1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương pháp dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh phổ thông

89 65 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề xuất một số biện pháp dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo định hướng phát triển năng lực cho HS phổ thông……… 39 2.2.1.. VBTT là những văn bản cung cấp thông tin cho người đọc một

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

HOÀNG THIÊN TRANG

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM VĂN HỌC

Hà Nội – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô

đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn em trong suốt thời gian học tập, rèn luyện tại trường Đại học Giáo dục/ ĐHQGHN Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫn, PGS.TS Phạm Minh Diệu đã hướng dẫn tận tình, chu đáo, hết lòng chỉ bảo, giúp đỡ em thực hiện khóa luận này

Em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo các thầy cô Trường THPT Kim Liên (Hà Nội), các cô giáo trong tổ bộ môn Ngữ Văn đã giúp đỡ

em trong quá trình khảo sát tại trường

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện khóa luận một cách hoàn chỉnh nhất, song, do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, hạn chế về kiến thức lí luận và kinh nghiệm thực tiễn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp

ý của các thầy, cô giáo để khóa luận được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Hoàng Thiên Trang

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, BIỂU SỬ DỤNG TRONG KHÓA LUẬN

Bảng 1.1- Các đặc điểm của VBTT……… 13 Bảng 1.2- So sánh VBTT và VB văn học……… 17 Bảng 1.3- Bảng mô tả yêu cầu cơ bản của đọc hiểu VB……… 20 Bảng 1.4- Thống kê số lượng VBTT trong CT Ngữ văn THPT……… 22 Bảng 1.5- VBTT được giảng dạy ở hai phân môn……… 23 Bảng 1.6- Số lượng HS tham gia điều tra – đánh giá……… 26 Bảng 1.7- Kết quả phỏng vấn GV bằng phiếu trắc nghiệm………… 26 Bảng 1.8- Kết quả phỏng vấn HS bằng phiếu trắc nghiệm………… 29 Bảng 2.1- Yêu cầu cần đạt của đọc hiểu VBTT cấp THPT………… 35

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng nghiên cứu 2

5 Phạm vi nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 2

7 Đóng góp mới của đề tài 3

8 Cấu trúc khóa luận 3

CHƯƠNG 1- CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG ……….………… 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.2 Một số vấn đề về văn bản thông tin 7

1.1.3 Dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực 19

1.2 Cơ sở thực tiễn 22

1.2.1 Văn bản thông tin trong CT, SGK Ngữ Văn THPT 22

1.2.2 Thực trạng dạy và học văn bản thông tin ở lớp 12 (CT cơ bản) thông qua phiếu điều tra – đánh giá……… 24

1.2.3 Kết luận 30

1.3 Tiểu kết chương 1 30

CHƯƠNG 2- ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC VĂN BẢN THÔNG TIN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG ……… 32

Trang 7

2.1 Một số nguyên tắc đề xuất 32

2.1.1 Bám sát mục đích, yêu cầu của CT phổ thông hiện hành 32

2.1.2 Bám sát mục đích, yêu cầu của CT mới 34

2.1.3 Phù hợp với kiểu bài 38

2.1.4 Kết hợp linh hoạt với phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực 38

2.1.5 Quan tâm đến môi trường dạy học 39

2.2 Đề xuất một số biện pháp dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo định hướng phát triển năng lực cho HS phổ thông……… 39

2.2.1 Vận dụng các hình thức tổ chức dạy học tích cực 39

2.2.2 Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực 41

2.2.3 Vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực 52

2.3 Tiểu kết chương 2 56

CHƯƠNG 3- THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỬ NGHIỆM 57

3.1 Mục đích thử nghiệm 57

3.2 Đối tượng thử nghiệm 57

3.3 Nội dung thử nghiệm 57

3.4 Tổ chức thử nghiệm 57

3.4.1 Thiết kế giáo án thử nghiệm 57

3.4.2 So sánh giáo án thử nghiệm và giáo án đối chứng 69

3.5 Dự kiến kết quả thử nghiệm 71

3.6 Tiểu kết chương 3 72

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 76

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn bản thông tin (Tiếng Anh: Infomational text) từ lâu đã được đưa

vào trong CT nhà trường phổ thông nhưng dưới những tên khác: văn bản nhật

dụng, văn bản hành chính, văn bản thuyết minh,

Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn (2018) chú

trọng dạy học 3 kiểu VB: VB văn học, VB nghị luận và VB thông tin VBTT

là những văn bản cung cấp thông tin cho người đọc một cách chính xác, khách quan về mọi lĩnh vực đời sống bằng cách trình bày, giới thiệu, mô tả, đưa số liệu… Chúng có liên quan đế các loại văn bản nhật dụng, văn bản thuyết minh, văn bản hành chính theo cách gọi hiện nay, nhưng không đồng nhất Đây là kiểu văn bản thông dụng, gần gũi với đời sống, nó xuất hiện rất nhiều trong các SGK, các phương tiện truyền thông Việc đưa VBTT vào chương trình học sẽ giúp HS biết cách tiếp cận những sự kiện, những thông tin có giá trị trong đời sống, để từ đó giáo dục và hình thành quan điểm sống đúng đắn, cách nhìn nhận vấn đề một cách tích cực, có kĩ năng viết, trình bày chính xác theo yêu cầu

VBTT có mặt trong các phân môn Đọc hiểu và Làm văn trong CT Ngữ

văn phổ thông

1.2 Vì mới được đưa vào CT dự thảo, việc nghiên cứu văn bản thông tin còn chưa được nhiều người quan tâm, cũng vì vậy mà có thể gây lúng túng cho cả GV và HS trong quá trình dạy học theo CT mới

Vì những lý do đó, tôi lựa chọn đề tài: “Phương pháp dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo định hướng phát triển năng lực cho HS phổ thông”

Trang 9

từ đó làm cơ sở đề xuất những biện pháp dạy học đọc hiểu VBTT theo định hướng phát triển năng lực cho HS, đáp ứng nhu cầu đổi mới của nền giáo dục

và phù hợp với xã hội

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phương pháp dạy học đọc hiểu VBTT

theo định hướng phát triển năng lực cho HS phổ thông

3.2 Khảo sát thực trạng về phương pháp dạy học VBTT trong nhà

trường phổ thông hiện nay

3.3 Đề xuất một số biện pháp dạy học đọc hiểu VBTT theo định hướng phát triển năng lực giúp công tác dạy học trở nên hiệu quả, đáp ứng yêu cầu

xã hội

3.4 Thiết kế giáo án thử nghiệm

4 Đối tượng nghiên cứu

Phương pháp dạy học đọc hiểu VBTT theo định hướng phát triển năng lực cho HS phổ thông

5 Phạm vi nghiên cứu

5.1 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu phương pháp dạy học đọc hiểu VBTT theo định hướng phát triển năng lực cho HS cấp THPT

5.2 Không gian nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội cụ thể là 2 lớp 12A1 và 12A8 trường THPT Kim Liên (Hà Nội)

