hợp nhất cho sự phát triển của Pơ mu.

Các loài thường xuyên xuất hiện cùng Pơ mu bao gồm các họ như Họ Dầu (Dipterocarpaceae), Dâu tằm (Moraceae), Thầu dầu (Euphorbiaceae), Cà phê (Rubiaceae), Đậu (Fabaceae), Vang (Caesalpiniaceae), Mạ sưa (Proteaceae), Xoan (Meliaceae), Ráy (Arecaceae), Bàng (Combretaceae), và Trinh nữ (Mimosaceae) Những loài này cho thấy mối quan hệ nhất định với Pơ mu trong môi trường sống của chúng.

Các chỉ tiêu sinh trưởng bình quân của cây Pơ mu ở khu vực thấp cho thấy hầu hết cây chưa đạt độ tuổi thành thục, và không có thế hệ kế cận Điều này cho thấy sự thiếu hụt cây nhỏ và thành thục trong quần xã thực vật Qua điều tra, chúng tôi phát hiện nhiều cây đã bị khai thác, chỉ còn lại gốc Các khu vực hiện tại nơi Pơ mu phân bố không thuận lợi cho khả năng tái sinh của loài này, do đó cần nghiên cứu giải pháp để cải thiện khả năng tái sinh của Pơ mu tại KBTTN Xuân Nha.

Khả năng tái sinh của loài Pơ mu rất quan trọng, với hạt sau khi chín rụng xuống và nảy mầm trong điều kiện thuận lợi Mật độ cây tái sinh cao nhất thường xuất hiện ở những khu vực trống, nhiều ánh sáng hoặc đất ẩm, cho thấy nhu cầu ánh sáng của cây tái sinh Pơ mu rất lớn Điều này cũng giải thích tại sao dưới tán rừng Pơ mu, nơi có độ che phủ cao, ít thấy cây tái sinh phát triển Trong khu vực nghiên cứu, do số lượng cây trưởng thành còn nhiều, tôi đã tiến hành điều tra cây tái sinh tại 7/9 tuyến, kết quả được thể hiện trong bảng 4.3.1.

Bảng 4.3.1: Tái sinh tự nhiên Pơ mu theo tuyến Đơn vị tính: cây

Chỉ tiêu Tuyến điều tra

Hvn (cm) theo từng cấp

Kết quả điều tra cho thấy tình hình tái sinh của cây Pơ mu (Fokienia hodginsii) tại KBTTN Xuân Nha rất hạn chế Cây tái sinh chủ yếu ở giai đoạn cây mạ (6 cây, chiếm 37.5%) và cây con (7 cây, chiếm 43.75%), nhưng khi chuyển sang giai đoạn cây con có chiều cao trên 100cm, tỷ lệ giảm xuống chỉ còn 18.75% Tỷ lệ cây con có triển vọng phát triển rất thấp, tạo ra thách thức lớn trong công tác bảo tồn loài cây quý hiếm này.

Khoảng cách tái sinh quanh gốc cây mẹ được xác định bằng cách lập 80 ô dạng bản xung quanh gốc của 10 cây Pơ mu trưởng thành, với 4 ô trong tán và 4 ô ngoài tán Chúng tôi đã thống kê và tính toán các thông số cần thiết về sự tái sinh của loài này.

Bảng 4.3.2: Tái sinh quanh gốc cây mẹ của loài Pơ mu Ô nghiên cứu Tần số xuất hiện Tỷ lệ (%) số cá thể theo chiều cao

Tỷ lệ (%) Trong tán 40 9 11.25 11 45.8 4 16.7 4 16.7 3 12.5 Ngoài tán 40 11 13.75 13 54.2 5 20.8 4 16.7 4 16.6

Kết quả điều tra cho thấy mật độ Pơ mu tái sinh đạt 750 cây/ha, với sự tái sinh tương đối tốt cả trong và ngoài tán cây mẹ Trong 80 ô điều tra, chỉ có 20 ô xuất hiện Pơ mu tái sinh với tổng số 24 cá thể, trong đó 11 cá thể ở 9 ô trong tán (chiếm 45.8%) và 13 cá thể ở 11 ô ngoài tán (chiếm 54.2%) Tuy nhiên, các cá thể tái sinh có sức sống không cao và triển vọng kém, với tỷ lệ cây mạ và cây con tương đối đồng đều: dưới 50cm chiếm 37.5%, từ 50-100cm chiếm 33.4%, và trên 100cm chiếm 29.1% Điều này cho thấy Pơ mu tái sinh cần được bảo tồn, đặc biệt là các cây con dưới gốc cây mẹ, để tăng cường khả năng cạnh tranh với các loài khác như Fokienia hodginsii.

