1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên việt nam hiện nay (qua thực tế một số trường đại học và cao đẳng ở thành phố hà nội)

116 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 278 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài Xung quanh vấn đề đạo đức truyền thống những năm gần đây đã cónhiều công trình nghiên cứu ở dới các góc độ khác nhau, một số bài viết đã đề cập đến khía cạnh

Trang 1

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

nhân loại đang sống trong những năm đầu của thế kỷ 21, thế kỷ của

sự bùng nổ về thông tin khoa học và kỹ thuật hiện đại, tiên tiến nhất từ trớc

đến nay Những thành tựu mà nhân loại đã đạt đợc trong những năm gần đây

đã làm thay đổi cuộc sống của nhiều dân tộc trên thế giới

Việt Nam là một quốc gia thuộc các nớc đang phát triển về mặt kinh

tế, lại trải qua nhiều cuộc chiến tranh kéo dài Song, dới tác động của cuộccách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, Việt Nam cũng đang từng ngàytừng giờ thay đổi diện mạo của mình

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, Đảng ta chủtrơng phát triển nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa Sau gần

20 năm đổi mới, đất nớc ta đã thu đợc những thành tựu đáng tự hào Về cơbản, chúng ta đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và đã có sựtăng trởng về kinh tế, phá đợc thế bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ đốingoại, tình hình kinh tế chính trị cơ bản là ổn định, quốc phòng an ninh đợctăng cờng, thế và lực ngày càng đợc củng cố và phát triển

Kinh tế thị trờng đã đem lại cho ta những điều "kỳ diệu" trong sự pháttriển kinh tế - xã hội, tuy nhiên nó cũng là mảnh đất màu mỡ nảy sinh lối sốngích kỷ, vụ lợi, những thói h tật xấu, những tệ nạn xã hội đã và đang từng ngày,từng giờ làm băng hoại những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, phá vỡnhiều nét đẹp của văn hóa truyền thống Mặt trái của cơ chế thị trờng đã tạo ramột bộ phận không nhỏ lớp ngời trong xã hội nói chung, một bộ phận thanhniên, sinh viên nói riêng có lối sống chạy theo đồng tiền, buông thả, quay lngvới văn hóa, với truyền thống dân tộc

Trang 2

Từ thực tế đó, Đảng ta đặt ra yêu cầu phải gắn tăng trởng kinh tế vớitiến bộ đạo đức và công bằng xã hội, vừa phát triển kinh tế thị trờng, đồngthời phải bảo tồn và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp củadân tộc Việt Nam Tại Hội nghị Trung ơng lần thứ t khóa VII, nguyên Tổng

Bí th Đỗ Mời đã khẳng định: Phát triển tách khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất

định sẽ lâm vào nguy cơ tha hóa Đi vào kinh tế thị trờng, hiện đại hóa đất

n-ớc mà xa rời những giá trị truyền thống sẽ làm mất đi bản sắc dân tộc, đánhmất bản thân mình, trở thành cái bóng mờ của ngời khác, của dân tộc khác

Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về "Một số định hớng lớn trong côngtác t tởng hiện nay" tiếp tục khẳng định: Sự phát triển của một dân tộc phải v-

ơn tới cái mới tạo ra cái mới, nhng lại không thể tách rời khỏi cội nguồn Pháttriển phải dựa trên cội nguồn, bằng cách phát huy cội nguồn, trở về cội nguồn,giữ đợc cội nguồn Cội nguồn đó của mỗi dân tộc là văn hóa (cốt lõi là nhữnggiá trị luân lý đạo đức)

Thực tiễn chứng tỏ rằng, tơng lai của mỗi dân tộc phụ thuộc một phầnrất lớn vào thế hệ trẻ nói chung, sinh viên nói riêng Liệu chúng ta có thể giữvững định hớng xã hội chủ nghĩa khi thanh niên bị phai nhạt lý tởng, thiếu ýthức giữ gìn những giá trị truyền thống dân tộc? Trong những điều kiện mới của

đất nớc, chúng ta đã chuẩn bị "hành trang" gì cho họ? Điều tiên quyết và khôngthể thiếu đó là "truyền thống dân tộc", những truyền thống đáng tự hào củalịch sử mấy nghìn năm dựng nớc và giữ nớc đã giúp chúng ta "hội nhập" màkhông bị "hòa tan", phát triển mà không bị "mất gốc", trọng truyền thống màkhông bảo thủ, tất cả những điều đó đã và đang giúp cho thanh niên Việt Namnói chung - sinh viên Việt Nam nói riêng nâng cao hơn nữa bản lĩnh của mình,

đứng vững trớc mọi thử thách khắc nghiệt của cuộc sống hiện đại

Với ý nghĩa đó, vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc làvấn đề hết sức cấp bách trong giai đoạn hiện nay Đó cũng là lý do để tác giả

Trang 3

của luận văn chọn: " Vấn đề giỏo dục giỏ trị đạo đức truyền thống cho sinh

viờn Việt Nam hiện nay (qua thực tế một số trờng đại học và cao đẳng ở thành phố Hà Nội)" làm đề tài nghiên cứu.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Xung quanh vấn đề đạo đức truyền thống những năm gần đây đã cónhiều công trình nghiên cứu ở dới các góc độ khác nhau, một số bài viết đã đề

cập đến khía cạnh này hay khía cạnh khác của vấn đề, cụ thể nh: "Giá trị tinh

thần truyền thống Việt Nam" do Trần Văn Giàu chủ biên, Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội, 1980; "Biện chứng của truyền thống" của Hà Văn Tấn, Tạp chí Cộng sản, số 3-1981; "Về truyền thống dân tộc" của Trần Quốc Vợng, Tạp chí Cộng sản, số 3-1981; "Cái truyền thống và cái hiện đại trong sự nghiệp xây

dựng con ngời mới ở nớc ta" của Đỗ Huy, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội,

số 5-1986; "Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, một nhu cầu phát

triển của xã hội hiện đại" của Lơng Quỳnh Khuê, Tạp chí Triết học, số

4-1992; "Tìm hiểu định hớng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện

kinh tế thị trờng" do Thái Duy Tuyên chủ biên, Hà Nội, 1994; "Giá trị - định hớng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị" do Nguyễn Quang Uẩn chủ biên,

tháng 4-1995; "Đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phơng hớng,

biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên", Đề tài nghiên cứu khoa học, mã số

B943832 do Mạc Văn Trang chủ biên (Viện nghiên cứu phát triển giáo dục

-Bộ Giáo dục và Đào tạo), 1995; "Sự biến đổi định hớng giá trị của thanh niên

Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trờng" của Thái Duy Tuyên, Tạp chí Triết

học, số 5-1995; "Quan hệ kinh tế và đạo đức trong việc định hớng các giá trị

đạo đức hiện nay" của Nguyễn Thế Kiệt, Tạp chí Triết học, 6-1996; "Sự tác

động hai mặt của cơ chế thị trờng đối với đạo đức ngời cán bộ quản lý" của

Nguyễn Tĩnh Gia, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, 2-1997; "Định hớng xã hội chủ

nghĩa về các quan hệ đạo đức trong cơ chế thị trờng ở nớc ta hiện nay" của

Đỗ Huy, Tạp chí Triết học, số 5, 1998; "T tởng đạo đức Hồ Chí Minh và vấn

đề giáo dục, rèn luyện đạo đức trong

Trang 4

nền kinh tế thị trờng" của Hoàng Trung, Tạp chí Triết học, số 5, 1998; "Vấn

đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển" của Nguyễn

Trọng Chuẩn, Tạp chí Triết học, số 2, 1998; "Giáo dục đạo đức đối với sự hình

thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay",

Luận án tiến sĩ Triết học của Trần Sĩ Phán, 1999; "Vì sao Hồ Chí Minh lại đặc

biệt chú trọng đến vấn đề đạo đức?" của Hoàng Trung, Tạp chí Triết học, số 4,

2000; "Tình cảm đạo đức và giáo dục tình cảm đạo đức trong điều kiện hiện

nay" của Nguyễn Văn Phúc, Tạp chí Triết học, số 6, 2000; "Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị tr- ờng ở Việt Nam hiện nay", Luận án tiến sĩ Triết học của Nguyễn Văn Lý, 2000;

"Giá trị đạo đức và sự biểu hiện của nó trong đời sống xã hội" của Mai Xuân Lợi, Tạp chí Triết học, số 3, 2001; "Lý tởng đạo đức và việc giáo dục lý tởng

đạo đức cho thanh niên trong điều kiện hiện nay" của Đoàn Văn Khiêm, Tạp

chí Triết học, số 2, 2001; "Kết hợp chặt chẽ giáo dục lý luận với xây dựng đạo

đức mới của ngời cán bộ lãnh đạo quản lý" của Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí

Lý luận chính trị, số 4, 2001; "Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam và cái

phổ biến toàn nhân loại của đạo đức trong nền kinh tế thị trờng" của Trần

Nguyên Việt, Tạp chí Triết học, số 5, 2002; "Kế thừa t tởng đạo đức Hồ Chí

Minh trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay" của Lê Sĩ Thắng, Tạp chí

Triết học, số 5, 2002; "Một số biểu hiện của sự biến đổi giá trị đạo đức trong

nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục" của

Nguyễn Đình Tờng, Tạp chí Triết học, số 6, 2002; "Khoa học công nghệ và

đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trờng" của Nguyễn Đình Hòa, Tạp chí Triết

học, số 6, 2002; "Từ "cái thiện" truyền thống đến "cái thiện" trong cơ chế thị

trờng ở Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Hùng Hậu, Tạp chí Triết học, số 8,

2002; "Quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong giáo dục đạo

đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay", Luận án tiến sĩ Triết học của Lê Thị

Hoài Thanh, 2002; "Tiêu chuẩn đạo đức của ngời cán bộ lãnh đạo chính trị

hiện nay" của Trần Văn Phòng, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5, 2003 v.v

Trang 5

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, bài viết trên đều có ý nghĩa tolớn đối với việc kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống hiệnnay ở nớc ta Tuy nhiên, những công trình này cha đề cập một cách trực tiếp

đến việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt Namtrong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Trên cơ sở phân tích thực trạng giáo dục giá trị đạo đức truyền thốngdân tộc cho sinh viên các trờng đại học và cao đẳng ở Hà Nội và nguyên nhâncủa nó, từ đó đa ra phơng hớng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng caohiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt Namtrong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Hệ thống hóa những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, từ đó xác

định tầm quan trọng và yêu cầu của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thốngcho sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

- Phân tích thực trạng việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinhviên các trờng đại học và cao đẳng ở Hà Nội hiện nay và nguyên nhân của nó

- Đề xuất phuơng hớng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng caohiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt Namtrong giai đoạn hiện nay (qua thực tế thành phố Hà Nội)

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tợng nghiên cứu: Đối tợng nghiên cứu của đề tài là giáo dục giá

trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là vấn đề giáo

dục đạo đức truyền thống cho sinh viên các trờng đại học và cao đẳng ở Hà Nội

Trang 6

5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Thực hiện bản luận văn này tác giả dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, t tởng Hồ Chí Minh và quan điểmcủa Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống Ngoài

ra, tác giả luận văn có tham khảo, kế thừa các thành tựu của các công trìnhnghiên cứu đã đợc công bố có liên quan đến đề tài

5.2 Phơng pháp nghiên cứu

Tác giả luận văn sử dụng phơng pháp của chủ nghĩa duy vật biệnchứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phơng pháp lịch sử và lôgíc, phântích và tổng hợp quy nạp và diễn dịch, điều tra xã hội học nhằm thực hiệnmục đích và nhiệm vụ mà đề tài đặt ra

6 Đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn

- Góp phần làm sáng tỏ tầm quan trọng và yêu cầu của việc giáo dụcnhững giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam trong giai đoạnhiện nay

- Trên cơ sở khái quát thực trạng công tác giáo dục giá trị đạo đứctruyền thống cho sinh viên các trờng đại học và cao đẳng ở Hà Nội, bớc đầu

đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc giáo dục giá trị

đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt Nam trong điều kiện pháttriển nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việcnghiên cứu, giảng dạy và học tập môn "Đạo đức học" ở các trờng đại học và cao

đẳng Đồng thời, nó cũng góp phần nhất định vào việc nhận thức rõ vai trò củaviệc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho tầng lớp sinh viên trong giai đoạnhiện nay Bên cạnh đó, tác giả luận văn cố gắng lợng hóa nội dung các giá trị đạo

Trang 7

đức truyền thống quý báu của dân tộc, làm cho đạo đức truyền thống dân tộcmãi mãi là những chuẩn mực đạo đức mà mỗi con ngời Việt Nam luôn hớngtới.

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của luận văn gồm 3 chơng, 6 tiết

Trang 8

Chơng 1

Tầm quan trọng và yêu cầu của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc

cho sinh viên Việt Nam hiện nay

1.1 Tầm quan trọng của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt Nam hiện nay

1.1.1 Giá trị và giá trị đạo đức truyền thống

Thuật ngữ "giá trị" ra đời cùng với sự ra đời của triết học Nói cách khác,

ngay từ đầu, gắn với triết học đã có những hiểu biết về giá trị và giá trị học Trớcthế kỷ XIX, những kiến thức về giá trị học đã gắn liền với những tri thức triết học.Sau này, khi khoa học có sự phân ngành, thì giá trị học tách ra thành một mônkhoa học độc lập và thuật ngữ giá trị đợc dùng để chỉ một khái niệm khoa học

Khái niệm "giá trị" trở thành trung tâm của giá trị học, nó đợc sử dụngtrong các lĩnh vực nh: triết học, xã hội học, tâm lý học, đạo đức học, kinh tếhọc Trong lĩnh vực kinh tế học, "giá trị" chỉ sức mạnh của vật này khốngchế lại vật khác khi trao đổi với nhau, để bộc lộ giá trị thì vật phẩm đợc làm ra

đó phải có ích cho cuộc sống con ngời và đáp ứng đợc nhu cầu của con ngời.Chính vì lẽ đó trong kinh tế, giá trị là yếu tố hàng đầu C.Mác viết: "Lao động

có một sức sản xuất đặc biệt, hoạt động là một lao động đợc nhân lên cấp sốnhân, hay là một khoảng thời gian nh nhau, nó tạo ra giá trị cao hơn so vớimột lao động giá trị trung bình cùng loại" [40, tr 104-105]

Trong triết học, chủ nghĩa duy tâm chủ quan coi giá trị là hiện tợngcủa ý thức, là biểu tợng của thái độ chủ quan của con ngời đối với khách thể

mà ngời đó đang đánh giá

Chủ nghĩa Mác - Lênin nhấn mạnh bản chất xã hội, tính lịch sử củagiá trị, đồng thời khẳng định giá trị có thể nhận thức đợc và giá trị có tính thực

Trang 9

tiễn Tất cả mọi cái gọi là giá trị đều có nguồn gốc xuất phát từ chính cuộcsống lao động thực tiễn của con ngời Do vậy, có thể nói, chỉ trong xã hội loàingời mới có cái gọi là giá trị Và chính "con ngời là giá trị cao nhất của mọigiá trị là thớc đo của mọi giá trị Đầu t vào con ngời là cơ sở chắc chắn nhấtcho sự phát triển ngời kinh tế - xã hội" [66, tr 11]

Trong hoạt động thực tiễn, giá trị của một sự vật hiện tợng đều đợc xác

định bởi sự đánh giá của con ngời Sự đánh giá đó nằm trong quy luật của sựvận động và phát triển tiến lên trong thế giới, nó phục vụ ngày càng tốt hơncho cuộc sống con ngời, cho lợi ích và tiến bộ xã hội Có thể nói, "mọi giá trị

đều thể hiện mối quan hệ giữa ngời với vật; chỉ khi nào sự vật khách quan cóích với con ngời thì mới là giá trị" [38, tr 32] và "nói đến giá trị là nói đến cái

có ích, có lợi cho nhân dân, cho dân tộc, cho sự phát triển của xã hội, nói đếnnhững gì có thể thỏa mãn đợc nhu cầu và lợi ích của con ngời trong lịch sử"[67, tr 136]

Trong cuốn Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát

triển có viết nh sau: "Nói đến giá trị tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt

chính diện, nghĩa là đã bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng,cái tốt, cái hay, cái đẹp, là nói đến cái có khả năng thôi thúc con ngời hành

động và vơn tới" [2, tr 16]

Trong cuốn Từ điển Bách khoa toàn th Xô viết định nghĩa:

Giá trị là sự khẳng định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối ợng thế giới xung quanh đối với con ngời, giai cấp, nhóm của toàn

t-bộ xã hội nói chung Giá trị đợc xác định không phải bởi bản thâncác thuộc tính tự nhiên, mà là bởi tính chất cuốn hút (lôi cuốn) củacác thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con ngời, phạm vicác hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực vàphơng thức đánh giá ý nghĩa nói trên đợc biểu hiện trong các

Trang 10

nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, trong lý tởng, tâm thế và mục

đích [63, tr 1462]

Qua các khái niệm, các quan điểm về giá trị trên đây, có thể khái quátlại nh sau:

Thứ nhất, giá trị là tất cả những cái gì mang ý nghĩa tích cực, gắn với

cái đúng, cái tốt, cái đẹp, đợc con ngời thừa nhận và xem nó là nhu cầu hoặc

có một vị trí quan trọng trong đời sống của mình, là những thành tựu góp phầnvào sự phát triển của xã hội

Thứ hai, giá trị không phải là một cái gì nhất thành bất biến mà nó

luôn vận động biến đổi theo thời gian và không gian sao cho phù hợp trongtừng thời điểm nhất định Chính vì vậy, trên thực tế không phải những cái gì

đã có giá trị trong quá khứ đều giữ nguyên giá trị đối với hiện tại Điều đó chothấy giá trị mang tính lịch sử khách quan, sự ra đời tồn tại hay mất đi của mộtgiá trị nào đó không phụ thuộc vào ý thức của con ngời mà do yêu cầu củatừng thời đại nhất định trong lịch sử

Thứ ba, giá trị đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã

hội, giá trị giúp con ngời điều chỉnh hành vi của mình trong cuộc sống, giá trịgiúp con ngời định hớng và xác định mục đích cho hành động của mình, là

động cơ thúc đẩy hoạt động của con ngời

Trên thực tế đã có rất nhiều cách phân loại giá trị Dựa vào tiêu chímục đích phục vụ cho nhu cầu của con ngời, ngời ta chia ra làm hai loại giátrị: Giá trị vật chất và giá trị tinh thần

Giá trị vật chất thể hiện rõ nét trong đời sống kinh tế, nó quyết định sựtồn tại và phát triển của xã hội loài ngời Giá trị tinh thần là những phẩm chất

đặc biệt về trí tuệ, tình cảm, ý chí, nó đợc thể hiện trên các lĩnh vực t tởng, đạo

đức, văn hóa, nghệ thuật, phong tục tập quán Những phẩm chất đó ăn sâu,bám rễ vào trong đời sống tinh thần và chúng trở thành các chuẩn mực để con

Trang 11

ngời đánh giá phân biệt cái đúng, cái sai, cái xấu, cái đẹp trong đời sống hàngngày, trong quan hệ giữa con ngời với con ngời, con ngời với xã hội.

Giá trị đạo đức là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của đời sống

xã hội và đợc con ngời lựa chọn, nhằm điều chỉnh và đánh giá hành vi ứng xửgiữa con ngời với con ngời, con ngời với xã hội, chúng đợc thực hiện bởi niềmtin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của d luận xã hội Giá trị đạo đứcbiến đổi theo sự biến đổi của đời sống xã hội

Về khái niệm truyền thống, trong lịch sử đã từng tồn tại nhiều quan

điểm khác nhau về vấn đề "truyền thống" Theo Từ điển Bách khoa Triết học

của Liên Xô, "truyền thống" có nguồn gốc từ tiếng Latinh là traditio - sự chuyểngiao, lu truyền lại - đó là các giá trị tinh hoa văn hóa đợc lu truyền từ nhữngthế hệ trớc và nó đợc gìn giữ ở các xã hội, giai cấp hay nhóm xã hội nhất định

Trong cuốn Giá trị truyền thống trớc những thách thức của toàn cầu hóa có

đoạn viết: "Từ đây, cái đợc gọi là truyền thống chỉ khi nào nó trở thành một

bộ phận thiết yếu của cuộc sống chúng ta và chỉ khi nào nó bảo tồn cuộc sốngchúng ta và chỉ khi nào nó có khả năng phát triển cuộc sống của chúng ta" [3,

Dới góc độ khoa học, truyền thống đợc hiểu theo hai nghĩa Nghĩa thứ

nhất, truyền thống đó là những giá trị tốt đẹp, đợc lu truyền từ đời này qua đời

khác, nó đứng vững đợc trong thời gian và có thể đơng đầu với những biến

động của lịch sử Hơn nữa, những giá trị ấy có khả năng tạo ra sức mạnh, sảnsinh ra các giá trị mới, đem lại lợi ích cho con ngời

Trang 12

Tuy nhiên, trong đó cũng có những cái mà chúng ta vẫn gọi là "truyềnthống" nhng không đem lại lợi ích cho con ngời, nhiều khi nó kìm hãm sự

phát triển đây là nghĩa thứ hai, nghĩa tiêu cực của phạm trù này Trong cuốn

Ngày mời tám tháng Sơng mù của Louis Bonaparte, C.Mác viết rằng: "Truyền

thống của tất cả các thế hệ đã chết đè nặng nh quả núi lên đầu óc những ngời

đang sống" Còn Hồ Chí Minh, trong bài "Đạo đức cách mạng" (tháng 1958) cũng đã viết: "Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to; nóngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ Chúng ta lại không thể trấn áp nó, màphải cải tạo nó rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài"

12-Hiểu theo nghĩa thứ nhất, truyền thống trở thành một bộ phận thiết yếucủa đời sống con ngời Nó góp phần duy trì, bảo vệ và phát triển cuộc sống củachúng ta Tóm lại, sự nhận thức truyền thống không tách rời nhận thức các giá trị

Giá trị đạo đức truyền thống là một thành tố cấu thành của hệ giá trị

tinh thần của dân tộc Việt Nam, nó là nhân lõi, là sức sống bên trong của dântộc Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa củadân tộc đợc xác định là những chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tởng, nhữngquy tắc ứng xử giữa con ngời với con ngời, giữa con ngời với tự nhiên (màngày nay ta gọi là giá trị đạo đức sinh thái) Đặc điểm cơ bản của truyền thốngnói chung, giá trị đạo đức truyền thống nói riêng là sự kế thừa Trải qua hàngngàn năm dựng nớc và giữ nớc, dân tộc Việt Nam đã rèn luyện và tạo nên nhữngthế hệ ngời Việt Nam giàu lòng yêu nớc, yêu thơng con ngời, cần cù, thôngminh, sáng tạo, chịu thơng, chịu khó Những đức tính đó đã trở thành nhữnggiá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, mà hàng ngàn đời nay chúng tavẫn nâng niu quý trọng

Nói đến giá trị truyền thống của một cộng đồng dân tộc, chính là nói

đến truyền thống tốt đẹp của cộng đồng dân tộc đó Nó chính là những giá trị bình ổn, tốt đẹp, có thể lu truyền từ đời này qua đời khác, là những cái cần đ-

ợc giữ gìn phát huy phát triển cho phù hợp với xã hội hiện tại

Trang 13

Trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam, giá trị đạo đức truyềnthống là một bộ phận thiết yếu, nổi lên hàng đầu, tạo nên cốt lõi của hệ giá trịtinh thần đó Chính vì vậy, khi nói đến những giá trị đạo đức truyền thống dântộc ta, là nói đến những phẩm chất tốt đẹp, quý báu đã đợc hình thành và bảo

lu trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam Giá trị đạo đức truyềnthống của dân tộc ta đợc cô đúc, đợc thử thách và tái tạo qua nhiều thế hệkhác nhau, theo những bớc thăng trầm của lịch sử, nó chứa đựng một tiềmnăng hết sức to lớn và bền vững, nó chính là sức mạnh vốn có của dân tộc ViệtNam, giúp cho dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển Giá trị đạo đức truyềnthống của dân tộc ta do chính cộng đồng ngời Việt Nam tạo lập trong quátrình dựng nớc và giữ nớc, với tất cả những điều kiện lịch sử đặc thù riêng vốn

Việt Nam là một quốc gia nằm giữa Đông Nam á, với địa hình chạydài theo bờ biển và tiếp nối giữa ba vùng: miền núi, đồng bằng, bờ biển Khíhậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm và ma nhiều, giàu tài nguyên thiên nhiên, tạo

điều kiện thuận lợi và cũng không ít khó khăn cho nghề trồng lúa nớc

Về mặt lịch sử, Việt Nam là một quốc gia nhỏ hẹp lại phải trải qua rấtnhiều cuộc đấu tranh chống ách đô hộ, chống kẻ thù từ bên ngoài mà thờng lànhững kẻ thù hùng mạnh hơn ta gấp bội phần Vì lẽ đó ngời dân Việt Namluôn luôn tập hợp lại thành một khối đại đoàn kết, đấu tranh chống giặc ngoạixâm và mở mang bờ cõi

Trang 14

Chính trong quá trình ấy, văn hóa Việt Nam đã có dịp giao lu với vănhóa bên ngoài, trong đó văn hóa phơng Đông đã ảnh hởng mạnh mẽ đến nềnvăn hóa tín ngỡng và tôn giáo của dân tộc Việt Nam Đặc biệt là t tởng Phậtgiáo, Nho giáo, Đạo giáo xâm nhập vào Việt Nam từ rất lâu và đã đi sâu vào

đời sống tín ngỡng ngời dân Việt Nam

Phật giáo truyền bá t tởng từ bi hỷ xả, cứu khổ cứu nạn, yêu thơngchúng sinh Phật giáo cho rằng, có một thế giới vĩnh hằng, tồn tại tích cực siêuviệt, đó là cõi "niết bàn", nhng muốn đến đợc nơi cực lạc đó thì con ngời phảisống từ bi, ăn hiền, ở lành, xa lánh mọi ham muốn vật chất, mọi thú vui hởnglạc, sống không tranh giành, yêu thơng nhau Đơng nhiên, t tởng này vừa cómặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, nhng ít nhiều nó cũng ảnh hởng đến nhữngtruyền thống vốn có của ta, làm sâu đậm thêm truyền thống nhân ái yêu thơngcon ngời của dân tộc Việt Nam

Đạo Nho là một hệ thống quan điểm về thế giới, về xã hội và về conngời, là một học thuyết chính trị - đạo đức - xã hội (mà Khổng Tử là ngời khởixớng) đã ảnh hởng mạnh mẽ tới đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam.Những nội dung t tởng của Nho giáo nh: Nhân; lễ; chính danh; tam cơng; ngũthờng cũng dần thấm sâu vào đời sống, trở thành lối sống, cách ứng xử ở đờicủa ngời Việt Nam và đợc Việt hóa

Đạo gia của Lão Tử cũng góp phần làm phong phú thêm cho truyềnthống vốn có của dân tộc ta, nó góp phần làm mạnh mẽ thêm tinh thần đoànkết thân ái, gắn bó và tinh thần chống áp bức, đô hộ khi có thời cơ

Văn hóa Việt Nam không chỉ giao lu với văn hóa phơng Đông mà còn

có sự giao lu với văn hóa phơng Tây, đặc biệt là văn hóa Pháp Tuy nhiên, khicác trào lu văn hóa, tôn giáo đó du nhập vào Việt Nam đã đợc nhân dân ViệtNam kế thừa có chọn lọc để hình thành nên những nét riêng đặc trng chomình, nhng cái riêng đó nó vẫn luôn ẩn chứa cái chung tạo nên sự tơng đồng

Trang 15

trong việc hình thành nên các giá trị đạo đức của các dân tộc khác trên thếgiới.

Cho đến nay, văn hóa Việt Nam tuy có nhiều thay đổi trên nhiều phơngdiện nhng vẫn giữ đợc cốt cách, bản sắc văn hóa riêng của mình, hội nhập màkhông hòa tan, không đánh mất mình và vẫn giữ đợc những giá trị đạo đứctruyền thống tốt đẹp quý báu của dân tộc Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm

Ban chấp hành Trung ơng Đảng (khóa VIII) "Về xây dựng và phát triển nền

văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc", đã khẳng định:

Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá

trị bền vững, những tinh hoa đợc vun đắp nên qua lịch sử hàng ngànnăm đấu tranh dựng nớc và giữ nớc Đó là lòng yêu nớc nồng nàn;lòng tự tôn, tự cờng dân tộc; tinh thần cộng đồng gắn kết cá nhân -gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩatình đạo lý; đức tính cần cù sáng tạo trong lao động; là đức hy sinhcao thợng tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân; là sự tếnhị trong c xử, tính giản dị trong lối sống [10, tr 10-11]

Xung quanh việc xác định các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc ViệtNam, đã có rất nhiều quan điểm của các học giả, các nhà khoa học bàn về vấn

Trang 16

Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về một số định hớng lớn trong côngtác t tởng hiện nay chỉ rõ: "Những giá trị văn hóa truyền thống vững bền củadân tộc Việt Nam là lòng yêu nớc nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý

"thơng ngời nh thể thơng thân", đức tính cần cù, vợt khó sáng tạo trong lao

Tuy còn có sự khác biệt nào đó trong việc sắp xếp thang giá trị đạo

đức Nhng nhìn chung, các quan điểm các ý kiến đều thống nhất cao độ ở một

điểm coi chủ nghĩa yêu nớc là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo

đức truyền thống của dân tộc Việt Nam Nó là "sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộlịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại" [20, tr 100], là "tiêu điểm của cáctiêu điểm, giá trị của các giá trị" [22, tr 94], là "động lực tình cảm lớn nhấtcủa đời sống dân tộc, đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị

đạo đức của dân tộc ta" [48, tr 74]

Tất cả mọi dân tộc trên thế giới đều có tình cảm yêu quê h ơng đất

n-ớc mình Nhng đối với dân tộc Việt Nam, tình yêu quê hơng đất nn-ớc là mộtthứ tình cảm hết sức thiêng liêng, nó xuất phát từ ý thức cộng đồng gắn bókeo sơn Mỗi ngời dân Việt Nam, đều đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết,khi có giặc ngoại xâm, sẵn sàng hy sinh thân mình, lúc hòa bình biết chăm loxây dựng và bảo vệ quê hơng đất nớc Lòng yêu nớc của dân tộc ta đã trởthành triết lý sống, triết lý nhân sinh, trở thành chủ nghĩa yêu nớc GS TrầnVăn Giàu có viết: "Chủ nghĩa yêu nớc là sản phẩm của bản thân lịch sử ViệtNam đợc bắt đầu từ tình cảm tự nhiên của mỗi ngời đối với quê hơng mìnhtiến lên thành lý tởng và hệ thống t tởng làm chủ của nhận thức đúng sai, tốt

Trang 17

xấu, nên chăng và chỉ đạo rất nhiều phơng lợc xây dựng và bảo vệ nớc nhà"[21, tr 7]

Lịch sử dựng nớc và giữ nớc của dân tộc Việt Nam ngay từ đầu đã gắn

bó con ngời với thiên nhiên, với quê hơng xứ sở của mình, chính vì vậy truyềnthống yêu nớc của dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ tình yêu đối với quê hơnglàng xóm, yêu cây đa, bến nớc, sân đình, nơi có ông bà, cha mẹ, vợ chồng,anh chị em, con cái, bạn bè, bà con hàng xóm, nơi có mồ mả tổ tiên Nơi conngời hàng ngày vất vả chiến đấu với thiên nhiên để duy trì và xây dựng cuộcsống

Lịch sử của dân tộc Việt Nam gắn liền với lịch sử chống giặc ngoạixâm Vì vậy, yêu nớc trớc hết là tinh thần chiến đấu chống giặc ngoại xâm củadân tộc Cho dù ở hoàn cảnh nào, nhân dân Việt Nam vẫn luôn kiên cờng bấtkhuất, "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nớc, nhất định khôngchịu làm nô lệ", già trẻ gái trai nhất tề đứng lên đánh giặc, "còn cái lai quầncũng đánh" Chính vì vậy mà trải qua hơn một ngàn năm Bắc thuộc, ông cha

ta vẫn bám trụ đến cùng, giữ đất, giữ làng, gắn bó với mồ mả tổ tiên, giữ vữngnơi chôn rau, cắt rốn của mình Kiên quyết chống lại chính sách đô hộ củangoại bang, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Trong bất kỳ hoàn cảnh nào tinhthần yêu nớc của dân tộc Việt Nam không hề giảm sút mà nó luôn luôn đợchun đúc, âm ỉ cháy trong lòng mỗi ngời dân nớc Việt

Tinh thần yêu nớc của dân tộc Việt Nam thể hiện ngay từ thuở vuaHùng dựng nên nớc Văn Lang cho đến thời đại Hồ Chí Minh Với hơn 1000năm đấu tranh giành độc lập từ 197 (TCN) đến 938 (SCN), đầu tiên là cuộc khởinghĩa Hai Bà Trng, cho đến cuộc khởi nghĩa của Ngô Quyền đánh quân NamHán với chiến thắng giòn giã, đã mở ra một thời kỳ mới cho lịch sử dân tộc Từ

938 - 1789 dân tộc ta liên tiếp đánh tan quân xâm lợc Tống, Nguyên, Minh,Thanh Đến thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc: từ giữa thế kỷ XIX đến năm

Trang 18

1975, chúng ta đã đánh thắng cả hai tên đế quốc to: Pháp, Mỹ Với chiến dịch

Hồ Chí Minh lịch sử, chúng ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất

đất nớc, giang sơn thu về một mối, nớc nhà hoàn toàn độc lập Tại Đại hội lần

thứ II của Đảng Lao động Việt Nam (11-2-1951), Bác Hồ nói: Dân ta có một

lòng nồng nàn yêu nớc Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xa đến nay,mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một lànsóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lớt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nónhấn chìm tất cả lũ bán nớc và cớp nớc

Chủ nghĩa yêu nớc của dân tộc Việt Nam đợc hình thành, đợc thửthách và đợc khẳng định qua bao thăng trầm của lịch sử, nó đã đợc bổ sung vàphát triển qua từng thời kỳ, nó là một trong những giá trị truyền thống cao quý

và bền vững nhất của dân tộc ta Ngày nay, truyền thống yêu nớc của nhândân Việt Nam thể hiện trong xây dựng đất nớc, trớc hết là chăm lo xây dựng

đất nớc về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa Thể hiện ở sự nhất trí, tin tởngvào đờng lối đổi mới của Đảng, vào khả năng, sức mạnh tự lực tự cờng củamình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh Có thể nói rằng, dới thời đại Hồ Chí Minh, truyềnthống yêu nớc đợc phát huy lên tầm cao mới thành lý tởng: sống, chiến đấu,lao động, học tập vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc củanhân dân

Cùng với chủ nghĩa yêu nớc, Truyền thống nhân ái - yêu thơng con

ng-ời là một trong những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta, truyền thống

ấy có nguồn gốc sâu xa từ trong sinh hoạt công xã nông thôn, đợc củng cố vàphát triển qua quá trình chung lng, đấu cật khai phá giang sơn, giữ gìn đất n-

ớc Tấm lòng nhân nghĩa, nhân ái đó chính là cơ sở cho cách xử thế ở đời củangời Việt Nam, là triết lý sống của dân tộc Việt Nam Hết lòng vì nghĩa cả,giúp đỡ nhau trong hoạn nạn, khó khăn mà không hề tính toán, lên án mạnh

mẽ những kẻ tàn ác "táng tận lơng tâm", "phụ tình bạc nghĩa"

Trang 19

Từ trong sâu lắng của lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn luôn gắn tìnhyêu quê hơng đất nớc với lòng nhân ái - yêu thơng con ngời Do vậy, ngờiViệt Nam luôn xả thân vì đất nớc, con ngời yêu nớc và con ngời yêu dân gắn

bó chặt chẽ với nhau Trong suốt trờng kỳ lịch sử, dân tộc ta luôn luôn đứngtrớc nguy cơ bị xâm lợc và bị đồng hóa, hơn ai hết, chúng ta hiểu rất rõ quyềnsống của mình gắn với vận mệnh của Tổ quốc và dân tộc

Lòng nhân ái nhân nghĩa của ngời Việt Nam còn thể hiện ở lòng vị thacao thợng, không cố chấp đối với những ngời lầm đờng lạc lối, nhng biết lậpcông chuộc tội, trở về với chính nghĩa Chính t tởng "lấy nhân nghĩa để thắnghung tàn, lấy chí nhân để thay cờng bạo" trong Bình Ngô đại cáo của NguyễnTrãi là sự thể hiện đỉnh cao của lòng nhân ái đó Ngời Việt Nam lấy tình yêuthơng làm cách xử thế ở đời, đối với kẻ thù thậm chí còn mở đờng hiếu sinhkhi thua trận, Vua Quang Trung sau khi đánh bại quân Thanh còn cấp lơngthảo và phơng tiện cho đám tàn quân về nớc

Hồ Chủ tịch là hiện thân của lòng nhân ái, nhân nghĩa Xuất phát từlòng thơng yêu con ngời - ngời lao động, yêu quê hơng đất nớc, Bác đã bôn batìm đờng cứu nớc, giải phóng dân tộc Cả cuộc đời mình, Bác hy sinh cho độclập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân Đúng nh nhà thơ Tố Hữu viết: "Bác ơitim Bác mênh mông thế, ôm cả non sông mọi kiếp ngời" Lòng nhân ái của Ngời

đã trở thành sức mạnh, nó đã thấm sâu vào chủ trơng đờng lối chính sách của

Đảng và Nhà nớc ta, có tác dụng cảm hóa hàng vạn con ngời lầm đờng lạc lối,theo kẻ thù chống lại nhân dân Bác xem họ nh là những đứa con "lạc bầy"cần đợc cu mang Bác nói: Giống nh bàn tay cũng có ngón dài ngón ngắn, nh-

ng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay Trong mấy chục triệu ngời, có ngời thếnày, ngời thế khác, nhng tất cả đều là dòng dõi tổ tiên ta, đều là ngời Việt Nam,nên cần phải khoan dung đại lợng Hàng năm, Đảng và Nhà nớc thờng cónhững đợt giảm án cho các phạm nhân cải tạo tốt, điều đó thể hiện lòng nhân áicủa Đảng và Nhà nớc ta

Trang 20

Ngày nay, truyền thống đó đợc thể hiện trong đờng lối đối ngoại của

Đảng: "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới,phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển" Lòng nhân ái của ngời Việt Namcũng là lòng yêu chuộng hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc Trongquan hệ với các nớc láng giềng, nhân dân ta bao giờ cũng trọng tình hòa hiếu,

độ mới và phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết

Truyền thống nhân nghĩa nhân ái là một trong những truyền thống tốt

đẹp của dân tộc ta Nó là cái gốc của đạo đức, truyền thống này chính lànguồn gốc sâu xa nhất, bền chặt nhất của chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, chủnghĩa nhân đạo hiện thực chứ không phải chủ nghĩa nhân đạo chung chungtrừu tợng phi hiện thực, phi lịch sử, phi giai cấp của các giáo lý tôn giáo haytheo cách hiểu của Phoiơbắc

Truyền thống cần cù, tiết kiệm, thông minh, sáng tạo là một giá trị đạo

đức có từ bao đời của dân tộc Việt Nam Nó đợc hình thành và phát triển trong

Trang 21

điều kiện, hoàn cảnh tự nhiên xã hội không ít những khó khăn khắc nghiệtngay từ những buổi đầu dựng nớc và giữ nớc

Về tự nhiên: liên tục xảy ra bão lụt hạn hán, về xã hội: liên tục chiếntranh chống giặc ngoại xâm Nhng, trong suốt tiến trình lịch sử của dân tộc,những ngời dân Việt Nam vẫn kiên trì bám đất, bám làng, vừa sản xuất vừa

đánh giặc để tồn tại và bảo vệ đất nớc Sống trong hoàn cảnh khó khăn giankhổ nh vậy, nhng nhờ có đức tính cần cù và tiết kiệm, mà nhân dân ta đã vợt qua,

để từng bớc tự khẳng định mình trên con đờng phát triển của dân tộc

Để có bát cơm thơm dẻo, ngời nông dân đã phải một nắng hai sơng

"bán mặt cho đất bán lng cho trời", hình ảnh ngời nông dân trong những câu

ca dao dân ca Việt Nam còn đó: "Trên đồng cạn dới đồng sâu, chồng cày vợcấy con trâu đi bừa" Ông cha ta thờng dạy con cháu phải biết quý trọng thànhquả lao động của con ngời: "Ai ơi bng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt đắngcay muôn phần"

Truyền thống cần cù của ngời Việt Nam luôn gắn với tiết kiệm, vì vậycần mà không kiệm thì khác nào: "Tiền vào nhà khó nh gió vào nhà trống".Nên ông cha ta thờng nhắc nhở con cháu rằng: "Đợc mùa chớ phụ ngô khoai

Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng" Hồ Chủ tịch đã nêu rõ: con ngời phải có bốn

đức tính: Cần, kiệm, liêm, chính, so sánh với bốn mùa của trời, bốn phơng của

đất, nếu thiếu một đức thì không thành ngời:

Trời có bốn mùa: Xuân - hạ - thu - đông;

Đất có bốn phơng: Đông - Tây - Nam - Bắc;

Ngời có bốn đức: Cần - kiệm - liêm - chính

Thiếu một mùa thì không thành trời;

Thiếu một hớng thì không thành đất;

Thiếu một đức thì không thành ngời [47, tr 631]

Trang 22

Ngời cho rằng, cần, kiệm, liêm, chính là thớc đo văn minh của mộtdân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ,cần, kiệm, liêm, chính là nền tảng, là cốt lõi của đạo đức xã hội mới.

Ngày nay, cần cù sáng tạo đợc biểu hiện càng rõ nét trong lao độngsản xuất, trong khoa học- kỹ thuật, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cácphong trào thi đua rộng rãi và thờng xuyên trên mọi lĩnh vực: ở biên cơng, nơi

đồng ruộng, trong nhà máy xí nghiệp, trong nhà trờng

Đặc biệt trong quá trình đổi mới đất nớc, với mục tiêu "dân giàu, nớcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", hơn bao giờ hết truyền thốngcần cù sáng tạo càng đợc phát huy cao độ

Truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam cũng hòa vào dòng chảy

của chủ nghĩa yêu nớc và trở thành biểu tợng của chủ nghĩa yêu nớc Đây lànhân tố tinh thần hợp thành động lực thúc đẩy quá trình phát triển của lịch sửdân tộc

Đoàn kết là sức mạnh tổng hợp của cả cộng đồng dân tộc trong việcxây dựng và bảo vệ tổ quốc, đoàn kết là điều kiện tất yếu để bảo tồn dân tộc,nhất là khi đất nớc có giặc ngoại xâm Từ cách lý giải sự ra đời của dân tộcViệt Nam trong truyền thuyết "Trăm trứng nở trăm con" Đây chính là sựkhẳng định truyền thống đoàn kết anh em giữa các dân tộc

Cách dùng từ "đồng bào"- một từ Hán, nhng chỉ có ngời Việt Nam sửdụng để chỉ mối thâm tình "gà cùng một mẹ", cho đến lịch sử hình thành củamột dân tộc Việt Nam: theo lời gọi của tiếng trống Hùng Vơng mà mời lăm

bộ lạc hợp thành một quốc gia Văn Lang thống nhất

Thấy rõ vai trò của yếu tố đoàn kết, cha ông ta luôn có ý thức chốngchính sách chia rẽ của các thế lực ngoại bang và xu hớng cát cứ của các thếlực phong kiến Từ chính sách "dùng ngời Việt đánh ngời Việt" của bọn

Trang 23

phong kiến phơng Bắc đến chính sách "chia để trị" của thực dân Pháp, của đếquốc Mỹ đều lần lợt bị thất bại trớc tinh thần đoàn kết của nhân dân ta.

ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết đã trở thành điểm tựa tinh thầnvững chắc, một động lực mạnh mẽ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng

nh trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta

Xa Nguyễn Trãi nói: "Chèo thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân" đểchỉ sức mạnh đoàn kết của nhân dân Dân là gốc, là nền tảng của sự tồn tại vàphát triển Lúc sinh thời Bác Hồ từng nói: Dễ mời lần không dân cũng chịu,khó trăm lần dân liệu cũng xong Và: "Việc gì khó cho mấy, quyết tâm làmthì làm chắc đợc, ít ngời làm không nổi, nhiều ngời đồng tâm hiệp lực mà làmthì phải nổi" [46, tr 258] Ngời còn khẳng định: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoànkết; thành công, thành công, đại thành công" Trớc lúc đi xa, Ngời còn căndặn các cán bộ, đảng viên: "Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của

Đảng và của dân ta Các đồng chí từ Trung ơng đến các chi bộ cần phải giữgìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng nh giữ gìn con ngơi của mắt mình" (Di chúccủa Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố năm 1969)

Truyền thống giáo dục - hiếu học của ngời Việt Nam đợc hình thành từ

nhiều thế hệ Là ngời Việt Nam ngay từ thuở ấu thơ đã đợc sống trong lời rucủa mẹ:

"Qua sông phải bắc cầu Kiều,Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy"

Câu hát ru đó đã thể hiện truyền thống "Tôn s trọng giáo" của ngờiViệt Nam

Truyền thống "Tôn s trọng giáo" là một nội dung trong học thuyết củaKhổng Tử, khi vào Việt Nam đã trở thành một nội dung đạo lý của ngời ViệtNam Học trò Việt Nam luôn ghi nhớ: "Cơm cha, áo mẹ, nghĩa thầy", "Mồngmột tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy"

Trang 24

"Không thầy đố mày làm nên", đó là một triết lý sống của ngời ViệtNam Là cây phải có gốc, là sông phải có nguồn, để trở thành một con ngời

đúng nghĩa phải có thầy Nhớ công ơn thầy vừa là đạo lý, vừa là nét đẹp truyềnthống uống nớc nhớ nguồn, tôn s trọng đạo của ngời Việt Nam

Hiếu học là một truyền thống trong giáo dục của ngời Việt Nam từ xa

đến nay Có thể nói, ngay từ xa xa con ngời đã sớm nhận thức đợc học hànhkhông chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mỗi cá nhân Chính vì vậy, ng-

ời xa thờng nói: "Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri đạo" (Viênngọc không mài dũa thì không thành đồ dùng đợc, con ngời không học thìkhông biết đạo) và: "Hiếu nhân, bất hiếu học kỳ tế dã ngu" (Kể cả những ngờimong muốn làm điều nhân đức chí thiện nhng không học thì cũng bị sự ngudốt che lấp đi)

Nhận thức đợc tầm quan trọng của việc giáo dục, với truyền thốnghiếu học, tôn trọng hiền tài, nên ngay từ xa, ông cha ta đã biết chăm sóc, bồidỡng nhân tài cho đất nớc Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) là kiểu trờng

đại học quốc lập đầu tiên ở Việt Nam đợc thành lập, để đào tạo nhân tài.Trong bia tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, hiệu Đại Bảo thứ ba năm 1442 ở Văn Miếu(Hà Nội) còn ghi: Hiền tài là nguyên khí của Nhà nớc, nguyên khí vững thìthế nớc mạnh và thịnh, nguyên khí kém thì thế nớc yếu và suy, cho nên các

đấng thánh đế minh vơng không ai không chăm lo việc gây dựng nhân tài, bồi

đắp nguyên khí

Chủ tịch Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân vănhóa thế giới - luôn luôn quan tâm và coi trọng giáo dục Cả cuộc đời và sựnghiệp của Ngời cũng chỉ phấn đấu cho một mục đích tối cao là làm sao để "aicũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng đợc học hành" Bác đã đặt hy vọng vào lớptrẻ mai sau, Bác nói: "Non sông ta có trở nên tơi đẹp hay không, dân tộc ta cóbớc tới đài vinh quang để sánh vai với các cờng quốc, năm châu đợc haykhông chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em" (Th gửi học sinhcả nớc, tháng 9/1945)

Trang 25

Cách mạng tháng Tám thành công, dân tộc ta bớc sang một kỷ nguyênmới, kỷ nguyên độc lập tự do Mọi công dân đều có điều kiện bình đẳng đểthực hiện quyền lợi và nghĩa vụ học tập Mọi tầng lớp ngời Việt Nam đã hănghái tham gia chiến đấu và học tập theo lời kêu gọi của Đảng của Bác Hồ.Tháng 10-1945, Chính phủ thành lập "Hội đồng cố vấn học chính" để nghiêncứu chơng trình cải cách giáo dục Từ đó, ngành giáo dục nói chung, giáo dục

đào tạo đại học, cao đẳng nói riêng, của đất nớc ta ngày càng phát triển

Trong văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ơng khóaVIII đã nhấn mạnh:

Khâu then chốt để thực hiện chiến lợc phát triển giáo dục làphải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dỡng và tiêu chuẩn hóa đội ngũgiáo viên, cũng nh cán bộ quản lý giáo dục cả về chính trị, t tởng,

đạo đức và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ Ưu tiên xây dựng cáctrờng s phạm Phát huy truyền thống "Tôn s trọng đạo", sử dụng giáoviên đúng năng lực, đãi ngộ theo tài năng và cống hiến với tinh thần

u đãi và tôn vinh nghề dạy học [8, tr 13]

Trong sự nghiệp đổi mới đất nớc, Đảng ta ý thức một cách đầy đủ chủtrơng "giáo dục là quốc sách hàng đầu", là một trong những động lực quantrọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, là điều kiện

để phát huy nguồn lực con ngời Việc phát huy truyền thống hiếu học, tôntrọng ngời hiền tài càng trở nên có ý nghĩa, tôn trọng trí thức, tôn trọng nhântài, tôn trọng sáng tạo trên cơ sở, nền tảng đạo đức trong sáng Trong nhữnggiải pháp lớn xây dựng và phát triển văn hóa Đảng ta nêu rõ: "Quan tâm giáodục lý tởng, đạo đức và lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ Có chính sách trọngdụng ngời tài" [10, tr 81-82]

Trong những năm qua, chúng ta đã xây dựng đợc đội ngũ giáo viên vàcác cán bộ quản lý giáo dục ngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức

và ý thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao Đội ngũ

Trang 26

này về cơ bản đã đáp ứng đợc yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi ỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của đất nớc.

d-1.1.3 Sinh viên - tầng lớp xã hội đặc thù

"Sinh viên" là thuật ngữ dùng để chỉ những ngời đang học tập ở các ờng đại học và cao đẳng ở một số nớc, nội hàm của khái niệm sinh viên đợc

tr-mở rộng hơn Chẳng hạn, ở nớc Pháp thuật ngữ "sinh viên" không chỉ dùng đểgọi những ngời đang học trong các trờng đại học và cao đẳng, mà còn dùngcho cả những ngời đang học trong các trờng trung học và các trờng dạy nghề

Sinh viên Việt Nam trong những năm gần đây không ngừng tăng lêncả về số lợng lẫn chất lợng, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu xã hội Nếu nh nămhọc 1997-1998 cả nớc có 126 trờng cao đẳng và đại học (không kể các trờngthuộc khối an ninh quốc phòng), thì đến năm học 2002-2003, số lợng các tr-ờng đại học đã lên tới 202 trờng Năm học 1997-1998, cả nớc có 671.120 sinhviên, đến năm học 2002-2003 đã lên tới 1.020.667 ngời Sinh viên nớc ta hiệnnay chiếm 0,96% dân số và chiếm tới 4% lực lợng thanh niên, đạt 188 sinhviên trên một vạn dân Số sinh viên trong các trờng ngoài công lập ngày càngtăng (chiếm 11%) [61, tr 10]

Nói đến sinh viên là nói đến đội ngũ trí thức trong tơng lai, là lực lợngtrẻ, có học thức, nhạy cảm với cái mới, năng động và sáng tạo, ham học hỏi, lànhững chủ nhân tơng lai của đất nớc Là tầng lớp xã hội đợc gia đình, nhà tr-ờng, xã hội hết sức quan tâm, chăm sóc Trong cuộc sống xã hội, sinh viên giữnhiều vị trí: là sinh viên, là ngời con, ngời anh, ngời chị, ngời em, ngời bạn Tuy vậy, về vị trí thực trong xã hội cha đợc xác định, bởi vì họ cha có nghềnghiệp ổn định, mà hoạt động chính của họ là học tập và bớc đầu tham gia vàonghiên cứu khoa học, tham gia vào các hoạt độngxã hội

Trang 27

Trong sự phát triển đất nớc, sinh viên giữ một vị trí quan trọng, sau khirời ghế nhà trờng họ có thể sẽ giữ những vai trò, những trọng trách ở nhiềulĩnh vực khác nhau trong xã hội Họ có thể sẽ là những nhà chính trị, nhàngoại giao, nhà khoa học, là kỹ s, bác sĩ, nghệ sĩ, hay nhà doanh nghiệp v.v Lúc đó họ đã có một vị trí đích thực và đóng một vai trò quan trọng trong sựphát triển xã hội.

Tại Đại hội sinh viên toàn quốc lần thứ V, nguyên Tổng Bí th Đỗ Mời

đã khẳng định: "Sự nghiệp đổi mới đất nớc, xây dựng chủ nghĩa xã hội cóthành công hay không, đất nớc ta bớc vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng trongcộng đồng thế giới hay không, chủ yếu do thế hệ thanh niên hiện nay quyết

định, trong đó sinh viên là một bộ phận có vai trò hết sức quan trọng"

Thật vậy, sinh viên là nguồn dự trữ, là tài sản quý báu của quốc gia.Ngay từ khi đất nớc còn chiến tranh, đội ngũ sinh viên đã từng gắn bó và cónhững đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng và thắng lợi của dân tộc.Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nớc, đội ngũ sinh viênViệt Nam càng nêu cao vai trò, trách nhiệm của mình trớc nhân dân, trớc dântộc

Theo các kết quả điều tra xã hội học gần đây của Viện Nghiên cứuThanh niên, Trung tâm Nghiên cứu d luận xã hội - Ban T tởng Văn hóa Trung

ơng cho thấy, nhận thức về các vấn đề xã hội của thanh niên, sinh viên hiệnnay ngày càng đợc mở rộng, phong phú, đa dạng và sâu sắc hơn Họ khôngchỉ chú ý đến việc nâng cao trình độ khoa học - công nghệ mà còn có ý thứcnâng cao sự hiểu biết của mình về lịch sử, truyền thống văn hóa dân tộc, chủnghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và kiến thức về pháp luật, về quyền vànghĩa vụ của công dân trong quá trình xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hộichủ nghĩa

Kết quả thăm dò d luận 1.265 sinh viên của Trung tâm Nghiên cứu dluận xã hội - Ban T tởng Văn hóa Trung ơng trong quý I năm 2003 cho thấy,

Trang 28

nhiều sinh viên đã xác định nhận thức về chính trị - xã hội là một trong nhữngkhuôn mẫu để phấn đấu noi theo 51,5% sinh viên tham gia đợt khảo sát nàynhận thức rõ về sự cần thiết có sự hiểu biết về lịch sử dân tộc; hơn 40% mongmuốn có nhiều hiểu biết về t tởng Hồ Chí Minh và lịch sử Đảng Cộng sản ViệtNam; 36% muốn có nhiều hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lênin Cuộc thiOlympic các môn khoa học Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh năm 2001 trongcác trờng đại học, cao đẳng tại thành phố Hồ Chí Minh có gần 2.000 lợt sinhviên tham gia cổ vũ Các cuộc thi "tự bạch" nhân ngày sinh Các Mác, thi lýluận chính trị về lòng yêu nớc, về lý tởng của thanh niên là phấn đấu vì độclập dân tộc và chủ nghĩa xã hội [61, tr 23-24].

Tóm lại, nói đến sinh viên là nói đến tầng lớp trí thức trẻ trong tơnglai, có trình độ, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, là những ngời cólòng nhiệt tình và cũng rất nhạy cảm trong cuộc sống Đây là nét nổi bật có ởtầng lớp sinh viên Những ớc mơ, những hoài bão lớn là động lực chắp cánhcho những ngời sinh viên thời nay bay cao bay xa Với lòng nhiệt tình, tínhhăng say, không chịu lùi bớc trớc những khó khăn thử thách của cuộc đời, đại

bộ phận sinh viên có chí tiến thủ, vơn lên trong học tập Bên cạnh những u

điểm đó, trong đội ngũ sinh viên cũng còn tồn tại một số hạn chế nh: tínhbồng bột, muốn tự khẳng định mình trong khi bản thân cha có đủ điều kiện, vàkhi thất bại thì dễ nản chí và trợt dài Do vậy, hiểu rõ đặc điểm tâm - sinh lýlứa tuổi sinh viên là một vấn đề hết sức quan trọng, để có phơng pháp giáodục, vận động sinh viên một cách khoa học, thiết thực, phù hợp

1.1.4 Tính tất yếu, sự cần thiết phải giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt Nam hiện nay

Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trờng dựa trên sự phân công lao

động xã hội có sự phân chia về lợi ích giữa các chủ thể kinh tế với nhau Yêucầu khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là quá trình toàncầu hóa đời sống kinh tế hiện nay, việc xây dựng nền kinh tế thị trờng là một

Trang 29

tất yếu khách quan Từ khi đất nớc ta chuyển sang cơ chế thị trờng, thực tiễncho thấy sức sản xuất đợc giải phóng, năng suất lao động ngày một tăng, tạotiền đề vật chất nâng cao đời sống của nhân dân Kích thích tiềm năng sángtạo của con ngời, hình thành nên các cá nhân độc lập, phát triển tự chủ cánhân, con ngời năng động hơn, luôn vơn lên để tự khẳng định mình TrongVăn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ơng khóa VIII đã nhận

định về kinh tế thị trờng nh sau:

Về vấn đề này, Bộ Chính trị cho rằng: từ ngày đổi mới tớinay, trong nhiều nghị quyết của Trung ơng, Đảng ta luôn nhận địnhthị trờng là sản phẩm của nhân loại, không chỉ riêng có của chủnghĩa t bản, do đó Đảng chủ trơng xây dựng và phát triển nền kinh

tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lýcủa Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa Trong thực tiễn, ph-

ơng hớng phát triển kinh tế đó đã mang lại nhiều thành tựu; về mặtvăn hóa, trong Dự thảo Nghị quyết đã khẳng định "những tác độngtích cực to lớn" của nó [10, tr 29]

Tổng kết thực tiễn quá trình thực hiện kinh tế thị trờng định hớng xãhội chủ nghĩa, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã khẳng

định: "Cơ chế thị trờng đã phát huy tác dụng tích cực to lớn đến sự phát triểnkinh tế - xã hội Nó chẳng những không đối lập mà còn là một nhân tố kháchquan cần thiết của việc xây dựng và phát triển đất nớc theo con đờng xã hộichủ nghĩa" [7, tr 26]

Bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc trong những năm qua, chúng tacũng đang phải đối mặt với một thực tế đáng buồn, đó là sự xuống cấp về mặt

đạo đức hiện nay trong đời sống xã hội Những hiện tợng băng hoại về đạo

đức đang là nỗi nhức nhối của xã hội chúng ta Vấn đề đạo đức xã hội, đạo

đức cá nhân đang diễn ra hết sức phức tạp, đang có sự đấu tranh giữa cái mới,cái tiến bộ, cái thiện, với cái cũ, cái lạc hậu, cái ác; giữa chủ nghĩa vị tha với

Trang 30

chủ nghĩa vị kỷ, giữa lối sống trung thực với thói dối trá chạy theo đồng tiền Dẫn đến tình trạng trong gia đình con cái bất hiếu với cha mẹ, anh chị emquay lng lại với nhau Đây là một tình trạng đảo lộn về các chuẩn mực đạo

đức truyền thống dân tộc, làm hoen ố những giá trị đạo đức truyền thống mà

ông cha ta đã đổ biết bao nhiêu mồ hôi, nớc mắt, thậm chí cả máu xơng để tạodựng nên

Vấn đề tác động của cơ chế thị trờng đối với đạo đức đã có nhiều cách

lý giải khác nhau Có quan điểm cho rằng, kinh tế thị trờng và đạo đức là bàixích lẫn nhau, kinh tế thị trờng càng phát triển thì đạo đức càng suy thoái Cóquan điểm lại cho rằng, kinh tế thị trờng tạo khả năng đẩy nhanh sự tiến bộtrong mọi lĩnh vực của đời sống, nó sẽ nâng cao trình độ luân lý và đạo đức xãhội Cuộc sống chứng tỏ rằng kinh tế thị trờng đã tác động đến đạo đức theocả hai hớng: cả tích cực, lẫn tiêu cực Trong văn kiện Hội nghị lần thứ nămBan Chấp hành Trung ơng khóa VIII, với thái độ khách quan và khoa học,

Đảng ta khẳng định:

Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, nhất thiết phải thấy mặttrái của cơ chế thị trờng Chúng ta không quy mọi xấu xa đều do cơ

chế thị trờng, nhng không thể không thấy rằng về khách quan mà

nói kinh tế thị trờng với sức mạnh tự phát ghê gớm của nó đã

khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, làm cho ngời

ta chỉ chú ý tới lợi ích vật chất mà coi nhẹ giá trị tinh thần, chỉ chú ýlợi ích cá nhân mà coi nhẹ lợi ích cộng đồng, chỉ chú ý tới lợi ích tr-

ớc mắt mà coi nhẹ lợi ích lâu dài, cơ bản [10, tr 30]

Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủnghĩa, sinh viên có đủ điều kiện để bộc lộ hết khả năng vốn có của mình, đồngthời đây cũng là một thách thức lớn đối với sinh viên hiện nay, vì kinh tế thịtrờng không giống nh trong nhà trờng, mà nó là sự cạnh tranh khốc liệt có khi

là sự thất bại, thất nghiệp và tệ nạn xã hội Cạnh tranh là quy luật tất yếu của

Trang 31

cơ chế thị trờng, có cạnh tranh tích cực làm lành mạnh hóa hoạt động của conngời, có cạnh tranh khốc liệt theo kiểu "luật rừng", "cá lớn nuốt cá bé" gâyhậu quả xấu cho sản xuất và đời sống nhân dân, làm biến dạng mối quan hệgiữa ngời với ngời Trong gia đình, hiện tợng con cái hắt hủi cha mẹ vì lợi íchkinh tế ở nhà trờng, trò khinh thầy, đi ngợc lại truyền thống "tôn s trọnggiáo" Ngoài xã hội, quan hệ giữa ngời với ngời theo kiểu "đèn nhà ai nấyrạng", "cháy nhà hàng xóm bình chân nh vại" Là một tầng lớp xã hội đặcthù, do đó sinh viên cũng chịu tác động từ hai phía của kinh tế thị trờng.

Trong tình hình thế giới hiện nay, kẻ thù vẫn cha từ bỏ âm mu thôntính và phá hoại chúng ta Với "diễn biến hòa bình", kẻ thù tấn công chúng tachủ yếu trên các lĩnh vực văn hóa để làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào

sự nghiệp của Đảng, làm băng hoại đạo đức, lối sống của nhân dân Đối t ợngtrực tiếp của chúng là lớp trẻ, trong đó có sinh viên - những ng ời chủ nhân t-

ơng lai của đất nớc Dựa trên đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên, lợidụng những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật hiện đại - nhất là dịch vụ mạng,sách báo, phim ảnh Kẻ thù dùng đủ mọi thủ đoạn hòng lôi kéo sinh viên xarời cội nguồn, sống quay lng lại với chế độ, với nhân dân, với dân tộc,khuyến khích sinh viên tìm đến sự hởng thụ mà không thiết nghĩ đến tơnglai Về phần mình, có không ít sinh viên cha tự ý thức đợc vai trò, vị trí của

họ trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Sống ỷ lại bố mẹ, không chịuphấn đấu rèn luyện Trong học tập còn có hiện tợng thiếu trung thực nh: chạy

điểm, chạy bằng, thờ ơ với các sinh hoạt đoàn thể Vì ngại khó, ngại khổ,nên có tính toán thực dụng trong việc chọn ngành nghề Một số thích lốisống hởng thụ đua đòi, ăn chơi, sống buông thả, dẫn đến vi phạm pháp luật

và các chuẩn mực xã hội Đây đó còn xảy ra hiện tợng sinh viên, giết ngời,

c-ớp của, tự tử , con số nghiện hút trong sinh viên cũng không phải là ít Theobáo cáo của đề tài cấp bộ, mã số B2001-36-28, tháng 10/2003, của ThS ĐỗKim Thanh (chủ nhiệm đề tài), cho thấy: trên địa bàn Hà Nội năm 2003 cókhoảng gần 1.000 sinh viên nghiện ma túy

Trang 32

Từ thực trạng đó, việc giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc cho sinhviên trong giai đoạn hiện nay, là một việc làm cần thiết và hết sức cấp bách.

Có nh vậy, mới góp phần giữ vững đợc định hớng xã hội chủ nghĩa, bảo tồn

đ-ợc bản sắc văn hóa và các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta Mặtkhác, tính tất yếu và sự cần thiết phải giáo dục giá trị đạo đức truyền thốngdân tộc cho sinh viên Việt Nam hiện nay, cũng là một đảm bảo cho thànhcông của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hớng tới mục tiêu dân giàu,nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

- Sinh viên với sự hiểu biết của họ về các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc.

Đại đa số sinh viên ngày nay là những ngời sống có lý tởng, có ớc mơ

và hoài bão lớn lao Họ sẵn sàng vợt qua mọi khó khăn thử thách trong cuộcsống hàng ngày để thực hiện ớc mơ của mình vì ngày mai lập thân, lập nghiệp.Phần lớn sinh viên nhận thức rõ đợc vai trò trách nhiệm của mình trong họctập, trong cuộc sống, cố gắng phấn đấu rèn luyện để trở thành một trí thức trẻtơng lai, có đầy đủ các phẩm chất, năng lực, và bản lĩnh chính trị với tráchnhiệm và nghĩa vụ của mình, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nớc

Định hớng giá trị về cuộc sống của thanh niên sinh viên hiện nay là:

có kiến thức, có ý chí tự lập, coi trọng giá trị đạo đức, sống có mục đích Kếtquả nghiên cứu gần 1.000 sinh viên đại diện cho các trờng đại học, cao đẳng

ba miền Bắc, Trung, Nam về tình hình t tởng thanh niên Việt Nam cho thấy,

định hớng giá trị của thanh niên sinh viên trong cuộc khảo sát này là:

Trang 33

Văn hóa Trung ơng tiến hành năm 2003 với chủ đề "Hình mẫu sinh viên phấn

đấu noi theo" nh sau:

- Sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì tập thể, bạn bè: 69,1%

- Có chí hớng phấn đấu trở thành đoàn viên, đảng viên: 58,4%

- Tích cực tham gia hoạt động xã hội và các phong trào: 55,3%

- Coi trọng đạo lý, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam: 54,6%

- Nhanh nhạy trong việc tiếp thu những giá trị văn hóa

- Học giỏi các môn mà mình cho là cần thiết: 34%

- Biết cách ăn mặc trang điểm đúng mốt: 15,8% [61, tr 48-49].Cuộc sống ngày càng phát triển, tính tích cực xã hội của sinh viên ngàycàng đợc phát huy Mặc dù sinh viên đến trờng với nhiệm vụ chính là học tập

và rèn luyện, bên cạnh nhiệm vụ đó, họ còn tham gia tích cực vào các hoạt độngmang tính xã hội cao, nh: hiến máu nhân đạo, ngày thứ bảy tình nguyện, phòng

Trang 34

chống tệ nạn xã hội, xóa đói giảm nghèo, giúp đỡ những gia đình thơng binh liệt

sĩ, những ngời già cả cô đơn không nơi nơng tựa, chăm sóc các bà mẹ ViệtNam anh hùng, vệ sinh môi trờng Đặc biệt, tại Seagames 22 vừa qua, hình

ảnh ngời sinh viên áo xanh tình nguyện viên trên đờng phố Hà Nội không chỉkhắc sâu trong tâm trí ngời dân Việt Nam mà cả bạn bè trên thế giới

Những hoạt động này đang ngày càng trở nên thờng xuyên hơn vàkhông thể thiếu trong đời sống sinh viên, khơi dậy tính tích cực xã hội của họ,góp phần to lớn trong việc hoàn thiện nhân cách sinh viên ngay từ khi cònngồi trên ghế nhà trờng

- Kế thừa là quy luật phát triển của ý thức xã hội nói chung, ý thức

đạo đức nói riêng.

Lịch sử phát triển của xã hội loài ngời là lịch sử của sự kế tiếp các

ph-ơng thức sản xuất khác nhau Cho đến nay, xã hội loài ngời đã trải qua nămhình thái kinh tế - xã hội, tơng ứng với nó có năm dạng hình thái ý thức đạo

đức khác nhau Mỗi hình thái ý thức đạo đức ra đời thờng kế thừa những nhân

tố đạo đức tích cực của các hình thái ý thức đạo đức trớc đó Đây là vấn đề cótính quy luật trong sự phát triển của đời sống đạo đức xã hội Chẳng hạn,những giá trị phổ quát toàn nhân loại nh: con ngời sống phải biết yêu thơngnhau, giúp đỡ nhau, vị tha, bao dung, sống đầy tình nhân ái, phê phán nhữngthói h tật xấu tất cả những giá trị đó đợc lu truyền từ đời này sang đời khác,

và thậm chí từ dân tộc này sang dân tộc khác Ngoài ra, có một số các phạmtrù đạo đức học đợc hình thành ngay từ thời cổ đại nh: hạnh phúc, lơng tâm,nghĩa vụ nó vẫn tồn tại cho đến ngày nay, mà chúng ta vẫn thờng gọi những

phạm trù này là những phạm trù đạo đức truyền thống Tuy nhiên, nội dung

của các phạm trù đó có thay đổi ít nhiều, nó phản ánh đời sống xã hội đangvận động và phù hợp với quá trình vận động đó

Kế thừa là quá trình phát triển của ý thức xã hội nói chung của đạo

đức nói riêng, kế thừa là nhân tố, là vòng khâu của sự phát triển, là cái cầu nối

Trang 35

giữa cái cũ và cái mới Tính kế thừa của đạo đức phụ thuộc vào điều kiện kinh

tế - xã hội, vào tính giai cấp, tính dân tộc Kế thừa trong sự phát triển của đạo

đức không thể tồn tại một cách biệt lập tách rời các hình thái ý thức xã hộikhác nh: pháp luật, triết học, tôn giáo, nghệ thuật Bên cạnh đó, sự phát triểncủa đạo đức còn phụ thuộc vào sự giao lu với văn hóa bên ngoài, qua đó màlàm cho bản thân nó trở nên phong phú, đa dạng hơn trong sự phát triển.Chẳng hạn, trong xã hội t bản chủ nghĩa ngời ta đã nêu ra những chuẩn mực

về "tự do, bình đẳng, bác ái" nhng mới chỉ là hình thức, vì lợi ích giai cấp củagiai cấp t sản, vì điều kiện kinh tế - xã hội cha đủ để thực hiện những t tởng,chuẩn mực đạo đức đó Dới chủ nghĩa xã hội những giá trị đạo đức này cần kếthừa, phát triển và biến nó thành hiện thực trong đời sống xã hội

- Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc giúp cho sinh viên chuyển các quan niệm đạo đức từ tự phát sang tự giác.

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nó ra đời từ tồn tại xã hội, chịu

sự chi phối của tồn tại xã hội Quá trình hình thành và phát triển của đạo đứcbởi hai con đờng, đó là: tự phát và tự giác Ngay từ khi con ngời còn đangsống trong xã hội cộng sản nguyên thủy, mặc dù con ngời cha đạt tới trình độhiểu biết về đạo đức, hay đợc hởng một nền giáo dục về đạo đức Nhng có thểnói, những quan điểm về đạo đức thời đó đã bắt đầu manh nha Bằng trựcquan, cảm tính, kinh nghiệm, ngời nguyên thủy cũng đã nhận biết rằng: phảibiết dựa vào nhau để duy trì sự tồn tại của mình, biết hợp tác với nhau và bình

đẳng về lợi ích cũng nh lao động, họ bảo nhau rằng "không đợc đàn áp nhau,không đợc lấy phần của ngời khác" - đó là điều thiện

Cuộc sống luôn luôn vận động, biến đổi, càng ngày các mối quan hệgiữa con ngời với con ngời, con ngời với xã hội, con ngời với tự nhiên càng trởnên phức tạp, phong phú hơn nh chính đời sống hiện thực của nó Con ngờicần có những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức nhất định để điều chỉnh cácmối quan hệ Lúc này con ngời cần đợc giáo dục về đạo đức -

Trang 36

quá trình hình thành và phát triển đạo đức thông qua giáo dục là một quá trình

đâu là cái tốt đâu là cái xấu, đâu là cái thiện đâu là cái ác và hành động của

họ sẽ dễ dẫn đến sai lầm, bởi lẽ ngời ta chỉ hành động đúng trong chừng mựcngời ta hiểu biết chính xác Giáo dục đạo đức cho sinh viên là giúp cho sinhviên chuyển những hiểu biết về những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, để

họ tự nguyện điều chỉnh hành vi của mình trong cuộc sống

Tuy nhiên, trong thực tế có không ít trờng hợp ngời ta biết phân biệt

đâu là cái thiện cái ác; đâu là cái đẹp cái xấu, nhng họ vẫn có thể vi phạm đạo

đức Do vậy, giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên phảigắn nó với niềm tin đạo đức, tình cảm đạo đức - một trong những yếu tố quyết

định hành vi đạo đức của con ngời, để giúp cho họ chuyển các quan niệm đạo

đức từ tự phát sang tự giác, giúp cho sinh viên hiểu rõ mục đích và việc làmcủa mình là đúng hay sai, có phù hợp với những chuẩn mực đạo đức của dântộc mình hay không, là một việc làm hết sức cần thiết Mỗi sinh viên đều đợchởng một nền giáo dục ngay từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trờng phổ thông, từtrong gia đình và ngoài xã hội, mức độ tiếp thu của họ thờng không giống

Trang 37

nhau, sự hiểu biết của họ về những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộccũng không phải nh nhau Ngời thì cho những chuẩn mực, những giá trị đạo

đức truyền thống này là lỗi thời là lạc hậu là không phù hợp với hiện tại, sốkhác thì ngợc lại Có ngời thì cho rằng, những giá trị đạo đức truyền thống củadân tộc chỉ đúng với trớc đây, còn hiện nay thì không phù hợp, không còn cótác dụng đối với xã hội hiện tại Do vậy sinh viên có tự giác nhận thức đợcnhững chuẩn mực, những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc hay không?Một phần do sự giáo dục của gia đình, nhà trờng, xã hội, một phần do chínhbản thân sinh viên nhận thức Yếu tố tự nhận thức của chủ thể đạo đức đóngvai trò hết sức quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi của mình trong cácmối quan hệ xã hội

1.2 Yêu cầu của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt Nam hiện nay

1.2.1 Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên phải chú

ý tới đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi

Giáo dục đạo đức là hoạt động chung tác động đến nhiều đối tợng: họcsinh, sinh viên, cán bộ và ngay chính bản thân những nhà giáo dục C.Mácviết:

Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con ngời là sảnphẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục, rằng do đó con ngời đãbiến đổi là sản phẩm của những hoàn cảnh khác và của một nềngiáo dục đã thay đổi, - cái học thuyết ấy quên rằng chính những conngời làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải

đợc giáo dục [41, tr 10]

Sinh viên Việt Nam hiện nay phần lớn có độ tuổi trung bình từ 19 tuổi

đến 23 tuổi, đây là giai đoạn hai của lứa tuổi thanh niên, và là giai đoạn conngời có sự trởng thành về mặt sinh học cũng nh mặt xã hội

Trang 38

Về mặt sinh học, giai đoạn này bộ não con ngời phát triển khá hoànthiện Các nhà chuyên môn cho rằng, trọng lợng của bộ não ngời lúc này đã

đạt tới mức tối đa trọng lợng não của ngời bình thờng (khoảng 1.400gam) vàchứa khoảng 14-16 tỷ nơron thần kinh So với lứa tuổi thiếu niên, lúc nàynơron thần kinh của sinh viên có khả năng dẫn truyền luồng thông tin tốt hơn(nhanh hơn, chính xác hơn, sức chịu đựng cao hơn)

Về mặt xã hội, ở giai đoạn này sinh viên đã biết suy nghĩ đến tơng laicủa mình, của dân tộc và họ đã có ý thức về trách nhiệm và nghĩa vụ công dân

Họ đã có những trăn trở trớc những khó khăn của đất nớc, họ đã có nhữnghoài bão và ớc mơ làm một việc gì đó để có thể góp phần làm thay đổi vậnmệnh của Tổ quốc, với ý chí "dời non lấp biển" và tinh thần xả thân vì nghĩa

Sinh viên hiện nay ngày càng tỏ rõ vai trò của mình trong xã hội Càngngày chúng ta càng thấy sinh viên năng động hơn, hăng hái và tích cực, táo bạohơn trong cuộc sống Họ hăng hái tham gia vào các hoạt động xã hội và gópphần đáng kể trong đời sống xã hội cũng nh trong sự phát triển của bản thân

Tuy vậy, nhìn vào mặt trái của sinh viên chúng ta thấy cũng còn nhiều

điều đáng quan tâm, suy nghĩ Đó là những biểu hiện của lối sống hởng thụ,

l-ời biếng, chuộng hình thức, coi thờng những ngl-ời xung quanh kể cả pháp luật,dẫn đến sa đà vào những tệ nạn xã hội, thậm chí tham gia vào những vụ giếtngời cớp của, mại dâm, ma túy, rợu chè, cờ bạc Tất cả những cái

đó ảnh hởng rất lớn tới quá trình hình thành và phát triển nhân cách của sinh viên

Từ khi còn ngồi trên ghế trờng tiểu học, trờng phổ thông, học sinh đã

đợc nhà trờng, gia đình và xã hội giáo dục các chuẩn mực đạo đức truyềnthống dân tộc Tuy nhiên, sự giáo dục này chỉ phù hợp với lứa tuổi học sinh,bớc vào trờng đại học và cao đẳng, sinh viên đã có nhiều thay đổi Do đó,trong các trờng đại học và cao đẳng cần có những phơng pháp giáo dục nhữnggiá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên mới hơn, hấp dẫn hơn, phù hợp với

Trang 39

tâm sinh lý lứa tuổi của họ Làm sao khắc phục đợc những mặt hạn chế vàkhơi dậy những mặt tích cực của sinh viên, giúp họ củng cố niềm tin và tự ýthức đợc hành vi trách nhiệm của mình đối với xã hội với cộng đồng.

Trong nhiều năm qua, công tác giáo dục đạo đức trong các trờng đạihọc và cao đẳng cha đợc quan tâm một cách đúng mức Môn đạo đức còn bịcoi nhẹ Gần đây tình trạng đó đã từng bớc đợc khắc phục, tuy nhiên vẫn cha

đáp ứng yêu cầu tình hình hiện tại Do đó, cần có sự bổ sung tích cực vào ch

-ơng trình giáo dục lý luận chính trị bộ môn khoa học này, cần tạo ra môi trờnggiáo dục lành mạnh bổ ích, vì d luận xã hội lành mạnh sẽ có tác dụng to lớntrong việc điều chỉnh hành vi của con ngời sao cho phù hợp với lợi ích củacộng đồng Đồng thời, d luận cũng lên án mạnh mẽ những thói h tật xấunhững hành vi tàn ác vô lơng tâm và nêu các tấm gơng đạo đức để sinh viênhọc tập noi theo

Ngoài ra, có thể áp dụng các hình thức sân khấu hóa hoạt động giáodục truyền thống, tạo ra các sân chơi lành mạnh bổ ích cho sinh viên để sinhviên vừa học mà chơi, chơi mà học, để giúp cho họ hớng tới những ớc mơ,hoài bão, lớn lao

1.2.2 Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt Nam hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc

Nhân loại đã bớc vào thế kỷ XXI, thế kỷ của cuộc chạy đua "ai thắngai" trên bình diện "chất xám" Tơng lai của mỗi dân tộc phụ thuộc một phầnrất lớn vào thế hệ trẻ, trong đó có sinh viên - những trí thức tơng lai, nhữngchủ nhân mai sau của đất nớc Cuộc sống luôn luôn chứng tỏ rằng, trí tuệ lànguồn tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia, dân tộc, một phần tài nguyên đó

đang nằm trong mỗi một sinh viên Việc phát huy năng lực sáng tạo của sinhviên, khơi dậy tiềm năng trí tuệ to lớn ở họ có ý nghĩ vô cùng to lớn đối với t-

ơng lai dân tộc

Trang 40

Để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ cao, phù hợp với cơcấu kinh tế - xã hội của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nănglực cạnh tranh và hợp tác bình đẳng trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới,

đòi hỏi chúng ta một mặt phải tạo mọi điều kiện để sinh viên phát huy hết tàinăng sẵn có của mình, mặt khác phải tăng cờng có hiệu quả công tác giáo dụcchính trị, t tởng, xây dựng nhân sinh quan, phát huy những giá trị đạo đứctruyền thống tốt đẹp của dân tộc vì sự phồn vinh của Tổ quốc và hạnh phúccủa bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xãhội, trớc hết phải có con ngời xã hội chủ nghĩa" Giáo dục cho học sinh, sinhviên lòng yêu nớc, yêu chủ nghĩa xã hội, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tduy sáng tạo và năng lực thực hành giỏi, có chí học tập, rèn luyện để lập thân,lập nghiệp, vững vàng tiếp bớc các thế hệ đi trớc, góp phần đa đất nớc đến hngthịnh, phú cờng [5, tr 11] Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Hội sinhviên Việt Nam lần thứ VII đã nêu rõ:

Đảng ta luôn xác định sự nghiệp đổi mới đất nớc, xây dựngchủ nghĩa xã hội có thành công hay không, đất nớc trong thế kỷ XXI

có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không chủ yếu là

do thế hệ trẻ hiện nay quyết định, trong đó sinh viên là lực lợng cóvai trò quan trọng Chính vì vậy, sinh viên Việt Nam, bộ phận trí tuệ

và u tú trong thanh niên, là nơi kết tinh nhiều tài năng sáng tạo, lànguồn lao động có học vấn cao, có chuyên môn sâu ngày càng đợcxã hội quan tâm và coi trọng [62, tr 33]

Trong điều kiện hiện nay, con ngời vừa là mục tiêu vừa là động lực của

sự phát triển kinh tế - xã hội Do đó, nếu tầng lớp thanh niên nói chung, sinhviên nói riêng, đợc giáo dục tốt thì sẽ đáp ứng đợc yêu cầu của sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc

Sinh viên hiện nay nhìn chung có trình độ học vấn cao, hiểu biết rộng,nhiều tài năng trẻ xuất hiện trong hàng ngũ sinh viên Điều kiện kinh tế - xã

Ngày đăng: 02/07/2021, 15:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban T tởng - Văn hóa Trung ơng (2004), Tài liệu nghiên cứu kết luận Hội nghị lần thứ mời Ban Chấp hành Trung -ơng Đảng khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứukết luận Hội nghị lần thứ mời Ban Chấp hành Trung -"ơng Đảng khóa IX
Tác giả: Ban T tởng - Văn hóa Trung ơng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
2. Nguyễn Trọng Chuẩn (1998), "Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển", Triết học, (2), tr.16-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề khai thác các giá trịtruyền thống vì mục tiêu phát triển
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1998
3. Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Huyên (2002), Giá trị truyền thống trớc những thách thức của toàn cầu hóa,Nxb Chính trị quốc gia,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trịtruyền thống trớc những thách thức của toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb ChÝnh trị quèc gia
Năm: 2002
4. Lê Duẩn (1976), Cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: NxbSự thật
Năm: 1976
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1986
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1991
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ơng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứhai Ban Chấp hành Trung ơng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 1997
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ơng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứba Ban Chấp hành Trung ơng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 1997
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ơng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghịlần thứ năm Ban Chấp hành Trung ơng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 1998
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần hai) Ban Chấp hành Trung ơng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghịlần thứ sáu (lần hai) Ban Chấp hành Trung ơng khóaVIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ơng khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghịlần thứ năm Ban Chấp hành Trung ơng khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2002
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ơng khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghịlần thứ chín Ban Chấp hành Trung ơng khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2004
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số định hớng lớn trong công tác t t- ởng hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của BộChính trị về một số định hớng lớn trong công tác t t-ởng hiện nay
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
16. Nguyễn Khoa Điềm (2004), Bài phát biểu kết luận hội nghị triển khai công tác T tởng - Văn hóa toàn quốc năm 2004, Đà Nẵng, ngày 19 - 21/2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu kết luận hộinghị triển khai công tác T tởng - Văn hóa toàn quốcnăm 2004
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Năm: 2004
17. Phạm Văn Đồng (1989), Hồ Chủ tịch, tinh hoa của dân tộc, lơng tâm của thời đại, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chủ tịch, tinh hoa của dântộc, lơng tâm của thời đại
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1989
18. Phạm Văn Đồng (1995), Văn hóa và đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và đổi mới
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Chínhtrị quốc gia
Năm: 1995
19. Nguyễn Tĩnh Gia (1997), "Sự tác động hai mặt của cơ chế thị trờng đối với đạo đức ngời cán bộ quản lý", Nghiên cứu lý luận, (2), tr. 24-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tác động hai mặt củacơ chế thị trờng đối với đạo đức ngời cán bộ quảnlý
Tác giả: Nguyễn Tĩnh Gia
Năm: 1997
20. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thốngcủa dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1980

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w