Xuất phát từ tính ưu việt của phương pháp dạy học dự án, cùng với đặc điểm về tính thực tiễn và tính chất tích hợp của nhóm bài này, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Dạy học nhóm bài v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
DẠY HỌC NHÓM BÀI VỀ PHONG CÁCH NGÔN NGỮ VÀ VĂN BẢN BÁO CHÍ (NGỮ VĂN 11, TẬP 1) THEO
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới Ban giám hiệu, cùng các Thầy, Cô và cán bộ các Phòng – Ban Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình
Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Thị Thanh Phượng, giảng viên khoa Sư phạm, trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tâm hướng dẫn, hỗ trợ, động viên, khuyến khích và dành những tình cảm tốt đẹp cho tôi trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu và đội ngũ giáo viên trường THPT Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội đã tạo điều kiện về thời gian, vật chất tinh thần cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Tôi cũng hết lòng biết ơn sự quan tâm, giúp đỡ, ủng hộ của gia đình, người thân, bạn bè để tôi có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Mặc dù gặp đã có nhiều cố gắng song khóa luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những sai xót và hạn chế Do đó, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, nhận xét và phản biện từ quý thầy cô và các bạn
Kính chúc quý thầy cô và các bạn sức khỏe!
Sinh viên thực hiện
Trần Bích Hằng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Cấu trúc khóa luận 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Tổng quan về dạy học dự án 6
1.1.1 Khái niệm dạy học dự án 6
1.1.2 Các loại dự án 8
1.1.2.1 Phân loại theo lĩnh vực hoạt động của dự án 8
1.1.2.2 Phân loại theo nội dung chuyên môn 8
1.1.2.3 Phân loại theo quy mô 8
1.1.2.4 Phân loại theo tính chất công việc 9
1.1.3 Đặc điểm dạy học dự án 9
1.1.4 Quy trình triển khai dự án 12
1.1.4.1 Chuẩn bị dự án 13
1.1.4.2 Triển khai dự án 17
1.1.4.3 Báo cáo dự án 17
1.1.4.4 Đánh giá và rút kinh nghiệm sau dự án 18
1.1.5 Lợi ích và hạn chế của dạy học dự án 18
Trang 61.1.5.1 Lợi ích của dạy học dự án 18
1.2.5.2 Hạn chế của dạy học dự án 20
1.2 Thực trạng dạy học nhóm bài về phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí ở trường THPT 20
1.2.1 Đặc trưng kiến thức phân môn Tiếng Việt và Làm văn 20
1.2.2 Đặc điểm của nhóm bài “Phong cách ngôn ngữ báo chí”, “Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn”, “Bản tin” (Ngữ văn 11, tập 1) 22
1.2.3 Khảo sát thực trạng dạy học nhóm bài “Phong cách ngôn ngữ báo chí”, “Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn”, “Bản tin” (Ngữ văn 11, tập 1) 23
1.2.3.1 Đối tượng khảo sát 23
1.2.3.2 Kết quả khảo sát 24
Tiểu kết chương 1 30
CHƯƠNG 2: DẠY HỌC NHÓM BÀI VỀ PHONG CÁCH NGÔN NGỮ VÀ VĂN BẢN BÁO CHÍ QUA DỰ ÁN “HƯỚNG VỀ BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG” 31
2.1 Giới thiệu khái quát về dự án “Hướng về biển đảo quê hương” 31
2.2 Quy trình xây dựng dự án “Hướng về biển đảo quê hương” 32
2.2.1 Xác định mục tiêu 32
2.2.2 Xây dựng ý tưởng dự án – Thiết kế các hoạt động 35
2.2.3 Xây dựng ý tưởng hình thức sản phẩm 37
2.2.4 Lập kế hoạch đánh giá và thiết kế công cụ đánh giá 38
2.2.4.1 Lập kế hoạch đánh giá 38
2.2.4.2 Thiết kế công cụ đánh giá 39
2.2.5 Xây dựng kế hoạch của dự án 40
Trang 72.2.5.1 Giáo án theo mẫu Intel 40
2.2.5.2 Giáo án chi tiết bài dạy 48
2.3 Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án 54
2.3.1 Công bố dự án 54
2.3.2 Thực hiện dự án 54
2.3.3 Báo cáo dự án 55
2.3.4 Đánh giá, rút kinh nghiệm 55
Tiểu kết chương 2 58
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 59
3.1 Mục đích thực nghiệm 59
3.2 Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm 59
3.3 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 59
3.4 Nội dung thực nghiệm 60
3.5 Kết quả thực nghiệm 60
3.5.1 Kết quả bài kiểm tra sau dự án 60
3.5.2 Ý kiến phản hồi của HS 61
3.5.3 Ý kiến đánh giá của GV bộ môn 63
Tiểu kết chương 3 66
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 71
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1.1 Sản phẩm và sự thể hiện năng lực của HS 15 Bảng 2.1 Sản phẩm của dự án “Hướng về biển đảo quê hương” 37 Bảng 2.2 Mô tả nhận thức của HS với nhóm bài về phong cách
ngôn ngữ và văn bản báo chí
55
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 1.1 Mức độ sử dụng PPDH khi dạy học nhóm bài về phong
cách ngôn ngữ và văn bản báo chí của GV
24
Biểu đồ 1.2 Mức độ thường xuyên lấy ý kiến phản hồi của HS 26
Biểu đồ 1.3 Đánh giá của HS về hiệu quả của các PPDH 27 Biểu đồ 1.4 Tần suất sử dụng và mức độ hài lòng của HS về các
PPDH được sử dụng
28
Biểu đồ 3.1 Kết quả bài kiểm tra sau khi kết thúc dự án 61 Biểu đồ 3.2 Mức độ hứng thú của HS đối với PPDHDA 62
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế kỉ XXI là thế kỉ bùng nổ và phát triển mạnh mẽ một loạt những xu thế như toàn cầu hóa, quốc tế hóa, hội nhập, hợp tác, phát triển nền kinh tế tri thức…Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã trở thành những nhân tố tác động lớn tới tất cả các mặt của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục Muốn bắt kịp với bước đi của thời đại, nền giáo dục của Việt Nam phải có những đổi mới mạnh
mẽ, sâu sắc, toàn diện, nhằm đào tạo cho đất nước một nguồn lực lao động chất lượng cao, có đầy đủ năng lực và phẩm chất thiết yếu cho thời đại mở cửa như: biết thích ứng một cách có hiệu quả trước những thay đổi; luôn nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, phát huy tinh thần tự lực tự cường trong lao động, học tập… Muốn vậy, chủ trương đẩy mạnh đổi mới từ chương trình, nội dung cho đến các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học của nền giáo dục nước ta là điều cấp thiết
Mục đích của quá trình đổi mới phương pháp dạy học là tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, tổ chức và hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu, phát hiện giải quyết vấn đề trên cơ sở tự giác, tự do tranh luận, đề xuất giải pháp, được tạo khả năng và điều kiện chủ động trong các hoạt động học tập Các phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm như phương pháp dạy học theo dự án hoàn toàn phù hợp với mục đích trên Đây là phương pháp học tập nhằm phát triển kiến thức và
kĩ năng cho HS thông qua một nhiệm vụ mở, đòi hỏi HS phải nghiên cứu và thể hiện kết quả học tập của mình thông qua cả sản phẩm lẫn phương thức thực hiện và có sự
hỗ trợ của công nghệ cho hoạt động học tập
Nhóm bài về phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí gồm các bài “Phong cách ngôn ngữ báo chí”, “Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn”, “Bản tin” là nhóm bài có giá trị thực tiễn cao, đồng thời có tác dụng thiết thực đến việc phát triển nhiều năng lực cần thiết cho HS thời kì mở cửa (năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực
tự học, năng lực ngôn ngữ…) Nội dung kiến thức các bài học đều là những nội dung
Trang 11áp sát với thực tế và được sử dụng trong đời sống hàng ngày Hơn nữa, nhóm bài này gồm các bài học có mối liên kết chặt chẽ và có thể tiến hành dạy học tích hợp để bổ sung cho nhau Bởi vậy, phương pháp dạy học theo dự án hoàn toàn phù hợp với nhóm bài này, qua đó giúp GV tạo động lực học tập và kích thích niềm say mê, yêu thích của HS đối với môn Ngữ văn
Xuất phát từ tính ưu việt của phương pháp dạy học dự án, cùng với đặc điểm
về tính thực tiễn và tính chất tích hợp của nhóm bài này, chúng tôi chọn đề tài nghiên
cứu: “Dạy học nhóm bài về phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí (Ngữ văn 11,
tập 1) theo phương pháp dạy học dự án”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu đã sớm tìm hiểu về PPDHDA để có những đổi mới trong phương pháp dạy học Có rất nhiều công trình khoa học, luận văn, luận án nghiên cứu về PPDHDA đã bổ sung cho hệ thống cơ sở lý luận cho phương pháp dạy học tích cực này Nhờ đó PPDHDA dần được quan tâm, trở thành một trong những
đề tài nghiên cứu hấp dẫn dành cho những người đi sau Công trình nghiên cứu của
Đỗ Hương Trà (2007), “Dạy học theo dự án và tiến trình thực hiện” đã đưa ra những
nội dung cốt lõi về cơ sở lý luận của dạy học dự án và đề xuất một quy trình dạy học
dự án hiệu quả, phù hợp với môi trường học tập tại Việt Nam Luận văn thạc sĩ sư
phạm Sinh học của Đặng Hòa Hiểu (2009) với đề tài “Tổ chức dạy học dự án trong chương trình sinh học lớp 11” đã đưa ra một vài đề xuất cụ thể về quy trình dạy học
dự án cho kiến thức từng phần (chương) trong chương trình sinh học lớp 11 Về môn
hóa học, có thể kể đến luận án tiến sĩ Giáo dục học của Phạm Hồng Bắc (2013), “Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học phần hóa học phi kim chương trình Hóa học Trung học phổ thông” đã đưa ra những quan điểm mới mẻ, mang tính
thực tiễn cao khi áp dụng PPDHDA vào dạy học môn hóa học Ngoài các công trình nghiên cứu trên còn có các bài viết mang tính chuyên khảo đăng trên các báo, tạp chí khoa học Tiêu biểu là bài viết và nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Cường và
Trang 12Nguyễn Thị Diệu Thảo (Tạp chí Giáo dục, số 80, 4/2004) với tên bài là “Dạy học theo dự án – một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên” đã đề xuất
các phương án vận dụng, các dạng và tiến trình dạy học dự án trong đào tạo GV nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Hướng tới việc vận dụng PPDH theo dự án vào chương trình dạy Ngữ văn phổ
thông có thể kể đến luận văn Thạc sĩ của Phạm Thị Thúy Chinh (2012), “Tổ chức dạy học dự án phần văn học nước ngoài chương trình Ngữ văn 11 Trung học phổ thông” Ngoài ra còn có các khóa luận tốt nghiệp của sinh viên chuyên ngành Ngữ
văn cũng hướng tới nghiên cứu quy trình tổ chức dạy học dự án như khóa luận tốt
nghiệp của Nguyễn Thị Hanh (2011), “Vận dụng dạy học dự án vào dạy học tự chọn môn Tiếng Việt lớp 4”; Huỳnh Thị Thanh Mai (2015), “Vận dụng dạy học dự án dựa trên dự án ở trường trung học” Các nghiên cứu trên đã góp phần đưa PPDHDA đến
gần hơn với thực tiễn và gần hơn với môn Ngữ văn, tạo nên một không khí mới cho mỗi tiết học Văn trong nhà trường phổ thông
Đối với nhóm bài về phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí gồm ba bài học
“Phong cách ngôn ngữ báo chí”, “Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn”, “Bản tin” hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu cụ thể về việc thiết kế dạy học dự án cho nhóm bài này Tuy nhiên, nhận thấy tính chất tích hợp của nhóm bài nên đã có không
ít những sáng kiến kinh nghiệm, những chuyên đề dạy học do GV tại các trường phổ thông thiết kế nhằm giảm tải thời lượng học tập, giúp HS vận dụng những kiến thức
và kĩ năng đã học vào thực tiễn học tập cũng như đời sống
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một quy trình dạy học dự án cho nhóm bài về phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí nhằm nâng cao chất lượng dạy học nhóm bài này nói riêng và môn Ngữ văn nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 13- Hệ thống hóa những vấn đề cơ sở lí luận liên quan đến đề tài
- Tìm hiểu thực trạng dạy học nhóm bài phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí
và khả năng áp dụng phương pháp dạy học dự án đối với nhóm bài này
- Đề xuất quy trình tổ chức dạy học dự án khi dạy học nhóm bài này
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhóm bài này theo phương pháp dạy học dự án
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc dạy học nhóm bài “Phong cách ngôn ngữ báo chí”, “Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn, “Bản tin” (Ngữ văn 11, tập 1) theo phương pháp dạy học dự án
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nhóm bài về phong cách ngôn ngữ và văn bản bảo chí: Phong cách ngôn ngữ báo chí, phỏng vấn và trả lời phỏng vấn, bản tin (Ngữ văn 11, tập 1)
- Đối tượng khảo sát và thực nghiệm: lớp 11D2 trường THPT Yên Hòa, Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm nghiên cứu lí thuyết
Phương pháp phân tích, tổng hợp để chọn lọc những tài liệu, thông tin cần thiết
về dạy học dự án và dạy học nhóm bài về phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí
5.2 Nhóm nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: phiếu hỏi được xây dựng một cách logic,
có nguyên tắc, dựa theo nội dung của đề tài nhằm thu nhận thông tin đáp ứng yêu cầu của đề tài
- Phương pháp phỏng vấn: phương pháp này được thực hiện với một số thầy cô dạy môn Ngữ Văn trường THPT Yên Hòa Những câu hỏi phỏng vấn được chuẩn bị trước đáp ứng yêu cầu của đề tài và kiểm tra tính xác thực của bảng hỏi
- Phương pháp thực nghiệm: tiến hành triển khai dự án, đánh giá sản phẩm của học sinh
Trang 14- Phương pháp thống kê toán học: phương pháp này được sử dụng nhằm xử lý các
số liệu sau khi thực hiện phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khóa luận gồm có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Dạy học nhóm bài về phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí (Ngữ văn
11, tập 1) qua dự án “Hướng về biển đảo quê hương”
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan về dạy học dự án
1.1.1 Khái niệm dạy học dự án
Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng Latinh và ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một “đề án”, một “dự thảo” hay một “kế hoạch”, cần được thực hiện nhằm đạt mục đích đề ra Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội và trong nghiên cứu khoa học Sau đó, khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn sử dụng như một hình thức hay phương pháp dạy học
Đầu thế kỉ XX, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án (The Project Method) và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan
điểm dạy học định hướng vào người học, nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học
truyền thống - xem người dạy là trung tâm Ban đầu PPDHDA được sử dụng trong dạy học thực hành các môn học về kỹ thuật, sau đó được dùng trong hầu hết các môn học khác PPDHDA đã được sử dụng phổ biến trong các trường Phổ thông và Đại học trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển Hiện nay, PPDHDA đang nhận được
sự quan tâm của nhiều cá nhân và các tổ chức giáo dục Cũng chính vì thế mà xuất hiện nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về PPDHDA
Theo tổ chức BIE trong cuốn sách “Bruch Institute for Education” các nhà giáo
dục đưa ra khái niệm: “Dạy học theo dự án như là một phương pháp dạy học có hệ thống, có sự tham gia của HS trong học tập kiến thức và kĩ năng thông qua quá trình điều tra mở rộng cấu trúc xung quanh câu hỏi xác thực phức tạp thận trọng trong thiết kế những sản phẩm và nhiệm vụ” [3;45]
Theo Intel (Mỹ): DHDA là một hình thức dạy học, trong đó HS thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn liền với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành và
Trang 16đánh giá kết quả Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được [8; 32]
Bộ giáo dục Singapore cho rằng: “Học theo dự án là hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho HS tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập, và áp dụng một cách
sáng tạo vào thực tế cuộc sống” [15; 12] Ở đây DHDA chú trọng vào hoạt động
của người học, là một chuỗi hoạt động dựa trên động cơ bên trong của HS nhằm khám phá và phát hiện một phần của thực tế (thông qua các chuỗi hoạt động thực tế, thực hiện nghiên cứu, khám phá các ý tưởng theo sở thích, tìm hiểu và xây dựng kiến thức; học liên môn, giải quyết các vấn đề, cộng tác với các thành viên trong nhóm…)
Theo cục Giáo dục Hồng Kông: Dạy học theo dự án là một hoạt động tìm hiểu sâu về một chủ đề cụ thể với mục tiêu tạo cơ hội để HS thực hiện nghiên cứu vấn đề thông qua việc kết nối các thông tin, phối hợp nhiều kỹ năng giá trị và thái
độ nhằm xây dựng kiến thức và phát triển khả năng và thái độ học tập suốt đời
[15;13]
Theo tác giả Đỗ Hương Trà: Dạy học dự án là một mô hình dạy học lấy hoạt động của HS là trung tâm Kiểu dạy này phát triển kiến thức kĩ năng của HS thông qua quá trình HS giải quyết một bài tập tình huống gắn với thực tiễn bằng những kiến thức theo nội dung môn học – được gọi là dự án Dự án đặt HS vào vai trò tích cực như: người giải quyết vấn đề, người ra quyết định, điều tra viên hay người viết báo cáo Thường thì HS sẽ làm việc theo nhóm và hợp tác với chuyên gia bên ngoài
và cộng đồng để trả lời các câu hỏi và hiểu sâu hơn nội dung, ý nghĩa của bài học Học theo dự án đòi hỏi HS phải nghiên cứu và thể hiện kết quả học tập của mình thông qua cả sản phẩm lẫn phương thức thực hiện [5;29]
Như vậy, có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về dạy học dự án Nhiều tác giả coi dạy học dự án là một tư tưởng hay một quan điểm dạy học Cũng
có người coi là một hình thức dạy học vì khi thực hiện một dự án, có nhiều phương
Trang 17pháp dạy học cụ thể được sử dụng Tuy nhiên, cũng có thể coi dạy học dự án là một PPDH phức hợp
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về dạy học theo dự án nhưng nhìn chung các định nghĩa đều có những điểm cơ bản chung và có sự thống nhất với nhau
về quan điểm Trên cơ sở cho rằng dạy học dự án là một PPDH phức hợp cũng như xuất phát từ việc học của học sinh, chúng tôi đưa ra định nghĩa về dạy học dự án như
sau: Dạy học theo dự án là một hình thức (phương pháp) dạy học, trong đó người
học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, thực hành, tạo ra sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện
Dự án liên môn (bao gồm nhiều môn học khác nhau)
Dự án ngoài chương trình (dự án không liên quan trực tiếp đến nội dung các môn học trong chương trình học tập của người học)
1.1.2.3 Phân loại theo quy mô
Người ta phân ra các dự án: nhỏ, vừa, lớn dựa vào:
Trang 18 Thời gian, chi phí
Số người tham gia: nhóm, tổ, lớp, liên trường…
Phạm vi tác động (ảnh hưởng) của dự án: trong trường, ngoài trường, khu vực…
K Frey (2005) đề nghị cách phân chia như sau:
Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2 đến 6 giờ
Dự án trung bình: thực hiện trong một ngày đến một tuần hoặc 40 giờ học
Dự án lớn: thực hiện với quỹ thời gian lớn, trên một tuần và có thể kéo dài hàng tháng
1.1.2.4 Phân loại theo tính chất công việc
Dự án “tham quan và tìm hiểu”
Dự án “nghiên cứu, học tập”
Dự án “tuyên truyền giáo dục, quảng cáo, tiếp thị sản phẩm”
Dự án “tổ chức thực hiện các hoạt động xã hội”
1.1.3 Đặc điểm dạy học dự án
Trong các tài liệu về dạy học dự án có rất nhiều đặc điểm được đưa ra Các nhà sư phạm Mỹ đầu thế kỉ XX khi xác lập cơ sở lý thuyết cho phương pháp dạy học này đã nêu ra ba đặc điểm cốt lõi của dạy học theo dự án: định hướng học sinh, định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm Có thể cụ thể hóa các đặc điểm của dạy học theo dự án như sau:
Định hướng thực tiễn: chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của thực
tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm của dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng nhận thức của người học Các dự án học tập có ý nghĩa thực tiễn xã hội, góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội Trong những trường hợp lí tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực
Trang 19Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập
phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án
Mang tính phức hợp, liên môn: nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều
lĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một nhiệm vụ, vấn đề mang tính phức hợp
Định hướng hành động: trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên
cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học
Tính tự lực của người học: trong dạy học theo dự án, người học cần tham gia tích
cực, tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của học sin và mức độ khó khăn của nhiệm vụ
Cộng tác làm việc: các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó
có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm Dạy học theo dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng công tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội
Định hướng sản phẩm: trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra
không chỉ giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết, mà trong đa số trường hợp các
dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu
Trang 20Trong dạy học dự án có nhiều thành tố liên quan với nhau rất mật thiết: người học, giáo viên, nội dung, phương tiện dạy học, môi trường và thời gian thực hiện dự án …
Cấu trúc của dạy học dự án
Người học
Người học là trung tâm của dạy học dự án, người học không hoạt động độc lập mà làm việc theo nhóm, đóng vai là những người thuộc các lĩnh vực khác nhau, có
nhiệm vụ hoàn thành vai trò của mình theo mục tiêu đã đề ra
Khi thực hiện nhiệm vụ được giao, người học tự quyết định cách tiếp cận vấn đề
và các hoạt động cần phải tiến hành để giải quyết vấn đề
Trong dạy học dự án người học cần hoàn thành dự án với những sản phẩm cụ thể
có ý nghĩa và giá trị nhất định đối với bản thân và xã hội
Người dạy
Trong suốt quá trình dạy học, vai trò của giáo viên là định hướng, tổ chức, tư vấn, giám sát, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho người học thực hiện dự án và thông qua đó phát triển các năng lực của bản thân
Giáo viên tạo điều kiện cho người học lựa chọn và thể hiện vai trò phù hợp với nội dung chủ đề học; hỗ trợ người học hoàn thành vai trò đó
Tạo môi trường học tập, chỉ dẫn, gợi lên những nghi vấn và thúc đẩy sự hiểu biết sâu hơn của người học
Hướng dẫn người học tập trung vào tìm hiểu, giải quyết vấn đề và thực hiện những nhiệm vụ cụ thể của dự án
Cho phép và khuyến khích người học tự kiến tạo nên kiến thức của bản thân
Nội dung dạy học
Trang 21Nội dung dạy học được người học tiếp thu trong quá trình thực hiện dự án Nội dung dạy học cần theo sát chương trình học và có phạm vi kiến thức liên môn Khi thiết kế dự án, cần phải chọn những nội dung dạy học có mối liên hệ với cuộc sống
ở môi trường ngoài lớp học, hướng tới những vấn đề của thế giới thật
Phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học trong dạy học dự án là sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, máy tính, internet, các phương tiện trình chiếu… Người học cần được tạo điều kiện
sử dụng công nghệ thông tin khi sản xuất một ấn phẩm, khi trình bày vấn đề
Môi trường và thời gian thực hiện dự án
Dự án có thể chỉ giới hạn trong phạm vi lớp học và có độ dài khoảng 1-2 tiết, hoặc
có thể vượt ra ngoài phạm vi lớp học và kéo dài trong suốt năm họ
1.1.4 Quy trình triển khai dự án
Để dạy tốt và đảm bảo người học tham gia tích cực vào quá trình học, dù giáo viên dạy theo phương pháp nào thì cũng cần có kế hoạch và sự chuẩn bị thích hợp dạy học theo dự án cũng không ngoại lệ Khi thiết kế dự án, điều quan trọng và phải chắc chắn rằng việc lập kế hoạch các hoạt động sẽ giúp HS nhận ra được mục tiêu hoạt động dự kiến Nếu không bám sát vào mục tiêu dạy học, mục đích của dự án
sẽ mơ hồ và kết quả học tập mong đợi từ phía học sinh có thể bị hiểu sai lệch Để
Trang 22có một dự án bám sát mục tiêu bài học, liên hệ tốt với thực tế, rèn luyện được cho
HS những kĩ năng cần thiết, làm cho HS thực sự thích thú và có tính khả thi cao thì việc thiết kế quy trình dự án cần trải qua 4 giai đoạn cơ bản sau:
Chuẩn bị Triển khai Báo cáo Đánh giá và rút kinh nghiệm
1.1.4.1 Chuẩn bị dự án
Khâu chuẩn bi ̣là khâu quan trong Khi GV có sự chuẩn bị kĩ càng sẽ đem đến
sự định hướng tốt cho HS thực hiện và hoàn thành thành công dự án
Trong khâu chuẩn bị có thể chia ra những bước chính như sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu dự án cần xây dựng
GV nên bắt đầu thiết kế dự án bằng việc nghĩ đến các sản phẩm cuối cùng
GV cần xác định những gì học sinh phải biết và có thể làm được khi kết thúc dự án
Cụ thể, GV cần xác định mục tiêu dự án từ chuẩn bị kiến thức bài học và các kĩ năng
cơ bản, những kĩ năng tư duy bậc cao và những kĩ năng thế kỉ XXI và những năng lực mà bài học tích hợp hướng tới
Bước 2: Xây dựng ý tưởng dự án – Thiết kế các hoạt động
Những hoạt động dự án phải thiết kế sao cho đáp ứng được các nhu cầu hoạt động và nghiên cứu của người học đối với môn học, liên hệ với thực tiễn cuộc sống của học sinh Khi soạn kế hoạch hoạt động, GV cần phát triển những kịch bản dự án sao cho chúng có thể đem lại những trải nhiệm học tập phong phú cho HS Các kịch bản cho một dự án hay sẽ đặt người học vào những vai năng động Trong đó, các em phải đưa ra những quyết định, chủ động hoàn tất các phần việc trong dự án, làm việc công tác với nhau và cùng xây dựng kiến thức Một kịch bản hay cần:
- Đặt ra cho HS những nhiệm vụ đòi hỏi sự nỗ lực hoạt động, phải có ý nghĩa
- Có tính thực tiễn
- Nhắm đến các chuẩn kiến thức và kĩ năng và bám sát mục tiêu dạy học
Trang 23GV cần kết hợp mục tiêu học tập với các vấn đề thực tiễn mang tính thời sự, những vấn đề được cộng đồng quan tâm để xây dựng ý tưởng dự án và xây dựng mô phỏng những vai có thật trong xã hội và yêu cầu học sinh nhập vai để thực hiện dự án nhằm kích thích hứng thú và lôi cuốn các em
Bước 3: Xây dựng bộ câu hỏi định hướng
GV cần xây dựng bộ câu hỏi định hướng để hướng dẫn dự án và giúp HS tập trung vào những ý tưởng quan trọng, những khái niệm mấu chốt của bài học Câu hỏi khái quát phải thú vị, độc đáo, lôi cuốn người học Câu hỏi bài học và câu hỏi nội dung phải bám sát mục tiêu và có tính định hướng cho HS khi thực hiện dự án đó Cụ thể,
bộ câu hỏi định hướng bao gồm:
Câu hỏi khái quát: Là câu hỏi có phạm vị rộng, bao quát toàn bộ nội dung dự án
Nó là cầu nối giữa môn học và bài học, xuyên suốt nhiều lĩnh vực
Câu hỏi bài học: Câu hỏi bài học bó hẹp trong một chủ đề hoặc một bài học cụ thể, nó mang tính chất hỗ trợ và phát triển câu hỏi khái quát
Câu hỏi nội dung: Hầu hết các câu hỏi này chú trọng vào sự kiện hơn là giải thích
sự kiện và thường có câu trả lời rõ ràng
Bước 4: Xây dựng kế hoạch dự án
Kế hoạch dự án là bản chi tiết dự án: mục tiêu, tiến trình thời gian, nhiệm vụ cụ thể của GV và HS, cách thức tiến hành, phương tiện cần thiết, các sản phẩm và phương thức đánh giá… GV cần cung cấp cho HS kế hoạch dự án để HS nắm rõ được tiến trình triển khai dự án và thống nhất, cùng lên kế hoạch thực hiện nhiệm vụ Kế hoạch dự án thường được thể hiện dưới form mẫu của Intel – Hồ sơ dạy học Mẫu hồ
sơ dạy học của Intel được trình bày tại chương 2
Bước 5: Lập kế hoạch đánh giá và xây dựng các tiêu chí đánh giá
Trang 24Trong kế hoạch dự án cần xây dựng và cụ thế hóa công cụ kiểm tra đánh giá Bộ công cụ này cần nêu rõ được những yêu cầu, tiêu chí đánh giá cho từng HS GV lập lịch trình đánh giá để đánh giá việc học của học sinh vào những thời điểm khác nhau trong suốt dự án, tại các thời điểm quan trọng hay vào cuối dự án Trước khi tiến hành dự án, GV có thể thiết kế một số câu hỏi để đánh giá nhu cầu về kiến thức và kĩ năng của HS liên quan đến dự án sắp thực hiện và nôi dung bài học Trong quá trình thực hiện dự án, GV có thể thiết kế một số công cụ đánh giá để khuyến khích HS tự định hướng, đánh giá sự tiến bộ của người học như: bộ câu hỏi định hướng, phiếu quan sát nhóm, phiếu phản hồi bạn học, phiếu tự đánh giá và đánh giá nhóm, tiêu chí đánh giá sản phẩm dự án… Và sau khi kết thúc dự án, GV tiến hành đánh giá tổng kết quá trình thực hiện dự án của các nhóm thông qua sản phẩm mà các em làm được
Kế hoạch đánh giá phải đảm bảo mọi đối tượng HS đều được tham gia quá trình này
GV có thể lập các phương tiện công nghệ để việc đánh giá và phản hồi được liên tục, thuận lợi như Wiki, Google Drive, Facebook, Forum…
Đặc biệt, dạy học dự án chú trọng tới việc đánh giá sản phẩm của người học, đó là những gì HS sáng tạo ra hoặc xây dựng nên sau khi hoàn thành nhiệm vụ của dự án, qua đó thể hiện những kiến thức và kĩ năng các em có được sau quá trình học tập theo
dự án Một số sản phẩm và sự thể hiện năng lực của HS được trình bày trong bảng sau
Bảng 1.1 Sản phẩm và sự thể hiện năng lực của HS
Báo cáo Nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu khoa học, bài báo để đăng
tạp chí, các đề nghị về chính sách
Thiết kế Thiết kế các sản phẩm, trang trí nội thất, lên kế hoạch xây
dựng hoặc trang trí trường học, các phương án giao thông Xây dựng Các mẫu thiết kế, máy móc, triển lãm, tranh ảnh, trang trí
Trang 25Các bài viết Thư gửi cho biên tập, cột giành cho độc giả của một tờ báo
địa phương hoặc ấn phẩm cộng đồng, bình luận phim ảnh, viết truyện
Sản phẩm
nghệ thuật
Làm đồ gốm, điêu khắc, làm thơ, đồ mỹ nghệ, tranh áp phích, hoạt hình, tranh tường (bích hoạ), nghệ thuật cắt dán ảnh, vẽ tranh, viết bài hát, viết lời thoại phim
Bài trình bày Đề cương thuyết phục, bài phát biểu gây cảm hứng, tranh
luận ủng hộ-phản đối, bài thuyết trình nhiều thông tin, phân tích nghiên cứu và kết luận, bản tin trên đài
Thể hiện kỹ
năng
Các qui trình tại phòng thí nghiệm khoa học, hướng dẫn,
kỹ năng thể thao, dạy hoặc cố vấn cho học sinh lớp dưới, những nhiệm vụ theo yêu cầu
Trang 26Mô phỏng Phiên tòa, sự kiện lịch sử, đóng vai
Bước 6: Xây dựng nguồn tài nguyên tham khảo
GV có thể xây dựng nguồn tài nguyên hỗ trợ để đảm bảo việc tìm kiếm thông tin của HS đúng hướng, đúng mục tiêu đã đặt ra Tài nguyên hỗ trợ HS có thể là sách báo, website…
1.1.4.2 Triển khai dự án
Công tác triển khai dự án có thể bao gồm các bước sau:
Bước 1: Công bố dự án
Bước công bố dự án này được thực hiện trong giai đoạn đầu của dự án Việc công
bố dự án bao gồm công bố mục tiêu, nội dung, chủ đề, công cụ đánh giá….của dự án
để HS biết về dự án và có định hướng cho hoạt động học tập sau này GV cần công
bố công khai, cụ thể, chi tiết, rõ ràng trước toàn thể lớp học
Công bố dự án còn cần được công bố trước nhà trường Điều này cho phép GV huy động được mọi nguồn lực giúp đỡ và công khai bài học trước toàn trường
Bước 2: Thực hiện dự án
Quá trình thực hiện dự án chiếm một lượng lớn thời gian cố định Trong giai đoạn này, GV là người theo sát hoạt động cuẩ mỗi nhóm để tiếp tục hỗ trợ và định hướng cho HS
HS thực hiện nhiệm vụ học tập bằng việc tìm kiếm thông tin, có sự tương tác, trao đổi giữa các nhóm HS là người làm chủ quá trình học tập của chính mình Tạo ra sản phẩm cụ thể là quan trọng nhưng cần quan tâm và hình thành cho HS những kĩ năng cần thiết như phương pháp học tập, sự hợp tác, sự sáng tạo…
1.1.4.3 Báo cáo dự án
Trang 27Sau khi dự án được hoàn thành thì cần đem công bố HS sẽ nộp lại ấn phẩm của nhóm cho GV GV sẽ công bố biên bản đánh giá của các nhóm, nhận xét và cho điểm nhóm cũng như từng cá nhân trong nhóm
Trong buổi công bố, HS sẽ đảm nhận mọi vị trí, GV quan sát, lắng nghe và nhận xét ưu nhược điểm
1.1.4.4 Đánh giá và rút kinh nghiệm sau dự án
GV và HS sẽ lần lượt đánh giá sản phẩm của từng nhóm theo các tiêu chí đã đề
ra và thống nhất giữa GV và HS Một sản phẩm khác nhau sẽ có những tiêu chí đánh giá khác nhau GV đánh giá người học, HS tự đánh giá cá nhân và đánh giá trong nhóm Những nhận xét của GV cần mang tính khích lệ, thúc đẩy HS hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình
Rút kinh nghiệm sau quá trình tổng kết thực hiện dự án là một khâu rất quan trọng Mục đích của hoạt động rút kinh nghiệm là nhằm kiểm tra dự án cũng như mục tiêu
đã đề ra Đồng thời, việc đánh giá cũng nhằm mục đích rút kinh nghiệm để hoàn thiện hơn cho những dự án sau
1.1.5 Lợi ích và hạn chế của dạy học dự án
1.1.5.1 Lợi ích của dạy học theo dự án
Đối với học sinh
Tăng sự chuyên cần, tự tin của HS và cải tiến đáng kể thái độ học tập Dạy học theo dự án tạo cơ hội cho HS thể hiện những quan điểm mạnh của bản thân nên
dù một HS học không giỏi cũng có thể tự tin thể hiện mình để giúp nhóm hoàn thành
dự án
Rất nhiều nghiên cứu cho thấy dạy học dự án nâng cao chất lượng dạy học cụ thể là kết quả học tập của lớp học theo dự án bằng hoặc tốt hơn so với lớp học tập
Trang 28bằng những mô hình học tập khác HS tham gia vào các dự án chịu trách nhiệm lớn
hơn so với các hoạt động trong lớp học truyền thống
Tạo cơ hội cho HS phát triển các kĩ năng tư duy bậc cao chẳng hạn như xác
định, giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định
Giúp HS hình thành và phát triển kĩ năng hợp tác và giao tiếp Các dự án đều đòi hỏi HS phải cùng làm việc theo nhóm học tập, do vậy hợp tác nhóm là kĩ năng thiết yếu để giúp HS hoàn thành tốt dự án Muốn có nhiều thông tin bổ ích cho dự án,
HS cần biết cách giao tiếp với mọi người và đặc biệt là các chuyên gia Các thuyết
về nhận thức đều cho rằng học tập là một hoạt động xã hội và HS học tập được nhiều
hơn trong môi trường có sự cộng tác
Phát triển kĩ năng tự định hướng: Dự án đòi hỏi HS phải tham gia vào những bài tập phức tạp nhằm giúp các em phát triển những kĩ năng tổ chức, quản lý thời
gian và tự định hướng
Hình thành cho HS những kĩ năng thế kỉ XXI, đây là những kĩ năng quan
trọng, cần thiết cho công việc và cuộc sống ngoài đời của HS
Mọi đối tượng HS đều hưởng lợi: Những HS hưởng lợi nhiều nhất từ dạy học theo dự án thường là những HS có khuynh hướng không hứng thú với phương pháp dạy học truyền thống Trong cách học này, những HS trước đây thường rụt rè, nhút nhát trong lớp bắt đầu trở nên năng nổ hơn do các em có cơ hội thể hiện những điều mạnh của bản thân với tất cả mọi người Ngoài ra, sự tiếp cận nhiều cơ hội học tập
đa dạng trong lớp học sẽ tạo điều kiện tham gia cho những HS đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau Đối với nhiều HS, tính hấp dẫn của phương pháp dạy học theo dự án
xuất phát từ tính xác thực và kinh nghiệm thực tiễn
Đối với giáo viên
Dạy học theo dự án tạo điều kiện cho GV nâng cao tính chuyên nghiệp và hợp tác giữa các đồng nghiệp cũng như cơ hội để xây dựng mối quan hệ tốt với học sinh
Trang 29GV cảm thấy yêu nghề hơn khi xây dựng được một dự án mang tính hiệu quả cao và làm cho HS của mình thích thú, yêu môn học hơn
1.1.5.2 Hạn chế của dạy học theo dự án
Không phải bất cứ bài học nào cũng áp dụng được dạy học theo dự án Dạy học theo dự án không phù hợp với những bài mang tính lý thuyết trừu tượng, kiến thức
hệ thống
Phương pháp này không hữu hiệu trong dạy học sinh tính toán, giải mã…
Dạy học theo dự án không thể thay thế hoàn toàn mà là hình thức bổ sung khi cần thiết cho các phương pháp dạy học truyền thống
1.2 Thực trạng dạy học nhóm bài về phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí ở trường THPT
1.2.1 Đặc trưng kiến thức phân môn Tiếng Việt và Làm văn
Phân môn Tiếng Việt
Về vị trí, phân môn Tiếng Việt là một khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ, là
một công cụ để giao tiếp xã hội
Về mặt kiến thức, phân môn Tiếng Việt chú trọng đến việc cung cấp tri thức
cơ bản về từ vựng, ngữ pháp, các hoạt động giao tiếp, phong cách ngôn ngữ và các
biện pháp tu từ Ngoài ra có một số kiến thức khác liên quan đến từ Hán Việt…
Mục tiêu đào tạo của bậc THPT đối với phân môn Tiếng Việt là thành tạo các
kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết Mục tiêu cụ thể là hình thành, phát triển kiến thức về ngôn ngữ nói chung, tiếng Việt nói riêng, rèn luyện, phát triển các kĩ năng sử
dụng tiếng Việt và đặc biệt chú trọng tới việc phát triển năng lực giao tiếp cho HS
Như vậy, trong dạy học Tiếng Việt chú ý đặc biệt tới chức năng giao tiếp của các đơn vị ngôn ngữ Đó chính là quan điểm dạy học tiếng Việt gắn liền với quan điểm giao tiếp Khi dạy học GV cần tạo ra những tình huống giao tiếp giả định, có sự
Trang 30kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành, từ đó mới có thể rèn luyện và phát triển
tất cả các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho HS
Phân môn Làm văn
Có thể nói, kĩ năng làm văn là thước đo năng lực ngôn ngữ, vốn văn học, vốn sống, sự phát triển nhân cách… của HS sau một giai đoạn học tập Tiếng Việt và Văn học Chính điều này đã rêu rõ và khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng của phân môn
làm văn
Về mặt kiến thức, phân môn đặc biệt chú trọng vào việc giới thiệu cho HS các loại, kiểu văn bản trong cuộc sống từ tự sự, biểu cảm, nghị luận… cho đến các loại,
kiểu văn bản ứng dụng như báo chí, đơn từ, quảng cáo…
Đây là phân môn nhấn mạnh đến việc hình thành, rèn luyện kĩ năng tạo lập văn bản Hệ thống kĩ năng tạo lập văn bản GV cần rèn luỵen cho HS cụ thể là: Tìm hiểu – phân tích đề; Tìm ý, lập dàn ý; Diễn đạt (Dùng từ, đặt câu, viết đoạn, liên kết đoạn); Trình bày (Chữ viết, bố cục, cách trích dẫn, kết hợp các phương tiện hỗ trợ)
Do phân môn làm văn đòi hỏi mục tiêu về kĩ năng nhiều hơn các phân môn khác nên các tiết học Làm văn cần được tăng cường giờ thực hành, HS cần được giao nhiều nhiệm vụ khác nhau, thực hành trong nhiều hoàn cảnh khác nhau để có thể dần dần
hình thành những kĩ năng cần thiết khi làm văn
Do phân môn làm văn chú trọng vào việc HS thể hiện được kĩ năng tạo lập văn bản nên hình thức kiểm tra đánh giá thường hướng đến việc kiểm tra kĩ năng viết
đoạn/bài văn hoàn chỉnh
Như vậy, đặc điểm chính của phân môn Làm văn chính là thực hành Điều đó
có nghĩa là GV phải là người có sự linh động, khéo léo sử dụng các phương pháp dạy học tích cực để khích lệ và tạo cơ hội cho HS được thực hành nhiều hơn trong tiết
học Làm văn
Trang 31Những tiền đề để vận dụng phương pháp dạy học dự án vào dạy học Tiếng
Việt và Làm văn:
Đặc thù của phân môn Tiếng Việt và Làm văn đều có một điểm chung là HS phải thực hành những kiến thức, kĩ năng đã được học để tạo ra sản phẩm (sản phẩm của hoạt động giao tiếp hoặc một văn bản hoàn chỉnh) còn phương pháp dạy học dự
án là phương pháp được đưa ra nhằm vận dụng kiến thức liên môn, đa môn giải quyết
một nhiệm vụ phức hợp
Phân môn Tiếng Việt và Làm văn đều đòi hỏi tính thực hành cao, phương pháp
dạy học dự án hướng đến tính thực tiễn cao
Phân môn Tiếng Việt và Làm văn trong chương trình SGK được sắp xếp khá đồng đều, các bài học trong mỗi tuần phần lớn đều mang tính tích hợp giữa Tiếng Việt và Làm văn Chính sự sắp xếp khoa học đó tạo điều kiện cho GV nhìn thấy mối liên kết và thiết kế những dự án cho các bài học thuộc phân môn Tiếng Việt và Làm
HS những tri thức về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản báo chí, cách tạo lập một bản tin và cách thực hiện một cuộc phỏng vấn, trả lời phỏng vấn hiệu quả Bởi những văn bản sử dụng ngôn ngữ báo chí rất phổ biến và thường gặp trong đời sống nên HS cần
Trang 32nắm vững những tri thức về kiểu văn bản này, từ đó dễ dàng nắm bắt thông tin từ văn bản cũng như thành thạo kĩ năng tạo lập một văn bản báo chí phục vụ cho học tập và công việc trong cuộc sống Không chỉ vậy, phỏng vấn và trả lời phỏng vấn cũng là một kĩ năng cần thiết gắn liền với thực tế đời sống, đặc biệt đối với các em HS có nhu cầu tham gia vào các câu lạc bộ, các tổ chức, du học…hay thậm chí là cung cấp
kĩ năng cho hoạt động tìm kiếm việc làm sau này (phỏng vấn ứng tuyển vào vị trí, chức vụ nào đó) Như vậy, nhóm bài trên có tính thực tiễn cao do đó GV không chỉ cung cấp cho HS những nội dung lý thuyết của bài học mà còn có thể tạo cơ hội cho
HS áp dụng vào một nhiệm vụ cụ thể trong đời sống, từ đó tạo động lực học tập và kích thích niềm say mê, yêu thích của HS đối với môn Văn
Nhóm bài cũng đòi hỏi người dạy và người học thời lượng thực hành cao Vì vậy, nếu chỉ sử dụng PPDH truyền thống thì không đáp ứng được yêu cầu bài học và không thỏa mãn yêu cầu của người học
1.2.3 Khảo sát thực trạng dạy học nhóm bài “Phong cách ngôn ngữ báo chí”,
“Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn”, “Bản tin” (Ngữ Văn 11 tập 1)
Để tìm hiểu thực trạng dạy học các bài “Phong cách ngôn ngữ báo chí”, “Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn”, “Bản tin” chương trình Ngữ văn 11 ở trường THPT, chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát thực tiễn làm cơ sở để rút ra được những kết luận khách quan, chính xác về thực trạng triển khai dạy học nhóm bài này
1.2.3.1 Đối tượng khảo sát
Đối với giáo viên, chúng tôi tiến hành thu thập thông tin về thực trạng dạy học
nhóm bài trên qua phương pháp phỏng vấn đối với một số giáo viên dạy môn Ngữ văn của trường THPT Yên Hòa (Phiếu phỏng vấn được trình bày ở phụ lục) Câu hỏi phỏng vấn tập trung tìm hiểu các vấn đề vai trò, sự cần thiết, các phương pháp dạy học, hình thức kiểm tra đánh giá… khi dạy học các bài học thuộc nhóm bài trên
Trang 33Đối với học sinh, chúng tôi tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi đối với 100 HS lấy
ngẫu nhiên từ các lớp 11D1, 11D2, 11D3, 11D4 tại trường THPT Yên Hòa (Phiếu hỏi được trình bày ở phụ lục)
1.2.3.2 Kết quả điều tra, khảo sát
Sau khi tiến hành phỏng vấn trực tiếp đối với 10 giáo viên dạy môn Ngữ văn và điều tra bằng phiếu hỏi đối với 100 HS khối 11 của trường THPT Yên Hòa, qua quá trình khảo sát, phân tích, tổng hợp, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Về phía giáo viên, có 78.5% GV được khảo sát đều nhận thức rõ về được vai trò
và giá trị thực tiễn cao của nhóm bài phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí Về mức độ sử dụng PPDH khi dạy học nhóm bài này, qua khảo sát GV và HS, chúng tôi thu được kết quả như sau
Biểu đồ 1.1 Mức độ sử dụng PPDH khi dạy học nhóm bài về phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí của GV
Qua biểu đồ trên chúng ta dễ dàng nhận thấy PPDH được GV sử dụng thường xuyên trong các tiết học của nhóm bài này là phương pháp thuyết giảng (95%) và
PP Thuyết trình
PP Làm việc nhóm
PP Nêu vấn đề
PP Đàmthoai
PP DH Dự ánChart Title
Trang 34luyện tập (90%) Sau đó là phương pháp khá quen thuộc khác như thuyết trình (70%) Đây là các phương pháp dạy học truyền thống theo chiều hướng giáo dục một chiều Các phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm, phát huy tối đa năng lực của HS như PPDH dự án lại chưa được vận dụng để dạy nhóm bài này
Cũng theo kết quả khảo sát, đa số GV (chiếm tỷ lệ 65.8%) nhận thức được tính thực hành của nhóm bài phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí nhưng sự lựa chọn phương pháp dạy học của GV chưa thực sự phù hợp Điều này xuất phát từ việc một
bộ phận không nhỏ GV vẫn còn có những quan niệm chưa đúng về vai trò của công việc phân tích nhu cầu HS để lựa chọn PPDH trong việc xây dựng kế hoạch bài học trước khi tiến hành dạy Có tới 25.5 % ý kiến giáo viên cho rằng, việc phân tích nhu cầu HS để lựa chọn PPDH trước khi xây dựng kế hoạch bài học là không cần thiết và chỉ có 4.5% GV quan tâm tới việc phân tích nhu cầu HS để lựa chọn PPDH cho phù hợp Có thể thấy, việc chuẩn bị và triển khai kế hoạch dạy học cho các bài học thuộc nhóm bài này vẫn chưa được GV thật sự chú trọng Các hình thức kiểm tra đánh giá chưa có sự thay đổi linh hoạt để đánh giá chính xác năng lực, kĩ năng của HS, chủ yếu ở dạng viết (chiếm tỷ lệ 63%) là dễ hiểu bởi nó đi kèm với các PPDH truyền thống Bên cạnh đó, kết quả khảo sát còn cho thấy việc lấy ý kiến phản hồi của HS sau khi kết thúc bài học chưa được GV quan tâm, chú ý đúng mức Kết quả khảo sát mức độ thường xuyên lấy ý kiến phản hồi của HS được biểu thị bằng biểu đồ dưới đây
Biểu đồ 1.2 Mức độ thường xuyên lấy ý kiến phản hồi của HS
Trang 35Nhìn vào biểu đề trên cho thấy, thực tế trong quá trình dạy học của GV hiện nay thì công tác lấy ý kiến phản hồi của HS phần lớn chưa được thực hiện (chiếm tỷ lệ cao 64.3%) Trong khi đó, đây là một khâu quan trọng giúp GV có những điều chỉnh, thay đổi phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
Như vậy, qua khảo sát, lấy ý kiến của các GV tại trường phổ thông, chúng tôi nhận thấy các GV đều ý thức được vai trò, giá trị thực tiễn của nhóm bài phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau như cơ sở vật chất, thời lượng dạy học, nội dung kiểm tra đánh giá…nên các bài học thuộc nhóm bài chưa được quan tâm, chú trọng đúng mức, GV chưa có sự đầu tư vào các tiết dạy cho nhóm bài này
Về phía học sinh, có tới 67.3% HS không hứng thú với các tiết học của nhóm bài
phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí Đây là một thực trạng đáng lo ngại Lý do các em đưa ra chủ yếu do phương pháp dạy học của GV chưa tạo được bầu không
Trang 36khí học tập sôi nổi, hào hứng, cuốn hút HS Một số em HS không thích học vì cho rằng các bài học này không có tác dụng gì vì chúng không nằm trong giới hạn ôn thi Xuất phát từ nguyên nhân trên, chúng tôi tiếp tục khảo sát các em HS về hiệu quả của các PPDH và thu được kết quả như sau
Biểu đồ 1.3 Đánh giá của HS về hiệu quả của các PPDH
Biểu đồ trên cho thấy phần lớn các PPDH được áp dụng để dạy học nhóm bài phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí chưa tạo cơ hội cho HS được rèn luyện kĩ năng và phát triển năng lực một cách toàn diện Trong khi đó, đây là một nhóm bài yêu cầu về tính thực hành cao, các PPDH của GV hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của HS lẫn đặc điểm của nhóm bài này
Từ đó, chúng tôi tiếp tục khảo sát HS về tần suất sử dụng và mức độ hài lòng với các PPDH của HS khi học nhóm bài phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí và thu được kết quả như sau
Biểu đồ 1.4 Tần suất sử dụng và mức độ hài lòng của HS về các PPDH được
Đáp ứng được yêu cầu của HS
Tạo điều kiện phát triển các kĩ năng cá nhân, xã hội
Khuyến khích HS tham gia vào tiết học
Tạo môi trường học tập tích cực, sôi nổi
Tạo cơ hội cho HS tự kiểm tra đánh giá
Tạo niềm say mê, hứng thú với môn Văn
Trang 37Nhìn vào biểu đồ trên, có thể thấy các PPDH truyền thống như thuyết giảng được
sử dụng thường xuyên nhưng lại không đáp ứng được yêu cầu của HS đối với bài học Những PPDH khác như phương pháp luyện tập rất phù hợp với các bài học thuộc phân môn Tiếng Việt và Làm văn nhưng lại không khơi gợi được hứng thú và niềm say mê học Văn đối với các em HS Tiếp theo, phương pháp làm việc nhóm được vận dụng khá hiệu quả, tuy nhiên tần suất sử dụng còn thấp Còn lại các PPDH khác, các
em ít được thử nghiệm
Đánh giá chung
Qua khảo sát thực trạng dạy học nhóm bài phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí đối với GV và HS, chúng tôi nhận thấy các PPDH được GV vận dụng chủ yếu là các PPDH truyền thống, GV chưa thực sự chú trọng đầu tư cho các tiết dạy thuộc nhóm bài này, dẫn đến tình trạng HS chưa nhận thấy giá trị thực tiễn của nhóm bài cũng như chưa có cơ hội để thực hành, rèn luyện kĩ năng cần thiết Những PPDH tích cực hóa hoạt động của HS như PPDH dự án mặc dù đem lại nhiều lợi ích về phía
Trang 38người học nhưng vẫn chưa được quan tâm, ứng dụng đúng mức ở trường phổ thông
hiện nay
Việc vận dụng PPDHDA ở đây còn hạn chế bởi
Đa số các GV đều biết đến PPDHDA nhưng chưa có cơ hội thiết kế dự án cho môn học bởi những hạn chế về thời gian, cơ sở vật chất…
Do áp lực thi cử của môn Văn chỉ chú trọng đến kiến thức các tác phẩm văn học nên GV và HS chỉ tập trung học tập và ôn luyện các tác phẩm để đi thi Dẫn đến nhóm bài này tuy mang tính thực tiễn cao nhưng vẫn bị “ngó lơ” và thậm chí không được dạy trong chương trình
Do một số GV Ngữ văn vẫn giữ quan điểm dạy học truyền thống cho rằng “Giảng văn” đồng nghĩa với việc thuyết giảng và việc HS phải tự học, tự nghiên cứu và hoàn thành sản phẩm chỉ dựa trên sự chỉ dẫn của GV là điều không phù hợp Một số GV khác tuy không quá khắt khe trong quan điểm dạy học Văn nhưng lại có tâm lý ngại đổi mới, chưa có sự chủ động, cập nhật thông tin và chưa có thời gian chuẩn bị thiết
kế dự án cũng như kế hoạch kiểm tra đánh giá theo hình thức DHDA
Về phía HS, phần nhiều còn tâm lý ỷ lại, chưa xây dựng được cho mình phương pháp học tập tích cực, tự nghiên cứu môn Văn
Như vậy, các bài học “Phong cách ngôn ngữ báo chí”, “Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn”, “Bản tin” vẫn đang bị dạy tách biệt theo chương trình, thậm chí HS không được học bởi GV chỉ chú trọng tới những kiến thức đi thi, nặng về lý thuyết mà xa rời thực
tế Tuy nhiên, những hạn chế này vẫn có thể khắc phục được bởi có rất nhiều GV mong muốn khơi gợi niềm đam mê, yêu thích của HS đối với môn Văn thông qua những trải nhiệm thực tế, để các em thấy được ý nghĩa của môn Văn đối với đời sống, còn các em HS cũng muốn thay đổi PPDH mới trong môn học, để các em có một môi trường học tập năng động và tích cực hơn
Trang 39Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã cho chúng ta thấy một cái nhìn tổng quát về cơ sở lý luận và cở
sở thực tiễn cho việc dạy học nhóm bài phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí
(Ngữ văn 11, tập 1) theo phương pháp dạy học dự án
PPDHDA là một phương pháp dạy học tích cực, đưa HS vào môi trường học tập năng động, sáng tạo, qua đó phát huy tối đa năng lực của HS Tuy không phải là một PPDH mới nhưng PPDHDA vẫn chưa được áp dụng nhiều trong các nhà trường phổ thông hiện nay mà chủ yếu vẫn là các PPDH truyền thống khiến HS dần cảm
thấy không hứng thú và có xu hướng “ngó lơ” đối với môn Văn
Nhóm bài phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí gồm các bài “Phong cách ngôn ngữ báo chí”, “Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn”, “Bản tin” (Ngữ văn 11, tập 1)
là nhóm bài có giá trị thực tiễn, yêu cầu cao về tính thực hành, có mỗi liên hệ chặt chẽ giữa các bài học và có thể tiến hành dạy tích hợp để bổ sung cho nhau, phù hợp
để vận dụng PPDHDA
Những vấn đề về lí luận và thực tiễn trên là cơ sở để chúng tôi tiến hành thiết
kế quy trình dạy học dự án cho nhóm bài về phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí
ở chương 2
Trang 40CHƯƠNG 2: DẠY HỌC NHÓM BÀI VỀ PHONG CÁCH NGÔN NGỮ VÀ
VĂN BẢN BÁO CHÍ QUA DỰ ÁN “HƯỚNG VỀ BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG”
2.1 Giới thiệu khái quát về dự án “Hướng về biển đảo quê hương”
Nhóm bài phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí gồm các bài “Phong cách ngôn ngữ báo chí”, “Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn”, “Bản tin” là các bài có mối liên hệ chặt chẽ và có thể tiến hành dạy học tích hợp để bổ sung cho nhau Hơn nữa, đây là nhóm bài có tính thực tiễn cao, bởi văn bản báo chí rất phổ biến và xuất hiện trong mọi ngóch ngách của đời sống xã hội ngày nay; bản tin là một thể loại cơ bản của văn bản báo chí, có vai trò cung cấp thông tin trong đời sống hàng ngày; phỏng vấn và và trả lời phỏng vấn cũng là một kĩ năng quan trọng, cần thiết đối với HS ngày nay Như vậy, đây là một nhóm bài có giá trị thực tiễn và yêu cầu cao về tính thực hành nên PPDH tích cực, lấy người học làm trung tâm như PPDHDA là hoàn toàn phù hợp Để phục vụ cho hoạt động học tập nhóm bài về phong cách ngôn ngữ và văn bản báo chí, chúng tôi quyết định lựa chọn một vấn đề mang tính thời sự, nóng hổi trong đời sống xã hội hiện nay, đó là vấn đề về chủ quyền biển đảo của Tổ quốc Đây là vấn đề chưa dừng lại và sẽ còn tiếp diễn trong tương lai, gây nhiều tranh cãi
và nhận được sự quan tâm rất lớn của dư luận trong nước và quốc tế Vấn đề này phù hợp để dạy học cho nhóm bài phong cách ngôn ngữ văn bản báo chí và với chủ đề như trên, chúng tôi quyết định lựa chọn tên dự án là “Hướng về biển đảo quê hương” Trước sự việc Trung Quốc đặt giàn khoan trái phép và có những hành động hung hăng thể hiện thái độ ngang nhiên xâm lược thì toàn thể trái tim nhân dân Việt Nam đều hướng về biển đông, theo dõi từng tin tức đc truyền đi từ hiện trường sự việc Tuy nhiên, chúng ta đang sống trong thời đại của sự bùng nổ thông tin nên cần có sự chọn lọc thông tin một cách thông minh, chính xác, từ đó đưa ra những nhận định sáng suốt và bày tỏ hành vi phản ứng cho đúng đắn, phù hợp với truyền thống yêu