Loài cạnh tranh không gian dinh dưỡng và môi trường sống mạnh nhất đối với Pơ mu ở KBTTN Xuân Nha là Lim xẹt và Pơ mu, với chỉ số cạnh tranh (CI) cao nhất đạt 0.89 Tiếp theo là ba loài có chỉ số cạnh tranh tương đương: Trám đen, Re hương và Bời lời lá vòng (CI=0.79), cùng với Trai lý (CI=0.71) và Lim xanh (CI=0.64) Các loài như Gội nếp, Giổi găng, Ngát và Trám chim cũng có sự cạnh tranh về không gian dinh dưỡng, nhưng mức độ không đáng kể Đặc biệt, mức độ cạnh tranh đối với các cá thể Pơ mu có đường kính nhỏ và tuổi trẻ càng trở nên mãnh liệt hơn.

Khả năng tái sinh tự nhiên của cây Pơ mu cho thấy rằng 93.75% cây tái sinh là do hạt, trong khi chỉ 6.25% là từ chồi Tuy nhiên, việc tái sinh chồi không được ghi nhận ở những cây đã bị chặt hạ, và chỉ có một cây tái sinh chồi được phát hiện trong tự nhiên.

- Tên phổ thông: Du sam núi đất

- Tên địa phương: Thông dầu, Mạy hinh, Tô hạp

- Tên khoa học: Keteleeria evelyniana Mast

- Họ thực vật: Thông (Pinaceae)

Cây gỗ lớn có chiều cao trên 35m và đường kính trên 100cm, với vỏ nâu sẫm nứt dọc sau khi bong mảng Cành non có lông màu nâu nhạt, lá mọc xoắn ốc và trải phẳng, phiến lá dài từ 3-6.5cm, dày và có đầu nhọn Trên mặt lá có 4-20 dải phấn trắng, trong khi mặt dưới có 28-38 dải phấn trắng Nón đơn tính có gốc nón đực hình trụ dài 1-1.5cm, tập hợp thành chùm ở đầu cành hoặc nách lá, còn nón cái mọc lẻ hình trụ tròn dài 10-20cm và đường kính 3-6cm Vẩy nón hình trứng, đầu hẹp dần và quặp ra ngoài, mép có răng cưa, mặt trong có nhiều khía dọc và phủ lông bên ngoài Hạt dài 1cm mang cánh mỏng ở đỉnh.

Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thuộc ngành Thông (Pinophyta) tại KBTTN Xuân Nha

Kết quả điều tra hiện trạng bảo tồn thực vật ngành Thông (Pinophyta) tại KBTTN Xuân Nha cho thấy rằng các loài thực vật này chủ yếu không được trồng nhiều Chỉ một số ít loài có hình thái đẹp, như Thông nàng, được người dân mang về trồng làm cảnh.

Dacrycarpus imbricatus, Pơ mu (Fokienia hodginsii), Hoàng đản giải (Dacrydium elatum), Kim giao (Nageia fleuryi) là những loài cây quý hiếm nhưng số lượng còn rất ít, chủ yếu được khai thác từ cây tái sinh trong rừng tự nhiên mà chưa có biện pháp nhân giống hiệu quả Nạn khai thác trộm gỗ các loài Thông đang gia tăng do nhu cầu của người dân, với nhiều trại khai thác gỗ và đường mòn được mở trong rừng Vì vậy, việc bảo tồn các loài Thông trong Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Nha là vô cùng cấp thiết Để bảo tồn các loài Thông quý hiếm này, cần triển khai một số giải pháp hiệu quả.

