1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo hiểm tài sản theo pháp luật việt nam hiện nay

79 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 910,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phân tích các quy định pháp luật hiện hành, các bản quy tắc bảo hiểm để xác định tư cách chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng BHTS, thời điểm phát sinh trách nhiệm của DNBH trong BHTS; số

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với quá trình vận động kinh tế thị trường, mỗi thành viên trong xã hội luôn cố gắng làm việc để hướng tới những giá trị về vật chất lẫn tinh thần, đó là kết quả của quá trình lao động, làm việc và không ngừng học hỏi, tạo ra của cải vật chất để duy trì sự tồn tại và phát triển Tuy nhiên, đối với mọi người luôn thường trực đối diện trước nguy cơ rủi ro là những sự kiện xảy ra một cách bất ngờ ngoài dự kiến, nên để duy trì cuộc sống ổn định và vững vàng vượt qua mọi khó khăn, con người cần có quỹ tài chính đủ lớn để kịp thời bù đắp được đầy đủ hoặc một phần thiệt hại từ các

sự cố gây ra, nhanh chóng khôi phục cuộc sống, sản xuất kinh doanh Do đó, nhu cầu

về sự an toàn tài chính được đặt ra như một tất yếu, khách quan trong cuộc sống, tạo tiền đề cho sự ra đời, tồn tại, phát triển của hệ thống bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng

Khi mua bảo hiểm cho tài sản của mình, đối ứng với nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm luôn được hưởng những quyền lợi tương xứng được pháp luật thừa nhận, bảo vệ, trong đó quan trọng nhất là khôi phục một cách nhanh chóng tình trạng tài chính của mình khi tài sản bảo hiểm bị tổn thất Do đó người mua bảo hiểm có thể vừa an tâm sản xuất, kinh doanh để khai thác lợi ích kinh tế từ tài sản của mình, vừa được DNBH đứng ra cam kết gánh chịu toàn bộ hoặc một phần tổn thất để san sẻ gánh nặng tài chính khi xảy ra các rủi ro với họ Hiện nay, BHTS là những nghiệp vụ có đóng góp doanh thu lớn và quan trọng cho các DNBH phi nhân thọ Hoạt động BHTS ra đời có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế đất nước, góp phần ổn định thị trường,

ổn định xã hội, qua đó thể hiện những giá trị nhân văn cao đẹp, phát huy truyền thống đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau của dân tộc ta

Tuy nhiên, DNBH với vị trí là trung gian tài chính, là chủ thể kinh doanh chuyên nghiệp trong lĩnh vực bảo hiểm, còn BMBH có thể là các tổ chức kinh tế, cũng có thể

là những cá nhân và đều không có nhiều hoặc không hiểu rõ kiến thức chuyên môn

so với DNBH Vì nắm giữ tài sản, đối mặt với nhiều rủi ro có thể xảy ra, chủ thể mua

Trang 4

bảo hiểm tìm đến các DNBH nhằm mục đích muốn bảo vệ tài sản của mình khỏi những rủi ro có thể phát sinh trong đời sống và hoạt động kinh doanh khác Mặt khác, BHTS cũng là một lĩnh vực có rất nhiều quy định phức tạp và không rõ ràng, nếu doanh nghiệp và người tham gia bảo hiểm không nắm rõ sẽ rất khó đạt được mục đích đó Chính vì vậy, trong giao dịch BHTS sẽ có rất nhiều rủi ro nhưng trên thực tế bên mua luôn là bên phải chịu nhiều rủi ro hơn các DNBH Bởi vậy, cần phải có một thị trường BHTS vững mạnh với những quan hệ bảo hiểm bình đẳng, cùng có lợi giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh BHTS

Trên cơ sở đó, hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ phát sinh trong lĩnh vực BHTS luôn được Đảng và Nhà nước chú trọng, từng bước xây dựng Tuy nhiên, BHTS xuất hiện ở Việt Nam khá muộn, đồng thời hệ thống pháp luật về BHTS vẫn đang trong quá trình củng cố, hoàn thiện nên chưa thể điều chỉnh hiệu quả các quan

hệ BHTS hiện nay Lợi dụng kẽ hở pháp luật, một số đối tượng đã tiến hành trục lợi bảo hiểm, loại bỏ các quyền lợi chính đáng mà bên tham gia BHTS đáng được hưởng,

từ chối bồi thường bảo hiểm, chậm tiến hành việc thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm,… gây ra nhiều vấn nạn nhức nhối trong xã hội, vi phạm nghiêm trọng pháp luật và đạo đức xã hội

Mặt khác, bởi sự lỏng lẻo, chưa hoàn thiện của pháp luật đã dẫn đến tình trạng các bên tham gia quan hệ BHTS, kể cả cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tài phán không nhận thức đúng, tuân thủ đúng các quy định pháp luật BHTS, việc xây dựng ban hành các văn bản quy tắc bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm không chính xác dẫn đến xâm phạm quyền lợi của bên được bảo hiểm và phát sinh nhiều tranh chấp phức tạp Nếu thực trạng này cứ kéo dài thì BHTS sẽ mất đi ý nghĩa vốn có ban đầu của nó và

sẽ không còn ai dám đặt lòng tin vào BHTS, các DNBH sẽ mất đi nguồn lợi nhuận lớn từ việc kinh doanh bảo hiểm Chính vì vậy, việc bảo vệ các chủ thể tham gia bảo hiểm không những là một cách để duy trì niềm tin đối với ngành bảo hiểm mà còn tác động đảm bảo sự ổn định của xã hội

Ở Việt Nam trong thời gian qua, quan hệ pháp luật về bảo hiểm nói chung và hoạt động BHTS nói riêng là đề tài được các nhà nghiên cứu, nhà thực tiễn hết sức quan tâm Trong khoa học pháp lý, đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, có

Trang 5

giá trị học thuật cao nhưng vẫn chưa giải quyết triệt để những bất cập phát sinh đặc biệt là các bất cập phát sinh trong thời gian gần đây

Với ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy, tác giả chọn đề tài: “Bảo hiểm tài sản

theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ của mình với mục

đích tìm hiểu các quy định pháp luật hiện hành về BHTS, góp phần đảm bảo niềm tin đối với các cá nhân, tổ chức mong muốn tham gia vào quan hệ BHTS ở Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong lĩnh vực nghiên cứu ở nước ta những năm gần đây, vấn đề về kinh doanh bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng không còn là đề tài mới, bước đầu được các nhà nghiên cứu, nhà hoạt động thực tiễn trong nước quan tâm nghiên cứu ở các quy mô khác nhau

Đối với lĩnh vực bảo hiểm nói chung một số công trình nghiên cứu tiêu biểu phải kể đến như:

- Trung tâm nghiên cứu và đào tạo bảo hiểm, Cục quản lý giám sát bảo hiểm

(27/09/2016), Đề án nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của thị trường bảo hiểm

Việt Nam đến năm 2020, Bộ Tài Chính Đề án đã đưa ra yêu cầu đối với phát triển

nguồn nhân lực bảo hiểm trong công tác tuyển chọn, đào tạo nâng cao trình độ nhân lực phải đáp ứng yêu cầu về chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa, phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của thị trường bảo Đồng thời, đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, hoàn thiện chương trình và công tác đào tạo; phương pháp kiểm tra, sát hạch và cấp chứng chỉ đào tạo; công tác kiểm tra, giám sát đánh giá với

những lộ trình thực hiện phù hợp với từng thời kỳ

- Phạm Văn Tuyết (2007) Bảo hiểm và kinh doanh bảo hiểm theo pháp luật bảo

hiểm tại Việt Nam, NXB Tư pháp Đây là sách viết chuyên sâu về hoạt động bảo hiểm

tại Việt Nam, đưa ra các vấn đề pháp lý cơ bản cần nắm rõ trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo pháp luật nước ta, giúp người đọc có cái nhìn chung nhất về bảo hiểm và kinh doanh bảo hiểm, tuy nhiên công trình chưa nghiên cứu sâu về pháp luật

BHTS

Trang 6

Đi sâu vào hoạt động BHTS tại Việt Nam, đã có nhiều chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm và đóng góp công sức bằng các công trình nghiên cứu

khoa học nổi bật, tác giả xin dẫn chiếu một số công trình cụ thể như sau:

- Tiến sĩ Nguyễn Thị Thủy (2012) Pháp luật bảo hiểm tài sản tại Việt Nam,

NXB Thanh Niên Đây là cuốn sách chuyên khảo đề cập đến vấn đề bản chất của BHTS và các quy định điều chỉnh quan hệ BHTS để bổ sung các kiến thức pháp lý

cơ bản và cần thiết trong quá trình tham gia mua bảo hiểm cho tài sản, nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho quá trình học tập nghiên cứu về lĩnh vực BHTS tại Việt Nam

- Tiến sĩ Nguyễn Thị Thủy (2009) Xây dựng và phát triển pháp luật bảo hiểm

tài sản tại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh Luận án đã làm

rõ những vấn đề chung nhất về hệ thống pháp luật BHTS thông qua việc phân tích các vấn đề lý luận về cơ sở hình thành BHTS, nội hàm khái niệm pháp luật bảo hiểm tài sản,… Từ đó đánh giá hiệu quả, hạn chế và nguyên nhân về hoạt động BHTS ở nước ta thông qua thực tiễn áp dụng để làm nổi bật vai trò quan trọng của việc xây dựng hệ thống pháp luật BHTS ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Bên cạnh đó, luận án còn đề cập những kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện hơn các văn bản pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về BHTS, là đóng góp quan trọng cho việc xây dựng, củng cố hoàn thiện và phát triển hệ thống pháp luật BHTS

- Hồ Thị Hồng Huệ (2019) Hợp đồng bảo hiểm tài sản theo pháp luật Việt Nam,

qua thực tiễn Quảng Trị, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Đại học Huế Đề

tài triển khai một cách khái quát về hợp đồng BHTS qua việc phân tích khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của loại hình hợp đồng này, khái quát một số nội dung cơ bản cần được các bên tham gia thỏa thuận, đề cập trong hợp đồng BHTS Qua đó, luận văn

so sánh, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng BHTS và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Trị; đưa ra các định hướng, giải pháp hoàn thiện, thực thi pháp luật về hợp đồng BHTS tại Việt Nam nói chung và ở tỉnh Quảng Trị nói riêng

- Trần Phước Thu (2014) Pháp luật về hợp đồng bảo hiểm tài sản ở Việt Nam,

Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng BHTS theo quy định pháp luật, từ đó đối chiếu và phân tích thực trạng của quá trình áp dụng, triển khai các quy định của hệ thống pháp

Trang 7

luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng BHTS tại Việt Nam Qua những hạn chế, bất cập

và nguyên nhân của những hạn chế này, tác giả đã đưa ra các kiến nghị và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp đồng BHTS ở nước ta

- Lê Hồng Thạch Thảo (2019) Cơ chế pháp lý ngăn ngừa trục lợi trong bảo

hiểm tài sản, Luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh Luận văn

đã hệ thống hóa các đặc trưng cơ bản, chức năng của BHTS, phân tích dấu hiệu, bản chất của hành vi trục lợi bảo hiểm từ đó nghiên cứu các quy định về cơ chế pháp lý ngăn ngừa hành vi trục lợi trong BHTS và thực trạng áp dụng để kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh doanh BHTS tại Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu, các bài viết này đều có phạm vi nghiên cứu bao quát, chưa nghiên cứu sâu về một số khía cạnh trong lĩnh vực BHTS như quy định hiện hành về chủ thể tiến hành kinh doanh BHTS, tài sản nào có thể được xem

là đối tượng bảo hiểm,… Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu chỉ mang tính chất

áp dụng ở một số địa phương cụ thể, bởi mỗi địa phương có một tính chất đặc trưng riêng, vấn đề nghiên cứu cần mang tính toàn diện, hệ thống xuất phát từ thực tiễn chung sâu rộng Tuy vậy, kế thừa các nội dung lý luận cơ bản, nội dung nghiên cứu

áp dụng pháp luật được đề cập ở các công trình nói trên và tiếp tục làm sáng tỏ các vấn đề còn bỏ ngõ, đây là các tài liệu rất quý giá cho người viết hoàn thành bài luận văn thạc sĩ của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Qua quá trình nghiên cứu, thực hiện, luận văn hướng đến mục đích:

Thứ nhất, kế thừa và củng cố cơ sở lý luận của BHTS và pháp luật về BHTS; Thứ hai, nhận diện cơ chế pháp lý điều chỉnh hoạt động BHTS theo pháp luật

Việt Nam;

Thứ ba, kết luận về thực trạng áp dụng pháp luật về BHTS;

Thứ tư, nghiên cứu đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về BHTS

và nghiên cứu xây dựng các giải pháp pháp lý để thực hiện hiệu quả pháp luật BHTS trong thực tế

Trang 8

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, tác giả cần phải thực hiện và hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Tiếp cận, kế thừa các lý thuyết về bảo hiểm, nguyên tắc BHTS, nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật quan hệ BHTS để xác định khái niệm, đặc điểm và nội dung cơ bản của pháp luật BHTS

- Phân tích các quy định pháp luật hiện hành, các bản quy tắc bảo hiểm để xác định tư cách chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng BHTS, thời điểm phát sinh trách nhiệm của DNBH trong BHTS; số tiền bảo hiểm trong BHTS; đối tượng, phạm vi và

sự kiện bảo hiểm; trách nhiệm giám định tổn thất và bồi thường theo hợp đồng BHTS; quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật BHTS

- Thông qua phương pháp nghiên cứu so sánh luật học để nhận diện sự khác biệt

và tương đồng giữa pháp luật BHTS và bảo hiểm con người, giữa pháp luật Việt Nam

và pháp luật nước ngoài về BHTS

- Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật về BHTS tại các công ty bảo hiểm phi nhân thọ và nghiên cứu các vụ việc, tình huống, hồ sơ, bản án để kết luận về thực tiễn

áp dụng pháp luật BHTS đồng thời nhận diện các điểm ưu việt, khiếm khuyết, bất cập của pháp luật Việt Nam hiện hành về BHTS

- Đề xuất và đánh giá tác động các giải pháp pháp lý và khuyến nghị về thời điểm giao kết hợp đồng và thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm, về giá trị hợp đồng, phạm vi bảo hiểm, sự kiện bảo hiểm, các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm và bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tài sản, các bản quy tắc bảo hiểm, điều khoản, điều kiện bảo hiểm và hồ sơ vụ việc, bản án về BHTS

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về BHTS theo pháp luật Việt Nam, những nội dung kinh tế - tài chính

Trang 9

và nghiệp vụ bảo hiểm tài sản không thuộc phạm vi nghiên cứu mà chỉ là các kiến thức cơ sở hoặc bổ trợ để học viên nghiên cứu BHTS dưới khía cạnh pháp lý

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận phép biện chứng duy vật

cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước liên quan đến kinh doanh bảo hiểm chung và hoạt động kinh doanh bảo hiểm tài sản ở nước ta hiện nay

Để thực hiện Luận văn Thạc sĩ, tác giả đã sử dụng đồng bộ các phương pháp nghiên cứu khoa học, cụ thể:

- Phương pháp phân tích: đây là phương pháp quan trọng được áp dụng xuyên

suốt trong bài viết, thông qua việc phân tích các quy định của luật thực định về khái niệm BHTS, quy tắc bảo hiểm, trách nhiệm bồi thường của DNBH trong BHTS; đối tượng, phạm vi và sự kiện bảo hiểm; quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật BHTS và những quy định khác có liên quan đến tên đề tài để xác định khái niệm, đặc điểm và các nội dung cơ bản, làm sáng tỏ cơ sở lý luận của pháp luật về BHTS

Từ đó, người viết phân tích các tình huống, bản án của Tòa án để chứng minh những hạn chế của thực trạng pháp luật và đi sâu vào thực tiễn thi hành pháp luật về BHTS tại Việt Nam hiện nay

- Phương pháp tổng hợp: phương pháp được sử dụng đồng bộ, xuyên suốt trong quá

trình trình bày Luận văn để tổng hợp các quan điểm khác nhau xung quanh những khái niệm, các văn bản, quy định có liên quan đến BHTS, từ đó đưa ra đánh giá toàn diện, tổng quan, hoàn chỉnh hơn về mặt lý luận đối với đề tài nghiên cứu

- Phương pháp so sánh luật học: phương pháp được áp dụng phổ biến trong quá

trình phân tích, đối chiếu các quy định pháp luật ở các văn khác nhau trong hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ bảo hiểm và quan hệ BHTS ở Việt Nam qua các thời

kỳ, phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở Chương 2 của Luận văn

- Phương pháp diễn giải quy nạp: thể hiện qua việc diễn giải các số liệu, các

nội dung pháp luật và tư liệu được trích dẫn, từ đó đi sâu hơn vào bản chất của BHTS, đưa ra những nhận định tổng quan hệ thống quy định về BHTS tại Việt Nam hiện

Trang 10

nay, góp phần làm rõ các vấn đề thực trạng pháp luật liên quan đến tên đề tài Phương pháp này được triển khai đồng bộ trong tất cả các chương của Luận văn

- Phương pháp logic: được tác giả áp dụng chủ yếu trong Chương 1, Chương 2 của

Luận văn để nhận rõ các bộ phận, nội dung lý thuyết cơ bản, yếu tố cấu thành của quan

hệ pháp luật BHTS và sự phát triển của hệ thống pháp luật BHTS ở Việt Nam hiện nay, phản ánh thực trạng áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Đề tài “Bảo hiểm tài sản theo pháp luật Việt Nam hiện nay” là một nghiên cứu

pháp luật về BHTS, làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận cơ bản về BHTS như khái niệm BHTS, các quy định pháp luật về đối tượng bảo hiểm, sự kiện bảo hiểm, quyền

và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia,… Qua đó, khảo sát thực trạng áp dụng pháp luật về hoạt động BHTS tại Việt Nam, từ những hạn chế còn tồn đọng đưa ra các giải pháp, đề xuất hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi các quy định về BHTS

7 Kết cấu của luận văn

Bài nghiên cứu được thiết kế gồm 03 phần lớn: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Ngoài ra, còn có các nội dung khác như: Danh mục từ viết tắt, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo,…

Trong đó, phần nội dung được thiết kế làm 03 chương, cụ thể:

Chương 1 Khái quát về bảo hiểm tài sản và pháp luật bảo hiểm tài sản

Chương 2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tài sản hiện nay

Chương 3 Kiến nghị và giải pháp góp phần hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tài sản

Trang 11

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM TÀI SẢN

VÀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TÀI SẢN

Với những đặc thù riêng biệt và vai trò bảo vệ quyền lợi tài chính của chủ thể tham gia, BHTS đóng góp không nhỏ vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, do đó Nhà nước thực hiện vai trò quản lý xã hội thông qua phương thức xây dựng hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ BHTS là cần thiết, mang tính tất yếu

1.1 Khái quát về bảo hiểm tài sản

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm tài sản

Theo các tài liệu nghiên cứu, nguồn gốc của BHTS được cho rằng xuất phát từ trận đại hỏa hoạn lịch sử ở Luân Đôn vào năm 1666 khi đã nuốt chửng hơn 13.000 ngôi nhà dẫn đến các hậu quả tàn khốc Nhận được tính cấp bách về sự phát triển của BHTS, những nhà kinh doanh ở nước Anh đã nghĩ ra việc cộng đồng chia sẻ rủi ro hoả hoạn bằng cách đứng ra thành lập những Công ty bảo hiểm hoả hoạn mang đến các lợi ích kinh tế lớn và là sự khởi nguồn cho nhiều công ty tương tự được thành lập trong những thập kỷ sau đó

BHTS được hình thành sớm trên thế giới và là một lĩnh vực khá phức tạp Tuy nhiên, ở Việt Nam, cho đến khi Chính phủ ban hành Nghị định số 100/CP ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm thì thị trường bảo hiểm mới khởi sắc và đánh dấu sự ra đời của pháp luật về BHTS Ra đời từ nhu cầu khách quan về quyền được bảo vệ, giúp đỡ, chia sẻ hoạn nạn khi rủi ro, tổn thất xảy ra trong đời sống kinh tế xã hội, nhưng đến nay, trong hệ thống quy định pháp luật nước ta chưa có quy định pháp luật nào đề cập rõ đến khái niệm BHTS

Về khái niệm bảo hiểm, theo Dennis Kessler - Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm

giám đốc điều hành Công ty tái bảo hiểm SCOR SE, thì “Bảo hiểm là sự đóng góp của

số đông vào sự bất hạnh của số ít” Trong “Giáo trình đào tạo bảo hiểm phi nhân thọ” của

Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, NXB Tài chính, 2004, thì “bảo hiểm là biện pháp chia sẽ

rủi ro của một người hay một số ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại, bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho những thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do những rủi ro đó gây ra”

Trang 12

Mỗi quan niệm trên đều thể hiện các góc nhìn khác nhau về bảo hiểm, tuy nhiên

dù cho định nghĩa như thế nào thì bảo hiểm vẫn mang đặc trưng là hoạt động chuyển đổi, chia sẻ thiệt hại do rủi ro gây ra từ người mua bảo hiểm sang DNBH khi xảy ra

sự kiện bảo hiểm Những rủi ro này thường là sự kiện khách quan, xảy ra ngoài dự đoán và khả năng kiểm soát của con người, có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến những gì mà họ muốn bảo vệ

Quá trình không ngừng học hỏi, sáng tạo, đổi mới tư duy và hăng say lao động của con người luôn tạo ra những của cải vật chất, tài sản mang những giá trị nhất định Dưới góc độ của pháp luật, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm động sản và bất động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai Khi nắm giữ những tài sản này, chủ sở hữu luôn có ý thức bảo

vệ và tìm tới các biện pháp bảo đảm an toàn những gì mình đang sở hữu, sử dụng Với tư cách là một trong các loại hình bảo hiểm, BHTS giúp cho người tham gia đáp ứng nhu cầu thiết yếu này, đồng thời đây là cách chủ sở hữu tài sản vừa có thể khai thác sử dụng mà vẫn đảm bảo an toàn về tài chính cho dù xảy ra các mất mát, tổn hại

từ rủi ro khách quan Dưới góc độ kinh tế, BHTS đóng vai trò là một hoạt động kinh doanh dịch vụ tài chính, là phương thức huy động vốn mang lại hiệu quả cao cho chủ thể kinh doanh Dưới vai trò xã hội, BHTS đóng góp không ít vào ngân sách nhà nước, tạo ra cơ hội việc làm và ổn định tài chính cho con người Do đó, không chỉ là công cụ để xử lý và giảm thiểu rủi ro, bảo vệ BMBH mà BHTS còn mang tính thương mại rất cao, luôn đặt mục đích lợi nhuận là ưu tiên hàng đầu, thực hiện bằng một chuỗi kết nối giữa các bên tham gia thông qua quyền lợi và nghĩa vụ nhất định, trong

