1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn cây cổ thụ trong hệ thống cây xanh đô thị tại hai quận sơn trà và ngũ hành sơn, thành phố đà nẵng

113 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn cây cổ thụ trong hệ thống cây xanh đô thị tại hai quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
Tác giả Nguyễn Thị Lan
Người hướng dẫn TS. Trần Minh Đức
Trường học Đại học Nông Lâm Huế
Chuyên ngành Lâm học
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2016
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 5,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp SWOT để phân tích các thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý, chăm sóc bảo vệ hệ thống cây xanh đô thị và cây cổ thụ, cây di sản trên địa bàn Kết quả chính của đề tài:

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn cây cổ

thụ trong hệ thống cây xanh đô thị tại hai quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn, thành

phố Đà Nẵng” là đề tài do chính bản thân tôi thực hiện Các số liệu nghiên cứu, kết

quả điều tra, kết quả phân tích là trung thực, khách quan chưa từng được công bố

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu kết quả là sản phẩm kế thừa hoặc đã công

bố của người khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Lan

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là một công việc hết sức quan trọng trong chương trình đào tạo của nhà trường, giúp học viên tiếp cận với thực tế, rút ngắn khoảng cách

giữa lý thuyết và thực tiễn, bước đầu tập làm quen với công việc mà học viên sẽ

làm sau khi ra trường

Để thực hiện đề tài theo chương trình đào tạo cao học ngành Lâm học, được sự đồng ý của nhà trường và thầy giáo hướng dẫn, bản thân tôi đã thực hiện đề tài

“Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn cây cổ thụ

trong hệ thống cây xanh đô thị tại hai quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn, thành

phố Đà Nẵng”

Bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân mình, đề tài còn được sự giúp đỡ tận tình của các quý thầy giáo, cô giáo, các bạn học viên, các cấp, các ban ngành liên quan

cùng bạn bè đồng nghiệp Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến quý thầy cô giáo

trong khoa Lâm nghiệp, Phòng đào tạo sau Đại học trường Đại học Nông Lâm Huế,

Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ Công ty Công viên – Cây xanh Đà Nẵng và đặc biệt là

thầy giáo TS Trần Minh Đức, người trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực

hiện đề tài Cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các bạn đồng nghiệp, của các cơ quan,

chính quyền địa phương đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài của mình

Do thời gian và kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế nên trong quá trình thực hiện đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô giáo, các cơ

quan, bạn bè đồng nghiệp đóng góp thêm ý kiến để bản thân tôi có thể hoàn thiện hơn

trong nghiên cứu khoa học và có nhiều kinh nghiệm hơn trên con đường tiếp theo

Xin chân thành cảm ơn!

Huế, 29 tháng 4 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Lan

Trang 3

TÓM TẮT

Cây xanh, một thành phần quan trọng trong các công trình kiến trúc đô thị, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc điều hòa khí hâu, bảo vệ môi trường và giải quyết

các vấn đề về môi sinh Đà Nẵng là một thành phố có tốc độ phát triển rất nhanh về cơ

sở hạ tầng, cộng với những biến động của thời gian như chiến tranh, thiên tai, dịch hại

và nhận thức con người trong bối cảnh kinh tế thị trường đã làm cho số lượng cây cổ

thụ tại đây ngày càng suy giảm và có nguy cơ vắng bóng hoàn toàn nếu không có giải

pháp quản lý bảo tồn hợp lý Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn

cây cổ thụ trong hệ thống cây xanh đô thị tại hai quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn,

thành phố Đà Nẵng”

Với mục đích: Xây dựng cơ sở dữ liệu về hiện trạng và luận cứ khoa học cho công tác quản lý và bảo tồn các cá thể và quần thể cây cổ thụ trên địa bàn hai quận

phía Đông thành phố Đà Nẵng

Phương pháp nghiên cứu: Đề tài dự kiến sẽ vận dụng các hướng tiếp cận: Tiếp cận thông quan tham khảo và kế thừa có chọn lọc trên cơ sở phúc tra, kiểm chứng tại

địa bàn nghiên cứu; Tiếp cận có sự tham gia; Tiếp cận bằng cách lồng ghép: phối hợp

giữa hoạt động nghiên cứu với hoạt động thường xuyên của đơn vị công tác; Tiếp cận

bằng phương pháp chuyên gia

Các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp; phương pháp thu thập số liệu sơ cấp; phương pháp điều tra trên hiện trường; phương pháp

phân tích, xử lý số liệu (Sử dụng tài liệu chuyên môn để phân loại đối tượng nghiên

cứu, ma trận và tiêu chí đánh giá để bình chọn đối tượng ưu tiên và nhân tố chủ yếu

Sử dụng sơ đồ Venn để phân tích các bên liên quan trong quản lý và bảo tồn cây cổ

thụ Phương pháp SWOT để phân tích các thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý,

chăm sóc bảo vệ hệ thống cây xanh đô thị và cây cổ thụ, cây di sản trên địa bàn)

Kết quả chính của đề tài: Đánh giá thực trạng và năng lực quản lý hệ thống cây xanh đô thị trên địa bàn Thành phố Đà nẵng Điều tra hiện trạng hệ thống cây xanh cổ

thụ trên địa bàn hai quận Ngũ Hành Sơn và Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, đánh giá

điều kiện sống và các mối đe dọa tập đoàn cây cổ thụ ở khu vực nghiên cứu, đánh giá

công tác quản lý bảo tồn cây cổ thụ tại địa bàn nghiên cứu Từ đó, đề xuất các giải

pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo tồn cây cổ thụ ở quận Sơn Trà và quận

Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng: Giải pháp chính sách, pháp luật; giải pháp tổ chức

quản lý; giải pháp truyền thông; giải pháp khoa học và công nghệ trong công tác quản

lý, chăm sóc bảo vệ hệ thống cây cổ thụ, cây di sản trên địa bàn quận Sơn Trà và quận

Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH ẢNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích của đề tài 1

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

4 Những điểm mới của đề tài 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu 3

1.1.1 Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu 3

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu 6

1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 16

1.2.1 Trên thế giới 16

1.2.2 Ở Việt Nam 18

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Mục tiêu cụ thể 20

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20

2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20

2.4 Nội dung nghiên cứu 20

2.5 Phương pháp nghiên cứu 23

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội quận Ngũ Hành Sơn và Sơn Trà 26

Trang 5

3.1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Quận Ngũ Hành Sơn 26

3.1.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Quận Sơn Trà 29

3.1.3 Các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến sự tồn tại và công tác quản lý bảo tồn cây cổ thụ tại khu vực nghiên cứu 30

3.2 Đánh giá thực trạng và năng lực quản lý hệ thống cây xanh đô thị trên địa bàn Thành phố Đà nẵng 31

3.2.1 Đánh giá hiện trạng cây xanh đô thị trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng 31

3.3 Điều tra hiện trạng hệ thống cây xanh cổ thụ trên địa bàn hai quận Ngũ Hành Sơn và Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng 56

3.3.1 Hiện trạng hệ thống cây xanh trên các tuyến đường chính trên địa bàn hai Quận Ngũ Hành Sơn và Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng 56

3.3.2 Điều tra hiện trạng cây cổ thụ ở các khu vực nghiên cứu 59

3.4 Đánh giá công tác quản lý bảo tồn cây cổ thụ tại địa bàn nghiên cứu Error! Bookmark not defined 3.5 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo tồn cây cổ thụ ở quận Sơn Trà và quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng 79

3.5.1 Giải pháp chính sách, pháp luật 79

3.5.2 Giải pháp tổ chức quản lý 79

3.5.3 Giải pháp truyền thông: tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về cảnh quan, môi trường, pháp luật và quảng bá hình ảnh cây cổ thụ, cây di sản 82

3.5.4 Giải pháp khoa học và công nghệ 82

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87

1 Kết luận 87

2 Tồn tại 89

3 Đề nghị 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCVT Bưu chính viễn thông

CN - TTCN Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp CSDL Cơ sở dữ liệu

CVCX Công viên cây xanh GTVT Giao thông vận tải

TM - DV Thương mại - dịch vụ

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Bảng phân loại cây bóng mát và các yêu cầu kỹ thuật 37

Bảng 3.2: Thành phần loài cây bóng mát trong công viên và ở đường phố Đà Nẵng 45

Bảng 3.3: Đặc trưng hình thái và vật hậu của một số loài cây bóng mát ở Thành phố

Bảng 3.10: Tổng hợp số lượng các loài cây cổ thụ trên địa bàn nghiên cứu 68

Bảng 3.11: Số lượng cây trên các tuyến đường, địa điểm phân bố cây cổ thụ trên địa

bàn nghiên cứu 69

Bảng 3.12: Các khuyết tật, yếu tố tổn hại và đe dọa cây cổ thụ 70

Bảng 3.13: Các hoạt động ảnh hưởng đến không gian sinh trưởng của cây xanh cổ thụ 72

Bảng 3.14: Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cây cổ thụ trên các tuyến phố 75

Bảng 3.15: Phân tích SWOT đối với công tác tổ chức, quản lý cây xanh đường phố tại

thành phố Đà Nẵng 76

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 3.1: Cây bị mục rỗng 74

Hình 3.2: Cây bị phụ sinh bám gởi 74

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Cây xanh, một thành phần quan trọng trong các công trình kiến trúc đô thị, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc điều hòa khí hâu, bảo vệ môi trường và giải quyết

các vấn đề về môi sinh Cây xanh giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường thì việc sử dụng

cây xanh đang là giải pháp hiệu quả trong việc bảo vệ môi trường Do vậy, vấn đề cây

xanh đô thị trở thành vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và nhà quản lý

Bên cạnh việc tăng số lượng và diện tích cây xanh bằng cách quy hoạch và trồng mới ở các vị trí thích hợp thì việc bảo vệ những cây hiện có đặc biệt là những cây cổ

thụ có nghĩa rất lớn lĩnh vực quản lý và phát triển hệ thống cây xanh của các đô thị

trong đó có thành phố Đà Nẵng

Thành phố Đà Nẵng là đô thị lớn của nước ta, là trung tâm kinh tế lớn về công nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch của nước ta và khu vực Đông Nam Á Đi cùng

với sự phát triển kinh tế, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa với tốc độ khá nhanh đã

làm phá vỡ sự cân bằng của môi trường sinh thái, từ đó đặt ra vấn đề sinh thái và cảnh

quan cần thiết phải giải quyết, nhu cầu bảo vệ những cây xanh hiện có đồng thời gia tăng

diện tích cây xanh trong đô thị, như trên đường phố, trong khuôn viên, công viên là vấn đề

cấp thiết trong tình hình hiện nay

Khác với các đô thị cổ khác ở miền Trung và cả nước, Đà Nẵng là một thành phố

có tốc độ phát triển rất nhanh về cơ sở hạ tầng, cộng với những biến động của thời

gian như chiến tranh, thiên tai, dịch hại và nhận thức con người trong bối cảnh kinh tế

thị trường đã làm cho số lượng cây cổ thụ tại đây ngày càng suy giảm và có nguy cơ

vắng bóng hoàn toàn nếu không có giải pháp quản lý bảo tồn hợp lý

Bảo tồn cây cổ thụ thực chất là bảo tồn các chứng tích lịch sử, giữ gìn cảnh quan sinh thái - văn hóa và góp phần bảo tồn đa dạng sinh học của địa phương và đất nước

Để bảo tồn được cây cổ thụ trong hệ thống cây xanh đô thị cần có những dữ liệu

và cơ sở khoa học thông qua những công trình nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu

Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn cây cổ thụ trong hệ thống

cây xanh đô thị tại hai quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng”

2 Mục đích của đề tài

Xây dựng cơ sở dữ liệu về hiện trạng và luận cứ khoa học cho công tác quản lý

và bảo tồn các cá thể và quần thể cây cổ thụ trên địa bàn hai quận phía Đông thành phố

Đà Nẵng

Trang 10

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

a Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần đánh giá được thực trạng hệ thống và công tác quản lý cây xanh đô thị nói chung và cây cổ thụ nói riêng trong các thành phố

lớn của Việt Nam

Từ các luận cứ khoa học thu được sẽ đề xuất được những giải pháp chủ yếu để quản lý bảo tồn cây cổ thụ trong hệ thống cây xanh đô thị của địa bàn nghiên cứu và

các địa phương khác có đặc điểm tương đồng

b Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ đề xuất các giải pháp làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng chiến lược, kế hoạch hành động, giải pháp quản lý và bảo tồn các cá thể và quần thể cây cổ

thụ trên địa bàn quận Sơn Trà và quận Ngũ Hành Sơn có hiệu quả

4 Những điểm mới của đề tài

Đề tài là nghiên cứu đầu tiên về cây cổ thụ trong thành phố của miền Trung, vì vậy kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở đề xuất các giải pháp giải pháp quản lý

và bảo tồn đồng thời làm cơ sở và dữ liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo

trong khu vực

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu

1.1.1.1 Đô thị và cây xanh trong môi trường đô thị

Hệ sinh thái trong môi trường đô thị là một hệ sinh thái nhân tạo, do con người tác động vào Con người cải tạo hoặc hoàn toàn tạo dựng nhằm đáp ứng những nhu

cầu cuộc sống của mình Mỗi đô thị đều mang những đặc trưng cảnh quan riêng cho

mình, phù hợp với điều kiện sản xuất, trình độ, không gian kiến trúc

Cây xanh, một thành phần quan trọng trong các công trình kiến trúc, có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và giải quyết các

vấn đề môi sinh Cùng với việc giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì sử dụng cây xanh đang

là giải pháp hiệu quả nhất trong việc bảo vệ môi trường: Cây xanh làm giảm sự nhiễm

bẩn môi trường không khí; Nguồn lợi kinh tế gián tiếp của cây xanh; Cây xanh góp

phần an ninh, quốc phòng;

Trồng cây xanh trong khu đô thị hay xung quanh khu dân cư, khu công nghiệp để che nắng, giảm lượng bức xạ mặt trời, giảm tiếng ồn và bụi phát tán ra bên ngoài nhà

máy, đồng thời tạo thẩm mỹ, cảnh quan môi trường trong khuôn viên các nhà máy của

khu công nghiệp và tạo cảm giác êm dịu về màu sắc cho môi trường khu vực

Không khí chứa bụi khi thổi qua các hàng cây xanh thì các hạt bụi sẽ bám vào mặt lá cây do lực ma sát và trọng lượng của bản thân hạt bụi Các luồng không khí thổi

qua tán lá cây sẽ bị lực cản làm cho tốc độ của luồng không khí giảm và loãng đi Do