4.4.1 Giải pháp về kỹ thuật

4.4.1.1 Bảo tồn chuyển vị (ex-situ conservation)

Hiện nay, một số loài thực vật ngành Thông đã có quy trình kỹ thuật hướng dẫn áp dụng vào thực tế Việc kết hợp quy trình này với kiến thức bản địa là cần thiết để mở rộng diện tích phân bố các loài cây ngành Thông Tuy nhiên, trong thời gian tới, cần bổ sung một số nội dung cho phù hợp với thực tiễn.

+ Kỹ thuật về chọn tạo giống

Tại KBTTN Xuân Nha, các loài thông có những thế mạnh riêng, do đó, các cấp chính quyền cần có định hướng rõ ràng và thiết thực trong việc lựa chọn giống cây trồng phù hợp với đặc trưng và lợi thế của địa phương Mục tiêu là nhân rộng và phát triển các loài thông trên quy mô lớn, ưu tiên cho những loài đang bị hạn chế trong tự nhiên và có khả năng tái sinh tự nhiên kém.

Hiện nay, hầu hết các cây thông được trồng chủ yếu do người dân tự lấy từ tự nhiên, chủ yếu tái sinh từ hạt và một phần nhỏ từ chồi Do đó, trong thời gian tới, cần xây dựng các vườn giống với nguồn giống chất lượng cao để phục vụ cho công tác bảo tồn và trồng rừng Những loài cây đã có tiến bộ kỹ thuật về giống cần được tập huấn và chuyển giao nhanh chóng, trong khi các loài cây chưa có nghiên cứu cải thiện giống cần được khẩn trương tiến hành nghiên cứu để hỗ trợ công tác bảo tồn.

+ Kỹ thuật về gây trồng

Tổng kết kinh nghiệm và các tiến bộ kỹ thuật trong việc trồng cây ngành Thông thành công, nhằm phổ biến rộng rãi cho mọi người dân liên quan.

Tiếp tục phát triển các hướng dẫn và quy trình kỹ thuật trồng cây cho các loài thông chưa được nghiên cứu, nhằm mở rộng khả năng sinh trưởng của chúng ở các vùng sinh thái khác nhau.

- Tiếp tục nghiên cứu biện pháp gây trồng cây ngành Thông dưới tán rừng và xây dựng các mô hình trồng các loài này dưới tán rừng

Để phát triển khuyến nông khuyến lâm, cần hoàn thiện và tổ chức tập huấn nâng cao trình độ kỹ thuật trồng trọt Việc tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng là rất quan trọng, chuyển từ khai thác cạn kiệt sang khai thác bền vững Cần thay đổi tư duy từ khai thác hủy diệt sang phương pháp khai thác đảm bảo tái sinh và kinh doanh bền vững.

Cần tiếp tục nghiên cứu tác động của loài trong ngành Thông dưới rừng tự nhiên nhằm đề ra các giải pháp hợp lý Việc này giúp tránh tác động tiêu cực đến đất và bảo vệ sinh cảnh của động thực vật rừng.

4.4.1.2 Bảo tồn nguyên vị (in-situ conservation) Đối với các cả thể của ngành Thông đang còn tồn tại và khu vực phân bố của chúng tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra và bảo vệ nghiêm ngặt, đặc biệt là các loài Thông đỏ (Taxus chinensis), Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii), Thông pà cò (Pinus kwangtungensis), Dẻ tùng sọc trắng

Amentotaxus argotaenia, Kim giao (Nageia fleuryi) và Thông xuân nha (Pinus armandii) đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do số lượng loài còn rất ít Để bảo vệ những loài cây quý hiếm này, cần phối hợp chặt chẽ với bộ đội biên phòng, chính quyền địa phương và người dân thôn bản trong việc tuần tra, kiểm soát và tháo dỡ các lán trại khai thác gỗ trái phép trong rừng.

Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo tồn khu bảo vệ nghiêm ngặt là cần thiết, nhằm ngăn chặn khai thác và các tác động tiêu cực ảnh hưởng đến sự phát triển và khả năng tái sinh tự nhiên của các loài Thông quý hiếm trong Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Nha.