5.3 Thời gian nghiên cứu

Cuối tháng 2 đến giữa tháng 4 năm 2018

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Các phương pháp lý thuyết

Trang 10

- Phương pháp hồi cứu tài liệu: Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu như

giáo trình, tạp chí khoa học, bài báo liên quan đến vấn đề này, tác giả chọn lọc

những thông tin cần thiết làm cơ sở lý luận của đề tài

- Phương pháp tổng hợp – phân tích: Phân tích đặc điểm của VBTT, so

sánh VBTT với VB văn học, từ đó đánh giá được sự khác biệt của VBTT với

các loại văn bản khác

6.2 Phương pháp thực tiễn

Phương pháp khảo sát bằng phiếu phỏng vấn: Khảo sát nhận thức, hành

vi và thái độ của GV và HS phổ thông về việc dạy và học VBTT trong CT

Ngữ văn hiện nay

6.3 Phương pháp khác

Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp này để xử lý số

liệu, từ đó đánh giá thực trạng của đề tài

7 Đóng góp mới của đề tài

- Làm rõ thực trạng dạy học VBTT trong nhà trường THPT hiện nay

- Đề xuất những biện pháp dạy học VBTT theo định hướng phát triển

năng lực cho HS phổ thông, từ đó góp phần định hướng cho GV tổ chức các hoạt động dạy học phù hợp, hiệu quả, đáp ứng sự đổi mới của nền giáo dục

hiện nay

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài gồm 3 phần chính:

Chương 1: Cơ sở khoa học của việc đề xuất các biện pháp dạy học đọc hiểu VBTT theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh phổ thông

Trang 11

Chương 2: Đề xuất một số biện pháp dạy học VBTT theo định hướng phát triển năng lực cho HS phổ thông hiện nay

Chương 3: Thiết kế giáo án thử nghiệm

Trang 12

tin về thế giới tự nhiên và xã hội, cũng như hình thức thể hiện khác nhau của loại văn bản này như sách, tạp chí, bản tin, Internet…

Yuko Iwai (2007) cho rằng đây là loại văn bản được viết ra để truyền tải, giải thích những thông tin phi hư cấu, chứa đựng nhiều lớp từ kĩ thuật, yêu cầu người đọc phải có kiến thức nền phù hợp

Chương trình Tiếng Anh của Úc định nghĩa về VBTT (informative text) như sau: “Loại văn bản này bao gồm những kiểu văn bản cụ thể như văn bản giải thích và miêu tả các hiện tượng tự nhiên, văn bản thuật lại các sự kiện, văn bản hướng dẫn, văn bản trình bày các quy tắc và luật lệ, quy định cũng như những văn bản tường thuật tin tức ngắn gọn” [12, tr.137] Chương trình

Tiếng Anh của Úc đã chỉ rõ các hình thức của VBTT, nội dung chủ yếu của kiểu văn bản này là cung cấp thông tin về hiện tượng tự nhiên và xã hội, các quy tắc và luật lệ

VBTT trong khung CT Ngữ văn của một số nước tiên tiến trên thế giới được giảng dạy rất đa dạng về kiểu loại Chương trình Tiếng Anh của Singapore đã chia văn bản thông tin (informational text)/ văn bản chức năng

(functional text) thành hai tiểu loại: “văn bản thông tin (informational text)

Trang 13

(chẳng hạn như văn bản hành chính, văn bản kể lại sự thật việc thật, văn bản tường thuật thông tin và văn bản giải thích) thường trình bày các ý chính và

có những ý chi tiết hỗ trợ; còn văn bản trình bày, bình luận (exposition) lại trình bày mối liên hệ giữa các lập luận (chẳng hạn như tiểu sử, các bài báo, tạp chí, tập san)” [15, tr.34] Chương trình giáo dục của Singapore đã chia

VBTT thành hai tiểu loại với hai nội dung trình bày khác nhau: VB hành chính, VB tường thuật; trong đó VB giải thích có nhiệm vụ trình bày các nội dung chính với những ý nhỏ mang tính hỗ trợ, bổ sung; còn VB trình bày, giải thích (báo, tạp chí…) có nhiệm vụ trình bày mối liên hệ giữa các lập luận của người viết

Chương trình Tiếng Anh nghệ thuật của Mĩ xác định VBTT (informational texts) được dạy (từ chương trình mẫu giáo đến lớp 5) với

những loại cụ thể như: “văn bản phi hư cấu có tính văn chương (Literacy Nonfiction) gồm tiểu sử và tự truyện; văn bản về lịch sử, khoa học (Historical, Scientific Texts) gồm sách viết về lịch sử, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và nghệ thuật, văn bản thuộc lĩnh vực kỹ thuật (Technical Texts) gồm những văn bản hướng dẫn, những mẫu đơn và những văn bản trình bày về nhiều lĩnh vực được thể hiện dưới dạng đồ thị, biểu đồ, sơ đồ hoặc dữ liệu thông tin đã được số hóa, v.v.” [13, tr.31] Theo khung chương

trình này, VBTT được chia nhỏ thành 3 tiểu loại: VB phi hư cấu có tính văn chương; VB lịch sử, khoa học; VB thuộc lĩnh vực kỹ thuật Trong đó, mỗi tiểu loại gồm nhiều những kiểu sách hoặc nội dung với cách thức trình bày khác biệt

1.1.1.2 Ở Việt Nam

PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Nam khi nghiên cứu về các kiểu phân loại văn bản ở Việt Nam và trên thế giới đã chỉ ra có 2 loại văn bản chính: văn bản văn chương và văn bản thông tin Với những đặc trưng riêng, cách đọc VBTT

Trang 14

chương, với mục đích để trải nghiệm, giải trí, người đọc thường đọc kĩ toàn văn, chủ yếu kiếm tìm những kinh nghiệm, trí tuệ, cảm xúc và thẩm mĩ mà văn bản mang lại Trong khi đó, đối với VBTT, với mục đích lấy thông tin, người đọc có thể chỉ chọn lọc những đoạn thông tin cần thiết, tìm thông tin bằng mục lục, đọc tiêu đề để xác định nội dung đọc, đọc lướt để tìm từ khóa rồi đọc kĩ phần đó lấy thông tin [9, tr 44-45]

TS Phạm Thị Thu Hiền nghiên cứu về “Dạy – học đọc hiểu văn bản ở nhà trường phổ thông trong chương trình chuẩn của bang California (Hoa Kì)” đã đưa ra những số liệu so sánh tỉ lệ VB tác phẩm văn học với VB cung cấp thông tin Theo đó, ở lớp 4: 50% VB tác phẩm văn học – 50% VB cung cấp thông tin; ở lớp 8: 45% VB tác phẩm văn học – 55% VB cung cấp thông tin; đến lớp 12: 30% VB tác phẩm văn học – 70% VB cung cấp thông tin Tác giả chỉ ra chương trình giáo dục bang California đặc biệt quan tâm đến việc dạy học dạng văn bản cung cấp thông tin so với tác phẩm văn học [8, tr 45]

