Một cơ chế thực hiện hành vi phạm tội đầy đủ và toàn diện đối với các tội phạm có nạn nhân là sự tác động qua lại giữa người thực hiện hành vi phạm tội và nạn nhân của tội phạm; hành vi
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÂM VĂN TIẾN
NẠN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – năm 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÂM VĂN TIẾN
NẠN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã ngành: 638.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐINH THỊ MAI
HÀ NỘI – năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lâm Văn Tiến
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NẠN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM 7
1.1 Nạn nhân của tội phạm 7
1.2 Nạn nhân của tình hình tội phạm 13
1.3 Vai trò của nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội 21
1.4 Nguyên nhân trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm 25
1.5 Cơ chế bảo vệ, trợ giúp nạn nhân của tội phạm 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NẠN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 33
2.1 Tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 33
2.2 Thực trạng nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 40
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA NGUY CƠ TRỞ THÀNH NẠN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM 52
3.1 Hạn chế, loại trừ những yếu tố thuộc về nguyên nhân chủ quan 52
3.2 Hạn chế những yếu tố thuộc về nguyên nhân khách quan 58
3.3 Tiếp thu kinh nghiệm bảo vệ nạn nhân của một số nước 60
KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm diễn biến hết sức phức tạp,
có sự gia tăng cả về số lượng và hậu quả nguy hiểm cho xã hội Diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó không loại trừ những nguyên nhân từ phía nạn nhân của tội phạm Một cơ chế thực hiện hành vi phạm tội đầy đủ và toàn diện (đối với các tội phạm có nạn nhân) là sự tác động qua lại giữa người thực hiện hành vi phạm tội và nạn nhân của tội phạm; hành vi phạm tội gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác của nạn nhân; ngược lại, nạn nhân trong nhiều trường hợp cũng có ảnh hưởng quyết định tới việc hình thành ý định phạm tội cũng như việc thực hiện hành vi phạm tội, nạn nhân có thể làm hạn chế hoặc triệt tiêu ý định phạm tội Thực tiễn hoạt động điều tra, truy tố, xét xử cho thấy, nạn nhân (người liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội) là mắt xích quan trọng giúp cho quá trình tiến hành tố tụng được thuận lợi, nhanh chóng, chính xác
Thành phố Đà Nẵng là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của khu vực miền Trung – Tây Nguyên, phía Bắc giáp với tỉnh Thừa thiên
- Huế, phía Đông giáp với biển Đông, phía Tây và Nam giáp với tỉnh Quảng Nam Trong phạm vi khu vực và quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của các tỉnh Tây Nguyên, các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua hành lang kinh tế Đông – Tây Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nhà nước, tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng đã có những bước phát triển đáng kể, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao Chính quyền thành phố đẩy mạnh tốc độ quy hoạch đô thị, mở rộng, phát triển cơ sở hạ tầng, tạo nên diện mạo mới cho thành phố, điều này
Trang 7dẫn đến việc di dời, giải tỏa làm cho dân cư có sự biến động; số người ở địa phương khác đến thành phố học tập, tìm việc làm tăng, tạo áp lực về việc làm, chỗ ở, gây không ít khó khăn cho công tác bảo đảm ANTT Bên cạnh
đó, mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng có những tác động tiêu cực đối với xã hội, đó là tình trạng phân hóa giàu nghèo, nạn thất nghiệp… Đây chính là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tỉ lệ tội phạm đồng thời ảnh hưởng đến nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố
Dưới góc độ tội phạm học, để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh
phân tích, làm rõ vấn đề nạn nhân của tình hình tội phạm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn Mặc dù vậy, đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện về vấn đề nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng với tư cách là
một đề tài độc lập Bởi các lý do nêu trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm đề tài luận văn
thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nạn nhân của tình hình tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng, phong phú và phức tạp của tội phạm học, từ trước đến nay đã có một số nhà luật học, tội phạm học quan tâm nghiên cứu ở các khía cạnh và mức độ khác nhau, cụ thể:
- Luận án tiến sĩ “Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Đinh Thị Mai, năm 2014
- Luận văn thạc sĩ “Nạn nhân học trong tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Trần Hữu Tráng, năm 2000
- Đề tài nghiên cứu cấp trường “Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích của nạn nhân của tội phạm”, Trần Hữu Tráng, năm 2010
Trang 8- Bài báo khoa học “Cơ chế quốc tế, khu vực và quốc gia về bảo vệ quyền của người bị hại”, Đinh Thị Mai, năm 2012
- Bài báo khoa học “Nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm”, Trần
Hữu Tráng, năm 2011
- Bài báo khoa học “Trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Hoa Kỳ”, Dương
Tuyết Miên, năm 2011
- Bài báo khoa học “Trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Hàn Quốc và liên hệ với thực tế ở Việt Nam”, Dương Tuyết Miên, năm 2011
Những công trình khoa học nêu trên chủ yếu tập trung nghiên cứu về nạn nhân của tội phạm hoặc quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Vì vậy, đề tài luận văn có tính độc lập và không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về nạn nhân của tình hình tội phạm dưới góc độ tội phạm học và khảo sát thực tiễn nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, đề tài luận văn đề ra những giải pháp khắc phục những yếu tố đóng vai trò là nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm và xây dựng cơ chế bảo vệ, trợ giúp nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về nạn nhân của tình hình tội phạm dưới góc độ tội phạm học; phân tích chỉ ra vai trò của nạn nhân trong cơ chế làm phát sinh hành vi phạm
Trang 9- Khảo sát, đánh giá thực trạng tình hình tội phạm và thực trạng nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Nghiên cứu đề ra hệ thống các giải pháp nhằm phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm; xây dựng cơ chế bảo vệ, trợ giúp nạn nhân của tình hình tội phạm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Lý luận về nạn nhân của tình hình tội phạm dưới góc độ tội phạm học;
- Thực tiễn nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ quyền của bị hại trong tố tụng hình sự
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả đã nghiên cứu nhiều loại tài
liệu tại Thư viện của Học viện KHXH, tại Công an, Tòa án Thành phố Đà Nẵng Qua đó đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận, tập hợp các số liệu nhằm giải quyết các vấn đề được đề cập trong luận văn
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Tác giả sử dụng để phân tích các
tài liệu, số liệu, các công trình khoa học liên quan đến nạn nhân của tình hình
Trang 10tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; qua đó tổng hợp làm rõ nhận thức
lý luận và đánh giá thực trạng của vấn đề trên
- Phương pháp tổng kết thực tiễn: Tác giả tập trung nghiên cứu các bài
viết, các báo cáo tổng kết, đánh giá tình hình nạn nhân của tình hình tội phạm, trên cơ sở đó rút ra những nhận xét, đánh giá, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong tình hình hiện nay
- Phương pháp thống kê, so sánh: Trên cơ sở các số liệu thu được về
thực trạng tình hình tội phạm, nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, tác giả tiến hành thống kê, đối chiếu, so sánh làm cơ sở đánh giá, nhận xét và minh chứng làm rõ hơn các các vấn đề nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp chuyên gia: Tác giả chú trọng tranh thủ ý kiến của những
người có trình độ cao, am hiểu sâu về lý luận, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong công tác điều tra, truy tố, xét xử thông qua việc xin ý kiến đánh giá, nhận xét của các nhà khoa học về vấn đề nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đây là công trình đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ nghiên cứu toàn diện
có hệ thống về vấn đề nạn nhân của tình hình tội phạm Những kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng sau:
Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đóng góp nhất định vào phát triển khoa học chuyên ngành nạn nhân học
Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được vận dụng vào thực tiễn phòng ngừa tình hình tội phạm cũng như bảo vệ, trợ giúp nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và trong phạm vi cả nước Ngoài ra, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo tại các
cơ sở nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành luật ở nước ta
Trang 11Những điểm mới của luận văn
Luận văn có những điểm mới cụ thể sau:
Thứ nhất, luận văn đã xây dựng, bổ sung, hoàn thiện lý luận về nạn nhân của tình hình tội phạm, bao gồm: Nạn nhân của tội phạm; nạn nhân của tình hình tội phạm; vai trò của nạn nhân trong tình hình tội phạm; nguyên nhân trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm; cơ chế bảo vệ, trợ giúp nạn nhân của tội phạm
Thứ hai, luận văn tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, đây là cơ sở để đề ra các giải pháp nhằm phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm
Thứ ba, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm, xây dựng cơ chế bảo vệ, trợ giúp nạn nhân của tình hình tội phạm
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về nạn nhân của tình hình tội phạm Chương 2: Thực trạng nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm và cơ chế bảo vệ, trợ giúp nạn nhân của tình hình tội phạm
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NẠN NHÂN CỦA
TÌNH HÌNH TỘI PHẠM 1.1 Nạn nhân của tội phạm
1.1.1 Khái niệm
Thuật ngữ nạn nhân đã được sử dụng từ xa xưa, thời đó, do quan niệm con người phụ thuộc vào chúa trời, thần thánh nên để đảm bảo cuộc sống bình yên, mùa màng ổn định, con người hàng năm thường phải đem giết những phụ nữ trẻ đẹp hay súc vật để làm lễ vật tế thần thánh, chúa trời; những phụ
nữ hay súc vật này được gọi là nạn nhân Ngày nay, thuật ngữ nạn nhân đã
được sử dụng với nghĩa khác hơn nhiều Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Nạn nhân là người bị tai nạn hoặc người, tổ chức gánh chịu hậu quả từ bên ngoài đưa đến” [1, tr.814] Theo cách định nghĩa trên thì thuật ngữ nạn nhân được
hiểu là những cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản Nạn nhân là cá nhân, tổ chức gánh chịu hậu quả bên ngoài đưa đến, họ có thể là: Nạn nhân của chiến tranh, nạn nhân của thiên tai, nạn nhân của tai nạn lao động, nạn nhân của tai nạn giao thông, nạn nhân của tội phạm
Nạn nhân của tội phạm là một vấn đề luôn được các nhà khoa học đặt
ra nghiên cứu và được các nhà lập pháp đề cập đến trong các văn bản luật Mặc dù vậy, hiện nay chưa có quan điểm thống nhất về nạn nhân của tội phạm, cụ thể:
Quan điểm thứ nhất, xác định nạn nhân của tội phạm theo nghĩa hẹp:
Theo đó, nạn nhân của tội phạm được xác định là những cá nhân bị hành vi phạm tội xâm phạm gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tài sản Quan điểm này đã được Hans von Hentig, một trong những người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu nạn nhân, sử dụng từ những năm 1962 Theo ông, nạn nhân của tội phạm là những người bị hành vi phạm tội gây thiệt hại
Trang 13đối với các quyền và lợi ích hợp pháp và trên thực tế phải chịu đựng những
tổn hại về vật chất hoặc sức khoẻ, tính mạng, tinh thần [42] Theo quan điểm
của Haiz Zipf thì nạn nhân của tội phạm trong tội phạm học là tất cả những người bị hành vi phạm tội xâm hại, bất kể người phạm tội có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (trong những
trường hợp người bị hại không yêu cầu khởi tố vụ án) [42] Điều 1, Hiệp định
khung về địa vị của nạn nhân trong tố tụng hình sự ở châu Âu đã định nghĩa:
“Nạn nhân được hiểu theo nghĩa là thực thể tự nhiên đã bị xâm phạm gây tổn thất về thể chất, tinh thần, tình cảm hoặc về kinh tế có nguyên nhân trực tiếp
từ hành vi vi phạm luật hình sự của một nước thành viên” [56, tr.2]
Từ các quan điểm và định nghĩa nêu trên, có thể định nghĩa nạn nhân của tội phạm theo nghĩa hẹp như sau:
“Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân chịu thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hành vi phạm tội trực tiếp gây ra”
Quan điểm thứ hai, xác định nạn nhân của tội phạm theo nghĩa rộng:
Theo nghĩa rộng, nạn nhân của tội phạm không chỉ bao gồm thể nhân
mà còn bao gồm cả pháp nhân bị hành vi phạm tội xâm hại Người đầu tiên xác định nạn nhân của tội phạm bao gồm cả các tổ chức đó là Fritz R Paasch khi ông bàn đến nạn nhân của các tội phạm về kinh tế Theo ông, nạn nhân của các tội phạm về kinh tế là các cá nhân con người (thể nhân) và các pháp
nhân bị xâm hại các quyền và lợi ích được pháp luật ghi nhận [42] Văn bản
quan trọng làm cơ sở cho việc định nghĩa nạn nhân của tội phạm theo nghĩa rộng là Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản về tư pháp đối với nạn nhân của tội phạm và nạn nhân của sự lạm dụng sức mạnh của Liên hợp quốc ban hành
ngày 29/11/1985 Điều 1 của Tuyên bố xác định: “Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân hay tổ chức bị hành vi phạm tội (theo quy định của luật hình
Trang 14sự của các nước thành viên) xâm phạm, gây thiệt hại về thể chất, tinh thần, tình cảm, kinh tế hoặc những thiệt hại đáng kể về các quyền cơ bản” [57, tr.3] Theo quy định này thì nạn nhân của tội phạm không chỉ bao gồm
các cá nhân mà bao gồm cả các tổ chức Ngoài ra, khoản 2 của Tuyên bố xác
định: “Nạn nhân của tôi phạm không chỉ bao gồm những người trực tiếp bị hành vi phạm tội xâm hại mà còn bao gồm cả những người thân trong gia đình, những người phụ thuộc vào nạn nhân và cả những người chịu thiệt hại trong quá trình trợ giúp nạn nhân” [57, tr.4] Theo đó, nội hàm khái niệm
nạn nhân của tội phạm đã được mở rộng không chỉ những người bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại (nạn nhân trực tiếp) mà còn bao gồm cả những nạn nhân gián tiếp (những người chịu thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra) Với quan điểm này, khái niệm nạn nhân của tội phạm không chỉ được mở rộng ra các tổ chức mà còn được mở rộng ra cả những nạn nhân gián tiếp
Việc xác định nạn nhân của tội phạm bao gồm cả nạn nhân trực tiếp và nạn nhân gián tiếp có ý nghĩa quan trọng, giúp cho việc đánh giá chính xác hậu quả thiệt hại mà hành vi phạm tội gây ra từ đó xác định chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Ngoài ra, việc xác định nạn nhân gián tiếp còn có ý nghĩa trong việc xác định về bồi thường và trợ giúp cho nạn nhân của tội phạm
Từ sự phân tích ở trên, có thể hiểu nạn nhân của tội phạm theo nghĩa
rộng như sau: “Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân, tổ chức đã chịu thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền
và lợi ích hợp pháp khác do hành vi phạm tội gây ra”
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Tráng, một trong những người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu nạn nhân của tội phạm tại Việt Nam, trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu các quan điểm về nạn nhân của tội phạm của các nhà
nghiên cứu, đã đưa ra định nghĩa nạn nhân của tội phạm như sau: “Nạn nhân
Trang 15của tội phạm là những cá nhân, tổ chức phải chịu những thiệt hại trực tiếp về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hành vi phạm tội gây ra” [42, tr.50]
Theo tác giả, định nghĩa nạn nhân của tội phạm theo quan điểm của nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Tráng là định nghĩa cơ bản, tổng hợp và toàn diện nhất Theo đó nạn nhân của tội phạm bao gồm hai nét đặc trưng cơ bản sau:
Một là, nạn nhân của tội phạm có thể là cá nhân hoặc tổ chức
Cá nhân là nạn nhân của tội phạm phải là những người đang tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra, nghĩa là hành vi phạm tội phải xâm hại đến một người đang tồn tại trong thế giới khách quan để gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại Còn đối với nạn nhân là tổ chức phải là những tổ chức hợp pháp
có tài sản, còn tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra
Hai là, cá nhân, tổ chức đó phải chịu những thiệt hại trực tiếp về tính
mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hành vi phạm tội gây ra
1.1.2 Phân loại
Trong tội phạm học, có nhiều cách phân loại nạn nhân của tội phạm Tùy vào mục đích nghiên cứu khác nhau mà có các căn cứ phân loại khác nhau, cho ra những cách phân loại khác nhau Trong đó, có những cách phân loại phổ biến sau:
Thứ nhất, căn cứ vào địa vị pháp lý của nạn nhân, có thể chia nạn nhân
của tội phạm thành 02 nhóm:
- Nhóm nạn nhân là cá nhân: Đây là nhóm nạn nhân phổ biến của tội phạm Nhóm nạn nhân này có thể bị hành vi phạm tội xâm hại về cả tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tinh thần, tình cảm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác Nhóm nạn nhân là cá nhân không chỉ bao gồm những nạn nhân trực tiếp mà bao gồm cả những nạn nhân gián tiếp
Trang 16- Nhóm nạn nhân là tổ chức: Đây là nhóm nạn nhân chỉ có thể bị hành
vi phạm tội xâm hại về mặt kinh tế Chính vì vậy nhóm nạn nhân này chỉ có các nạn nhân trực tiếp chứ không có các nạn nhân gián tiếp Nhóm nạn nhân
là tổ chức phải là những tổ chức hợp pháp có tài sản, còn tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra
Thứ hai, căn cứ vào cơ chế tác động của hành vi phạm tội đến nạn
nhân, có thể chia nạn nhân của tội phạm thành 03 nhóm:
- Nhóm nạn nhân trực tiếp: Là những cá nhân, tổ chức bị hành vi phạm tội gây thiệt hại trực tiếp về thể chất, tinh thần, tài sản hay các quyền và lợi ích hợp pháp khác
- Nhóm nạn nhân thứ cấp (nạn nhân gián tiếp): Nạn nhân thứ cấp là những cá nhân mặc dù hành vi phạm tội không trực tiếp tác động đến họ nhưng do họ có mối quan hệ đặc biệt đối với nạn nhân trực tiếp nên hành vi phạm tội đã gián tiếp tác động đến họ, gây ra những tổn hại về tinh thần, tình cảm, sức khoẻ và thậm chí là những thiệt hại về kinh tế
- Nhóm nạn nhân mở rộng (nạn nhân thứ ba): Nhóm nạn nhân này chỉ phạm vi rộng hơn những người chịu ảnh hưởng tác động sâu sắc của hành vi phạm tội Đây là những người mặc dù không phải là những người thân thích của nạn nhân nhưng sự kiện phạm tội đã tác động trực tiếp đến những người này và gây ra những tổn thất lớn về tinh thần, tình cảm cho họ Những người này có thể là những người chứng kiến hành vi phạm tội, bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm, những người tham gia cứu hộ, cứu chữa
Thứ ba, căn cứ vai trò của nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội, có
thể chia nạn nhân của tội phạm thành 02 nhóm:
- Nạn nhân có lỗi: Là những nạn nhân đã có các hành vi xử sự không đúng chuẩn mực đạo đức, pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi hoặc thúc đẩy hành vi phạm tội thực hiện Những hành vi không đúng chuẩn mực có thể là
Trang 17những hành vi như mất cảnh giác, coi thường sự bảo vệ tính mạng, tài sản, hành vi không phù hợp với các chuẩn mực, thuần phong, mỹ tục thậm chí là các hành vi trái pháp luật, hành vi phạm tội Nhiều nhà tội phạm học còn chia nhóm này thành hai nhóm: Nhóm nạn nhân có lỗi nhỏ và nhóm nạn nhân
có lỗi nghiêm trọng Nạn nhân có lỗi nhỏ là những nạn nhân có lỗi trong việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe hay tài sản của mình và của người thân trong gia đình Nạn nhân có lỗi nghiêm trọng là những người có hành vi trái đạo đức, trái thuần phong, mỹ tục thậm chí là những hành vi khiêu khích, gây gổ hoặc tấn công người khác
- Nạn nhân không có lỗi: Là những nạn nhân hoàn toàn xử sự đúng những chuẩn mực đạo đức, pháp luật Hành vi của họ hoàn toàn không tạo điều kiện thuận lợi hay thúc đẩy hành vi phạm tội thực hiện Nguyên nhân trở
Ngoài việc phân loại nạn nhân của tội phạm thành các nhóm nhất định theo từng tiêu chí nêu trên, tội phạm học còn có nhiều sự phân loại nạn nhân của tội phạm theo các căn cứ khác nhau, cụ thể:
Căn cứ vào khách thể của tội phạm có thể phân loại nạn nhân của tội phạm thành: Nạn nhân của các tội xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, nhân phẩm con người; nạn nhân của các tội phạm xâm phạm sở hữu; nạn nhân của các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, nạn nhân của các tội phạm về ma túy…
Căn cứ vào giới tính có thể phân loại nạn nhân của tội phạm thành: Nạn nhân là nữ giới, nạn nhân là nam giới
Căn cứ vào độ tuổi có thể phân loại nạn nhân của tội phạm thành: Nạn nhân là trẻ em; nạn nhân là người đã thành niên (trường hợp không thuộc đối tượng là người già); nạn nhân là người già
Căn cứ vào quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội có thể phân loại
Trang 18nạn nhân của tội phạm thành: Nạn nhân có quen biết với người phạm tội, nạn nhân có quan hệ họ hàng ruột thịt với người phạm tội và nạn nhân không quen biết với người phạm tội
Căn cứ vào đặc thù về thể chất có thể phân loại nạn nhân của tội phạm thành: Nạn nhân là người khuyết tật, nạn nhân là người bình thường…
1.2 Nạn nhân của tình hình tội phạm
1.2.1 Tình hình tội phạm
Tình hình tội phạm là khái niệm cơ bản, chủ đạo của tội phạm học, đó
là một thuật ngữ khoa học nhưng đồng thời cũng là một thuật ngữ thường được dùng trong ngôn ngữ thông dụng, ngôn ngữ đời thường
Tình hình tội phạm đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu ở các góc
độ và khía cạnh khác nhau, hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về tình hình tội phạm, như:
- Tình hình tội phạm là hành vi lệch chuẩn, có tính nguy hiểm cho xã hội
- Tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội phổ biến, tương đối ổn định
về thống kê, là một loại lệch chuẩn nguy hiểm cho xã hội được nhà làm luật quy định trong đạo luật hình sự
- Tình hình tội phạm là trạng thái xã hội thể hiện các mâu thuẩn xã hội nhất định trong sự phát triển các bộ phận cấu thành của mình
- Tình hình tội phạm không chỉ là tổng thể các hành vi nguy hiểm cho
xã hội đơn lẽ mà còn là một quá trình xã hội tuân theo các quy luật chung của
sự phát triển các hiện tượng xã hội…
Các quan niệm trên chỉ phản ánh được một hoặc một vài khía cạnh, góc
độ của tình hình tội phạm; các dấu hiệu khác của tình hình tội phạm như: Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử; tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp; tình hình tội phạm tồn tại trong một không gian và thời gian nhất định… thì khái niệm chưa đề cập đến
Trang 19Nhà nghiên cứu Võ Khánh Vinh cho rằng: Phương pháp nhận thức khái niệm tình hình tội phạm phải được hình thành bằng tư duy chuyển mức độ nhận thức từ sự kiện, hành vi và khái niệm tội phạm đơn nhất đến một khái niệm chung hơn, khái quát hơn, phức tạp hơn – tình hình tội phạm, tức là đi
từ nhận thức cụ thể đến nhận thức cao hơn, khái quát hơn những nhận thức đã
Tình hình tội phạm là một thuộc tính của xã hội tái sản xuất ra nhiều hành vi
tính giai cấp; (5) Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực; (6) Tình hình tội phạm là một tổng thể thống nhất các tội phạm đã được thực hiện
phạm tồn tại trong một không gian và thời gian nhất định [72, tr.2-4]
Khái quát các dấu hiệu nêu trên có thể hiểu: Tình hình tội phạm là một thuộc tính của xã hội tái sản xuất ra các hành vi nguy hiểm đối với con người,
xã hội và Nhà nước, là một hiện tượng pháp luật – xã hội, được thay đổi về mặt lịch sử, tiêu cực, phổ biến, bao gồm tổng thể các tội phạm được thực hiện
ở một không gian và giai đoạn nhất định, được đặc trưng bởi các chỉ số về lượng và chất [72, tr.4]
Nghiên cứu khái niệm tình hình tội phạm trong tội phạm học có ý nghĩa
vô cùng quan trọng, cụ thể:
Một là, để làm sáng tỏ được dấu hiệu tình hình tội phạm là một hiện
tượng xã hội, khi nghiên cứu phải dựa vào các điều kiện của đời sống xã hội, các quá trình, hiện tượng xã hội khác mà đánh giá, nhận xét, giải thích; phải nghiên cứu tình hình tội phạm trong mối liên hệ với thực tại khách quan, với các hiện tượng và quá trình xã hội khác để có một nhận thức đúng đắn về hiện
Trang 20tượng đó, giúp cho người nghiên cứu có cơ sở đề ra các biện pháp tác động
đến “nó” (một hiện tượng xã hội phức tạp chứ không phải như một sự kiện đơn nhất)
Hai là, khi làm rõ được dấu hiệu tình hình tội phạm là hiện tượng được
thay đổi về mặt lịch sử sẽ cho người nghiên cứu thấy được hiện tượng đó xuất hiện trong lịch sử như thế nào, nó trải qua các giai đoạn phát triển nào, hiện nay tồn tại ra sao và cả sự phát triển, tồn tại của tình hình tội phạm trong tương lai; đồng thời, trang bị cho người nghiên cứu những hiểu biết về quy luật hình thành và phát triển của hiện tượng xã hội đó, biết được mối liên hệ biện chứng giữa sự thay đổi về nội dung của tình hình tội phạm với những thay đổi khác diễn ra trong xã hội và dự báo được sự phát triển của tình hình tội phạm trong tương lai, thông qua đó để đề ra các biện pháp, giải pháp tổng thể tác động đến tình hình tội phạm
Ba là, việc làm sáng tỏ dấu hiệu tình hình tội phạm là một hiện tượng
xã hội gắn liền với xã hội có giai cấp, giúp cho người nghiên cứu hiểu được bản chất giai cấp của hiện tượng đó
Bốn là, việc làm sáng tỏ tình hình tội phạm là một hiện tượng pháp lý
hình sự và là một hiện tượng tiêu cực gây nguy hiểm lớn cho xã hội, giúp cho người nghiên cứu hiểu được những hậu quả do tình hình tội phạm gây ra đối với quá trình phát triển của xã hội, hiểu được các thiệt hại về mọi mặt mà xã hội, con người, tổ chức phải gánh chịu, từ đó có thái độ nghiêm túc, tăng cường sự quan tâm, chú ý đặc biệt đến công tác đấu tranh, phòng ngừa tình hình tội phạm
Năm là, làm rõ dấu hiệu tình hình tội phạm là một tổng thể thống nhất
biện chứng các dấu hiệu, các đặc điểm của nó giúp người nghiên cứu hiểu được muốn tác động đến nó, muốn khắc phục dần tình hình tội phạm trong xã hội, một mặt phải tác động đến từng mặt, từng đặc điểm riêng của tình hình
Trang 21tội phạm, nhưng mặt khác cũng phải có những biện pháp tác động tổng thể đến toàn bộ tình hình tội phạm nói chung
Sáu là, việc làm sáng tỏ dấu hiệu về không gian và thời gian của tình
hình tội phạm giúp cho người nghiên cứu có cơ sở trong việc đề ra các giải pháp góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm sát thực tế của địa phương cụ thể và gắn với từng thòi điểm nhất định, cũng như góp phần vào đấu tranh phòng, chống tội phạm trên phạm vi toàn quốc
Ngoài ra, khi nghiên cứu tình hình tội phạm, nhà nghiên cứu Võ Khánh Vinh đã đề cập đến vấn đề địa lý học tình hình tội phạm Theo đó, địa lý học tình hình tội phạm là sự phân bố các tội phạm theo không gian – thời gian (theo mức độ, cơ cấu, diễn biến) gắn liền với các đặc điểm của các vùng trên thế giới, của các quốc gia hoặc các đơn vị lãnh thổ hành chính khác nhau của một quốc gia, với số lượng, cơ cấu và sự cư trú của dân cư ở các lãnh thổ được nghiên cứu, với các hình thức tổ chức đời sống đặc thù của mọi người, các điều kiện lao động, lối sống, nghỉ ngơi của họ, với văn hóa, các truyền
thông dân tộc và với các đặc điểm khác [72, tr.22]
Nghiên cứu địa lý học tình hình tội phạm cho thấy, những khác nhau chỉ ra trong mức độ, cơ cấu và diễn biến của tình hình tội phạm không phải là ngẫu nhiên; chúng gắn liền với các đặc điểm nhân chủng học, kinh tế, xã hội, văn hóa, tổ chức, dân tộc, sinh thái, pháp luật, thống kê và các đặc điểm khác của quốc gia này hay quốc gia khác, của địa phương này hay của địa phương khác Trong trường hợp này, các đặc điểm đó được gắn kết với nhau về mặt địa lý học của chúng Do đó, nghiên cứu địa lý học tình hình tội phạm có ý nghĩa đặc biệt đối với tội phạm học nói chung và nghiên cứu nạn nhân của tình hình tội phạm gắn với địa bàn cụ thể nói riêng; là cơ sở để đề xuất các giải pháp phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm hiệu quả, tối
ưu theo đơn vị lãnh thổ hành chính cụ thể
Trang 221.2.2 Nạn nhân của tình hình tội phạm
Như vậy, nạn nhân của tình hình tội phạm được hiểu là:
Thứ nhất, nạn nhân của tình hình tội phạm có thể là cá nhân hoặc tổ
phạm phải là những người đang tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra, nghĩa là hành vi phạm tội phải xâm hại đến một người đang tồn tại trong thế giới khách quan để gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại; tổ chức là nạn nhân của tình hình tội phạm phải là những tổ chức hợp pháp có tài sản, còn tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra
Thứ hai, cá nhân, tổ chức là nạn nhân của tình hình tội phạm phải chịu
những thiệt hại trực tiếp về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do tổng thể các hành vi phạm tội gây
ra Khác với nạn nhân của tội phạm, những thiệt hại do tình hình tội phạm gây
ra đối với nạn nhân phải do tổng thể các hành vi phạm tội gây ra Tổng thể các hành vi phạm tội ở đây có thể được hiểu là toàn bộ các hành vi của tất cả các loại tội phạm
Thứ ba, tổng thể các hành vi phạm tội gây ra cho nạn nhân được xác
định trong một khoảng thời gian và không gian nhất định Xuất phát từ các
Trang 23dấu hiệu của tình hình tội phạm như: Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội được thay đổi về mặt lịch sử; tình hình tội phạm tồn tại trong một không gian và thời gian nhất định… nên những thiệt hại do tổng thể các hành vi phạm tội gây ra cho nạn nhân cũng phải được xác định trong một khoảng thời gian và không gian nhất định Thời gian ở đây được tính trong từng giai đoạn:
6 tháng, 1 năm, 2 năm, 5 năm, 10 năm… Không gian thường được giới hạn bởi địa giới hành chính: 1 xã, 1 huyện, 1 tỉnh, 1 vùng, 1 quốc gia…
Nghiên cứu nạn nhân của tình hình tội phạm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Trước hết, nghiên cứu nạn nhân của tình hình tội phạm giúp cho việc đánh giá tính chất, mức độ của tình hình tội phạm cũng như những hậu quả thiệt hại do tình hình tội phạm gây ra cho nạn nhân trong một khoảng thời gian và không gian nhất định Tiếp đến, nghiên cứu nạn nhân của tình hình tội phạm giúp ngăn ngừa rủi ro và nguy cơ trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm, làm giảm các nguyên nhân phát sinh tội phạm xuất phát từ phía nạn nhân Bên cạnh đó, nghiên cứu nạn nhân của tội phạm còn giúp cho việc xây dựng các chính sách hình sự, chính sách xã hội phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh nhất định, từ đó tổ chức thực hiện có hiệu quả
1.2.2.2 Đặc điểm
Nạn nhân của tình hình tội phạm có thể là các nhân hoặc tổ chức:
Cá nhân là nạn nhân của tội phạm phải là những người đang tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra Nghĩa là hành vi phạm tội phải xâm hại đến một người đang tồn tại trong thế giới khách quan để gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại
Nạn nhân là tổ chức phải là những tổ chức hợp pháp có tài sản và vẫn còn tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra Những tổ chức bất hợp
Trang 24pháp không thể là nạn nhân của tình hình tội phạm vì bản thân sự tồn tại của
tổ chức đó đã bất hợp pháp vì vậy không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ
Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”
[23, tr.32] Theo quy định này, bị hại (một dạng nạn nhân của tình hình tội phạm) có thể là cá nhân hoặc tổ chức
Ở đây, cần mở rộng nội hàm của khái niệm nạn nhân của tình hình tội phạm (bị hại) bao gồm cả loại “nạn nhân trừu tượng”, bao gồm: Nhóm người, một cộng đồng hay một tôn giáo, một sắc tộc Chẳng hạn, tổng thể các hành
vi phạm tội về môi trường hay tổng thể các hành vi phạm tội sử dụng công nghệ cao có thể gây thiệt hại cho các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, cả hệ thống kinh tế, tiền tệ đa quốc gia, khu vực
Thứ hai, đặc điểm về thiệt hại:
Nạn nhân của tình hình tội phạm có thể bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hành vi phạm tội gây ra Những thiệt hại này có thể là thiệt hại trực tiếp hoặc thiệt hại gián tiếp nhưng đầu tiên và tối thiểu là nạn nhân có một thiệt hại trực tiếp từ hành vi phạm tội gây ra
Ví dụ: Trong các vụ cố ý gây thương tích, nạn nhân không những bị thiệt hại trực tiếp về sức khỏe, mà còn bị mất việc làm do không đủ sức khỏe, dẫn đến mất thu nhập, gây ra thiệt hại gián tiếp (tài sản) Thiệt hại về tài sản không phải do hành vi cố ý gây thương tích trực tiếp gây ra mà gián tiếp gây
ra Chính sự kiện “mất việc làm” mới là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại tài sản Vì vậy, nạn nhân có thể cùng bị hai loại thiệt hại: Thiệt hại trực tiếp (thể chất) và thiệt hại gián tiếp (tài sản) do tội phạm cố ý gây thương tích gây
Trang 25mà không có thiệt hại về tài sản Nói chính xác hơn, nạn nhân ít nhất cũng có một thiệt hại do tội phạm trực tiếp gây ra hoặc đe dọa gây ra, ngoài ra còn có thể có một hoặc nhiều thiệt hại gián tiếp
Tổng thể các hành vi phạm tội có thể gây thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân hoặc tổ chức Những thiệt hại đó, phải do chính hành vi bị coi là tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra, điều này có nghĩa là giữa hành vi phạm tội với hậu quả thiệt hại mà nạn nhân gánh chịu phải có mối quan hệ nhân quả Nếu không tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả thiệt hại thì không thể được coi là nạn nhân của tình hình
tội phạm
Thứ tư, đặc điểm về hình thức pháp lý:
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tội phạm có thể được xác định bằng các bản án kết tội (trước đó là quyết định khởi tố bị can, bị cáo…) Còn đối với nạn nhân của tình hình tội phạm thì không có một văn bản pháp lý cụ thể nhằm xác định nạn nhân của tình hình tội phạm Nạn nhân của tình hình tội phạm chỉ trở thành bị hại trong tố tụng hình sự khi họ được Cơ quan tiến hành tố tụng công nhận là bị hại thể hiện trong các quyết định, biên bản Trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các văn bản tố tụng đã đề cập đến nạn
điều tra gồm: Quyết định khởi tố vụ án hình sự, biên bản ghi lời khai, giấy triệu tập, biên bản đối chất, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản hỏi
định truy tố, danh sách những người cần triệu tập tham gia phiên tòa được lập
xét xử; giấy triệu tập tham gia phiên tòa, bản án
Trang 261.3 Vai trò của nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội
Trong cuộc sống, nhiều người với những thói quen, lối sống, cách cư
xử cũng như những đặc điểm tâm sinh lý, thể chất, tinh thần cộng với một số điều kiện bên ngoài thuận lợi rất dễ trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm Nạn nhân học luôn đi sâu tìm hiểu, giải thích những nguyên nhân khiến một người trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm để từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm, hạn chế và ngăn ngừa những rủi ro có thể có cho con người Trong cơ chế hành vi phạm tội của các tội phạm có nạn nhân, sự tác động qua lại chặt chẽ giữa các
trọng làm phát sinh tội phạm Các yếu tố chủ quan bao gồm các đặc điểm tâm, sinh lý, thói quen, sở thích hay tính cách của nạn nhân Các yếu tố khách quan
không gian Việc làm rõ các yếu tố chủ quan và khách quan sẽ góp phần đáng
kể trong quy trình xây dựng các biện pháp phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn
1.3.1 Vai trò của các yếu tố chủ quan
Thứ nhất, những đặc điểm tâm, sinh lý của nạn nhân
- Các đặc điểm tâm lý của nạn nhân có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình thực hiện hành vi phạm tội
Trước hết phải kể đến là khí chất nóng nảy, cục cằn thô lỗ… của nạn nhân Chính những đặc điểm này đã tạo ra những điều kiện khách quan rất thuận lợi cho việc hình thành ý định phạm tội Chẳng hạn, trong một vụ va chạm giao thông, nếu người bị va chạm có khí chất điềm tỉnh thì xử lý vụ việc nhanh gọn, thỏa đáng, không phức tạp hóa vấn đề, nhưng đối với người có khí chất nóng nảy, cục cằn thô lỗ thì bên bị va chạm nhất định có lời nói, cử chỉ không văn minh, không khôn khéo; điều này có thể sẽ hình thành ý định phạm
Trang 27tội cho bên va chạm và có thể thúc đẩy việc thực hiện hành vi phạm tội
Tiếp đó là những phẩm chất tâm lý lệch lạc như lòng tham, sự ích kỉ thậm chí sự coi thường các chuẩn mực xã hội, các giá trị đạo đức, quá đề cao giá trị đồng tiền, sự coi thường tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của người khác… Những đặc điểm và phẩm chất tâm lý này dễ làm phát sinh các hành vi, xử sự không đúng đắn, thậm chí các hành vi gây gỗ, khiêu khích, từ
đó kích động làm phát sinh ý định phạm tội cũng như quyết định thực hiện hành vi phạm tội Chẳng hạn, các vụ cố ý gây thương tích xảy ra thường do lời qua tiếng lại giữa hai bên, thậm chí nạn nhân trong các vụ án này có lời lẽ thách thức, hành vi khiêu khích làm cho đối tượng quyết định thực hiện hành
vi phạm tội; hoặc các vụ hiếp dâm, cưỡng dâm một phần nguyên nhân do nạn nhân ăn mặc hở hang, dễ dãi trong các mối quan hệ
Bên cạnh đó, một số đặc điểm tâm lý khác của nạn nhân như: Tâm lý tự tin, quá dễ dãi đối với sự an toàn của bản thân hoặc tâm lý thiếu đề cao cảnh giác đối với việc bảo vệ tài sản của mình hay tâm lý thích phô trương tài sản… cũng đóng vai trò đáng kể trong quá trình thúc đẩy ý định phạm tội cũng như quyết định thực hiện hành vi phạm tội Chẳng hạn, các vụ trộm cắp
xe máy xảy ra nguyên nhân chủ yếu do chủ sở hữu không khoá xe, không gửi
ở nơi trông giữ xe; các vụ cướp giật điện thoại di động xảy ra do người tham gia giao thông vừa điều khiển xe môtô vừa nói chuyện điện thoại
- Bên cạnh yếu tố tâm lý, yếu tố sinh học cũng có vai trò thúc đẩy việc thực hiện hành vi phạm tội
Một số nhóm người do các đặc điểm sinh học vốn có là những yếu tố thuận lợi hình thành ý định phạm tội của đối tượng, đó là các đặc điểm đặc thù như: Độ tuổi, giới tính hay sức khoẻ Chẳng hạn, người có những đặc điểm hạn chế về khả năng tự bảo vệ như: Phụ nữ, trẻ em, người già, người tàn tật, người mắc bệnh tâm thần… sẽ kích thích sự hình thành ý định phạm tội
Trang 28Đối với nhóm nạn nhân nữ giới, với đặc điểm sinh học hạn chế về khả năng tự bảo vệ, cộng thêm tâm lý lo ngại, không dám tố giác hành vi phạm tội
đã tạo thuận lợi cho quá trình hình thành ý định và thực hiện hành vi phạm tội của đối tượng, nhất là trong các tội hiếp dâm, cưỡng dâm, bạo hành, cướp tài sản, cướp giật tài sản…
Nhóm nạn nhân là người già, trẻ em, người tàn tật, người mắc bệnh tâm thần cũng là những nhóm đối tượng có nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm Đây là những người do các đặc điểm tâm, sinh lý đã ảnh hưởng đến khả năng tự bảo vệ của họ Nhiều người trong những nhóm này không nhận thức được hành vi phạm tội mà chỉ coi đấy là những hành vi thông thường, nhất là các trường hợp bị lạm dụng tình dục Ngoài ra, nhóm người này hầu hết là những người mà cuộc sống của họ bị phụ thuộc vào những người khác trong gia đình Đây cũng là một lý do hết sức quan trọng khiến cho khả năng trở thành nạn nhân của tội phạm của họ cao hơn hẳn những nhóm người khác, nhất là khi người thực hiện hành vi phạm tội là những người mà nạn nhân hoàn toàn phụ thuộc kinh tế vào người đó Thời gian gần đây ở nước ta, hành
vi phạm tội nhằm vào nhóm người này có sự gia tăng, nhất là các hành vi cướp, cưỡng đoạt tài sản, hiếp dâm, lạm dụng tình dục Thực trạng này đang đòi hỏi phải có những biện pháp hữu hiệu để tăng cường khả năng tự bảo vệ, hạn chế rủi ro và những nguy cơ bị hành vi phạm tội xâm hại của nhóm người yếu thế này
Thứ hai, thói quen và lối sống của một người hay một nhóm người
trong nhiều trường hợp cũng là nguyên nhân quan trọng hình thành ý định và thực hiện hành vi phạm tội của đối tượng
Con người với những thói quen vui chơi giải trí cuối tuần ở những nơi công cộng như quán bar, nhà hàng, quán karaoke, sàn nhảy… sẽ mang nhiều rủi ro Đặc biệt khi thói quen này kết hợp với thói quen uống nhiều rượu bia
Trang 29tại các địa điểm vui chơi giải trí sẽ làm gia tăng đáng kể nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm, nhất là đối với phụ nữ
Lối sống được hình thành từ sự tổng hợp ảnh hưởng của tất cả các yếu
tố để hình thành nếp sinh hoạt ở mỗi người hay nhóm người Lối sống được thể hiện trong cuộc sống hàng ngày thông qua các hành vi, xử sự như cách đi lại, ăn nói, đối xử, phong cách làm việc, vui chơi giải trí, thú tiêu khiển Mỗi nhóm người trong xã hội có lối sống đặc trưng của mình Có rất nhiều lối sống tưởng chừng vô hại nhưng trong sự kết hợp với những điều kiện khác như động cơ, mục đích của người phạm tội hay những hoàn cảnh và khả năng
tự bảo vệ hạn chế của nạn nhân lại là những yếu tố rất quan trọng làm tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm Mỗi nhóm tội phạm thường được đặc trưng bởi những lối sống đặc thù của nhóm nạn nhân Chẳng hạn, các vụ án hiếp dâm thường được đặc trưng bởi ngoại hình và thói quen
đối với an toàn cá nhân của nạn nhân như đi một mình ở nơi vắng vẻ, đi chơi cùng những người không quen biết; các vụ án về các tội xâm phạm sở hữu thường đặc trưng bởi tính khoe khoang, thích phô trương tài sản hay sự thiếu thận trọng, mất cảnh giác trong việc bảo vệ tài sản nhất là những tài sản có giá trị và dễ bị trộm cắp, cướp, cướp giật như tiền, vàng, đá quý, xe máy, máy tính xách tay…
Trong thời đại ngày nay, có nhiều thói quen, lối sống mới được hình thành trong các tầng lớp dân cư, như lối sống không quan tâm nhiều đến công việc của người khác, lối sống thiếu sự gắn kết trong cộng đồng dân cư nhất là hàng xóm láng giềng, lối sống cô lập, khép kín đang làm tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm
1.3.2 Vai trò của các yếu tố khách quan
Ngoài những nguyên nhân chủ quan thuộc về các đặc điểm tâm, sinh lý,
Trang 30thói quen, lối sống của nạn nhân, các yếu tố khách quan cũng đóng vai trò đáng kể trong việc làm gia tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm Đó là các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài mà điển hình là yếu tố thời gian và địa điểm Người phạm tội luôn luôn biết tận dụng khoảng thời gian và những địa điểm thuận lợi cho quá trình thực hiện hành vi phạm tội của mình, như thời gian buổi trưa, buổi tối, đêm khuya, địa điểm là những nơi vắng vẻ, xa dân cư, các vùng núi cao, cánh đồng hay những đoạn đường vắng người qua lại, thậm chí là trong nhà nhưng ở những thời điểm người lớn đi vắng, chỉ có người già và trẻ em Chẳng hạn, các vụ án hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em thường xảy ra buổi trưa, buổi tối tại nương rẫy, cánh đồng, những nơi vắng vẻ hoặc tại nhà của nạn nhân ở thời điểm không có người lớn ở nhà; hay các vụ án cướp, cướp giật tài sản thường xảy ra vào chiều muộn, đêm tối, ở các đoạn đường vắng, có nhiều nhánh đường cắt ngang, ít người qua lại… Thực trạng này cho thấy cần phải có các biện pháp tăng cường tuyên truyền, khuyến cáo để mọi người cảnh giác, tránh rơi vào những thời gian và địa điểm thuận lợi cho việc thực hiện hành vi phạm tội, nhất là đối với những nhóm người yếu thế trong xã hội
Bên cạnh đó, yếu tố nghề nghiệp cũng là một yếu tố có vai trò khá quan trọng làm gia tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm Một số người do đặc thù nghề nghiệp nên thường là mục tiêu nhắm đến của nhiều loại tội phạm, như: Những người hành nghề lái xe ôm, lái xe taxi, kinh doanh vàng bạc, kinh doanh hàng hoá đắt tiền… rất dễ trở thành nạn nhân của các tội cướp tài sản, giết người - cướp tài sản; những người làm trong các cơ quan bảo vệ pháp luật như: Công an, hải quan, kiểm lâm dễ trở thành nạn nhân của tội chống người thi hành công vụ, cố ý gây thương tích
1.4 Nguyên nhân trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm
Tình hình tội phạm hiện nay diễn biết hết sức phức tạp, việc nghiên
Trang 31cứu, xác định nguyên nhân trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm, từ đó
đề ra các biện pháp phòng ngừa, hạn chế nguy cơ trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Trên cơ sở phân tích, làm rõ khái niệm nạn nhân của tình hình tội phạm cũng như làm rõ vai trò của nạn nhân trong tình hình tội phạm, có thể khái quát các nguyên nhân trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm như sau:
Thứ nhất, do đặc điểm tâm lý tiêu cực từ phía nạn nhân
Đặc điểm tâm lý tiêu cực đầu tiên phải kể đến đó là khí chất nóng nảy, cục cằn thô lỗ… của nạn nhân, cùng với đó là những phẩm chất tâm lý lệch lạc như lòng tham, sự ích kỉ thậm chí sự coi thường các chuẩn mực xã hội, các giá trị đạo đức, quá đề cao giá trị đồng tiền, sự coi thường tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của người khác… của nạn nhân Những đặc điểm
và phẩm chất tâm lý này dễ làm phát sinh các hành vi, xử sự không đúng đắn, thậm chí các hành vi gây gỗ, khiêu khích, từ đó kích động làm phát sinh ý định phạm tội cũng như quyết định thực hiện hành vi phạm tội Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người, những nạn nhân của tội phạm này thường có các phẩm chất tâm lý lệch lạc như coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, côn đồ, hung hãn, nóng nảy, do đó trong các mối quan hệ họ thường có những lời nói, hành
vi kích động, thậm chí tấn công làm phát sinh tội phạm Trong các vụ chống người thi hành công vụ, xuất phát từ thái độ hách dịch, cửa quyền, thiếu tôn trọng người dân của người thi hành công vụ, chính điều này đã gây kích động cho họ dẫn đến việc thực hiện hành vi chống đối
Tiếp đến là đặc điểm tâm lý tự tin, quá dễ dãi đối với sự an toàn của bản thân, cũng như tâm lý thiếu đề cao cảnh giác đối với việc bảo vệ tài sản của mình hay tâm lý thích phô trương tài sản… Kết quả nghiên cứu cho thấy, các vụ trộm cắp tài sản một phần do chủ tài sản quên không khoá cửa nhà lúc
Trang 32đi làm xa hoặc lúc đi ngủ, xe máy để ngoài sân hoặc trên vỉa hè không khóa
cổ xe hoặc trên ổ khoá còn để chìa khoá xe; các vụ cướp tài sản, cướp giật tài sản một phần do phụ nữ đeo nhiều đồ trang sức đắt tiền, phô trương các tài sản có giá trị chính điều này đã kích thích ý định chiếm đoạt tài sản của các đối tượng từ đó thúc đẩy việc thực hiện hành vi phạm tội
Thứ hai, do thói quen và lối sống tiêu cực của nạn nhân
Đầu tiên phải kể đến là thói quen vui chơi giải trí cuối tuần ở những nơi công cộng như quán bar, nhà hàng, quán karaoke, sàn nhảy… cùng với
đó là thói quen uống nhiều rượu bia tại các địa điểm vui chơi giải trí, nhất là những nạn nhân là nữ giới, điều này dễ bị các đối tượng lợi dụng xâm phạm
và trở thành nạn nhân của các tội phạm xâm phạm tình dục Đặc biệt, hiện nay thói quen sử dụng mạng xã hội của giới trẻ cũng là nguyên nhân trở thành nạn nhân của tội phạm Từ việc ban đầu làm quen, đối tượng tạo sự tin tưởng bằng cách bày tỏ sự quan tâm, yêu mến với nhiều hình thức khác nhau như like những câu nói, bức ảnh hay bình luận cảm thông, chia sẻ để tạo sự chú ý từ người tham gia mạng xã hội; từ đó, người tham gia mạng xã hội bắt đầu cảm thấy có người quan tâm và gần gũi với mình, nên hình thành tình bạn Từ việc cũng cố mối quan hệ, đối tượng có thể thực hiện các hành vi phạm tội như: Xâm phạm tình dục, lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản…
Mỗi loại tội thường được đặc trưng bởi những thói quen đặc thù của nạn nhân Chẳng hạn, các vụ án hiếp dâm thường được đặc trưng bởi thói quen ăn mặc khêu gợi, hành vi thể hiện sự dễ dãi, khiêu khích, sự thiếu thận trọng đối với an toàn cá nhân của nạn nhân như đi một mình ở nơi vắng vẻ, đi chơi cùng những người không quen biết Các vụ án xâm phạm sở hữu thường đặc trưng bởi thói quen thích khoe khoang, phô trương tài sản, mất cảnh giác trong việc bảo vệ tài sản nhất là những tài sản có giá trị của nạn nhân Các vụ
án xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người thường đặc trưng bởi thói
Trang 33quen xấu như rượu chè, cờ bạc… chính thói quen này đã làm nhiều người không tự chủ trong lời nói, xử sự dẫn đến những hành vi không đúng mực, thậm chí kích động đối tượng hoặc khi thua bạc thì quỵt tiền, cay cú là những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm
Lối sống gấp, ăn chơi, đua đòi, sống thoáng… khiến nhiều cô gái tự nguyện biến mình trở thành nạn nhân của tội phạm Nhiều trường hợp vì cần tiền đi chat, đi mua sắm, sử dụng ma túy… nên nạn nhân đã tự nguyện bán mình, khiến nhiều cô gái có quan hệ tình dục khi chưa đủ 16 tuổi và trở thành nạn nhân của tội giao cấu với trẻ em hoặc hiếp dâm người chưa thành niên Một bộ phận không nhỏ nạn nhân thích sống tự do, buông thả nên mặc dù đã
có vợ, có chồng nhưng vẫn quan hệ bất chính; chính những hành vi vi phạm đạo đức, pháp luật của nạn nhân đã làm phát sinh sự hận thù, ghen tuông và hình thành ý định cũng như thúc đẩy việc thực hiện hành vi phạm tội
Thứ ba, do hạn chế khả năng tự vệ của nạn nhân
Ở một số nhóm người do các đặc điểm sinh học vốn có dẫn đến khả năng tự vệ hạn chế Đó là những nạn nhân có các đặc điểm đặc thù như độ tuổi, giới tính hay sức khoẻ, điển hình trong số này là các nhóm phụ nữ, trẻ
em, người già, người tàn tật, người mắc bệnh tâm thần… Kết quả nghiên cứu cho thấy:
Nhóm nạn nhân là nữ giới, với đặc điểm sinh học hạn chế về khả năng
tự bảo vệ, cộng thêm tâm lý lo ngại, không dám tố giác hành vi phạm tội đã tạo thuận lợi cho quá trình thực hiện tội phạm, nhất là trong các tội hiếp dâm, cưỡng dâm, bạo hành, bạo lực tình dục…
Nhóm nạn nhân là người già và trẻ em, người tàn tật, người mắc bệnh tâm thần cũng do các đặc điểm sinh học hạn chế đã ảnh hưởng đến khả năng
tự bảo vệ của họ Nhiều người trong những nhóm này không nhận thức được hành vi phạm tội mà chỉ coi đấy là những hành vi thông thường, nhất là các
Trang 34trường hợp bị lạm dụng tình dục Ngoài ra, nhóm người này hầu hết là những người mà cuộc sống của họ bị phụ thuộc vào những người khác trong gia đình, đây là lý do khiến họ trở thành nạn nhân của tội phạm cao hơn so với các nhóm nạn nhân khác, nhất là khi người thực hiện hành vi phạm tội là
Thứ tư, do thiếu kỹ năng trong xử lý các tình huống từ phía nạn nhân Theo C Mác: “Bản chất của con người là tống hòa các quan hệ xã hội” Con người sống trong xã hội luôn có mối quan hệ tác động lẫn nhau
Hoạt động của con người mặc dù bị quy định bởi những điều kiện kinh tế, xã hội, pháp luật nhưng con người vẫn có sự tự do tương đối Trong thực tế cuộc sống, khi có một hành vi phạm tội sắp xảy ra hoặc có thể xảy ra mà nạn nhân
là một con người cụ thể, thì cách hành xử của mỗi người trong trường hợp có thể trở thành nạn nhân của hành vi phạm tội trên là khác nhau Có thể cách hành xử của người đó có tác dụng kìm hãm, loại bỏ ý định phạm tội của đối tượng nhưng cũng có thể cách hành xử của người đó lại thúc đẩy đối tượng thực hiện hành vi phạm tội Đây chính là kỹ năng xử lý các tình huống từ phía nạn nhân, cách hành xử của nạn nhân thúc đẩy đối tượng thực hiện hành
vi phạm tội chính là do nạn nhân thiếu kỹ năng trong xử lý các tình huống Nguyên nhân chính của vấn đề này là do hạn chế, yếu kém về trình độ văn hóa, kiến thức xã hội, kiến thức pháp luật… từ phía nạn nhân
Thứ năm, do các yếu tố khách quan khác
Trong các yếu tố khách quan, điển hình là thời gian, địa điểm đóng vai trò đáng kể trong việc thúc đẩy đổi tượng thực hiện hành vi phạm tội Mỗi loại tội phạm đặc trưng có những khoảng thời gian và địa điểm thích hợp cho việc thực hiện hành vi phạm tội Những người với các hoạt động phù hợp với thời gian và địa điểm đặc trưng của các tội phạm này sẽ rất dễ trở thành nạn
Trang 35ở các địa bàn vắng vẻ như nương rẫy, cánh đồng, bờ sông… trong những khoảng thời gian vắng vẻ như buổi trưa, buổi chiều tối, đêm khuya…Các tội cướp giật tài sản thường xảy ra trên các đoạn đường lớn, có nhiều nhánh đường cắt ngang và có mật độ người không quá đông
Nghề nghiệp cũng là một yếu tố có vai trò khá quan trọng khiến một người trở thành nạn nhân của tội phạm Chẳng hạn, những người hành nghề lái xe ôm, lái xe taxi, kinh doanh vàng bạc… rất dễ trở thành nạn nhân của các tội cướp tài sản hay giết người, cướp tài sản; lực lượng Công an, kiểm lâm rất dễ trở thành nạn nhân của tội chống người thi hành công vụ…
Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội cũng là một nguyên nhân khiến một người trở thành nạn nhân của tội phạm Trong một số loại tội, người phạm tội thường lợi dụng các mối quen biết để thực hiện hành vi phạm tội, đó là vì ở những tội phạm này, các mối quan hệ quen biết là yếu tố rất thuận lợi để người phạm tội dễ dàng tiếp cận nạn nhân, thực hiện hành vi phạm tội Ngược lại, ở một số loại tội, người phạm tội lại thường tìm đến những người không quen biết để thực hiện hành vi phạm tội như các tội cướp, cướp giật tài sản hay trộm cắp tài sản, sở dĩ như vậy là vì người phạm các loại tội này rất mong muốn thực hiện hành vi phạm tội một cách nhanh chóng và ít bị phát hiện nhất để có thể che giấu tội phạm Nếu thực hiện hành vi phạm tội với những người quen biết thì khả năng tội phạm
bị phát hiện là rất cao
Ngoài ra, sự phát triển với tốc độ chóng mặt của công nghệ cao (như Internet) cũng có tác động xấu đến đạo đức xã hội và lối sống của một bộ phận người dân, nhất là giới trẻ, những người rất nhạy bén trong việc học hỏi
và tiếp thu những tiến bộ mới, cũng đồng thời là những người dễ bị kích động, dụ dỗ, lôi kéo vào các hoạt động xấu Việc làm quen, tiếp xúc qua mạng xã hội ngày càng trở nên dễ dàng, thoải mái khiến tội phạm xâm phạm
Trang 36tình dục cũng theo đó cũng gia tăng Cùng với đó là sự xuất hiện hàng loạt các website với nội dung, hình ảnh đồi trụy cũng là một nguyên nhân khiến các vụ xâm hại tình dục ngày càng gia tăng, nhiều trẻ em do ảnh hưởng của các webside này đã tự nguyện trở thành nạn nhân của tội phạm