đó một phần hạt bụi sẽ ngưng đọng trên lá cây, vì vậy có thể nói cây xanh có tác dụng

lọc sạch bụi trong không khí

Do đó, để hạn chế các tác động tiêu cực tới môi trường tự nhiên, đồng thời làm đẹp thêm cảnh quan khu dân cư, cần quan tâm tới việc quy hoạch hàng rào cây xanh

và tăng số lượng cây trồng trong khuôn viên khu dân cư Diện tích trồng cây xanh

trong dân cư đô thị phải đảm bảo 15% tổng diện tích khu đô thị

1.1.1.2 Lịch sử quá trình phát triển không gian cây xanh đô thị

Từ xa xưa, trước khi thế giới hình thành Liên đoàn Kiến trúc sư Cảnh quan Quốc

tế (International federation of landscape architects) thì nghệ thuật vườn và hệ thống

cây xanh được con người sử dụng trang trí trong các khu vực tường rào của các khu

cung điện, dinh thự, nhà ở quý tộc, nho sĩ Mục đích sử dụng cây xanh là để tô điểm

nơi ở, nghỉ ngơi giải trí cho một số ít người Hệ thống cây xanh lúc này chỉ có hình

thức điểm, xuyến Trải qua quá trình phát triển của xã hội, cùng với sự phát triển của

Trang 12

các ngành kinh tế, thương mại Ngành trồng cây xanh, trong quá trình trao đổi buôn

bán, đã hình thành các vườn sưu tập cây phát triển theo Một số nước trên thế giới bắt

đầu xuất hiện những bản vẽ thiết kế hoa viên rất nổi tiếng, đặc biệt ở các nước phương

Đông như: Các vườn cảnh (Vườn treo Babylon nổi tiếng), các kiểu vườn Thượng

uyển, các tác phẩm nghệ thuật bonsai đã có từ rất lâu đời và được trưng bày trong các

cung đình ở Trung Quốc, Nhật Bản Ngay từ những năm 1618, trong cuốn sách “A

New Orchard and Garden” của William Lawson đã trình bày khá chi tiết về cách

chăm sóc cây (Gene W Grey – Frederik J Deneke, 1996) Tùy vào tình hình phát triển

kinh tế, xã hội của mỗi nước, từng giai đoạn khác nhau, hệ thống cây xanh đô thị phát

triển cũng khác nhau Nhìn chung trên thế giới có 3 giai đoạn phát triển không gian

xanh đô thị

- Thế kỷ XIX: Từ nửa sau Thế kỷ XIX, ở châu Âu bắt đầu có xu hướng đưa không gian tự nhiên vào đô thị (theo quan niệm trước đây, đô thị tập trung ở một số

nơi và không gian tự nhiên nằm ngoài đô thị) Mục đích là để tạo sự cân bằng cho đô

thị trong quá trình phát triển, có các hình thức bố trí cây như sau: Trồng cây hai bên bờ

sông tạo thành lối đi dạo, dọc theo các đại lộ, ở quảng trường… Ngay từ thời kỳ này,

nhiều tài liệu đã có giải thích lý do phải đưa không gian tự nhiên vào đô thị vì các lợi

ích về môi trường, lợi ích về xã hội và lợi ích về kinh tế Ba yếu tố này ngày nay chính

là 3 trụ cột của phát triển bền vững Từ nhận thức đó, việc trồng cây xanh đã được tổ

chức trồng rất tốt cả về số lượng lẫn chất lượng Ngoài ra, do về mặt tổ chức, các cơ

quan trồng cây, quản lý cây xanh, quản lý đường giao thông và hạ tầng kỹ thuật là

một, nên việc thực hiện các công việc được phối hợp hài hòa

- Thế kỷ XX: Không gian xanh, hệ thống cây xanh có nhiều giảm sút, lý do chủ yếu là: Giá trị được theo đuổi vào Thế kỷ XX không còn là sự cân bằng giữa đô thị và

thiên nhiên, mà ưu tiên cho các lợi ích về kinh tế, giao thông, nhất là giao thông xe

hơi Do đó nhiều không gian xanh đã bị phá bỏ để làm đường, mở rộng đường và làm

chỗ đậu xe… Trong công tác quản lý bắt đầu có sự chuyên môn hóa, mỗi ngành chỉ lo

phần việc của mình và thiếu sự phối hợp hài hòa Kết quả là các không gian xanh bị

xâm hại, giảm đi đáng kể Trong giai đoạn 1980-1990, do lạm dụng quá mức các

không gian xanh để xây dựng các không gian chức năng khác nên chất lượng môi

trường sống giảm đi rõ rệt Người dân phàn nàn và chất vấn lãnh đạo Thành phố về mô

hình phát triển của đô thị Nhiều Hội đoàn bảo vệ môi trường sinh thái được thành lập

Từ đó chính quyền đô thị bắt đầu lưu ý đến không gian tự nhiên trong chiến lược phát

triển đô thị với mục tiêu bảo vệ các không gian xanh và đưa mục tiêu này vào quy

hoạch chung của đô thị Giai đoạn 1990-2000, Chính quyền đô thị ban hành các chính

sách cụ thể để đạt được mục tiêu bảo vệ và phát triển các không gian xanh đã được đề

ra trong quy hoạch chung

Trang 13

- Đến nay: Là thế kỷ XXI, bắt đầu có sự liên kết giữa các chính sách về đô thị

Theo đó, không triển khai rời rạc theo từng ngành (không có các chương trình, chính

sách riêng về nhà ở, giao thông, cây xanh, không gian xanh…) mà kết hợp chung trong

một chương trình, chính sách Mô hình phát triển đô thị theo hướng đa trung tâm, đa

chức năng Các trung tâm nối với nhau bằng hành lang giao thông, lớp đệm chuyển

tiếp từ khu đô thị này sang khu đô thị khác là vùng không gian xanh tự nhiên

“Frédéric Ségur, Quy hoạch và quản lý về không gian xanh, chính sách bảo tồn và

phát triển cây xanh đô thị, tài liệu tập huấn năm 2011”

1.1.1.3 Khái niệm và tiêu chí đánh giá cây cổ thụ

* Cây cổ thụ:

- Khái niệm: Cây cổ thụ là cây thân gỗ lâu năm được trồng hoặc mọc tự nhiên

- Tiêu chí: Tại khoản 6, điều 2, chương 1, Nghị định số 64/2010/NĐ-CP, ngày

11/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ, đã quy định rõ: Cây cổ thụ là cây thân gỗ lâu

năm được trồng hoặc mọc tự nhiên, có độ tuổi tối thiểu 50 năm hoặc cây có đường

kính từ 50cm trở lên tại chiều cao 1,3m của cây (tính từ gốc)

* Cây di sản:

- Khái niệm:

Cây cổ thụ gắn với di tích lịch sử, văn hóa và truyền thống cách mạng Cây cổ

thụ, cây di tích là những chứng tích lịch sử - văn hóa, ghi nhận những giá trị truyền

thống; nhiều cây cổ thụ trong các thời kỳ kháng chiến được sử dụng làm địa điểm liên

lạc, đài quan sát, nơi cắm cờ cách mạng, gắn liền với truyền thống cách mạng của dân

tộc Những cây cổ thụ này được Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam

(VACNE) công nhận là cây di sản Có thể thấy, VACNE là một tổ chức tiên phong đi

đầu trong việc bảo vệ cây quý khi phát động phong trào công nhận Cây di sản Bảo tồn

Cây di sản có nghĩa là trực tiếp bảo tồn được nguồn gen đa dạng sinh học, cái vốn quý

nhất của sự sống Cây Di sản Việt Nam có ý nghĩa thiết thực về bảo vệ cây, bảo tồn đa

dạng sinh học, là phương thức bảo tồn mang tính chất cộng đồng, giáo dục con người

thân thiện với môi trường và khơi dậy nét đẹp văn hoá truyền thống quê hương

- Tiêu chí:

Theo VACNE, Tiêu chí để đánh giá cây di sản được phân loại như sau:

Cây tự nhiên: là cây sống trên 200 năm, cao to hùng vĩ; Cao trên 40m, chu vi

trên 6m đối với cây gỗ đơn thân; Cao trên 25m, chu vi trên 15m đối với các cây đa, si

thuộc chi Ficus; Có hình dáng đặc sắc; Đặc biệt ưu tiên các loài đặc hữu, quý hiếm, có

giá trị văn hoá, lịch sử

Trang 14

Cây trồng: Cây sống trên 100 năm, cao to hùng vĩ; Cao trên 30m, chu vi trên

3,5m đối với cây gỗ đơn thân; Cao trên 20m, chu vi trên 10m, đối với cây đa, si thuộc

chi Ficus; Có hình dáng đặc sắc; Đặc biệt ưu tiên các loài có giá trị cảnh quan, văn

hóa, lịch sử

Các cây khác: Cây không đạt các tiêu chí kỹ thuật đã nêu, nhưng có giá trị đặc

biệt về khoa học, hoặc lịch sử, hoặc văn hoá, hoặc mỹ quan; Cây cảnh độc đáo; Các

cây gần đạt các tiêu chí nhóm A, B nêu trên nhưng có giá trị đặc biệt về khoa học,

hoặc văn hoá, hoặc lịch sử, hoặc mỹ quan

Ghi chú: Chu vi cây đơn thân đo cách mặt đất 1,3m; chu vi cây có bạnh vè đo

trên bạnh vè 20cm; chu vi các loài đa, si đo cả chu vi các rễ phụ

Do tác động của thiên tai, chiến tranh, biến đổi khí hậu và sự thiếu ý thức của con người, các di sản địa phương trong đó có cây cổ thụ đã mai một dần, đặc biệt những

cây cổ thụ trong rừng thì việc giữ gìn, bảo tồn là vô cùng khó khăn Bên cạnh những

cây đã chết, trong số cây còn lại bị mục rỗng, thiếu dinh dưỡng, sâu bệnh có nguy cơ

mất dần là rất lớn Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách nghiên cứu thực trạng cây cổ thụ

để từ đó có giải pháp bảo tồn, tôn tạo những chứng tích văn hóa lịch sử quý giá này

Việc bảo tồn giữ gìn tôn tạo cây cổ thụ, một tài sản vô giá không chỉ có ý nghĩa lịch sử, văn hóa, cảnh quan, môi trường sinh thái mà phải trở thành tình cảm và trách

nhiệm của mỗi chúng ta vì bảo vệ nuôi dưỡng cây cổ thụ sẽ làm tăng vẻ đẹp phong

cảnh là những nét chấm phá trong bức tranh phong cảnh đất nước, là tư liệu quý để

nghiên cứu lịch sử tự nhiên, qua đó có thể tìm hiểu tình hình khí hậu, và những biến

thiên khí hậu trong quá khứ Cây cổ thụ còn có ý nghĩa đặc biệt trong nghiên cứu sinh

lí cây thân gỗ qua từng năm của chúng để nghiên cứu quá trình sinh trưởng phát triển,

già cỗi và tử vong của chúng

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu

1.1.2.1 Hiện trạng cây xanh đô thị tại một số thành phố lớn của Việt Nam

Ở Việt Nam công tác phát triển cây xanh đô thị hiện đã được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm Diện tích cây xanh đô thị từng bước tăng dần cả về số lượng và chất

lượng, cây trồng đặc biệt ở các đường phố lớn ngày càng đa dạng và phong phú

Từ sau ngày miền Bắc được giải phóng, công tác trồng cây làm xanh tươi lại đất nước đã được Trung ương Đảng, Chính phủ và đặc biệt Hồ Chủ Tịch hết sức quan

tâm Đảng và Chính phủ đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị vạch ra phương hướng và

nhiệm vụ cho công tác trồng cây, gây rừng thực hiện việc trồng cây trong cả nước

Trong hoàn cảnh đất nước trải qua cuộc chiến tranh phá hoại tàn khốc của giặc Mỹ,

công tác cải tạo và xây dựng đô thị bị đình đốn, công tác cây xanh không phát triển

Nơi nào nhận thức được lợi ích của cây xanh đô thị và quan tâm chỉ đạo thì phong trào

Trang 15

trồng cây đường phố, bảo vệ cây và các công viên, vườn hoa làm tốt, điển hình là Hà

Nội, Hải Phòng Nhiều nơi công tác cây xanh không được chú ý, không có tổ chức

chuyên trách, thiếu kế hoạch ươm và trồng cây Nhiều nơi đã trồng cây một cách tuỳ

tiện và cây trồng không đúng tiêu chuẩn quy phạm xây dựng đô thị đã làm hư hỏng

nhà cửa và các hệ thống công trình ngầm, hạn chế ánh sáng và gió mát Nhưng từ

những nỗ lự ban đầu đó, kết quả đã trồng được nhiều cây bóng mát, cây phong cảnh

cho đường phố, khu nhà ở, những nơi sinh hoạt văn hoá công cộng Trồng được những

đai cây xanh ở ngoại ô có tác dụng phòng hộ cho thành phố, diện tích cây xanh đô thị

được tăng lên gấp từ 3 đến 5 lần so với thời gian trước khi miền Bắc giải phóng

Tại Hà Nội phần lớn cây xanh trên đường phố, công viên và trong các vườn Bách thảo được người Pháp trồng vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX Như có hơn 1.400

cây Sấu cổ thụ, trồng ở khắp nơi trong thành phố và nhiều nhất ở phố Phan Đình

Phùng được người Pháp trồng vào cuối thế kỷ XIX Ở phố Lò Đúc, con phố duy nhất

trồng Sao đen ở Hà Nội đầu thế kỷ XX Hồ Gươm trước đây khá rộng, nhà dân ở ra sát

mép hồ Tháng 11năm 1885 giải tỏa các hộ dân sống xung quanh hồ và khởi công đổ

đất cạp hố, cho san lấp những vùng trũng thấp Đến đầu năm 1893, con đường nhựa

chạy quanh Hồ Gươm được khánh thành, thì thảm cây xanh quanh Hồ Gươm cũng

được trồng với nhiều loài cây được đưa từ nhiều miền của đất nước Vì vậy thảm cây

xanh ở đây hoàn toàn là cây nội địa, khác với thảm cây xanh ở khu vực Bách thảo Có

thể nói đây là thảm cây xanh quý nhất của thủ đô Hà Nội và ít chịu tác động nhất bởi

quá trình đô thị hóa [14]

Ở thành phố Hồ Chí Minh, vào những năm đầu khi Sài Gòn vừa bị đánh chiếm và còn nằm dưới quyền cai trị của các đô đốc, thì Hải quân Pháp đã bắt đầu cho trồng

hàng loạt cây Me ven các đường sá kể từ khoảng 1863-1865, cứ 5m một cây dọc theo

vệ đường Ở hai bên bờ kênh Charner (nay là đại lộ Nguyễn Huệ), kể từ năm 1870 cây

Me được trồng lấn ra dần dần theo nhịp độ lấp từng đoạn con "kênh lớn" này Hiện

nay ở khu vực nội thành và nội thành mở rộng, đường phố đang trong thời kỳ chỉnh

trang nên các dãy cây xanh đường phố không đều và không liên tục Chỉ có các dãy

cây xanh trồng trên đường phố ở khu vực nội thành liên tục trên một số tuyến ở Quận

1, 3 và một số các trục đường lớn ở các Quận khác có từ trước năm 1975 đã tạo được

vi khí hậu dãy cây tạo bóng mát người đi bộ Thống kê mới nhất của Phòng Quản lý

công viên – cây xanh, Sở Giao thông vận tải TPHCM, đến nay toàn bộ diện tích công

viên, vườn hoa và cây xanh dải phân cách trên địa bàn thành phố chỉ còn khoảng 535

héc ta, giảm gần 50% so với năm 1998 [14]

Tiếp đến thành phố Huế, vào thời kỳ triều Nguyễn cây xanh đã được chú trọng trồng trên các con đường, trong mỗi vườn nhà Nay cây xanh ở Huế được trồng nơi nơi

như các điểm xanh công cộng, công viên, đương phố, vườn đồi, ven sông, góp phần

quan trọng để tạo nên một nét Huế riêng Đến thời điểm này, ở Thừa Thiên Huế có 43

Trang 16

loài thực vật quý hiếm, 170 loài cây cho bóng mát và cây cảnh, nếu tính cả các loài cây

nhỏ thì hơn 300 loài, đủ màu, đủ chủng loại và kiểu dáng Theo Trưởng phòng Kế

hoạch Trung tâm Công viên cây xanh Huế khẳng định Huế đã đạt 80-100m2 cây

xanh/người Trong khi đó 3 thành phố của Pháp được chọn là thành phố xanh sạch

gồm Besancon, Amiens và Mans cũng chỉ có tỷ lệ 60m2 cây xanh/người

Như vậy, vấn đề về phát triển cây xanh đường phố ở Việt Nam có lịch sử hơn

100 năm và nay nó được thể hiện trong các văn bản pháp quy dưới đây

- Chỉ thị 45-TTg năm 1974 Về công tác trồng cây xanh ở các đô thị do Thủ tướng Chính phủ ban hành [3]

- TCVN4449:1987 Quy hoạch xây dựng đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế [12]

- Tập I - Quy chuẩn xây dựng Việt Nam: Nghị định 08/2005 về Quy hoạch Xây dựng [9]

- Luật quy hoạch đô thị “Điều 68” Quản lý cây xanh, công viên, cảnh quan tự nhiên và mặt nước [11]

- Bộ Xây dựng ban hành theo Quyết định số 01/QĐ-BXD ngày 05 tháng 01 năm

2006 về TCVN 362 : 2005 - “Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị

- Tiêu chuẩn thiết kế” quy định các chỉ tiêu diện tích cây xanh sử dụng công cộng

trong các đô thị và các nguyên tắc thiết kế, được đã xác định cây xanh trong đô thị bao

gồm: cây xanh công cộng, cây xanh sử dụng hạn chế, cây xanh chuyên dụng [2]

- Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ

về “quản lý cây xanh đô thị”, theo đó, Chính phủ thống nhất quản lý cây xanh đô thị,

có phân công, phân cấp trách nhiệm theo quy định của pháp luật; nhà nước có trách

nhiệm đầu tư, phát triển cây xanh đô thị nhằm mục đích phục vụ lợi ích cộng đồng;

khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân tham gia quy hoạch,

trồng, chăm sóc, ươm cây, bảo vệ cây xanh đô thị

- Thông tư của Bộ xây dựng số 20/2005/TT-BXD ngày 20 tháng 12 năm 2005 hướng dẫn quản lý cây xanh độ thị [10]

Từ việc xác định rõ vai trò quan trọng của cây xanh đô thị nói chung và cây xanh đường phố nói riêng nhiều công trình nghiên cứu và bài viết liên quan đến quy hoạch

xây dựng đô thị, phát triển cây xanh và quản lý trong môi trường đô thị, kiến trúc cảnh

quan đô thị, chủng loại cây xanh đô thị,… đã được nghiên cứu, có thể kể tới một số

công trình tiêu biểu như:

Các tác giả như Hàn Tất Ngạn, Phạm Kim Giao, Nguyễn Thị Thanh Thủy,… đã nghiên cứu và biên soạn nhiều tài liệu về quy hoạch xây dựng đô thị, phát triển cây

xanh và quản lý cây xanh đô thị,… Phần lớn các nghiên cứu này đều xem cây xanh

như một thành phần hữu cơ trong cấu thành của đô thị, một bộ phận không thể tách rời

của cảnh quan thiên

Trang 17

Công tác tuyển chọn chủng loại cây xanh đô thị, nghệ thuật vườn - công viên, vườn cảnh Đông phương, bố cục vườn,… đã được các tác giả Hà Tất Ngạn, Trần Hợp,

Phương Thảo,… quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu này giới thiệu khá

chi tiết về chủng loại loài cây, mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái loài nên có ý nghĩa

rất lớn trong việc gây trồng và phát triển cây xanh đô thị ở các thành phố lớn như Hà

Nội, thành phố Hồ Chí Minh,… góp phần quan trọng trong phát triển cảnh quan đô thị

của nước ta

Tác giả Vũ Xuân Đề (1993) [5] đã vạch ra kế hoạch tổng thể cho việc phát triển mảng xanh ngoại thành nhằm bổ sung cho lượng khoảng xanh thiếu hụt ở nội thành

trên cơ sở phương pháp luận “cân bằng sinh thái đô thị giản đơn” tức cân bằng giữa

nhu cầu sinh thái của con người với lượng mảng xanh tiêu chuẩn tối thiểu và dùng

phương pháp “cân bằng dần” từ ngoại thành vào nội đô làm cơ sở định lượng phân bố

diện tích đất đai cho mảng xanh Ngoài ra, Vũ Xuân Đề còn có một số công trình

nghiên cứu liên quan đến việc quy hoạch mảng xanh bảo vệ môi trường cảnh quan đô

thị (1995) [6]; xác định các chỉ số khoảng xanh đô thị cho từng khu chức năng như:

Khu công nghiệp, chung cư, trường học,… (1998) [7] Các nghiên cứu này cũng như

đề tài phân vùng đất đã dựa trên nhu cầu sinh thái con người trong mối quan hệ với các

hoạt động kinh tế xã hội của thành phố,… đề xuất các chỉ số khoảng xanh và căn cứ

vào tiềm năng quỹ đất dành cho cây xanh để bố trí, quy hoạch Tuy nhiên, các chỉ số

khoảng xanh cho từng quận, huyện, khu chức năng,… chưa nói lên được hết sự khác

biệt về nhu cầu khoảng xanh từng nơi dựa trên các hoạt động kinh tế xã hội (số lượng

nhà máy, xí nghiệp, chung cư,…) vốn không đồng nhất cho từng địa bàn

Nghiên cứu của tác giả Trần Viết Mỹ (2001) [8] đã cho thấy mức độ ô nhiễm môi trường thành phố Hồ Chí Minh ngày càng trở nên nghiêm trọng, đặc biệt là ở khu vực

nội thành Đến năm 2010, các hoạt động sản xuất, giao thông, sinh hoạt sẽ thải vào bầu

khí quyển thành phố hơn 5.000 tấn bụi và bụi chì, 2.850.000 tấn CO2 và khí thải khác,

tiếng ồn vào giờ cao điểm lên đến 90 - 91dB Để đảm bảo cân bằng sinh thái, điều hòa

khí hậu, cải thiện môi trường, về số lượng thành phố cần 15.000 - 18.000 ha diện tích

xanh, trong đó nội thành cần 7.500 ha, nội thành mở rộng cần 4.100 - 5.500 ha Tác

giả đã dựa vào hiện trạng, dự báo tổng lượng khí thải đến năm 2010 và khả năng hấp

thụ các chất này của cây xanh tính toán nhu cầu diện tích xanh bình quân đầu người

nội thành là 25 m2/người, tỷ lệ che phủ 53,5 - 54,0%, nhưng tiềm năng quỹ đất tối đa

chỉ có thể giải quyết 10,2 m2/người và tỷ lệ che phủ 21,9%; nội thành mở rộng 18,5 -

20 m2/người; tỷ lệ che phủ 13,9 - 18,4% nhưng tiềm năng quỹ đất tối đa có thể giải

quyết đến 56,6 m2/người và tỉ lệ che phủ 41,0%; diện tích khuôn viên đạt 3.180 –

3.680 ha Bên cạnh đó, dựa vào đặc điểm sinh học loài cây và sử dụng ngôn ngữ lập

trình Pascal tác giả đã bước đầu sắp xếp lại các loài cây trồng hiện hữu ở thành phố Hồ

Chí Minh theo từng nhóm phù hợp với từng khu vực cụ thể (đường phố, vườn hoa

Trang 18

công viên, trường học, công sở, bệnh viện, đình chùa,…) và bổ sung thêm 22 loài cây

trồng mới dự kiến dẫn nhập từ rừng và nhập nội để làm phong phú thêm tập đoàn cây

trồng đô thị, đồng thời đưa ra khuyến cáo không nên trồng một số loài cây làm cảnh

quan đô thị

Khi nghiên cứu, đánh giá và xây dựng tiêu chuẩn cây xanh đô thị của các nước trên thế giới và vận dụng vào Việt Nam, trong quy phạm thiết kế xây dựng đô thị số

20TCVN-82-81, Bộ Xây dựng đã ban hành tiêu chuẩn cây xanh cho các thành phố

Việt Nam như sau:

- Đô thị nhỏ: 8 m2 cây xanh/người

- Đô thị trung bình: 11 m2 cây xanh/người

- Đô thị lớn: 13 m2 cây xanh/người Công tác phát triển cây xanh đô thị cũng đã được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm, diên tích cây xanh đô thị từng bước tăng dần cả về số lượng, chất lượng, cây

trồng đặc biệt ở các đô thị lớn ngày càng phong phú Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ diện

tích đất xanh trung bình ở các đô thị còn rất thấp và khác nhau theo nhóm đô thị [1]

- Đối với đô thị loại đặc biệt như thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh có tỷ lệ diện tích đất xanh chiếm khoảng 5 m2/người

- Đối với đô thị loại I, tỷ lệ này rất khác nhau, thành phố Đà Nẵng hiện nay bình quân mới đạt 0,5 m2/người, trong khi thành phố Huế có tỷ lệ đất xanh đạt tương đối

cao khoảng 10,2 m2/người

- Các đô thị loại II, tỷ lệ diện tích đất xanh trung bình chỉ khoảng 3 - 5 m2/người (Nha Trang: 4,7 m2/người; Nam Định: 3,13 m2/người)

- Các đô thị loại III và IV như thị xã Vĩnh Yên, thành phố Bắc Giang, thị xã Bến Tre tỷ lệ diện tích đất xanh trung bình khoảng 4,3 m2/người

- Các đô thị loại V tỷ lệ này rất thấp hầu như không đáng kể [1]

Theo kết quả nghiên cứu của Ủy ban kiến thiết cơ bản Nhà nước Việt Nam đã cho thấy nhiệt độ không khí trong vùng có cây xanh thấp hơn những nơi không có cây

xanh Ở vườn Bách Thảo Hà Nội, nhiệt độ nơi không có cây là 32,30C, dưới tán cây là

28,290C Nhiệt độ trên mặt đường nhựa là 39,50C và dưới tán cây bóng mát là 34,30C

Lượng bụi trung bình khu vực không có cây xanh là 0,9 mg/m3, dưới tán cây gỗ là

0,52 mg/m3 không khí Như vậy, cây xanh có khả năng làm giảm lượng bụi 42% Với

âm thanh, cây lá rộng hấp thụ được 26% âm lượng, còn 74% phản xạ và khuếch tán

Độ ồn nơi đường phố không trồng cây xanh gấp 5 lần ở nơi có trồng cây xanh

Theo Nguyễn Danh và cộng sự (2010) [4], tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai hiện

có 165 loài cây xanh đô thị thuộc 140 chi của 69 họ trong 3 ngành thực vật bậc cao

Trang 19

Trong đó, cây xanh đường phố có 57 loài thuộc 28 họ, cây xanh công viên có 130 loài,

với 45 loài cây bóng mát thuộc 21 họ Hệ thống cây xanh đô thị còn tương đối trẻ

Diện tích đất cây xanh sử dụng công cộng ở thành phố Pleiku theo đầu người là 1,48

m2/người (chỉ đạt tỷ lệ 21,14% so với TCXDVN 362:2005) Cây xanh ở đường phố

được bố trí khác nhau trên các hoàn cảnh đường phố khác nhau, gồm các mô hình

đường phố 1 hàng cây, 2 hàng cây và 4 hàng cây Mô hình trồng cây trong các công viên

ở thành phố Pleiku tương đối đa dạng: gồm các mô hình công viên hành lang kỹ thuật

giao thông như vòng xoay, băng két và các mô hình bồn hoa trang trí trong các công viên

nghỉ ngơi - giải trí

1.1.2.2 Hiện trạng và công tác quản lý bảo tồn cây xanh cổ thụ

* Tại Việt Nam

Nhiều năm qua, đã có 972 danh mộc cổ thụ thuộc 70 loài đã được vinh danh trải dài từ Bắc tới Nam, từ Tây Nguyên tới hải đảo, theo thống kê của Hội Bảo vệ thiên

nhiên và Môi trường Việt Nam, hiện đã có 600 cây các loại trên cả nước được vinh

danh là Cây di sản, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ nguồn gen quý hiếm của hệ

thực vật của nước ta

Hà Nội, Thủ đô ngàn năm của nước Việt Nam vốn yên bình, rợp bóng mát với hệ thống cây xanh tuyệt đẹp được xem như “di sản” văn hóa vật thể và phi vật thể của đất

Hà Thành Hà Nội nổi tiếng vì nét đẹp cổ kính với những ngõ phố rợp cây xanh bóng

mát, những hàng cây cổ thụ không chỉ tạo bóng mát, cảnh quan mà còn được xem là

'di sản' lâu đời tạo nên một phần chất lượng đô thị cũng như bản sắc của thủ đô Từ

trước tới nay, thủ đô Hà Nội đã được bạn bè quốc tế biết đến là thành phố xanh với

nhiều dãy cây cổ thụ được trồng cách đây cả trăm năm Hà Nội hiện có 725 cây cổ thụ

quý cần được bảo vệ Trong số này có cây Bồ đề 700 tuổi, những cây Muỗm 300 –

400 năm tuổi, cây Lim 250 tuổi Đây là những tài sản quý giá cần được bảo vệ và gìn

giữ một cách khoa học Những cây cổ thụ không chỉ mang lại màu xanh mà còn là

nhân chứng lịch sử, là biểu trưng văn hóa trong quá trình phát triển của Hà Nội nghìn

năm văn hiến Ông Nguyễn Nguyên Cương, Giám đốc Trung tâm Giáo dục Truyền

thông và Môi trường (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) cho biết, từ

ý tưởng cây cổ thụ là tài sản quý hiếm, nhóm nghiên cứu của Trung tâm đã tiến hành

khảo sát và lập bản đồ cây cổ thụ Hà Nội (Atlas) từ hơn 3 năm nay trên địa bàn 14

quận huyện Hà Nội (cũ) Sau khi tham khảo ý kiến của các nhà khoa học, tiêu chí cây

cổ thụ do nhóm các nhà khoa học thuộc Trung tâm Giáo dục Truyền thông và Môi

trường xác định là "những cây sống trên 70 năm, đường kính trên 70cm" Bên cạnh đó,

Trung tâm cũng đưa vào danh sách những cây có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, cây có

nguồn gen quý hiếm… Bởi trên thực tế, ngoài những cây đáp ứng được độ tuổi thì

cũng có những cây tuy ít tuổi hơn nhưng lại gắn bó với một sự kiện có tính lịch sử, văn

Trang 20

hóa (như cây Đa Bác Hồ) hoặc trong những cây Xà cừ 100 tuổi thì phải chọn cây nổi

trội như dãy cây Xà cừ ở phố Phan Đình Phùng… Căn cứ vào những tiêu chí phân loại

này, nhóm khảo sát xác định Hà Nội có 725 cây cổ quý cần được bảo vệ thuộc 62 loài

và 30 họ thực vật khác nhau Về phân bố, có 596 cây tập trung ở 9 quận nội thành (chủ

yếu ở các quận Ba Đình, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm); 129 cây ở 5 huyện ngoại thành

Nhóm khảo sát cũng “đánh dấu” những cây cổ thụ có đặc điểm đặc biệt như: cây cao

tuổi (17 cây); cây có kích cỡ lớn (19 cây); cây thuộc gen quý hiếm (6 cây, tập trung

chủ yếu ở vườn Bách Thảo) Trong số này đáng chú ý là vẫn còn 1 cây Lim cổ thụ

(trên 250 tuổi) trong vườn nhà anh Vũ Đức Kỳ ở xóm 3, xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn

Ngoài ra, nhóm cây cổ thụ cao tuổi nhất đã sống trên 400-700 năm chủ yếu phân bố tại

các đình làng, chùa, điển hình như cây Bồ đề tại đình Kiêu Kỵ (xã Kiêu Kỵ, Gia Lâm)

có trên 700 năm tuổi Những cây cổ thụ được xếp vào loại đặc biệt đều gắn với những

di tích lịch sử: cây Thị ở đình Chèm, cây Muỗm ở đền Quán Thánh, cây Gạo ở Bảo

tàng Lịch sử… ; có cây gắn với những dấu tích lịch sử như cây Muỗm trên 300 năm

tuổi gắn với việc trùng tu đền Quán Thánh (thế kỷ XVII) Chính những cây xanh này

cũng đã góp phần tạo nên một Hà Nội thanh lịch, hài hòa giữa thiên nhiên và môi

trường Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang ngày diễn biến phức tạp, sự xuất hiện

của cây xanh tại các vùng đô thị có mật độ dân cư lớn, đô thị hóa nhanh lại càng có ý

nghĩa to lớn Thậm chí những con đường “phố cổ” với hàng cây cao được trồng từ thời

Pháp thuộc đến nay đã hàng trăm năm tuổi, là “chứng nhân” cho bao cuộc đời người

Hà Nội, chứng kiến bao đổi thay thăng trầm của Thủ đô, là cảm hứng sáng tác của bao

nhà thơ, nhạc sĩ… Hiện nay, Hà Nội có khoảng 120.000 cây xanh bóng mát thuộc 70

loài, được trồng trên nhiều tuyến đường Trong đó đã có nhiều cây sâu mục ở thân,

gốc, rễ bị xén chặt để hạ đường điện, để mở đường, nhiều cây cong, nghiêng, ảnh

hưởng mỹ quan đô thị, an toàn giao thông, gây nguy hiểm đến tính mạng, tài sản của

nhân dân Khi thành phố phát triển với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, hệ thống cây

xanh phải “cõng” trên mình nhiều áp lực Nhà cao tầng mọc san sát, nhiều nhà lấn

chiếm vỉa hè, sử dụng mái che, mái vẩy đua ra đường, che bóng cây xanh Theo quy

luật quang học, cây xanh phải vươn ra tìm ánh sáng, nên chủ yếu ngả ra hướng lòng

đường, gây mất cảnh quan và thiếu an toàn Còn khi cây phát triển lên cao, lại không

được chặt tỉa cành thường xuyên, cây mọc không thẳng và phát triển trái quy luật Đặc

thù thổ nhưỡng của Hà Nội là có hệ thống nước ngầm cao, cách mặt đất chừng 1 mét

Do đó, khi rễ cây phát triển, gặp hệ thống nước mặt, rễ cây sẽ không phát triển theo

chiều thẳng xuống mà lại lan tỏa thành các chùm rễ, nằm cạn trên bề mặt; chưa kể, đất

trồng cây tơi xốp, nhiều nơi bị ô nhiễm, đất xen lẫn rác, lá cây, hệ thống nước thải bẩn

làm cho rễ cây không chắc khỏe Ngoài ra, đô thị phát triển, hàng quán, nhà hàng, gara

ô tô mọc san sát, thiếu chỗ dựng xe, vì vậy một số người dân đã tìm cách triệt hạ cây

(đổ nước nóng, a xít, dầu luyn hay bịt xi măng vào gốc cây để làm cho cây chết) Một

thực tế nữa là, thời gian qua Hà Nội phát triển mạnh hệ thống hạ tầng ngầm như: cống

Trang 21

mương thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc, đường xá… nên không tránh khỏi việc

đào bới đất để thi công, dẫn tới rễ cây bị ảnh hưởng, cây khó bám chặt vào đất Theo

thống kê chưa đầy đủ của Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Công viên cây

xanh Hà Nội, chỉ tính từ năm 2010 – 2012 trên địa bàn Hà Nội xảy ra 126 vụ xâm hại

cây xanh, trong thực tế vẫn còn rất nhiều vụ chưa được phát hiện Bên cạnh đó, thuộc

vùng khí hậu nhiệt đới, mỗi năm Hà Nội luôn có mùa mưa bão Cứ đến mùa này,

chính quyền và người dân Thủ đô lại lo lắng tình trạng: ngập nước và cây đổ Thực tế

đã xảy ra, năm nào có mưa gió lớn, hàng trăm cây xanh lại đổ xuống đường, gây thiệt

hại lớn về tài sản cho người dân Hiện nay, có một thực tế đáng lo ngại là các cây cổ

thụ đang có nguy cơ suy giảm do tác động mạnh từ con người, từ quá trình đô thị hóa

và cả sự khắc nghiệt của thời gian

Những kết quả điều tra cho thấy một thực trạng đáng buồn là các cây cổ thụ của

Hà Nội đang bị suy giảm cả số lượng và chất lượng vì già cỗi không được chăm sóc,

như cây Muồng ngủ (vườn Bách Thảo), cây Vông nem (hồ Hoàn Kiếm); bị sâu bệnh

như cây Sao đen (Lò Đúc), cây Thị (đình làng Vẽ) đáng nói hơn cả là cây đã bị chính

con người “quật ngã” bởi các hành động vô ý thức như đóng đinh, bóc vỏ, treo biển,

đèn quảng cáo, thậm chí vì lợi ích kinh doanh, một số cửa hàng còn ngấm ngầm “bức

tử” cây “Cây cổ thụ có thể được coi là tài sản quốc gia nhưng thực tế nhiều cây hiện

chỉ được quản lý về mặt giấy tờ Chính vì chưa có cơ quan quản lý chính thức, nên cây

cổ thụ ở Hà Nội chưa được chú ý bảo vệ” Hiện các nhà khoa học đã “khoanh vùng”

những cây đang bị xâm hại và đề xuất biện pháp bảo vệ Cụ thể là, đề nghị UBND

thành phố Hà Nội sớm ban hành quy định quản lý bảo vệ cây cổ thụ, trong đó qui định

rõ trách nhiệm cụ thể cho đơn vị quản lý cơ sở và hộ gia đình; đồng thời có mức phạt

thật nặng những hành vi gây tổn hại đối với cây cổ thụ Đối với một số cây cổ thụ có

giá trị đặc biệt về văn hoá, lịch sử và khoa học cần được xem xét để công nhận là di

tích văn hoá lịch sử và giao cho Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch Hà Nội quản lý

Một số cây cần được đánh số treo biển, xây dựng lý lịch và có chế độ theo dõi, chăm

sóc định kỳ Bảo vệ các cây cổ thụ ở Hà Nội là việc cần làm và phải làm trên cơ sở

khoa học nhằm gìn giữ màu xanh cho thành phố và đó cũng chính là bảo vệ, gìn giữ

những di sản quý giá của chúng ta [Cổng TTĐT]

Thực trạng cây xanh Hà Nội cần có một đề án khoa học căn cơ để cải tạo, phát triển cây xanh đô thị Tuy nhiên, Đề án cải tạo, thay thế 6.700 cây xanh đô thị hai bên

đường phố mới đây của Sở Xây dựng Hà Nội đang gây tranh cãi Việc triển khai cấp

tốc, triệt hạ cây xanh có tổ chức đã vướng phản đối mạnh mẽ của người dân, các nhà

khoa học và giới văn nghệ sĩ Việc chặt hạ hàng ngàn cây xanh, làm mất đi thảm xanh

của thiên nhiên, chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến con người, nhiệt độ, nhất là

trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp và ô nhiễm không khí đang

ngày nhức nhối hơn Một đô thị phát triển không thể thiếu đường giao thông hiện đại,

Trang 22

thiếu nhà cao tầng, thiếu những công trình đồ sộ Nhưng một đô thị hiện đại văn minh

cũng không thể vắng thiên nhiên mà cây xanh là yếu tố quan trọng nhất (Nguyễn Văn

Cảnh - TTXVN)

Ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có những hàng cây rất đẹp, chúng có tuổi đời trên 100 năm Những hàng cây này có từ khi mà cả hai thành phố này còn rất nhỏ

bé Những hàng cây Dầu, cây Sao, cây Lim xẹt ở trung tâm Sài Gòn được người Pháp

trồng vào những năm 1870, còn ở Hà Nội thì sau chừng 20 năm Khi ấy người ta trồng

cây cho thành phố Sài Gòn với quy hoạch chừng 500.000 dân cùng với những con

đường hẹp, ngắn và giao cắt nhau liên tục Sau hơn 100 năm, cả hai thành phố đã đổi

khác, hiện đại hơn, hoành tráng hơn và do vậy cây xanh cũng phải được “hiện đại hóa”

cho phù hợp với bối cảnh mới, nhiều cây xanh cổ thụ không còn phù hợp nữa trong

quá trình cải tạo nâng cấp đô thị, muốn giữ cũng rất khó bởi:

Ở thành phố hiện đại, tất cả các thứ lằng nhằng như dây điện tiêu dùng, điện thoại, cáp truyền hình, hệ thống đèn giao thông, hệ thống cấp và thoát nước mà chúng

ta thấy bắt buộc phải đưa xuống các hào kỹ thuật ngầm dưới lòng đất, các hào kỹ thuật

này thường được thiết kế nằm dọc theo vỉa hè, do vậy không thể giữ lại hay trồng mới

cây trên vỉa hè được, phải phá bỏ mới thi công được, còn trồng mới thì dù là cây rễ

chùm thì trước sau cũng phá hỏng các công trình ngầm, phá hỏng vỉa hè và công trình

xây dựng kế cận Ngoài ra phải kể đến một loạt công trình ngầm khác khó đồng hành

với cây xanh cổ thụ được như hệ thống đường ngầm, ga của metro; các hầm ngầm ở

các cao ốc, các đường ngầm dẫn dưới lòng đất kết nối các khu vực với nhau, các khu

thương mại, dịch vụ ngầm dưới đất

Hệ thống giao thông nhanh, hiện đại của đô thị xung đột với cây xanh vỉa hè

Giao thông xưa chủ yếu bằng xe ngựa, xe thô sơ, sau này là xe đạp nên đường nhỏ

hẹp, tốc độ chậm nên việc trồng cây không đòi hỏi khắt khe về tiêu chuẩn kỹ thuật,

miễn sao là đẹp và râm mát là được Hiện nay hệ thống giao thông đô thị phức tạp hơn,

mật độ xe quá lớn, các phương tiện di chuyển trên đường có nhiều chủng loại, tốc độ

rất nhanh, do vậy mà những cây xanh vỉa hè, cây xanh ở các tiểu đảo làm che chắn tầm

nhìn, gây ra nguy hiểm cho người lái xe và cả người bộ hành

Những lý do trên cho thấy khi triển khai các công trình mới ở thành phố Hồ Chí Minh, đường trên cao ở Hà Nội thì việc chặt hạ cây xanh là điều không thể tránh khỏi

Bên cạnh đó những cây không đẹp, già cỗi, bị sâu mọt, cong nghiêng, ảnh hưởng đến

mỹ quan và an toàn thì phải hạ bỏ là đương nhiên Cho dù ai trong chúng ta cũng cảm

thấy xót xa, tiếc nuối nhưng việc cần thì vẫn cứ phải thực hiện

Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là việc cải tạo mảng xanh, trồng cây mới như thế nào cho hợp lý và hợp lòng dân Trước hết, muốn quy hoạch, điều chỉnh lại mảng xanh đô

thị, tập thể cây trong một thành phố thì điều đầu tiên là phải lập cho được hồ sơ điều

Trang 23

tra về các vùng cây tập trung và cây đơn lẻ Với sự trợ giúp kỹ thuật của công nghệ

thông tin, các nhà chuyên môn hoàn toàn có thể làm được việc này Tức là phải kiểm

đếm, thống kê, phân loại, đánh giá xem thực trạng cây xanh của một thành phố ra sao

Bao nhiêu cây cần phải loại bỏ vì lý do bệnh, cong, nghiêng, già cỗi; bao nhiêu cây

ảnh hưởng đến công trình xây dựng trong thời điểm hiện tại và tương lai, bao nhiêu

cây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống dân cư (mùi hoa, nhựa cây, che chắn tầm nhìn,

phá hỏng nhà cửa) và các phương án thay thế tối ưu Thứ hai là việc điều chỉnh mảng

xanh cần được xây dựng thành một dự án nghiên túc bởi các nhà khoa học, nhà quản

lý và dự án này phải được công bố rộng rãi cho nhân dân biết Người dân thảo luận,

góp ý, hiến kế cùng chính quyền tìm ra sự đồng thuận

Chúng ta thường mong ước và rèn luyện, giữ gìn để sống được trăm tuổi, còn các cây cổ thụ thường đã sống được hàng trăm năm, thậm trí hàng ngàn năm, trải qua bao

thăng trầm của lịch sử, của thời gian và môi trường sống đầy khắc nghiệt Việc bảo tồn

giữ gìn tôn tạo cây cổ thụ, một tài sản vô giá không chỉ có ý nghĩa lịch sử, văn hóa,

cảnh quan, môi trường sinh thái mà phải trở thành tình cảm và trách nhiệm của mỗi

chúng ta vì bảo vệ nuôi dưỡng cây cổ thụ sẽ làm tăng vẻ đẹp phong cảnh là những nét

chấm phá trong bức tranh phong cảnh đất nước, là tư liệu quy để nghiên cứu lịch sử tự

nhiên, qua đó có thể tìm hiểu tình hình khí hậu, và những biến thiên khí hậu trong quá

khứ Cây cổ thụ còn có ý nghĩa đặc biệt trong nghiên cứu sinh lí cây thân gỗ qua từng

năm của chúng để nghiên cứu quá trình sinh trưởng phát triển, già cỗi và tử vong của

chúng Từ ý nghĩa sâu xa đó, việc tổ chức điều tra bước đầu về cây cổ thụ là rất cần

thiết Để bảo vệ lâu dài những cây đã được xác định trên bản đồ sau khi UBND tỉnh ra

quyết định công nhận là "Cây cổ thụ quý hiếm được xếp loại bảo tồn", xây dựng quy

chế bảo tồn cây cổ thụ, các ngành, các cấp, các cơ sở cần tiến hành bảo vệ tôn tạo,

trước mắt là những cây có nguy cơ xâm hại cần được xây bồn bao quanh gốc, tạo mặt

thoáng, và bón phân chăm sóc, có biển ghi tên cây để bảo vệ, xây dựng quy ước trong

nhân dân, không chặt cây, đẽo vỏ cây, trích một phần kinh phí địa phương để hỗ trợ

cho việc chăm sóc bảo vệ cây

Ngoài những giá trị truyền thống như cung cấp ôxy, ngăn bụi, tiếng ồn, tạo bóng râm, tạo cảnh quan mỹ thuật, thư giãn, giảm sức ép tâm lý,… thì cây xanh còn có

những giá trị khác nữa như tham gia kết nối cộng đồng, gia tăng giá trị di sản và đặc

biệt là làm giàu ký ức, biểu tượng của kỷ niệm… Do vậy mà cây xanh đô thị trở thành

một khoa học mang tính liên ngành kết nối cùng lúc: quy hoạch, kiến trúc, xây dựng,

thiết kế, mỹ thuật, sinh học, môi trường…

* Tại thành phố Đà Nẵng

Hiện nay, trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng việc quản lý hệ thống cây xanh cổ thụ

trên phạm vi toàn thành phố chưa có ranh giới rỏ ràng giữa các sở ban nghành (Sở Tài

Trang 24

nguyên và Môi trường, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lich, Sở Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn, Sở Xây dựng) Do vậy, mà chưa có số liệu thống kê chính xác về số

lượng cây xanh trên địa bàn toàn thành phố, mà chỉ có số liệu về cây “Di sản” do Sở

Tài nguyên và Môi trường, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch quản lý Trong khi đó,

hiện nay trên phạm vi toàn thành phố một số lượng không nhỏ cây xanh cổ thụ, tạo

nên nét riêng cho thành phố, tạo nét văn hóa, cảnh quan sinh thái của từng vùng miền,

văn hóa tâm linh,… lại đang bỏ ngõ, chưa được quan tâm và bảo tồn đúng mực Thành

phố hiện có rất nhiều nhà cao tầng mọc lên, chúng đứng san sát nhau Những tòa nhà

này vươn cao tạo ra các cột dựng đứng, các bức tường thành khổng lồ và chính các cao

ốc này đã tạo ra các hào bê tông trên cao làm cho các dòng không khí bị đổi chiều, tạo

ra dòng xoáy rất nguy hiểm, đặc biệt nguy hiểm với những thành phố gần biển, gần

sông, những lúc gió mạnh hoặc xung đột giữa khí nóng và khí lạnh luồn lách qua các tòa

cao ốc tạo ra dòng khí làm cho các cây cao bị vặn gãy hàng loạt, gây chết người Cùng với

tốc độ đô thị hóa ngày một phát triển, quy hoạch đô thị diễn ra, việc bảo tồn cây xanh cổ

thụ trở thành nhu cầu cấp thiết trong việc giữ gìn ký ức cũng như nét văn hóa đặc trưng

khu phố, khu dân cư, làng,…

1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.2.1 Trên thế giới

Hệ thống cây xanh cổ thụ là tài sản vô giá, không chỉ là nét đẹp của cảnh quan môi trường, cảnh quan thiên nhiên, chứng tích cho lịch sử Vì vậy, trên thế giới có

một số cây cổ thụ đã gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước như cây Bách "El

arbol" tại quảng trường của thành phố Tule ở Mêhicô có tuổi thọ trên 2.000 năm tuổi

với chu vi gốc đạt 58m, cây Moabi trong rừng già châu Phi có tuổi thọ đến 2.500 năm,

quần thể cây Thông trong sa mạc White Mountains ở California có tuổi thọ hơn 4.000

năm tuổi, đặc biệt cây già nhất thế giới là cây "Mathusalem" có tuổi đời 4.771 tuổi

Nhưng hiện nay, số lượng cây cổ thụ đang giảm dần nên trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, một báo cáo được thực hiện bởi ba nhà sinh thái học hàng

đầu thế giới được công bố trên tạp chí Khoa học (Science) cảnh báo về sự gia tăng

đáng báo động về tỉ lệ chết của các cây cổ thụ có tuổi từ 100-300 năm trong nhiều khu

rừng của thế giới, các khu rừng, các hoang mạc, các khu vực nông nghiệp và thậm chí

trong cả các thành phố Trưởng nhóm nghiên cứu, giáo sư David Lindenmayer của

Trung tâm Excellence for Environmental Decisions (CEED) và Đại học Quốc gia Úc

(Australian National University) cho biết."Đó là một vấn đề trên toàn thế giới và đang

xảy ra trong hầu hết các kiểu rừng" [David B Lindenmayer, William F Laurance, and

Jerry F Franklin Global Decline in Large Old Trees Science, 2012; 338 (6112):

1305-1306]

Trang 25

Theo David Lindenmayer và các đồng nghiệp, giáo sư Bill Laurance của Đại học James Cook, Australia, và giáo sư Jerry Franklin của đại học Washington, Hoa Kỳ, nói

trong bản báo cáo khoa học của họ :"Các cây cổ thụ lớn là rất quan trọng trong nhiều

môi trường tự nhiên và các môi trường do con người thống trị Các nghiên cứu về các

hệ sinh thái trên toàn thế giới cho thấy quần thể những cây cổ thụ này đang suy giảm

nhanh chóng", do vậy "Nghiên cứu là cần thiết để xác định nguyên nhân gây ra sự

biến mất nhanh chóng của các cây cổ thụ lớn và và đưa ra các chiến lược quản lý để

cải thiện tình hình Thiếu những thay đổi về chính sách, các cây cổ thụ to lớn sẽ giảm

hoặc biến mất trong rất nhiều hệ sinh thái, dẫn đến sự suy giảm chức năng hệ sinh

thái và khu hệ sinh vật liên quan của chúng" [David B Lindenmayer, William F

Laurance, and Jerry F Franklin Global Decline in Large Old Trees Science, 2012;

338 (6112): 1305-1306]

Giáo sư Lindenmayer cho biết họ lần đầu tiên báo về sự mất mát của các cây cổ

thụ trong khi kiểm tra các số liệu về rừng của Thụy Điển quay ngược lại đến những

năm 1860 Sau đó, một nghiên cứu 30 năm về rừng Mountain Ash (Eucalyptus

regnans) ở Úc đã xác nhận rằng không chỉ các cây cổ thụ đang chết hàng loạt trong

các vụ cháy rừng, mà còn tồi tệ gấp mười lần tỷ lệ bình thường trong năm không xảy

ra cháy - rõ ràng là do hạn hán, nhiệt độ cao, khai thác gỗ và các nguyên nhân khác

Xem xét trên toàn thế giới, các nhà khoa học tìm thấy xu hướng tương tự ở tất cả các vĩ độ, Vườn quốc gia Yosemite của California, trên các hoang mạc châu Phi, trong

rừng nhiệt đới của Brazil, khu rừng ôn đới của châu Âu và các khu rừng phương Bắc

xa về phía Bắc Sự suy giảm các cây có kích thước lớn cũng đã được tuyên bố tại các

khu vực nông nghiệp và thậm chí cả các thành phố, nơi mà người dân thực hiện các nỗ

lực để bảo tồn chúng

Giáo sư Bill Laurance của Đại học James Cook đã nói: "Đó là một xu hướng rất đáng lo ngại Chúng ta đang nói về sự biến mất của các sinh vật sống có kích thước

lớn nhất hành tinh, các thực vật có hoa lớn nhất hành tinh, của các sinh vật đóng một

vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh và làm phong phú thêm thế giới của chúng

ta" Cây cổ thụ lớn đóng vai trò quan trọng sinh thái cung cấp nơi làm tổ hoặc các chỗ

trú ẩn cho khoảng 30% các loài chim và động vật trong một số hệ sinh thái Chúng lưu

trữ một lượng lớn carbon Chúng tái tạo các chất dinh dưỡng trong đất, tạo ra môi

trường sống phong phú và ảnh hưởng đến dòng chảy của nước trong cảnh quan và vi

khí hậu

Và theo ông Bill Laurance "Trong các khu vực nông nghiệp, các cây cổ thụ lớn

có thể là đầu mối cho việc phục hồi thảm thực vật, chúng giúp kết nối các cảnh quan

bằng cách hoạt động như các bậc đá cho nhiều loài động vật phân tán hạt giống và

phấn hoa"

Trang 26

Sự suy giảm đáng báo động số lượng các cây cổ thụ trong nhiều kiểu rừng xuất hiện được thúc đẩy bởi một sự kết hợp của các lực lượng, bao gồm cả chặt phá làm

quang đất đai, hoạt động nông nghiệp, những thay đổi nhân tạo trong chế độ lửa, khai

thác gỗ và thu thập gỗ, côn trùng tấn công và các biến đổi khí hậu nhanh, giáo sư Jerry

Franklin cho biết

Các nhà nghiên cứu so sánh sự thiệt hại các cây cổ thụ toàn cầu với các bi kịch đã xảy đến với các loài động vật có vú lớn nhất trên thế giới như Voi, Tê giác, Hổ và Cá

voi, cảnh báo rằng hầu như không nơi nào thực hiện các chương trình đối thoại có các

khung thời gian các thế kỷ trước, điều này là cần thiết để đảm bảo sự tồn tại của các

cây cổ thụ

Các nhà khoa học kêu gọi một cuộc điều tra khẩn cấp trên toàn thế giới để đánh giá mức độ mất mát các cây có kích thước lớn, và để xác định các khu vực nơi mà các

cây gỗ lớn có cơ hội sống sót tốt hơn

Bài báo của họ "Sự suy giảm nhanh chóng các cây cổ thụ lớn trên toàn thế giới”

("Rapid Worldwide Declines of Large Old Trees) của David B Lindenmayer, William

F Laurance và Jerry F Franklin xuất hiện trong chuyên mục Vấn đề ngày hôm nay

của tạp chí Science

1.2.2 Ở Việt Nam

Trong thiên nhiên trên hành tinh nói chung và Việt Nam nói riêng giới thực vật là một thành phần cơ bản tạo nên tính đa dạng sinh học vô cùng phong phú Sự đa dạng

của hệ thực vật không những về thành phần loài, cấu trúc, vùng phân bố địa lý mà còn

có sự khác nhau về dạng sống và tuổi đời Có những loài cây có tuổi đời rất ngắn chỉ

một năm, một số năm nhưng cũng có các loài cây sống đến hàng trăm năm thậm chí

hàng nghìn năm

Ở Việt Nam, có cây Chò xanh (Terminalia myriocarpa) đã sống trên 1.000 năm

đang hiện hữu ở khu rừng ẩm thường xanh mưa mùa nhiệt đới tại Vườn Quốc gia

(VQG) Cúc Phương - Ninh Bình; Cây Sa mu dầu (Cunninghamia konishii) trên 1.000

năm cao trên 50m trong khu rừng nguyên sinh ở Khe Bu tại VQG Pù Mát - Nghệ An;

Cây Dã hương (Cinnamomum camphora) ở Tiên Lục - Bắc Giang cũng trên 1.000 tuổi

đang chống chọi với thiên nhiên và đứng vững trên vùng đất quan họ thật kỳ vĩ hoành

tráng, đây là một trong hai cây Dã hương cổ nhất trên thế giói đã có tên trong từ điển

Bách khoa của Pháp năm 1932

Hệ thống cây xanh cổ thụ có vai trò hết sức to lớn trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và kiến trúc cảnh quan Với những ý nghĩa và vai trò đó nên ở Việt

Nam đã tiến hành một số hội thảo, công trình nghiên cứu nhằm bảo tồn hệ thống cây

xanh cổ thụ như ở Đà Nẵng đã có hội thảo về vấn đề chăm sóc cây cổ thụ, cây Di sản

Trang 27

Việt Nam Ở khu di tích đền Trần - chùa Tháp, thành phố Nam Định, Ths Trần Thị

Lợi - Trung tâm sinh học bảo vệ đê đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu bảo

tồn một số loài cây cổ thụ tại khu di tích lịch sử - văn hoá đền Trần - chùa Tháp thành

phố Nam Định”; tại khu di tích Phủ Chủ tịch, thành phố Hà Nội, đã nghiên cứu “Giải

pháp nhằm bảo tồn cây di tích tại Khu di tích Phủ Chủ tịch”; Hội Sinh vật cảnh Ninh

Bình thực hiện đề án "Điều tra và đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn cây

cổ thụ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình"; Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang đã

tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đề xuất phương án bảo tồn và phát triển loài

Trám đen cổ thụ tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang”

Do vậy, hệ thống cây xanh cổ thụ có vai trò hết sức to lớn trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và kiến trúc cảnh quan, ngày nay vấn đề bảo tồn cây cổ thụ giữ

vai trò bức thiết trong quá trình đô thị hóa ngày một phát triển mạnh mẽ tại các thành

phố lớn, góp phần quan trọng trong việc giữ gìn nét văn hóa tâm linh, là bảo tồn các

chứng tích lịch sử, giữ gìn cảnh quan sinh thái - văn hóa và góp phần bảo tồn đa dạng

sinh học của địa phương và đất nước

Thành phố Đà Nẵng nói chung và các quận Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà nói riêng có tốc độ phát triển rất nhanh về cơ sở hạ tầng, cộng với những biến động của thời gian

như chiến tranh, thiên tai, dịch hại và nhận thức con người trong bối cảnh kinh tế thị

trường đã làm cho số lượng cây cổ thụ tại đây ngày càng suy giảm và có nguy cơ vắng

bóng hoàn toàn nếu không có giải pháp quản lý bảo tồn hợp lý

Trang 28

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Đánh giá được các tác nhân gây tổn hại cho cây xanh cổ tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo tồn cây xanh cổ thụ

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là + Toàn các cây cổ thụ thuộc hệ thống cây xanh đô thị trên địa bàn hai quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng

Hệ thống tổ chức quản lý cây xanh đô thị thành phố Đà Nẵng; các văn bản pháp luật,

chính sách, chủ trương có liên quan

+ Các yếu tố ảnh hưởng và gây tổn hại cho cây cổ thụ tại thành phố Đà Nẵng

Trong đó tiêu chí để xác định đối tượng cây cổ thụ là: căn cứ vào Nghị định số 64/2010/NĐ-CP, ngày 11/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Quản lý hệ thống cây

xanh đô thị, Tại khoản 6, điều 2, chương 1 của Nghị định đã quy định: Cây cổ thụ là

cây thân gỗ lâu năm được trồng hoặc mọc tự nhiên, có độ tuổi tối thiểu 50 năm hoặc

cây có đường kính từ 50cm trở lên tại chiều cao 1,3m của cây (tính từ gốc)

2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 7/2015 đến tháng 04/2016

2.4 Nội dung nghiên cứu 1) Tìm hiểu các yếu tố tự nhiên và kinh tế – xã hội của khu vực nghiên cứu có liên quan đến sự hình thành, tồn tại và phát triển của cây xanh cổ thụ

* Các yếu tố tự nhiên

o Địa lý, địa hình, đất đai

o Khí hậu, thủy văn

Trang 29

o Tài nguyên thực vật và đa dạng sinh học

o Các dạng thiên tai, dịch hại có liên quan

* Các yếu tố kinh tế xã hội

o Dân cư, tập quán, văn hóa

o Ngành nghề, kinh tế

o Cơ sở hạ tầng

o Hiện trạng môi trường đô thị, các sự cố môi trường (nếu có)

2) Đánh giá thực trạng và năng lực quản lý hệ thống cây xanh đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

o Các văn bản pháp lý, chủ trương, chính sách có liên quan

o Các bên liên quan

o Bộ máy tổ chức và năng lực của cơ quan chuyên trách

o Kết quả hoạt động quản lý cây xanh đô thị

o Những tồn tại, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm

3) Điều tra hiện trạng cây cổ thụ ở các khu vực nghiên cứu

❖ Điều tra địa điểm phân bố, định danh, đánh giá hiện trạng sinh trưởng, phát triển, chất lượng sống và lập hồ sơ quản lý cho từng cá thể cây cổ thụ

❖ Thống kê thành phần loài, số lượng và vùng phân bố cho từng đơn vị quản lý

sử dụng cây xanh (đường, cơ quan, khu phố, khu di tích, phường, quận); Phân loại cây

theo các nhóm mục tiêu / giá trị sử dụng

❖ Điều tra tình trạng sinh vật gây hại trên cây cổ thụ ở khu vực nghiên cứu

o Thành phần loài/ nhóm loài gây hại

o Các phương thức gây hại và tác hại/ mức độ nguy hiểm

o Hiện trạng cây xanh di tích bị hại

o Các biện pháp phòng chống đã áp dụng và kết quả đạt được

Trang 30

o Không gian sống

o Điều kiện chăm sóc,quản lý

o Các mối đe dọa chất lượng môi trường và hành vi xâm hại (nếu có)

o Nhu cầu cải thiện điều kiện sống của cây xanh cổ thụ

4) Đánh giá công tác quản lý và bảo tồn cây cổ thụ tại địa bàn nghiên cứu

• Tìm hiểu hệ thống văn bản, chính sách chủ trương do địa phương ban hành

có liên quan đến công tác quản lý bảo tồn cây cổ thụ trên địa bàn

• Bộ máy tổ chức quản lý (nếu có) và các bên liên quan trong hoạt động quản

lý và bảo tồn cây cổ thụ

• Các nguồn lực thực hiện nhiệm vụ (đội ngũ cán bộ chuyên trách, trình độ và kinh nghiệm công tác, trang thiết bị chuyên dụng )

• Nội dung các hoạt động quản lý bảo tồn đã thực hiện và kết quả đạt được

• Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động quản lý và bảo tồn cây cổ thụ

5) Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo tồn cây

cổ thụ ở quận Sơn Trà và quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng

❖ Giải pháp chính sách, pháp luật

o Rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy ở cấp địa phương

o Xây dựng chính sách khuyến khích hoạt động quản lý, bảo tồn (đầu tư,

hỗ trợ, khen thưởng )

❖ Giải pháp tổ chức quản lý

o Xây dựng quy ước bảo vệ cây cổ thụ, cây di sản

o Nâng cao năng lực đội ngũ

o Đóng bảng tên cây, bảng nội quy, xây dựng rào bảo vệ

o Lập hồ sơ quản lý và lưu trữ dữ liệu

o Vinh danh cây cổ thụ, cây di sản

o Xây dựng cơ chế phối hợp và đồng quản lý giữa các bên liên quan

o Xây dựng chế độ báo cáo

❖ Giải pháp truyền thông: tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về cảnh quan, môi trường, pháp luật và quảng bá hình ảnh cây cổ thụ, cây di sản

❖ Giải pháp khoa học và công nghệ

o Nghiên cứu giải pháp bồi dục

o Nghiên cứu giải pháp cải tạo điều kiện sống

o Nghiên cứu giải pháp phòng trừ sinh vật gây hại

o Nghiên cứu giải pháp cắt tỉa, chống đỡ

o Xây dựng phần mềm Map info, GIS để quản lý hệ thống cây cổ thụ

Trang 31

2.5 Phương pháp nghiên cứu

1) Các hướng tiếp cận trong nghiên cứu

Đề tài dự kiến sẽ vận dụng các hướng tiếp cận sau đây:

+ Tiếp cận thông quan tham khảo và kế thừa có chọn lọc trên cơ sở phúc tra,

kiểm chứng tại địa bàn nghiên cứu

o Các tài liệu trong nước, ngoài nước về các phương pháp bảo tồn hệ thống cây xanh và các loài sâu bệnh, dịch hại trên cây xanh

o Các công trình nghiên cứu, các dự án đã tiến hành về các lĩnh vực hay nội dung có liên quan;

o Tổng kết hoạt động thực tiễn của đơn vị và các cơ quan, tổ chức có liên quan;

+ Tiếp cận có sự tham gia: phỏng vấn, tham vấn chia sẻ kinh nghiệm và kết quả

nghiên cứu, tham quan học tập các mô hình trong nước

+ Tiếp cận bằng cách lồng ghép: phối hợp giữa hoạt động nghiên cứu với hoạt

động thường xuyên của đơn vị công tác

+ Tiếp cận bằng phương pháp chuyên gia: thông qua hoạt động điều tra theo

phương pháp chuyên ngành

o Lấy mẫu thực vật, mẫu đất, sâu, bệnh ở một số cây cổ thụ

o Xác định định tên cây, loài sâu, bệnh gây hại trong phòng thí nghiệm

2) Các phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:

+ Thu thập các thông tin đã có sẵn của các đơn vị, cơ quan quản lý hệ thống cây xanh trên địa bàn (số lượng, chủng loại, vị trí phân bố, số lượng cây bị chết, bị gãy đổ

hay chặt hạ, di dời hàng năm, tình hình sâu bệnh hại và các yếu tố gây tổn hại khác )

+ Thừa kế kết quả điều tra do các tổ chức trong và ngoài nước thực hiện

b Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:

* Phỏng vấn các bên liên quan

Sử dụng bản câu hỏi có định hướng trên các phiếu điều tra để phỏng vấn các bên liên quan:

Trang 32

o Cán bộ chuyên trách quản lý cây xanh

o Công nhân công trình đô thị

o Người dân địa phương và du khách

❖ Nội dung các câu hỏi phỏng vấn tập trung vào các vấn đề sau:

o Nhận thức về pháp luật (các bộ Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định, Chỉ thị ) có liên quan đến quản lý cây xanh đô thị, cây cổ thụ, cây di sản

o Quan điểm, nguyện vọng, thái độ đối với nội dung và đối tượng nghiên cứu của đề tài (Tán thành? Ủng hộ? Tham gia? Đề nghị )

o Thông tin về phân bố, chủng loại, nguồn gốc và lịch sử của các cá thể cây cổ

thụ trên địa bàn (cây gì, ở đâu, có từ bao giờ, do ai trồng, hiện do ai quản lý )

o Các thông tin về chiều hướng, diễn biến số lượng, chất lượng, chủng loại cây cổ thụ trên địa bàn

o Các giá trị của cây cổ thụ (cảnh quan, môi trường, lịch sử, văn hóa, kinh tế ); các loài và cá thể cây cổ thụ cần ưu tiên bảo tồn tại địa phương

o Các mối đe dọa phổ biến đối với hệ thống cây xanh nói chung và cây cổ thụ

nói riêng

o Kinh nghiệm, tri thức bản địa trong bảo tồn cây cổ thụ

o Các sáng kiến và ý kiến đề xuất nhằm quản lý, bảo tồn cây cổ thụ có hiệu quả trên địa bàn

* Phương pháp điều tra trên hiện trường

- Điều tra thực địa để thu thập, bổ sung số liệu:

• Định vị cây bằng bản đồ cầm tay, GPS và bản đồ số hóa

• Điều tra xác định thành phần chủng loại cây xanh bằng phương pháp so sánh hình thái, thu thập lưu trữ mẫu tiêu bản, mẫu ảnh

• Điều tra hiện trạng sinh trưởng cây xanh bằng cách đo đếm các chỉ tiêu, chiều cao cây bằng thước đo cao kỹ thuật chuyên dụng, đo đường kính thân, kích thước tán

bằng thước dây

• Điều tra đánh giá chất lượng cây bằng phương pháp mục trắc thân, tán cây để xếp theo 5 nhóm:

+ Thân cong vênh, thân nghiêng, xiêu vẹo, tán lệch, tán khuyết (gọi tắt là cong vênh)

+ Cây còi cọc, cằn cỗi, khô cành (gọi tắt là còi cọc)

+ Cụt ngọn, gãy đổ thân chính (gọi tắt là cụt ngọn)

+ Sâu ăn lá, đụt thân, mối mọt, bệnh hại, bọng ruột (gọi tắt là sâu bệnh)

Trang 33

+ Bị cây kí sinh, phụ sinh, hoại sinh đeo bám nhiều có nguy cơ ngừng sinh trưởng hoặc chết dần (gọi tắt là bị kí sinh)

* Phương pháp phân tích, xử lý số liệu

- Sử dụng tài liệu chuyên môn để phân loại đối tượng nghiên cứu

- Sử dụng ma trận và tiêu chí đánh giá để bình chọn đối tượng ưu tiên và nhân tố chủ yếu

- Sử dụng sơ đồ Venn để phân tích các bên liên quan trong quản lý và bảo tồn cây cổ thụ

- Phương pháp SWOT (Strong, Weaknees, Opportunity, Threaten) để phân tích các thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý, chăm sóc bảo vệ hệ thống cây xanh đô

thị và cây cổ thụ, cây di sản trên địa bàn

- Số liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học và một số phần mềm máy tính chuyên dụng

Trang 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội quận Ngũ Hành Sơn và Sơn Trà