Hướng dẫn xây dựng hương ước và quy ước của làng bản nhằm bảo tồn các loài thực vật thuộc ngành Thông Đồng thời, cần thiết lập thùng thư phát giác để kịp thời ngăn chặn và xử lý các hành vi phá rừng trái phép.

Để thúc đẩy quá trình tái sinh tự nhiên, cần xem xét điều kiện cụ thể tại khu vực gốc cây mẹ và mở rộng khả năng tái sinh của loài Trong mùa quả chín, có thể thu hoạch hạt và mang vào rừng để gieo trồng, sau khi đã chuẩn bị đất dưới tán rừng Việc này cần đảm bảo các yếu tố như độ ẩm, nhiệt độ và ánh sáng để cây tái sinh phát triển mạnh mẽ.

Cần thực hiện các nghiên cứu khoa học sâu hơn về từng loài trong ngành Thông tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha Điều này nhằm tìm hiểu rõ hơn về vùng phân bố, đặc điểm sinh thái học và khả năng tái sinh, đặc biệt đối với các loài như Thông đỏ, Thông pà cò, Dẻ tùng sọc trắng, Thông xuân nha và Kim giao, vì những loài này có phân bố hẹp và số lượng cá thể ngoài tự nhiên rất hạn chế.

4.4.2 Giải pháp về cơ chế, chính sách và thu hút nguồn vốn đầu tư

Ngày đăng: 02/07/2021, 22:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học tự nhiên và Công nghệ (2007), Sách đỏ Việt Nam (Phần II Thực vật), NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam
Tác giả: Bộ Khoa học tự nhiên và Công nghệ
Nhà XB: NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2007
2. Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000), Thực vật rừng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật rừng
Tác giả: Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
3. Dự án Xây dựng năng lực tổ chức ngành giống Lâm nghiệp Việt Nam (2004), Đặc điểm Vật hậu và Hạt giống cây rừng Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm Vật hậu và Hạt giống cây rừng Việt Nam
Tác giả: Dự án Xây dựng năng lực tổ chức ngành giống Lâm nghiệp Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
4. Ngô Quang Đê, Triệu Văn Hùng, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Hữu Lộc, Lâm Xuân Sanh, Nguyễn Hữu Vĩnh (1992), Lâm sinh học 2, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sinh học 2
Tác giả: Ngô Quang Đê, Triệu Văn Hùng, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Hữu Lộc, Lâm Xuân Sanh, Nguyễn Hữu Vĩnh
Năm: 1992
5. Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc, Nguyễn Đức Tố Lưu, Philip Ian Thomas, Alios Farjon, Leonid Averyanov và Jacinto Regalado Jr (2004), Thông Việt Nam nghiên cứu hiện trạng bảo tồn 2004, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông Việt Nam nghiên cứu hiện trạng bảo tồn 2004
Tác giả: Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc, Nguyễn Đức Tố Lưu, Philip Ian Thomas, Alios Farjon, Leonid Averyanov và Jacinto Regalado Jr
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2004
6. Vũ Tiến Hinh (1995), Điều tra rừng, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra rừng
Tác giả: Vũ Tiến Hinh
Năm: 1995
7. Trần Hợp (2002), Tài nguyên cây gỗ rừng Việt Nam, Nxb Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên cây gỗ rừng Việt Nam
Tác giả: Trần Hợp
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2002
8. Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích (1997), “Nhân giống Bách xanh bằng hom”, Tạp chí Lâm nghiệp, Trang 3, 5-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân giống Bách xanh bằng hom”, "Tạp chí Lâm nghiệp
Tác giả: Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích
Năm: 1997
9. Nguyễn Xuân Liệu, Trần Danh Tuyên, Nguyễn Hồng Sinh (1995), Số tay Kỹ thuật hạt giống và gieo ươm một số loài cây rừng, Công ty Giống và Phục vụ Trồng rừng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số tay Kỹ thuật hạt giống và gieo ươm một số loài cây rừng
Tác giả: Nguyễn Xuân Liệu, Trần Danh Tuyên, Nguyễn Hồng Sinh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
10. Nguyễn Xuân Liệu, Trần Danh Tuyên, Nguyễn Hồng Sinh (1995), Số tay Kỹ thuật hạt giống và gieo ươm một số loài cây rừng, Công ty Giống và Phục vụ Trồng rừng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số tay Kỹ thuật hạt giống và gieo ươm một số loài cây rừng
Tác giả: Nguyễn Xuân Liệu, Trần Danh Tuyên, Nguyễn Hồng Sinh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
11. Phan Kế Lộc (1984), “Các loài thuộc lớp Thông Pinopsida của hệ thực vật Việt Nam”, Tạp chí Sinh học, Trang 6(4), 5-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loài thuộc lớp Thông Pinopsida của hệ thực vật Việt Nam”, "Tạp chí Sinh học
Tác giả: Phan Kế Lộc
Năm: 1984
12. Nguyễn Hoàng Nghĩa (2004), Cây lá kim Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây lá kim Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2004
13. Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997), Bảo tồn nguồn gen cây rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn nguồn gen cây rừng
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
14. Nguyễn Hoàng Nghĩa (1999), Bảo tồn Đa dạng sinh học, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn Đa dạng sinh học
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
15. Nguyễn Hoàng Nghĩa, Trần Văn Tiến (2002), “Kết quả nhân giống hom Bách xanh, Pơ mu, Thông đỏ ở Lâm Đồng”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trang 530-531 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nhân giống hom Bách xanh, Pơ mu, Thông đỏ ở Lâm Đồng”, "Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa, Trần Văn Tiến
Năm: 2002
16. Nguyễn Quốc Trị (2007), Tính đa dạng thực vật và sự biến đổi theo đai cao ở Vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai, Luận án Tiến sĩ, Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính đa dạng thực vật và sự biến đổi theo đai cao ở Vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai
Tác giả: Nguyễn Quốc Trị
Năm: 2007
17. Phạm Văn Tuấn (1997), Nhân giống cây rừng bằng hom, Tổng luận chuyên khảo khoa học- kỹ thuật lâm nghiệp, Bộ NN và PTNT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân giống cây rừng bằng hom
Tác giả: Phạm Văn Tuấn
Năm: 1997
18. Thái Văn Trừng (1999), Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam
Tác giả: Thái Văn Trừng
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
19. Janet McP Dick, Nguyễn Đức Tố Lưu, Nguyễn Đức Cảnh (2004), Nhân giống sinh dưỡng cây gỗ rừng nhiệt đới- Giâm hom cành và ghép, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân giống sinh dưỡng cây gỗ rừng nhiệt đới- Giâm hom cành và ghép
Tác giả: Janet McP Dick, Nguyễn Đức Tố Lưu, Nguyễn Đức Cảnh
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
20. Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La. Chi cục Kiểm lâm, 2003. Dự án điều chỉnh bổ sung đầu tư xây dựng Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC CÁC BẢNG - THS2384_Nguyen Luong Thien_GVHD Hoang Van Sam
