1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo vệ rừng đặc dụng theo pháp luật việt nam từ thực tiễn vườn quốc gia bù gia mập, tỉnh bình phước

73 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 838,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 khái niệm rừng như sau: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Hà Nội, năm 2021

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đã đang và sẽ giữ vai trò hết sức quan trọng phòng hộ đầu nguồn, góp phần quan trọng ứng phó với biến đổi khí hậu Rừng đặc dụng, rừng phòng hộ giúp bảo tồn đa dạng sinh học là môi trường sinh thái bảo

vệ các nguồn gen quý hiếm đặc biệt quan trọng của ngành sản xuất nông, lâm nghiệp,

là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là nguồn để xây dựng du lịch, là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng và ngày càng bị thu hẹp

Rừng Việt Nam được phân chia thành 3 là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất với chức năng quản lý khác nhau Tổng diện tích rừng toàn quốc năm

2017 là 14.4 triệu ha, trong đó: Rừng đặc dụng là hơn 2.1 triệu ha, chiếm 14.9%; Rừng phòng hộ là hơn 4.5 triệu ha, chiếm 31.7%; Rừng sản xuất có hơn 6.7 triệu ha, chiếm 46% Ngoài ra, cả nước hiện có 941 nghìn ha rừng chưa được xếp loại, tương đương 13.9% tổng diện tích rừng Tính đến ngày 31/12/2018, diện tích đất có rừng là 14.491.295 ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm 10.255.525 ha và rừng trồng chiếm 4.235.770 ha Diện tích đất có rừng đủ tiêu chuẩn để tính tỷ lệ che phủ toàn quốc là 13.785.642 ha, tỷ lệ che phủ là 41,65%, tăng 0,2% so với năm 2017, vượt chỉ tiêu của Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 1/1/2018 của Chính phủ Xét theo 8 vùng sinh thái đặc trưng, rừng đặc dụng phân bố nhiều nhất ở vùng Bắc Trung Bộ, chiếm khoảng 0.6 triệu ha Khu vực có nhiều rừng phòng hộ nhất là Đông Bắc, hơn 1.1 triệu ha Còn khu vực Đông Bắc và Tây nguyên có diện tích rừng sản xuất lớn, chiếm lần lượt là gần 2.2 triệu ha và 1.4 triệu ha Rừng đặc dụng được phân làm 5 loại, bao gồm: Vườn quốc gia; Khu bảo tồn thiên nhiên (hay Khu dự trữ thiên nhiên theo Luật Lâm nghiệp 2017); Khu bảo tồn loài và sinh cảnh; Khu bảo vệ cảnh quan (bao gồm rừng bảo tồn

di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh, rừng tín ngưỡng; rừng bảo vệ môi trường

đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao) và 5 các khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học; Vườn thực vật quốc gia; rừng giống quốc gia

Trong những năm qua có rất nhiều thay đổi trong pháp luật bảo vệ rừng như

sự đời của Luật Lâm nghiệp năm 2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 đã khắc phục

Trang 4

được các hạn chế của Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 Cùng với đó, pháp luật về bảo vệ môi trường đã có nhiều thay đổi mang chiều hướng tích cực, tiến bộ, phục vụ tốt cho hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ rừng, góp phần tăng cường pháp chế trong lĩnh vực này, đặc biệt là ở các địa phương có rừng đặc dụng Mặc dù vậy, trong quá trình áp dụng pháp luật vẫn còn những kho khăn nhất định Nguyên nhân một phần do pháp luật về bảo vệ rừng vẫn còn nhiều chỗ chưa thật sự phù hợp với thực tiễn phức tạp của công tác này Do hệ thống cơ sở dữ liệu về bảo vệ rừng chưa được kiện toàn Trong thời gian qua tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước triển khai việc bảo vệ rừng đặc dụng gặp nhiều khó khăn và vướng mắc, quá trình tổ chức thực thi có hiệu quả nhưng chưa thật sự có hiệu quả cao Từ pháp luật thực định và quá trình áp dụng pháp luật trong công tác bảo vệ rừng đặc dụng tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước cho thấy còn nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu, xem xét, đánh giá một cách toàn diện, để hiểu rõ nhất những kết quả đạt được, tìm ra những tồn tại, vướng mắc, từ đó đưa ra giải pháp để thực thi pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng tại đây ngày càng hiệu quả hơn Với ý nghĩa và tầm quan trọng

đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Bảo vệ rừng đặc dụng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước”, làm đề tài luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong thời gian qua bảo vệ môi trường cũng như, bảo vệ đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học và các cá nhân khác với những khía cạnh nghiên cứu khác nhau Trong đó tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của một số tác giả sau đây:

- Về luận án tiến sỹ có:

Luận án tiến sỹ của Hà Công Tuấn về “Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng”, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2006; Luận án tiến sỹ “Hoàn thiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sỹ Luật học, của Nguyễn Thanh Huyền, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2012; Luận án tiến sỹ “Chính sách quản lý rừng và sinh kế bền vững cho cộng đồng các dân tộc thiểu số vùng núi Thừa Thiên Huế”, của Nguyễn Thị Mỹ Vân, năm 2013 và một số các công trình nghiên cứu khác

- Các luận văn thạc sỹ có:

Trang 5

Luận văn thạc sỹ “Pháp luật bảo vệ môi trường rừng ở Việt Nam thực trạng và phương hướng hoàn thiện”, Luận Văn Thạc sỹ của Nguyễn Hải Âu, Đại học luật Hà

Nội, năm 2001; Luận văn thạc sỹ “Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ rừng ở

Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sỹ Luật học, của Nguyễn Thanh Huyền, Khoa

Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, 2004; Luận văn thạc sỹ “Pháp luật về bảo vệ tài

nguyên rừng ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ Luật học, của Phạm Thị Thủy, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2014; Luận văn thạc sỹ “Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là tổ chức kinh tế theo luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004”, của Lê Thị Lệ Thu, Học viện khoa học xã hội Việt Nam; Luận văn thạc sỹ “Pháp luật về suy thoái tài nguyên rừng ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ, của Nguyên Thị Thanh Nga,

Đại học Luật Hà Nội, năm 2016; Luận văn thạc sỹ “Giao khoán rừng theo pháp luật

Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn”, của Nguyễn Văn Quảng, năm 2017; Luận văn thạc sỹ “Pháp luật về bảo vệ rừng đặc dụng từ thực tiễn Vườn quốc gia Yok Đôn, tỉnh Đắk Lắk”, Luận văn thạc sỹ, của Lê Thị Lê Na, Học viện khoa học xã hội - Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, năm 2018; Luận văn thạc sỹ “Giao rừng cho cá nhân,

hộ gia đình theo pháp luật bảo vệ và phát triển rừng ở Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”, Luận văn thạc sỹ, của Ngô Vinh, Học viện khoa học xã hội - Viên hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, năm 2019; Luận văn thạc sỹ “Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng theo pháp luật bảo vệ rừng và phát triển rừng ở Việt Nam hiện nay từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”, Luận văn thạc sỹ, của Ngô Văn Luận, Học viện khoa học xã hội - Viên hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, năm 2019

- Có một số khóa luận như:

Khóa luận tốt nghiệp của nhân luật, của Hoàng Hiền Lương về “Một số vấn đề pháp luật về bảo vệ các loài động vật, thực vật nguy cấp, quý, hiếm”, Đại luật Hà Nội, năm 2009; Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, của Nguyễn Thị Hoa, về “Pháp luật về buôn bán động, thực vật hoang dã”, Đại học luật Hà Nội, năm 2012

-Trên một số tạp chí có:

Bài “Quản lý và bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng”, của TS Nguyễn Huy Dũng,

tạp chí Bảo vệ môi trường số 12/2008; “Nghiên cứu một số tội phạm xâm hại môi

trường rừng được quy định tại chương XVII – các tội xâp phạm môi trường trong Bộ

Trang 6

luật Hình sự năm 1999”, của Nguyễn Thanh Huyền, Tạp chí Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn, tháng 6/2008; “Bàn về tội hủy hoại rừng theo điều 189 Bộ luật Hình sự”, của Nguyễn Văn Dũng, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/2009; “Vướng mắc cần

giải quyết trong việc áp dụng điều 190 Bộ luật Hình sự về tội vi phạm các quy định

về bảo vệ động vật hoang dã, quý, hiếm”, của Nguyễn Duy Giảng, Tạp chí Kiểm sát,

số 04/2009; “Về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng tại điều 175

Bộ luật Hình sự”, của Phạm Văn Beo, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2010; “Công tác phòng chống vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm ở nước ta một số khó khăn, vướng mắc và giải pháp khắc phục”, của Đặng Thu Hiền, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 5/2011; “Thực trạng công tác phòng, chống tội phạm vi phạm pháp luật trong lĩnh vực buôn bán động vật hoang dã, quý hiếm ở nước ta”, của Trần Minh Hưởng, Tạp chí Kiểm sát, số 7/2012

Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu của các tác giả, mỗi công trình nghiên cứu chỉ ở một khía cạnh hoặc chỉ đề cập đến một số vấn đề liên quan đến pháp luật chỉ ra vai trò quan trọng của pháp luật về bảo vệ môi trường rừng nói chung Tuy nhiên chưa có công trình, đề tài hay bài viết nào nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng từ thực tiễn Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước Việc chọn đề tài “Bảo vệ rừng đặc dụng theo pháp luật Việt Nam

từ thực tiễn Vườn quốc gia Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước”, làm công trình nghiên cứu

để bảo vệ luận văn không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khác và có ý nghĩa thực tiễn đối với địa phương

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu, phân tích nhằm đánh giá và luận giải những khía cạnh lý luận về bảo vệ rừng đặc dụng và thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng qua việc nghiên cứu địa bàn cụ thể là Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước

để làm sang tỏ đề tài Trên cở sở nghiên cứu đề tài, đề xuất, định hướng các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng đặc dụng nói chung và tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước nói riêng

Trang 7

Phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng, nguyên tắc của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng, nội dung của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng,

ý nghĩa của công tác bảo vệ rừng đặc dụng, những yếu tố tác động tới công tác bảo

vệ rừng đặc dụng, các tiêu chí đánh giá việc bảo vệ rừng đặc dụng, pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng

Đánh giá những kết quả đạt được dưới khía cạnh áp dụng pháp luật vào thực tiễn công tác bảo vệ rừng đặc dụng Từ đó, đưa ra những vấn đề còn hạn chế, vướng mắc

và bất cập nhằm đưa ra những giải hiệu quả hơn nhằm xây dựng pháp luật bảo vệ rừng hiệu quả nhất

Về thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ rừng đặc dụng nói chung và tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước nói riêng Dữ liệu được học viên thu thập từ năm 2015 đến năm 2019

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các công trình nghiên cứu về lý luận và các quy phạm pháp luật hiện hành về bảo vệ rừng đặc dụng và các quy định của tỉnh Bình Phước liên quan trực tiếp về vấn đề này

Trong luận văn có đề cập đến một số quy định của Luật Lâm nghiệp năm 2017

có hiệu lực từ ngày 01/01/2019

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Pháp luật về bảo vệ rừng đặc dụng tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước Thời gian nghiên cứu là 5 năm từ năm 2015 đến năm 2019 Ngoài ra còn đề cập đến một số địa phương khác trong cả nước

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Nghiên cứu của tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước về hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng ở đây là phương pháp của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác – Lênin

Trang 8

Phương pháp nghiên cứu lý luận, thu thập thông tin: thôn tin được thu thập từ số liệu báo cáo số liệu của Vườn quốc gia Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước có nội dung liên quan đến luận văn

Tác giả còn sử dụng các phương pháp tổng hợp, diễn giải, quy nạp, đánh giá, so sánh để đánh giá, tìm hiểu về pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng

Ngoài ra tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê xử lý các số liệu, tài liệu thu thập thực tiễn, lấy thông tin chọn lọc để đưa vào so sánh, đánh giá, nhận xét một cách khách quan

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7 Kết cấu của luận văn

Bài viết của tác gia được trình bày gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và nội dung đề tài chia làm 3 chương:

Trang 9

Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng từ thực tiễn Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước

Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng

Trang 10

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG

ĐẶC DỤNG Ở VIỆT NAM

1.1 Khái quát về bảo vệ rừng đặc dụng

1.1.1 Khái niệm bảo vệ rừng đặc dụng

1.1.1.1 Khái niệm rừng

Có nhiều định nghĩa khác nhau về rừng nhưng hầu hết định nghĩa dựa vào phạm

vi không gian, hệ thống sinh thái và cảnh quan địa lí

Năm 1912, G.F.Morodop công bố tác phẩm “Học thuyết về rừng” đã định nghĩa

rừng như sau Rừng là là những quần xã cây gỗ, trong đó chúng biểu hiện các ảnh hưởng qua lại lẫn nhau làm nảy sinh ra những hiện tượng mới mà những cây mọc đơn lẻ không có Trong quần lạc sinh địa rừng có các mối quan hệ qua lại giữa các cây rừng với nhau, các mối quan hệ qua lại giữa chúng với đất, không khí; có khả năng tự phục hồi và phát triển mạnh mẽ Đến năm 1964, V.I.Sucachev có ý kiến cho rằng “quần lạc sinh địa rừng là một khoảng đất bất kỳ có sự đồng nhất về thành phần, cấu trúc và các đặc điểm của các thành phần tạo nên nó và về mối quan hệ giữa chúng với nhau, có nghĩa là đồng nhất về thực vật che phủ về thế giới động vật và vi sinh vật cư trú tại đó về điều kiện khí hậu, thủy văn và đất đai và các điều kiện trao đổi vật chất và năng lượng giữ các thành phần của nó với nhau với các điều kiện tự nhiên khác” Một quần lạc sinh địa chỉ được coi là rừng khi quần lạc thực vật là cây gỗ lớn chiếm ưu thế và chi phối các thành phần khác trong toàn bộ quần lạc sinh địa

Quan điểm phương tây coi rừng là một hệ sinh thái Người đầu tiên đề cập đến khái niệm hệ sinh thái là A.Tansley vào năm 1935 ông nếu lên “mặc dù các cơ thể sống luôn có xu hướng muốn tách khỏi môi trường mà chúng phải cùng với môi trường sống đó hợp thành một thể thống nhất vật lý – sinh học thống nhất Những hệ thống này là những đơn vị cơ bản của tự nhiên và được gọi là hệ sinh thái” Sau này

đã được hoàn thiện và phát triển bởi các nhà khoa học như: Linderman (1942), C.Wilee (1957), P.E Odum (1971,1975), Whitetaker (1975)

Trang 11

Vào năm 1930 khái niệm về rừng được đưa ra bởi Morozov như sau: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển Năm 1974, I.S Mê-lê-không đưa ra khái niệm khác: Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu

Tại Việt Nam khái niệm về Rừng được đưa ra đầu tiên trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 như sau: Rừng bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng trên đất lâm nghiệp gồm có động vật rừng, thực vật rừng và những yếu tố tự nhiên có liên quan

đến rừng Theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 khái niệm rừng như sau:

Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên đến đây khai niệm rừng đã ngày càng hoàn thiện hơn Tại Việt Nam rừng được chia ra làm ba loại rừng chủ yêu sau rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất sản xuất, rừng phòng hộ

và rừng đặc dụng Đến năm 2017 khi Luật Lâm nghiệp ra đời thì khái niệm được nếu lên như sau “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loại thực vật, động vật, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một

số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng 0,3 ha trở lên, độ tàn che từ 0,1 trở lên” đây là một khai niệm về rừng hoàn chỉnh nhất ở nước ta từ trước đên nay Trong định nghĩa rừng được quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 khá đầy đủ, tuy nhiên vẫn bộc lộ một số nhược điểm như: xác định rừng là một hệ sinh thái nhưng chưa làm rõ được quy mô diện tích tối thiểu của hệ sinh thái này là bao nhiêu và chỉ mới chỉ đề cập thành phần chính của rừng là cây rừng các loại và độ tàn che, chưa quy định tiêu chí về rừng Tại khái niệm rừng trong Luật Lâm nghiệp năm 2017 đã xây dựng có sự thay đổi tiêu chí xác định rừng theo định nghĩa về rừng so với Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm

2004

Trang 12

Mặc dù có rất nhiều các định nghĩa về rừng khác nhau nhưng đều hướng tới nhận thức một cách đúng đắn nhất về rừng, vai trò và tầm quan trọng của rừng, từ đó có thể tiến hành quản lý và có các biện pháp bảo vệ rừng tốt nhất

1.1.1.2 Khái niệm rừng đặc dụng

Tùy thuộc vào nguồn gốc, mục đích sử dụng và các tiêu chí khác nhau rừng được phân chia thành nhiều loại Căn cứ vào nguồn gốc có thể chia thành rừng tự nhiên và rừng trồng Căn cứ vào mục đích sử dụng mà rừng mang lại được phân chia thành rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất

Mục đích của việc thành lập các khu rừng đặc dụng nhằm bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn các mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, bảo vệ nguồn gen động, thực vật rừng rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp với phòng hộ đầu nguồn và bảo vệ môi trường sinh thái đáng suy giảm ngày càng nghiêm trọng

Khái niệm Vườn quốc gia được nêu lên là vùng đất tự nhiên được thành lập để bảo vệ lâu dài một hay nhiều hệ sinh thái, đáp ứng yêu cầu về mẫu chuẩn của các hệ sinh thái cơ bản còn nguyên vẹn hoặc ít bị tác động của con người, các khu rừng có giá trị cao về văn hóa, du lịch Vườn quốc gia phải có diện tích đủ để chứa được một hay nhiều hệ sinh thái đồng thời nó không bị thay đổi bởi những tác động xấu của con người Diện tích này phải đạt tỷ lệ từ 70% trở lên Điều kiện giao thông tương đối thuận lợi

Khai niệm Khu bảo tồn thiên nhiên (khu dự trữ tự nhiên và khu bảo toàn loài sinh cảnh) được nêu lên là vùng đất tự nhiên được thành lập nhằm mục đích đáp ứng các yêu cầu là nới dự trữ tài nguyên thiên nhiên và có giá trị đa dạng sinh học cao và

có giá trị cao về khoa học, giáo dục, du lịch Là nơi lưu trữ các loài động thực vật đặc hữu hoặc là nơi cư trú, ẩn náu, kiếm ăn của các loài động vật hoang dã quý hiếm Đủ diện tích để chứa được một hay nhiều hệ sinh thái, tỷ lệ cần bảo tồn trên 70%

Khái niệm Khu rừng văn hóa – lịch sử - môi trường được nêu lên là khu vực gồm một hay nhiều cảnh quan có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu có giá trị văn hóa – lịch sử nhằm phục vụ các hoạt động văn hóa, du lịch hoặc để nghiên cứu khoa học, khảo cổ tại những

Trang 13

khu vực có các thắng cảnh trên đất liền, ven biển hay hải đảo hoặc các khu di tích lịch sử-văn hóa đã được xếp hạng

Điều 6, Nghị định 156/2018/NĐ – CP ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Thủ tướng chính phủ quy định Vườn quốc gia đáp ứng các tiêu chí: Có ít nhất 01 hệ sinh thái tự nhiên đặc trưng của một vùng hoặc của quốc gia, quốc tế hoặc có ít nhất 01 loài sinh vật đặc hữu của Việt Nam hoặc có trên 05 loài thuộc Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục; có cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên, có giá trị du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; Có diện tích liền vùng tối thiểu 7.000 ha, trong đó ít nhất 70% diện tích là các

hệ sinh thái rừng

Khu dự trữ thiên nhiên đáp ứng các tiêu chí sau đây: Có hệ sinh thái tự nhiên quan trọng đối với quốc gia, quốc tế, đặc thù hoặc đại diện cho một vùng sinh thái tự nhiên; Là sinh cảnh tự nhiên của ít nhất 05 loài thuộc Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục hoặc du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; Diện tích liền vùng tối thiểu 5.000 ha, trong đó ít nhất 90% diện tích là các hệ sinh thái rừng

Khu bảo tồn loài - sinh cảnh đáp ứng các tiêu chí sau đây: Là nơi sinh sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của ít nhất 01 loài sinh vật đặc hữu hoặc loài thuộc Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Phải bảo đảm các điều kiện sinh sống, thức ăn, sinh sản để bảo tồn bền vững các loài sinh vật đặc hữu hoặc loài thuộc Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm;

Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục; Có diện tích liền vùng đáp ứng yêu cầu bảo tồn bền vững của loài thuộc Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Khu bảo vệ cảnh quan bao gồm: Rừng bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đáp ứng các tiêu chí sau: Có cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của

tự nhiên; có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được cơ quan nhà nước

có thẩm quyền xếp hạng hoặc có đối tượng thuộc danh mục kiểm kê di tích theo quy định của pháp luật về văn hóa; có giá trị về khoa học, giáo dục, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; Rừng tín ngưỡng đáp ứng các tiêu chí sau: có cảnh quan môi trường, nét

Trang 14

đẹp độc đáo của tự nhiên; Khu rừng gắn với niềm tin, phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng; Rừng bảo vệ môi trường đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao đáp ứng các tiêu chí sau: Khu rừng có chức năng phòng hộ, bảo vệ cảnh quan, môi trường; được quy hoạch gắn liền với khu đô thị, khu

công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao

Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học cần có các các tiêu chí: Có hệ sinh thái đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, thực nghiệm khoa học của tổ chức khoa học và công nghệ, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp có chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, thực nghiệm khoa học lâm nghiệp; Có quy mô diện tích phù hợp với mục tiêu, yêu cầu nghiên cứu,

thực nghiệm khoa học, phát triển công nghệ, đào tạo lâm nghiệp lâu dài

Vườn thực vật quốc gia: Khu rừng lưu trữ, sưu tập các loài thực vật ở Việt Nam

và thế giới để phục vụ nghiên cứu, tham quan, giáo dục, có số lượng loài thân gỗ từ

500 loài trở lên và diện tích tối thiểu 50 ha

Rừng giống quốc gia đáp ứng các tiêu chí sau đây: Là khu rừng giống chuyển hóa, rừng giống trồng của những loài cây thuộc danh mục giống cây trồng lâm nghiệp chính; Đáp ứng các yêu cầu của tiêu chuẩn quốc gia về rừng giống, có diện tích tối

thiểu 30 ha

1.1.1.3 Khái niệm bảo vệ rừng đặc dụng

Bảo vệ được hiểu là chống lại sự xâm phạm từ bên ngoài để giữ nguyên vẹn những gì bên trong

Bảo vệ rừng đặc dụng hiểu theo nghĩa hẹp là những hành động của con người chống lại mọi sự xâm phạm, giữ cho rừng đặc dụng được bảo tồn nguyên vẹn Nghiêm cấm mọi hành vi khai thác rừng đặc dụng, rừng đặc dụng phải được bảo tồn nguyên vẹn tình trạng ban đầu

Bảo vệ rừng đặc dụng hiểu theo nghĩa rộng là các hoạt động của con người kết hợp giữa bảo tồn động thực vật rừng và khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên rừng đặc dụng nhằm phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng và đa dạng sinh học

Do đó, hoạt động bảo vệ rừng đặc dụng bao gồm các hoạt động: quản lý, bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng; hoạt động sử dụng rừng đặc dụng; xử lý các vi phạm

Trang 15

1.1.2 Vai trò của việc bảo vệ rừng đặc dụng

1.1.2.1 Vai trò của rừng đặc dụng

Rừng nói chung và rừng đặc dụng nói riêng có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người Sự quan hệ của rừng và cuộc sống đã trở thành một mối quan hệ hữu cơ Nó là một cấu thành quan trọng trong hệ sinh quyển nên vai trò nổi bật nhất phải được xét trong mối quan hệ với môi trường

Rừng đặc dụng có những vai trò vô cùng riêng biệt: Vai trò của rừng đặc dụng đối với môi trường; Vai trò của rừng đặc dụng đối kinh tế; Vai trò của rừng đặc dụng đối xã hội

Chức năng sinh thái rừng đặc dụng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, tạo dưỡng khí phục vụ cho nhu cầu hô hấp của con người, các loài động vật Song song, với đó việc làm giảm bớt ô nhiễm không khí đang ngày càng trầm trọng thông qua khả năng hấp thụ các bon Vai trò của rừng trong giảm phát khí thải nhà kính và sự nóng lên toàn cầu đã được khẳng định mạnh mẽ Theo thống kê toàn cầu, các khu rừng đã thải ra khoảng 80 tỷ tấn oxy và hấp thụ khoảng 100 tỷ tấn CO2

Rừng giữ vai trò điều hòa nguồn nước làm giảm dòng chảy bề mặt chuyển lượng nước mưa vào lượng nước ngấm Khắc phục được xói mòn đất, hạn chế lắng đọng lòng sông, lòng hồ, điều hòa được dòng chảy của các con sông, con suối

Đối với rừng đặc dụng bên cạnh vai trò rất quan trọng về phòng hộ và bảo vệ môi trường, rừng đặc dụng tạo nên nhiều giá trị kinh tế theo nguyên tắc sử dụng bền vững tài nguyên rừng Rừng đặc dụng cung cấp rất nhiều lâm sản như củi, gỗ, động thực vật khác không thuộc danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm theo quy định của nhà nước Bên trong hệ sinh thái rừng đặc dụng chứa đựng nhiều sản phẩm có giá trị kinh

tế cao ngoài gỗ như: măng, nấm hương, dược liệu quý hiếm,…

Với vai trò quan trọng của mình trong mối quan hệ với môi trường, rừng đặc dụng cùng với các loại rừng khác tạo nên một nguồn thu không nhỏ từ việc thực hiện chính sách về thu phí dịch vụ môi trường rừng, tổ chức cung ứng các dịch vụ như: bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, điều tiết và duy trì nguồn nước, hấp thụ và lưu trữ các bon, giảm phát thải phí gây thiệt hại nhà kính, bảo vệ cảnh quan tự nhiên và đa dạng

Trang 16

sinh học, nguồn thức ăn và con giống Đây là nguồn thu quan trọng đóng góp vào ngân sách nhà nước và dùng để tiếp tục bảo tồn, đầu tư, phát triển rừng

Du lịch sinh thái rừng ngày càng trở thành một hình thái du lịch rất được ưa chuộng và đông đảo du khách lựa chọn Hiện nay, các khu rừng đặc dụng cũng dần trở thành những điểm đến du lịch nổi tiếng và mang lại nhiều nguồn thu cho cộng đồng, doanh nghiệp và địa phương như Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng; Vườn Quốc gia Cúc Phương, Vườn Quốc gia Cát bà, Vườn Quốc gia Yok Đôn Từ những giá trị kinh tế nêu trên, rừng đặc dụng cũng có vai trò trong việc tạo việc làm cho nhiều người dân đặc biệt là những người thuộc dân tộc ít người, cư dân địa phương, chủ rừng

Rừng đặc dụng là đối tượng cho công tác nghiên cứu khoa học và việc bảo tồn

đa dạng sinh học Trong thời gian qua, rừng đặc dụng tại Việt Nam thu hút sự quan tâm lớn của giới khoa học trong và ngoài nước, có rất nhiều dự án nghiên cứu mang tính quốc tế được thực hiện tại Việt Nam mở ra nhiều cơ hội hợp tác quốc tế về rừng,

cụ thể hơn là rừng đặc dụng

- Ta có thể thấy một số giá trị mang lại từ rừng như sau:

Động vật rừng nguồn cung cấp thực phẩm, dược liệu, nguồn gen quý, da lông, sừng thú là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội như cầu khai thác sử dụng sản phẩm có nguồn gốc từ rừng ngày một càng cao Đặc biệt Rừng còn phục vụ nhu cầu du lịch sinh thái, các hoạt động nghiên cứu khoa học

Rừng đặc dụng chủ chuyển không khí và các nguyên tố cơ bản khác nhằm duy trì độ ổn định, sự màu mỡ của đất và tạo điều kiện tăng độ phì nhiêu của đất Rừng đặc dụng đóng vai trò kiểm soát xói mòn và bồi lắng đất

Rừng đặc dụng góp phần quan trọng trong việc duy trì, bảo tồn và phát triển sự

đa dạng sinh học, các nguồn gen quý hiếm

Rừng đặc dụng được bảo vệ tốt đồng nghĩa bảo vệ được sự đa dạng và tính cân bằng của hệ sinh thái tự nhiên Đây cũng là nơi trú ngụ của những loài động vật hoang

dã quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng

Trang 17

Rừng đặc dụng cũng là nơi điều tiết nguồn nước, giữ chất lượng nước, bảo tồn nguồn nước mặt và nước ngầm Qua đó góp phần điều tiết dòng chảy, hạn chế lũ lụt, hạn hán

Rừng đặc dụng cũng là không gian văn hóa của rất nhiều dân tộc ít người Hơn nữa, nhiều khu rừng đặc dụng là nguồn sống của nhiều đồng bào dân tộc ít người ở miền núi, góp phần điều tiết dân cư và lao động xã hội, đóng góp vào công cuộc xóa đói giảm nghèo

Một số khu rừng đặc dụng là không gian văn hóa, lịch sử của cả dân tộc, tồn tại bên trong đó những di tích lịch sử - văn hóa quý giá và được nhà nước công nhận Điển hình như Vườn quốc gia Đền Hùng – Phú Thọ

Rừng đặc dụng còn là những giá trị văn hóa có tính kế thừa từ đời này sang đời khác và để lại cho hậu thế sau này

Rừng đặc dụng còn là nơi bảo tồn các nguồn gen sinh vật, các kiểu hệ sinh thái đặc trưng, là nơi tốt nhất phục vụ cho các nghiên cứu thực nghiệm khoa học và giáo dục

1.1.3 Ý nghĩa của bảo vệ rừng đặc dụng

Bảo vệ rừng nói chung và rừng đặc dụng nói riêng có ý nghĩa hết sức tô lớn trong cuộc sống hiện nay của chúng ta Bảo vệ rừng đặc dụng góp phần bảo vệ môi trường sống của con người

Rừng đặc dụng góp phần làm sạch không khí, bảo vệ, nuôi dưỡng, điều hòa nguồn nước và chống xói mòn đất, bảo vệ tài nguyên nước Bảo vệ rừng đặc dụng giúp nâng cao chất lượng sống của con người, góp phần vào sự phát triển kinh tế và khoa học,

xã hội Rừng đặc dụng với sự phong phú về các loại động vật, thực vật hoang dã, đa dạng về cảnh quan thiên nhiên, là nơi thích hợp để phục vụ cho việc tham quan, du lịch, giải trí và là nơi tiến hành các hoạt động tinh thần khác tâm linh, tôn giáo Phát triển các loại hình du lịch sinh thái, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên từ rừng đặc dụng còn góp phần phát triển kinh tế, tạo nguồn thu cho xã hội Do đó, việc bảo vệ Rừng đặc dụng góp phần bảo vệ đời sống tinh thần của con người và phát triển kinh tế của đất nước

Ngoài ra, với vai trò là phòng thí nghiệm lưu giữ nguồn gen lớn nhất, là nơi nghiên cứu thực nghiệm về các loài trong tự nhiên, việc bảo vệ rừng đặc dụng có ý nghĩa to lớn

Trang 18

trong việc bảo vệ đa đa dạng sinh học, góp phần vào sự phát triển của khoa học Đóng một vai trò quan trọng trong cả đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhưng rừng đặc dụng hiện nay đang bị tàn phá nặng nề, động vật rừng, thực vật rừng đang bị khai thác quá mức và nhiều loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng

1.2 Pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng

1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng

Pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng là tổng hợp các quy phạm pháp luật được đưa ra

để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong họat động quản lý, bảo vệ và sử dụng rừng đặc dụng; xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp đối với các hành vi xâm hại rừng đặc dụng Được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành như Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Hội đồng nhân

dân, Ủy ban nhân dân…

Đối tượng điều chỉnh của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng là các quan hệ xã hội phát sinh trong họat động quản lý và sử dụng rừng đặc dụng; bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng và xử lý vi phạm về khai thác và bảo vệ rừng đặc dụng cùng như giải quyết tranh chấp đối với hành vi xâm hại rừng đặc dụng gồm: các quan hệ giữa các

tổ chức, cá nhân với nhau trong họat động sử dụng rừng đặc dụng và bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng và các quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau hay giữa cơ quan nhà nước với tổ chức, cá nhân trong họat động quản lý và sử dụng rừng đặc dụng cũng như bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng và xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp đối với hành vi xâm hại rừng đặc dụng

Tương ứng với hai đối tượng đều chỉnh trên, pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng sử dụng hai phương pháp điều chỉnh là phương pháp bình đẳng - thỏa thuận (dùng để điều chỉnh nhóm quan hệ thứ nhất) và phương pháp quyền uy (dùng để điều chỉnh nhóm quan hệ thứ hai)

1.2.2 Nguyên tắc của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng

Nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng: rừng đặc dụng cũng

có nhưng nguyên tác quan lý riêng đó là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo quán triệt

và xuyên suốt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng,

Trang 19

trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, thể hiện quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong công tác này Trong đó có những nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất, Theo quy định tại Điều 53, Hiến Pháp năm 2013 nêu đất đai, tài nguyên

nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân

do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Do đó, rừng đặc dụng thuộc

sở hữu toàn dân và do Nhà nước đại diện chủ sở hữu quản lý Theo quy định tại Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 nêu Nhà nước thống nhất quản lý và định đoạt đối với rừng tự nhiên và rừng được phát triển bằng vốn của Nhà nước, rừng do Nhà nước nhận chuyển quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng từ các chủ rừng; động vật rừng sống tự nhiên, hoang dã; vi sinh vật rừng; cảnh quan, môi trường rừng Do

đó, Nhà nước sở hữu đối với tất cả các yếu tố cấu thành rừng đặc dụng đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản

Thứ hai, nguyên tắc bảo vệ rừng đặc dụng là trách nhiệm của toàn dân: Bảo vệ

rừng đặc dụng góp phần quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sống của con người Bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của cả cộng đồng chứ không phải chỉ riêng của cá nhân hay tổ chức nào Điều đó được quy định rõ nhất tại Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004: “Bảo vệ rừng là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân”, “Cơ quan nhà nước, tổ chức, cộng đồng dân cư thôn, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ rừng, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về bảo vệ rừng theo quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và các quy định khác của pháp luật có liên quan”

Thứ ba, nguyên tắc bảo vệ rừng đặc dụng phải đảm bảo phát triển bền vững, vì

các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, môi trường, quốc phòng và an ninh Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 nêu “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” Đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa các mục

Trang 20

tiêu về phát triển kinh tế, xã hội và môi trườn, cần kết hợp với việc quản lý và khai thác một cách hợp lý và đảm bảo quốc phòng và an ninh

Thứ tư, việc bảo vệ rừng đặc dụng phải đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của nhà

nước và tổ chức, cá nhân Bảo vệ rừng đặc dụng phải đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước với chủ rừng, chủ thể được giao quản lý rừng đặc dụng, lợi ích giữa Nhà nước với các cộng đồng, cá nhân sinh sống trong vùng lõi và vùng đệm của rừng đặc dụng, với những chủ thể sống phụ thuộc vào rừng Quá trình thành lập các khu rừng đặc dụng gây ảnh hưởng tới đời sống của các cộng đồng dân cư sinh sống lâu đời ở vùng đó, các quy định nghiêm ngặt nhằm bảo vệ rừng đặc dụng đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển kinh tế và đời sống, phong tục, tập quán của người dân Việc áp dụng pháp luật bảo vệ rừng cần phải đảm bảo hài hòa lợi ích người dân, gắn kết các lợi ích kinh tế của người dân sinh sống xung quanh và bên trong khu rừng đặc dụng với việc bảo vệ rừng đặc dụng

1.2.3 Nội dung của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng

Pháp Luật bảo vệ rừng đặc dụng là một lĩnh vực pháp luật gồm các quy phạm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp trong họat động quản lý và sử dụng rừng đặc dụng, công tác bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng và xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp đối với hành vi xâm hại rừng Đồng thời, để thực hiện được các nguyên tắc cơ bản của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng, các nội dung điều chỉnh của pháp luật về lĩnh vực trên bao gồm một số nhóm sau:

Một là, nhóm quy định về quản lý rừng đặc dụng: Việc bảo vệ rừng đặc rừng

được thực hiện thông qua các hoạt động quản lý rừng đặc dụng, nếu quản lý hiệu quả, rừng sẽ được bảo vệ Hoạt động quản lý rừng đặc dụng bao gồm lập quy hoạch rừng đặc dụng; giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng và chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng; tiến hành đóng, mở rừng tự nhiên; điều tra, theo dõi diễn biến và xây dựng

cơ sở dữ liệu rừng đặc dụng

Hai là, nhóm quy định về bảo vệ động vật rừng, thực vật rừng: Động thực vật

rừng có giá trị kinh tế rất lớn, một số người dân ưa chuộng sử dụng sản phẩm từ động thực vật rừng do đó hoạt động khai thác động thực vật rừng diễn ra quá mức, dẫn đến

Trang 21

nguy cơ tuyệt chủng rất cao của rất nhiều loài động vật rừng, thực vật rừng, nhất là

các loài nguy cấp quý hiếm, làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học ở nước ta

Ba là, nhóm quy định về sử dụng rừng đặc dụng: bao gồm các hoạt động như sử

dụng để thực nghiệm, nghiên cứu khoa học, kinh doanh du lịch sinh thái, khai thác,

sử dụng bền vững các loài thực vật ngoài gỗ và không thuộc danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm; cung cấp các dịch vụ môi trường rừng như bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, điều tiết nguồn nước, hấp thụ các bon, bảo vệ cảnh quan tự nhiên và đa dạng sinh học, tạo bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống, sử dụng nguồn nước và rừng cho

nuôi trồng thủy sản Quá trình khai thác và sử dụng rừng đặc dụng hợp lý, khoa học

giúp tạo nguồn thu để phục vụ cho hoạt động bảo vệ rừng đặc dụng Pháp luật về bảo

vệ rừng đặc dụng điều chỉnh các nội dung liên quan đến khai thác và sử dụng rừng đặc dụng, thông qua việc khai thác và sử dụng bền vững rừng đặc dụng sẽ góp phần

không nhỏ tới việc bảo vệ rừng

Bốn là, nhóm quy định về những ưu đãi của Nhà nước đối với chủ thể bảo vệ

rừng đặc dụng: Nhà nước đưa ra nhiều ưu đãi nhằm khuyến khích các chủ thể tham gia hoạt động bảo vệ rừng đặc dung bao gồm các chính sách ưu đãi về vốn, ưu đãi về thuế suất

Năm là, nhóm quy định về sự tham gia của cộng đồng dân cư trong việc bảo vệ

rừng đặc dụng: Cộng đồng dân cư sinh sống bên trong và xung quanh rừng đặc dụng góp phần không nhỏ trong công tác bảo vệ rừng đặc dụng Việc xây dựng một cơ chế pháp lý giúp gắn kết lợi ích của bảo vệ rừng với lợi ích kinh tế của cộng đồng dân cư sinh sống xung quanh rừng là bài toán khó được đặt ra đối với cơ quan quản lý nhà nước trong việc xây dựng pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng vừa bảo vệ được rừng đặc dụng vừa mang lại cuộc sống cho người dân

Sáu là, nhóm quy định về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp đối với hành vi

xâm hại rừng đặc dụng: Tùy theo mức độ nguy hiểm của hành vi mà có thể bị xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự Mọi hoạt động khai thác trái phép rừng đặc dụng đều

sẽ phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật nhằm tạo tính răn đe, giáo dục cho mọi chủ thể trong xã hội, khi phát hiện vi phạm ngoài những chủ thể tham gia khai thác rừng đặc dụng bị xử lý mà cả những chủ thể tham gia hoạt động quản

Trang 22

lý rừng đặc dụng thiếu trách nhiệm trong việc quản lý rừng đặc dụng cũng có thể bị

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho tổ chức kinh tế thuê đất rừng đặc dụng thuộc khu vực được kết hợp với kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái – môi trường dưới tán rừng

1.3 Lịch sử hình thành và phát triển về pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng ở Việt Nam

Lịch sử hình thành và phát triển về pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng ở Việt Nam được thể hiện qua hàng loạt các văn bản khác nhau mở đầu bằng Nghị định số 188/NĐ ngày 24/7/1946, Nghị định số 300B ngày 16/11/1947, Nghị định liên bộ số 8CN/TN/ND ngày 21/8/1954 của Bộ Canh nông quy định về lĩnh vực lâm sản; Thông

tư số 366/TTg ngày 12/3/1954 Thủ tướng Chính phủ về việc trồng cây gây rừng Đến năm 1962 đánh dấu bằng sự kiện thủ tướng chính phủ ra Quyết định 72/TTg ngày 07/07/1962, về việc thành lập khu rừng cấm Cúc Phương đã chính thức đánh dấu sự

ra đời Vườn Quốc gia đầu tiên của Việt Nam Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng ở Việt Nam đã chải qua 59 năm với rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau có thể phân chia thành một số giai đoạn như sau:

- Giai đoạn từ 1960 đến 1975: Là giai thời kỳ đấu tranh thống nhất đất nước thời

kỳ này vấn đề về khai thác rừng tự nhiên, các loại động vật, thực vật rừng chưa diễn

Trang 23

ngày 07/7/1962 của Thủ tướng về khu rừng cấm Cúc Phương và Quyết định số 18/QĐ-LN ngày 08/01/1966 của Tổng cục Lâm nghiệp về việc thành lập Ban quản

lý và xây dựng vườn quốc gia Cúc Phương

- Giai đoạn từ 1975 đến 1986: Đây là giai đoạn đất nước thống nhất, hàn gắn vết

thương chiến tranh, đưa kinh tế nước ta thoát khỏi khủng hoảng, ngành Lâm nghiệp

đã triển khai việc điều tra, phát hiện các khu bảo vệ trên cả nước đặc biệt ở các khu vực Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Trong đó, ngày 24/1/1977, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định Số 41/TTg thành lập 10 khu rừng cấm, tổng diện tích 44.310 ha Ngày 30/12/1986, có Quy chế quản lý ba loại rừng được chính thức ban hành theo Quyết định số 1171/QĐ của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp Quy chế

đã đổi tên rừng cấm thành rừng đặc dụng và được chia làm: Vườn quốc gia, Khu Bảo tồn thiên nhiên và Khu Văn hoá - Lịch sử và môi trường

- Giai đoạn từ 1987 đến nay: Đánh dấu bằng việc ngày 19/8/1991, Luật Bảo vệ

và phát triển rừng ra đời, song song với đó là một số văn bản luật khác điều chỉnh công tác bảo vệ rừng như Luật Môi trường năm 1993, Luật Đất đai năm 1993 Tiếp sau đó là một loạt các văn bản khác như: Công văn số 1586/LN-KL ngày 13/7/1993 của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp về quy định vùng đệm của Vườn quốc gia

và Khu bảo tồn thiên nhiên; Công văn số 1259/LN-KL ngày 18/5/1995 của Bộ trưởng

Bộ Lâm nghiệp về việc tăng cường quản lý, bảo vệ các khu rừng đặc dụng; Nghị định

số 77/CP ngày 29/6/1996 của chính Phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên; Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg ngày 17/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống Khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam đến năm

2010 và nhiều các văn bản khác đã giúp rừng được bảo vệ và dần khôi phục sau giai đoạn bị suy thoái mạnh ở giai đoạn 1975 – 1990

Trang 24

Trong quá trình áp dụng những văn bản pháp luật này dần bộc lộ những bất cập

và thiếu sót trong việc bảo vệ rừng nói chung và rừng đặc dụng nói riêng Do đó, hang loạt các văn bản pháp luật có liên quan đã ra đời như: Luật Bảo vệ phát triển rừng năm 2004; Luật Đất đai năm 2003; Luật Môi trường năm 2005; Luật Đa dạng sinh học năm 2008 Sau đó là hàng loạt những văn bản dưới luật được ban hành để

cụ thể hóa các quy định trong luật về bảo vệ rừng đặc dụng và đa dạng sinh học như: Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2006 về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng; Nghị định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16 tháng10 năm 2006 về tổ chức

và hoạt động của Kiểm lâm; Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm

2010 của Chính phủ về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng; Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 6 năm 2009 quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng; Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11 tháng 11 năm 2011 quy định chi tiết thi hành Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2012 về

tổ chức và quản lý rừng đặc dụng; Quyết định số 11/2003/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2013 về cấm xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán mẫu vật một số loài động vật hoang

dã thuộc các phụ lục của công ước quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 - 2020; Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm

2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Nghị định số 40/2015/NĐ-CP ngày 27 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định 157/2013/NĐ-

CP ngày 11 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính

về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Nghị định số 41/2017/NĐ-CP ngày 05 tháng 4 năm 2017 của chính phủ về sửa đổi bổ sung một

số điều của Nghị định về sử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản, lĩnh vực thú y, giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ và quan lý lâm sản; Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2019 của Chính

Trang 25

156/2020/NĐ-CP ngày 16/11/2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp; Nghị đinh 83/2020/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2020 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 156/2020/NĐ-CP ngày 16/11/2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp

Hiến pháp năm 2013 ra đời, một bước thay đổi hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và Pháp luật bảo vệ rừng nói riêng, điều đó được thể hiện bằng hàng loạt những văn bản pháp luật mới được ban hành như: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật Đất đai năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật lâm nghiệp 2017…

Trang 26

xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp đối với hành vi xâm hại rừng

Pháp luật là một công cụ hữu hiệu và quan nhất trong việc định hình ứng xử và điều chỉnh hành vi của con người liên quan đến sử dụng, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng Chúng ta cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật toàn diện, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quá trình bảo vệ rừng đặc dụng

ở nước ta hiện nay để công tác bảo vệ rừng ngày càng hiệu quả hơn

Trang 27

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG ĐẶC DỤNG TỪ THỰC TIỄN

VƯỜN QUỐC GIA BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

2.1 Các quy định của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng

2.1.1 Quy định pháp luật về quản lý rừng đặc dụng

Pháp luật về quản lý rừng đặc dụng là rất nhiều những biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp của nhà nước để bảo bảo vệ hiệu quả nhất cũng như phát triển bền vững nhất cho rừng đặc dụng Gồm một số những hoạt động sau:

Thứ nhất, lập quy hoạch rừng đặc dụng: Quy hoạch rừng đặc dụng bao gồm quy

hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước; quy hoạch rừng đặc dụng trên địa bàn cấp tỉnh; quy hoạch khu rừng đặc dụng

Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước do Tổng cục Lâm nghiệp lập sau khi được Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tổ chức thẩm định và do Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn công bố quy hoạch trên trang thông tin điện tử của Bộ mình sau khi quy hoạch được phê duyệt Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh quy hoạch hệ thống rừng cả nước theo

đề nghị của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn

Đối với việc quy hoạch rừng đặc dụng cấp tỉnh Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm và phê duyệt sau khi có văn bản đồng thuận của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố quy hoạch rừng đặc dụng cấp tỉnh sau khi được phê duyệt trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Khi các căn cứ nêu trên đã được điều chỉnh, quy hoạch rừng đặc dụng cấp tỉnh sẽ được điều chỉnh, được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sau khi có văn bản

đồng thuận của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn

Đối với việc quy hoạch khu rừng đặc dụng, việc lập quy hoạch được căn cứ vào quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước và quy hoạch rừng đặc dụng cấp tỉnh Việc quy hoạch khu rừng đặc dụng sẽ do Ban quản lý rừng đặc dụng đó lập sau đó trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch Về thẩm quyền phê

Trang 28

duyệt Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn quyết định phê duyệt quy hoạch khu rừng đặc dụng do Trung ương quản lý Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định phê duyệt quy hoạch khu rừng đặc dụng do địa phương quản lý sau khi có văn bản đồng thuận của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Ngày 30/10/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1976/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng trong cả nước tiến đến ngày càng hoàn thiện hệ thống rừng đặc dụng cả nước

Thứ hai, tiến hành giao, cho thuê, thu hồi và chuyển mục đích sử dụng rừng đặc

dụng Việc giao rừng đặc dụng, cho thuê rừng đặc dụng, thu hồi rừng đặc dụng và chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng phải được thực hiện đúng thẩm quyền và phải thực hiện đồng thời với việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích

sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải phù hợp với thời hạn, hạn mức giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai Trong đó, cụ thể như sau:

tế, khu công nghệ cao; Rừng giống quốc gia; Vườn thực vật quốc gia; Tổ chức khoa học công nghệ, đào tạo giáo dục nghề nghiệp về lâm nghiệp đối với rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học, vườn thực vật quốc gia; Ban quản lý rừng phòng hộ, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang đối với khu bảo vệ cảnh quan bao gồm rừng bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; Rừng bảo vệ môi trường đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao xen kẽ trong diện tích rừng được giao; Cộng đồng dân cư đối với khu rừng tín ngưỡng mà họ đang quản lý sử dụng theo truyền thống; Tổ chức kinh tế, tổ chức khoa học và công nghệ, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp về lâm nghiệp trong nước đối với rừng giống quốc gia xen kẽ

Trang 29

- Hoạt động cho thuê rừng:

Cho thuê rừng là việc chuyển quyền sử dụng rừng cho các đối tượng có nhu cầu

sử dụng rừng thông qua hợp đồng cho thuê rừng và phù hợp với cho thuê đất theo quy định của Luật Đất đai Đến thời điểm hiện tại, việc quy định cho tổ chức kinh tế thuê rừng đặc dụng dưới hình thức thuê trả tiền hàng năm hiện nay đã không còn phù hợp bởi vì, theo nguyên tắc, việc cho thuê rừng phải thực hiện đồng thời với việc thuê đất, nhưng theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, đất rừng đặc dụng chỉ được giao dưới hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất Chủ rừng sau khi được nhận quyền sử dụng rừng đặc dụng từ nhà nước có thể tự tổ chức, hợp tác, liên kết hoặc cho tổ chức, cá nhân thuê môi trường rừng để kinh doanh du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng đặc dụng đảm bảo không làm ảnh hưởng đến việc bảo tồn

hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học, cảnh quan môi trường

- Hoạt động thu hồi rừng:

Nhà nước thu hồi khi có yêu cầu về mục đích Quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia Nhà nước sử dụng rừng, phát triển cho lợi ích của cộng đồng, phát triển kinh tế theo quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt; tổ chức được Nhà nước giao rừng bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng rừng; chủ rừng tự nguyện trả lại rừng; rừng được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết hạn; sau mười hai tháng liền kể từ ngày được giao, được thuê rừng đặc dụng để bảo vệ và phát triển rừng mà chủ rừng không tiến hành các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng; chủ rừng sử dụng rừng không đúng mục đích,

cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước hoặc vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; rừng được giao, cho thuê không đúng thẩm quyền hoặc không đúng đối tượng Khi Nhà nước thu hồi toàn bộ hay một phần rừng đặc dụng thì chủ rừng được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư, tài sản

bị thu hồi

- Hoạt động chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng:

Đối với khu rừng đặc dụng do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập thì do Thủ tướng Chính phủ quyết định chuyển mục đích sử dụng; Đối với khu rừng đặc dụng khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chuyển mục đích sử dụng Theo thống kê đến cuối tháng 9 năm 2017 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông

Trang 30

thôn, diện tích rừng tự nhiên được chuyển mục đích sử dụng cho các dự án quốc phòng, an ninh chỉ chiếm khoảng 11.6% tổng số dự án có chuyển mục đích sử dụng rừng đã được phê duyệt, đang thực hiện và dự án có trong kế hoạch trung hạn đến năm 2020 số còn lại là nhóm dự án công trình công cộng, an sinh xã hội; dự án phát triển nông lâm nghiệp; khai thác khoáng sản; đầu tư công nghiệp, du lịch, thương mại, thủy điện Việc thu hẹp diện tích khu bảo tồn để nhường chỗ cho các dự án phát triển kinh tế đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự nguyên vẹn của các địa phương khác nhau như Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Định, Bình Phước, Đắc Nông, Đăk Lăk, Gia Lai, Kom Tum… Chính vì vậy, Luật Lâm nghiệp năm 2017 đã quy định không chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang mục đích khác, trừ dự án quan trọng quốc gia;

dự án phục vụ quốc phòng, an ninh quốc gia; dự án cấp thiết khác được Chính phủ phê duyệt

Trước khi, Luật Lâm nghiệp năm 2017 có hiệu lực thi hành thì có sự thiếu thống nhất giữa Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 với các quy định của Luật Đất đai năm 2013 trong việc quy định chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng Trong đó có quy định như sau: Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và Nghị định số 117/2010/NĐ-CP không quy định cụ thể cụ thể về điều kiện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất rừng đặc dụng mà không thuộc trường hợp được Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư, nhưng trong Luật đất đai năm 2013 lại quy định vấn đề này dẫn đến sự thiếu thống nhất giữa các văn bản pháp luật này Nhằm khắc phục một số thiếu sót Luật Lâm nghiệp năm 2017 quy định rõ thẩm quyền quyết định việc chuyển mục đích sử dụng rừng cụ thể như Quốc hội có thẩm quyền quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng Rừng đặc dụng có diện tích từ 50 héc ta trở lên còn Thủ tướng chính phủ có thẩm quyền quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng có diện tích dưới 50 héc ta

Thứ ba, điều tra, theo dõi diễn biến rừng đặc dụng:

Hoạt động điều tra, theo dõi diễn biến rừng đặc dụng giúp đánh giá trữ lượng, chất lượng rừng đặc dụng, tình hình quản lý, bảo vệ rừng đặc dụng để từ đó giúp các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể nắm được những thông tin cần thiết về tình

Trang 31

hình rừng đặc dụng tại các địa phương cụ thể, trên cơ sở đó xây dựng và thực hiện các chính sách, biện pháp quản lý và bảo vệ rừng đặc dụng phù hợp

Thứ tư, hoạt động đóng, mở cửa rừng tự nhiên:

Đóng cửa rừng tự nhiên là hoạt động nhằm mục đích bảo vệ rừng tự nhiên, khôi phục rừng, nghiêm cấm khai thác rừng tự nhiên trong một thời gian nhất định hạn chế

sự suy giam nghiêm trọng của rừng tự nhiên Rừng đặc dụng cùng là đối tượng điều chỉnh của hoạt động này vì nó cũng là một loại rừng tự nhiên Đóng cửa rừng tự nhiên đóng vai trò to lớn trong việc bảo vệ diện tích rừng tự nhiên đang trên đà suy giảm rất mạnh ở nước ta hiện nay Năm 2016, theo kết luận sau buổi làm việc của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Tây Nguyên năm 2016 Thủ tướng đã yêu cầu dừng khai thác rừng triệt để tại khu vực Tây Nguyên Chỉ thị này không được quy định cụ thể trong luật nên dẫn đến tình trạng thiếu cơ sở pháp lý để xác định thời gian đóng cửa rừng tự nhiên, lộ trình thực hiện việc đóng cửa rừng cũng như giải quyết các việc hỗ trợ, đền bù cho các chủ thể bị ảnh hưởng do mất quyền khác thác rừng, Cơ quan nào

có thẩm quyền đóng cửa rừng

Thứ năm, hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về rừng đặc dụng:

Rừng đặc dụng được quản lý thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước thống nhất từ Trung ương đến địa phương, cụ thể Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lý nhà nước hệ thống rừng đặc dụng trong phạm vi cả nước và phân cấp cho Tổng cục Lâm nghiệp trực tiếp quản lý các khu rừng đặc dụng nằm trên địa bàn nhiều tỉnh và các khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước các khu rừng đặc dụng trên địa bàn, trực tiếp quản lý các Vườn quốc gia và phân cấp cho Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn trực tiếp quản lý các khu rừng đặc dụng khác thuộc địa phương

Hiện nay trong cả nước có 06 khu rừng đặc dụng thuộc sự quản lý của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (trực tiếp là Tổng cục Lâm nghiệp) gồm các vườn quốc gia: Cúc Phương, Tam Đảo, Yok Đôn, Ba Vì, Bạch Mã, Cát Tiên và số còn lại thuộc sự quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có rừng đặc dụng là cơ quan có thẩm quyền lập quy hoạch, chuyển loại, điều chỉnh

Trang 32

Ban quản lý rừng được thành lập tùy thuộc vào diện tích của khu rừng đặc dụng cần quản lý Cụ thể như rừng đặc dụng có diện tích trên 5.000 héc ta được thành lập Ban quản lý khu rừng đặc dụng Nếu trên địa bàn cấp tỉnh có nhiều khu rừng đặc dụng có diện tích dưới 5.000 héc ta nhưng chưa thành lập ban quản lý thì được lập một ban quản lý chung Nếu chỉ có một khu rừng đặc dụng có diện tích dưới 5.000 héc ta mà trước đó đã thành lập Ban quản lý thì tiếp tục hoạt động, nếu chưa thì giao cho cơ quan kiểm lâm địa phương quản lý

Hiện nay pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng thiếu quy định về trách nhiệm liên đới giữa Ban quản lý khu rừng đặc dụng (thuộc sự quản lý của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) với trách nhiệm quản lý nhà nước của chính quyền địa phương trong quá trình bảo vệ và sử dụng rừng đặc dụng dẫn đến tình trạng chính quyền địa phương chưa thật sự chú trọng trong công tác bảo vệ rừng

Ngoài ra, trong quá trình hoạt động thiếu cơ chế giám sát của địa phương dẫn đến tình trạng lạm quyền Ban quản lý rừng đặc dụng trong hoạt động sử dụng rừng đặc dụng giai đoạn hiện nay Luật Lâm nghiệp năm 2017 trao quyền Ban quản lý rừng đặc dụng sẽ tự tổ chức, hợp tác, liên kết hoặc cho tổ chức, cá nhân thuê môi trường rừng

để kinh doanh du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng đặc dụng thì việc bảo

vệ rừng đặc dụng khó khăn lại càng khó khăn hơn

Việc quy định Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng gây nhiều hạn chế trong hoạt động cả về tổ chức lẫn chuyên môn Tại mỗi địa phương lại

có lực lượng kiểm lâm của địa phương

Đối với sự thiếu thống nhất của Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và Luật

đa dạng sinh học năm 2008 về quy định rừng đặc dụng và khu bảo tồn thiên nhiên mặc dù mục đích chính thành lập của hai hình thức này là giống nhau, dùng để bảo tồn đa dạng sinh học, nhưng do tên gọi, cách phân loại khác nhau gây khó khăn trong việc quản lý và áp dụng pháp luật

Theo cách phân loại tại Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 thì rừng đặc dụng, Vườn quốc gia được xếp ngang bằng với khu bảo tồn loài – sinh cảnh, trong khi đó, theo Luật Đa dạng sinh học năm 2008, khu bảo tồn bao gồm Vườn quốc gia

Trang 33

rừng năm 2004 thuộc sự quản lý chung của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn nhưng các quy định về bảo tồn đa dạng sinh học do Bộ tài nguyên và môi trường quản

lý sẽ dẫn đến tình trạng khó khăn trong việc áp dụng các quy định pháp luật liên quan

vì thiếu sự phối hợp giữa các bộ quản lý chuyên ngành có liên quan

Chính từ những bất cập trong pháp luật về hệ thống cơ quan quản lý dẫn đến những bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật về bảo vệ rừng đặc dụng Cụ thể như đối với các Vườn quốc gia trực thuộc Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn quản

lý, trong quá trình thực hiện các hoạt động bảo vệ hoặc sử dụng rừng đặc dụng thiếu

sự phối hợp, kiểm tra giám sát chặt chẽ từ chính quyền địa phương

Việc tổ chức quản lý bảo tồn rừng đặc dụng hiện nay đều do cơ quan kiểm lâm đảm nhiệm bằng việc quản lý và giám sát Trong khi đó Sở tài nguyên và môi trường

là cơ quan quản lý nhà nước về đa dạng sinh học nhưng không có tổ chức bộ máy tham mưu chuyên ngành, giao nhiệm vụ này cho Chi cục bảo vệ môi trường trong khi cán bộ không được đào tạo về chuyên môn quản lý bảo tồn đa dạng sinh học Đối với Phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện, hầu hết là cán bộ địa chính nên chưa phát huy được chức năng tham mưu về quản lý bảo tồn đa dạng sinh học tại địa phương

2.1.2 Quy định của pháp luật quản lý, bảo vệ rừng đặc dụng

Việc bảo vệ rừng đặc dụng có rất nhiều yếu tố tác động đến công tác này trong

đó có trách nhiệm quản lý về rừng đặc dụng; Công tác bảo vệ rừng đặc dụng; Khai thác lâm sản trong rừng đặc dụng; Hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy, thực tập trong rừng đặc dụng; Trình tự, thủ tục xây dựng, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng đặc dụng; Quản lý xây dựng công trình phục vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng đặc

dụng; Ổn định đời sống dân cư sống trong rừng đặc dụng và vùng đệm của rừng đặc

dụng

Đối với hệ thống rừng đặc dụng trong phạm vi cả nước và trực tiếp tổ chức quản

lý các khu rừng đặc dụng trải rộng trên địa bàn từ 02 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 34

Còn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao quản lý nhà nước đối với hệ thống rừng đặc

nổ, chất dễ cháy trái quy định của pháp luật vào rừng; chăn thả gia súc, gia cầm, vật nuôi trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng

Thực hiện các quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng: Lập phương án phòng cháy và chữa cháy rừng; Cấp dự báo cháy rừng; Điều kiện an toàn về phòng cháy đối với khu rừng; Yêu cầu về phòng cháy đối với dự án phát triển rừng, Tổ chức, quản lý lực lượng phòng cháy và chữa cháy rừng; Kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy rừng; Trách nhiệm báo cháy, chữa cháy và tham gia chữa cháy rừng, chỉ huy chữa cháy rừng; Khắc phục hậu quả, xử lý sau cháy rừng; Trách nhiệm về phòng cháy

và chữa cháy rừng của chủ rừng; Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức

có hoạt động ở trong rừng, ven rừng; Trách nhiệm của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sinh sống, hoạt động ở trong rừng, ven rừng; Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị về phòng cháy và chữa cháy đối với dự án phát triển rừng Cụ thể như sau:

Thực hiện các quy định về phòng, trừ sinh vật gây hại rừng: Việc phòng, trừ sinh vật gây hại rừng; nuôi hoặc chăn, thả động vật vào rừng phải thực hiện theo quy định của Luật này, pháp luật về đa dạng sinh học, bảo vệ và kiểm dịch thực vật, thú y Chủ rừng phải thực hiện các biện pháp phòng, trừ sinh vật gây hại rừng; khi phát hiện có sinh vật gây hại rừng trên diện tích rừng được giao, được thuê thì phải báo ngay cho

Trang 35

để được hướng dẫn và hỗ trợ biện pháp phòng, trừ; tăng cường áp dụng biện pháp lâm sinh, sinh học trong phòng, trừ sinh vật gây hại rừng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm tổ chức dự báo tình hình dịch bệnh; chỉ đạo biện pháp phòng, trừ sinh vật gây hại rừng Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức, chỉ đạo việc phòng, trừ sinh vật gây hại rừng tại địa phương, không để sinh vật gây hại rừng lây lan sang địa phương khác

2.1.3 Quy định pháp luật về bảo vệ động vật rừng, thực vật rừng:

Các quy định của pháp luật trong công tác bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng hiện nay thể hiện như sau:

Về pháp luật quốc tế: Việt Nam là thành viên của công ước quốc tế về đa dạng sinh học, năm 1992; Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học, năm 2000; Nghị định thư bổ sung công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng, đặc biệt

như là nơi cư trú của loài chim nước, Pari năm 1982…

Về pháp luật Việt Nam, bao gồm hệ thống các văn bản luật và văn bản dưới luật khác nhau như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; Luật Đa dạng sinh học năm

2008, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; Luật Lâm nghiệp năm 2017; Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/2/2006 quy định về việc bảo vệ các giống loài động, thực vật nguy cấp, quý, hiếm; Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng; Nghị định 157/2013/NĐ-

CP ngày 11/11/2013 của chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về quản

lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Nghị định

160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển và Danh mục những đối tượng bị cấm khai thác theo quy định của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn; Nghị định 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp…

Theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12 tháng 11 năm 2013, nêu lên hiện nay nước ta có 83 loài động vật, 17 loài thực vật, 15 giống cây trồng và

6 giống vật nuôi nguy cấp, quý, hiếm Tuy nhiên, các quy định về quản vầ lâm sản

Trang 36

của nước ta chủ yếu theo hướng nghiêm cấm khai thác, vận chuyển, kinh doanh và tiêu thụ như quy định tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 Theo Luật bảo vệ à phát triển rừng năm 2004 quy định nghiêm cấm chặt phá rừng, khai thác rừng trái phép; săn, bắn, bắt, bẫy, nuôi nhốt, giết mổ động vật rừng trái phép; thu thập mẫu vật trái phép trong rừng; huỷ hoại trái phép tài nguyên rừng, hệ sinh thái rừng; vận chuyển, chế biến, quảng cáo, kinh doanh, sử dụng, tiêu thụ, tàng trữ, xuất khẩu, nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng trái với quy định của pháp luật; khai thác trái phép tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên khác; làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên, diễn biến tự nhiên của rừng; làm ảnh hưởng xấu đến đời sống tự nhiên của các loài sinh vật rừng; mang trái phép hoá chất độc hại, chất nổ,

chất dễ cháy vào rừng… Loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là

loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học, y tế, sinh thái, cảnh quan và môi trường, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng và được phân thành hai nhóm: Nhóm một, nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy

cơ tuyệt chủng cao và nhóm hai, là nhóm hạn chế khai thác, hạn chế sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài có giá trị về khoa học, môi trường, có giá trị cao về kinh tế, số luợng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng Về nguyên tắc việc khai thác thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm bị nghiêm cấm, nhưng vẫn được phép trong các trường hợp vì mục đích nghiên cứu khoa học, quan hệ hợp tác quốc tế và không được làm ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo tồn các loài đó trong tự nhiên, ngoài ra phải có phương án khai thác được Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn phê duyệt

Các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm trong việc bảo vệ lâm sản: Tổ chức,

cá nhân có hành vi vi phạm các quy định về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thì căn cứ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính theo Nghị định Nghị định 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của chính phủ quy định

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp hay truy cứu trách nhiệm hình

Ngày đăng: 02/07/2021, 19:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w