3.1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Quận Ngũ Hành Sơn

3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Ngũ Hành Sơn là một quận của thành phố Đà Nẵng được thành lập theo Nghị định số 07/CP ngày 23 tháng 1 năm 1997 của Chính phủ và Quyết định 181/QĐ-UB

ngày 27 tháng 1 năm 1997 của Uỷ ban nhân dân lâm thời thành phố Đà Nẵng

Quận Ngũ Hành Sơn nằm về phía Đông Nam của thành phố, phía Đông giáp biển Đông; phía Tây giáp với huyện Hoà Vang và quận Cẩm Lệ; phía Bắc giáp với quận

Hải Châu và quận Sơn Trà; phía Nam giáp với huyện Điện Bàn của tỉnh Quảng Nam

Địa hình của Ngũ Hành Sơn tương đối bằng phẳng, đất đai khá đồng nhất về tính chất vật lý, hoá học Cấu tạo địa chất chủ yếu là cát, thành phần hạt thô hơn so với

cùng loại ở khu sát biển Ngoài ra lớp cát mịn được phân bố rộng khắp trong vùng, với

chiều dày biến động từ 4 đến 11m, có kết cấu chặt vừa

Quận Ngũ Hành Sơn nằm trong khu vực có chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa

và ảnh hưởng khí hậu ven biển của miền Trung Lượng mưa và độ ẩm trung bình

tương đối thuận lợi cho phát triển sản xuất lương thực và thực phẩm Mùa mưa trùng

với mùa đông và mùa khô trùng với mùa hạ Nhiệt độ trung bình là 25,60C, nhiệt độ

cao tuyệt đối 40,90C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 15,50C Do đặc điểm địa hình có đồng

bằng phía Tây và đèo Hải Vân chắn ngang nên khí hậu khu vực Đà Nẵng nói chung và

quận Ngũ Hành Sơn nói riêng không bị khắc nghiệt như khí hậu phía Bắc đèo Hải

Vân Ảnh hưởng của gió Tây Bắc không lớn Ngũ Hành Sơn có nắng ấm gần như

quanh năm; chỉ mưa vào các tháng 9, 10 và 11, nhưng vì nằm trong khu vực gió mùa

nên lượng mưa hàng năm của Ngũ Hành Sơn thường cao hơn một số nơi khác Theo

thống kê nhiều năm, lượng mưa hàng năm của Ngũ Hành Sơn cụ thể như sau: lượng

mưa trung bình năm là 2066mm, lượng mưa lớn nhất là 3307mm (1964), lượng mưa

thấp nhất là 1400 mm (1974), lượng mưa ngày thấp nhất là 322mm Lượng mưa trong

năm thường phân bố không đều giữa các mùa và các tháng Thường thì mưa lớn tập

trung vào các tháng 9,10,11,12 và chiếm khoảng 70% tổng lượng mưa của cả năm Độ

ẩm trung bình trong năm dao động từ 75% đến 90% Độ ẩm trung bình năm là 82%,

độ ẩm cao nhất trung bình là 90%, độ ẩm thấp nhất trung bình là 75 % và độ ẩm thấp

Trang 35

tháng 10 đến tháng 3 năm sau Tốc độ gió trung bình là 3,3m/s, tốc độ gió mạnh nhất

là 40m/s Gió bão thường xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 11 hằng năm, thổi từ biển

Đông vào đất liền, với cấp bão thường gặp là từ cấp 9 đến cấp 10, làm ảnh hưởng nặng

nề đến sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp của nhân dân trong quận

Về chế độ thuỷ văn: Trên địa bàn Ngũ Hành Sơn có 3 con sông chảy qua, đó là sông Hàn, sông Cổ Cò (nhân dân địa phương thường gọi là sông Bãi Dài, sông Dài hay

Trường Giang, còn trong các sách của triều Nguyễn thường ghi là Lộ Cảnh Giang) và

sông Vĩnh Điện Sông Hàn là hợp lưu của sông Vĩnh Điện, sông Cổ Cò và sông Cẩm

Lệ tại tại khu vực ngã sông, nơi tiếp giáp giữa phường Hoà Cường của quận Hải Châu,

xã Hoà Xuân của huyện Hoà Vang và phường Khuê Mỹ của quận Ngũ Hành Sơn và

đổ nước ra Vũng Thùng, hình thành nên cảng sông Hàn và cảng biển Tiên Sa Sông

Vĩnh Điện, dài 17 km, là một nhánh của con sông Thu Bồn chảy theo hướng Tây Nam

- Đông Bắc, đổ ra sông Hàn Sông Vĩnh Điện chủ yếu phục vụ cho giao thông hàng

hoá giữa các huyện Bắc Quảng Nam với thành phố Đà Nẵng Sông Cổ Cò, là con sông

nổi tiếng trong lịch sử ngoại thương của xứ Đàng Trong trước đây, nối liền tiền cảng

Đà Nẵng với thương cảng Hội An sầm uất vào các thế kỷ 16, 17 Sau này, sông Cổ Cò

bị bồi lấp, gãy đứt thành nhiều đoạn Trên địa bàn Ngũ Hành Sơn, sông Cổ Cò tách

thành hai nhánh là sông Cổ Cò và sông Cầu Biện Sông Cổ Cò hiện dài 3,5km, rộng

10m, bị bồi lấp nhiều, chưa có điều kiện để nạo vét nên đáy sông bị bồi lấp rất khó

khăn cho ghe thuyền đi lại, nhất là vào mùa khô Sông Cầu Biện dài 2km, rộng 20m,

hiện tại bị lấp nhiều, một số đoạn đã bị chặn lại để nuôi trồng thuỷ sản

Chế độ thuỷ triều của Biển Đông ở khu vực này là chế độ bán nhật triều; mỗi ngày lên xuống 2 lần với biên độ dao động khoảng 0,5m Độ nhiễm mặn do nước biển

xâm thực tùy thuộc vào mùa mưa và lượng mưa hàng năm Lượng mưa càng lớn độ

nhiễm mặn càng nhỏ, ngược lại, lượng mưa càng ít, độ nhiễm mặn càng lớn, ảnh

hưởng đến sản xuất nông nghiệp và dân sinh

Quận Ngũ Hành Sơn có 2 nhóm đất chính là đất cát và đất phù sa Nhóm đất phù

sa phân bố chủ yếu ở ven các con sông chảy qua địa bàn quận

Trên cơ sở nguồn tài nguyên khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm và nguồn tài nguyên đất đai nêu trên, Ngũ Hành Sơn có nguồn tài nguyên rừng và thảm thực vật tương đối

đa dạng, gồm rừng trồng ở dọc biển và rừng tự nhiên ở khu vực núi Non Nước - Ngũ

Hành Sơn Thảm thực vật tự nhiên trên núi Ngũ Hành Sơn đa dạng về chủng loại:

thường xanh quanh năm và có độ che phủ tương đối lớn

Rừng trồng tập trung nhất là ở vùng Đông, chạy dọc bờ biển từ Hoà Hải ra đến

Mỹ An với cây trồng chủ yếu là Dương liễu (Phi lao) và Bạch đàn Mục đích của rừng

trồng là phủ xanh đất trống đồi trọc, chống xói mòn rửa trôi đất, làm rừng phòng hộ

ven biển kết hợp với sản xuất lâm nghiệp

Trang 36

Vùng biển của quận nằm trong ngư trường lớn biển Bắc Quảng Nam với nguồn hải sản có giá trị kinh tế, thuận lợi cho các sinh vật biển gồm các loài cá, tôm, mực và

các loại đặc sản khác như nghêu, bào ngư, rong biển sinh sôi nảy nở Do ở vị trí

cuối sông đầu biển, các con sông Cổ Cò, Cầu Biện của Ngũ Hành Sơn ở trong môi

trường nước mặn lợ độc đáo, một vùng nuôi trồng thủy sản xuất khẩu giàu tiềm năng

3.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Ngũ Hành Sơn có cả mạng lưới giao thông bằng đường bộ và đường thuỷ rất thuận lợi; nối liền với trung tâm thành phố; rất gần với cảng hàng không quốc tế Đà

Nẵng, nhà ga đường sắt Đà Nẵng và cảng biển Tiên Sa Quận Ngũ Hành Sơn nằm trên

trục đường bộ nối thành phố Đà Nẵng hiện đại với đô thị cổ Hội An - một di sản văn

hoá thế giới được UNESCO công nhận và nằm ở chặng cuối cùng của trục hành lang

kinh tế Đông - Tây, dài 1450 km, nối các nước tiểu vùng sông Mê Kông mà điểm cuối

đường ở phía Đông là cảng biển Tiên Sa Cây cầu Tuyên Sơn bắc qua sông Hàn với

đầu cầu phía Tây ở quận Hải Châu và đầu cầu phía Đông ở quận Ngũ Hành Sơn, là

cây cầu cuối cùng trên tuyến hành lang xuyên quốc gia quan trọng này

Kết cấu hạ tầng của Quận đang ngày càng hoàn thiện, công tác chỉnh trang, đô thị hoá diễn ra nhanh, nhiều dự án lớn của Thành phố và Trung ương đã và đang triển

khai trên địa bàn làm cho công tác quy hoạch, chỉnh trang đô thị được thực hiện đều

khắp và đồng bộ, tạo ra diện mạo đô thị trẻ ngày càng sầm uất, hấp dẫn Với các điều

kiện về địa lý, tài nguyên và môi trường như trên, Ngũ Hành Sơn có các lợi thế để phát

triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội theo theo hướng văn minh hiện đại

Về diện tích tự nhiên có: 3.911,7818 ha Trong đó, diện tích đất nông nghiệp:

770,5361 ha chiếm 19,6978% (bao gồm đất sản xuất nông nghiệp: 733,7237 ha chiếm

18,7568%, đất lâm nghiệp: 26,6985 ha chiếm 0,6825%, đất nuôi trồng thủy sản:

10,1139 ha chiếm 0,2585%); đất phi nông nghiệp: 2.589,4019 ha chiếm 66,1949%

(bao gồm đất ở: 708,5649 chiếm 18,1136%; đất chuyên dùng: 1383,2097 ha chiếm

35,3601%; đất tôn giáo, tín ngưỡng: 20,7650 ha chiếm 0,5308%; đất nghĩa trang,

nghĩa địa: 107,3276 ha chiếm 2,7437%; đất sông suối và mặt nước: 362,2047 ha chiếm

9,2593%; đất phi nông nghiệp khác: 7,3300 ha chiếm 0,1874%); đất chưa sử dụng:

551,8438 ha chiếm 14,1072%; đất có mặt nước ven biển: 73,9200 ha chiếm 1,8897%

Về dân số có: 43 084 người với mật độ dân số: 1.171 người/km2 Hiện nay, dân

số tăng lên 61.441 với 16.470 hộ, trong đó số luợng người trong độ tuổi lao động là

40.765 người, chiếm 66,35% so với tổng dân số của quận Tốc độ tăng dân số bình

quân hằng năm là 1,20% (theo số liệu thống kê ngày 01 tháng 4 năm 2009)

Trang 37

3.1.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Quận Sơn Trà

3.1.2.1 Điều kiện tự nhiên:

Sơn Trà là một quận nội thành của thành phố Đà Nẵng, Quận Sơn Trà được thành lập từ tháng 01/1997, có vị trí khá đặc biệt trên bản đồ thành phố Đà Nẵng, ngăn

cách với quận Hải Châu bằng một con sông về phía Tây, phía Nam giáp quận Ngũ

Hành Sơn, phía Đông và Bắc giáp biển Đông, có vị trí quan trọng, điều kiện thuận lợi

tiếp giáp với Biển Đông trong việc giao lưu kinh tế và phát triển du lịch dựa trên du

lịch sinh thái và du lịch biển

Vị trí của Quận Sơn Trà: Ba mặt giáp sông, biển; phía Bắc và Đông giáp biển Đông; phía Tây giáp Vũng Thùng (Vịnh Đà Nẵng) và sông Hàn; phía Nam giáp quận

Ngũ Hành Sơn

3.1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội:

Quận Sơn Trà có diện tích: 59,32 km2, chiếm 4,62% diện tích toàn thành phố;

dân số: 132.944 người, chiếm 14,4% dân số toàn thành phố, mật độ dân số: 2.241

người/km2 (Theo niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng năm 2010)

Quận Sơn Trà gồm 7 đơn vị hành chính cấp phường: Thọ Quang (do Nam Thọ và Mân Quang sát nhập), Mân Thái (do Cổ Mân và Tân Thái sát nhập), Phước Mỹ (do

Phước Trường và Mỹ Khê sát nhập), An Hải Bắc (do 5 thôn của đại xã An Hải tách ra

là An Nhơn, An Đồn, An Tân, An Hoà và An Cư), An Hải Đông (do 6 thôn của đại xã

An Hải chia tách ra là An Hiệp, An Thành, An Cư 1, An Cư 2, An Cư 3 và An Cư 4),

An Hải Tây (do 5 thôn của đại xã An Hải chia tách ra là: An Trung, An Vĩnh, An

Thuần, An Mỹ và An Thị) Riêng thôn An Thượng của đại xã An Hải, chia cắt sát

nhập cùng với làng Mỹ Thị thành phường Mỹ An, thuộc quận Ngũ Hành Sơn Sơn Trà

là một quận vừa có vị trí thuận lợi về phát triển kinh tế, có đường nội quận nối với

quốc lộ 14B nối Tây Nguyên - Lào, vừa là địa bàn quan trọng về quốc phòng - an

ninh, có cảng nước sâu Tiên Sa là cửa khẩu quan hệ kinh tế quốc tế không chỉ của

thành phố Đà Nẵng mà của cả khu vực, có bờ biển đẹp, là khu vực tập trung các cơ sở

quốc phòng, có vị trí quan trọng trong chiến lược an ninh khu vực và quốc gia

Với Khu Bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, tổng diện tích tự nhiên là 4.439 ha, trong

đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 4.180 ha, trong đó đất có rừng là 3.431 ha (rừng

tự nhiên 2.806 ha, rừng trồng 625 ha), đất chưa có rừng 748 ha Đây là Khu Bảo tồn

thiên nhiên vừa có hệ sinh thái đất ướt ven biển vừa có thảm rừng nhiệt đới mưa ẩm

nguyên sinh Nguồn gen thực vật nhiệt đới của Sơn Trà rất đa dạng, phong phú với số

lượng cá thể lớn có khả năng cung cấp giống cây bản địa phục vụ trồng rừng như: Chò

chai, Dẻ cau, Dầu lá bóng Điều đặc biệt là Sơn Trà còn có những loài động vật quý

hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, trong đó Voọc vá có thể được xem là loài thú sinh