DANH MỤC CÁC BẢNG (Trang 8)
Bảng 1.1. Cây thuộc ngành Thông ở Việt Nam trong so sánh với thế giới - THS2384_Nguyen Luong Thien_GVHD Hoang Van Sam
Bảng 1.1. Cây thuộc ngành Thông ở Việt Nam trong so sánh với thế giới (Trang 16)
Hình 1.1: Các vùng phân bố chính của Thông ở Việt Nam  - THS2384_Nguyen Luong Thien_GVHD Hoang Van Sam
Hình 1.1 Các vùng phân bố chính của Thông ở Việt Nam (Trang 18)
Hình 4.1. Sự phân bố của các loài thuộc ngành Thông theo đai cao - THS2384_Nguyen Luong Thien_GVHD Hoang Van Sam
Hình 4.1. Sự phân bố của các loài thuộc ngành Thông theo đai cao (Trang 45)
Trong đai cao từ 1.500m – 1.886m là nơi địa hình chia cắt rất mạnh, có nhiều vách núi dựng đứng nên các loài thực vật quý hiếm của ngành Thông(Pinophyta) ở  đây vẫn còn phân bố nhưng số lượng còn rất ít nên cần có quy hoạch việc bảo tồn  các loài này tron - THS2384_Nguyen Luong Thien_GVHD Hoang Van Sam
rong đai cao từ 1.500m – 1.886m là nơi địa hình chia cắt rất mạnh, có nhiều vách núi dựng đứng nên các loài thực vật quý hiếm của ngành Thông(Pinophyta) ở đây vẫn còn phân bố nhưng số lượng còn rất ít nên cần có quy hoạch việc bảo tồn các loài này tron (Trang 46)
Bảng 4.3.1: Tái sinh tự nhiên Pơ mu theo tuyến - THS2384_Nguyen Luong Thien_GVHD Hoang Van Sam
Bảng 4.3.1 Tái sinh tự nhiên Pơ mu theo tuyến (Trang 52)
Bảng 4.3.2: Tái sinh quanh gốc cây mẹ của loài Pơ mu - THS2384_Nguyen Luong Thien_GVHD Hoang Van Sam
Bảng 4.3.2 Tái sinh quanh gốc cây mẹ của loài Pơ mu (Trang 53)
Bảng 4.3.3 Tái sinh Du sam núi đất theo tuyến - THS2384_Nguyen Luong Thien_GVHD Hoang Van Sam
Bảng 4.3.3 Tái sinh Du sam núi đất theo tuyến (Trang 55)
Bảng 4.3.4. Tái sinh quanh gốc cây mẹ của loài Du sam núi đất - THS2384_Nguyen Luong Thien_GVHD Hoang Van Sam
Bảng 4.3.4. Tái sinh quanh gốc cây mẹ của loài Du sam núi đất (Trang 56)
trúc đỡ dạng thịt) màu lục xám, khi chín màu đỏ. Nón đực hình trụ, ở nách lá, dài 1cm; hạt hình trứng, dài 0,5 - 0,6 cm, bóng, khi chín màu đỏ [2], [12] - THS2384_Nguyen Luong Thien_GVHD Hoang Van Sam
tr úc đỡ dạng thịt) màu lục xám, khi chín màu đỏ. Nón đực hình trụ, ở nách lá, dài 1cm; hạt hình trứng, dài 0,5 - 0,6 cm, bóng, khi chín màu đỏ [2], [12] (Trang 58)
mẹ trưởng thành, kết quả ở bảng 4.3.6. - THS2384_Nguyen Luong Thien_GVHD Hoang Van Sam
m ẹ trưởng thành, kết quả ở bảng 4.3.6 (Trang 59)
Bảng 4.3.7: Tái sinh tự nhiên Bách xanh theo tuyến - THS2384_Nguyen Luong Thien_GVHD Hoang Van Sam
Bảng 4.3.7 Tái sinh tự nhiên Bách xanh theo tuyến (Trang 63)
Bảng 4.3.8. Tái sinh quanh gốc cây mẹ của loài Bách xanh - THS2384_Nguyen Luong Thien_GVHD Hoang Van Sam
Bảng 4.3.8. Tái sinh quanh gốc cây mẹ của loài Bách xanh (Trang 64)
Bảng 4.3.9. Tái sinh quanh gốc cây mẹ của loài Dẻ tùng sọc trắng Ô nghiên cứu Tần số  - THS2384_Nguyen Luong Thien_GVHD Hoang Van Sam
Bảng 4.3.9. Tái sinh quanh gốc cây mẹ của loài Dẻ tùng sọc trắng Ô nghiên cứu Tần số (Trang 69)
28. Annonaceae Fissistigma capitatum Merr. ex P. T. Li. Lãnh công hình đầu 29.   Annonaceae Polyalthiacerasoides (Roxb.) Bedd - THS2384_Nguyen Luong Thien_GVHD Hoang Van Sam
28. Annonaceae Fissistigma capitatum Merr. ex P. T. Li. Lãnh công hình đầu 29. Annonaceae Polyalthiacerasoides (Roxb.) Bedd (Trang 86)
9 Actinidiaceae Họ Dương đào - THS2384_Nguyen Luong Thien_GVHD Hoang Van Sam
9 Actinidiaceae Họ Dương đào (Trang 86)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm