ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC BÙI THỊ THỦY TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN CHỦ ĐỀ: “LỊCH SỬ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN, CÁC QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA VIỆT NAM Ở BIỂN ĐÔNG” TRONG DẠ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI THỊ THỦY
TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN CHỦ ĐỀ: “LỊCH SỬ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN, CÁC QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA VIỆT NAM Ở
BIỂN ĐÔNG” TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 11
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN CHỦ ĐỀ: “LỊCH SỬ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN, CÁC QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA VIỆT NAM Ở
BIỂN ĐÔNG” TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 11
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn tới ban giám hiệu, các thầy/cô và các em học sinh Trường Trung học phổ thông Phan Đình Phùng (Hà Nội) đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu tại trường
Em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn ở bên cạnh động viên, ủng hộ em
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song khóa luận vẫn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy/cô giáo đóng góp ý kiến để khóa luận của em ngày càng hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Kí tên
Bùi Thị Thủy
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
1.1 Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của nhà nước về đổi mới trong giáo dục 4 1.2 Xuất phát từ thực trạng dạy và học môn Lịch sử 6
1.3 Xuất phát từ ưu điểm của phương pháp dạy học dự án 8
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 12
3.1 Đối tượng nghiên cứu 12
3.2 Phạm vi nghiên cứu 13
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13
4.1 Mục đích nghiên cứu 13
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 13
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 14
5.1 Phương pháp luận 14
5.2 Phương pháp nghiên cứu 14
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 15
6.1 Ý nghĩa khoa học 15
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 15
7 Cấu trúc của đề tài 16
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN CHỦ ĐỀ “LỊCH SỬ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN, CÁC QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA VIỆT NAM Ở BIỂN ĐÔNG” TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 11 (CHƯƠNG TRÌNH PHỔ THÔNG 2018) 17
1.1 Cơ sở lý luận 17
1.1.1 Khái niệm dạy học dự án 17
1.1.2 Đặc điểm dạy học dự án 17
Trang 61.1.3 Phân loại dạy học dự án 19
1.1.4 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học dự án 20
1.1.5 Hồ sơ bài dạy của dạy học dự án 22
1.1.6 Cách thức triển khai dạy học dự án 28
1.1.7 Những lưu ý khi sử dụng dạy học dự án 29
1.2 Cơ sở thực tiễn 29
1.2.1 Về phía GV 30
1.2.2 Về phía HS 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “LỊCH SỬ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN, CÁC QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA VIỆT NAM Ở BIỂN ĐÔNG” TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 11 (CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC 2018) 38
2.1 Vị trí, mục tiêu và nội dung cơ bản của chủ đề “Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông” 38
2.1.1 Vị trí của chủ đề 38
2.1.2 Mục tiêu của chủ đề 39
2.1.3 Nội dung chủ đề 41
2.2 Quy trình tổ chức dạy học dự án chủ đề “Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông” 61
2.2.1 Các bước tiến hành 61
2.2.2 Một số nguyên tắc, yêu cầu khi tổ chức dạy học 62
2.3 Tổ chức dạy học dự án chủ đề “Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông” 66
2.4 Đề xuất kế hoạch tổ chức dạy học dự án chủ đề “Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông” 67
2.5 Thực nghiệm sư phạm 86
2.5.1 Mục đích thực nghiệm 86
Trang 72.5.2 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 87
2.5.3 Tiến trình thực nghiệm 87
2.5.4 Phân tích kết quả thực nghiệm 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 99
Trang 8Ở Hội nghị thứ 4, Nghị quyết ban chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản
Việt Nam khóa VII đã chỉ rõ:“Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học Kết hợp tốt học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường với xã hội Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Chú ý bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu” [17]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa
VIII của Đảng cũng đã chỉ đạo: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy – học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học,
tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên” [14]
Trang 9Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã xác định: “Tiếp tục đổi mới chương trình, tạo chuyển biến mạnh mẽ về phương pháp giáo dục Tăng cường nguồn lực cho giáo dục Bảo đảm công bằng xã hội trong giáo dục Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục – đào tạo” [18]
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng đã xác định đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế và phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục quốc dân
Ngày 04/11/2013, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương
khóa XI đã đưa ra quan điểm chỉ đạo: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình,
kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục – đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học ” [19]
Tiếp nối chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo mà Đại hội lần thứ XI của Đảng đề ra, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
cũng đã xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục đào tạo theo hướng coi trọng phẩm chất, năng lực của người học Đổi mới chương trình, nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, ngành nghề Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học,hình thức phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục đào tạo bảo đảm trung thực, khách quan” [25]
Trang 10Nội dung trong các văn kiện đều đề cập, nhắc đến việc phải đổi mới nội dung chương trình dạy học và phương pháp dạy học trong giáo dục Vậy vì sao phải đổi mới nội dung chương trình và PPDH?
Trong chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 đã được thủ tướng
chính phủ đã chỉ rõ những hạn chế trong giáo dục: “Hệ thống giáo dục quốc dân thiếu tính thống nhất, thiếu liên thông giữa một số cấp học Nội dung chương trình, phương pháp dạy và học, công tác thi, kiểm tra, đánh giá chậm được đổi mới Nội dung chương trình còn nặng về lý thuyết, phương pháp dạy học lạc hậu, chưa phù hợp với đặc thù khác nhau của các loại hình cơ sở giáo dục, vùng miền và các đối tượng người học; nhà trường chưa gắn chặt với đời sống kinh tế, xã hội; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã hội; chưa chú trọng giáo dục kỹ năng sống, phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh” [14]
Do đó, mục đích của việc đổi mới chương trình giáo dục là để khắc phục những hạn chế của chương trình, sách giáo khoa hiện hành Loại bỏ những thông tin cũ, lạc hậu thay vào đó là những thông tin mới, phù hợp Đồng thời, phát hiện và xử lí những nội dung trùng nhau trong từng môn học và giữa các môn học, tạo sự thống nhất trong từng cấp học Đặc biệt, việc đổi mới chương trình theo hướng phát triển năng lực sẽ giúp HS làm chủ kiến thức, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống xã hội
Còn mục đích đổi mới PPDH trước hết là đáp ứng yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực NH và cuối c ng là vì mục tiêu đáp ứng bối cảnh của thời đại, nhu cầu phát triển đất nước
1.2 Xuất phát từ thực trạng dạy và học môn Lịch sử
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ
Trang 11tiên ta Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước tiếng để muôn đời Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” [1, tr 34-35]
Chính vì vậy, trong mọi xã hội, mọi thời đại thì lịch sử luôn là một bộ phận quan trọng, là nhân tố cốt lõi của mỗi quốc gia Lịch sử là những gì xảy ra trong quá khứ, không lặp lại; là hoạt động gắn với quá trình nhận thức trong
xã hội loài người Nói cách khác, lịch sử là kết quả nghiên cứu về quá khứ đã qua Việc gìn giữ, bảo vệ và phát triển lịch sử được thông qua ý thức, hiểu biết của mỗi cá nhân về tầm quan trọng của lịch sử
Trong chương trình giáo dục phổ thông, thông qua việc giảng dạy trong nhà trường, người dạy – GV trang bị cho HS những kiến thức cơ bản về lịch
sử loài người, về quá trình hình thành và phát triển của các quốc gia dân tộc ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới Xuất phát từ tình hình xã hội hiện nay, sự hiểu biết của HS, thế hệ trẻ đối với lịch sử đất nước đang ở tình trạng đáng báo động Có thể kể đến như trong bài phỏng vấn của đài truyền hình Việt Nam về vua Quang Trung – Nguyễn Huệ thì gần như mọi người đều không biết đến ông là ai và hiểu lầm rằng Quang Trung là anh, là em hay
là bạn của Nguyễn Huệ Ngoài ra, tình trạng này còn được thể hiện trong điểm thi môn Lịch sử những năm gần đây ở kì thi Trung học phổ thông quốc gia Theo các số liệu thống kê của Bộ giáo dục và đào tạo trong năm 2017, tỷ
lệ thí sinh bị điểm dưới trung bình môn Lịch sử là 61,9% Điểm trung bình chung là 4,6 điểm [25]
Năm 2018, trong số trên 563.000 thí sinh dự thi thì có đến 83,24% thí sinh
bị điểm dưới trung bình môn Lịch sử, tương đương với trên 468.600 HS Như vậy, tỷ lệ thí sinh có điểm dưới trung bình môn Lịch sử trong kì thi Trung học phổ thông quốc gia năm 2018 đã tăng hơn 21% so với năm 2017 [25]
Trang 12Đến năm 2019, tình hình này cũng không được cải thiện nhiều khi tỷ lệ thí sinh có điểm dưới trung bình môn Lịch sử trong kì thi Trung học phổ thông quốc gia vẫn ở mức cao 70,01% [26]
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên như bản thân HS không ý thức được tầm quan trọng của môn Lịch sử, vẫn luôn coi môn Lịch
sử là môn phụ trong quá trình học hoặc cũng có thể do chính phương pháp giảng dạy của GV không phù hợp, chậm đổi mới khiến HS khó tiếp thu kiến thức Và để khắc phục được điều này thì đầu tiên là cần thay đổi tư duy và cách tiếp cận lịch sử của HS Thay vì việc GV đọc, giảng bài – học sinh nghe, chép thì GV sẽ là người định hướng cho HS tự trải nghiệm, học hỏi kiến thức
GV cần chủ động thay đổi PPDH một các linh hoạt và phù hợp; không nên sử dụng chỉ một phương pháp trong suốt quá trình giảng dạy, điều này có thể gây mất hứng thú học tập đối với HS
1.3 Xuất phát từ ưu điểm của phương pháp dạy học dự án
Dạy học dự án là một trong những PPDH tích cực hướng đến “tính chủ thể” và “tính hiệu quả” của người học Phương pháp này giúp HS tìm hiểu,
hỏi hỏi những kiến thức thông qua việc tự hành động và trải nghiệm
HS dưới sự hỗ trợ của GV sẽ tự xây dựng các kế hoạch và trải nghiệm trong những dự án giống như cuộc sống thực Đồng thời, HS được rèn luyện nhiều kĩ năng như khai thác, tìm kiếm, chọn lựa thông tin, thuyết trình, làm việc nhóm Do đó, hiện nay ở Việt Nam phương pháp dạy học dự án đang được nhiều GV ứng dụng trong quá trình dạy học
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Tổ chức dạy
học dự án chủ đề: “Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông” trong dạy học lịch sử lớp 11” làm đề tài
khóa luận của mình
Trang 132 Lịch sử nghiên cứu vấn đề [6, tr 4-8]
Khái niệm “dự án” được sử dụng lần đầu tiên trong dạy học vào thế kỷ XVI Khi đó, những kiến trúc sư người Ý đã chuyên nghiệp hóa xu hướng nghề nghiệp của họ bằng cách thành lập một học viện nghệ thuật – The Accademia di San Luca-Rome, dưới sự bảo trợ của giáo hoàng Gregory XIII năm 1577 Cuộc thi đầu tiên của học viện này được tổ chức vào năm 1656; cấu trúc của các cuộc thi vào học viện tương đương với kỳ thi kiến trúc Việc thiết kế trong các cuộc thi vào học viện chỉ là những tình huống giả định Vì
lý do này, chúng được gọi là “dự án” – với ý định là những bài tập trong tưởng tượng chứ không được d ng để xây dựng
Được thiết kế sau mô hình của Ý, Viện hàn lâm kiến trúc hoàng gia Pháp cũng được thành lập vào năm 1671, thông qua các cuộc thi ở đây, học theo
“dự án” dần trở nên phổ biến hơn Ngoài những cuộc thi diễn ra hàng năm còn có các cuộc thi diễn ra hàng tháng Qua đó, việc đào tạo đã tập trung vào học tập bằng các dự án Sinh viên phải hoàn thành một vài dự án cấp tháng để được trao tặng huy chương hoặc để được công nhận kết quả Sự công nhận này hết sức cần thiết để học tiếp thạc sĩ và được trao tặng danh hiệu kiến trúc
sư hàn lâm Vào năm 1763, sự phát triển ý tưởng “dự án” thành phương pháp học tập và giáo dục hàn lâm được thực hiện
Sau đó, học tập bằng các dự án không còn duy nhất với ngành kiến trúc Đến cuối thế kỷ XVIII, chuyên ngành cơ khí được thành lập và được coi là một bộ phận của các trường đại học công nghiệp và kỹ thuật mới đã sử dụng học tập dự án trong quá trình đào tạo của mình Từ đó, tư tưởng dạy học dự
