1. Trang chủ
  2. » Tất cả

GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TỈNH NGHỆ AN

159 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu (13)
  • 2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài (15)
    • 2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới (15)
    • 2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước (17)
    • 2.3. Đánh giá chung về các công trình công bố và khoảng trống nghiên cứu 7 3. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn (19)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (20)
    • 4.1. Đối tượng nghiên cứu (20)
    • 4.2. Phạm vi nghiên cứu (20)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (20)
  • 6. Những đóng góp của luận văn (21)
    • 6.1. Đóng góp về mặt lý luận (21)
    • 6.2. Đóng góp về mặt thực tiễn (21)
  • 7. Bố cục của luận văn (21)
  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG (23)
    • 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hợp đồng MBHHQT (23)
      • 1.1.1 Khái quát về hợp đồng MBHHQT (23)
        • 1.1.1.1 Khái niệm hoạt động MBHHQT (23)
        • 1.1.1.2 Khái niệm về hợp đồng, hợp đồng mua bán hàng hóa (25)
        • 1.1.1.3 Khái niệm hợp đồng MBHHQT (26)
      • 1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng MBHHQT (30)
        • 1.1.2.1 Chủ thể của hợp đồng MBHHQT (30)
        • 1.1.2.2 Đối tượng của hợp đồng MBHHQT (30)
        • 1.1.2.3 Luật điều chỉnh hợp đồng MBHHQT (32)
        • 1.1.2.4 Giải quyết tranh chấp hợp đồng MBHHQT (34)
      • 1.1.3 Vai trò của hợp đồng MBHHQT (36)
    • 1.2 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng MBHHQT (37)
      • 1.2.1 Điều kiện về chủ thể hợp đồng (37)
      • 1.2.2 Điều kiện về mục đích, nội dung của hợp đồng (39)
      • 1.2.3 Điều kiện về hình thức của hợp đồng (40)
      • 1.2.4 Điều kiện về tính tự nguyện khi giao kết hợp đồng (41)
    • 1.3 Giao kết hợp đồng MBHHQT (42)
      • 1.3.1. Nguyên tắc giao kết hợp đồng MBHHQT (42)
      • 1.3.2. Trình tự giao kết hợp đồng MBHHQT (43)
        • 1.3.2.1 Đề nghị giao kết hợp đồng (43)
        • 1.3.2.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (44)
        • 1.3.2.3 Thời điểm giao kết hợp đồng (44)
      • 1.3.3 Đàm phán và soạn thảo hợp đồng MBHHQT (45)
        • 1.3.3.1 Đàm phán hợp đồng MBHHQT (45)
        • 1.3.3.2 Soạn thảo hợp đồng MBHHQT (47)
    • 1.4 Thực hiện hợp đồng MBHHQT (47)
      • 1.4.1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng MBHHQT (47)
      • 1.4.2. Trách nhiệm do vi phạm HĐMBHHQT (48)
        • 1.4.2.1 Khái niệm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng MBHHQT (48)
        • 1.4.2.2 Các yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng MBHHQT (48)
        • 1.4.2.3 Các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng MBHHQT (51)
        • 1.4.2.4 Căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng MBHHQT (56)
    • 1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng (56)
      • 1.5.1 Chính sách thương mại của quốc gia và quốc tế (56)
      • 1.5.2 Văn hóa kinh doanh (57)
      • 1.5.3 Đặc trưng của hàng hóa trong hợp đồng MBHHQT (57)
      • 1.5.4 Hiểu biết về khung pháp lý (58)
      • 1.5.5 Năng lực của người tham gia đàm phán, thực hiện hợp đồng (58)
      • 1.5.6 Vị thế của doanh nghiệp trong quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế (58)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TỈNH NGHỆ AN (61)
    • 2.1 Giới thiệu chung về các doanh nghiệp tỉnh Nghệ An (61)
      • 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An (61)
      • 2.1.2 Giới thiệu về các doanh nghiệp tỉnh Nghệ An (63)
      • 2.1.3 Tình hình hoạt động XNK của các doanh nghiệp tại Nghệ An (65)
    • 2.2 Thực trạng hoạt động giao kết và thực hiện hợp đồng MBHHQT của các (68)
      • 2.2.2 Thực tiễn việc đàm phán, giao kết, soạn thảo hợp đồng MBHHQT của các DN tỉnh Nghệ An (70)
        • 2.2.2.1 Thực tiễn việc đàm phán, giao kết hợp đồng MBHHQT của các DN tỉnh Nghệ An (70)
        • 2.2.2.2 Thực tiễn việc soạn thảo hợp đồng MBHHQT của các doanh nghiệp tỉnh Nghệ An (72)
      • 2.2.3 Thực tiễn việc thực hiện hợp đồng MBHHQT của các DN tỉnh Nghệ An 70 (82)
    • 2.3 Đánh giá thực tiễn giao kết và thực hiện các hợp đồng MBHHQT của các DN tỉnh Nghệ An (86)
      • 2.3.1 Những thành công (86)
      • 2.3.2 Những điểm tồn tại, hạn chế và nguyên nhân (86)
  • CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ CỦA CÁC (90)
    • 3.1 Định hướng phát triển hoạt động XNK tại tỉnh Nghệ An (90)
      • 3.1.1 Quan điểm mục tiêu phát triển hoạt động xuất nhập khẩu (90)
        • 3.1.1.1 Quan điểm (90)
        • 3.1.1.2 Mục tiêu (92)
      • 3.1.2 Định hướng phát triển một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016-2020 (92)
    • 3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp tỉnh Nghệ An (97)
      • 3.2.2 Thiết lập quy trình liên quan đến giao kết và thực hiện hợp đồng (99)
      • 3.2.3 Sử dụng các kỹ thuật đàm phán hợp đồng MBHHQT (102)
      • 3.2.4 Soạn thảo các điều khoản của hợp đồng chặt chẽ, cụ thể, bảo đảm quyền lợi ích của cả hai bên (103)
        • 3.2.4.1 Điều khoản tên hàng (104)
        • 3.2.4.2 Điều khoản số lượng, khối lượng (104)
        • 3.2.4.3 Điều khoản chất lượng (104)
        • 3.2.4.4 Điều khoản giá cả (105)
        • 3.2.4.5 Điều khoản giao hàng, vận tải (105)
        • 3.2.4.6 Điều khoản thanh toán (106)
        • 3.2.4.7 Điều khoản bảo hành (106)
        • 3.2.4.8 Điều khoản miễn trách (106)
        • 3.2.4.9 Điều khoản khiếu nại và giải quyết tranh chấp (106)
      • 3.2.5 Đào tạo nguồn nhân lực pháp chế chuyên về giao kết và thực hiện hợp đồng MBHHQT (107)
      • 3.2.6 Sử dụng các hợp đồng mẫu cho doanh nghiệp (108)
    • 3.3 Một số kiến nghị (108)
      • 3.3.1 Kiến nghị với hiệp hội ngành nghề (108)
      • 3.3.2 Kiến nghị đối với cơ quan nhà nước (109)
  • KẾT LUẬN (60)
    • A. DANH MỤC TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT (114)
    • B. DANH MỤC TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI (118)
  • PHỤ LỤC (119)

Nội dung

Hiện nay, các văn bản pháp luật tại Việt Nam điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế đó là: Bộ luật Dân Sự 2015, Luật Thương mại năm 2005, Luật Doanh nghiệp 2014, các nghị định, th

Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu hiện nay trên thế giới Hội nhập kinh tế thế giới sẽ mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp các nước tiến hành đầu tư quốc tế, chuyển giao công nghệ, trao đổi mua bán hàng hóa và hợp tác lao động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, gia tăng năng lực cạnh tranh mỗi quốc gia Trong đó mua bán hàng hóa quốc tế là hoạt động phổ biến và trụ cột trong bối cảnh các nước đang ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương Hợp đồng chính là cơ sở pháp lý để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của mỗi bên khi tham gia vào các giao dịch, đồng thời là căn cứ để giải quyết khi có các tranh chấp xảy ra Hợp đồng đã đang và sẽ luôn là công cụ pháp lý quan trọng để thiết lập các mối quan hệ pháp lý, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh - thương mại Do đó việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có vai trò vô cùng quan trọng đối với cả bên bán và bên mua trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Mỗi quốc gia, vì vậy, đều xây dựng pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các thương nhân thực hiện giao dịch kinh doanh Chính yếu tố quốc tế đã tạo nên sự đặc trưng cũng như tính phức tạp trong việc giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa Các đối tác đến từ các quốc gia khác nhau có thể sẽ có quan niệm không giống nhau về điều khoản phạt, về các trường hợp được coi là bất khả kháng, về các thiệt hại được bồi thường, hay về các trường hợp hủy hợp đồng Các quan niệm khác nhau nếu không được thống nhất hay hài hòa hóa thì dễ dẫn đến các tranh chấp pháp lý Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chịu sự điều chỉnh của luật quốc gia, các điều ước, tập quán thương mại quốc tế

Thực hiện đường lối mở rộng quan hệ đối ngoại và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, trong những năm qua Nhà nước đã xây dựng, ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ về kinh tế, dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài Việt Nam đã chủ động tham gia ký kết các điều ước quốc tế, các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương Tuy nhiên, các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế vẫn còn là lĩnh vực phức tạp đòi hỏi cần phải được nghiên cứu Hiện nay, các văn bản pháp luật tại Việt Nam điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế đó là: Bộ luật Dân Sự 2015, Luật Thương mại năm

2005, Luật Doanh nghiệp 2014, các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành; các điều ước quốc tế như Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG), các tập quán quốc tế như các điều khoản thương mại quốc tế (Incoterms)

Nghệ An là tỉnh có vị trí quan trọng về địa lý, chính trị và kinh tế tại khu vực Bắc Trung Bộ Năm 2013, Bộ chính trị ban hành nghị quyết số 26-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020 Nghị quyết này đã tạo hành lang pháp lý quan trọng, là động lực để Nghệ An đẩy mạnh phát triển kinh tế địa phương, thu hút vốn đầu tư nước ngoài Năm 2018, kim ngạch xuất nhập khẩu của Nghệ An đạt 1,05 tỷ USD, tăng 5,82 % so với năm 2017, vượt 5,31% kế hoạch đề ra Trong những năm qua, Nghệ An có sự gia tăng đáng kể về số lượng các doanh nghiệp đăng kí mới cũng như quy mô vốn Tuy nhiên, số lượng các doanh nghiệp Nghệ An tham gia vào hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế vẫn còn hạn chế, nghiệp vụ xuất nhập khẩu chưa cao, đặc biệt là chưa áp dụng các quy định pháp luật trong việc đàm phán, giao kết, thực hiện hợp đồng Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi mà các cơ hội kinh doanh, đầu tư, hợp tác được mở rộng trên toàn thế giới, thì các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng đều phải đối mặt với các khó khăn, thách thức không nhỏ trong việc đàm phán, soạn thảo và thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Các khó khăn, thách thức này phần lớn đến từ sự khác biệt giữa pháp luật về hợp đồng của các quốc gia khác nhau, từ nhận thức chưa đầy đủ của doanh nghiệp Việt Nam về vai trò của hợp đồng, từ việc thiếu kỹ năng soạn thảo hợp đồng Do đó việc nâng cao về nhận thức cũng như kỹ năng giao kết thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là vô cùng quan trọng đối các doanh nghiệp Nghệ An, điều này góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp này khi tham gia vào các giao dịch quốc tế

Chính vì vậy, Luận văn “Giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp tỉnh Nghệ An” đáp ứng tính lý luận và thực tiễn cần thiết để nâng cao năng lực giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế; góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nghệ An, cũng như thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh Nghệ An nói riêng và của Việt Nam nói chung.

Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dưới nhiều hình thức khác nhau như luận án, giáo trình, sách chuyên khảo, các công trình nghiên cứu khoa học của các cơ quan tổ chức, các bài báo tạp chí chuyên ngành Luật học và Kinh tế Điển hình, có một số công trình tiêu biểu sau:

Tác giả Mert Elcin (năm 2010) đã công bố sách chuyên khảo “The Law applicable to International comercial contract and the status of Lex Mercatoria with a special emphasic on choice of law rules in the European community” nhằm mục đích hệ thống lại một số vấn đề lý luận liên quan đến luật áp dụng đối với các hợp đồng thương mại quốc tế Đồng thời, công trình đã nghiên cứu lịch sử ra đời, hình thành và phát triển của Lex Mercatoria như một nguồn luật được áp dụng phổ biến đối với với hợp đồng tại châu Âu

Tác giả Mark Anderson và Victor Warner (năm 2012) đã tái bản lần thứ 3 cuốn sách “Drafting and negotiating commercial contracts” Các tác giả đã phân tích những yêu cầu về mặt pháp lý đối với một hợp đồng thương mại bao gồm: Hình thức, cấu trúc của bản hợp đồng, các kỹ năng soạn thảo hợp đồng Đồng thời, hai tác giả cũng đã chỉ ra một số điều khoản cần phải chú ý khi soạn thảo như nghĩa vụ, điều khoản về thanh toán, giao hàng, điều khoản về bảo mật và khiếu nại Các tác giả Alan Redfern, Martin Hunter, Nigel Blackaby và Constantine Partasides (năm 2014) đã tái bản lần thứ 5 cuốn sách “Law and Practice of

International Comercial Arbitration” nhằm nghiên cứu các vấn đề cơ bản và thực tiễn về trọng tài thương mại quốc tế, về nguồn luật áp dụng trong giải quyết và tranh chấp bằng hình thức tố tụng trọng tài

Năm 2003, Phòng Thương mai Quốc tế (International Chamber of Commerce – ICC) đã xuất bản ấn phẩm số 421 với tựa đề “ICC Force Majeure Clause 2003 and the ICC Hardship Clause 2003” Phòng thương mại Quốc tế đã soạn thảo hai dạng điều khoản nhằm giúp đỡ bên bán và bên mua khi tiến hành soạn thảo hợp đồng thương mại trong trường hợp đặc biệt Dạng thứ nhất gọi là bất khả kháng, đề ra những điều kiện cho phép miễn trừ trách nhiệm khi việc thực hiện hợp đồng trên thực tế hoàn toàn không thể thực hiện được Dạng thứ hai gọi là khó khăn trở ngại, bao gồm tình hình trong đó một số điều kiện bị thay đổi đã làm cho việc thực hiện hợp đồng trở nên khó khăn hơn

Năm 2010, Trung tâm thương mại quốc tế (International Trade Center - ITC) đã xuất bản Cẩm nang dành cho các doanh nghiệp nhỏ có tên là: “Model Contracts for Small Firms – Legal guidance for doing international business” Ấn phẩm này đưa ra các mẫu hợp đồng cho các doanh nghiệp tham khảo, trong đó có hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với những điều khoản chi tiết và các phụ lục hợp đồng kèm theo, mang ý nghĩa hướng dẫn thực tiễn cho các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh quốc tế Hợp đồng mẫu này hướng dẫn về quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của bên mua và bên bán; các biện pháp chế tài do vi phạm hợp đồng của các bên Hợp đồng này cũng bao gồm các điều khoản dự phòng được thừa nhận rộng rãi trong các hợp đồng thương mại quốc tế Hợp đồng mẫu về mua bán hàng hóa quốc tế của ITC được xây dựng phù hợp với cá quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Convention on Contracts for the International Sale of Goods – CISG)

Cũng trong năm 2010, Phòng Thương mai Quốc tế đã xuất bản ấn phẩm

“Incoterm 2010: ICC rules for the Use of Domestic and International Trade Terms” Điều kiện Incoterms chủ yếu mô tả các nghĩa vụ, chi phí và rủi ro trong quá trình hàng hóa được giao từ người bán sang người mua Ấn phẩm này chỉ rõ bên nào trong hợp đồng có nghĩa vụ thuê phương tiện vận tải hoặc bảo hiểm, thời điểm nào người bán giao hàng cho người mua và chi phí mỗi bên phải chi trả Song, điều kiện

Incoterms không nói đến giá cả hay phương thức thanh toán Ngoài ra, ấn phẩm này cũng không đề cập đến chuyển giao quyền sỡ hữu hàng hóa và hậu quả của việc vi phạm hợp đồng Phiên bản Incoterms 2010 bao gồm 11 điều kiện giao hàng được phân chia thành bốn nhóm E, F, C và D Về điều kiện áp dụng, Incoterms sử dụng cho hai nhóm riêng biệt, đó là: Các điều kiện áp dụng cho mọi phương thức vận tải và các điều kiện chỉ áp dụng cho vận tải đường biển, thủy nội địa.

Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, đến nay có một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về vấn đề hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng đó là:

Nhóm tác giả PGS,TS Nguyễn Văn Luyện, TS, Lê Thị Bích Thọ và TS, Dương Anh Sơn (năm 2005) đã xuất bản giáo trình “Luật hợp đồng thương mại quốc tế” Các tác giả đã trình bày những vấn đề chung về hợp đồng thương mại quốc tế, các loại hợp đồng quốc tế thông dụng, trên cơ sở so sánh pháp luật của các quốc gia khác nhau

Tác giả Nguyễn Ngọc Lâm (năm 2010) đã xuất bản giáo trình “Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế - Nhận dạng tranh chấp, biện pháp ngăn ngừa và phương pháp giải quyết” Nội dung cuốn sách giới thiệu vấn đề nhận diện một số tranh chấp trong hợp đồng thương mại quốc tế như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển Đồng thời tác giả cũng đã chỉ ra một số biện pháp nhằm ngăn ngừa cũng như phương pháp giải quyết tranh chấp

Tác giả PGS, TS Đỗ Văn Đại (năm 2013) đã tái bản lần thứ tư cuốn sách

“Luật Hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án” Trong cuốn sách này, tác giả đã phân tích những vấn đề lý luận về hợp đồng tại Việt Nam Đồng thời, tác giả cũng tuyển chọn các bản án về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đối chiếu chúng với bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật khác, có so sánh, tham chiếu với những nội dung tương ứng của pháp luật của nhiều quốc gia khác Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả đã đưa ra nhiều đề xuất để hoàn thiện pháp luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ở Việt Nam

Tác giả Bùi Thị Thu (2016) trong luận án Tiến sĩ “Luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế tại Việt Nam” cũng đã tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về luật áp dụng và thực trạng quy định pháp luật Việt Nam cũng như điều ước quốc tế về hợp đồng thương mại quốc tế Luận án cũng đã phân tích các bất cập còn tồn tại trong quy định hiện hành của hệ thống pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, những bất cập trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng liên quan đến việc chọn luật áp dụng, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật hiện hành

Luận văn Thạc sĩ “So sánh chế định giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam và theo Công ước Viên 1980” của tác giả Nguyễn

Văn Quang (2015) đã phân tích, đánh giá các quy định của Công ước Viên năm

1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong sự so sánh với các quy định pháp luật Việt Nam Tác giả cũng đã đưa ra một số phương hướng và giải pháp chính nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng tại Việt Nam

Một nghiên cứu khác cũng liên quan đến vấn đề này, trong luận văn Thạc sĩ

“Các trường hợp bất khả kháng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” tác giả

Lê Kiều Trang (2015) đã hệ thống lại các trường hợp bất khả kháng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các quy định của hệ thống luật pháp Việt Nam cũng như hệ thống luật pháp quốc tế về các trường hợp bất khả kháng Ngoài ra, Luận văn đã phân tích một số ví dụ thực tiễn xảy ra tại Việt Nam và trên thế giới liên quan đến bất khả kháng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, từ đó đưa ra đưa ra một giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bất khả kháng

Tác giả Nguyễn Ánh Dương (2018) trong luận văn Thạc sĩ “Thực tiễn giao kết và thực hiện Hợp đồng thương mại tại Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh”, đã khái quát những vấn đề cơ bản về hợp đồng thương mại, thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại công ty này Từ đó, luận văn cũng đã đề xuất các giải pháp hữu ích nhằm giải quyết các bất cập, rủi ro của việc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại để nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại với các đối tác.

Đánh giá chung về các công trình công bố và khoảng trống nghiên cứu 7 3 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Có thể thấy, với vai trò là cơ sở pháp lý để điều chỉnh mối quan hệ giữa các bên trong các giao dịch, hợp đồng đóng vị trí ngày càng quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế nói chung và mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng Giao kết và thực hiện hợp đồng là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì thế, vấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại quốc tế đã được nghiên cứu, đề cập khá nhiều trong các chương trình nghiên cứu, giảng dạy, xây dựng hệ thống pháp luật và cả trong thực tiễn kinh doanh

Bên cạnh đó, qua phần tổng quan các nghiên cứu ở trên có thể thấy, hầu hết các công trình tập trung phân tích cơ sở lý luận, các quy định pháp luật Việt Nam và quốc tế liên quan hợp đồng thương mại quốc tế Tuy nhiên, hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cho các doanh nghiệp tỉnh Nghệ An Các doanh nghiệp ở đây có những đặc điểm riêng, văn hóa kinh doanh riêng, do vậy cần phải có một nghiên cứu đầy đủ về thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng MBHHQT của các doanh nghiệp tỉnh Nghệ An Nghiên cứu này sẽ giúp doanh nghiệp có được các kinh nghiệm quý giá trong quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng Đồng thời, các doanh nghiệp sẽ hiểu và có cách thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia quan hệ thương mại với các đối tác nước ngoài, góp phần giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh, tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển

3 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu của luận văn là đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cho các doanh nghiệp Nghệ An trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Để đạt được mục tiêu nói trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

− Hệ thống hóa, luận giải những vấn đề lý luận về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

− Phân tích thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp tỉnh Nghệ An (thông qua kết quả phiếu khảo sát thực tế, hợp đồng thực tiễn các doanh nghiệp kinh doanh XNK tại Nghệ An, số liệu từ

Sở Công Thương tỉnh Nghệ An )

− Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cho các doanh nghiệp tỉnh Nghệ An.

Phương pháp nghiên cứu

Khi tiến hành hoạt động nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp phổ biến trong nghiên cứu luật kinh tế như: phương pháp phân tích tổng hợp, đánh giá, hệ thống hóa, các phương pháp thống kê, mô tả, so sánh, điều tra khảo sát thực tế và phỏng vấn chuyên gia

Thu thập dữ liệu: Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu gồm dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp Dữ liệu sơ cấp: được thu thập thông qua các điều tra khảo sát thực tế và các cuộc phỏng vấn được thực hiện từ tháng 8/2019 đến tháng 10/2019

Dữ liệu thứ cấp: trích dẫn từ các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước; các báo cáo của các tổ chức, đơn vị trong lĩnh vực liên quan như Sở công thương tỉnh Nghệ An, Cục hải quan tỉnh Nghệ An Số liệu thứ cấp được tác giả thu thập để phục vụ nghiên cứu trong giai đoạn 2014 - 2018

Việc thu thập kết quả điều tra thực tiễn được thực hiện thông qua hai hình thức chính đó là phỏng vấn trực tiếp và điều tra qua bảng hỏi Phương pháp chọn mẫu của tác giả khoa học và phù hợp với từng đối tượng nghiên cứu Tác giả khảo sát phiếu điều tra từ các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa quốc tế Việc phỏng vấn chuyên gia được thực hiện với một chuyên gia làm việc tại Cục hải quan tỉnh Nghệ An.

Những đóng góp của luận văn

Đóng góp về mặt lý luận

Ngoài việc hệ thống lại các lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, luận văn đưa ra và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng MBHHQT của các doanh nghiệp tỉnh Nghệ An.

Đóng góp về mặt thực tiễn

Luận văn là một công trình khoa học có giá trị, sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các học viên cao học, độc giả trong quá trình học tập và nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là cơ sở cho doanh nghiệp tỉnh Nghệ An nói riêng, cũng như doanh nghiệp Việt Nam nói chung có thể nghiên cứu áp dụng để nâng cao năng lực giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng.

Bố cục của luận văn

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và các Phụ lục, luận văn gồm có 3 chương, trong đó:

Chương 1: Cơ sở lý luận về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Trong chương này tác giả đưa ra cơ sở lý luận về các vấn đề liên quan đến đề tài như hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, giao kết và thực hiện hợp đồng Tiếp đó tác giả đưa ra hệ thống các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh trong lĩnh vực hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Những vấn đề lý luận được đề cập trong chương 1 tạo tiền đề cho tác giả phân tích thực trạng cũng như các giải pháp phù hợp

Chương 2: Thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp tỉnh Nghệ An

Trong chương này, tác giả tiến hành điều tra về thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp tỉnh Nghệ An thông qua mẫu khảo sát các doanh nghiệp XNK; Thu thập số liệu từ Sở Công Thương và phỏng vấn chuyên gia Từ đó, tác giả đi sâu vào phân tích thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật vào giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp Nghệ An

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cho các doanh nghiệp tỉnh Nghệ An

Trong chương này, tác giả đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cho các doanh nghiệp tỉnh Nghệ An.

TỔNG QUAN VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG

Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hợp đồng MBHHQT

1.1.1 Khái quát về hợp đồng MBHHQT

1.1.1.1 Khái niệm hoạt động MBHHQT

Cùng với quá trình hội nhập kinh tế thế giới và toàn cầu hóa, hoạt động thương mại không chỉ diễn ra trong phạm vi một nước mà còn diễn ra trên phạm vi quốc tế nhằm đáp ứng các nhu cầu đa dạng của con người Hiện nay, ngày càng xuất hiện nhiều hình thức giao dịch thương mại quốc tế như mua bán hàng hóa quốc tế, đầu tư quốc tế, cung ứng dịch vụ quốc tế, nhượng quyền thương mại, tài chính quốc tế trong đó hoạt động MBHHQT được xem là hoạt động truyền thống, giữ vị trí trung tâm và có vai trò đặc biệt quan trọng trong các giao dịch kinh doanh quốc tế Ở phạm vi trong nước, mua bán hàng hóa thực hiện chức năng trao đổi phân phối trong xã hội; ở phạm vi quốc tế, nó làm nhiệm vụ trao đổi hàng hóa giữa thương nhân các nước thông qua hoạt động chủ yếu là xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa Hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa quốc tế là hoạt động tất yếu, mang tính khách quan, xuất phát từ lợi thế so sánh giữa các nước Theo đó, mỗi quốc gia sẽ có lợi thế tương đối so với các quốc gia khác về chi phí, trình độ trong việc sản xuất ra loại hàng hóa nhất định; vì thế tất yếu quốc gia đó sẽ tập trung sản xuất và xuất khẩu mặt hàng mà mình có lợi thế hơn, đồng thời nhập khẩu mặt hàng mà mình kém lợi thế

Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế là hoạt động thương mại được thực hiện giữa các thương nhân thuộc các quốc gia khác nhau để đưa hàng hóa từ quốc gia này sang một quốc gia khác Trong quan hệ MBHHQT sẽ luôn có hai bên tham gia là bên bán hàng và bên mua hàng; trong đó bên bán hàng có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho người mua; bên mua hàng có nghĩa vụ thanh toán đủ số tiền hàng, nhận hàng hóa theo thảo thuận Hoạt động MBHHQT bao gồm các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu, hoạt động này phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản, hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương (Điều 27, Luật Thương mại 2005) Các hoạt động này thường có đặc điểm đó là liên quan đến việc dịch chuyển hàng hóa qua cửa khẩu giữa hai hay nhiều nước

Như vậy có thể thấy, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế là các hoạt động mua bán hàng hóa xuyên quốc gia hoặc qua các khu vực hải quan riêng giữa các thương nhân có quốc tịch khác nhau Cơ sở pháp lý của hoạt động MBHHQT chính là sự thỏa thuận giữa các thương nhân (hợp đồng)

Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế phổ biến nhất đó chính là xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa Trong đó, hàng hóa từ một quốc gia (quốc gia xuất khẩu) sẽ được thương nhân của quốc gia sở tại bán sang một quốc gia khác (quốc gia nhập khẩu) hoặc ngược lại hàng hóa đó sẽ được quốc gia sở tại mua về và đưa vào tiêu thụ tại thị trường quốc gia sở tại 1

Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế có một số đặc điểm sau:

− Thứ nhất, hoạt động MBHHQT được thực hiện bởi các thương nhân ở các quốc gia khác nhau

− Thứ hai, đối tượng của hoạt động MBHHQT là hàng hóa Theo quy định tại Khoản 3, Điều 3, luật Thương mại 2005 thì hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai Như vậy hàng hoá trong hoạt động MBHHQT có thể là hàng hoá đang hiện hữu tồn tại hoặc sẽ có trong tương lai, hàng hoá đó có thể là bất động sản được phép lưu thông mua bán loại trừ một số hàng hóa đặc biệt phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành riêng như cổ phiếu, trái phiếu, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản

− Thứ ba, hoạt động MBHHQT phải có sự dịch chuyển của hàng hóa qua lãnh thổ các quốc gia, hoặc qua khu vực hải quan riêng

− Thứ tư, hoạt động MBHHQT có thể chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật khác nhau như: Luật quốc gia, điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế

1 Trần Việt Dũng (Chủ biên), Giáo trình Luật Thương mại Quốc tế phần II, Nxb Hồng Đức, 2015, tr.129

Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế là hoạt động mua bán hàng hóa diễn ra ngoài phạm vi của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, nó thể có diễn ra ở nhiều nước với nhiều yếu tố khác biệt về vị trí địa lý, lịch sử, khí hậu, hệ thống văn hóa giáo dục, luật pháp, văn hóa kinh doanh, thị hiếu tiêu dùng… Vì vậy, hoạt động này mang tính phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro hơn so với hoạt động mua bán trong nước thông thường Phương tiện pháp lý cơ bản để các cá nhân, tổ chức tiến hành hoạt động mua bán hàng hóa trong phạm vi quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.1.1.2 Khái niệm về hợp đồng, hợp đồng mua bán hàng hóa

Hợp đồng là một khái niệm có nguồn gốc lâu đời, được sử dụng phổ biến trong đời sống kinh tế xã hội Về phương diện pháp lý, Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” So với bộ luật Dân sự năm 2005 thì

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bỏ cụm từ “dân sự” sau hai từ “hợp đồng”, điều này tạo thuận lợi trong việc tiếp cận về khái niệm hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được rộng hơn, bao gồm cả hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh doanh hay hợp đồng mua bán hàng hóa

Như vậy có thể thấy, hợp đồng là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các chủ thể tham gia ký kết, và ý chí này phải thống nhất với ý chí của Nhà nước Sự thỏa thuận của các bên phải dựa trên nguyên tắc tự do, tự nguyện Hợp đồng dân sự là một sự kiện pháp lý làm phát sinh hậu quả pháp lý: xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia giao kết

Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất của một hợp đồng dân sự, đó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa Luật thương mại 2005 không đưa ra khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa mà chỉ đưa ra khái niệm mua bán hàng hóa: “Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận” (Khoản 8, Điều 3) Về bản chất, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng cụ thể hợp đồng mua bán tài sản

Từ đây có thể hiểu, hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao đầy đủ hàng hóa cho bên mua và nhận tiền; bên mua có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ tiền hàng, chi phí cho bên bán và nhận hàng theo thỏa thuận

1.1.1.3 Khái niệm hợp đồng MBHHQT

Về mặt thuật ngữ, cho đến nay chưa có từ điển chuyên ngành Luật nào đưa ra khái niệm về “hợp đồng MBHHQT”, mà chỉ có việc giải thích các thuật ngữ tạo thành như “hợp đồng”, “hàng hóa”, “mua bán hàng hóa”

Về mặt học thuật, đã có một số tác giả đưa ra khái niệm về hợp đồng MBHHQT Theo tác giả Trần Việt Dũng thì: “HĐMBHHQT là một hợp đồng thương mại giữa các thương nhân có trụ sở tại các quốc gia khác nhau nhằm trao đổi, mua bán hàng hóa xuyên biên giới” 2 Người viết cho rằng, khái niệm này chưa bao quát hết được yếu tố không gian trong hoạt động MBHHQT

Như đã đề cập ở trên, không phải chỉ khi hàng hóa qua biên giới các nước thì mới được xác định là MBHHQT Trong thực tế, khi hàng hóa di chuyển từ một địa điểm kinh doanh sang khu vực hải quan riêng cùng thuộc một nước thì vẫn được coi là hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa Vì thế, trong nhiều trường hợp thì hợp đồng giữa các thương nhân trong và ngoài khu vực hải quan riêng vẫn được coi là hợp đồng MBHHQT

Điều kiện hiệu lực của hợp đồng MBHHQT

Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015, điều kiện để một hợp đồng nói chung có hiệu lực đó là: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; Hình thức phải phù hợp với quy định của pháp luật (Điều 117)

1.2.1 Điều kiện về chủ thể hợp đồng

Chủ thể của hợp đồng MBHHQT là các bên tham gia vào quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế đó Các chủ thể này phải phải hợp pháp và có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Năng lực pháp luật dân sự là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự Năng lực pháp luật dân sự của mọi cá nhân là như nhau, năng lực này có từ khi cá nhân được sinh ra hoặc pháp nhân được thành lập và mất khi cá nhân mất đi hoặc chấm dứt pháp nhân Năng lực pháp luật dân sự không bị giới hạn bởi tuổi tác, sức khỏe hay bất kỳ một điều kiện nào khác trừ hợp bị pháp luật truy tố Để góp phần bảo đảm mọi cá nhân có quyền tự do kinh doanh, tự do giao kết hợp đồng, Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch; Người nước ngoài tại Việt Nam có năng lực pháp luật dân sự như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác” (Điều

673) Đối với pháp nhân, năng lực pháp luật dân sự được hình thành kể từ khi doanh nghiệp, tổ chức được thành lập và mất đi khi DN đó giải thể

Năng lực hành vi dân sự cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 19, Bộ luật Dân sự 2015) Năng lực hành vi dân sự của pháp nhân được thể hiện qua hành vi của người đại diện cho pháp nhân đó Năng lực hành vi dân sự của các thương nhân nước ngoài ở những quốc gia khác nhau thường có những quy định khác nhau Ở Pháp và Đức quy định năng lực hành vi được xác định theo luật của nước mà người đó mang quốc tịch bất kể nơi cư trú Trong khi đó, Anh với Mỹ thì quy định rằng năng lực hành vi được xác định dựa trên pháp luật nơi cư trú của đương sự, bất kể quốc tịch Theo quy định của Việt Nam, năng lực hành vi dân sự của cá nhân người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch, trừ trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam; năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài đó được xác định theo pháp luật Việt Nam (Điều 674, Bộ luật Dân sự 2015) Người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Theo pháp luật Việt Nam, chủ thể khi tham gia hợp đồng MBHHQT được coi là hợp pháp khi có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, đồng thời phải đảm bảo đáp ứng điều kiện riêng về chủ thể kinh doanh quy định trong pháp luật chuyên ngành Theo Luật Thương mại 2005, các bên trong hợp đồng MBHHQT phải là thương nhân hoặc các tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại, cụ thể: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” (Khoản 1, Điều 6)

Việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải do người đại diện của pháp nhân thực hiện Đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền Đại diện theo pháp luật là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của doanh nghiệp, là người đại diện pháp nhân ký kết các hợp đồng và tổ chức thực hiện hợp đồng Đại diện pháp nhân theo ủy quyền là người được người có thẩm quyền ký kết hợp đồng ủy quyền ký kết hợp đồng Người được ủy quyền chỉ được quyền giao kết hợp đồng trong phạm vi được ủy quyền và không được ủy quyền lại cho người thứ ba

1.2.2 Điều kiện về mục đích, nội dung của hợp đồng

Nội dung của hợp đồng MBHHQT là những thỏa thuận, cam kết về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng đó Mục đích của hợp đồng là những lợi ích hợp pháp mà các bên tham gia mong muốn đạt được từ việc giao kết hợp đồng Điểm C, Khoản 1, Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 quy định mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội

Các quốc gia trên thế giới đều có quy định về các nội dung của hợp đồng MBHHQT, nhiều nước quy định hợp đồng phải có những điều khoản cơ bản, những điều khoản này được gọi là “những điều khoản chủ yếu” hoặc “những điều khoản đương nhiên” hoặc “những điều khoản cơ bản” Ví dụ như: Luật bán hàng của Anh quy định hợp đồng phải có “những điều khoản đương nhiên”, đây là những điều khoản mà nếu không có những điều khoản đó thì hợp đồng sẽ vô nghĩa 8 Còn Công ước Viên 1980 lại không quy định về những điều khoản bắt buộc phải có trong hợp đồng

Theo điều 398, Bộ luật Dân sự 2015 thì nội dung của hợp đồng MBHHQT thường bao gồm các điều khoản cơ bản là: Tên hàng hóa, số lượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, điều kiện cơ sở giao hàng, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên… Bên cạnh đó, để làm rõ nội dung của hợp đồng, các bên có thể tiến hành lập các phụ lục đính kèm hợp đồng Cũng giống như quy định về mục đích và nội dung của hợp hợp đồng, nội dung của các phụ lục đính kèm không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, đồng thời không được trái với hợp đồng Trong trường hợp phụ lục có điều khoản trái với nội dung của hợp đồng thì điều khoản này trở nên không có hiệu lực, trừ trường hợp nếu có thỏa thuận khác Trường hợp nếu người mua và người bán chấp nhận phụ lục của hợp đồng có nội dung trái với hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa đổi

So với Bộ luật Dân sự 2005 thì Bộ luật Dân sự 2015 đã bổ sung thêm một điểm mới đó là quy định về quyền thỏa thuận của các bên về nội dung hợp đồng,

8 Nguyễn Thị Hương, Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014, tr.22 theo đó Điều 398 quy định: “Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng” Đây được xem là bổ sung thêm phương thức giải quyết khi xảy ra tranh chấp Cũng theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp các bên thỏa thuận các nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì hợp đồng đó sẽ vô hiệu Trường hợp một phần nội dung của giao dịch thương mại đó vô hiệu mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch thì hợp đồng sẽ vô hiệu từng phần (Điều 130, Bộ luật Dân sự 2015) Đối tượng của hợp đồng MBHHQT là hàng hóa phải được phép lưu thông, mua bán theo quy định của nước xuất khẩu, nhập khẩu và các cam kết quốc tế mà các nước là thành viên Tại Việt Nam, danh mục các hàng hóa cấm xuất khẩu, nhập khẩu được quy định chi tiết tại Nghị định số 69/2018/NĐ-CP của Chính phủ

1.2.3 Điều kiện về hình thức của hợp đồng

Hình thức của hợp đồng MBHHQT là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định đến hiệu lực của giao dịch mua bán Hình thức của hợp đồng là phương tiện pháp lý để diễn đạt ý chí của các bên, cũng như chứng minh sự tồn tại của giao dịch Hiện nay có hai quan điểm về việc quy định hình thức của hợp đồng MBHHQT, đó là:

Thứ nhất, hợp đồng được ký kết bằng văn bản, lời nói hoặc bất kỳ hình thức nào do người bán và người mua tự thỏa thuận Quan điểm này được áp dụng tại các nước Phương Tây như Anh và Pháp

Thứ hai, hợp đồng phải được ký kết bằng văn bản hoặc các hình thức tương đương Công ước Viên 1980 đã công nhận cả hai hình thức nêu trên của hợp đồng MBHHQT Theo đó, điều 11 của Công ước này quy định rằng hợp đồng MBHHQT có thể được ký kết bằng lời nói và không cần thiết phải tuân thủ bất kỳ yêu cầu nào khác về mặt hình thức hợp đồng Còn điều 96 thì lại cho phép các quốc gia bảo lưu không áp dụng Điều 11 nếu luật pháp quốc gia quy định hình thức văn bản là bắt buộc Theo quy định của pháp luật Việt Nam tại Khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự

2015 quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự liên quan đến hình thức của giao dịch dân sự đó là trong trường hợp luật có quy định về hình thức Điều 119 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về hình thức giao dịch dân sự theo đó giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó

Theo Luật Thương mại 2005, Khoản 2 Điều 27 quy định: “Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương” Như vậy có thể thấy, theo quy định Việt Nam thì hợp đồng MBHHQT phải được thể hiện dưới hình thức là văn bản hoặc tương đương văn bản như fax, telex…

1.2.4 Điều kiện về tính tự nguyện khi giao kết hợp đồng

Giao kết hợp đồng MBHHQT

1.3.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng MBHHQT

Khi tiến hành giao kết hợp đồng MBHHQT, các đối tác cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau đây:

Thứ nhất, hợp đồng MBHHQT phải được ký kết dựa trên nguyên tắc tự do, tự nguyện Như đã đề cập ở phần trên, hợp đồng là ý chí, thỏa thuận của các bên về mong muốn được tiến hành giao dịch mua bán hàng hóa Thỏa thuận này phải có sự đồng thuận, tự do xác định dung thỏa thuận, tự do bàn bạc, tự nguyện ký kết hợp đồng Nếu thiếu ý chí, thiếu sự đồng thuận từ một bên thì hợp đồng không thể được hình thành

Thứ hai, nguyên tắc giao kết hợp đồng MBHHQT là không được trái với quy định pháp luật, thuần phong mỹ tục, vi phạm đạo đức xã hội Hợp đồng MBHHQT được hình thành dựa trên ý chí của các bên, tuy nhiên ý chí đó không được trái với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội Nội dung và hình thức của hợp đồng MBHHQT phải thực hiện theo quy định của pháp luật

Thứ ba, hợp đồng MBHHQT phải được ký kết dựa trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi Hay nói cách khác, các bên có vai trò, vị trí, quyền lợi và nghĩa vụ như nhau khi tham gia ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Bộ luật Dân sự

2015 nghiêm cấm hành vi một bên tiến hành lừa dối bên còn lại trong các giao dịch dân sự Không có chủ thể nào được ưu tiên hơn, cũng không có chủ thể nào bị bắt buộc phải chịu thiệt thòi hơn vì bất cứ lý do gì, các chủ thể khi giao kết hợp đồng MBHHQT đều bình đẳng trước pháp luật, ký kết hợp đồng với mục tiêu cùng có lợi

Thứ tư, các bên phải trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản Theo nguyên tắc này, các chủ thể hợp pháp khi tham gia giao kết hợp đồng MBHHQT phải dùng chính tài sản của mình để bảo đảm việc giao kết và thực hiện hợp đồng, phải trực tiếp chịu toàn bộ trách nhiệm với tài sản của mình Nguyên tắc này quy định trách nhiệm tài sản của các bên đối với nội dung của việc ký kết và thực hiện hợp đồng Ngoài những nguyên tắc cơ bản trên, các bên khi tiến hành giao kết hợp đồng MBHHQT còn phải bảo đảm các nguyên tắc khác như thiện chí và trung thực, tự do đàm phán lựa chọn nguồn luật áp dụng, lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp

1.3.2.Trình tự giao kết hợp đồng MBHHQT

1.3.2.1 Đề nghị giao kết hợp đồng

Chào hàng (Offer/order) là một đề nghị giao kết hợp đồng, thể hiện ý chí mong được ký kết hợp đồng với bên nhận chào hàng

Công ước Viên quy định: “Chào hàng phải được gửi đích danh cho một hoặc nhiều người với nội dung phải rõ ràng về việc xác định hàng hóa, số lượng, giá cả”

(Khoản 1, Điều 14) Căn cứ vào quy định này có thể thấy, chào hàng phải nhắm đến một chủ thể, đối tượng xác định Nội dung của chào hàng phải bảo gồm tên hàng hóa, số lượng hàng hóa, giá cả

Pháp luật Việt Nam cũng đã quy định: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị)” (Khoản 1, Điều 386, Bộ Luật Dân sự 2015) Theo đó, đề nghị giao kết hợp đồng phải thể hiện rõ ý định, mong muốn được tiến hành ký kết hợp đồng của bên đưa ra đề nghị

Chào hàng có hiệu lực khi nó tới nơi người được chào hàng và hết hiệu lực khi người chào hàng nhận được thông báo về việc từ chối chào hàng Chào hàng sẽ bị hủy nếu thông báo hủy chào hàng đến trước hoặc cùng với thời điểm người được chào hàng nhận được thông báo chào hàng

Cho đến khi hợp đồng được ký kết, người chào hàng có thể thu hồi chào hàng nếu thông báo về việc thu hồi tới nơi người được chào hàng trước khi người này gửi đi thông báo chấp nhận chào hàng Có hai trường hợp không thể thu hồi chào hàng, đó là:

− Chào hàng cố định hoặc được ghi nhận bằng cách khác rằng nó không thể bị thu hồi

− Người nhận ước lượng một cách hợp lý là chào hàng không thể thu hồi được và đã hành động theo chiều hướng đó (Điều 16, Công ước Viên 1980)

1.3.2.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Chấp nhận chào hàng là hành vi thể hiện sự đồng tình, chấp nhận toàn bộ nội dung chào hàng của bên nhận được chào hàng Thời điểm chấp nhận chào hàng chính là thời điểm các bên giao kết hợp đồng Một chào hàng, thể hiện sự đồng thuận của người nhận được chào hàng, nhưng có đi kèm là sự chỉnh sửa bổ sung hoặc thay đổi so với chào hàng ban đầu thì khi đó không làm nên sự chấp nhận chào hàng, hợp đồng chưa được giao kết, mà đây chỉ là sự hình thành một chào hàng mới Nội dung này đã được quy định tại Điều 392 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể như sau:

“Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới” Sự im lặng của bên nhận được chào hàng sẽ không mặc nhiên là sự chấp nhận chào hàng Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên (Khoản 2, Điều 393)

1.3.2.3 Thời điểm giao kết hợp đồng

Trong trường hợp hai bên trực tiếp ngồi lại ký kết hợp đồng, thời điểm hai bên ký vào hợp đồng là thời điểm hợp đồng đã được hình thành Các bên tham gia ký kết có nghĩa vụ thực hiện nghiêm túc hợp đồng đó Trong trường hợp khác, thời điểm giao kết hợp đồng sẽ được xác định là thời điểm hành vi chấp nhận chào hàng được thực hiện Hệ thống pháp luật các quốc gia có cách tiếp thu khác nhau về vấn đề này Các quốc gia Anh và Mỹ ủng hộ học thuyết tống đạt, theo đó thời điểm chấp nhận chào hàng là thời điểm bên nhận chào hàng gửi lời chấp nhận chào hàng đi Trong khi đó Việt Nam và Pháp ủng hộ thuyết tống tiếp thu Học thuyết này coi thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên chào hàng nhận được chấp nhận chào hàng từ bên nhận chào hàng

Khoản 2, Điều 18 Công ước Viên quy định, chấp nhận chào hàng có hiệu lực từ khi người chào hàng nhận được chấp nhận chào hàng Tuy nhiên, chấp thuận chào hàng sẽ không phát sinh hiệu lực nếu sự chấp nhận ấy không gửi tới người chào hàng trong thời hạn mà người này đã quy định trong chào hàng, hoặc nếu thời hạn đó không được quy định như vậy, thì trong một thời hạn hợp lý, xét theo các tình tiết của sự giao dịch, trong đó có xét đến tốc độ của các phương tiện liên lạc do người chào hàng sử dụng Như vậy, quy định của Công ước Viên cũng giống với học thuyết tiếp thu

1.3.3 Đàm phán và soạn thảo hợp đồng MBHHQT

1.3.3.1 Đàm phán hợp đồng MBHHQT Đàm phán là việc hai hay nhiều bên tiến hành bàn bạc, thảo luận để giải quyết xung đột về lợi ích giữa các bên Mục đích của đàm phán là nhằm gia tăng lợi ích của cả hai bên so với việc không đàm phán Đàm phán thương mại là quá trình trao đổi ý kiến của các chủ thể trong một xung đột nhằm đi tới thống nhất cách nhận định, thống nhất quan niệm thống nhất cách xử lý những vấn đề nảy sinh trong quan hệ buôn bán giữa hai hoặc nhiều bên 9

Thực hiện hợp đồng MBHHQT

1.4.1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng MBHHQT

Sau khi giao kết hợp đồng MBHHQT các bên cần thực hiện đúng các nguyên tắc sau:

− Cần thực hiện đúng các cam kết về các điều khoản đã được thỏa thuận, có nêu trong hợp đồng hoặc phụ lục của hợp đồng như: mặt hàng, số lượng, chất lượng, điều kiện cơ sở giao hàng, điều kiện thanh toán, hình thức thanh toán, luật áp dụng, cơ quan giải quyết tranh chấp

− Cần thực hiện hợp đồng đã giao kết một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho tất cả các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau

− Khi tiến hành thực hiện hợp đồng MBHHQT các bên tham gia không được làm thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác

1.4.2 Trách nhiệm do vi phạm HĐMBHHQT

1.4.2.1 Khái niệm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng MBHHQT

Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là việc một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ những gì mà các bên đã thỏa thận trong hợp đồng, do đó bên vi phạm phải chịu trách nhiệm về vi phạm của mình Có thể hiểu vi phạm hợp đồng MBHHQT là việc chủ thể của hợp đồng MBHHQT thực hiện hành vi trái với cam kết, xâm phạm quyền lợi hợp pháp của chủ thể còn lại Chủ thể vi phạm xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể còn lại trong hợp đồng MBHHQT, xâm phạm đến đối tượng mà các bên trong hợp đồng đã xác định rõ ràng

Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng MBHHQT là trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và là một dạng cụ thể của trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng được hiểu là việc bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do hành vi vi phạm của mình đối với bên còn lại của hợp đồng

1.4.2.2 Các yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng MBHHQT

Theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, một bên được coi là có vi phạm hợp đồng MBHHQT nếu có đầy đủ bốn yếu tố: có hành vi vi phạm pháp luật của bên vi phạm; bên bị vi phạm có thiệt hại tài sản; có lỗi của bên vi phạm; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật của bên vi phạm và thiệt hại của bên bị vi phạm Sau đây, người viết sẽ phân tích cụ thể các yếu tố cấu thành sự vi phạm hợp đồng MBHHQT

− Thứ nhất, có hành vi vi phạm pháp luật của bên vi phạm

Hành vi vi phạm hợp đồng MBHHQT là việc một trong các bên tham gia hợp đồng không thực hiện hợp đồng, hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ đã được quy định Ví dụ, bên bán trong hợp đồng MBHHQT giao chậm hàng, sai hàng, hàng hóa không đảm bảo chất lượng; hay việc bên mua thanh toán chậm, không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ theo các quy định của hợp đồng đã ký kết thì đây được xem là những hành vi vi phạm hợp đồng Bên bị vi phạm muốn bên vi phạm chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng MBHHQT thì bên bị vi phạm phải chứng minh được yếu tố đầu tiên này là có hành vi vi phạm hợp đồng MBHHQT của bên vi phạm

Khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng MBHHQT cần xác định đó là vi phạm cơ bản hay là vi phạm không cơ bản Việc kiểm tra, xác định tính chất của hành vi này là cần thiết, vì nó là cơ sở để xác định trách nhiệm của bên phạm trong từng trường hợp Điều 308, 310, 312 Luật Thương mại 2005 đã quy định, trong trường hợp vi phạm là vi phạm không cơ bản thì bên bị vi phạm không được tạm ngừng thực hiện hợp đồng, không được đình chỉ hay hủy bỏ hợp đồng

Công ước Viên quy định: “Một sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu quả đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự”

− Thứ hai, bên bị vi phạm có thiệt hại tài sản

Vi phạm hợp đồng MBHHQT có thể gây ra thiệt hại hoặc không gây ra thiệt hại về tài sản của người bị vi phạm Tùy thuộc vào mức độ và thời điểm vi phạm hợp đồng MBHHQT có thể dẫn tới thiệt hại nhiều hay ít cho các chủ thể còn lại Khi xác được có thiệt hại xảy ra thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường về về những mất mát, tổn thất đó Pháp luật các nước đều có quy định mang tính nguyên tắc là có thiệt hại thì mới phải bồi thường, nếu không có thiệt hại thì dù có vi phạm hợp đồng cũng không phải bồi thường

Hành vi vi phạm hợp đồng MBHHQT có thể gây ra thiệt hại về vật chất và tinh thần cho bên bị vi phạm Tuy nhiên, theo Công ước Viên thì những mất mát, thiệt hại về vật chất sẽ được bồi thường, còn những thiệt hại về tinh thần thì sẽ không được bồi thường Cũng giống như Công ước Viên, pháp luật Việt Nam quy định bên vi phạm phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất cho bên bị vi phạm, cụ thể là bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút

− Thứ ba, có lỗi của bên vi phạm

Như đã đề cập ở trên, hợp đồng MBHHQT là thỏa thuận của các chủ thể về việc thực hiện một giao dịch mua bán hàng hóa Hợp đồng cũng quy định về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên Về cơ bản, các bên đều nhận thức rõ việc nếu mình vi phạm hợp đồng, có thể sẽ dẫn tới thiệt hại cho các bên còn lại Ví dụ: Hai bên đã ký hợp đồng về việc mua bán mặt hàng áo ấm, thông tin về số lượng áo ấm, chất lượng, giá cả đã được quy định chi tiết trong hợp đồng Tuy nhiên, gần đến ngày giao hàng, người bán nhận thấy giá cả của mặt hàng này trên thị trường tăng cao và có nhiều khách hàng khác đến hỏi thăm để mua số hàng này với giá cả cao hơn Nhận thấy việc bán hàng cho đối tác ban đầu sẽ ít lợi ích hơn so với việc bán cho đối tác mới Người bán đã không giao hàng theo hợp đồng cho khách hàng ban đầu Không nhận được hàng hóa, người mua hàng đã mất đi cơ hội kinh doanh, thậm chí còn phải chịu thiệt hại về tài sản cũng như lãi dự tính Trong trường hợp này, hành vi người bán cố ý không giao hàng hóa theo thỏa thuận trong hợp đồng MBHHQT đã gây thiệt hại cho người mua; và đây là lỗi trực tiếp của bên vi phạm hợp đồng Lỗi được quyết định bởi ý chí của bên vi phạm Nếu căn cứ vào ý thức, có thể phân chia lỗi vi phạm thành hai loại đó là lỗi vô ý và lỗi cố ý Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì: “Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” (Điều 308, Bộ luật Dân sự 2015)

Từ phân tích trên có thể nhận thấy, về nguyên tắc dù là lỗi cố ý hay lỗi vô ý thì trường hợp một bên vi phạm hợp đồng, gây thiệt hại cho bên còn lại thì phải chịu trách nhiệm

− Thứ tư, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại của bên bị vi phạm

Thiệt hại của bên bị vi phạm có thể do yếu tố khách quan bên ngoài, cũng có thể do nguyên nhân từ bên vi phạm hợp đồng Do vậy cần phải xác định xem có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng MBHHQT và thiệt hại của bên bị vi phạm hay không Đây là việc làm tối quan trọng để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại Bên vi phạm hợp đồng chỉ phải chịu trách nhiệm nếu bên bị vi phạm chứng minh được hành vi vi phạm là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại cho bên bị vi phạm Nội dung này đã được quy định tại điều 74 của Công ước Viên:

“tổn thất là những khoản một bên phải gánh chịu do hậu quả của việc vi phạm hợp đồng”

1.4.2.3 Các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng MBHHQT Điều 292 Luật Thương mại 2005 quy định các chế tài đối với bên vi phạm hợp đồng đó là: Buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, buộc bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng, các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế

Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng

1.5.1 Chính sách thương mại của quốc gia và quốc tế

Mỗi quốc gia đều xây dựng chính sách thương mại riêng bằng cách thiết lập các biện khuyến khích, hạn chế hoặc cấm xuất nhập khẩu hàng hóa Ngoài ra, các nước còn tiến hành ký kết các hiệp định song phương, đa phương nhằm điều chỉnh hoạt động thương mại theo định hướng cùng có lợi cho các nước thành viên Chính sách khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động xuất nhập khẩu bao gồm hàng rào thuế quan, phi thuế quan, chính sách thị trường Các chính sách này ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của doanh nghiệp hai nước

Vì vậy, trước khi tiến hành giao kết hợp đồng, doanh nghiệp cần tìm hiểu thông tin về chính sách, quy định xuất khẩu nhập khẩu hàng hóa, thuế suất của nước đối tác Nếu hàng hóa mua bán thuộc mặt hàng cấm xuất khẩu nhập khẩu của nước sở tại, nhưng doanh nghiệp không tìm hiểu và vẫn thực hiện hợp đồng thì hậu quả pháp lý

DN có thể phải đối mặt đó là không thực hiện được hợp đồng, bị xử phạt hành chính và/hoặc chịu trách nhiệm hình sự

Yếu tố văn hóa có vai trò quan trọng trong việc đàm phán và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Chính yếu tố quốc tế đã tạo nên những khó khăn nhất định trong việc tiếp cận, đàm phán và thực hiện hợp đồng Đối tác đến từ nước ngoài, có khác biệt về văn hóa, thậm chí bất đồng trong quá trình giao dịch làm việc Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần, trí tuệ, cảm xúc, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lối sống, phong cách làm việc Văn hóa quyết định cách thức giao tiếp trong đàm phán, cách thức thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Văn hóa góp phần định hình tư duy kinh doanh, đồng thời cũng quyết định phương thức quản trị của doanh nghiệp

Khi các nhà đàm phán thuộc các quốc gia khác nhau cùng ngồi lại để đàm phán thì sẽ nảy sinh sự va chạm, tương tác của các nền văn hóa khác nhau Ví dụ, phong cách đàm phán của DN Hàn Quốc tiếp cận theo kiểu bức tranh lớn, tức là tiếp cận vấn đề toàn diện; trong khi người Anh và Mỹ thích chia nhỏ vấn đề để giải quyết Người Trung Quốc và Việt Nam thường tập trung vào điều khoản giá, trong khi người Mỹ tập trung vào điều khoản chất lượng hàng hóa

Các quốc gia khác nhau, có văn hóa làm việc khác nhau, do vậy nếu không tìm hiểu rõ tất yếu sẽ ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hợp đồng MBHHQT

1.5.3 Đặc trưng của hàng hóa trong hợp đồng MBHHQT

Mức độ khan hiếm, độc quyền hay phổ biến của hàng hóa cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đàm phán và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Nếu đối tượng của hợp đồng là mặt hàng độc quyền thì lợi thế đàm phán và thực hiện hợp đồng sẽ nghiêng về bên bán, bên bán có khả năng đưa ra nhiều điều khoản có lợi cho việc thực hiện hợp đồng Ngược lại, trong trường hợp hàng hóa là những mặt hàng phổ biến, có nhiều đơn vị muốn chào hàng, cung cấp thì khi đó lợi thế có thể nghiêng về phía bên mua, bên mua sẽ tìm cách giảm giá cũng như đưa ra các điều kiện có lợi cho mình Đặc trưng của hàng hóa cũng là nhân tố tác động đến việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Mỗi mặt hàng sẽ có khoảng thời gian sản xuất, chế tạo riêng, do vậy bên mua và bên bán cần chú ý để có được khoảng thời gian hợp lý có thể bảo đảm việc giao hàng đúng hạn

1.5.4 Hiểu biết về khung pháp lý

Có thể nói yếu tố quốc tế đã làm nên tính đặc trưng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Cũng chính yếu tố này đã tạo nên sự khác biệt trong việc hiểu và vận dụng nguồn luật Trong quá trình đàm phán và thực hiện hợp đồng, nếu các bên không nắm rõ hệ thống pháp luật của nước đối tác, cũng như các quy định của quốc gia mình thì sẽ rất khó để hoàn thành giao dịch mua hàng Trong một số trường hợp, nếu doanh nghiệp không am hiểu pháp luật sẽ rất dễ để đối tác nước ngoài lợi dụng, lừa dối trong việc soạn thảo và thực hiện hợp đồng Chính vì thế, hiểu biết về khung pháp lý sẽ tiền đề để doanh nghiệp có thể nắm rõ được điều kiện và cách thức tiến hành các giao dịch mua bán

1.5.5 Năng lực của người tham gia đàm phán, thực hiện hợp đồng

Năng lực của người đàm phán bao gồm trình độ và kinh nghiệm Kinh nghiệm của người đàm phán là những điều người đàm phán đúc rút và chiêm nghiệm thông qua những cuộc đàm phán mà người đó đã tham gia trong quá khứ Kinh nghiệm được ghi nhớ và đúc rút thành các kiểu cư xử, hành động thích hợp với tình huống cụ thể Vì thế, nếu trong đàm phán xuất hiện các tình huống thuộc kiểu kinh nghiệm, người đàm phán có thể nhanh trí xử lý một cách hiệu quả Trình độ của người đàm phán là những hiểu biết của người đó về đối tượng đàm phán, những kỹ năng trong quá trình đàm phán

Năng lực của người thực hiện hợp đồng đó là tổng thể các điều kiện để các bên thực hiện đúng các nghĩa vụ như đã cam kết Đối với người mua, cần có năng lực tài chính để thanh toán hợp đồng đúng hạn Đối với người bán, cần có đủ năng lực sản xuất để có thể giao hàng đúng hạn, đúng chất lượng như đã cam kết

1.5.6 Vị thế của doanh nghiệp trong quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế

Tiềm lực của doanh nghiệp quyết định vị thế của họ trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tiềm lực của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố: sức mạnh tài chính, hệ thống cơ sở vật chất, số lượng người bán và người mua sẵn có của doanh nghiệp, hệ thống thông tin, chất lượng nguồn nhân lực Khi một trong các bên luôn có sẵn nhiều người mua và người bán thì họ có quyền lựa chọn đối tác Trong quá trình đàm phán nếu họ không đạt được lợi ích mong muốn thì họ có thể chuyển qua đàm phán với đối tác khác

Sức mạnh tài chính cũng là yếu tố quyết định đến vị thế của các bên trong quá trình đàm phán và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một trong những công cụ pháp lý quan trọng giúp các doanh nghiệp thực hiện mục tiêu thương mại của mình Việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một quá trình đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm chắc trình tự, các quy định, các nguyên tắc và nắm chi tiết từng nội dung vấn đề, phải có kỹ năng đàm phán, soạn thảo để đạt đến mục tiêu của giao dịch thương mại thương mại quốc tế Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hoàn toàn do các bên thoả thuận, tuy nhiên những thoả thuận đó phải không vi phạm các điều cấm của pháp luật

Trong chương 1, Luận văn đã nghiên cứu khái quát các vấn đề chung về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như khái niệm, đặc điểm, điều kiện hiệu lực, trình tự giao kết, nguyên tắc thực hiện và một số yếu tố ảnh hưởng đến giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Đây là cơ sở lý luận để tác giả phân tích thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng MBHHQT của các doanh nghiệp tỉnh Nghệ An trong chương 2.

THỰC TIỄN GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TỈNH NGHỆ AN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ CỦA CÁC

Ngày đăng: 02/07/2021, 22:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w