đó DNBH chấp nhận các rủi ro từ tài sản để đổi lại việc thu được khoản phí từ các chủ thể tham gia và chi trả tiền bảo hiểm giúp người bị thiệt hại có thể nhanh chóng khôi phục lại cuộc sống và sản xuất kinh doanh

Như vậy, có thể hiểu bảo hiểm tài sản là lĩnh vực dịch vụ tài chính, hướng đến mục tiêu khắc phục các thiệt hại, tổn thất xảy ra đối với tài sản của người tham gia bảo hiểm, hình thành cơ sở DNBH thu phí bảo hiểm của BMBH và cam kết bồi thường cho bên được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất đối với tài sản do rủi ro trong phạm

vi bảo hiểm gây ra

Trang 13

1.1.2 Ý nghĩa và vai trò của bảo hiểm tài sản

Hoạt động kinh doanh BHTS ngày càng được mở rộng với các loại hình nghiệp

vụ khác nhau để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu về tài chính, đảm bảo ổn định đời sống cho người tham gia, mang ý nghĩa và vai trò quan trọng không chỉ đối với các chủ thể mà còn tác động không nhỏ đến quá trình phát triển đất nước, an sinh xã hội

Một là, BHTS phát huy vai trò là công cụ chuyển dịch rủi ro, san sẻ tổn thất để

bảo vệ người được bảo hiểm

Trong BHTS, người mua bảo hiểm có nghĩa vụ tiến hành chi trả một khoản phí bảo hiểm xác định để đóng góp vào quỹ BHTS, đổi lại họ có các quyền lợi chính đáng được pháp luật công nhận, trong đó, quyền được bảo vệ khi xảy ra các tổn thất là quyền cơ bản, quan trọng nhất, là mục đích BMBH hướng tới khi xác lập giao dịch bảo hiểm Mặt khác, thông qua hợp đồng bảo hiểm, DNBH sẽ cam kết gánh vác tổn thất thay cho người bị thiệt hại do rủi ro trong phạm vi bảo hiểm gây ra Số tiền bồi thường mà DNBH dùng để chi trả được trích từ một phần của quỹ bảo hiểm, nguồn đóng góp của cộng đồng tham gia BHTS, do các tổ chức này đại diện đứng ra quản

lý Như vậy, khi tham gia BHTS, quyền lợi tài chính của BMBH được chú trọng đảm bảo, qua đó trách nhiệm bồi thường của DNBH như một hình thức san sẻ để bảo vệ người được bảo hiểm, thể hiện sức mạnh của cộng đồng giúp đỡ những người không may mắn gặp rủi ro và gánh chịu tổn thất

Hai là, BHTS giúp người tham gia bảo hiểm ổn định đời sống và hoạt động sản

xuất kinh doanh

Thông qua tham gia mua bảo hiểm cho tài sản, BMBH vừa được sử dụng, khai thác tài sản phục vụ sản xuất, kinh doanh hằng ngày vừa được an tâm về tình trạng tài sản dù rủi ro có thể xảy ra một cách bất ngờ Khi phát sinh thiệt hại từ sự cố được ghi nhận trong hợp đồng bảo hiểm, DNBH thực hiện trách nhiệm bảo hiểm để bảo toàn trọn vẹn hoặc được kịp thời bù đắp một phần tổn thất, nhanh chóng khôi phục lại tình trạng tài sản, hoạt động sản xuất, kinh doanh của BMBH Nếu không tham gia BHTS, khi rơi vào những rủi ro bất ngờ, họ tự đối mặt với những sụt giảm về giá trị của tài sản, hao tốn một khoản chi phí và thời gian để khắc phục sự cố xảy ra, tiếp tục cuộc sống Chính vì vậy, hoạt động BHTS được tiến hành nhằm mục đích khắc

Trang 14

phục rủi ro, hạn chế tổn thất, giảm thiểu thiệt hại vật chất cho xã hội, góp phần ổn định đời sống và hoạt động sản xuất kinh doanh của người tham gia

Ba là, BHTS là công cụ huy động vốn tối ưu trong xã hội

DNBH là một trong các tổ chức trung gian tài chính tại Việt Nam, thông qua hoạt động kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp này thu các khoản phí bảo hiểm

từ người mua và tạo lập quỹ bảo hiểm chung cho cộng đồng tham gia BHTS do các

tổ chức này đứng ra đại diện quản lý Số tiền bồi thường chỉ chi trả khi BMBH xảy

ra rủi ro, cho nên từ thời điểm thu phí đến khi bồi thường là một khoảng thời gian ngắt quãng để tiếp tục thực hiện trách nhiệm của DNBH, đồng thời sự tương quan giữa số người tham gia đóng phí và người được nhận tiền bảo hiểm đã giúp các tổ chức này huy động được một nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội Từ đó, DNBH có thể dẫn vốn từ người có vốn đến người có nhu cầu sử dụng vốn, sử dụng phần quỹ nằm ngoài các khoản chi phí dự phòng để tiến hành đầu tư vào các ngành, nghề, lĩnh vực khác, tăng nhu cầu về sử dụng lao động, thúc đẩy sự lưu thông và phát triển của thị trường, tạo ra các động lực phát triển xã hội, đóng góp không nhỏ vào công cuộc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.1.3 Nguyên tắc bảo hiểm tài sản

Cùng với quá trình vận động kinh tế thị trường, hoạt động bảo hiểm dần từng bước hình thành và phát triển mạnh mẽ với nhiều loại hình bảo hiểm khác nhau Trong

đó, với mức độ phổ biến, sự đa dạng về hình thức, BHTS đang được sự quan tâm của nhiều cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động thương mại Không chỉ mang bản chất chung của bảo hiểm, BHTS còn mang những đặc trưng riêng, được vận hành và hoạt động bởi các nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất, BHTS đảm bảo thực hiện nguyên tắc số đông

Đây là nguyên tắc cơ bản nhất của bảo hiểm Bởi lẽ, BHTS là một nghiệp vụ bảo hiểm nên cũng mang bản chất được tạo ra từ sự tập hợp được nhiều cá nhân, tổ chức có cùng khả năng rủi ro, nhu cầu bảo vệ lập thành một cộng đồng để chia sẻ hậu quả tài chính từ các tổn thất gây ra, đây chính là “sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít”, tạo ra một quỹ bảo hiểm nhất định, trong đó DNBH với tư cách là người tập hợp và quản lý quỹ bảo hiểm để đứng ra thực hiện trách nhiệm chia sẻ rủi

Trang 15

ro cho người bị tổn thất Bên cạnh đó, dựa vào số lượng người tham gia, DNBH tiến hành nghiên cứu nhu cầu của khách hàng, đưa ra dự đoán về xác suất rủi ro có thể xảy ra trong thực tế Đây là cơ sở khoa học vô cùng quan trọng để các bên đưa ra các nhận định sự cố có thể gánh vác được, cung cấp các sản phẩm BHTS và xác định mức phí bảo hiểm phù hợp, quản lý quỹ BHTS với các khoản dự phòng chi trả cho

người mua bảo hiểm nếu phát sinh rủi ro

Thứ hai, các bên tham gia BHTS phải đảm bảo thực hiện nguyên tắc trung thực

Hợp đồng BHTS là một loại hình giao dịch dân sự nên phải đảm bảo được xác lập bởi sự thống nhất các thỏa thuận và thực hiện qua cơ sở tin tưởng lẫn nhau Thực chất, BMBH chỉ tìm đến DNBH khi có nhu cầu được bảo vệ lợi ích tài chính từ tài sản của mình, nên trước khi mua bảo hiểm các chủ thể này ít có cơ hội để hiểu biết nhau, do đó trong BHTS đòi hỏi phải đảm bảo nguyên tắc trung thực một cách tuyệt đối Đối với BMBH, nguyên tắc này được thể hiện bằng trách nhiệm khai báo đầy

đủ, chính xác các thông tin có liên quan đến đối tượng bảo hiểm và quá trình thực hiện hợp đồng Đối với DNBH, pháp luật yêu cầu tổ chức này có trách nhiệm trung thực trong việc cung cấp thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải đáp thắc mắc để khách hàng có sự lựa chọn phù hợp với nhu cầu, điều kiện của họ, tránh tình trạng hiểu sai về loại hình bảo hiểm cung cấp Phạm vi của nguyên tắc trung thực được áp dụng cho cả DNBH và BMBH, không chỉ ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể tham gia mà còn giúp giảm chi phí đánh giá rủi ro Trường hợp xảy ra gian dối trong quá trình xác lập và thực hiện giao dịch BHTS có thể dẫn đến hậu quả một bên đình chỉ thực hiện hợp đồng, bên cố ý cung cấp sai thông tin phải bồi thường thiệt hại phát sinh do lỗi của mình gây ra và một số hậu quả pháp lý không mong muốn khác

Thứ ba, đảm bảo nguyên tắc thế quyền trong BHTS

Đây là nguyên tắc được áp dụng khi phát sinh sự kiện bảo hiểm dẫn đến tổn thất xuất phát từ lỗi của bên thứ ba gây ra DNBH chỉ thực hiện trách nhiệm gánh vác thay rủi ro cho người được bảo hiểm, do đó khi phát sinh thiệt hại không phải xảy ra từ các rủi ro trong tự nhiên mà nguyên nhân từ lỗi của một chủ thể khác gây ra thì sau khi thực hiện xong trách nhiệm bảo hiểm cho người bị thiệt hại, DNBH được quyền yêu cầu họ chuyển quyền yêu cầu bồi thường để tổ chức này thay mặt người bị tổn

Trang 16

thất yêu cầu bên thứ ba có lỗi gây ra thực hiện trách nhiệm bồi thường bằng cách bồi hoàn lại khoản chi phí mà DNBH đã chi trả Việc tuân thủ nguyên tắc thế quyền trong BHTS còn nhằm khuyến khích, nâng cao nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm của các DNBH, bởi lẽ họ chỉ là người “ứng trước” để kịp thời bù đắp các tổn thất xảy ra cho người bị thiệt hại, tuy nhiên phần chi phí này sẽ được hoàn trả lại cho doanh nghiệp

từ bên thứ ba có lỗi gây ra

Thứ tư, người tham gia phải có quyền lợi để được bảo hiểm

Đây là nguyên tắc được áp dụng để chỉ ra rằng không phải ai cũng là BMBH trong hợp đồng, muốn tham BHTS khách hàng phải có lợi ích bảo hiểm Trong BHTS, BMBH phải chứng minh họ là người có quyền lợi hợp pháp đối với các tài sản bằng các liên hệ cụ thể được pháp luật thừa nhận, thông qua quyền sở hữu hoặc sử dụng một cách hợp pháp đối với đối tượng bảo hiểm Quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến việc sử dụng hoặc phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm, các lợi ích này phải xác định được vào thời điểm xác lập giao dịch BHTS, ví dụ một người được chủ sở hữu cho mượn tài sản để

sử dụng nên họ có quyền khai thác các lợi ích từ tài sản, nếu tài sản này bị mất hay

hư hại họ sẽ có nghĩa vụ thay thế, sữa chữa, đền tiền hoặc khôi phục lại Đây là cơ sở

để các bên xác định các giá trị liên quan đến phí bảo hiểm, tiền bảo hiểm và thực hiện giao dịch BHTS