án được truyền bá sang một số nước châu Âu khác và Mỹ
Đầu thế kỷ XX, các nhà sư phạm Mỹ (Woodward; Richard; J.Deway; W.Kilpatrich) đã xây dựng lý luận cho dạy học dự án Dạy học dự án đã được
áp dụng với hầu hết các môn học, cho học sinh ở mọi lứa tuổi và trong các môi trường học tập đa dạng Các tác giả này cho rằng mọi dự án phải có xu
Trang 14hướng trở thành dự án của cuộc sống và đều phải mang đến chuyển biến cho cuộc sống của học sinh John Dewey đã nhấn mạnh rằng thực tiễn quan trọng hơn lý thuyết và học sinh là trung tâm của mô hình dạy học dự án Với những quan điểm này ông đã tiến hành những thử nghiệm đầu tiên cho việc dạy theo
dự án ở trường Đại học Chicago nước Mỹ và John Dewey đã rút ra nhận định chắc chắn rằng tất cả học sinh, để học tập phải tích cực và làm ra một cái gì đó; phải học cách suy nghĩ và giải quyết vấn đề và phải học cách hợp tác với người khác để chuẩn bị cho cuộc sống ngoài xã hội
Năm 1918, nhà tâm lý học William H.Kilpatric và các nhà nghiên cứu của trường đại học ở Columbia qua các giờ học, hội nghị và các tác phẩm đã
có những đóng góp lớp để truyền thông về dạy học dự án
Từ đầu thế kỷ XX, ở Bắc Mỹ cũng như ở châu Âu, dạy học dự án đã tạo nên một chuyển động xã hội – giáo dục với những thay đổi mạnh mẽ trong dạy học nhà trường Nền tảng của chuyển động này đem đến cho học sinh sự hào hứng tiếp nhận kiến thức, sự thay đổi phương pháp học tập với sự tham gia một cách có ý thức nhất, tích cực nhất của học sinh vào việc tiếp thu tri thức
Ngày nay, dạy học dự án còn mang tính chất toàn cầu và càng phát triển hơn với một định hướng quan trọng là sử dụng nó như một phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực học tập của học sinh đặc biệt là năng lực nghiên cứu
Một số công trình nghiên cứu dạy học dự án trong nước
Từ năm 2003, chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai
phương pháp dạy học dự án qua chương trình “Dạy học cho tương lai” tại 20
trường thuộc 9 tỉnh trong cả nước Chương trình này hướng dẫn giáo viên cách triển khai các dự án học tập nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, giúp học sinh phát triển các kĩ năng học tập
Từ năm 2011 – 2012, Bộ Giáo dục đã triển khai áp dụng phương pháp
“Bàn tay nặn bội” trong các trường phổ thông tại nhiều tỉnh thành trên cả
Trang 15nước Bản chất của phương pháp dạy học này là tổ chức hoạt động dựa trên tìm tòi, nghiên cứu; học sinh chiếm lĩnh được kiến thức, kỹ năng dựa trên các hoạt động trải nghiệm và tư duy khoa học Tăng cường chỉ đạo việc hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức liên môn vào giải quyết các vấn đề thực tiễn
thông qua “dạy học dự án”, “tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo”
có tác dụng huy động các bậc cha mẹ, các lực lượng xã hội tham gia giáo dục học sinh toàn diện
Bên cạnh đó, rất nhiều các bài báo, công trình liên quan đến dạy học dự
án Hai tác giả Nguyễn văn Cường và Nguyễn Thị Diệu Thảo có bài viết:
“Dạy học dự án – một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên” đã tiếp cận phương pháp dạy học dự án từ góc độ lý luận và đã nêu
được vai trò của phương pháp này đối với việc nâng cao hiệu quả dạy học của giáo viên
Trên tạp chí Giáo dục số 157 (kỳ I – 3/2007), Đỗ Hương Trà có bài viết:
“Dạy học dự án và tiến trình thực hiện” đã đưa ra cơ sở tiếp cận dự án và nêu
ra tiến trình chi tiết thực hiện dạy học dự án Trong tài liệu Dự Án Việt Bỉ
“Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học” đã giới
thiệu chi tiết về dạy học dự án, bao gồm các bước thực hiện, tiêu chí đánh giá
Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình nghiên cứu, luận văn nghiên cứu về vấn đề này:
Vũ Văn Dụng (2009), “Tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức phần máy điện chương dòng điện xoay chiều, lớp 12 nâng cao”, Luận văn thạc sĩ
giáo dục học trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tạ Thị Thu Hương (2010), "Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án đối với chương Nhóm oxi, lớp 10 nâng cao", trường Đại học sư phạm thành
phố Hồ Chí Minh
Trang 16Nguyễn Thị Thanh Mai (2011), "Áp dụng dạy học theo dự án trong dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông", Luận văn thạc sĩ giáo dục học
sĩ giáo dục học trường trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
Hoàng Thanh Tú (2008), Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử Việt Nam ở trường phổ thông hiện nay”, Đề tài cấp Bộ Khoa Lịch sử - trường Đại học Sư phạm
Lại Thị Th y (2010), “Vân dụng mô dạy học dự án vào tổ chức hoạt động ngoại khóa kiến thức chương Động lực học chất điểm lớp 10 nâng cao”,
Luận văn thạc sĩ trường trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Những nghiên cứu trên cũng chính là nguồn tài liệu tham khảo mà chúng tôi sử dụng trong quá trình làm khóa luận này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của khóa luận là dạy học dự án và tổ chức dạy học dự án chủ
đề “Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông” trong dạy học lịch sử lớp 11 (chương trình giáo dục 2018)
Trang 173.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về lý luận
Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy học dự án và tổ chức dạy học dự án chủ
đề “Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở
Biển Đông” trong dạy học lịch sử lớp 11 (chương trình giáo dục 2018)
sử lớp 11 (chương trình giáo dục 2018) Đồng thời, sử dụng hình thức dạy học dự án trong chủ đề nhằm làm tăng hứng thú học tập, hướng tới phát triển phẩm chất, năng lực học tập của NH và nâng cao chất lượng học môn Lịch sử
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu về dạy học dự án
Nghiên cứu chủ đề “Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông” trong chương trình giáo dục môn lịch
sử (Ban hành ngày 26 tháng 12 năm 2018) và xác định nội dung cơ bản
của chủ đề
Trang 18 Xây dựng kế hoạch tổ chức dạy học dự án cho chủ đề “Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông” trong
dạy học lịch sử lớp 11
Tiến hành thực nghiệm sư phạm để chứng minh tính khả thi của kế hoạch
dạy học đề xuất, từ đó rút ra kết luận khoa học liên quan đến đề tài
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục đào tạo nói chung
và dạy học lịch sử nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Thu thập tài liệu, tiến hành đọc, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa các nguồn tài liệu về giáo dục học, lịch sử, dạy học dự án, dạy học theo chủ đề, chủ đề “Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp
của Việt Nam ở Biển Đông” và các vấn đề liên quan đến đề tài
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát: quan sát quá trình học tập của học sinh lớp 11, trường THPT Phan Đình Ph ng (Hà Nội) nhằm mục đích tìm hiểu quá trình học tập môn lịch sử bằng phương pháp tổ chức dạy học dự án chủ đề
“Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở
Biển Đông”
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: qua bảng hỏi thu được kết quả của
GV và HS về phương pháp tổ chức dạy học dự án chủ đề “Lịch sử bảo vệ
chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông”
Trang 19- Phương pháp phỏng vấn: tiến hành trò chuyện với GV và HS lớp 11, trường THPT Phan Đình Ph ng (Hà Nội) Từ đó, có thể đưa ra những đánh giá khách quan về việc tổ chức dạy học dự án chủ đề “Lịch sử bảo
vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông”
- Phương pháp thực nghiệm: thiết kế và tổ chức dạy học dự án chủ đề “Lịch
sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển
Đông” trong dạy học lịch sử lớp 11
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: thông qua sản phẩm học tập của HS, đánh giá được thái độ, mức độ hứng thú, tiếp thu bài học của HS lớp 11,
trường THPT Phan Đình Ph ng (Hà Nội)
Phương pháp xử lý số liệu:
Các số liệu thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm được xử lý bằng phương pháp thống kê – mô tả dữ liệu và phương pháp thống kê so sánh
dữ liệu với sự hỗ trợ của phần mềm Microsoft Excel
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu, phân tích một cách cụ thể, rõ ràng và đầy đủ về khái niệm, cách tiếp cận phương pháp dạy học dự án, những đặc trưng khi dạy học các chủ đề lịch sử Đồng thời, trình bày ý nghĩa của việc tổ chức dạy dự án làm tăng hiệu quả giờ học cũng như sự chủ động, tích cực sáng tạo của HS
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần nâng cao nhận thức cho GV và HS, sinh viên sư phạm về vai trò và ý nghĩa của việc tổ chức dạy học chủ đề lịch sử theo hình thức dự án Đồng thời là tài liệu tham khảo cho GV trong giảng dạy lịch sử, nâng cao năng lực sư phạm cho chính bản thân trong quá trình giảng dạy sau này
Trang 207 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, thì khóa luận bao gồm hai chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học chủ đề
“Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông” trong dạy học lịch sử lớp 11 (chương trình phổ thông 2018) Chương 2: Tổ chức dạy học chủ đề “Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông” trong dạy học lịch sử lớp 11 (chương trình phổ thông 2018)
Trang 21CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN CHỦ ĐỀ “LỊCH SỬ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN, CÁC QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA VIỆT NAM Ở BIỂN ĐÔNG” TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 11 (CHƯƠNG TRÌNH PHỔ THÔNG 2018)
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm dạy học dự án
Dạy học dự án có tên tiếng anh là Project Based Learning và được viết tắt là PjBL Trong tiếng anh “Project” có nguồn gốc từ tiếng La tinh và ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một “đề án”, một “dự thảo” hay một
“kế hoạch” cần được thực hiện nhằm đạt mục đích đề ra Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế – xã hội hội trong sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học hay quản lý xã hội Từ các lĩnh vực trên, khái niệm dự án đã đi vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo với ý nghĩa
là các dự án phát triển giáo dục và dần dần được sử dụng như là một phương pháp hay hình thức tổ chức dạy học
Trong giáo dục “Dạy học dự án được hiểu là cách thức giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp có tính thực tiễn cao hoặc gắn liền giữa lý thuyết với thực hành, học sinh là người tự lập kế hoạch, chủ động thực hiện, sáng tạo ra các sản phẩm nhất định và đánh giá kết quả đạt được.” Do vậy, học tập dựa trên dự án được hiểu là học trong hành động
và HS là người tích cực, chủ động trong việc chiếm lĩnh kiến thức [9, tr 137]
1.1.2 Đặc điểm dạy học dự án [7, tr 20]
Dạy học dự án có 5 đặc điểm cơ bản sau:
Trang 22 Tính phức hợp: nội dung dự án có sự kết hợp tri thức nhiều lĩnh vực
hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp Học sinh thực hiện các hoạt động học tập phong phú và đa dạng, sử dụng nhiều phương tiện học tập, thực hành; có sự tích hợp công nghệ thông tin vào quá trình học tập Việc kiểm tra, đánh giá cũng được thực hiện thường xuyên và đa dạng
Tính định hướng người học: dạy học dự án chú ý đến nhu cầu, khả
năng, hứng thú của người học Học sinh tích cực, tự lực tham gia vào các giai đoạn của quá trình dạy học từ việc chọn chủ đề, xác định mục đích, lập kế hoạch đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, đánh giá Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tinh thần trách nghiệm, sự sáng tạo của người học
Tính hợp tác trong hoạt động: đặc điểm nổi bật của dạy học dự án là
sự hợp tác làm việc theo nhóm của người học Người học tham gia một cách
có tổ chức, có sự phân công, chịu trách nghiệm và phối hợp với các thành viên khác, với giáo viên hướng dẫn cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội
Tính thực tiễn: chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của
thực tiến xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Quá trình thực hiện dự án đòi hỏi người học phải kết hợp lý thuyết với thực hành, vận dụng kiến thức đã học vào hoàn cảnh cụ thể Đặc điểm này làm cho các dự án học tập thu hút được sự quan tâm của học sinh, mang lại cho học sinh hứng thú và những trải nghiệm thực thế mới Các dự án học tập góp phần gắn liền nhà trường với thực tiễn đời sống xã hội và có thể mang lại những tác động xã hội tích cực
Tính định hướng sản phẩm: dạy học dự án phải hướng đến việc giải
quyết những vấn đề thực, do đó, sản phẩm được tạo ra chính là kết quả của dự
án, cũng chính và kết quả của việc học tập Kết quả của dự án có thể là bài báo, bài trình bày, mô hình, quy trình thí nghiệm
Trang 231.1.3 Phân loại dạy học dự án [5, tr 163-164]
Các dự án học tập có thể được phân làm nhiều loại khác nhau, với cái tiêu chí khác nhau:
Phân loại theo chuyên môn:
- Dự án trong một môn học: Trọng tâm nội dung nằm trong một môn học