1.1.2 Một số vấn đề về văn bản thông tin

1.1.2.1 Khái niệm văn bản

Văn bản là một phương tiện trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Ở nhiều nước và các tổ chức trên thế giới, có nhiều quan niệm khác nhau về văn

bản

Thuật ngữ “Văn bản” trong Tiếng Anh có nghĩa là “text” “Text” có nguồn gốc từ tiếng Latin là “texere”: đan kết, dệt lại Do đó, khi nhắc tới “văn bản” người ta cho rằng đó là một chỉnh thể cấu trúc bao gồm ngôn ngữ và kí hiệu được đan kết với nhau một cách có hệ thống nhằm truyền tải một tư tưởng, thông điệp nào đó của người viết

Chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA, 2003) cho rằng: “VB được hiểu bao gồm tất cả những gì liên quan đến VB ngôn từ sử dụng các hình thức biểu tượng: viết tay, bản in và dạng điện tử Chúng cũng bao gồm cả các sản phẩm thị giác như biểu đồ, tranh ảnh, bản đồ, đồ thị và tranh hài hước, châm

Trang 15

biếm kèm theo ngôn ngữ viết” [17] Như vậy, quan niệm của PISA về văn bản

không chỉ bao gồm hệ thống ngôn từ ở các dạng thức khác nhau mà còn có thể là một đồ thị, một tranh ảnh mà chúng ta có thể đọc, phân tích và lí giải được một nội dung ý nghĩa nào đó

Chương trình giáo dục của Úc cũng đưa ra một định nghĩa khá rộng về

văn bản: “VB là phương tiện giao tiếp Những hình thức và qui ước của VB được phát triển để giúp chúng ta giao tiếp một cách hiệu quả với nhiều người khác nhau vì những mục đích khác nhau VB có thể được viết, nói hay đa phương thức và VB có thể dưới dạng in hay dạng số hoặc trực tuyến (digital/ online forms) VB đa phương thức có sự kết hợp của ngôn ngữ với những hệ thống giao tiếp khác như VB in, hình ảnh, âm thanh và ngôn từ như trong phim hay các phương tiện truyền thông và máy tính” (ACARA, 2013, tr 136)

Theo định nghĩa này, văn bản được coi là một phương tiện giao tiếp để trao đổi thông tin giữa người với người, được biểu hiện đa dạng ở mặt hình thức Quan điểm của Úc khác với PISA ở chỗ văn bản không chỉ bao gồm hệ thống ngôn ngữ kết hợp với hình ảnh mà còn có cả âm thanh như trong phim ảnh Trong SGK Ngữ Văn lớp 10 tập 1 (2017), văn bản được định nghĩa là

“sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, gồm một hay nhiều câu, nhiều đoạn” với những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, VB phải tập trung thể

hiện một chủ đề nào đó mà chủ đề đó được triển khai một cách trọn vẹn Thứ hai, VB được xây dựng với một kết cấu mạch lạc, các câu trong văn bản có sự liên kết chặt chẽ, phù hợp Thứ ba, mỗi VB có tính hoàn chỉnh về nội dung, thường có nhan đề mở đầu và kết thúc bằng hình thức thích hợp Thứ tư, VB

có mục đích thực hiện nhiệm vụ giao tiếp Đây là cách định nghĩa hẹp về VB Theo quan điểm trong SGK hiện hành, VB là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, sự tổ chức và sắp xếp hệ thống ngôn ngữ (câu/đoạn) làm nên văn bản Định nghĩa chỉ đề cập đến dạng VB viết, VB in ấn chứ chưa đề

Trang 16

cập đến dạng VB khác như VB nói hay hình thức biểu hiện đa dạng của VB (có thể là kí hiệu, hình ảnh, đồ thị hoặc kết hợp nhiều chất liệu khác)

Như vậy, thông qua các quan niệm khác nhau về VB, có thể thấy rằng

VB là một loại phương tiện ghi tin và truyền tải nội dung bằng hệ thống ngôn ngữ hoặc kết hợp giữa ngôn ngữ với các chất liệu khác (hình ảnh, kí hiệu, âm thanh, đồ thị…) VB tồn tại chủ yếu ở dạng nói và dạng viết, có tính tròn vẹn

về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức thể hiện

1.1.2.2 Khái niệm văn bản thông tin

a) Vấn đề về tên gọi văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn ở một số nước

Trong khung chương trình Tiếng Anh nghệ thuật của Hoa Kì, VB được chia thành hai loại là VB văn chương (literary texts) và VB thông tin (informational texts), ở hai nguồn in và không in Càng lên lớp cao, HS càng

(informative texts) và văn bản thuyết phục (persuasive texts) [12]

Khung chương trình Tiếng Anh của Anh thì khuyến khích HS đọc hai loại văn bản: văn bản hư cấu (fition texts) và văn bản phi hư cấu (non-fiction

texts) để phát triển năng lực [18]

Có thể thấy, vấn đề về tên gọi VBTT ở một số nước không có sự thống

nhất

b) Khái niệm văn bản thông tin

Trang 17

Theo Duke (2003) đã định nghĩa về VBTT, ông khẳng định rằng VBTT

+ Loại văn bản được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, gồm có: sách, tạp chí, thông cáo, bản tin, tài liệu quảng cáo, CD-ROMs, và Internet

[16, tr.16] Duke cho rằng tiểu sử hay văn bản miêu tả quy trình không được coi là VBTT

mà là văn bản phi hư cấu vì tiểu sử truyền tải thông tin về cuộc đời của một con người, văn bản miêu tả quy trình hướng dẫn thực hiện một điều gì đó Tiểu sử và văn bản miêu tả quy trình không cung cấp thông tin về các sự kiện liên quan đến tự nhiên và xã hội, không trình các phân lớp của sự việc Theo quan niệm của Duke, VBTT là văn bản trình bày về một chủ đề (có thể lặp lại), miêu tả thuộc tính hoặc các sự kiện liên quan đến tự nhiên và xã hội, có

sử dụng từ ngữ chuyên ngành, có hình ảnh trực quan như tranh ảnh, kí hiệu,

đồ thị, bảng biểu…, có mục lục, số trang để người đọc theo dõi

Chương trình giáo dục của Úc định nghĩa VBTT bao gồm những VB mà mục đích chính là cung cấp thông tin, như văn bản giải thích những hiện tượng tự nhiên, trình bày những sự kiện, các bản tin, thông báo, hướng dẫn, chỉ thị… [12]

Khi nghiên cứu định hướng đổi mới chương trình môn Ngữ văn, PGS.TS Đỗ Ngọc Thống đã xác định có ba loại VB được giảng dạy trong

chương trình Ngữ văn mới, trong đó VBTT được định nghĩa như sau: “Văn bản thông tin là kiểu văn bản nhằm cung cấp thông tin một cách trung thực,

Trang 18

kiện… Đây là loại văn bản rất gần gũi, thiết thực với đời sống; hết sức đa dạng và phong phú, nhưng có thể gom lại ở 2 kiểu: văn bản thuyết minh (chủ yếu là các văn bản khoa học viết về các hiện tượng tự nhiên, xã hội; các văn bản hướng dẫn cách làm hoặc sử dụng đồ dùng; giới thiệu danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử) và văn bản nhật dụng (hiểu theo nghĩa là những văn bản hành chính, mang tính thủ tục khuôn mẫu hàng ngày như đơn từ, giấy chứng nhận, bảo hiểm, biên bản, tờ khai…) [10] Trong chương trình Ngữ văn phổ

thông ở Việt Nam, nếu chia theo phương thức biểu đạt chúng ta có các loại văn bản, gồm: VB tự sự, VB miêu tả, VB biểu cảm, VB thuyết minh, VB hành chính - công vụ, VB nghị luận Có thể thấy với định nghĩa của PGS.TS

Đỗ Ngọc Thống, VBTT sẽ bao gồm 2 kiểu VB quen thuộc là VB thuyết minh

và VB hành chính – công vụ Đây là những kiểu VB gần gũi và thiết thực với đời sống, cung cấp tri thức khách quan về nhiều lĩnh vực, có những từ ngữ chuyên ngành, hướng dẫn cách thức trình bày, quy ước Định nghĩa này khác với định nghĩa của Duke ở chỗ đề cập đến một nội dung của VBTT, đó là hướng dẫn cách thức thực hiện hoặc sử dụng cái gì đó

Tóm lại, ở từng thời đại, từng quốc gia, từng cá nhân có những quan niệm khác nhau về VBTT Dựa trên những điểm chung của các định nghĩa, chúng ta có thể đưa ra một nhận định cơ bản: VBTT là loại văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống, bao gồm những văn bản cung cấp thông tin một cách khách quan về tự nhiên và xã hội; truyền đạt những nội dung, thông báo, yêu cầu nào đó bằng phương thức trình bày, giải thích, dùng số liệu… Ngôn ngữ trong VBTT phải chuẩn xác, khoa học, có kết hợp sử dụng những hình ảnh minh họa mang tính trực quan cụ thể (hình vẽ, kí hiệu, đồ thị, bảng…) giúp người đọc dễ theo dõi và tiếp nhận tri thức

1.1.2.3 Đặc điểm của văn bản thông tin

a) Đối tượng của VBTT

Trang 19

- VBTT là văn bản cung cấp thông tin về mọi lĩnh vực trong đời sống, bao gồm tự nhiên và xã hội Do đó đối tượng của VBTT rất đa dạng và phong

phú

b) Nội dung của VBTT

- Cung cấp những thông tin khách quan về các chủ đề, sự kiện, quá trình…

- Tri thức đòi hỏi xác thực, hữu ích cho con người, gắn liền với tư duy khoa học

c) Hình thức của VBTT

c.1) Ngôn từ

- Ngôn ngữ chính xác, cụ thể, đơn nghĩa

- Có những từ ngữ mang tính chuyên ngành, kĩ thuật

- Kết hợp với hình ảnh trực quan như bảng biểu, sơ đồ, hình ảnh, kí hiệu…

c.2) Thể loại

- VBTT cực kì đa dạng về mặt thể loại, có thể là bài báo khoa học, tạp chí, thông báo, bản tin, quảng cáo, đơn từ, công văn, bài phát biểu, bài hướng dẫn về cách làm, quy trình thực hiện…

- Các thể loại của VBTT được biểu hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau: viết, nói, đa phương thức (trong các phương tiện truyền thông và máy tính như phim, clips…)

c.3) Cách trình bày và kết cấu

- Cách trình bày VBTT khoa học, dễ theo dõi Hình thức tổ chức VBTT mạch lạc, rõ ràng, làm nổi bật thông tin chính và thông tin phụ Một VBTT có thể bao gồm các: tiêu đề lớn, têu đề phụ, nội dung (các đoạn/bài văn), bảng tra cứu thuật ngữ, mục lục, chú thích, hình ảnh minh họa, sơ đồ, bảng biểu, kí hiệu Ở từng phần khác nhau, cách thức trình bày về kiểu chữ, cỡ chữ, màu

Trang 20

trình phương pháp dạy đọc văn bản, PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Nam đã chỉ

ra các đặc điểm của VBTT được thể hiện cụ thể như sau:

Kiểu in chữ - chú ý đến những từ ngữ quan trọng

Chữ in đậm, in nghiêng,

tô màu, gạch dưới

- hiểu đây là từ ngữ quan trọng cần được chú ý

Cỡ, kiểu chữ - hiểu đây là từ ngữ quan trọng cần được chú ý Cách tổ chức VB - tìm thông tin, kết nối các ý

Tiêu đề VB - hiểu chủ đề của VB

- ước đoán được nội dung chính của VB

- dễ dàng theo dõi, bao quát được các phần VB

- dễ dàng tìm kiếm thông tin

Mục lục - hiểu được nội dung của cuốn sách cùng những

luận điểm, chủ đề quan trọng

- thấy được thứ tự trình bày và mối liên kết giữa những nội dung chính trong cuốn sách

- dễ dàng tìm được những nội dung chính theo

số trang được trình bày

Bảng tra cứu - thấy được các vấn đề được trình bày theo thứ

Trang 21

danh mục đã sắp xếp theo thứ tự A, B, C…

- hiểu các thuật ngữ được dùng trong VB

Lời nói đầu - hiểu được mục đích của VB, có cái nhìn khái

quát về nội dung của VB

Phụ lục - nắm được những thông tin bổ sung

Hình ảnh - dễ hình dung, tưởng tượng về nội dung thông

tin

Ảnh chụp - hiểu chính xác việc, sự vật trông như thế nào Hinh vẽ - hiểu sự vật, sự việc có thể trông như thế nào

Sơ đồ - hiểu các thông tin đã được đơn giản hóa

- hiểu các bước, quá trình cấu tạo hay hoạt động của sự vật

- hiểu trình tự sự kiện

Biểu đồ, đồ thị, bảng biểu - hiểu mối liên quan giữa các yếu tố

- dễ dàng tóm tắt và so sánh các thông tin

Bản đồ - biết sự vật ở đâu hay diễn ra ở đâu

Sơ đồ thời gian - hiểu trình tự thời gian diễn ra các sự kiện

- hiểu mối liên quan giữa các sự kiện

Hình minh họa - hiểu thông tin một cách trực quan

Cách trình bày thông tin - hiểu những thông tin mới và quan trọng

Dấu chấm hay gạch đầu

Trang 22

- Về kết cấu, một số VBTT được tổ chức theo mô hình: nguyên nhân – kết quả, trình tự thời gian, liệt kê, phân tích – đối chiếu, mô tả… Nắm được kết cấu về VB thông tin, người đọc có thể hình dung được cách tổ chức của

VB, từ đó đọc và tìm kiếm thông tin một cách nhanh và chính xác hơn

1.1.2.4 So sánh văn bản thông tin với văn bản văn học

a) Khái niệm và đặc điểm của văn bản văn học

a.1) Khái niệm văn bản văn học

Theo PSG.TS Đỗ Ngọc Thống, VB văn học là “những văn bản nhằm bộc lộ cảm xúc, tình cảm, tư tưởng (trực tiếp và gián tiếp) của người viết Văn bản văn học gồm các văn bản hư cấu (như truyện, tiểu thuyết, thơ, kịch bản văn học) và các văn bản văn học không hư cấu (chủ yếu là thể loại ký văn học: bút ký, tùy bút, nhật ký, hồi ký, phóng sự, du ký, tản văn…)” [10] Định

nghĩa này đã đề cập đến mục đích của VB văn học là truyền tải, bộc lộ quan điểm, tình cảm, thái độ của người viết một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Đồng thời theo định nghĩa, VB văn học gồm 2 loại văn bản: VB hư cấu và VB không hư cấu Đây là cách phân chia dựa theo yếu tố tưởng tượng, phi thực tế

có tồn tại hay không trong các thể loại

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Nam, VB văn học (hay VB văn chương) được định nghĩa là “VB sử dụng ngôn từ nghệ thuật làm chất liệu và

nội dung được thể hiện bằng hình tượng nghệ thuật” [9, tr 10]

SGK Ngữ Văn lớp 10, tập 2 đã khẳng định: “Văn bản văn học (truyện cổ tích, bài thơ, cuốn tiểu thuyết, thiên bút kí, vở kịch…) là những văn bản đi sâu phản ánh hiện thực khách quan và khám phá thế giới tình cảm và tư tưởng, thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người” [5, tr.117] SGK cũng đề cập đến chủ đề thường được thể hiện trong VB văn học là chủ đề tình yêu, hạnh phúc, băn khoăn hay đau khổ, khát vọng vươn lên sự hoàn thiện… với nhiều sắc thái khác nhau VB văn học được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật, có tính biểu tượng, đa nghĩa, sử dụng nhiều các biện pháp tu từ gợi lên nhiều liên

Trang 23

tưởng Ở từng loại VB văn học có những đặc điểm riêng, như thơ có thể thơ, luật, vần, câu thơ…; truyện có cốt truyện, nhân vật, lời thoại, tình huống…

Đó là ba tiêu chí để xác định về một VB có thuộc loại VB văn học hay không

Từ các định nghĩa trên, có thể khẳng định VB văn học là loại văn bản phản ánh đời sống, khám phá thế giới tư tưởng và tình cảm của con người, qua đó thể hiện quan điểm, thái độ, cảm xúc của tác giả Dựa theo phương thức biểu đạt, VB văn học bao gồm các kiểu VB như văn tự sự, văn miêu tả, văn biểu cảm; dựa theo thể loại, VB văn học gồm tiểu thuyết, truyện, thơ, hịch, cáo, chí, kịch, cổ tích, truyền thuyết, ngụ ngôn, truyện cười…Trong VB

văn học có chứa đựng yếu tố tưởng tượng, kì ảo

a.2) Đặc điểm của văn bản văn học

Về đối tượng, VB văn học chủ yếu khai thác hiện thực cuộc sống, đi sâu tìm hiểu hiện thực khách quan, những tư tưởng, tình cảm của con người Nội dung của VB văn học rất đa dạng và phong phú như tình yêu, chiến tranh, hòa bình, lí tưởng sống, khát vọng đổi đời, sự đau khổ cô đơn… Nội dung được thể hiện qua những hình tượng nghệ thuật Hình tượng trong VB văn học có thể là một nhân vật có thật được đưa vào tác phẩm như Hồ Chí

Minh trong Đêm nay Bác không ngủ, là nhân vật hư cấu do nhà văn tưởng tượng ra như cô Tấm trong cổ tích Tấm Cám, là nhân vật tôi do chính tác giả đảm nhiệm như chú bé Hồng trong Những ngày thơ ấu… Hình tượng nghệ

thuật không chỉ là con người mà còn có thể là một hình ảnh thiên nhiên, một

sự vật, một địa danh nào đó như hình ảnh Sóng của Xuân Quỳnh, địa danh Cô

Tô trong tác phẩm cùng tên của Nguyễn Tuân… Hình tượng nghệ thuật là phương tiện chứa đựng nội dung, ý nghĩa mà nhà văn muốn truyền tải tới người đọc Cảm nhận được hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, người đọc

sẽ suy ra được hàm nghĩa của bài Nội dung của VB văn học còn là tư tưởng, tình cảm của tác giả muốn gửi gắm, truyền tải ở đó Đọc hiểu các tác phẩm,

Trang 24

người đọc có thể cảm nhận và đồng cảm với suy nghĩ, tình cảm, thái độ của tác giả về một vấn đề nào đó

Về hình thức, VB văn học có những đặc điểm sau:

- Ngôn từ trong VB văn học có tính thẩm mĩ, giàu ý nghĩa, có sự trau chuốt, gọt giũa Việc lựa chọn và sắp xếp câu từ, kiểu từ (láy, ghép) tạo nên một vẻ đẹp hấp dẫn cho tác phẩm Ngôn từ trong VB văn học có tính đa nghĩa, biểu tượng cao

- Thể loại của VB văn học rất đa dạng và phong phú về như hịch, cáo, chí, tiểu thuyết, truyện, thơ, kịch, cổ tích, truyền thuyết, truyện cười, ngụ ngôn, hồi kí… Ở mỗi một thể loại có những đặc trưng và quy ước riêng

- Trong từng thể loại có cách thức trình bày linh hoạt và kết cấu đa dạng, phù hợp với mục đích, ý đồ của tác giả, từ đó góp phần tạo sự độc đáo, nét hấp dẫn riêng biệt cho tác phẩm

b) So sánh văn bản thông tin và văn bản văn học

Dựa vào những đặc điểm của VBTT và VB văn học đã trình bày ở trên, chúng ta có thể lập bảng so sánh như sau:

Giống Đều phản ánh hiện thực đời sống

- Cung cấp tri thức khách

quan về nhiều lĩnh vực tự

nhiên và xã hội Tri thức đòi

hỏi xác thực, hữu ích cho con

người

- Miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên, ca ngợi hoặc phê phán đời sống/ con người, bày tỏ quan điểm, tình cảm, thái độ của tác giả

- Gồm: Bài báo khoa học, tạp

chí, thông báo, bản tin, quảng

cáo, đơn từ, công văn, bài

phát biểu, bài hướng dẫn về

- Gồm: Hịch, cáo, chí, tiểu thuyết, truyện, thơ, kịch, cổ tích, truyền thuyết, truyện cười, ngụ ngôn, hồi kí…

Trang 25

Khác

cách làm, quy trình thực

hiện…

- Tồn tại dưới nhiều dạng

thức khác nhau: viết, nói, đa

phương thức (trong các

phương tiện truyền thông và

máy tính như phim, clips…)

- Tồn tại chủ yếu ở dạng in ấn, sân khấu hóa, kể chuyện, ngâm thơ

- Đáp ứng nhu cầu tìm hiểu

thông tin của con người

- Đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ của con người

- Không có tính hư cấu, tưởng

tượng

- Có tính hư cấu, tưởng tượng

- Gắn với tư duy khoa học - Gắn với tư duy hình tượng

- Kết cấu logic, chặt chẽ - Kết cấu linh hoạt tùy thuộc vào

1.1.2.5 Vai trò của văn bản thông tin

Đối với CT giáo dục đổi mới dạy học theo định hướng phát triển năng lực, việc đưa VBTT vào CT Ngữ văn là điều cần thiết VBTT rất thông dụng

