0 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC Lưu Quý Kông BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU CÁC LOÀI THỰC VẬT NGOẠI LAI XÂM HẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG PHỤC VỤ CHO CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠ
Trang 10 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Lưu Quý Kông
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU CÁC LOÀI THỰC VẬT
NGOẠI LAI XÂM HẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG
PHỤC VỤ CHO CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY
PHẦN SINH THÁI HỌC LỚP 12 THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM SINH HỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU CÁC LOÀI THỰC VẬT
NGOẠI LAI XÂM HẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG
PHỤC VỤ CHO CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS TS Nguyễn Trung Thành – người đã chỉ bảo tận tình và cho tôi những lời khuyên bổ ích cả trong công tác nghiên cứu khoa học cũng như trong cuộc sống
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ThS Nguyễn Anh Đức đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình khóa luận cũng như trong cuộc sống và học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Khoa học Thực vật, khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội
và các thầy cô khoa Sư phạm, Trường Đại học Giáo dục, ĐHQG Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ tại Bảo tàng thực vật - Khoa Sinh học - Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội, các thầy cô thực hiện đề tài
“Điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp ngặn chặn, kiểm
soát các loài sinh vật ngoại lai xâm hại trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang” đã giúp đỡ
và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thu thập tài liệu, xử lý mẫu và nghiên cứu trong suốt thời gian làm khóa luận
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh và động viên, giúp đỡ tôi để hoàn thành khóa luận này
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Lưu Quý Kông
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBD Convention on Biological Diversity (Công ước đa dạng sinh
học) SVNL Sinh vật ngoại lai
SVNLXH Sinh vật ngoại lai xâm hại
NLXH Ngoại lai xâm hại
ĐDSH Đa dạng sinh học
UNEP Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (United Nations
Environment Programme)
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Một số khái niệm sinh vật ngoại lai và thực vật ngoại lai xâm hại 3
1.2 Lược sử nghiên cứu về thực vật NLXH trên thế giới và Việt Nam 6
1.2.1 Trên Thế giới 6
1.2.2 Tại Việt Nam 6
1.2.3 Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 7
1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Tuyên Quang 7
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 7
1.3.1.1 Vị trí địa lý 7
1.3.1.2 Địa hình, địa mạo 9
1.3.1.3 Đặc điểm thủy văn, khí hậu 10
1.3.1.4 Hiện trạng sử dụng đất 12
1.3.1.5 Tài nguyên thiên nhiên 13
1.3.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 14
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 16
2.2 Phương pháp nghiên cứu 16
2.2.1 Phương pháp kế thừa 16
2.2.2 Phương pháp thực địa 16
2.2.3 Phương pháp phòng thí nghiệm 17
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 18
3.1 Thành phần loài thực vật NLXH xác định được trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 18
3.2 Đặc điểm sinh học – sinh thái học của các loài thực vật NLXH 20
3.3 Phân bố các loài thực vật NLXH và mức độ xâm hại lên các HST trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 34
3.4 Đề xuất một số giải pháp quản lý, kiểm soát và ngăn chặn các loài thực vật NLXH 38
3.4.1 Các giải pháp về quản lý, kiểm soát 38
Trang 63.4.2 Các biện pháp ngăn chặn các loài thực vật NLXH 38
3.5 Cơ sở dư liệu phục vụ cho chương trình giảng dạy sinh học lớp 12 THPT
38
3.5.1 Cấu trúc, nội dung phần sinh thái học Sinh học 12 [15] 38 3.5.2 Chuẩn kiến thức kỹ năng phần Sinh thái học 41 3.5.3 Một số nội dung về sinh thái học lớp 12 có thể ứng dụng kiến thức thực vật NLXH 42
KẾT LUẬN 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 7DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất của toàn tỉnh Tuyên Quang (12/2016) 12 Bảng 3.1 Danh mục loài NLXH đã xác định được trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 18 Bảng 3.2 Danh mục các loài ngoại lai xâm hại và nguy cơ xâm hại trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, thành phố Hà Nội và tỉnh Hưng Yên 19 Bảng 3.3 Phân bố của các loài thực vật ngoại lai xâm hại theo huyện/ thành phố trên địa bản tỉnh Tuyên Quang 34 Bảng 3.4 Phân bố của các loài ngoại lai xâm hại theo các HST trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 35
Trang 8DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Tuyên Quang 8
Hình 3.1 Hình thái cây Bèo tây - Eichhornia crassipes (Mart.) Solms 21 Hình 3.2 Cây ngũ sắc - Lantana camara L ghi nhận khu vực chân núi ven hồ
thủy điện Na Hang gần thị trấn 23
Hình 3.3 Cây ngũ sắc - Lantana camara L ghi nhận tại khu vực thành phố
Tuyên Quang (nguồn: Đề tài) 23
Hình 3.4 Cỏ lào Chromolaena odorata (L.) R.M.King & H.Rob Ghi nhận tại
khu vực ngã ba sông Lô – sông Gâm 24 (nguồn: Đề tài) 24
Hình 3.5 Cụm hoa Cỏ lào Chromolaena odorata (L.) R.M.King & H.Rob
(nguồn: Đề tài) 24
Hình 3.6 Cây lược vàng – Callissia fragrans (Lindl.) Woods 26 Hình 3.7 Cúc liên chi Parthenium hysterophorus L ghi nhận tại kho vực ven
sông Lô – Gâm (thành phố Tuyên Quang) (nguồn: Đề tài) 27
Hình 3.8 Hoa cây Cúc liên chi Parthenium hysterophorus L 27 Hình 3.9 Trinh nữ móc Mimosa diplotricha C Wright ghi nhận tại xã Thái
Bình, huyện Yên Sơn nguồn: Đề tài 28
Hình 3.10 Trinh nữ móc Mimosa diplotricha C Wright có hoa (nguồn: Đề tài)
28
Hình 3.11 Cây trinh nữ thân gỗ (Mimosa pigra L.) xâm lấn tại khu vực xã Phú
Thịnh, huyện Yên Sơn 30
Hình 3.12 Cây trinh nữ thân gỗ (Mimosa pigra L.) xâm lấn tại khu vực hồ Ba
Hòn, huyện Sơn Dương 30
Hình 3.13 Cây cứt lợn (Ageratum cornyzoides (L.) L.) 32 Hình 3.14 Hình thái cụm quả và cụm hoa cây Keo dậu (Leucaena leucocephala
(Lamk.) De Wit.) 33
Hình 3.15 Keo giậu (Leucaena leucocephala (Lamk.) De Wit.) 33
Trang 9MỞ ĐẦU
Các hệ sinh thái ở Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị phá vỡ cân bằng sinh thái, các chức năng sinh thái bị suy yếu từ các mối đe dọa từ sự xâm hại của các loài sinh vật ngoại lai (SVNL) Ở cấp độ loài, sinh vật ngoại lai xâm hại (SVNLXH) lấn át, thậm chí thay thế các loài bản địa và góp phần vào sự tuyệt chủng của nhiều loài sinh vật bản địa
Hàng năm, sinh vật ngoại lai xâm hại (SVNLXH) cũng gây thiệt hại rất lớn
về kinh tế như gây ra các tổn thất trong sản xuất, chi phí áp dụng các biện pháp phòng chống và tổn thất đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái (HST)… Ngoài ra, các loài SVNLXH còn ảnh hưởng đến môi trường, văn hóa xã hội, sức khỏe của cộng đồng Tuy nhiên, để lượng hóa một cách chính xác những tổn thất do SVNLXH gây ra là rất khó khăn Theo tổ chức IUCN/SSC/ISSG (2004), hàng năm, trên thế giới đã bỏ ra khoảng 400 tỷ USD cho những chi phí kinh tế liên quan đến quản lý các loài SVNLXH [7]
Theo công ước quốc tế Đa dạng sinh học (CBD), vấn đề suy giảm đa dạng sinh học của các HST đang là chủ đề quan tâm tâm hàng đầu Trong đó, công tác bảo tồn các nguồn gen bản địa được đề cập và đóng vai trò then chốt trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học Tuy nhiên chúng đang có xu hướng ngày suy giảm nghiêm trọng tại từng khu vực, có loài biến mất khỏi khu vực tự nhiên vốn có của chúng và một trong những nguyên nhân có sức ảnh hưởng nhất chính là sự xâm nhập và ảnh hưởng của SVNLXH tại nơi chúng đến Hiện nay, SVNLXH đang đề
ra những bài toán nan giải về cách thức quản lý và kiểm soát chúng một cách hiệu quả để đảm bảo các cam kết trong Công ước Đa dạng sinh học (CBD) đề ra [46]
Góp phần đánh giá được hiện trạng các loài SVNLXH cho Tuyên Quang nói riêng và Việt Nam nói chung Qua đó, vận dụng các thông tin về thực vật ngoại lai xâm hại (NLXH) đưa vào phục vụ cho chương trình dạy phần sinh thái học lớp 12 THPT nhằm phổ biến kiến thức về SVNLXH cho học sinh và định hướng các công tác quản lý bảo tồn bền vững HST Vì vậy, em đã lựa chọn đề tài: “ Bước đầu nghiên cứu một số loài thực vật ngoại lai tỉnh Tuyên Quang, phục vụ cho chương trình dạy phần sinh thái học lớp 12 THPT, ” để nhằm phục vụ một số mục đích sau:
- Bước đầu làm quen với các phương pháp nghiên cứu khoa học
Trang 10- Xây dựng danh sách các số loài thực vật NLXH có mặt tại tỉnh Tuyên Quang
- Đánh giá và đề xuất một số biện pháp quản lý thực vật NLXH tại tỉnh Tuyên Quang
- Đề xuất một số nội dung về thực vật NLXH để làm nên tảng kiến thức phục
vụ chương trình giảng dạy phần sinh thái học lớp 12 THPT để nâng cao hiểu biết và nhận thức của học sinh
Bố cục của khóa luận: Gồm 54 trang, 16 ảnh, 5 bảng được chia thành các phần
chính như sau: Mở đầu (2 trang), chương 1 (Tổng quan tài liệu: 13 trang), chương 2 (Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu: 2 trang), chương 3 (Kết quả nghiên cứu: 32 trang), kết luận: 1 trang), tài liệu tham khảo: 50 tài liệu tham khảo ở Việt Nam, nước ngoài và một số trang web
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Một số khái niệm sinh vật ngoại lai và thực vật ngoại lai xâm hại
Khái niệm sinh vật ngoại lai xâm hại
Công ước Đa dạng sinh học (CBD) đề cập như sau: Sinh vật ngoại lai là loài, phân loài hay đơn vị phân loại thấp hơn được đưa ra khỏi vùng phân bố tự nhiên của chúng, kể cả các bộ phận bất kỳ của sinh vật như các giao tử (gametes), hạt thực vật, trứng động vật hay chồi mầm của những loài này có thể sống sót và sau đó sinh sản được SVNLXH là loài SVNL đã tạo lập được quần thể và phát tán, đe dọa các HST, nơi ở hoặc loài sinh vật khác, gây ra những tác hại về kinh tế và môi trường (CBD News, 2001) [7] Theo Lowe và cộng sự (2000), tất cả các nhóm sinh vật (virus, nấm, tảo, rêu, dương xỉ, thực vật bậc cao, động vật không xương sống, cá, lưỡng cư, bò sát, chim, thú) đều có nguy cơ trở thành SVNLXH [37]
Hay tiêu biểu theo Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) năm 2003 [17], SVNLXH là một loài SVNL đã thích nghi và phát triển trong một HST hoặc mơi ở mới (tự nhiên hoặc bán tự nhiên) và là nguyên nhân gây ra sự thay đổi, đe doạ ĐDSH bản địa”
Ở Việt Nam, luật ĐDSH năm 2008 định nghĩa loài xâm hại: là loài ngoại lai
xâm lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển” Theo đó, thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT ngày 26/09/2013 [6] quy định loài NLXH được xác định dựa trên các tiêu chí như sau:
- Tự thiết lập quần thể trong tự nhiên, đang lấn chiếm nơi sinh sống; cạnh tranh thức ăn và gây hại cho sinh vật bản địa, có khả năng phát tán mạnh; có xu hướng gây mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện; hoặc qua khảo nghiệm, thử nghiệm, điều tra, đánh giá để thấy thể hiện có nguy cơ xâm hại
- Loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chưa xuất hiện tại một vùng có nghĩa: hoặc loài chưa du nhập vào quốc gia đấy; hoặc đã ghi nhận xâm hại từ 2 quốc gia khác trở lên có điều kiện sinh thái tương tự
Song song với đó, tác động và hậu quả to lớn, lâu dài mà các SVNLXH có thể gây ra riêng đối với HST và môi trường sống của các loài sinh vật bản địa có thể
đề cập đến như:
Trang 12- Chúng cạnh trạnh với các loài bản địa về thức ăn, nơi sinh sống, đẩy các loài bản địa vào con đường diệt vong
- Ăn thịt các loài khác, đặc biệt các loài bản địa
- Phá huỷ và làm suy giảm chất lượng môi trường sống bản địa, phá hoại mùa màng
- Truyền bệnh và ký sinh trùng cho các loài bàn địa cũng như cư dân sinh sống tại địa phương
Con đường xâm nhập vào Việt Nam nói chung và vào các địa phương khác nhau gồm:
- Phát triển theo con đường tự nhiên
- Du nhập có chủ đích: gồm di nhập có chủ đích được phép và không được phép
- Sự du nhập không chủ đích (ngẫu nhiên)
Khái niệm thực vật ngoại lai xâm hại
Thuật ngữ nói về thực vật ngoại lai như Cronk và Fuller (1995) như : “Loài thực vật xâm hại là một loài thực vật ngoại lai phát tán một cách tự nhiên (không có
sự hỗ trợ trực tiếp của con người) trong nơi ở tự nhiên hay bán tự nhiên và gây ra sự thay đổi đáng kể về thành phần, cấu trúc hay các quá trình sinh thái” [35]; hay Richardson và cộng sự (2000): “Thực vật xâm hại là những loài thực vật tự nhiên sinh ra thế hệ con cái có khả năng tái sinh với số lượng lớn ở cách xa nơi ở của bố
mẹ và có khả năng phát triển trên vùng rộng”[40]
Tác động của thực vật NLXH đến HST
Tác động đến chức năng HST:
+ Tiêu cực:
- Chức năng bảo vệ môi trường bị suy giảm: Ảnh hưởng của thực vật NLXH
có thể thay đổi hoàn toàn cấu trúc và thành phần loài của HST bằng cách lấn át loài bản địa do cạnh tranh trực tiếp nguồn sống hoặc gián tiếp bằng cách thay đổi các chu trình sinh hoá, sinh dưỡng trong HST
- Do sự xâm nhập và phát triển của thực vật ngoại lai thường bắt nguồn từ những khu vực nhạy cảm, những HST kém bền vững như vùng cửa sông, bãi bồi ven biển, các vực nước nội địa, các vùng đảo nhỏ,… nơi những thực vật, thuỷ sinh
Trang 13vật và tảo phát triển mạnh, chúng là mắt xích đầu tiên của hàng loạt chuỗi thức ăn tạo thành các hải sản như trai, sò, tôm cua…vì thế có nguy cơ bị cắt đứt
- SVNL có thể góp phần làm suy thoái đất, nước: Đối với thực vật ngoại lai,
lá của chúng khi rụng xuống có thể làm cho đất bị nhiễm độc hoặc khống chế sự sinh trưởng của những loài thực vật khác (UNEP, 2004)
+ Tích cực:
- Sự có mặt của thực vật NLXH ở mức độ vừa phải và nếu được kiểm soát chặt chẽ, chúng cũng là một yếu tố có những tác động tích cực đến HST tại nơi chúng du nhập vào Chúng có thể hấp thụ kim loại nặng trong môi trường, loài thiên địch của một số sinh vật, ví dụ như bèo tây (hay còn gọi là bèo sen, bèo Nhật Bản
(E.crassipes)) có khả năng hấp thụ tốt các kinh loại nặng Cr, Ni, Zn, Cu, Cd từ môi
trường do khả năng tích luỹ chúng vào trong lá, cuống và rễ cây, từ đó làm sạch nguồn nước và phân giải chất độc Ngoài ra bèo tây có có khả năng phân giải phenol
và cyanua [9]
Tác động đến đa dạng sinh học:
- Làm suy giảm tính đa dạng loài của các khu hệ động, thực vật bản địa:
Cạnh tranh không gian sống của loài bản địa
Cản trở các cây con tạo lập quần thể, ức chế sự sinh trưởng và phát triển của các loài cây khác
Làm thay đổi quan hệ qua lại giữa loài thụ phấn và thực vật cần thụ phấn, làm tăng sự cạnh tranh trên mặt đất, dưới mặt đất và lai giống với loài bản địa
Ví dụ: Cây mai dương xuất hiện trong các khu bảo tồn sẽ làm nghèo khu hệ động, thực vật bản địa, biến thảm thực vật có sự ĐDSH về loài bản địa thành thảm thực vật nghèo loài, thậm chí là đơn loài Tại vườn quốc gia Tràm Chim sau khi
xuất hiện cây mai dương, số lượng Sếu đầu đỏ (Grus antigone sharpie) đã giảm hẳn
trong các năm đầu thế kỷ XXI do bãi cỏ là nơi ăn nghỉ của sếu đầu đỏ đã bị cây mai dương xâm lấn Trong các năm 2000-2002, vườn quốc gia Tràm Chim đã tiến hành chặt bỏ cây mai dương, từ đó số lượng sếu đầu đỏ đã dần tăng lên [42]
Loài SVNL có thể tác động lên loài sinh vật bản địa bằng cách đem theo vật gây bệnh, ký sinh dẫn đến gây bệnh hoặc giết chết loài bản địa
Trang 141.2 Lược sử nghiên cứu về thực vật NLXH trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Trên Thế giới
Trên thế giới đã có nhiều quốc gia nhận thực được tính nguy cấp cấp các loài SVNLXH lên các HST và các loài bản địa Tuy nhiên các công trình nghiên cứu tập trung và tổng thể các loài SVNLXH, nhóm loài thực vật NLXH được tổng hợp chung trong các báo cáo về SVNL xâm hại
Một số kết quả nghiên cứu về thực vật NLXH tiêu biểu là ở Mỹ và Canada
đã ghi nhận có khoảng 2.100 loài thực vật NLXH Ở Mỹ, số lượng loài thực vật NLXH ở các bang không giống nhau và biến động từ 8 – 47% tổng số loài thực vật của từng bang (USDA Forest Service, 2002) [20]
Đối với Châu Phi, hầu hết các quốc gia tại đây đều bị ảnh hưởng bởi SVNLXH Nigeria có 25 loài thực vật NLXH và 20 loài ở Uganda [20]
Cũng theo IUCN (2004), Cộng hoà Nam Phi có 161 loài thực vật NLXH, nhưng nghiên cứu của Henderson năm 1995 cho rằng quốc gia này có ít nhất 161 loài thực vật NLXH bắt gặp trong HST tự nhiên và bán tự nhiên [7]
1.2.2 Tại Việt Nam
Vấn đề SVNL còn ít được chú ý ở Việt Nam Qua khảo sát và tổng kết tài liệu năm 2009 - 2010, cả nước đã thống kê được 92 loài thực vật có nguồn gốc ngoại lai, thuộc 31 họ khác nhau Trong đó có những họ lớn có nhiều loài như: thầu dầu (4 loài), họ đậu (6 loài), họ cúc (7 loài), họ cói (8 loài), họ hòa thảo (13 loài ) và cây lá kim (8 loài) [4]
Theo Đặng Thanh Tân, Phạm Quang Thu, Bernard Dell, 2012, Việt Nam có
134 loài cây ngoại lai, trong đó có 25 loài xâm hại ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn ở Việt Nam Phần lớn các loài cây này là cỏ dại có nguồn gốc từ Châu Mỹ (44 loài, chiếm 50% tổng số loài cây ngoại lai), Châu Phi, Châu Úc, Châu Âu và Châu
Á, chỉ có một ít cây trồng lấy gỗ như keo (Acacia mangium), bạch đàn (Eucalyptus
camaldulensis), phi lao (Casuarina equisetifolia), cây điều (Anacardium occidentalis), cây cao su (Hevea brasiliensis), cây cọ dầu và 8 loài cây lá kim Như
vậy, đối chiếu với danh lục thực vật ở Việt Nam, các loài thực vật ngoại lai hiện tại chiếm 0,77% số lượng các loài thực vật được tìm thấy (12.000 loài) [42]
Bên cạnh đó, nghiên cứu về thành phần loài thực vật ngoại lai tại 10 Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên gồm Hoàng Liên, Cát Bà, Cúc Phương, Vũ
Trang 15Quang, Phong Nha - Kẻ Bàng, Chư Mom Ray, Cát Tiên, Tràm Chim, U Minh Thượng và Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà; Kết quả ghi nhận mỗi VQG có từ 8 đến 25 loài cỏ dại ngoại lai, và tổng ở các khu vực có 134 loài trong đó có 25 loài là SVNLXH [42]
Năm 2014, Công ty Cổ phần Thiết bị và Môi trường PT căn cứ thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT đã ghi nhận có 7 loài thực vật NLXH
và 3 loài thực ngoại lai có nguy cơ xâm [21]
Năm 2015, hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam dựa trên Thông
tư 22/2011/TT-TN&MT đã nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội và ghi nhận được 21 loài SVNLXH và 10 loài SVNL có nguy cơ xâm hại Trong đó 7 loài thực vật NLXH và 2 loài có nguy cơ xâm hại [20]
1.2.3 Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Thời gian gần đây, vấn đề SVNLXH dần được quan tâm Tuy nhiên chưa có báo cáo nào nghiên cứu một cách tổng quát các vấn đề về SVNLXH nói chung và thực vât NLXH nói riêng Nghiên cứu của chúng tôi là đề tài đầu tiên về thực vật
NLXH thuộc dự án “Điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải
pháp ngăn chặn, kiểm soát các loài sinh vật ngoại lai xâm hại trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang”
1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Tuyên Quang
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Diện tích tự nhiên của tỉnh là: 586.732,71 ha, chiếm 1,78% diện tích của cả nước
Tuyên Quang có 7 đơn vị hành chính bao gồm: thành phố Tuyên Quang, huyện Na Hang, Chiêm Hoá, Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương, Lâm Bình [29]
Trang 16Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Tuyên Quang
(Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang)[49]
Trang 171.3.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình
Tỉnh Tuyên Quang địa với hình đa dạng và phức tạp, đồi núi chiếm hơn 73% diện tích Phần lớn địa hình nghiêng từ Bắc - Tây Bắc xuống Đông Nam Phần phía Bắc, phía Nam tỉnh có địa hình thấp dần, ít bị chia cắt hơn, đặc trưng địa hình khu vục là đồi núi thấp và thung lũng chạy dọc theo các con sông
Tuyên Quang có độ cao trung bình không lớn, đỉnh cao nhất tỉnh là đỉnh Chạm Chu với độ cao là 1.587 m, nơi thấp nhất là ở phía Nam huyện Sơn Dương độ cao 23 - 24 m so với mực nước biển
Địa hình được chia thành 5 kiểu như sau [29]:
- Kiểu địa hình núi trung bình cao (độ cao từ 700 - 1.500 m): Phân bố chủ yếu ở huyện Na Hang, Lâm Bình, Chiêm Hóa, phía Bắc các huyện Hàm Yên và một
số dải núi ở huyện Yên Sơn (núi Là, núi Nghiêm), chiếm trên 50% diện tích toàn tỉnh, độ dốc trung bình từ 200 - 250, địa hình giảm dần từ Bắc xuống Nam
- Kiểu địa hình núi thấp (độ cao từ 300 - 700 m): Bao gồm các dãy núi thấp xen kẽ đồi, phân bố chủ yếu ở các huyện Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương và phần phía Nam huyện Chiêm Hóa
- Kiểu địa hình đồi thấp (độ cao dưới 300 m): Phân bố ở phía Nam huyện Yên Sơn, Hàm Yên, gồm nhiều ngọn núi thấp và thoai thoải theo kiểu bát úp mang đặc điểm địa hình trung du
- Kiểu địa hình karst: Là kiểu địa hình đặc trưng của vùng núi đá vôi, phân
bố tập trung ở Na Hang, Lâm Bình, phía thượng lưu huyện Chiêm Hoá và Sơn Dương
- Kiểu địa hình thung lũng: Phân bố dọc theo các con sông lớn (sông Lô, sông Gâm)
Địa mạo
Tỉnh Tuyên Quang có các dạng địa mạo sau [29]:
- Địa mạo thung lũng sông: Phát triển dọc theo thung lũng các sông lớn như sông Lô, sông Gâm, sông Phó Đáy
- Địa mạo karst: Là địa mạo đặc trưng của vùng núi đá vôi, tập trung chủ yếu
ở huyện Na Hang, vùng cao của huyện Chiêm Hoá, Sơn Dương
Trang 18- Địa mạo núi cao trên 700 m: Phân bố chủ yếu ở huyện Na Hang, phía Bắc huyện Hàm Yên, Chiêm Hoá và trên các núi đơn lẻ thuộc huyện Yên Sơn (núi Là, núi Nghiêm), huyện Sơn Dương (núi Lịch, núi Tam Đảo)
- Địa mạo núi cao từ 300 - 700 m: Gồm các dãy núi và đồi xen kẽ tạo thành các khu vực rộng lớn, phân bố chủ yếu ở huyện Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương và một phần huyện Chiêm Hoá
- Địa mạo đồi thấp dưới 300m: Phân bố chủ yếu phía Nam huyện Yên Sơn và huyện Hàm Yên
Đặc điểm địa chất
Tuyên Quang nằm trong khối đá trầm tích và biến chất xen lẫn khối macma xâm nhập Đá mẹ và mẫu chất ở tỉnh Tuyên Quang gồm các loại sau [29]:
- Đá trầm tích và biến chất: gồm các loại đá mẹ như phiến sét, philít, phiến
mica, cát kết, gơnai và đá vôi Được phân bố chủ yếu ở các huyện: Na Hang, Chiêm Hoá, Hàm Yên và Yên Sơn và một ít ở huyện Sơn Dương
- Đá macma axit: gồm các loại đá mẹ như granit, riolit
- Đá macma trung tính: gồm có đá spilit Được phân bố chủ yếu ở các huyện
Hàm Yên, Yên Sơn và Sơn Dương và một ít ở huyện Na Hang
1.3.1.3 Đặc điểm thủy văn, khí hậu
Đặc điểm thủy văn
Mạng lưới sông ngòi của tỉnh Tuyên Quang tương đối dày đặc với mật độ 0,90 km/km2 và phân bố tương đối đồng đều Các sông lớn chảy trên địa bàn tỉnh có đặc điểm: lòng sông hẹp, nhiều thác ghềnh nên cũng thường gây nguy hiểm bất ngờ cho thuyền bè và gây lũ lụt ở nhiều vùng thấp Do đặc điểm của địa hình nên dòng chảy của các con sông là hướng Bắc - Nam (sông Gâm) hoặc hướng Tây Bắc - Đông Nam (sông Lô)
Toàn tỉnh có 3 sông lớn: sông Lô, sông Gâm và phần thượng nguồn sông Phó Đáy
Ngoài 3 sông lớn nêu trên, tỉnh Tuyên Quang có trên 500 sông ngòi nhỏ và trên 2.000 ao hồ, tạo thành mạng lưới thuỷ văn khá dày theo các lưu vực sông
Trang 19- Chế độ bức xạ, nắng, mây:
Chế độ bức xạ tổng cộng năm đạt khoảng 124 - 128 kcal/cm2 năm
Tổng số giờ nắng năm đạt khoảng 1560 - 1600 giờ/năm Số giờ nắng trong năm: Tháng 5 đến tháng 9 là thời gian nắng nhiều nhất (khoảng 170-190 giờ/tháng)
Lượng mây tổng quan trung bình năm dao động trong khoảng 8,0-8,4/10 BT
- Chế độ gió: Nhìn chung trên đại bộ phận lãnh thổ của tỉnh ở những vùng
thấp trong các thung lũng tốc độ gió trung bình thấp, trị số trung bình năm đạt trên dưới 1 m/s Ở phía các sườn đón gió, tốc độ gió trung bình năm khá lớn, đạt 2 - 3 m/s Tốc độ gíó mạnh nhất thường đạt khoảng 10 - 25 m/s, có thể đạt tới 25 - 30 m/s trong các cơn dông trong mùa mưa
- Chế độ nhiệt: Ở vùng từ 50 m trở xuống nhiệt độ trung bình năm cao, đạt
23,0 - 23,4°C Nhiệt độ trung bình năm giảm theo độ cao địa hình xuống còn 20°C
ở độ cao khoảng 650 m; giảm xuống 15°C ở độ cao khoảng 1.650 m
- Chế độ mưa - ẩm:
Chế độ mưa: Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, lượng mưa năm dao động trong phạm vi khá rộng, trong khoảng 1.100 - 2500 mm/năm Lượng mưa lớn nhất lớn hơn 100 mm/ngày, có thể đạt 350 mm/ngày Mưa lớn kéo dài nhiều ngày dễ gây úng ngập ở nơi có địa hình thấp trũng, còn trên các sườn núi ở những nơi mất thảm thực vật và có bề mặt địa hình bị phá vỡ, có thể xảy ra sạt trượt lở đất, lũ quét, lũ bùn đá
Độ ẩm tương đối: Độ ẩm trung bình năm ở tỉnh Tuyên Quang khá cao, đạt
83 - 86%
Trang 201.3.1.4 Hiện trạng sử dụng đất
Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất của toàn tỉnh Tuyên Quang (12/2016)
Tổng số (Ha) Cơ cấu (%) TỔNG SỐ - TOTAL 586.790 100,00 Đất nông nghiệp 540.405 92,10
Đất chưa sử dụng 6.957 1,18
(Nguồn: Niên giám thống kê Tỉnh Tuyên Quang năm 2016)[13]
Trang 21Theo Niên giám thống kê, tổng diện tích tự nhiên của toàn tỉnh Tuyên Quang năm 2016 là 586.790 ha, là tỉnh có quy mô diện tích ở mức trung bình so với toàn quốc (số liệu được trình bày trong bảng 1.1) [13]
1.3.1.5 Tài nguyên thiên nhiên
Đa dạng về hệ sinh thái
Tỉnh Tuyên Quang có HST rất đa dạng, với diện tích đất có rừng chiếm hơn 76% diện tích tự nhiên Độ che phủ rừng đạt 64,2%, là một trong những tỉnh có độ che phủ cao nhất nước Toàn bộ tỉnh Tuyên Quang được xếp là một trong 223 HST giàu tính đa dạng sinh học nhất của thế giới [22]