- Dự án liên môn: Trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau
- Dự án ngoài chuyên môn: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học Ví dụ: dự án chuẩn bị cho các lễ hội trong trường
Phân loại theo sự tham gia của người học: Dự án cá nhân, dự án cho
nhóm người học, dự án cho một lớp, dự án dành cho một khối lớp, dự án toàn trường Dự án dành cho nhóm người học là hình thức dự án dạy học chủ yếu
Phân loại theo sự tham gia của giáo viên: Dự án dưới sự hướng dẫn của
một giáo viên, dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều giáo viên
Phân loại theo quỹ thời gian: K.Frey phân chia như sau:
- Dự án nhỏ: Thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2 – 6 giờ học
- Dự án trung bình: Dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”) nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học
- Dự án lớn: Dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”)
Cách phân chia theo thời gian này thường áp dụng ở trường trung học phổ thông Trong đào tạo đại học, quỹ thời gian lớn hơn
Phân loại theo nhiệm vụ: Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể
phân loại các dự án theo các dạng sau:
- Dự án tìm hiểu: Là dự án khảo sát thực trạng đối tượng
- Dự án nghiên cứu: Nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trình
Trang 24- Dự án thực hành (dự án kiến tạo sản phẩm): có trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác
- Dự án hành động: Tiến hành các hoạt động thực tiễn xã hội
- Dự án hỗn hợp: Là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên
- Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biết với nhau Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng
1.1.4 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học dự án [9, tr 143-145]
Ưu điểm:
Dạy học dự án là phương tiện hiệu quả để gắn những nội dung kiến thức với thực tiễn cuộc sống, gắn lý thuyết với thực hành, tạo sự liên kết giữa môi trường học tập nhà trường với môi trường xã hội Trong quá trình thực hiện dự án HS có cơ hội được vận dụng các kiến thức đã học vào hoạt động thực tiễn, thực hiện “học đi đôi với hành”
Học tập theo dự án giúp NH tiếp cận với một lượng kiến thức đa dạng, phong phú từ nhiều nguồn khác nhau, sử dụng kiến thức của nhiều môn học khác nhau để giải quyết nhiệm vụ được đặt ra Do vậy, NH được nghiên cứu sâu hơn về một chủ đề học tập chứ không đơn thuần là tìm ra những câu trả lời đúng cho những câu hỏi GV đưa ra Theo cách ngày NH thực sự chủ động chiếm lĩnh kiến thức
Thông qua việc thực hiện dự án, HS được rèn luyện nhiều kĩ năng: khai thác, tìm kiếm, lựa chọn thông tin; thuyết trình; trao đổi, thảo luận; đánh giá, nhận xét; sử dụng phương tiện công nghệ trong thiết kế, triển khai và trình bày sản phẩm Đặc biệt HS được rèn luyện các kỹ năng sống như:
kĩ năng giao tiếp, cộng tác nhóm, kĩ năng trao đổi, chia sẻ thông tin, kĩ
Trang 25năng tự định hướng, tự điều chỉnh và xử lý tình huống các kỹ năng này giúp HS tự tin và thành công trong cuộc sống sau này
Trong quá trình thực hiện dự án, HS là người chủ động thực hiện theo kế hoạch tự đề ra, đồng thời tự lực tham gia vào tất cả các giai đoạn của quá trình dạy học: đề xuất hoặc đóng góp ý kiến cho sáng kiến dự án; xây dựng kế hoạch; thực hiện dự án và trình bày kết quả Các công việc này thực sự đòi hỏi và khuyến khích tinh thần trách nhiệm, thái độ tích cực và
sự sáng tạo của NH
Các tình huống đưa ra trong dự án gắn liền với thực tiễn cuộc sống, HS được đóng các vai trò khác nhau trong cuộc sống để thực hiện nhiệm vụ học tập do vậy không chỉ tạo hứng thú cho HS mà còn phát triển khả năng thích ứng, khả năng tự đương đầu giải quyết những vấn đề thực tế
Học tập lịch sử là HS được học về những sự kiện được học về những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ, hiểu được quá khứ để định hướng hành động trong hiện tại và tương lại, do vậy qua việc thực hiện các dự án HS thấy được mối liên hệ giữa quá khứ với cuộc sống hiện tại, ứng dụng được những kiến thức đã học vào cuộc sống Cùng với việc được rèn luyện các
kĩ năng, học lịch sử qua các dự án sẽ giúp HS có phương pháp học tập bộ môn đúng đắn, khắc phục được quan niệm sai lầm cho rằng học sử chỉ cần
“học thuộc lòng” và ghi nhớ các sự kiện
Nhược điểm:
- Phương pháp này chỉ phù hợp với những nội dung vận dụng, đồng thời lại tốn nhiều thời gian và công sức chuẩn bị, do vậy không thể tiến hành thường xuyên trong chương trình môn học
- Để có thể tiến hành dạy học dự án một cách hiệu quả đòi hỏi phải có đầy
đủ các phương tiện dạy học hiện đại (máy tính, máy chiếu ), cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu (phòng học, máy tính kết nối mạng internet ),
Trang 26nguồn tài liệu cho môn học Do vậy, ở những nơi còn thiếu thốn các điều kiện trên sẽ rất khó triển khai dạy học theo dự án
- Trong quá trình thực hiện dự án, GV cần thường xuyên phải theo dõi hoạt động của các nhóm HS, sẽ khó khăn khi GV phải dạy nhiều lớp và phải chịu áp lực khi phải thực hiện đúng tiến độ của chương trình Đồng thời, dạy học dự án cũng đòi hỏi GV không chỉ có kiến thức của nhiều môn học
mà phải có năng lực tổ chức, quản lí HS
- Dạy học dự án yêu cầu nguồn kiến thức được tích hợp từ nhiều môn học khác nhau, do vậy để thực hiện được dự án GV cần phải phối hợp với các
GV môn khác cùng thực hiện Vì vậy, sẽ rất khó khăn nếu các GV cùng phải dạy nhiều lớp và phải thực hiện theo chương trình qui định GV cũng
sẽ gặp khó khăn khi dự án cần phải được phối hợp với nhiều người khác nhau như GV trong trường, phụ huynh HS
- HS thụ động hoặc không thích hoạt động theo nhóm, hoăc chưa có những
kĩ năng cần thiết về sử dụng máy tính, công nghệ, khai thác thông tin trên internet sẽ gặp khó khăn trong quá trình thực hiện dự án
1.1.5 Hồ sơ bài dạy của dạy học dự án [7, tr 22-31]
Để tiến hành dạy học dự án một cách hiệu quả, GV cần xây dựng trước một cách thật đầy đủ và chi tiết hồ sơ bài dạy bao gồm: bộ câu hỏi định hướng, kế hoạch thực hiện, tình huống xuất hiện dự án – các ý tưởng dự án,
kế hoạch tổ chức nhóm, các công cụ đánh giá và công cụ trợ giúp – nguồn tư liệu tham khảo
1.1.5.1 Bộ câu hỏi định hướng
Đặt những câu hỏi mở, hấp dẫn là một cách hiệu quả khuyến khích HS suy nghĩ sâu hơn, tạo nên một ngữ cảnh hiệu quả đối với việc học Khi HS thật sự bị lôi cuốn vào việc tìm hiểu câu trả lời cho các câu hỏi, đó là lúc học
Trang 27sinh cảm thấy thích thú với việc học Khi câu hỏi giúp học sinh nhận ra được mối liên hệ giữa môn học với đời sống của bản thân, đó là lúc việc học trở nên có ý nghĩa