Trang 26

và phổ biến trong các phương tiện mà hằng ngày HS tiếp xúc như SGK, báo, tạp chí, quảng cáo…Thông qua việc đọc hiểu VBTT, các em hình thành và phát triển được những kiến thức về đời sống tự nhiên và xã hội, nâng cao khả năng hiểu biết về nhiều lĩnh vực đời sống, biết cách trình bày một nội dung một cách khoa học, theo quy ước, vận dụng được những tri thức để giải thích

và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tế, có thái độ đúng đắn, tích cực trong cuộc sống Dạy học VBTT sẽ phát triển vốn sống, năng lực cá nhân cho HS trong việc hòa nhập với cộng đồng và cải tạo cuộc sống, đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới

1.1.3 Dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực

Dạy học theo CT phổ thông hiện hành tập trung định hướng nội dung, cung cấp lí thuyết, trang bị kiến thức chủ yếu cho người học Kết quả của dạy học định hướng nội dung là sự quá tải, người học không thể ghi nhớ được hết kiến thức và người dạy không thể dạy xuể Người học buộc phải nhớ nhiều, nhớ một cách máy móc và cứng nhắc trong khi những kiến thức đó không vận dụng vào cuộc sống, các em không phát triển được bản thân Đứng trước tình hình đó, Bộ GD&ĐT đã đổi mới giáo dục chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang nền giáo dục chú trọng việc hình thành phát triển năng lực, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học Thay vì chú trọng vào kiến thức, dạy học quan tâm đến phát triển kĩ năng và năng lực cho HS, trong đó kiến thức cơ bản, kĩ năng thực hành là bước cơ sở nhưng còn lại nội dung phương pháp dạy học phải tập trung vào phát triển phẩm chất người học

Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (2017) đã vạch ra các năng

lực và phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho HS Về phẩm chất,

CT hướng đến 5 phẩm chất chủ yếu là: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm Về năng lực, CT hướng đến 10 năng lực cốt lõi gồm những năng lực chung và năng lực riêng Những năng lực chung được tất cả các môn

Trang 27

học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển, gồm: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học, hoạt động giáo dục nhất định Đó là: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, CT giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của HS [3] Dựa trên các năng lực mà Bộ GD&ĐT đề xuất, PGS.TS Phạm Minh Diệu đã đề xuất 3 năng lực chuyên biệt cần hình thành cho HS trong dạy học môn Ngữ Văn ở trường phổ thông: năng lực đọc hiểu, năng lực tạo lập văn bản và năng lực sử dụng Tiếng Việt [7, tr 54-55] Đọc hiểu VB là hoạt động tiếp nhận VB của người đọc – cụ thể là người học trong phạm vi lớp học, được chỉ dẫn và có sự đánh giả Các cấp độ mô tả yêu cầu cơ bản của đọc hiểu văn bản là:

1 Nhận biết

- Kể lại câu chuyện, nêu tên nhân vật, tóm tắt cốt truyện

- Thuộc lòng đoạn/ bài thơ, nhớ chính xác từ ngữ…

- Không nhầm lẫn tên tác giả, tên tác phẩm, dân tộc, quốc gia, thời đại…(gắn với tác phẩm đó)

2 Thông hiểu

- Xác định đặc điểm thể loại, hình thức bố cục, tình huống truyện, mô tả hoạt động, tính cách nhân vật, xác định tư tưởng, phong cách nhà văn (qua tác phẩm, đoạn trích), giá trị (hay đặc điểm) nội dung, nghệ thuật của tác phẩm

- Xác định cảm xúc chủ đạo, ý chính của đoạn, nội

Trang 28

dung chính của bài thơ hoặc các bài kí, xác định đặc điểm nghệ thuật, đặc trưng loại thể, đặc điểm phong cách nhà văn…

- Xác định hoàn cảnh, tính cách nhân vật và mâu thuẫn, xung đột trong kịch; phát hiện ý nghĩa của xung đột

3 Vận dụng

Thấp

- Vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết các vấn đề bình thường trong phạm vi học tập, nhà trường và cuộc sống cá nhân…với yêu cầu sáng tạo bình thường

Cao

- Vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết các vấn đề tương đối khó trong phạm vi cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội với yêu cầu sáng tạo cao, có chủ kiến cá nhân

Bảng 1.3 Bảng mô tả yêu cầu cơ bản của đọc hiểu văn bản [7]

Tạo lập VB tương ứng với kĩ năng nói, viết trong phần Tập làm văn Sau khi được học cách thức tạo lập VB (văn miêu tả, tự sự, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận…) HS có thể nói hoặc viết theo yêu cầu của đề bài Năng lực sử dụng tiếng Việt gắn liền với đọc hiểu và tạo lập VB, có những tiêu chí đánh giá như sau: Người học hiểu được chính xác các từ ngữ, đoạn văn, bài văn, xác định được giá trị của các yếu tố ngôn ngữ trong việc thể hiện nội dung, giá trị thẩm mĩ; viết đúng yêu cầu ngữ pháp, diễn đạt ý mạch lạc, trôi chảy, hấp dẫn…

Trong phương pháp dạy học (PPDH) theo định hướng phát triển năng lực, để tạo điều kiện cho người học hình thành và phát triển các năng lực trên,

GV cần sử dụng hợp lí và linh hoạt các biện pháp dạy học (BPDH) nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và điều kiện dạy học cụ thể Bên cạnh các phương pháp truyền thống quen thuộc như thuyết trình, đàm thoại, trực quan, làm mẫu, có thể kể một số PPDH và kĩ

Trang 29

thuật dạy học (KTDH) tích cực, phát huy tối đa khả năng học tập của người học:

- PPDH: Đàm thoại, dạy học theo nhóm, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học đóng vai, dạy học dự án…

- KTDH: Khăn trải bàn, bể cá, sơ đồ tư duy, động não, KWLH…

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Văn bản thông tin trong CT, SGK Ngữ Văn THPT

Hiện nay, CT Ngữ văn (CT chuẩn và CT nâng cao) chưa có khái niệm về VBTT Tuy nhiên HS đã được học một số bài thuộc kiểu VBTT, cụ thể:

1 Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh

10

10

2 Lập dàn ý bài văn thuyết minh

3 Viết bài làm văn số 4: Văn thuyết minh (bài làm ở nhà)

4 Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết minh

5 Trả bài làm văn số 4

6 Phương pháp thuyết minh

7 Viết bài làm văn số 5: Văn thuyết minh

8 Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh

9 Tóm tắt văn bản thuyết minh

Trang 30

18 Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003

12

19 Tư duy hệ thống – nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy

20 Văn bản tổng kết

21 Luyện tập viết văn bản tổng kết

Bảng 1.4 Thống kê số lượng VBTT trong CT Ngữ văn THPT

(CT chuẩn và CT nâng cao) Dựa trên đặc điểm của các bài, ta thấy rằng VBTT được giảng dạy ở cả hai phân môn Văn học (Đọc hiểu) và Làm văn Cụ thể xem bảng 1.5 dưới đây:

Phương pháp thuyết minh Viết bài làm văn số 5: Văn thuyết minh Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh Tóm tắt văn bản thuyết minh

Trả bài làm văn số 5 Viết bài làm văn số 6: Thuyết minh văn học (bài làm ở nhà) Trả bài làm văn số 6

Viết quảng cáo

Trang 31

Bản tin

11 Luyện tập viết bản tin

Tiểu sử tóm tắt Luyện tập viết tiểu sử tóm tắt Văn bản tổng kết

12 Luyện viết văn bản tổng kết

Bảng 1.5 VBTT được giảng dạy ở hai phân môn

Từ 2 bảng trên, ta thấy trong CT Ngữ văn hiện hành, VBTT bao gồm các kiểu văn bản: VB thuyết minh, VB nhật dụng và VB hành chính – công vụ Tuy nhiên không bao gồm tất cả, VBTT vẫn loại ra một số văn bản hành chính, nhật dụng

1.2.2 Thực trạng dạy và học văn bản thông tin ở lớp 12 (CT cơ bản) thông qua phiếu điều tra – đánh giá

1.2.2.1 Mục đích điều tra – đánh giá

Để tìm hiểu thực tế dạy học VBTT hiện nay, đề tài này đã tiến hành phỏng vấn GV và đánh giá trắc nghiệm hành vi, thái độ và kết quả học tập của

HS

1.2.2.2 Các nội dung điều tra – đánh giá

a) Khảo sát GV

Phiếu phỏng vấn GV gồm 11 câu hỏi trắc nghiệm và một câu hỏi dạng

tự luận để lấy ý kiến tự do

Các câu hỏi trắc nghiệm đặt ra các vấn đề:

(1)- Sự nhận thức của GV về VBTT

(2)- Hứng thú của GV đối với VBTT

(3)- Điều tra về tài liệu, SGK phục vụ quá trình dạy học VBTT

(4)- Điều tra đồ dùng, thiết bị phục vụ quá trình dạy học VBTT

(5)- Đánh giá của GV về việc tổ chức, quản lý lớp học khi học VBTT

Trang 32

(7)- Đánh giá của GV về kết quả tạo lập VBTT (cụ thể là làm văn thuyết minh) của HS

(8)- Đánh giá của GV về hứng thú của HS khi học VBTT

(9)- Đánh giá của GV về tính thiết thực của các tri thức và kỹ năng trong các bài học VBTT

(10)- Đánh giá của GV về tính hệ thống của các bài học VBTT

(11)- Đánh giá của GV về tính vừa sức của các bài học VBTT

(12)- Ý kiến tự do về nội dung, phương pháp dạy học VBTT

(Nội dung phiếu khảo sát thực tế, xem phụ lục số 1)

(3)- Kiểm tra chất lượng tiếp thu VBTT

(4)- Môi trường học tập của HS liên quan đến VBTT

(Nội dung khảo sát thực tế, xem phụ lục số 2)

1.2.2.3 Thời gian, địa bàn, số lượng điều tra

- Thời gian: Từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2018

- Địa bàn: THPT Kim Liên (Hà Nội)

- Số lượng điều tra:

+ Phỏng vấn GV: 10GV bộ môn Ngữ Văn trong tổ chuyên môn

+ Phỏng vấn HS: Số lượng HS tham gia được thể hiện trong bảng 1.6 dưới đây:

Trang 33

STT Lớp Số lượng tham gia Kết quả

Phát ra Thu vào

Bảng 1.6 Số lượng HS tham gia điều tra – đánh giá

1.2.2.4 Kết quả điều tra

Trang 34

Bảng 1.7 Kết quả phỏng vấn GV bằng phiếu trắc nghiệm

(Ghi chú: Trên bảng xử lý làm tròn tỉ số % theo chương trình Excel)

Nhận xét:

(1)- Về các phiếu trắc nghiệm, đáng lưu ý là:

a Các trường THPT đã đảm bảo về cơ sở vật chất, thiết bị và đồ dùng dạy học theo yêu cầu của CT, SGK

b Hứng thú của GV đối với VBTT tương đối thấp Đa phần các GV nghiêng về hứng thú đối với văn bản văn học hơn (50%)

Trang 35

c Nhiều GV không cho rằng VBTT có ý nghĩa thiết thực so với các văn bản truyền thống như kể chuyện, miêu tả, nghị luận (50% trả lời ở mức trung bình và yếu)

d Đánh giá về tiếp thu kiến thức của HS có 30% xếp loại trung bình và yếu; trong khi đó, về kết quả rèn luyện kỹ năng tạo lập VBTT của HS, có 40% xếp loại trung bình và yếu

(2)- Về câu hỏi tự do:

Đa số GV đều thống nhất ở những điểm sau:

a Tỉ lệ HS khá, giỏi môn Ngữ Văn nói chung, trong những năm gần đây

bị giảm thiểu Số đông HS đạt trung bình khá; một bộ phận bị xếp loại yếu kém

b Hứng thú với môn Ngữ Văn (trong đó có VBTT) ở nhiều trường THPT bị giảm, giờ học Văn thường trầm, nhiều em học cầm chừng, đối phó

c Trong quá trình đọc hiểu VBTT, nhiều HS chưa biết chọn lọc ý để lấy thông tin, chưa đánh giá sự vật, hiện tượng dưới nhiều góc độ khác nhau, khả năng liên hệ thực tế để so sánh, đối chiếu thông tin còn chưa cao

d Trong quá trình tạo lập VBTT, nhiều HS đôi khi không xác định đúng yêu cầu về đối tượng nên còn lạc đề Ngoài ra, những lỗi về trình bày đúng quy cách, diễn đạt, dùng từ, đặt câu vẫn còn khá phổ biến trong các bài viết của các em

e Một số khó khăn của GV khi tổ chức dạy học kiểu VBTT trong CT

Ngữ văn 12 là:

- Việc thiết kế dạy học kiểu VBTT theo đổi mới phương pháp nhằm thu hút HS tích cực trong giờ học đòi hỏi nhiều thời gian, công sức trong khi lại thiếu nguồn tài liệu hướng dẫn, tham khảo nên GV cũng gặp nhiều khó khăn

- Kiểm tra đánh giá không ra đề VBTT nên GV không muốn dành nhiều thời gian dạy chi tiết kiểu văn bản này

Trang 36

Kết quả phỏng vấn HS về thực trạng học VBTT có thể được mô tả qua bảng sau:

23 26,0

11 12,0

2 Hứng thú của HS khi

học VBTT

5 6,0

16 18,0

49 54,0

20 22,0

3 Chất lượng tiếp thu

VBTT

12 13,0

43 48,0

21 23,0

14 16,0

4 Môi trường học tập

VBTT

9 10,0

33 37,0

35 39,0

13 14,0

Bảng 1.8 Kết quả phỏng vấn HS bằng phiếu trắc nghiệm

(Ghi chú: Trên bảng xử lý làm tròn tỉ số %) Nhận xét: Qua bảng 1.8 ta thấy:

- Các điều kiện về cơ sở vật chất đảm bảo cho HS học tập và rèn luyện các nội dung liên quan đến VBTT được HS cho là đảm bảo tương đối tốt Có 47% HS đánh giá loại khá và tốt