Phân tích chi tiết về HST cho thấy tỉnh Tuyên Quang được cấu thành bởi 7 kiểu HST đặc trưng gồm:
1 Hệ sinh thái rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh lâu năm
2 Hệ sinh thái rừng thứ sinh nghèo
3 Hệ sinh thái rừng trồng
4 Hệ sinh thái rừng tre nứa
5 Hệ sinh thái nông nghiệp
6 Hệ sinh thái thủy vực
7 Hệ sinh thái dân cư
Đa dạng thực vật của tỉnh Tuyên Quang
Tuyên Quang là tỉnh có diện tích rừng và đất rừng lớn so với diện tích đất tự nhiên, đất đai phù hợp với nhiều loại cây Hệ thực vật bậc cao có mạch Tuyên Quang cho đến nay được biết bao gồm 2.121 loài thuộc 794 chi, 195 họ và tập hợp trong 6 ngành thực vật Ngành Hạt kín chiếm tỷ lệ phần trăm số loài cao nhất: 81,75%; ngành Dương xỉ: 16,03%; ngành Thông đất: 1,17%; ngành Hạt trần: 0,84%; ngành Cỏ tháp bút: 0,1% và ngành Khuyết lá thông: 0,05%
Thống kê bước đầu cho thấy sự đa dạng số lượng loài của hệ thực vật Tuyên Quang bằng 20,81% so với tổng số loài của hệ thực vật Việt Nam, thấp hơn so với
hệ thực vật của Vườn quốc gia Hoàng Liên (23%), nhưng cao hơn hệ thực vật Vườn quốc gia Cúc Phương, vườn quốc gia Tam Đảo
Trong 195 họ của hệ thực vật Tuyên Quang có tới 52 họ có 10 loài trở lên với tổng số loài lên tới 1.457 loài, chiếm 68,69% so với tổng số loài của hệ thực vật này
Trang 22Trong số 2.121 loài, đã xác định được 69 loài thuộc 36 họ thuộc các loài quý, hiếm trong Sách đỏ Việt Nam Trong số này có 3 loài thực vật quý, hiếm ở nguy cơ tuyệt chủng rất cao (mức độ rất nguy cấp-CR) là Hoàng đàn, Re hương và Hoàng liên chân gà Ngoài ra có 25 loài thực vật ở mức độ nguy cấp (EN) và 41 loài ở mức
độ sẽ nguy cấp (VU) cần được ưu tiên bảo vệ Hoàng đàn là loài cây đặc hữu của Tuyên Quang [22]
1.3.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Tuyên Quang đã và đang thực hiện tốt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội và các quy hoạch ngành, vùng, lĩnh vực như giao thông, công nghiệp, xây dựng, du lịch, lâm nghiệp,… Đẩy mạnh và tập trung phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản; sản xuất vật liệu xây dựng; khai thác và chế biến khoáng sản Phát triển giao thông, thông tin; xây dựng kết cấu hạ tầng, đặc biệt là lưới điện bưu chính
- viễn thông Ban hành các cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích và kêu gọi đầu
tư Cải cách hành chính, xây dựng môi trường hành chính thông thoáng, tạo môi trường đầu tư tốt, tin tưởng, hấp dẫn
Theo báo cáo của tỉnh Tuyên Quang, năm 2016, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 8%, GDP bình quân đầu người đạt 34 triệu đồng; thu ngân sách Nhà nước đạt 1.592 tỉ đồng Đến nay, có tổng số 16 xã đạt chuẩn nông thôn mới, bình quân toàn tỉnh đạt 11 tiêu chí/xã, tăng 8,2 tiêu chí so với năm 2011 Tổng số doanh nghiệp trên địa bàn là 1.180 doanh nghiệp (tăng 13%) với tổng vốn đăng ký hơn 11.200 tỉ đồng; phấn đấu đến năm 2020, Tuyên Quang có trên 1.500 doanh nghiệp [13]
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Tuyên Quang đến năm 2020,
bổ sung quy hoạch đến năm 2025 đã nêu rõ: Xây dựng Tuyên Quang phát triển toàn diện, phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, phấn đấu đến năm 2020 trở thành tỉnh phát triển khá trong các tỉnh miền núi phía Bắc và đến năm 2025 là tỉnh phát triển bền vững
Trong những năm gần đây nông, lâm nghiệp tiếp tục có bước chuyển biến mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa, trong đó thành tựu nổi bật nhất là đưa một số giống cây, con mới, có hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất, hình thành các vùng chuyên canh Lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm đầu tư, phát triển hài hoà hơn với tăng trưởng kinh tế, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, hưởng thụ văn hóa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; trong đó có những mặt đạt kết quả rất nổi bật:
Trang 23Chất lượng giáo dục và đào tạo, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân được nâng lên Đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện Lao động, việc làm, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội đạt được một số kết quả quan trọng Cải cách hành chính được duy trì
Trang 24Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là các loài thực vật NLXH có tên trong Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT ngày 26 tháng 9 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Phạm vi nghiên cứu: tỉnh Tuyên Quang
Thời gian nghiên cứu: 01/09/2017 – 20/05/2018
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Để thu thập được mẫu của các loài thực vật NLXH, điều quan trọng là phải
bố trí được các tuyến điều tra hợp lý Ngoài các tuyến thu mẫu, cần bố trí các điểm thu mẫu bổ sung
- Phương pháp thu mẫu được áp dụng theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa
Thìn “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” (2007) [23] Số lượng mẫu cần thu, ít
nhất mỗi loài phải thu 3-5 mẫu để đảm bảo yêu cầu lưu trữ, gửi đi nhờ giám định (nếu cần) hoặc trao đổi Tiêu chuẩn của mẫu vật thu thập là có đầy đủ các bộ phận:
lá, hoa hoặc quả hoặc cả hai
- Các mẫu thu thập phải được đính nhãn (Etiket) ghi rõ số hiệu mẫu và ghi lại các thông tin về loài ngoài hiện trường vào sổ ghi chép như dạng cây, màu sắc các đặc điểm đặc trưng, tọa độ thu thập mẫu, Bên cạnh đó phải chụp ảnh trực quan nhất các đặc điểm về hình thái của mẫu tự nhiên để làm tư liệu phân loại
Trang 252.2.3 Phương pháp phòng thí nghiệm
Các mẫu tiêu bản thu thập được chuyển về phòng thí nghiệm tại bảo tàng thực vật (HNU) và xử lý theo quy trình chuẩn:
- Xử lý phẳng mẫu và bộc lộ các đặc điểm hình thái đặc trưng của loài
- Sấy khô mẫu, tẩm độc và khẫu trình bày mẫu trên bìa giấy Croky 28 x 42
Chỉnh lý tên khoa học theo Danh lục thực vật Việt Nam tập I (Lê Trọng Cúc chủ biên, 2001) [14], tập II, III (Nguyễn Tiến Bân, Chủ biên, 2003-2005) [1,2],
Các thông tin cơ bản về sinh thái, dạng sống, đặc điểm sinh học, sinh thái học, nguồn gốc, phân bố được tham khảo bổ sung theo các thực vật chí như Thực vật chí Trung Quốc (Flora of China) [45], Invasive Species Specialist Group (ISSG), IUCN [47,48],
- Các số liệu thu thập ngoài thực địa được phân tích tổng hợp theo các nội dung chuyên môn: Danh lục thành phần loài SVNXH trên cơ sở các danh mục ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT ngày 26 tháng 9 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, lập danh sách các loài thực vật NLXH và các loài thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại,
Trang 26Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần loài thực vật NLXH xác định được trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Kết quả điều tra thực địa, thu thập mẫu vật, phân tích – phân loại mẫu về thực vật NLXH trên địa bàn toàn tỉnh đã xác định được 7 loài thực vật NLXH và 2 loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại Kết quả nghiên cứu được trình bày cụ thể ở Bảng 3.1
Bảng 3.1 Danh mục loài NLXH đã xác định được trên địa bàn tỉnh Tuyên
Quang STT Tên tiếng Việt Tên khoa học
Thực vật ngoại lai xâm hại
1 Bèo tây (bèo lục bình, bèo Nhật Bản) Eichhornia crassipes
Thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại
So sánh với danh sách thành phần loài thực vật NLXH theo thông tư liên tịch
số 27 cho thấy thực vật số lượng loài thực vật NLXH đã có mặt trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang gồm 7 trên 7 loài ghi nhận được ở Việt Nam Qua đó cho thấy trên địa bàn tỉnh đã bị xâm nhiễm tất cả nhóm loài thực vật NLXH được xác định tại Việt Nam
Bên cạnh đó, các loài thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại ghi nhận được 2 trên 7 loài (ghi nhận được ở Việt nam) có mặt tại Tuyên Quang Các loài còn lại không ghi nhận được có thể do các nguyên nhân di cư của loài (phát tán, di nhập do con người) đưa chúng xâm lấn vào các HST trên địa bàn tỉnh
Trang 27Sự có mặt của các loài thực vật NLXH đã và đang là một nguy cơ đang tác động lên các HST, cần cập nhật thông tin nhằm quản lý hiệu quả nhằm giảm thiểu các hậu quả do nhóm loài này gây ra
Tiến hành so sánh sự xâm nhiễm của các loài thực vật NLXH giữa Tuyên Quang và một số tỉnh đã nghiên cứu về SVNLXH cho kết quả trong bảng 3.2
Bảng 3.2 Danh mục các loài ngoại lai xâm hại và nguy cơ xâm hại trên địa bàn
tỉnh Tuyên Quang, thành phố Hà Nội và tỉnh Hưng Yên
STT Tên Việt Nam Tên khoa học Tuyên
Quang
Hà Nội
Hưng Yên
Danh mục các loài ngoại lai xâm hại
1 Bèo tây (bèo Lục bình,
7 Trinh nữ thân gỗ (mai
Danh mục loài ngoại lai xâm hại có nguy cơ xâm hại
4
Cây hoa Tulip châu Phi
(cây Uất kim hương
châu Phi)
Spathodea campanulata
Trang 28Qua bảng so sánh cho thấy rằng các loài thực vật NLXH theo Thông tư liên tịch số 27 đều xuất hiện tại 3 tỉnh Tuyên Quang, Hà Nội và Hưng Yên Điều đó chứng tỏ rằng mức độ xâm lấn của chúng khá rộng Mặc dù điều kiện tự nhiên và khí hậu của 3 tỉnh khác nhau nhưng các loài thực vật NLXH này đều có thể sinh trưởng và phát triển, Qua đó, có thể khẳng định chúng là các loài sinh vật có sức sống mạnh, sinh sản nhanh, phát tán nhanh, qua đó có các tác động nguy hại cho
các HST nơi chúng xâm lấn
3.2 Đặc điểm sinh học – sinh thái học của các loài thực vật NLXH
a Bèo tây (Bèo lục bình)
Tên khoa học là: Eichhornia crassipes (Mart.) Solms
Họ Lục bình - Pontederiaceae
Bộ Thài lài - Commelinales
Lớp Hành - Liliopsida, ngành Ngọc lan - Magnoliophyta
Đặc điểm hình thái: Cây sống ở nước, cao khoảng 30cm Rễ hình chùm Lá
mọc thẳng từ rễ thành hoa thị, hình tròn hoàn toàn nhẵn, đầu hơi nhọn, mép uốn lượn, gân hình cung rất sít nhau, mặt trên xanh sẫm bóng, mặt dưới nhạt, cuống dài gấp hai ba lần phiến lá, phồng lên thành phao xốp nổi, màu xanh lục rất nhạt hoặc trắng Cụm hoa mọc ở giữa túm lá trên một cán dài thành bông; hoa không đều màu tím hoặc trắng nhạt; bao hoa gồm đài và tràng cùng màu, hàn liền ở gốc, cánh hoa trên to hơn có một đốm vàng; nhị 6, 3 dài, 3 ngắn; bầu thượng 3 ô chứa nhiều noãn Quả nang Mùa hoa quả: tháng 10 – 11
Đặc điểm sinh học – sinh thái: Bèo tây thường sống ở ruộng sâu, rạch, nhất
là ở bình nguyên Bèo tây sống trôi nổi trong môi trường nước ngọt, bắt buộc phải có nước để có thể tồn tại Chúng có thể tạo thành bè dày đặc trên mặt nước, làm suy giảm chất lượng thủy vực, đặc biệt khi thối mục làm giảm ô-xy hòa tan trong nước, dẫn đến làm chết cá và các loài thủy sinh khác và làm thay đổi đáng kể đời sống của các loài động - thực vật bản địa Cũng như các loài sinh vật NLXH khác, nó còn gây ra những hậu quả xấu đối với nền kinh tế Chúng không chỉ cản trở hoạt động giao thông đường thủy mà còn làm chậm dòng chảy, làm giảm khả năng phát điện,
sức tưới tiêu và tăng kinh phí bảo trì các hồ chứa
Chúng có khả năng sinh sôi rất nhanh, có thể tăng gấp đôi kích thước quần thể trong 6-18 ngày (Mitchell 1976)
Trang 29Bèo tây là loài nhiệt đới và cận nhiệt đới, không phải là loài có khả năng chịu rét Nhiệt độ tăng trưởng tối thiểu là 12oC, nhiệt độ tối ưu là 25-30OC, nhiệt độ tăng trưởng tối đa là 33-35 OC (Kasselmann 1995)
Bèo tây có khả năng sinh sản vô tính và hữu tính (Penfound and Earle 1948, Gopal and Sharma 1981), cây con có thể mọc lên từ thân bò của cây mẹ Sinh sản hữu tính xảy ra khi khí hậu ôn hòa, tạo ra lượng hạt giống cực lớn Cây con có thể được phát tán nhờ nước và gió Lá có thể bị héo ở nhiệt độ thấp nhưng có thể tái tạo nhanh chóng từ các thân ngầm dưới mặt nước
Nguồn gốc: Cây Bèo tây xuất xứ từ châu Nam Mỹ, du nhập Việt Nam
khoảng năm 1905 với mục đích làm cảnh
Xâm nhập vào Tuyên Quang: Bèo tây được người dân đưa về trồng
vớimục đích chính là làm thức ăn cho gia súc Đây là hình thức du nhập có chủ đích
Hình 3.1 Hình thái cây Bèo tây (Eichhornia crassipes (Mart.) Solms) mẫu ghi nhận
tại Xã Thanh Tương, Na Hang
Nguồn: Đề tài
Trang 30b Cây Ngũ sắc (Cây bông ổi)
Tên khoa học là: Lantana camara L
Họ Cỏ roi ngựa - Verbenaceae
Bộ Hoa môi – Lamiales
Lớp Ngọc lan - Magnoliopsida, ngành Ngọc lan - Magnoliophyta
Đặc điểm hình thái: Cây nhỏ, cao tới 1,5m-2m hay hơn Thân có gai; cành
dài, hình vuông, có gai ngắn và lông ráp Lá mọc đối, khía rạng, mặt dưới có lông Cụm hoa là những bông co lại thành đầu giả mọc ở nách các lá ở ngọn Hoa lưỡng tính, không đều, thoạt tiên vàng dợi rồi vàng kim, vàng tươi, sau cùng đỏ chói, ít khi toàn hoa trắng Quả bạch hình cầu, nằm trong lá dài, khi chín màu đen; nhân gồm 1-
2 hạt cứng, xù xì
Đặc điểm sinh học – sinh thái: Hạt này mầm dễ dàng không cần điều kiện
đặc biệt Khả năng thích ứng với nhiều điều kiện sinh thái khác nhau, mọc trên nhiều loại đất