1.2 Khái quát về pháp luật bảo hiểm tài sản

1.2.1 Khái niệm và các nội dung cơ bản của pháp luật bảo hiểm tài sản

Hoạt động bảo hiểm được hình thành với sự tham gia của BMBH và DNBH, trong đó DNBH với vai trò là tổ chức trung gian tài chính, là chủ thể am hiểu sâu rộng và hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, ngược lại BMBH là các cá nhân, tổ chức

có nhu cầu bảo hiểm nhưng không được trang bị nhiều kiến thức chuyên môn về bảo hiểm so với DNBH Do đó, Nhà nước là cơ quan đặc thù có chức năng quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thể chế hóa đường lối của Đảng đã từng bước xây dựng

hệ thống pháp luật điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong quan hệ BHTS, tạo ra môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể tham gia Như vậy, ở Việt Nam, pháp luật BHTS được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật được ghi nhận

Trang 17

trong hệ thống văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, nhằm điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm tài sản Trên cơ sở điều chỉnh các quan hệ phát sinh, pháp luật về BHTS có nội dung sâu rộng, bao quát mọi hoạt động giữa các chủ thể, đặc biệt là mối liên hệ giữa BMBH, DNBH, cơ quan nhà nước quản lý – đây là các chủ thể chính tham gia thị trường kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam Để hiểu được bản chất của BHTS, một số nội dung cơ bản của pháp luật BHTS cần phải tìm hiểu, đó là:

- Quy định về chủ thể kinh doanh BHTS: đây là nhóm quy định về điều kiện thành lập và hoạt động kinh doanh BHTS, theo pháp luật BHTS, chủ thể được kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm phải là các tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động dưới hình thức DNBH Đồng thời, các doanh nghiệp này tuân thủ quy định về đăng ký hoạt động kinh doanh BHTS, đáp ứng được các điều kiện về chủ thể, về vốn, về trình

độ chuyên môn, về hồ sơ, thủ tục thành lập,…

- Quy định về đối tượng BHTS: nhóm quy định này để áp dụng xác định các loại tài sản được bảo hiểm, quyền lợi có thể được bảo hiểm, giá trị tài sản bảo hiểm, giá trị hợp đồng bảo hiểm

- Quy định pháp luật về các rủi ro được bảo hiểm trong BHTS: đây là cơ sở để xác định phạm vi, giới hạn trách nhiệm của DNBH thông qua các quy định về: phạm

vi bảo hiểm, sự kiện bảo hiểm, những trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm

- Quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường của DNBH: để thực hiện trách nhiệm bảo hiểm, DNBH và BMBH cần xác định thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm, điều kiện bồi thường, giám định tổn thất, nguyên tắc bồi thường, phương thức

và thời hạn bồi thường, chuyển giao quyền yêu cầu bồi hoàn trong BHTS

- Quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong quan hệ BHTS: đây

là nhóm quy định cơ bản, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thực hiện BHTS Về bản chất, giao dịch BHTS mang tính chất song vụ do đó quyền của bên này là nghĩa

vụ của bên kia, nên các bên chủ thể cần phải nắm rõ quy định pháp luật để bảo vệ được tối ưu quyền lợi chính đáng của mình

Hệ thống pháp luật BHTS vẫn đang trong quá trình củng cố, hoàn thiện, chế tài

xử lý các hành vi vi phạm chưa đủ mức răn đe, một số vấn đề vẫn đang được bỏ ngõ

Trang 18

và từng bước khắc phục, nên một số đối tượng đã lợi dụng kẽ hở của pháp luật để cố tình thực hiện các hành vi xâm phạm quyền lợi của chủ thể khác như kéo dài thời gian giải quyết trách nhiệm bồi thường, cùng một đối tượng tài sản nhưng tiến hành mua bảo hiểm ở nhiều DNBH khác nhau để trục lợi bất chính từ việc tham gia BHTS,

cố tình từ chối trách nhiệm bảo hiểm,… Chính vì vậy, cần nắm rõ các quy định pháp luật về bảo hiểm nói chung và BHTS nói riêng để nâng cao ý thức, bảo vệ được lợi ích của bản thân trước các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội

1.2.2 Quan hệ pháp luật bảo hiểm tài sản

Quan hệ pháp luật bảo hiểm là tổng thể các quan hệ xã hội hình thành và phát sinh giữa chủ thể bảo hiểm và chủ thể được bảo hiểm trên cơ sở tự nguyện, thống nhất nội dung thỏa thuận về việc nộp phí bảo hiểm và thực hiện trách nhiệm bảo hiểm của mình khi xảy ra các sự kiện nằm trong phạm vi bảo hiểm

1.2.2.1 Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật bảo hiểm tài sản

Hoạt động kinh doanh BHTS được xác lập giữa DNBH thông qua việc chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm trên cơ sở BMBH phải đóng phí bảo hiểm để DNBH trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Như vậy, chủ thể chính trong quan hệ pháp luật BHTS là DNBH, BMBH và người được bảo hiểm

Thứ nhất, Doanh nghiệp bảo hiểm

Đây là chủ thể đầu tiên và có vai trò quan trọng trong cấu thành quan hệ pháp luật BHTS Để thực hiện hoạt kinh doanh bảo hiểm, DNBH phải là một tổ chức kinh

tế có tư cách pháp nhân, được thành lập và hoạt động theo đúng quy định của Luật KDBH Hiện nay, DNBH hoạt động dưới các hình thức: công ty cổ phần, công ty TNHH, hợp tác xã, tổ chức bảo hiểm tương hỗ Bảo hiểm là hoạt động kinh doanh đặc thù với loại hình sản phẩm vô hình, có độ nhạy cảm cao, có nghĩa vụ bồi thường

về tài chính lớn nên để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của khách hàng, nên DNBH không hoạt động dưới hình thức công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân để đảm bảo về khả năng chi trả bồi thường cho người được bảo hiểm Bên cạnh đó, DNBH

để được cấp phép hoạt động, các tổ chức này phải đảm bảo số vốn điều lệ đã góp không được thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định trong từng loại hình bảo hiểm

Trang 19

và hình thức kinh doanh bảo hiểm để đảm bảo đủ năng lực tài chính tiến hành kinh doanh loại hình đặc biệt này Số lượng DNBH ở Việt Nam ngày càng tăng, đây là một dấu hiệu đáng mừng về sự khởi sắc của thị trường kinh doanh bảo hiểm ở nước

ta, tính đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam đã có hơn 30 DNBH phi nhân thọ, mỗi công ty đều có chính sách ưu đãi riêng dành cho khách hàng nên BMBH có quyền được lựa chọn nhà cung cấp phù hợp với nhu cầu, điều kiện, khả năng của mình Tuân thủ các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ bảo hiểm, hiện nay pháp luật Việt Nam cho phép các DNBH nước ngoài cung cấp dịch vụ BHTS cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam thông qua một trong các hình thức: (i) Thành lập DNBH 100% vốn của Công ty bảo hiểm nước ngoài (Công ty TNHH

01 thành viên); (ii) Mở chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài tại Việt Nam; (iii) Cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới cho các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và người nước ngoài ở Việt Nam khi họ có nhu cầu Trong phạm vi đề tài này, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu các loại hình công ty bảo hiểm cổ phần và công ty bảo hiểm TNHH được thành lập bởi các thành viên là tổ chức, đây là hai loại hình DNBH hoạt động phổ biến không chỉ trong nền kinh tế mà còn giữ vai trò chủ đạo trên thị trường bảo hiểm ở Việt Nam

Thứ hai, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm

BHTS là một trong các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhằm tìm kiếm lợi nhuận thông qua cơ chế tiếp nhận và xử lý các rủi ro Nên để thực hiện được hoạt động, các tổ chức phải tìm kiếm được người có nhu cầu tham gia để cung cấp sản phẩm đặc biệt này BMBH chính là người tiến hành mua “trách nhiệm gánh vác rủi ro” của doanh nghiệp cung cấp

BMBH có thể là các tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với DNBH

và thực hiện nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân

có tài sản được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm Theo Luật KDBH và BLDS thì tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, nhằm đảo bảo tối ưu quyền lợi của khách hàng tham gia bảo hiểm đối với trường hợp BMBH là cá nhân thì phải đủ 18 tuổi và không

bị Tòa án tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự; đối với trường hợp BMBH là tổ chức phải được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam

Trang 20

Trong quan hệ BHTS, thiệt hại được xảy ra phải là tổn thất trực tiếp đến BMBH, DNBH chỉ cung cấp bảo hiểm cho BMBH khi họ chứng minh được rằng họ là người

có quyền sở hữu đối với tài sản Trong trường hợp BMBH là người được chủ sở hữu

ủy quyền thì họ phải có bằng chứng chứng minh về sự ủy quyền quản lý tài sản này

là hoàn toàn hợp pháp Bởi vậy, trong đa số các trường hợp, BMBH đồng thời là người được bảo hiểm khi họ mua bảo hiểm cho chính tài sản của mình

là nguyên nhân dẫn đến sự phát sinh quan hệ pháp luật BHTS

Lợi ích về tài chính từ tài sản bảo hiểm là đối tượng mà các chủ thể hướng tới, hoặc tác động vào khi tham gia quan hệ pháp luật này để đạt được mục đích nhất định Đối với DNBH, phần phí bảo hiểm thu được từ người tham gia vốn dĩ xuất phát

từ bản chất lấy của số đông trả cho số ít, phần giá trị chênh lệch chính là lợi nhuận kinh tế, DNBH lại sử dụng một phần lợi nhuận này tiếp đầu tư ở lĩnh vực khác để nâng cao giá trị lợi nhuận đạt được Đối với BMBH, mục đích tham gia vào giao dịch BHTS luôn xuất phát từ mong muốn giảm thiểu rủi ro về tài chính có thể xảy ra làm tài sản của mình giảm sút hoặc mất giá trị Trong thời gian bảo hiểm, BMNH vẫn trực tiếp sử dụng, khai thác tài sản của mình, BHTS như một lá chắn phòng vệ về niềm tin dành cho họ an tâm sử dụng cho dù thiệt hại xảy ra vẫn có thể nhận được một phần giá trị tài chính khi thuộc các trường hợp rủi ro theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký

1.2.2.3 Về mặt nội dung

Quan hệ pháp luật BHTS bao gồm tổng thể các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các chủ thể tham gia, thể hiện thông qua việc thực hiện các hành vi của BMBH và DNBH trong khuôn khổ pháp luật, để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, lợi ích cộng đồng được yêu cầu các chủ thể khác thực hiện hoặc không được thực hiện hành

vi, xử sự theo quy định và chịu trách nhiệm trước pháp luật Trên cơ sở đó, quan hệ pháp luật BHTS điều chỉnh các nội dung chủ yếu mà DNBH và BMBH phải đảm bảo

Trang 21

thực hiện như: trách nhiệm cung cấp thông tin, nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm, thực hiện trách nhiệm bồi thường tổn thất, nghĩa vụ chuyển yêu cầu bồi hoàn cho DNBH Thực chất, không một ai mong muốn có sự thiệt hại nào xảy ra, vì vậy để giảm thiểu nguy cơ dẫn đến rủi ro, trước hết chính bản thân các chủ thể phải trung thực thực hiện các nghĩa vụ theo pháp luật có thể tạo được niềm tin cho người khác, từ đó đảm bảo được lợi ích chính đáng, góp phần xây dựng một thị trường BHTS phát triển vững mạnh

1.2.3 Nguồn luật điều chỉnh quan hệ bảo hiểm tài sản

Về tổng thể, nguồn của luật chính là đối tượng chứa đựng quy phạm pháp luật

Đó cũng là những gì mà Tòa án hoặc người có thẩm quyền phán xét căn cứ vào để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên, chẳng hạn: Văn bản quy phạm pháp luật, những nguyên tắc pháp lý, tập quán và thông lệ, án lệ… Ở Việt Nam, một cách chính thức, nguồn của pháp luật chỉ là những văn bản quy phạm pháp luật, việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật được nhắc đến theo Điều 5, Điều 6 BLDS 2015, theo đó, hệ thống pháp luật đối với hoạt động kinh doanh BHTS tại Việt Nam bao gồm:

- Những văn bản được Quốc hội thông qua:

Hiến pháp: Hiến pháp là nguồn rất quan trọng của pháp luật BHTS và có hiệu

lực cao nhất, đây là đạo luật cơ bản của Nhà nước ta, thể chế hóa quan điểm, đường lối cách mạng của Đảng về xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ tổ quốc Chính sách phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa được tại Điều 15; quyền được của tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế được sản xuất, kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật được ghi nhận tại Điều 16 và quyền được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp, không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh tại Điều 21 là các cơ sở quan trọng cho việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về kinh doanh BHTS ở Việt Nam

Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010, năm 2019 (gọi tắt là Luật KDBH): Đây là luật quy định trực tiếp những nội dung về hoạt động

kinh doanh BHTS tại Việt Nam từ những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh

Trang 22

doanh BHTS, quyền và nghĩa vụ của các bên, trách nhiệm bảo hiểm và trường hợp loại trừ trách nhiệm, trong giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng bảo hiểm Luật KDBH với tư cách là luật chuyên ngành điều chỉnh toàn bộ quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung

và BHTS nói riêng, là công cụ thực hiện quyền quản lý của nhà nước về bảo hiểm

Bộ luật Dân sự năm 2015: Nội dung Luật KDBH bổ sung những quy định cụ

thể, quyền lợi và nghĩa vụ cho các bên tham gia bảo hiểm nhưng không thể thay thế được các quy định của BLDS 2015 Các quan hệ phát sinh trong giao dịch bảo hiểm phải đảm bảo các nguyên tắc theo quy định chung của Bộ luật Dân sự về thiết lập các quan hệ pháp luật dân sự theo nguyên tắc tự do thỏa thuận, nguyên tắc bình đẳng, thiện chí và trung thực, tự chịu trách nhiệm, tôn trọng đạo đức tốt đẹp, tôn trọng bảo

vệ quyền dân sự, tôn trọng lợi ích Nhà nước, lợi ích cộng đồng, quyền và lợi ích của người khác, nguyên tắc tuân thủ pháp luật và nguyên tắc hòa giải

Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: có quy định về tội gian

lận trong kinh doanh bảo hiểm Điều 213, đây là quy định có tính chất răn đe, trừng trị các hành vi giả mạo tài liệu, thông đồng, cố ý làm sai lệch thông tin để được hưởng bảo hiểm của người mua bảo hiểm và cố ý chối bỏ trách nhiệm bồi thường, trả tiền bảo hiểm của DNBH Không chỉ cá nhân, tổ chức tham gia mà cả DNBH là pháp nhân nếu phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự với các hình phạt tại Điều 33

và quy định tại Chương XI BLHS quy định cụ thể về pháp nhân thương mại phạm tội

Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Bộ luật Hàng hải năm 2015, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Luật Phòng cháy chữa cháy năm 2001 sửa đổi bổ sung năm 2013, Luật Đất đai năm 2013, Luật Xây dựng năm 2014, Luật Điện lực năm 2004 sửa đổi

bổ sung năm 2018 là những văn bản quy định quyền và nghĩa vụ của người tham gia

BHTS đối với tài sản trong từng trường hợp cụ thể, có tính chất kỹ thuật và bổ trợ trong việc góp phần xác định sự kiện bảo hiểm trong phạm vi bảo hiểm, trách nhiệm bảo hiểm, trường hợp loại trừ trách nhiệm giữa các bên tham gia và cơ sở để giải quyết các vấn đề phát sinh khác

Trang 23

- Các văn bản dưới luật do Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hướng dẫn thi hành Luật KDBH và các luật khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh BHTS Trong đó, Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 quy định chi tiết thi hành Luật KDBH; Nghị định số 98/2013/NĐ-CP ngày 28/08/2013 về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số; Nghị định số 80/2019/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 và Nghị định số 98/2013/NĐ-CP ngày 28/08/2013; Nghị định số 100/1993/CP ngày 18/12/2993 về kinh doanh bảo hiểm và Thông tư số 125/2012/TT-BTC ngày 30/07/2012 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ tài chính đối với DNBH, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài là những văn bản pháp luật điều chỉnh về điều kiện của các chủ thể tham gia và các nội dung khác trong hoạt động BHTS

Hoạt động kinh doanh BHTS ngày càng đa dạng, diễn ra sôi nổi và khẳng định được vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội Với bối cảnh hội nhập, phát triển sâu rộng của đất nước, vai trò quản lý xã hội của Nhà nước dần được khẳng định, phát huy mạnh mẽ hơn Vì vậy các quy định của pháp luật là cơ sở xác định địa

vị pháp lý của các chủ thể tham gia, thực hiện chức năng quản lý nhà nước, từ đó xây dựng những định hướng phát triển và đảm bảo an toàn cho thị trường BHTS, tránh gây ra những biến động xấu cho nền kinh tế

Trang 24

Tiểu kết chương 1

BHTS là một hoạt động kinh doanh rủi ro từ người mua bảo hiểm sang DNBH, giúp người tham gia yên tâm khai thác sử dụng tài sản và đảm bảo lợi ích tài chính khi xảy ra các thiệt hại làm giảm sút giá trị của tài sản trong trường hợp do các bên thỏa thuận Đây là một lĩnh vực kinh doanh phức tạp, đa dạng với nhiều loại hình BHTS khác nhau, mang ý nghĩa kinh tế - xã hội, đặc trưng của cộng đồng, luôn đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu Để tham gia vào quan hệ này, các chủ thể phải đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật bảo hiểm và hợp tác trên sự tin tưởng, trung thực, nghiêm túc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và hưởng lợi ích hợp pháp từ BHTS Không chỉ đem lại lợi ích cho các chủ thể tham gia, BHTS còn đóng góp không

ít vào sự phát triển của nền kinh tế xã hội Trong khuôn khổ các quy định pháp luật, Nhà nước luôn từng bước hoàn thiện các thể chế, ban hành văn bản quy phạm pháp luật để nghiêm trị các trường hợp trục lợi, tạo ra hành lang pháp lý giữ vững kỷ cương, trật tự, giúp thị trường bảo hiểm nói chung và BHTS nói riêng được phát triển an toàn, vững mạnh theo cơ chế kinh tế thị trường, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đã đề ra

Trang 25

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM

TÀI SẢN HIỆN NAY

Với sự phát triển không ngừng của hoạt động sản xuất, kinh doanh trên thị trường, các tổ chức kinh tế ngày càng cung cấp nhiều hơn các loại hình sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, gia tăng doanh thu, đóp góp không nhỏ vào ngân sách nhà nước, tạo nhiều cơ hội việc làm để góp phần ổn định xã hội, phát triển đất nước BHTS là hoạt động kinh doanh đặc thù với nhiệm vụ chính là tiếp nhận, xử lý rủi ro trong cuộc sống và hoạt động kinh tế do đó pháp luật về BHTS luôn được quan tâm, chú trọng xây dựng, củng cố hoàn thiện để điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ giao dịch này Tuy nhiên, hệ thống quy định về BHTS theo pháp luật Việt Nam hiện nay là một đề tài rất rộng, do đó trong phạm vi Luận văn này, tác giả xin phép chỉ nghiên cứu về thực trạng BHTS theo pháp luật Việt Nam hiện nay với một số nội dung quan trọng mà tác giả tâm đắc sau đây:

2.1 Pháp luật về điều kiện kinh doanh bảo hiểm tài sản

2.1.1 Doanh nghiệp bảo hiểm tài sản và điều kiện để kinh doanh bảo hiểm tài sản

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 3 Luật KDBH thì DNBH được định nghĩa

chung: “là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của

Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm” DNBH là cầu nối giữa BMBH và cơ quan quản lý nhà nước, đóng vai

trò “hạt nhân” trong quá trình cấu thành quan hệ pháp luật BHTS Do đó, khái niệm DNBH trong kinh doanh BHTS dùng để đề cập đến các doanh nghiệp thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật KDBH và quy định pháp luật khác có liên quan Dưới góc độ pháp lý, để kinh doanh BHTS, DNBH phải

là một tổ chức có tư cách pháp nhân, được hoạt động khi đáp ứng các điều kiện sau:

Thứ nhất, về điều kiện góp vốn

DNBH hoạt động dưới hình thức là các tổ chức kinh tế nên thành viên tham gia góp vốn thành lập là các cá nhân, tổ chức không được thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 17 của Luật Doanh nghiệp năm 2020, có đầy đủ năng lực hành vi

Trang 26

và năng lực pháp luật Trách nhiệm của DNBH là gánh tổn thất đối với tài sản được bảo hiểm, dựa trên năng lực tài chính của mình, để thực hiện được điều này trước hết người thành lập công ty phải là người có tiềm lực về kinh tế, do đó các cá nhân, tổ chức phải thực hiện giao dịch góp vốn bằng tiền mặt của mình mà không được phép

sử dụng vốn vay, vốn ủy thác đầu tư của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào khác

Đặc biệt, bảo hiểm là lĩnh vực kinh doanh đầy rủi ro, với tính chất phức tạp và không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đối với kinh tế mà còn tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, nên các tổ chức tham gia góp vốn thành lập DNBH đòi hỏi phải là tổ chức tư cách pháp nhân để đảm bảo tính độc lập và khả năng chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của chủ thể góp vốn tạo ra pháp nhân mới Ngoài ra, tùy theo tỷ lệ sở hữu và ngành nghề kinh doanh mà các đối tượng này phải tuân thủ thêm một số điều kiện đặc thù khi thành lập DNBH, đó là:

- Đối với các tổ chức góp từ 10% vốn điều lệ trở lên phải hoạt động kinh doanh

có lãi trong 03 năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động

- Tổ chức tham gia góp vốn kinh doanh ngành nghề yêu cầu vốn pháp định thì

để được quyền góp vốn thành lập DNBH phải đảm bảo vốn chủ sở hữu trừ đi vốn pháp định tối thiểu bằng số vốn dự kiến góp

- Tổ chức tham gia góp vốn là DNBH, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty chứng khoán thì phải đảm bảo duy trì, đáp ứng các điều kiện an toàn tài chính và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận cho phép tham gia góp vốn theo quy định pháp luật chuyên ngành

- Pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm về tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm theo quy định tại Điều 213 BLHS

Thứ hai, về hình thức tổ chức

Hiện nay ở Việt Nam, DNBH hoạt động dưới 04 hình thức: công ty cổ phần, công ty TNHH, hợp tác xã và tổ chức bảo hiểm tương hỗ Xuất phát từ yêu cầu về chế độ chịu trách nhiệm của người góp vốn, cơ chế điều hành hoạt động, sự độc lập

về tài chính giữa chủ sở hữu và doanh nghiệp nên các tổ chức kinh doanh BHTS cần được thành lập và vận hành hiệu quả nhằm đem lại lợi ích kinh tế cao nhất có thể Trên thực tế thị trường bảo hiểm, công ty cổ phần và công ty TNHH là loại hình

Trang 27

doanh nghiệp phổ biến nhất Trong đó, DNBH hoạt động dưới loại hình công ty TNHH thì thành viên tham gia góp vốn thành lập phải là tổ chức, ngược lại vận hành dưới hình thức công ty cổ phần thì phải có ít nhất 02 cổ đông sáng lập là tổ chức và ngoài điều kiện góp vốn, các tổ chức này phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Đối các tổ chức nước ngoài góp vốn thành lập DNBH dưới loại hình công ty TNHH thì các tổ chức này phải là DNBH được cơ quan có quan có thẩm quyền của nước ngoài cho phép hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dự kiến tiến hành tại Việt Nam hoặc công ty con chuyên thực hiện chức năng đầu tư ra nước ngoài của DNBH nước ngoài được DNBH nước ngoài ủy quyền để góp vốn thành lập DNBH tại Việt Nam; có ít nhất 07 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực dự kiến tiến hành; tổng tài sản tối thiểu tương đương 02 tỷ đô la Mỹ vào năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tại Việt Nam và không vi phạm nghiêm trọng các quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm của nước nơi DNBH đóng trụ sở chính trong thời hạn 03 năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp phép

- Tổ chức Việt Nam góp vốn thành lập DNBH dưới loại hình công ty TNHH phải có tổng tài sản tối thiểu 2.000 tỷ đồng Việt Nam vào năm liền kề trước năm nộp

Trong lĩnh vực BHTS, việc thành lập các công ty bảo hiểm dưới hình thức công

ty cổ phần và công ty TNHH đều bắt buộc có sự tham gia của các tổ chức kinh tế, bởi

lẽ đây là lĩnh vực yêu cầu có kinh nghiệm chuyên môn cao trong việc xây dựng và điều hành hoạt động của doanh nghiệp Đồng thời, đặc trưng của nhà đầu tư cá nhân

ở nước ta thường mang tính nhỏ lẻ, manh mún, dễ bị xao động trong khi nhà đầu tư

là tổ chức được vận hành theo một cơ cấu nhất định, có năng lực tài chính và đội ngũ chuyên môn riêng, đảm bảo sự an toàn trong quá trình kinh doanh bảo hiểm và quyền lợi của BMBH, việc hạn chế người thành lập là cá nhân là tất yếu

Trang 28

Ngoài ra, hoạt động kinh doanh BHTS ở Việt Nam còn được thực hiện bởi các hoạt động của chi nhánh công ty bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, đây là tổ chức không có tư cách pháp nhân và là đơn vị phụ thuộc của DNBH phi nhân thọ nước ngoài, được DNBH này bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh tại Việt Nam Khi đăng ký hoạt động, các DNBH phi nhân thọ nước ngoài ngoài việc đáp ứng các điều kiện như một tổ chức nước ngoài thành lập công ty bảo hiểm TNHH ở nước ta còn cần có trụ sở chính tại nước mà Việt Nam và quốc gia đó

đã ký kết các điều ước quốc tế về thương mại, trong đó có thỏa thuận về thành lập chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài tại nước ta và cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm nơi công ty mẹ đóng trụ sở chính đã ký kết Biên bản thỏa thuận hợp tác với

Bộ Tài chính Việt Nam về quản lý, giám sát hoạt động của chi nhánh nước ngoài Ngoài ra, DNBH nước ngoài còn cần phải chứng minh được năng lực tài chính bằng nguồn vốn hợp pháp dùng để thành lập và không được sử dụng tiền vay hoặc nguồn

ủy thác đầu tư dưới bất kỳ hình thức nào, doanh nghiệp phải có lãi trong 03 năm liền

kề trước năm hộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép và không có lỗ lũy kế đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép

Trên cơ sở mở cửa hội nhập quốc tế, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tạo điều kiện cho các nghiệp vụ BHTS ngày càng được phát triển đa dạng dưới nhiều hình thức, trong đó phải kể đến hoạt động cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới Theo quy định tại điểm a Khoản 11 Điều 1 Nghị định 80/2019/NĐ-CP thì đối tượng cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới bao gồm cả DNBH nước ngoài có trụ

sở chính tại quốc gia mà Việt Nam và quốc gia đó đã ký kết các điều ước quốc tế về thương mại trong đó có thỏa thuận về cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới tại Việt Nam Tuy nhiên để cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới tại Việt Nam, các DNBH phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Có Giấy phép của cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm nước ngoài nơi doanh nghiệp có trụ sở chính cho phép thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm dự kiến cung cấp qua biên giới tại Việt Nam và phải hoạt động hợp pháp ít nhất 10 năm tính tới thời điểm cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới tại Việt Nam;

Trang 29

- Có văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm nước ngoài nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính cho phép cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới tại Việt Nam và xác nhận không vi phạm các quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và các quy định pháp luật khác của nước ngoài tại Việt Nam;

- Có tổng tài sản tối thiểu tương đương 02 tỷ đô la Mỹ vào năm tài chính trước năm cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới tại Việt Nam;

- DNBH nước ngoài được xếp hạng tối thiểu “BBB” theo Standard & Poor’s hoặc Fitch, “B++” theo A.M.Best, “Baal” theo Moody’s hoặc các kết quả xếp hạng tương đương của các tổ chức có chức năng, kinh nghiệm xếp hạng khác tại các năm tài chính trước năm cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới tại Việt Nam;

- Hoạt động kinh doanh có lãi trong 03 năm tài chính liền kề trước năm cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới tại Việt Nam;

- Ký quỹ tối thiểu 100 tỷ đồng Việt Nam tại Ngân hàng được cấp Giấy phép tại Việt Nam và có thư bảo lãnh thanh toán của ngân hàng đó cam kết thanh toán trong trường hợp trách nhiệm của các hợp đồng bảo hiểm cung cấp qua biên giới tại Việt Nam vượt quá mức ký quỹ bắt buộc;

- Có quy trình giải quyết bồi thường trong đó nêu rõ thủ tục, trình tự xử lý tổn thất và thời hạn trả tiền bồi thường cho BMBH tại Việt Nam

Như vậy, cùng với những thay đổi của các chính sách pháp luật, đời sống kinh

tế - xã hội, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày càng được chú trọng và khẳng định

vị trí quan trọng trong nền kinh tế, được triển khai với đa dạng hình thức tổ chức khác nhau, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm tại Việt Nam

Thứ ba, về vốn điều lệ Khi thành lập công ty BHTS, số vốn điều lệ đã góp

không được thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định pháp luật đối với từng hoạt động kinh doanh bảo hiểm Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 10 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật KDBH và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật KDBH thì mức vốn pháp định để: kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ

là 300 tỷ đồng; kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ và bảo hiểm hàng không hoặc bảo hiểm vệ tinh là 350 tỷ đồng; kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm vệ tinh là 400 tỷ đồng Do đó, với tư cách là một loại hình bảo hiểm phi

Trang 30

nhân thọ, để kinh doanh BHTS thì DNBH phải có mức vốn điều lệ tối thiểu là 350 tỷ đồng Ở Việt Nam trong những năm gần đây, một số DNBH kinh doanh loại hình bảo hiểm phi nhân thọ trên thị trường có thể kể đến như: Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt

có vốn điều lệ tính đến năm 2019 là 2.900 tỷ đồng, Tổng công ty cổ phần Bảo Minh

có vốn điều lệ tính đến năm 2020 là 3.100 tỷ đổng

Thứ tư, về trình độ chuyên môn Kinh doanh BHTS là một ngành nghề kinh

doanh có điều kiện, không chỉ đáp ứng các điều kiện về người góp vốn, vốn điều lệ, hình thức hoạt động mà người quản trị, điều hành trong DNBH luôn được yêu cầu phải có năng lực quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ về BHTS Có thể thấy đây là ngành nghề kinh doanh đặc biệt, kinh doanh rủi ro, do đó đối với đối tượng tham gia góp vốn phải đáp ứng các yêu cầu khắc khe về tổ chức, tài chính và trình độ chuyên môn Trong quan hệ pháp luật BHTS, dưới hình thức hoạt động là các tổ chức kinh tế, nên DNBH không chỉ chịu sự điều chỉnh chung của Luật Doanh nghiệp mà còn đáp ứng các điều kiện riêng biệt để được cấp phép và hoạt động kinh doanh BHTS tại Việt Nam, đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ Tài chính, đây là điểm riêng biệt giúp phân biệt DNBH với các công ty khác trên thị trường

2.1.2 Quy tắc bảo hiểm tài sản

Quy tắc BHTS có thể được xem là tổng thể các quy định chung mà người tham gia BHTS phải tuân theo Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, mặc dù mang tính

áp dụng chung cho cộng đồng tham gia nhưng quy tắc bảo hiểm lại được DNBH xây dựng, do đó các nội dung đều được dựa trên quy định pháp luật, chuẩn mực đạo đức

xã hội, phong tục tập quán ở Việt Nam, ngôn ngữ sử dụng trong quy tắc phải chính xác, đơn giản, dễ hiểu, các thuật ngữ chuyên môn cần được định nghĩa rõ ràng Tuy nhiên, đối với các loại bảo hiểm bắt buộc quy tắc bảo hiểm sẽ do Bộ Tài chính ban hành, chẳng hạn như bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm thân tàu

Quy tắc bảo hiểm là một trong các tài liệu cần có trong thủ tục đăng ký thành lập, hoạt động của một DNBH, các nội dung của quy tắc bảo hiểm xuất phát từ thực tiễn triển khai hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời, đối với các loại đối tượng bảo hiểm giống nhau và có cùng những khả năng rủi ro, việc DNBH xây dựng những quy định áp dụng chung trong quy tắc bảo hiểm góp phần tạo ra sự công bằng,

Trang 31

bình đẳng giữa những người có nhu cầu tham gia bảo hiểm, thể hiện tính chuyên nghiệp và nâng cao uy tín của DNBH, thu hút nhiều hơn nữa số người tham gia nghiệp

vụ BHTS Bên cạnh đó, quy tắc BHTS được DNBH cung cấp thường đề cập các nội dung, điều khoản về các loại tài sản được bảo hiểm, phạm vi bảo các rủi ro được bồi thường, các trường hợp loại trừ trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia, hồ sơ bồi thường, phương thức bồi thường, Thông qua tài liệu này, khách hàng có thể tham khảo và hiểu rõ hơn về loại hình bảo hiểm mà mình mong muốn tham gia, biết được trách nhiệm, quyền lợi giữa các bên, những nội dung trong quy tắc này là những điều khoản mà BMBH và DNBH phải nghiêm túc chấp hành

2.1.3 Hợp đồng bảo hiểm tài sản

Quan hệ bảo hiểm được hình thành trên cơ sở một bên có nhu cầu được bảo hiểm và một bên cung cấp dịch vụ bảo hiểm, thông qua sợi dây kết nối vô hình “cung – cầu” của thị trường, các chủ thể này tìm đến nhau và hợp tác bàn bạc để có được sự thống nhất các yêu cầu được đặt ra Chính vì vậy, là một loại của hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng BHTS thể hiện sự thỏa thuận giữa BMBH và DNBH, theo đó BMBH phải đóng phí bảo hiểm, DNBH phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

Tuy nhiên, không phải bất kỳ thỏa thuận nào về BHTS nào cũng hợp pháp, để được pháp luật công nhận và phát sinh hiệu lực pháp lý ràng buộc giữa các bên tham gia, hợp đồng BHTS phải đáp ứng các điều kiện sau:

Thứ nhất, chủ thể tham gia ký kết phải có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực

pháp luật Bên cạnh các chủ thể là cá nhân, xuất phát từ đặc trưng của đối tượng cung cấp dịch vụ bảo hiểm, quan hệ BHTS có ít nhất một bên tham gia là pháp nhân, do

đó phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, hoạt động một cách hợp pháp thì các pháp nhân này mới có đủ điều kiện tham gia BHTS theo quy định pháp luật hiện hành

Thứ hai, chủ thể tham gia ký kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện, xuất phát

từ sự tự do ý chí của chính họ mà không ai được phép đe dọa, tác động dưới bất kỳ hình thức nào để ép buộc phải tham gia BHTS trái với mong muốn

Trang 32

Thứ ba, nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội Đối

tượng tài sản được bảo hiểm không thuộc tài sản, hàng hóa cấm giao dịch Bên cạnh

đó, nội dung của hợp đồng cũng cần được thể hiện cụ thể, bởi vì việc xác lập nghĩa

vụ trong hợp đồng phải rõ ràng và có tính khả thi, nghĩa vụ của hợp đồng nếu như không thể thực hiện được, trái với quy định pháp luật thì cũng không được xem là có hiệu lực pháp luật và không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên Một trong các mục đích mà pháp luật hướng đến là bảo vệ đối tượng yếu thế trong xã hội, do đó tại Điều 21 Luật KDBH đã quy định trong trường hợp nội dung hợp đồng bảo hiểm

có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó sẽ được giải thích theo hướng có lợi cho BMBH, đây là một trong những biện pháp bảo vệ BMBH mà nhà làm luật đã đặt

ra

Các thỏa thuận trong hợp đồng BHTS phải đầy đủ, rõ ràng và có các nội dung

cơ bản sau: Tên, địa chỉ của DNBH, BMBH, người được bảo hiểm; đối tượng bảo hiểm; số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm; phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm; điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm; thời hạn bảo hiểm; mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm; thời hạn, phương thức trả tiền bồi thường bảo hiểm; các quy định giải quyết tranh chấp; ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng Ngoài ra, hợp đồng BHTS có thể còn có các nội dung khác do các bên thống nhất cùng thỏa thuận Bên cạnh đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, BMBH và DNBH có thể thỏa thuận sửa đổi, bổ sung phí bảo hiểm, điều kiện, điều khoản bảo hiểm, tuy nhiên các sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo hiểm đã ký cần phải được lập thành văn bản

Thứ tư, về hình thức, hợp đồng BHTS phải được lập thành văn bản

Để được công nhận và đảm bảo hiệu lực áp dụng, hợp đồng BHTS phải đáp ứng

đủ các điều kiện trên mới, nếu vi phạm một trong các điều kiện sau sẽ dẫn đến vô hiệu và hậu quả pháp lý được giải quyết theo quy định của BLDS và Luật KDBH hiện hành

Về bản chất, BHTS vẫn mang đặc trưng của giao dịch dân sự, bởi vậy khi tham gia quan hệ này, các chủ thể thường hướng đến những lợi ích nhất định Nếu mục đích của BMBH là nhận được cam kết bồi thường cho những tổn thất có thể xảy ra

Trang 33

trong tương lai thì DNBH lại hướng đến khoản lợi nhuận mà họ có thể thu được từ việc cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho khách hàng Đây là thỏa thuận có vai trò quan trọng trong việc tạo lập và duy trì mối quan hệ hợp tác giữa các bên, do đó cần phải được thể hiện rõ trong hợp đồng bảo hiểm để hạn chế phát sinh tranh chấp có thể xảy

ra Trong BHTS, để nhận được cam kết bồi thường từ DNBH khi có tổn thất do sự kiện bảo hiểm gây ra, phí bảo hiểm là khoản tiền mà chủ sở hữu, sử dụng tài sản một cách hợp pháp đóng cho DNBH theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng BHTS Khoản phí này có thể nộp một lần ngay sau khi ký hợp đồng, hay thực hiện theo định kỳ hàng tháng, quý, năm hoặc tiến độ khác do các bên thỏa thuận Dưới góc độ của nhà kinh tế, phí bảo hiểm là thu nhập của DNBH, dựa vào nguồn thu này doanh nghiệp có thể tiến hành chi trả các tổn thất được bảo hiểm khi xảy ra, đồng thời cũng là nguồn để tiến hành chi trả cho chi phí khai thác cho tuyên truyền, quảng cáo, môi giới, chi phí cho đại lý, chi phí quản lý hợp đồng, chi phí quản

lý cho các khoản chi trả bồi thường cho người đóng bảo hiểm Phí bảo hiểm của mỗi hợp đồng BHTS sẽ khác nhau bởi để xác định khoản phí này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loại tài sản, giá trị tài sản, các rủi ro có thể xảy ra, phương thức sử dụng, bảo quản tài sản,… Ngoài ra phí bảo hiểm sẽ được tính dựa trên công thức cân bằng giữa trách nhiệm của công ty bảo hiểm và trách nhiệm của BMBH tại thời điểm ký kết hợp đồng giữa hai bên

Hợp đồng bảo hiểm tài sản là cơ sở để các bên thực hiện các thỏa thuận, thể hiện thiện chí hợp tác của các bên Theo quy định của Luật KDBH, khi giao kết hợp đồng BHTS, DNBH có trách nhiệm phải cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho BMBH biết Trong trường hợp doanh nghiệp cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm mục đích giao kết hợp đồng bảo hiểm thì BMBH có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và phải bồi thường thiệt hại phát sinh do việc cung cấp thông tin sai sự thật gây ra Ngược lại, BMBH cũng có trách nhiệm cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến đối tượng tài sản được bảo hiểm cho DNBH và DNBH có trách nhiệm giữ

bí mật về thông tin do BMBH cung cấp Nếu như BMBH cố ý cung cấp thông tin sai

sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi

Trang 34

thường hoặc không thực hiện các nghĩa vụ cung cấp thông tin về những trường hợp

có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm bảo hiểm theo yêu cầu của DNBH thì DNBH có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm

và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm Có thể thấy rằng, cung cấp thông tin là trách nhiệm chung của cả bên bán và bên mua BHTS, chính vì vậy các bên chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin đó

2.1.4 Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm tài sản

Khi thực hiện giao dịch dân sự, các chủ thể của hợp đồng được phép chuyển giao quyền hoặc nghĩa vụ cho một chủ thể thứ ba để đảm bảo việc thực hiện các thỏa thuận trong hợp đồng Tuy nhiên, giao dịch BHTS không chỉ mang bản chất của một hợp đồng dân sự thông thường mà còn có nét đặc trưng riêng, bởi sự yêu cầu khắt khe đối với DNBH và những nguy cơ có thể tìm ẩn trong quá trình hoạt động Trên

cơ sở đó, chuyển giao hợp đồng BHTS là một trong các điều kiện cần thiết mà các công ty bảo hiểm bắt buộc phải đáp ứng để tiến hành kinh doanh BHTS tại Việt Nam Hoạt động chuyển giao hợp đồng bảo hiểm được thể hiện bằng việc một DNBH chuyển giao toàn bộ hợp đồng bảo hiểm của một hoặc một số nghiệp vụ bảo hiểm cho các DNBH khác, nói một cách khác quyền và nghĩa vụ của DNBH ban đầu sẽ được chuyển toàn bộ cho doanh nghiệp nhận chuyển giao trong một hoặc một số lĩnh vực bảo hiểm Tuy nhiên hoạt động này không được thực hiện một cách tự do mà chỉ được chuyển giao trong những trường hợp theo quy định tại tại Điều 74 Luật KDBH,

đó là: DNBH có nguy cơ mất khả năng thanh toán; DNBH chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể; theo thỏa thuận giữa các DNBH Có thể thấy, đa phần các trường hợp pháp luật quy định được phép chuyển giao hợp đồng bảo hiểm nói chung và hợp đồng BHTS nói riêng đều là lúc các tổ chức này đang có nguy cơ đối diện với khó khăn dẫn đến sự thay đổi lớn về mặt cơ cấu tổ chức, thậm chí có khả năng chấm dứt hoạt động và bị đào thải khỏi thị trường Khi đó các DNBH khó có điều kiện để tiếp tục thực hiện hợp đồng bảo hiểm đã ký, nếu như đơn phương chấm dứt hợp đồng thì các

tổ chức này có thể đối mặt với khả năng bồi thường các khoản thiệt hại phát sinh từ hành vi pháp lý đơn phương của mình gây ra, ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của BMBH Vậy nên chuyển giao hợp đồng BHTS như một biện pháp cứu cánh để giảm

Trang 35

đi phần nào áp lực tài chính của các công ty đang khó khăn, làm đa dạng thêm nghiệp

vụ bảo hiểm và nâng cao uy tín của các DNBH nhận chuyển giao, bảo vệ tối ưu quyền lợi của các chủ thể tham gia

Bên cạnh đó, pháp luật về kinh doanh BHTS ghi nhận thỏa thuận của các DNBH

là một trong các trường hợp làm phát sinh quyền chuyển giao hợp đồng bảo hiểm đã

ký nhưng lại không quy định rõ về các điều kiện áp dụng thỏa thuận chuyển giao, các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm và thời điểm được phép chuyển giao, nên khó tránh khỏi các trường hợp một số doanh nghiệp lợi dụng việc chuyển giao hợp đồng để bắt tay liên kết với nhau, chiếm lĩnh thị trường, thực hiện các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh gây ra các tác động xấu trong sự phát triển của thị trường bảo hiểm Khi chuyển giao hợp đồng BHTS, chủ thể thực hiện hợp đồng đã có sự thay đổi từ một DNBH này sang một doanh nghiệp khác Bản chất của hoạt động này là sự kế thừa thực hiện các nội dung của hợp đồng cũ chứ không hề phát sinh giao dịch mới nên các quyền

và nghĩa vụ theo hợp đồng BHTS ban đầu không thay đổi cho đến khi hết thời hạn của hợp đồng để hạn chế việc xung đột lợi ích khi có sự thay đổi về chủ thể thực hiện Nhằm giảm bớt áp lực tài chính và tạo ra sự công bằng giữa DNBH ban đầu, người quản lý quỹ của cộng đồng tham gia nghiệp vụ bảo hiểm chuyển giao, và tổ chức nhận chuyển giao, người kế thừa trách nhiệm gánh vác tổn thất, phải tiến hành chuyển giao các quỹ và dự phòng nghiệp vụ liên quan đến toàn bộ hợp đồng

Tuy nhiên không phải DNBH nào cũng sẵn sàng đứng ra nhận trách nhiệm thay cho đối tượng đang gặp khó khăn, khi DNBH có nguy cơ mất khả năng thanh toán, giải thể mà không thỏa thuận được việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm cho DNBH khác thì Bộ Tài chính sẽ lựa chọn và chỉ định tổ chức nhận chuyển giao Việc chuyển giao chỉ tiến hành sau khi được Bộ chấp thuận bằng văn bản, sau đó DNBH chuyển giao hợp đồng phải công bố về việc chuyển giao một cách công khai Đồng thời, theo quy định tại điểm b Khoản 3 Điều 48 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP thì trong thời hạn

30 ngày kể từ ngày Bộ Tài chính chấp thuận, DNBH phải gửi thông báo kèm theo tóm tắt kế hoạch chuyển giao cho từng BMBH và nêu rõ trong thời hạn 15 ngày kể

từ ngày nhận được thông báo, BMBH được phép hủy hợp đồng bảo hiểm nếu không đồng ý với kế hoạch chuyển giao, ngày kế hoạch chuyển chính thức có hiệu lực, khi

Trang 36

đó DNBH phải hoàn lại cho họ số phí bảo hiểm đã nhận tương ứng với thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm sau khi trừ đi các chi phí hợp lý liên quan

Như vậy, quan hệ chuyển giao hợp đồng BHTS phát sinh giữa 03 chủ thể chính: DNBH chuyển giao hợp đồng BHTS, DNBH nhận chuyển giao hợp đồng BHTS, BMBH Trong đó, trách nhiệm gánh vác rủi ro được chuyển từ DNBH này sang DNBH khác dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan nhà nước, chuyển giao hợp đồng BHTS không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng và quyền lợi của BMBH vẫn được đảm bảo như ban đầu, góp phần ổn định thị trường, tránh tình trạng các DNBH

bị mất khả năng thanh toán, không thể thực hiện được trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách hàng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

2.1.5 Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm

Quyền sở hữu đối với tài sản không phải là một quyền cố định gắn chặt giữa một người và vật nào đó, cho nên, khi có sự chuyển quyền sở hữu từ một chủ thể này sang một chủ thể khác, để đảm bảo tối ưu quyền lợi của các bên tham gia, quy định pháp luật hiện hành đã đặt ra một số điều kiện nhất định mà DNBH và BMBH cần phải tuân thủ khi chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm

Tại thời điểm xác lập hợp đồng, BMBH phải chứng minh được mình có lợi ích

từ tài sản bằng các quyền sở hữu, sử dụng đối tượng bảo hiểm một cách hợp pháp Thông thường, BMBH là chủ sở hữu nên có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng

và định đoạt đối với tài sản, khi không còn nhu cầu sử dụng, họ có quyền chuyển nhượng tài sản này cho bất kỳ cá nhân, tổ chức nào khác Tuy nhiên, quan hệ hợp đồng bảo hiểm được phát sinh giữa BMBH và DNBH, còn chủ thể nhận chuyển nhượng tài sản là bên thứ ba xuất hiện sau khi hợp đồng bảo hiểm đã được xác lập và không có quyền lợi đối với tài sản tại thời điểm ký kết hợp đồng, do vậy DNBH này không có trách nhiệm gánh vác rủi ro thay cho chủ thể này Việc chuyển nhượng tài sản bảo hiểm làm xuất hiện sự mâu thuẫn trong chủ thể ký kết và người có quyền lợi đối với tài sản, gây ra khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng và có thể dẫn đến hậu quả chấm dứt hợp đồng BHTS đã ký Do đó, để khắc phục sự mâu thuẫn về lợi ích của các thành viên trong xã hội, pháp luật về BHTS ở nước ta đã ghi nhận việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm là một trong các quyền của BMBH

Trang 37

Trên thực tế, để thực hiện hợp đồng và tránh phát sinh tranh chấp khi BMBH không còn lợi ích bảo hiểm như khi ký kết hợp đồng, các DNBH luôn đề cập trường hợp chuyển nhượng tài sản trong Quy tắc bảo hiểm để làm căn cứ áp dụng Cụ thể,

tại Điều 2 Quy tắc bảo hiểm xe ô tô của công ty Bảo Việt thì: “trong thời gian hiệu

lực của hợp đồng nếu có sự chuyển quyền sở hữu xe thì quyền lợi bảo hiểm vẫn có hiệu lực đối với chủ xe mới và chấm dứt hiệu lực đối với chủ xe cũ ngay tại thời điểm quyền sở hữu xe được chuyển cho chủ xe mới Trường hợp chủ xe cũ không chuyển quyền lợi bảo hiểm cho chủ xe mới và có yêu cầu hủy hợp đồng bảo hiểm thì Bảo Việt

sẽ hoàn phí bảo hiểm cho chủ xe cũ 70% phí bảo hiểm của thời gian còn lại.” Đồng

thời, tại mục 8 phần Các điều kiện chung trong Quy tắc bảo hiểm mọi rủi ro tài sản của Công ty bảo hiểm Liberty quy định: trong tình huống quyền lợi đối với tài sản được bảo hiểm chuyển giao khỏi người được bảo hiểm không do di chúc hay do hoạt động pháp luật thì bảo hiểm sẽ chấm dứt hiệu lực đối với tài sản bị ảnh hưởng, trừ khi trước khi phát sinh sự cố gây ra thiệt hại người được bảo hiểm đã được sự chấp thuận của công ty Bảo hiểm bằng điều khoản Sửa đổi bổ sung vào Hợp đồng bảo hiểm do công ty bảo hiểm hay đại diện của họ ký

Bên cạnh đó, để đảm bảo công bằng trong quá trình thực hiện hợp đồng và quyền lợi giữa các chủ thể tham gia bảo hiểm nói chung và BHTS nói riêng, căn cứ quy định tại Điều 26 Luật KDBH thì BMBH có thể chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, đồng thời họ phải thông báo bằng văn bản cho DNBH về việc chuyển nhượng và nhận được văn bản chấp thuận việc chuyển nhượng thì mới làm phát sinh hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp việc chuyển nhượng được thực hiện theo tập quán quốc tế Tuy nhiên pháp luật hiện hành chưa quy định về thời hạn tối đa phải trả lời của DNBH dẫn đến việc một số tổ chức cố tình kéo dài thời gian, tạo ra sức ép, gây cản trở và ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của BMBH

Như vậy, trong chuyển nhượng hợp đồng BHTS, quyền và nghĩa vụ của BMBH đồng thời được chuyển đổi sang bên nhận chuyển nhượng hợp đồng, nói một cách khác, nếu như DNBH đồng ý việc chuyển nhượng hợp đồng thì DNBH có quyền yêu cầu bên nhận chuyển nhượng phải thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng đã ký,

Trang 38

như: đóng phí bảo hiểm, nghĩa vụ cung cấp thông tin,… Từ việc chuyển nhượng này, DNBH và bên nhận chuyển nhượng có mối liên hệ ràng buộc với nhau thông qua hợp đồng BHTS, tuy nhiên đây không phải là hợp đồng mới mà chỉ là sự tiếp nối thực hiện những nội dung đã thỏa thuận, chuyển giao tất cả quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng đã ký nên chỉ được thực hiện khi DNBH đồng ý

2.2 Pháp luật về đối tượng bảo hiểm tài sản

2.2.1 Các loại tài sản được bảo hiểm, quyền lợi có thể được bảo hiểm

Quan hệ BHTS được phát sinh giữa BMBH và DNBH trên cơ sở các bên tiến hành xác lập hợp đồng bảo hiểm có đối tượng là tài sản Theo quy định tại Điều 40

Luật KDBH thì: “Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm tài sản là tài sản, bao gồm vật

có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản” Đây cũng chính là các

loại hình tài sản được quy định trong BLDS, như vậy có thể phân các đối tượng của hình thức bảo hiểm này thành hai nhóm: tài sản là bất động sản và tài sản là động sản Trong đó, các loại đối tượng bảo hiểm thường thấy là: nhà cửa, công trình kiến trúc gắn liền với đất, các trang thiết bị máy móc, hàng hóa, vật tư,… Tương ứng với mỗi loại tài sản, DNHB sẽ cung cấp cho BMBH nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau, các loại hình BHTS phổ biến là: bảo hiểm nhà xưởng thiết bị máy móc, dây chuyền sản xuất, bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm công trình xây dựng, bảo hiểm mùa màng, vật nuôi… Đối tượng của BHTS khá đa dạng, phong phú với nhiều loại hình khác nhau, trong đó có một loại tài sản đặc trưng là quyền tài sản Quyền tài sản trong giao dịch dân sự phải được định giá được bằng tiền và có thể chuyển giao cho người khác Tuy nhiên, quyền tài sản là rất ít khi là đối tượng của hợp đồng BHTS, chẳng hạn quyền

sở hữu trí tuệ là một trong các loại hình của quyền tài sản nhưng chưa có loại bảo hiểm nào đối với loại hình này Nguyên nhân có thể xuất phát từ đặc trưng riêng biệt của các tài sản này, cụ thể sở hữu trí tuệ thường là đối tượng tài sản khó thể xác được tính định hình, định lượng của nó, giá trị các tài sản này được thay đổi liên tục bởi rất nhiều tác động khác nhau Mặc dù không trở thành đối tượng của hợp đồng nhưng các quyền tài sản vẫn được bảo vệ và chuyển giao trong quá trình thực hiện hoạt động bảo hiểm, khi xảy ra các thiệt hại làm giảm sút giá trị của tài sản thì DNBH sẽ tiến hành bồi thường cho BMBH để đảm bảo quyền sử dụng và khai thác các lợi ích từ

Trang 39

đối tượng bảo hiểm, nhanh chóng khôi phục lại hoạt động sản xuất kinh doanh, trường hợp lỗi gây ra tổn thất là do người thứ ba thì sau khi bồi thường tiền bảo hiểm, quyền yêu cầu người thứ ba bồi thường thiệt hại sẽ được chuyển giao từ BMBH sang DNBH

Để trở thành đối tượng được bảo hiểm, các tài sản này phải đáp ứng các điều kiện nhất định, cụ thể:

Một là, tài sản thuộc đối tượng bảo hiểm phải đang tồn tại tại thời điểm giao kết

hợp đồng hoặc có cơ sở được hình thành trong tương lai (công trình xây dựng) Dựa vào các tài sản có thực các bên tham gia mới có thể xác định được đối tượng bảo hiểm, hiện trạng và giá trị tài sản Từ đó thống nhất mức phí bảo hiểm, phỏng đoán được các rủi ro có khả năng xảy ra và cơ sở để xác lập mức bồi thiệt hại khi xảy ra các sự kiện bảo hiểm làm tài sản bị giảm sút so với giá trị ban đầu

Hai là, BMBH phải có quyền lợi đối với đối tượng được bảo hiểm Các quyền

lợi này phải được xác định được giá trị, có thể quy đổi ra bằng tiền, dựa trên cơ sở quyền

sở hữu, sử dụng hợp pháp của BMBH tại thời điểm giao kết hợp đồng Khi thiệt hại xảy

ra làm sụt giảm so với giá trị ban đầu của các đối tượng bảo hiểm và BMBH là người gánh chịu hoặc ảnh hưởng bởi những tổn thất nhất định, đây là cơ sở để xác lập việc chuyển giao trách nhiệm gánh chịu thiệt hại giữa các bên tham gia

Ba là, sự kiện bảo hiểm chưa xảy đối với tài sản ra tại thời điểm giao kết hoặc

đang xảy ra mà các bên không biết về việc đó, đồng thời, BMBH phải mô tả đúng tài sản là đối tượng bảo hiểm, đảm bảo tính trung thực, không được cung cấp thông tin sai lệch, không lừa dối DNBH

Như vậy, với mục đích đáp ứng nhu cầu khắc phục rủi ro về tài sản của con người, các đối tượng bảo hiểm theo quy định pháp luật Việt Nam rất đa dạng, giúp

hệ thống BHTS ngày càng phát triển rộng rãi, tiếp cận rộng hơn đến với mọi người, khẳng định được vị trí quan trọng trong nền kinh tế, góp phần ổn định xã hội

2.2.2 Giá trị tài sản bảo hiểm

Trong quan hệ BHTS, đối tượng của hợp đồng bảo hiểm là tài sản, do đó giá trị của những vật chất này là cơ sở để xác định giá trị của từng hợp đồng riêng biệt Đối với mỗi loại tài sản, tùy theo tính chất, thời gian, mục đích sử dụng mà giá trị tài sản bảo hiểm được

Ngày đăng: 02/07/2021, 19:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w