Giúp các dự án tập trung vào những kiến thức quan trọng Khuyến khích
HS vận dụng các kĩ năng tư duy bậc cao, giúp học sinh hiểu được trọn vẹn các khái niệm cơ bản và hình thành được hệ thống kiến thức
Đảm bảo các dự án của học sinh có tính hấp dẫn và thuyết phục
Cấu trúc bộ câu hỏi định hướng bao gồm câu hỏi khái quát, một hay nhiều câu hỏi bài học và nhiều câu hỏi nội dung
Câu hỏi khái quát: là những câu hỏi mở, hướng đến những ý tưởng lớn và những khái niệm mang tính bền vững Câu hỏi khái quát thường có tính chất liên môn và giúp HS nhìn thấy mối liên quan giữa các môn học Câu hỏi khái quát có những đặc điểm riêng:
- Là yếu tố trọng tâm của dạy học dự án: những câu hỏi khái quát có thể tìm thấy trong rất nhiều vấn đề còn đang tranh cãi ở nhiều lĩnh vực nghiên cứu
- Lặp lại một cách tự nhiên thông qua người học và lịch sử môn học: các câu trả lời của học sinh có thể ngày càng trở nên phức tạp hơn và phản ánh nhiều sắc thái mới nhưng họ vẫn còn quay lại những câu hỏi đó
- Dẫn đến những câu hỏi quan trọng khác: câu hỏi khái quát sẽ mở rộng vấn
đề, mở rộng tính phức tạp và phong phú của chủ đề, gợi mở hướng nghiên cứu chứ không dẫn đến những kết luận sớm hay những trả lời mơ hồ
Câu hỏi bài học: có liên quan trực tiếp đến dự án, hỗ trợ việc nghiên cứu câu hỏi khái quát Câu hỏi bài học có những đặc điểm sau:
Trang 28- Đưa ra các chỉ dẫn liên quan đến chủ đề và môn học cụ thể
- Không có câu trả lời đúng duy nhất: các câu hỏi bài học thường mở ra và gợi ý những hướng nghiên cứu, bàn luận
- Được thiết kế nhằm khuyến khích và duy trì hứng thú của HS: những câu hỏi bài học được thiết kế nhằm khuyến khích HS thường thúc đẩy tranh luận và là phương tiện để duy trì sự khám phá của HS
Câu hỏi nội dung: là những câu hỏi cụ thể mang tính sự kiện, tương tự như loại câu hỏi thường thấy trong các bài kiểm tra Câu hỏi nội dung hỗ trợ cho câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học
1.1.5.3 Tình huống xuất hiện dự án – các ý tưởng dự án
Chuẩn bị tình huống thảo luận để từ đó xuất hiện ý tưởng dự án là một giai đoạn quan trọng trong dạy học dự án Bởi chỉ có những ý tưởng tốt, được thống nhất giữa GV và HS mới đủ sức lôi cuốn học sinh tích cực, tự lực hoàn thành nhiệm vụ học tập với tinh thần trách nhiệm cao nhất Ý tưởng dự án có thể do GV đề xuất nhưng đôi khi cũng xuất phát từ sự sáng tạo của HS Nhưng d thế nào, đi kèm với tình huống thảo luận, GV cũng phải chuẩn bị sẵn một số ý tưởng, kịch bản để HS thảo luận và lựa chọn Tuy nhiên, GV chỉ đóng vai trò định hướng và giúp HS lựa chọn dự án phù hợp với khả năng nhận thức, kỹ năng và điều kiện thực tế của HS Để lựa chọn được một tình huống thảo luận có chất lượng, thu hút được sự quan tâm của đa số HS, người
Trang 29GV phải xuất phát từ chính những nội dung cần học, phải tìm được khía cạnh thời sự của kiến thức, phù hợp với lứa tuổi và khả năng của HS
1.1.5.4 Kế hoạch tổ chức nhóm
Hoạt động nhóm là hoạt động cơ bản của dạy học dự án Nhóm được phân chia như thế nào phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng dự án và phải phù hợp với nhiệm vụ đặt ra, phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi và phải đảm bảo nguyên tắc công bằng, tạo không khí thoải mái trong nhóm GV phải có kế hoạch dự trù phân chia nhóm từ trước, số lượng thành viên, số lượng nhóm, nhóm trưởng phải được cân nhắc dựa trên các yếu tố đã nói ở trên GV có thể tìm hiểu năng lực, sở thích của các HS để phân nhóm cho phù hợp GV cần có
sự theo dõi thường xuyên và định hướng các nhóm hoạt động hiệu quả
Dựa trên việc đặt câu hỏi
Trong dự án
Kiểm tra, giúp đỡ, điều chỉnh HS
đi đúng hướng, theo dõi tiến bộ
Giúp HS có tinh thần trách nhiệm trong học tập, tự đánh giá công việc, kĩ năng của bản thân để hoàn thiện
Thông qua việc quan sát, đặt câu hỏi và dựa trên ghi chép kế hoạch của nhóm, báo cáo tiến
độ
Trang 30Cuối dự án
Đưa ra chứng cứ trực tiếp về khả năng tiếp thu và hiểu kiến thức của HS
Đánh giá tính tích cực, tinh thần hợp tác của HS
Công nhận thành quả, sự nỗ lực của HS
Đánh giá quá trình thực hiện dự
Dựa trên phiếu thăm dò
Đánh giá thành phần: phần lớn công việc đánh giá trong dự án là đánh giá thành phần Thay vì đánh giá kết quả, việc đánh giá thành phần cho phép cải thiện việc học tập của HS và điều chỉnh việc dạy học của GV Đánh giá thành phần được tiến hành thường xuyên và được lồng ghép vào các hoạt động trong suốt dự án
Đánh giá tổng thể: Việc đánh giá tổng thể được thực hiện vào cuối dự án Mặc dù có thể gồm các bài thi và bài kiểm tra, GV cũng có thể yêu cầu
HS thể hiện một kĩ năng đã được tiếp thu trong quá trình hoàn thành dự
án
Việc đánh giá thường xuyên có thể:
- Đánh giá được những nhu cầu của HS (ở giai đoạn bắt đầu bài học, việc đánh giá kiến thức có sẵn của HS giúp GV lên kế hoạch đáp ứng yêu cầu học tập và giúp HS tích hợp kiến thức mới học vào tư duy)
- Khuyến khích học tập mang định hướng chiến lược (các kĩ thuật đánh giá trong quá trình thực hiện dự án giúp thầy và trò theo dõi sự tiến bộ, khuyến khích sự cộng tác, tự định hướng và kiểm tra sự tiếp thu của HS)
- Thể hiện sự tiếp thu của HS (các kĩ thuật đánh giá sau khi dự án kết thúc giúp chúng ta nhìn thấy những gì HS đã tiếp thu về mặt kiến thức và kĩ năng và cho thấy chất lượng công việc HS)
Trang 31Các tiêu chí đánh giá cũng như phương thức đánh giá, các công cụ đánh giá phải được đưa ra cho HS từ trước khi thực hiện dự án Bởi lẽ, các tiêu chí đánh giá cũng là sự thể hiện cụ thể của mục đích cần đạt được Một dự án có
sự đánh giá tốt, đảm bảo công bằng và chuẩn xác sẽ tăng cường thêm trách nhiệm học tập của HS
Kết quả đánh giá có thể từ nhiều nguồn: từ phía nhóm trưởng hoặc các thành viên khác (đánh giá đồng đẳng), từ sự tự đánh giá của HS, từ sự phản hồi của xã hội… Chính nhờ sự đa dạng đó, dạy học dự án mang lại cơ hội đánh giá đúng hơn về thực chất năng lực học tập, khả năng giải quyết vấn đề của HS, đặc biệt là khả năng làm việc phối hợp và sự thích nghi với những tình huống mang tính thử thách của HS
Trong đánh giá dự án, HS cần được tham gia nhiều hơn vào quá trình đánh giá Người GVcần thiết lập trước các yêu cầu và tiêu chí đánh giá cũng như nội dung đánh giá:
HS cần chú trọng những kiến thức nào?
Những hoạt động chính nào cần được thực hiện?
HS cần phải tham gia hoạt động nhóm như thế nào là tích cực?
Sản phẩm của HS cần đạt những yêu cầu gì?
Có thể tạo những biểu mẫu đánh giá như thế nào?