Cây mọc tốt nhất trong điều kiện tán mở như ở những nơi đất bỏ hoang, vùng bìa rừng, những dải đất ven bờ biển, rừng mới tái sinh
Những nơi rừng bị xáo động, bị chặt tạo ra các vùng tán mở tạo điều kiện cho Ngũ sắc mọc và tiếp tục phát tán Do hoa có nhiều màu sắc sặc sỡ nên được nhiều nơi gây trồng làm cây cảnh, điều này khiến cho cây nhanh chóng lan rộng sang nhiều nước nhiệt đới
Cây Ngũ sắc mọc tốt trên đất khô hạn, có thể phát triển chồi rất mạnh và cả tái sinh hạt
Nguồn gốc: Cây có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Trung, Nam
Mĩ Cây được trồng làm cảnh, sau đó phát triển rộng rãi khắp cả nước
Xâm nhập vào Tuyên Quang: Cây Ngũ sắc được người dân đưa về trồng
với mục đích chính là làm cảnh Đây là hình thức du nhập có chủ đích
Trang 31Hình 3.2 Cây ngũ sắc - Lantana camara
L ghi nhận khu vực chân núi ven hồ thủy
điện Na Hang gần thị trấn
Nguồn: Đề tài
Hình 3.3 Cây ngũ sắc - Lantana camara
L ghi nhận tại khu vực thành phố Tuyên
Quang Nguồn: Đề tài
c Cỏ lào (Cỏ hôi, Ba bớp, Yến Bạch, )
Tên khoa học là: Chromolaena odorata (L.) R.M.King & H.Rob
Họ Cúc - Asteraceae
Bộ Cúc – Asterales
Lớp Ngọc lan - Magnoliopsida, ngành Ngọc lan - Magnoliophyta
Đặc điểm hình thái: Cỏ lào là cây thân thảo lâu năm, tạo thành các bụi rậm
cao tới 1,5 – 2m, có thể cao tới 6m khi bám vào cây khác Thân Cỏ lào có lông tơ, các cành già có màu nâu và hóa gỗ ở gốc cành, đầu cành, các chồi có màu xanh và mọng nước Bộ rễ dạng chùm và không mọc sâu quá 20 – 30cm Lá mọc đối, mỏng mềm, có lông nhung, hình tam giác đến hình trứng, đầu lá nhọn, mang 3 gân chính nổi bật, các răng cưa có mép lá thô, mỗi mép lá có khoảng 1 – 5 răng cưa, lá non có thể trơn không mang răng cưa Gốc lá tù, cuống lá mảnh dài 1- 1,5cm, phiến lá thường dài 5 – 12cm, rộng 3 – 6cm Hoa mọc thành cụm dạng ngù với khoảng 20 –
60 cụm mỗi ngù Tràng hoa có màu trắng hay xanh nhạt, nhị hoa mọc dài vươn ra khỏi tràng hoa, số lượng tràng hoa lớn có thể phủ cả bụi cây Hạt nhỏ (dài 3 – 5mm, đường kính khoảng 1mm), nặng trung bình 2,5mg/hạt
Đặc điểm sinh học – sinh thái: Cỏ lào có thể mọc được ở nhiều loại đất và
thảm thực vật khác nhau trong rừng (nơi có lượng mưa trung bình năm 1 khoảng
Trang 32500 mm), đồng cỏ hoặc nơi đất khô hơn (lượng mưa trung bình năm dưới 500 mm) Ở những nơi điều kiện môi trường khô hạn, loài này bị giới hạn và chỉ mọc quanh
bờ sông
Ở giai đoạn phát triển, loài cỏ lào trở thành loài xâm hại nhưng không thích nghi ở những nơi băng giá và hạn hán
Để sinh trưởng tốt, cây con cần độ ẩm khoảng 60 - 70%, nhiệt độ khoảng
30oC Khi bị che bóng, cỏ lào không sinh sản và tạo hạt
Sự sinh trưởng của loài tỷ lệ thuận với độ mở tán và thường mọc nhiều ở bìa rừng Cỏ lào là loại thực vật xuất hiện trong giai đoạn đầu của diễn thế sinh thái
Nguồn gốc: Cỏ lào có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Châu Mỹ
Xâm nhập vào Tuyên Quang: Hạt giống của cỏ lào phát tán nhờ gió, động
vật và cả con người Hình thức phát triển theo con đường tự nhiên và du nhập không có chủ đích
Hình 3.4 Cỏ lào Chromolaena
odorata (L.) R.M.King & H.Rob
Ghi nhận tại khu vực ngã ba
sông Lô – sông Gâm
Nguồn: Đề tài
Hình 3.5 Cụm hoa Cỏ lào Chromolaena odorata
(L.) R.M.King & H.Rob
Nguồn: Đề tài
Trang 33d Cây Lược vàng (lan vòi, lan rũ, )
Tên khoa học là: Callisia fragrans (Lindl.) Woods
Họ Thài lài – Commelinaceae
Bộ Thài lài – Commelinales
Lớp Hành - Liliopsida, ngành Ngọc lan - Magnoliophyta
Đặc điểm hình thái: Cây thảo, sống lâu năm Thân đứng cao từ 15-40 cm,
có thân bò ngang trên mặt đất Thân chia đốt và có nhánh Đốt ở phía thân dài từ
1-2 cm, ở nhánh có thể dài tới 10 cm Lá đơn, mọc so le, phiến lá thuôn hình ngọn giáo, 15-20 cm x 4-6 cm, bề mặt nhẵn, mặt trên xanh đậm hơn mặt dưới, mọng nước Bẹ lá ôm khít lấy thân Mép lá nguyên, thường có mầu vàng khi lá già Gân lá song song Lá thường có mầu tím ở những cây có nhiều ánh sáng Hoa hợp thành xim, sắp xếp ở ngọn một trục dài và cong thành chùm Cụm hoa không cuống, gồm 6-12 bông Hoa mầu trắng, có cuống, cuống hoa dài 1 mm Lá bắc ngoài cụm hoa hình vỏ trấu, 1 cm x 1 cm, mầu vàng Lá bắc của hoa hình lòng thuyền, kích thước 1,5 mmx 3 mm, phần dưới trắng, phần trên xanh, mép nguyên, có lông mịn phía dưới Tràng 3, hình trứng, kích thước khoảng 1 mm x 2,5 mm, mầu trắng, mép nguyên Nhị 6, rời, chỉ nhị dài khoảng 1,5 mm, phần dưới dính với cánh hoa, bao phấn hình hạt đậu, kích thước khoảng 1/3 x ¼ mm, đính vào hai bên trung đới Bầu trên, 3 ô, cao khoảng 0,5 mm, vòi nhụy hình trụ, dài khoảng 1,5 mm, núm nhụy
hình chổi
Đặc điểm sinh học – sinh thái: Cây Lược vàng sinh trưởng và phát triển tốt
trong điều kiện đất giàu dinh dưỡng, thoát nước tốt, đủ ẩm, độ ẩm không khí từ 60% Nhiệt độ tối thích từ 20-25% Cây phát triển rộng bằng thân bò lan
45-Nguồn gốc: Cây có nguồn gốc ở Mexico, được di thực sang nước Nga, rồi
Trang 34Hình 3.6 Cây Lược vàng – Callissia fragrans (Lindl.) Woods
Lớp Ngọc lan - Magnoliopsida, ngành Ngọc lan - Magnoliophyta
Đặc điểm hình thái: là loài cỏ hàng năm, thân cao 0,5-0,9 m, mọc đứng, có
rãnh, phân cành ở giữa thân, ở phần non phủ lông tơ mềm
Lá xẻ 2 lần lông chim, cở 12-18 x 6-10 cm, chóp hình mũi mác; viền lá nguyên; cả 2 mặt phủ lông tơ và tuyến; gần như không cuống Cụm hoa đầu, hợp thành dạng ngù, ở tận cùng hoặc nách lá, mỗi cụm hoa có cuống riêng, phủ lông, đường kính cụm hoa 4-5 mm Lá bắc ở tổng bao 2 hàng; hàng ngoài 5 lá bắc hình bầu dục, mảnh, trong suốt, dài 1,5-1,8 mm, viền có tuyến Đế hoa hơi nhô lên Mỗi hoa trong cụm hoa có 1 vảy ở gốc Ở viền cụm hoa là 5 hoa cái, có tràng dạng lưỡi nhỏ, phiến lưỡi dài 0,5-0,8 mm, màu trắng, hữu thụ; thùy vòi nhụy hình dải, nhẵn, vươn ra phía ngoài Hoa ở giữa ống tràng màu trắng xanh, đầu 4 thùy có đỉnh nhọn; nhị 4, màu trắng, dài 1-1,3 mm; bao phấn cũng màu trắng; vảy ở gốc hoa hình bầu dục-mũi mác, mảnh, viền có tuyến Quả bế, màu đen, hình bầu dục-thuôn, bị ép dẹp, dài 2 mm, vỏ có lông và tuyến; mào lông trên đỉnh quả là 2 vảy, dài 2 mm Hoa
lưỡng tính, bất thụ, không có quả
Đặc điểm sinh học – sinh thái: Cây ra hoa và có quả tháng 3-6 Mọc ở các
bãi hoang, bờ đường, bãi phù sa ven sông, ở độ cao tới 200 m Cúc liên chi mọc ở các vùng đất nông nghiệp, đồng cỏ, đất thành thị, những nơi chịu xáo động Khả
Trang 35năng sinh sản mạnh, trung bình mỗi cây có thể tạo 15.000 hạt, những cây lớn có thể tạp 100.000 hạt Nhiệt độ nảy mầm của cúc liên chi từ 8 – 30oC; trong đó điều kiện tối ưu là từ 22 – 25oC Một số thí nghiệm cho thấy hơn 70% hạt cúc Liên chi ở lớp đất sâu tới 5cm có thể tồn tại tới 2 năm trong khi những hạt ở bề mặt đất không tồn
tại được quá 6 tháng
Nguồn gốc: Cây có nguồn gốc từ Mêxicô, Trung và Nam Mỹ
Xâm nhập vào Tuyên Quang: Cây cúc liên chi được phát tán vào Tuyên
Quang bằng việc phát tán hạt bởi gió Hình thức phát triển theo con đường tự nhiên
Hình 3.7 Cúc Liên chi Parthenium
hysterophorus L ghi nhận tại kho vực ven
sông Lô – Gâm (thành phố Tuyên Quang)
Nguồn: Đề tài
Hình 3.8 Hoa cây Cúc Liên chi
Parthenium hysterophorus L
Nguồn: Đề tài
f Trinh nữ Móc (trinh nữ thân vuông)
Tên khoa học là: Mimosa diplotricha C Wright
Họ Trinh nữ - Mimosaceae
Bộ đậu – Fabales
Lớp Ngọc lan - Magnoliopsida, ngành Ngọc lan – Magnoliophyta
Đặc điểm hình thái: Cây bụi, thân 4 cạnh, có rất nhiều gai mọc ngược dễ
móc vào quần áo Lá kép lông chim hai lần, mang 7-8 lá chét, lá chét xếp lại khi bị đụng đến Hoa đầu ở nách lá và thành chùm ở ngọn nhánh, màu tím hồng Hoa tứ phân, nhỏ Chùm qủa có đốt, quả không cọng, rộng 2 – 5 mm; đốt 4 – 8
Trang 36Đặc điểm sinh học – sinh thái: Là một loài rất dễ xâm lấn các khu vực đất
màu mỡ, có độ ẩm, nhiệt độ không khí và ánh sáng đều cao, đất hoang hoá, các đồng cỏ, lề đường, rừng trồng cây tái sinh, ở rìa các khu rừng, đất ven sông, các kênh rạch, dòng sông bị khô cạn Cây ra hoa và tạo hạt quanh năm, một cây có khoảng 300-700 quả, mỗi quả khoảng 14-26 hạt, quả rất dễ phát tán theo gió hoặc trôi theo dòng nước Cây trinh nữ Móc tái sinh chủ yếu bằng hạt, hạt có lớp vỏ dày, chịu được tác động của ngoại cảnh trong quá trình phát tán và lưu giữ được ở môi trường bất thuận khoảng 2-3 năm Cây còn nẩy chồi rất mạnh, từ gốc đã chặt ngang thân
Nguồn gốc: Cây trinh nữ Móc có nguồn gốc từ Trung và Nam Mỹ Khu phân
bố tự nhiên trải dài từ vùng nhiệt đới Mexico qua Trung Mỹ kéo tới vùng nhiệt đới Nam Mỹ (Burkart, 1948) Hiện nay, loài ngoại lai xâm lấn này đã trở thành loài nguy hiểm đối với môi trường và đa dạng sinh học ở nhiều nước thế giới từ nhiệt đới Châu Phi đến Châu Úc và khu vực Đông Nam Á (Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Việt Nam, )
Xâm nhập vào Tuyên Quang: Cây trinh nữ Móc được phát tán vào Tuyên
Quang theo dòng nước, bám vào da, lông của động vật, quần áo của người, theo các phương tiện giao thông, vận tải, Hình thức phát triển theo con đường tự nhiên và
du nhập không có chủ đích
Hình 3.9 Trinh nữ Móc Mimosa
diplotricha C Wright ghi nhận tại xã
Thái Bình, huyện Yên Sơn
nguồn: Đề tài
Hình 3.10 Trinh nữ Móc Mimosa
diplotricha C Wright có hoa
nguồn: Đề tài
Trang 37g Trinh nữ thân gỗ (cây mai dương)
Tên gọi khoa học là: Mimosa pigra L
Họ Trinh nữ - Mimosaceae
Bộ đậu – Fabales
Lớp Ngọc lan - Magnoliopsida, ngành Ngọc lan - Magnoliophyta
Đặc điểm hình thái: Cây trinh nữ thân gỗ là loài cây thân gỗ lâu năm, cao
tới 5 – 6m, có nhiều gai, nhiều cành, rễ ăn sâu trong đất, rộng và xa tới 3,5 m tính từ gốc (Robert, 1982) Thân có màu xanh ở gốc nhưng khi già hóa gỗ, ban đầu có lớp lông mịn bao phủ làm cho thân cây ráp, sau đó mọc nhiều gai con dài 5 - 10 cm Lá
có hai lần lá kép lông chim, khi chạm vào thì lá khép lại Lá dài 20 - 25 cm, màu xanh sáng, mỗi đốt lá có 10 - 15 cặp lá kép mọc đối xứng dài 5 cm Sống lá chét dài
3 - 12 cm, có gai thẳng đứng, mảnh, ở giữa gốc của các cặp lá chét đôi khi có gai mọc lệch hoặc mọc chính giữa hai cặp lá Mỗi lá kép có nhiều cặp lá chét con, thuôn, dài 3 - 8 mm, rộng 0,5 - 1,25 mm, mép lá có lông tơ Hoa trinh nữ màu hồng, nhỏ, mọc đều, nhiều hoa đơn hợp thành hoa đầu tự đường kính 1 - 2 cm Mỗi nách
lá thường có 2 hoa Đài nhỏ, xẻ không đều Quả dài 3 - 8 cm có nhiều lông, chia thành 10 - 20 khoang, mỗi khoang chứa một hạt, khi chín có màu nâu hay xanh ô liu
Đặc điểm sinh học - sinh thái: Cây trinh nữ thân gỗ thích nghi, phát triển tại
vùng khí hậu nhiệt đới Khi quả chín, các khoang tự tách ra khỏi quả và bay đi Một cây có thể sản sinh 9.000 - 220.000 hạt Vỏ quả có nhiều lông Khi gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt độ và ẩm độ, hạt tách ra khỏi vỏ quả và nảy mầm Hạt rất cứng, một số có thể nảy mầm ngay khi rụng, một số khác có thể nảy mầm sau 1 - 2 năm Nhờ có lớp vỏ cứng không thấm nước mà hạt cây trinh nữ có thể trải qua giai đoạn
ngủ nghỉ rất dài và hạt cũng có khả năng tồn tại lâu trong đất
Cây trinh nữ thân gỗ dễ mọc vì hạt có khả năng nảy mầm nhanh chóng tại những nơi đất trống, nhiều ánh sáng như ven rừng, dọc hai bên đường, bên bờ ruộng, thân đê, đập hồ chứa nước, theo bờ kênh, rạch, bờ sông, rãnh nước và hạt cứng có khả năng nảy mầm rất cao sau nhiều năm Sau khi nảy mầm, cây bắt đầu hình thành hai lá mầm Giai đoạn này kéo dài khoảng 3 - 5 ngày, ngày thứ 7 bắt đầu xuất hiện lá thật đầu tiên và dần dần ra các lá tiếp theo Ngay sau khi mọc, cây trinh
nữ thân gỗ tăng trưởng rất nhanh, sau 7 ngày, chiều cao trung bình của cây từ 2,8 - 4,3 cm; Sau 1 tháng cây có thể cao tới 19,5 – 25,3 cm
Trang 38Chiều cao cây còn tùy thuộc theo độ tuổi của cây, mật độ cây cũng như điều kiện sinh thái đặc biệt là chế độ nước ở từng vùng sinh thái
Khả năng phân nhánh của cây là một đặc điểm quan trọng giúp cho cây tăng trưởng sinh khối và diện tích che phủ Thông thường trong năm đầu, cây không phân nhánh Kể từ năm thứ hai trở đi, cây bắt đầu phân nhánh Trong điều kiện không ngập nước, cây có thể phân nhánh ngay ở phần gốc, cách mặt đất 10 – 15 cm, nhưng trong điều kiện ngập nước, vị trí phân nhánh thường cao hơn tùy thuộc vào mực nước
Nguồn gốc: Cây trinh nữ thân gỗ có nguồn gốc ở Trung Mỹ và Nam Mỹ, tại
đó chúng phát triển thành vành đai kéo dài từ Mexico qua Trung Mỹ, Antilles, Columbia, Peru và Brazil tới phía bắc của Achentina (Lewis & Elias, 1981)
Xâm nhập vào Tuyên Quang: Cây trinh nữ thân gỗ được phát tán vào
Tuyên Quang theo dòng nước, hoạt động chủ đích của con người, theo động vật, con người và xe cộ, Hình thức phát triển theo con đường tự nhiên, không chủ đích và có chủ đích
Hình 3.11 Cây trinh nữ thân gỗ (Mimosa
pigra L.) xâm lấn tại khu vực xã Phú
Thịnh, huyện Yên Sơn
Nguồn: Đề tài
Hình 3.12 Cây trinh nữ thân gỗ (Mimosa
pigra L.) xâm lấn tại khu vực hồ Ba Hòn,
huyện Sơn Dương Nguồn: Đề tài