Trang 38

trưởng đặc hữu của Đông Dương cần được bảo vệ Mặt khác Sơn Trà còn là nguồn

cung cấp nước ngọt cho thành phố và là nơi có nhiều cảnh đẹp và di tích lịch sử nên rất

có giá trị về du lịch Ngoài ra, Sơn Trà còn là bức bình phong che chắn gió bão cho thành

phố, một dãy bờ biển đẹp với nhiều bãi san hô lớn, Sơn Trà có điều kiện thuận lợi trong

việc giao lưu kinh tế và phát triển du lịch dựa trên du lịch sinh thái và du lịch biển

Trên địa bàn Quận có các di tích lịch sử, lễ hội văn hóa truyền thống như: Nghinh ông, Cầu Ngư, Thống chế Thoại Ngọc Hầu, đình làng An Hải – An Hải Tây

3.1.3 Các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến sự tồn tại và công tác quản lý bảo tồn cây cổ thụ tại khu vực nghiên cứu

Ngũ Hành Sơn và Sơn Trà là 2 quận có vị trí thuận lợi cho việc đi lại và phát triển thương mại, dịch vụ và các dịch vụ du lịch sinh thái Thời tiết ôn hoà rất phù hợp

cho sản xuất nông nghiệp, có nguồn lao động dồi dào Hệ thống cơ sở hạ tầng của địa

phương đã được cải thiện nhiều phục vụ cho đời sống của nhân dân Địa bàn quận đang

trong quá trình quy hoạch, nâng cấp nên việc quy hoạch phát triển trồng cây phân tán,

cũng như việc bảo tồn hệ thống cây cổ thụ trên các tuyến đường phố là rất cần thiết

Bên cạnh những thuận lợi trên vẫn còn tồn tại các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội có

ảnh hưởng đến sự tồn tại và công tác quản lý bảo tồn cây cổ thụ tại khu vực nghiên cứu:

- Diện tích đất nông nghiệp bình quân/hộ rất ít do bị thu hồi đất để thực hiện quá trình đô thị hoá Điều này sẽ gây khó khăn cho việc giải quyết sinh kế và tăng thu nhập

cho hộ nông dân Quỹ đất hẹp sẽ rất khó khăn cho việc mở rộng quy mô (kể cả trồng trọt

và chăn nuôi) để phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá

- Hướng gió thịnh hành thường thay đổi theo mùa và các tháng trong năm Có hai hướng gió chủ đạo thường gặp trên địa bàn quận là gió Đông và gió Bắc Gió Đông

thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm Gió Bắc thịnh hành từ tháng 10 đến tháng

3 năm sau Tốc độ gió trung bình là 3,3m/s, tốc độ gió mạnh nhất là 40m/s Gió bão

thường xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 11 hằng năm, thổi từ biển Đông vào đất liền,

với cấp bão thường gặp là từ cấp 9 đến cấp 10, đây cũng là một rong nhũng yếu tố làm

ảnh hưởng nặng nề đến việc ngã, đổ cũng như sự tồn tại và công tác quản lý bảo tồn cây

cổ thụ trên địa bàn quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà nẵng

- Đất đai khá đồng nhất về tính chất vật lý, hoá học Cấu tạo địa chất chủ yếu là cát, thành phần hạt thô hơn so với cùng loại ở khu sát biển Ngoài ra lớp cát mịn được

phân bố rộng khắp trong vùng, với chiều dày biến động từ 4 đến 11m, có kết cấu chặt

vừa Đất chủ yếu là đất cát thành phần nghèo chất dinh dưỡng do vậy ảnh hưởng đến

sự sinh trưởng, phát triển cũng như sức chống đỡ trong mùa mưa bão, của tập đoàn

cây cổ thụ, công tác quản lý bảo tồn cây cổ thụ trên địa bàn

Trang 39

- Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và ảnh hưởng khí hậu ven biển của miền Trung với lượng mưa và độ ẩm trung bình Mùa mưa trùng với mùa đông và mùa khô trùng

với mùa hạ Nhiệt độ trung bình là 25,60C, nhiệt độ cao tuyệt đối 40,90C, nhiệt độ thấp

tuyệt đối là 15,50C Chế độ thuỷ triều của Biển Đông ở khu vực này là chế độ bán nhật

triều; mỗi ngày lên xuống 2 lần với biên độ dao động khoảng 0,5m Độ nhiễm mặn do

nước biển xâm thực tùy thuộc vào mùa mưa và lượng mưa hàng năm Lượng mưa

càng lớn độ nhiễm mặn càng nhỏ, ngược lại, lượng mưa càng ít, độ nhiễm mặn càng

lớn, nhũng yếu tố của chế độ thủy văn và khí hậu thời tiết làm ảnh hưởng không nhỏ

đến sự sinh trưởng, phát triển cũng như sức chống đỡ trong mùa mưa và mùa khô của

tập đoàn cây cổ thụ, cũng như trong công tác quản lý bảo tồn cây cổ thụ trên địa bàn

3.2 Đánh giá thực trạng và năng lực quản lý hệ thống cây xanh đô thị trên địa bàn Thành phố Đà nẵng

3.2.1 Đánh giá hiện trạng cây xanh đô thị trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng

3.2.1.1 Các văn bản pháp lý, chủ trương, chính sách có liên quan

Hệ thống các văn bản pháp luật về tổ chức, quản lý cây xanh đường phố được

áp dụng tại thành phố Đà Nẵng

Hiện nay, trong quá trình quản lý, duy trì cây xanh đường phố nói chung và thành phố

Đà Nẵng nói riêng đã áp dụng và cụ thể hóa các văn bản của Trung ương, của tỉnh về các quy

phạm kỹ thuật trong quản lý, duy trì cây xanh đường phố, có thể điểm qua một số văn bản

phân cách, đảo giao thông); cây xanh trong công viên, vườn hoa; cây xanh và thảm cỏ tại

quảng trường và các khu vực công cộng khác trong đô thị

- Loài cây được chọn phải phù hợp với yêu cầu và mục tiêu của quy hoạch đô thị

và phát triển đô thị; phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng, tính chất,

chức năng, truyền thống, văn hóa và bản sắc của đô thị; kết hợp hài hòa với không

gian mặt nước, cảnh quan và môi trường; đáp ứng các yêu cầu về quản lý và sử dụng

Trang 40

• Quyết định số 01/2006/QĐ-BXD ngày 05/01/2006 của Bộ Xây dựng ban

hành TCXDVN 362:2005 về Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô

thị - tiêu chuẩn thiết kế Tiêu chuẩn này quy định các chỉ tiêu về cây xanh sử dụng

công cộng trong các đô thị như sau:

- Cây xanh đường phố: Thường bao gồm dải cây xanh ven đường đi bộ (vỉa hè), dải cây xanh trang trí, dải cây xanh ngăn cách giữa các đường, hướng giao thông,…

- Khi thiết kế công viên, vườn hoa phải lựa chọn loại cây trồng và giải pháp thích hợp nhằm tạo được bản sắc địa phương, dân tộc và hiện đại, không xa lạ với tập quán

địa phương Ngoài ra lựa chọn cây trồng trên các vườn hoa nhỏ phải đảm bảo sự sinh

trưởng và phát triển không ảnh hưởng đến tầm nhìn các phương tiện giao thông

- Cây xanh sử dụng công cộng phải được gắn kết chung với các loại cây xanh sử dụng hạn chế, cây xanh chuyên môn và vành đai xanh ngoài đô thị (kể cả mặt nước)

thành một hệ thống hoàn chỉnh, liên tục

- Quy hoạch và trồng cây xanh công cộng không được làm ảnh hưởng tới an toàn giao thông, làm hư hại công trình kiến trúc, hạ tầng, kỹ thuật đô thị, không gây nguy

hiểm tới người sử dụng và môi trường sống của cộng đồng

- Cây xanh đường phố phải căn cứ phân cấp tầng bậc và tính chất các loại đường

mà bố trí cây trồng:

• Nghị định số 64/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ về quản lý

cây xanh đô thị

Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ

về “quản lý cây xanh đô thị”, theo đó, Chính phủ thống nhất quản lý cây xanh đô thị,

có phân công, phân cấp trách nhiệm theo quy định của pháp luật; nhà nước có trách

nhiệm đầu tư, phát triển cây xanh đô thị nhằm mục đích phục vụ lợi ích cộng đồng;

khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân tham gia quy hoạch,

trồng, chăm sóc, ươm cây, bảo vệ cây xanh đô thị

Theo nghị định, cây xanh đường phố phải được trồng, chăm sóc, ươm cây, bảo

vệ, chặt hạ, dịch chuyển theo những quy định chủ yếu sau:

* Quy định chung về trồng, chăm sóc

- Việc trồng cây xanh đô thị phải tuân thủ quy hoạch đô thị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Ngày đăng: 02/07/2021, 05:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Xây dựng - Vụ hạ tầng kỹ thuật đô thị (2006), Tăng cường công tác quản lý cây xanh tại các đô thị Việt Nam, Hội thảo quản lý cây xanh 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác quản lý cây xanh tại các đô thị Việt Nam
Tác giả: Bộ Xây dựng - Vụ hạ tầng kỹ thuật đô thị
Năm: 2006
4. Nguyễn Danh và cộng sự (2010), Cây xanh đô thị ở thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, số 57, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học
Tác giả: Nguyễn Danh và cộng sự
Năm: 2010
5. Vũ Xuân Đề (1993), Phân vùng đất và qui hoạch khoảng không gian xanh nhằm sử dụng hợp lý đất và bảo vệ môi trường TPHCM, Báo cáo khoa học, Sở Khoa học Công nghệ & Môi trường, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân vùng đất và qui hoạch khoảng không gian xanh nhằm sử dụng hợp lý đất và bảo vệ môi trường TPHCM
Tác giả: Vũ Xuân Đề
Năm: 1993
6. Vũ Xuân Đề (1995), Quy hoạch khoảng xanh bảo vệ môi trường – cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế xã hội TP Hồ Chí Minh đến năm 2010, Báo cáo khoa học, Chương trình KN 03, Bộ khoa học Công nghệ & Môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch khoảng xanh bảo vệ môi trường – cảnh quan phục vụ "phát triển kinh tế xã hội TP Hồ Chí Minh đến năm 2010
Tác giả: Vũ Xuân Đề
Năm: 1995
7. Vũ Xuân Đề (1998), Nghiên cứu xác định các chỉ số khoảng xanh đô thị cho TPHCM, Báo cáo khoa học, Sở Khoa học Công nghệ & Môi trường, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác định các chỉ số khoảng xanh đô thị cho TPHCM
Tác giả: Vũ Xuân Đề
Năm: 1998
8. Trần Viết Mỹ (2001), Nghiên cứu cơ sở quy hoạch cây xanh và chọn loài cây trồng phù hợp phục vụ quá trình đô thị hóa TP. Hồ Chí Minh, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp, Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở quy hoạch cây xanh và chọn loài cây trồng phù hợp phục vụ quá trình đô thị hóa TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Viết Mỹ
Năm: 2001
13. Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp nghiên cứu thực vật. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu thực vật
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
14. Nguyễn Thị Bích Thu (2011), Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển cây xanh đường phố thành phố Đông Hà tỉnh Quảng Trị. Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển cây xanh đường phố thành phố Đông Hà tỉnh Quảng Trị
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Thu
Năm: 2011
15. Đặng Mạnh Cường (2014), “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển cảnh quan cây xanh đô thị ở Quận Liên Chiểu – Thành phố Đà Nẵng” . Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Huế.TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển cảnh quan cây xanh đô thị ở Quận Liên Chiểu – Thành phố Đà Nẵng”
Tác giả: Đặng Mạnh Cường
Năm: 2014
17. Bouvarel P. “Carbon dioxide in the atmosphere: the role of forests”, Reme Forestiere Francaise, Vol 41 (4), pp.301 – 307 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Carbon dioxide in the atmosphere: the role of forests”, "Reme Forestiere Francaise
20. Grey G.M and Deneke F.J (1978), Urban Forestry, John Wiley and Sons Inc, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Urban Forestry
Tác giả: Grey G.M and Deneke F.J
Năm: 1978
21. Heisler G.M. (1986), “Energy savings with trees”, Journal of Arboriculture, pp. 113 – 125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Energy savings with trees”, "Journal of Arboriculture
Tác giả: Heisler G.M
Năm: 1986
22. Heisler G.M. (1989), Effects of tree density on windspeed at the 2 – m height in residential neihborhoods, 19 th Conference on Argricultural and Forest Metenonology and Ninth Conference on Biometeorology and Aerobiology Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of tree density on windspeed at the 2 – m height in residential neihborhoods
Tác giả: Heisler G.M
Năm: 1989
23. Jorgensen, E. 1970. Urban forestry in Canada. In: Proceedings of the 46th International Shade tree Conference. University of Toronto, Faculty of Forestry, Shade Tree Research Laboratory, Toronto Sách, tạp chí
Tiêu đề: In: Proceedings of the 46th International Shade tree Conference
24. Konijnendijk, C.C. 2003. A decade of urban forestry in Europe, Forest Policy and Economics 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A decade of urban forestry in Europe
25. Konijnendijk, C.C., Nilsson, K., Randrup, T.B., and Schipperịn, J. (ed). 2005. Urban forests and Trees; Springer; Heidelberg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Urban forests and Trees
26. Miller R.W. (1988), Urban Forestry – Planning and Managing Urban Greenspaces, Prentice Hall, NewJersey Sách, tạp chí
Tiêu đề: Urban Forestry – Planning and Managing Urban Greenspaces
Tác giả: Miller R.W
Năm: 1988
28. Randrup, T.B., Konijnendijk, C.C., Dbbertin, M.K. and Pruller, R. 2005. The concept of Urban forestry in Europe. Konijnendijk, C.C, Nilsson, K., Randrup, T.B., and Schipperijn, J. (ed). Urban forests and Trees. Springer, Heidelberg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Urban forests and Trees
2. Bộ xây dựng, Quyết định 01/2006/QĐ-BXD ngày 5/1/2006. Ban hành TCXDVN 362-2005 Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế Khác
3. Chỉ thị 45-TTg ngày 8/3/1974 Về công tác trồng cây xanh ở các đô thị do Thủ tướng Chính phủ ban hành Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w