- Mức độ tiếp thu kiến thức về VBTT của HS đạt chủ yếu ở mức khá (43%) và trung bình (21%) Đặc biệt, mức độ tiếp thu của HS ở mức yếu (16%) lại lớn hơn mức giỏi (13%)

- Về mức độ hứng thú của HS đối với VBTT đạt tỉ lệ khá thấp Chỉ có 5% xếp loại tốt

Trang 37

có hứng thú học tập và giảng dạy Thứ tư, thi cử không ra đề vào VBTT nên

HS không cần học

VBTT trong SGK THPT hiện hành chưa có những bài giới thiệu về di tích lịch sử, báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội, giới thiệu một sự kiện chính trị hoặc kinh tế; mô tả, giải thích một thí nghiệm; giới thiệu một cuốn sách hay một luật lệ trong trò chơi hoặc hoạt động… Có thể thấy, số lượng VBTT ở cấp THPT vừa chiếm tỉ lệ ít ỏi (lớp 11 có 4 VBTT; lớp 12 có 2 VBTT) vừa thiếu tính đa dạng, phong phú về nội dung Cấp độ tri thức ở các VBTT này đều đơn giản, ít phát huy được khả năng tư duy của HS

1.3 Tiểu kết chương 1

Chương 1 đã trình bày những nội dung về VBTT Ở mỗi quốc gia, mỗi thời đại khác nhau cách đặt tên cho VBTT có sự khác biệt Nhưng điểm thống nhất giữa các khái niệm là VBTT là loại VB thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống, bao gồm những VB cung cấp thông tin một cách khách quan về tự nhiên và xã hội Đề tài nêu rõ những đặc điểm tiêu biểu của VBTT, so sánh VBTT với VB văn học Dạy học đọc hiểu VBTT là điều cần thiết trong nhà trường, bởi VBTT hình thành và phát triển cho HS những tri thức về tự nhiên

xã hội, biết cách vận dụng kiến thức để giải thích và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tế, có thái độ đúng đắn, tích cực trong cuộc sống, qua đó đáp ứng nhu cầu của thời đại mới

Trang 38

Đề tài cũng đã thống kê số lượng VBTT trong CT Ngữ văn phổ thông, phân loại VBTT thành 3 tiểu loại nhỏ là VB thuyết minh, VB hành chính và

VB nhật dụng Không bao gồm tất cả, VBTT vẫn loại ra một số VB hành chính, nhật dụng VBTT có mặt trong các phân môn Đọc hiểu và Làm văn ở

CT Ngữ văn phổ thông Đồng thời khảo sát thực trạng dạy học VBTT trong nhà trường phổ thông, tác giả cho rằng VBTT đã được dạy học tại trường THPT với kết quả tương đối tốt, tuy nhiên chưa thực sự được chú trọng trong hoạt động dạy học bởi nhiều yếu tố Đây là nguyên nhân dẫn đến hứng thú của GV và HS trong dạy học VBTT chưa cao và kết quả dạy học chưa được như ý muốn

Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn như trên đã giúp tác giả xác lập cơ sở khoa học cho việc đề xuất một số biện pháp dạy học VBTT theo định hướng phát triển năng lực cho HS trong nhà trường phổ thông

Trang 39

CHƯƠNG 2

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC VĂN BẢN THÔNG TIN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG 2.1 Một số nguyên tắc đề xuất

2.1.1 Bám sát mục đích, yêu cầu của CT phổ thông hiện hành

Trong CT Ngữ văn hiện nay, chưa có khái niệm VBTT Tuy nhiên, VBTT có tồn tại trong các kiểu VB khác là: VB thuyết minh, VB hành chính,

VB nhật dụng Không bao gồm tất cả, VBTT vẫn loại ra một số VB hành chính, nhật dụng Vì vậy, muốn đề xuất các biện pháp dạy học (BPDH) phù hợp dạy VBTT, cần bám sát các mục đích, yêu cầu của dạy học của VB thuyết minh và một số bài thuộc kiểu VB hành chính và VB nhật dụng

Mục đích, yêu cầu của dạy học VB thuyết minh là sự cụ thể hóa mục tiêu dạy học làm văn nói riêng và môn Ngữ văn nói chung Mục tiêu này được thể hiện trong các tài liệu hướng dẫn GV, với tùy từng bài cụ thể

Theo Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn (2006), “mức độ

cần đạt” của VB thuyết minh ở lớp 10 là:

- Hoàn thiện kiến thức về VB thuyết minh (đặc điểm, yêu cầu và phương pháp thuyết minh, các hình thức kết cấu của VB thuyết minh)

- Biết cách tóm tắt VB thuyết minh, biết trình bày miệng một VB thuyết minh trước tập thể

- Biết viết đoạn văn, bài văn thuyết minh có sự kết hợp các phương thức biểu đạt, biết điều chỉnh dung lượng của bài văn [1, tr 110]

Với một số bài cụ thể (xếp vào VBTT nhưng chưa được gọi tên), “mức

độ cần đạt” là:

- Hiểu mục đích, đặc điểm, nội dung, yêu cầu và cách tạo lập văn bản quảng cáo; hiểu tầm quan trọng của tính ấn tượng và tính trung thực trong quảng cáo

- Biết viết các văn bản quảng cáo thông thường [1, tr.111]

Trang 40

Như vậy CT lớp 10 ôn tập, củng cố, nâng cao và hoàn thiện kiến thức, kĩ năng tạo lập VB thuyết minh HS học xong lớp 10 phải có khả năng thuần thục làm văn thuyết minh, đồng thời hiểu và tạo lập được văn bản quảng cáo Lên lớp 11, HS được tiếp cận VBTT ở một số bài là “Bản tin”, “Tiểu sử tóm tắt” “Mức độ cần đạt” đối với những kiểu bài cụ thể này là:

- Hiểu mục đích, nội dung, đặc điểm, yêu cầu và cách thức viết bản tin, bản tóm tắt tiểu sử

- Biết viết một bản tin về một sự việc, hiện tượng trong nhà trường hoặc đời sống xã hội, biết viết bản tóm tắt tiểu sử của một nhân vật [1, tr 122] Như vậy sau khi học xong hai bài này, HS phải trình bày được những đặc điểm, yêu cầu cách thức viết bản tin và tiểu sử tóm tắt, rèn luyện kĩ năng tạo lập bản tin và viết tiểu sử của một con người cụ thể

Ở lớp 12, HS được học VBTT ở 2 kiểu loại: VB hành chính và VB nhật dụng “Mức độ cần đạt” của VB hành chính, cụ thể là “Văn bản tổng kết” như sau:

- Hiểu mục đích, nội dung, đặc điểm, yêu cầu và cách thức viết VB tổng kết, biết vận dụng kiến thức để đọc – hiểu, lĩnh hội các VB tổng kết trong SGK, biết viết các VB tổng kết về những vấn đề gắn với học tập và sinh hoạt của cá nhân, của lớp, của trường [1, tr.131]

Ngày đăng: 02/07/2021, 10:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w