1.5 Cơ chế bảo vệ, trợ giúp nạn nhân của tội phạm
Phòng ngừa tình hình tội phạm từ góc độ nạn nhân học từ đó xây dựng
cơ chế bảo vệ, trợ giúp nạn nhân của tội phạm là vấn đề có ý nghĩa sâu sắc
Do đó, để bảo vệ, trợ giúp nạn nhân của tội phạm phải xây dựng cơ chế quốc
tế về bảo vệ, trợ giúp nạn nhân của tội phạm và cơ chế quốc gia về bảo vệ,
trợ giúp nạn nhân của tội phạm, trong đó phải xác định cụ thể các vấn đề sau:
- Xác định được vấn đề quyền của các nạn nhân, đặc biệt phải xác định được vai trò, vị trí của người bị hại trong tố tụng hình sự Bên cạnh quy định
về quyền của nạn nhân ở pháp luật của mỗi quốc gia, phải xây dựng các văn bản pháp lý trong phạm vi khu vực và toàn thế giới về vấn đề quyền của nạn nhân để thống nhất thực hiện
- Xác định được vấn đề bồi thường nhà nước cho nạn nhân của tội phạm, xây dựng dịch vụ hỗ trợ nạn nhân của tội phạm tiến tới xây dựng mạng lưới hỗ trợ nạn nhân của tội phạm rộng khắp trong phạm vi quốc gia, khu vực cũng như trên toàn thế giới
- Xây dựng các trung tâm nghiên cứu, bảo vệ và thúc đẩy phát triển quyền của nạn nhân Việc nghiên cứu phải luôn đặt con người vào vị trí trung tâm, luôn bảo vệ, thúc đẩy phát triển quyền con người trong đó có quyền nạn nhân trên phạm vi quốc tế Đặc biệt, nghiên cứu và sớm hoàn thiện nền tư pháp phục hồi trong đó lấy nạn nhân của tội phạm làm trung tâm
- Thiết lập cơ chế chung bảo vệ quyền con người nói chung và cơ chế riêng bảo vệ quyền của nạn nhân trên phạm vi toàn thế giới
Trang 37Đồng thời, luận văn đã phân tích, làm rõ vai trò của nạn nhân trong tình hình tội phạm trong đó có vai trò của các yếu tố chủ quan như đặc điểm tâm, sinh lý; thói quen, lối sống của nạn nhân và vai trò của các yếu tố khách quan như thời gian, địa điểm; yếu tố nghề nghiệp của nạn nhân Từ đó, luận văn nghiên cứu, xác định nguyên nhân trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm, như: Do đặc điểm tâm lý tiêu cực từ phía nạn nhân; do thói quen, lối sống tiêu cực của nạn nhân; do hạn chế khả năng tự vệ của nạn nhân; do thiếu
kỹ năng trong xử lý các tình huống từ phía nạn nhân… đây là vấn đề có ý nghĩa sâu sắc trong việc phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm
Bên cạnh đó, luận văn cũng đã nghiên cứu, xác định các nội dung trong xây dựng cơ chế bảo vệ, trợ giúp nạn nhân của tội phạm
Những vấn đề được trình bày ở chương 1 của luận văn là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả khảo sát, đánh giá thực trạng nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, vấn đề này sẽ được đề cập ở chương 2 của luận văn
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NẠN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.1.1 Đặc điểm, tình hình thành phố Đà Nẵng có liên quan đến tình hình tội phạm
2.1.1.1 Đặc điểm địa lý, dân cư
Đà Nẵng là thành phố trực thuộc trung ương, nằm trong vùng duyên hải Nam Trung Bộ; là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của khu vực
Đông giáp với biển Đông, phía Tây và phía Nam giáp với tỉnh Quảng Nam Trong phạm vi khu vực và quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của các tỉnh Tây Nguyên, các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua hành lang kinh tế Đông – Tây (phụ lục số 1) Thành phố Đà Nẵng có diện tích
huyện trong đó có 06 quận, 02 huyện với 57 phường, 11 xã, 2.242 tổ dân phố,
118 thôn
Thành phố Đà Nẵng có sân bay quốc tế, cảng biển, nhà ga và các trung tâm thương mại lớn; là đầu mối giao thông quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không Trong những năm gần đây, Đà Nẵng
đã tích cực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường, nâng cao an sinh xã hội và được coi là “thành phố đáng sống” của Việt Nam Năm 2018,
Đà Nẵng được chọn đại diện cho Việt Nam lọt vào top 10 địa điểm tốt nhất để sống ở nước ngoài do Tạp chí du lịch danh tiếng Live and Invest Overseas (LIO) bình chọn
Trang 39Theo số liệu thống kê không đầy đủ, tính đến tháng 9/2015, thành phố
Đà Nẵng có 1.028.838 người, trong đó dân số sinh sống ở thành thị là 897.993 người và sinh sống ở nông thôn là 130.845 người; bên cạnh đó, thành phố còn tiếp nhận thêm lượng dân cư từ các tỉnh, thành là sinh viên, công nhân lao động, người nước ngoài đến thành phố học tập và làm việc nên tỷ
lệ dân nhập cư ngày càng tăng Trên địa bàn thành phố có trên 37 dân tộc và người nước ngoài cùng chung sống; trong đó, nhiều nhất là dân tộc Kinh với 883.343 người, dân tộc Hoa đông thứ hai với 1.684 người, dân tộc Cơ Tu có
950 người, dân tộc Tày 224 người, dân tộc Ê Đê 222 người, dân tộc Mường
183 người, dân tộc Gia Rai 154 người…
Thành phố Đà Nẵng hiện có 13 trường Đại học, 16 trường Cao đẳng,
11 trường Trung cấp chuyên nghiệp với trên 120.000 học sinh, sinh viên từ các tỉnh, thành trên cả nước về học tập, nghiên cứu, trong đó khoảng 70% học sinh, sinh viên ở ngoại trú khắp các địa bàn thành phố Bên cạnh đó, thành phố Đà Nẵng có nhiều khu công nghiệp, địa điểm du lịch, cơ sở sản xuất, kinh doanh, cơ sở dịch vụ vui chơi giải trí lớn, chính đặc điểm này đã thu hút các nhà đầu tư, khách du lịch trong và ngoài nước đến sinh sống, làm việc tại địa bàn thành phố
Với vị trí địa lý thuận lợi và sự gia tăng dân số trong những năm qua, nhất là sự gia tăng dân nhập cư khiến công tác quản lý cư trú trên địa bàn thành phố gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó là sự đa dạng của các thành phần dân cư với sở thích, lối sống, cách suy nghĩ, phong tục, tập quán khác nhau Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố có nhiều diễn biến phức tạp trong những năm gần đây
2.1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự quyết tâm của chính quyền địa phương, tình hình kinh tế - xã hội của thành
Trang 40phố Đà Nẵng đã có những bước phát triển đáng kể, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao Cơ cấu kinh tế tiếp tục được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Hoạt động khoa học công nghệ và môi trường đã có những đóng góp vào thành tựu chung về kinh
tế xã hội của thành phố, đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn đã được quan tâm về nhiều mặt Cùng với đó, việc làm cho người lao động được tăng lên, chất lượng lao động được quan tâm giải quyết; giáo dục, y
tế và các vấn đề xã hội khác có nhiều chuyển biến tích cực [55, tr.5-6]
Những năm gần đây, chính quyền thành phố Đà Nẵng đẩy mạnh tốc độ quy hoạch đô thị, mở rộng, phát triển cơ sở hạ tầng, tạo nên diện mạo mới cho thành phố, điều này dẫn đến việc di dời, giải tỏa làm cho dân cư có sự biến động; số người ở địa phương khác đến thành phố học tập, tìm việc làm tăng Chính từ sự phát triển năng động của thành phố làm cho công tác quản
lý về mọi mặt không theo kịp, trong đó có vấn đề quản lý nhà nước về ANTT còn nhiều sơ hở Bên cạnh đó, mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng có những tác động tiêu cực đối với xã hội, đó là tình trạng phân hóa giàu nghèo, nạn thất nghiệp… Đây chính là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tỉ
lệ tội phạm trên địa bàn thành phố
2.1.2 Thực trạng tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.1.2.1 Mức độ của tình hình tội phạm
Mức độ của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017 được nhận thức thông qua các số liệu phản ánh tổng số các tội phạm đã xảy ra và số lượng người thực hiện hành vi phạm tội trên địa bàn thành phố trong thời gian nêu trên Để đánh giá được chính xác mức độ của tình hình tội phạm đã xảy ra cần phải xem xét cả số lượng các tội phạm và người phạm tội đã bị xét xử bằng một bản án kết tội của Tòa
án có trong thống kê hình sự (được gọi là tội phạm rõ) và số lượng các tội