1.1.5.6 Công cụ trợ giúp – nguồn tư liệu tham khảo
Với sự trợ giúp của công nghệ, nhất là internet, nguồn tài liệu tham khảo trở nên phong phú và đa dạng cả về nội dung và thể loại Tuy nhiên, GV phải
có sự chuẩn bị trước một số tài liệu tham khảo và các công cu trợ giúp HS Tài liệu tham khảo có thể chia thành tài liệu in, ebook, phim, hình ảnh, website… Các công cụ trợ giúp là các phần mềm, các biểu mẫu về lập kế hoạch dự án, phân công nhiệm vụ, các sản phẩm mẫu, nhật ký dự án, biểu mẫu theo dõi và báo cáo tiến độ thực hiện dự án
Trang 321.1.6 Cách thức triển khai dạy học dự án [7, tr 22-31]
Bước 1: Chọn đề tài, chia nhóm
Tìm trong chương trình học tập, các nội dung có liên quan hoặc có thể ứng dụng vào thực tế
Phát hiện những gì tương ứng đã và đang xảy ra trong cuộc sống
Giáo viên phân chia lớp thành các nhóm, hướng dẫn người học đề xuất, xác định tên đề tài Dự án chứa đựng một nhiệm vụ cần giải quyết, phù hợp với các học sinh; trong đó có sự liên hệ giữa nội dung học tập với hoàn cảnh thực tiễn Giáo viên cũng có thể giới thiệu một số hướng đề tài
để học sinh lựa chọn
Bước 2: Các nhóm lập đề cương và kế hoạch thực hiện
Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định mục tiêu của dự án
Đưa ra các nội dung chi tiết về các công việc cụ thể, cách thực hiện, các điều kiện cần thiết như: nguồn tư liệu, thiết bị cần thiết, kinh phí, người tham gia…
Dự kiến thời gian, địa điểm triển khai công việc, phân công người thực hiện, dự kiến sản phẩm cần đạt được
Xác định phương pháp tiến hành
Xác định hình thức trình bày sản phẩm
Bước 3: Thực hiện dự án
Thu thập thông tin, xử lý thông tin và xây dựng sản phẩm
Học sinh sẽ tham gia vào các hoạt động theo nhiệm vụ đã được phân công
và đóng góp vào thảo luận nhóm để hình thành sản phẩm
Học sinh thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và từ sự giúp đỡ của giáo viên Từ những thông tin, hình ảnh thu thập được; học sinh sẽ phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin để xây dựng những mô hình, sản phẩm…
Trang 33 Trong quá trình thực hiện, giáo viên cần theo dõi, động viên, giải đáp, hỗ trợ kịp thời những thắc mắc của học sinh để đảm bảo dự án đi đúng hướng
và đạt kết quả tốt nhất
Giáo viên cần đánh giá thường xuyên các hoạt động, sự tham gia, tinh thần trách nhiệm, sự tiến bộ của học sinh trong suốt quá trình thực hiện
Bước 4: Báo cáo sản phẩm
Dự án có thể trình bày trên lớp hoặc toàn trường hay ngoài xã hội
Sản phẩm của các dự án có thể được trưng bày trong phòng học, hành lang, bảng tin hay đưa lên trang web của trường, lớp
Buổi trình bày có thể có sự tham gia của ban giám hiệu, thầy (cô) trong nhà trường hay phụ huynh học sinh
Các nhóm phân công các thành viên tham gia trình bày dưới các hình thức như: thuyết trình, biểu diễn…
Sau khi báo cáo sản phẩm xong, giáo viên và học sinh sẽ c ng đánh giá kết quả, quá trình thực hiện dự án và rút ra kinh nghiệm
1.1.7 Những lưu ý khi sử dụng dạy học dự án
Dự án phải gắn với nội dung dạy học của chương trình
Dự án phải gắn với thực tiễn đời sống
Thiết kế được các được các hoạt động (việc làm) cụ thể cho người học
Qua các dự án người học phải tiếp thu được kiến thức của môn học
Các dự án phải có tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế là năng lực của học sinh
1.2 Cơ sở thực tiễn
Để xác lập cơ sở thực tiễn cho đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tình hình thực tế sử dụng phương pháp phỏng vấn, bảng hỏi ở trường THPT Phan Đình Ph ng (Hà Nội)
Trang 34 Địa điểm khảo sát: Trường THPT Phan Đình Ph ng (Hà Nội)
Thời gian khảo sát: 13/01 – 01/02/2020
Đối tượng khảo sát: 04 GV Lịch sử và HS 4 lớp 11A3, 11A5, 11D6, 11D2 (tổng 200 HS)
Kế hoạch tiến hành: Soạn phiếu điều tra, sau đó tiếp xúc, phỏng vấn và phát phiếu điều tra xin ý kiến GV và HS
Nội dung khảo sát: Nhận thức, thái độ của GV và HS về dạy học dự án và việc tổ chức dạy học dự án trong dạy học lịch sử
Các phương pháp điều tra, khảo sát:
- Phỏng vấn GV lịch sử, HS ở trường THPT về vấn đề cần khảo sát
- Phát phiếu điều tra nhằm thu thập ý kiến của GV và HS về các vấn đề cần nghiên cứu
- Dự giờ, quan sát hoạt động dạy – học trên lớp của GV và HS
- Thông qua phiếu điều tra, phỏng vấn GV dạy học bộ môn Lịch sử, các em
HS, chúng tôi đã thu được kết quả về tình hình thực tế như sau:
1.2.1 Về phía GV
Trong quá trình tìm hiểu, tôi đưa ra một số câu hỏi nhằm tìm hiểu về thực trạng và nhận thức của GV đối với việc tổ chức dạy học dự án trong dạy học lịch sử Kết quả thu được như sau:
Thứ nhất, về hiểu biết của các thầy/cô về phương pháp dạy học dự án: 100% các thầy/cô đều biết rõ về cách thức tiến hành, ưu điểm, nhược điểm của dạy học dự án thông qua việc tập huấn chuyên môn; qua internet; qua sách, báo và qua đồng nghiệp của mình
Thứ hai, quan điểm của GV về việc tổ chức dạy học dự án theo chủ đề trong dạy học lịch sử:
Trang 35Bảng 1.2: Bảng thể hiện mức độ tổ chức dạy học dự án theo chủ đề trong Lịch sử của GV trường THPT Phan Đình Phùng
Nội dung Phần trả lời Số GV Tỉ lệ %
Tìm hiểu về mức độ cần thiết của việc tổ chức dạy học dự án theo các chủ đề thì 100% các thầy/cô đều trả lời là cần thiết Nhưng 100% các thầy/cô tham gia khảo sát chỉ thỉnh thoảng sử dụng phương pháp này trong quá trình dạy học Qua trò chuyện với cô giáo Nguyễn Thị Hằng – GV lịch sử trường THPT Phan Đình Ph ng chia sẻ rằng: “Dạy học dự án theo các chủ đề là rất tốt, đem lại hiệu quả cao và học sinh rất thích phương pháp này Tuy nhiên, khi thực hiện dạy học dự án tốn rất nhiều thời gian mà môn sử tùy từng khối
sẽ có 1 – 2 tiết/tuần Như vậy rất khó tổ chức, chưa kể nhiều chủ đề yêu cầu tính liên môn, cần hỗ trợ của các giáo viên khác trong trường”
Bên cạnh đó, vì nhiều lí do khách quan khác liên quan đến khung chương trình đào tạo, điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí lớp học, nên các thầy/cô thường sử dụng các phương pháp thuyết trình, hỏi – đáp, làm việc nhóm trong quá trình giảng dạy
Như vậy, kết quả điều tra cho thấy các thầy/cô giáo rất quan tâm đến việc thực hiện tổ chức dạy học dự án Song do nhiều lí do mà các thầy/cô không thể thường xuyên sử dụng phương pháp này
Thứ ba, về thái độ của GV về việc đưa chủ đề “Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông” vào chương trình giảng dạy môn lịch sử tại trường THPT
Trang 36Để tìm hiểu được thái độ của các thầy/cô, chúng tôi đưa ra 4 mức độ (rất phù hợp, phù hợp, phân vân, không phù hợp) và các thầy/cô đều đồng ý rằng chủ đề này rất phù hợp để đưa vào chương trình giảng dạy Cô Nguyễn Thị Hằng đã chia sẻ: “Hiện nay, chúng ta đang sống trong “thế kỉ của biển và đại dương” Không phải đơn giản mà mọi người gọi như vậy mà do mọi người đã nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng rất lớn của biển đảo Các vấn đề liên quan đến biển đảo đều là vấn đề rất nóng được cả thế giới quan tâm, đặc biệt
là khu vực Biển Đông – nơi có sự tranh chấp chủ quyền giữa nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Việc đưa chủ đề này vào quá trình dạy học sẽ giúp HS nhận thức được tầm quan trọng của biển đảo và nâng cao ý thức, trách nhiệm
bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia”
1.2.2 Về phía HS
Để tìm hiểu sự hứng thú học tập của HS đối với môn Lịch sử và khả năng ứng dụng việc tổ chức dạy học dự án chủ đề “Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông”, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, điều tra thực tiễn và thu được kết quả như sau:
Thứ nhất, khi hỏi về hứng thú học tập môn Lịch sử thì chỉ có 10% HS cảm thấy rất hứng thú; 28% HS cảm thấy bình thường và 62% cảm thấy chán, không thích học môn lịch sử
Trang 37Biểu đồ 1.1: Biểu đồ thể hiện mức độ hứng thú của HS đối với môn Lịch sử
Thông qua việc phỏng vấn trực tiếp, nhiều HS cho rằng kiến thức lịch sử khô khan, khó tiếp thu, nhiều kiến thức trong sách còn lạc hậu Ngoài ra, có nhiều HS chia sẻ rằng do khối thi đại học không có môn lịch sử nên cũng không quan tâm, hứng thú với môn học Chỉ có số ít HS cảm thấy hứng thú với môn lịch sử là do đam mê, sự yêu thích từ chính bản thân các em
Thứ hai, khi được hỏi “Theo các em, có cần thiết tổ chức dạy học chủ đề
có cần thiết không?” thì có 24% các HS cho rằng “Cần thiết”, 64% HS cho rằng “Bình thường” và 12% HS chọn “Không cần thiết”
Lý giải cho số lượng lớn HS cho rằng việc tổ chức dạy học chủ đề chủ yếu nằm ở mức độ “Bình thường” bởi vì các em chia sẻ rằng nhiều tiết học chủ đề mà các em học thường chỉ là gộp các bài có nội dung tương tự nhau vào một chủ đề; nội dung khi học thì cũng không khác nhiều so với việc học riêng từng bài, kiến thức vẫn chỉ dừng lại trong sách giáo khoa là chủ yếu
C ng với đó, chúng tôi đưa ra câu hỏi “Em cảm thấy thế nào khi tham gia các
10%
28%
62%
Rất hứng thú Bình thường Không hứng thú
Trang 38giờ học chủ đề” thì có 30% các em cảm thấy hứng thú, 50% cảm thấy bình thường và 20% cảm thấy không hứng thú Trao đổi với 1 HS chọn “Hứng thú” em chia sẻ rằng: “Mặc d đa số kiến thức trong các giờ học chủ đề chỉ dừng lại trong sách giáo khoa nhưng việc gộp các bài lại sẽ giúp em có thể dễ dàng hệ thống kiến thức; dễ dàng so sánh điểm giống và khác nhau giữa các giai đoạn lịch sử” Ngoài ra, trao đổi với HS khác chọn “Không hứng thú” các
em chia sẻ rằng: “Những tiết học chủ đề vẫn nặng về lý thuyết, chúng em ít được hoạt động trải nghiệm thực tế”
Như vậy, trong quá trình dạy học của mình các thầy/cô đã có sự thay đổi
từ dạy học theo bài sang dạy học theo chủ đề nhưng việc thiết kế hoạt động trong các chủ đề vẫn là một thử thách lớn
Thứ ba, khi khảo sát về thái độ của HS về việc đưa chủ đề “Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông” vào chương trình học Lịch sử tôi đã thu được kết quả sau Có đến là 84% đồng ý là
“Rất ph hợp”; 16% chọn “Phân vân” và 0% thấy “Không ph hợp” Đa số HS đồng ý về việc nên đưa chủ đề này vào quá trình học vì đây là một vấn đề nóng hiện nay, các em muốn có thêm kiến thức về biển đảo Việt Nam Còn số HS lựa chọn “Phân vân” vì các em sợ khi đưa chủ đề mới vào sẽ ảnh hưởng đến chương trình học tập mà hiện nay các em đang học
Thứ 4, để tìm hiểu về sự hiểu biết và nhu cầu học tập khi sử dụng phương pháp dạy học dự án, tôi đã đưa ra các câu hỏi:
Câu hỏi thứ nhất : “Em đã từng được nghe và trải nghiệm “phương pháp dạy học dự án” chưa?” thì có tới 90% HS “đã từng” và còn lại chỉ 10% HS
“chưa từng được trải nghiệm” Đa số các em đã từng được nghe và trải nghiệm phương pháp này Khi hỏi kĩ hơn thì các em chia sẻ rằng các em chỉ thỉnh thoảng mới được học bằng phương pháp này ở trường Ngoài ra, để rõ hơn về việc có một số HS chưa được trải nghiệm phương pháp dạy học dự án thì tôi đã trao đổi
Trang 39với các em và biết được lý do là do các em là HS chuyển trường, ở trường cũ của các em chưa ứng dụng phương pháp này vào trong dạy học
Câu hỏi thứ hai: “Các em muốn tham gia các tiết học, các chủ đề lịch sử được sử dụng phương pháp dạy học dự án không?” Trả lời câu hỏi này, có 68% HS “rất muốn tham gia”; 24% HS “phân vân” và 8% HS “không muốn tham gia” Kết quả này được cụ thể hoá trong biểu đồ trực quan dưới đây:
Biểu đồ 1.2: Biểu đồ về nhu cầu tham gia giờ học chủ đề theo phương pháp
Do đó, chúng tôi muốn thiết kế, giảng dạy chủ đề “Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông” theo phương pháp dạy học dự án để các em HS có cái nhìn mới mẻ và thấy được những điều thú vị trong môn lịch sử Đồng thời, thông qua việc tự trải nghiệm
Trang 40giúp các em trau dồi thêm các kiến thức; rèn luyện, nâng cao các kĩ năng cá nhân và củng cố tinh thần yêu nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam