Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thực tế còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết như: nguồn kinh phí cho người dân khi họ trực tiếp tham gia quản lý bảo vệ rừng còn quá thấp, c
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi Toàn bộ các số liệu và kết quả thu được là do bản thân tôi tự điều tra, thu thập và theo dõi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài
Tôi cũng xin cam đoan, các tài liệu đã trích dẫn của các tác giả đã được liệt kê đầy đủ
Huế, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Nguyệt
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Huế, Phòng Đào tạo sau Đại học, quý thầy cô giáo khoa Lâm nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu này Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Nguyễn Thị Hồng Mai đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi, lãnh đạo UBND huyện Nghĩa Hành, Hạt kiểm lâm Nghĩa Hành, Phòng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn huyện, các đồng chí nguyên lãnh đạo dự án KfW6 tỉnh, cán bộ
dự án KfW6 huyện, Chi cục Thống kê huyện, UBND xã Hành Tín Đông, Ban quản lý rừng cộng đồng thôn Khánh Giang và Trường Lệ và bà con nhân dân trên địa bàn huyện Nghĩa Hành đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ khi điều tra thực địa
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp đã luôn sát cánh và động viên giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Mặc dù bản thân đã cố gắng nhưng do kiến thức còn nhiều hạn chế, thời gian làm đề tài có hạn nên luận văn chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô giáo để luận văn hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Huế, tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Nguyệt
Trang 3dự án KfW6 tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi Với phương pháp điều tra phỏng vấn các đối tượng liên quan thông qua bản phỏng vấn để thấy được hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình quản lý rừng cộng đồng, mối quan hệ giữa các bên liên quan, sự tác động của người dân cũng như vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng, các ban ngành trong việc thúc đẩy quản lý rừng bền vững tại địa phương Đồng thời thấy được quyền lợi của người dân khi tham gia quản lý rừng cộng đồng, tính bền vững ngày càng được thể hiện rõ hơn khi rừng được giao cho cộng đồng quản lý Qua hoạt động hỗ trợ giao rừng và xây dựng năng lực cho cộng đồng quản lý rừng, người dân ngày càng tăng ý thức và trách nhiệm quản lý rừng: Rừng cộng đồng không chỉ có ý nghĩa trong việc bảo vệ môi trường mà còn tạo công ăn việc làm cho người dân Nhờ đó mà người dân ngày càng gắn bó với rừng hơn nên rừng ngày càng được quản lý bảo vệ tốt hơn Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thực tế còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết như: nguồn kinh phí cho người dân khi
họ trực tiếp tham gia quản lý bảo vệ rừng còn quá thấp, chưa triển khai thực hiện được các sáng kiến liên quan đến dịch vụ môi trường rừng như thực hiện mô hình du lịch sinh thái dựa trên các tiềm năng hiện có của địa phương để ban quản lý rừng cộng đồng có nguồn kinh phí chi hoạt động… Nghiên cứu ngoài đề xuất các giải pháp giải quyết vấn đề trên, còn hướng đến các giải pháp mang tính kỹ thuật nhằm thúc đẩy rừng phát triển cả về số lượng và chất lượng và các giải pháp mang tính thể chế để góp phần xây dựng các chính sách quản lý rừng cộng đồng hiệu quả và thiết thực hơn
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH: ix
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH/MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
3.Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ BỀN VỮNG LÂM NGHIỆP CỘNG ĐỒNG 4
1.1.1 Cơ sở lý luận của Phát triển bền vững 4
1.1.2 Cơ sở lý luận về quản lý rừng và QLRCĐ bền vững 7
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13
1.2.1 Sự thay đổi diện tích rừng ở Việt Nam 13
1.2.2 Cơ sở thực tiễn và bài học kinh nghiệm về QLRCĐ của một số nước trên thế giới và trong khu vực 15
1.2.3 Cơ sở thực tiễn và bài học kinh nghiệm về QLRCĐ ở Việt Nam 19
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 29
2.1.1 Phạm vi nghiên cứu 29
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 29
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: 29
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 30
Trang 5CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 35
3.2 KHÁI QUÁT VỀ DỰ ÁN “KHÔI PHỤC RỪNG VÀ QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG’’ VÀ TRIỂN KHAI MÔ HÌNH QLRCĐ TẠI XÃ HÀNH TÍN ĐÔNG - DỰ ÁN KFW6 38
3.2.1 Thông tin chung về dự án 38
3.2.2 Thực hiện thí điểm giao rừng và QLRCĐ 39
3.3 ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA TIẾN TRÌNH GIAO RỪNG VÀ THỰC HIỆN QLRCĐ Ở HAI THÔN TRƯỜNG LỆ VÀ KHÁNH GIANG 40
3.3.1 Tóm tắt tiến trình xây dựng mô hình QLRCĐ 40
3.3.2 Ảnh hưởng của việc xây dựng và thực hiện quy trình QLRCĐ đến tính bền vững của mô hình RCĐ 40
3.4 PHÂN TÍCH CÁC CƠ CHẾ CHIA SẺ LỢI ÍCH CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH BỀN VỮNG CỦA MÔ HÌNH QLRCĐ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ NGHIÊN CỨU 46
3.4.1 Thực hiện kế hoạch khai thác gỗ cho mục đích thương mại 46
3.4.2 Thực hiện kế hoạch khai thác LSNG từ RCĐ 50
3.4.3 Hỗ trợ kinh phí trong và sau khi kết thúc dự án xây dựng mô hình QLRCĐ 51
3.4.4 Hỗ trợ các cơ sở vật chất khác 52
3.5 PHÂN TÍCH NHỮNG THAY ĐỔI VỀ THỂ CHẾ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QLRCĐ BỀN VỮNG 53
3.5.1 Vai trò, trách nhiệm của các bên liên quan 53
3.5.2 Thay đổi các quyền của người dân khi tham gia QLRCĐ 56
3.5.3 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) trong QLRCĐ tại hai thôn Trường Lệ và Khánh Giang 59
3.6 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VỀ KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA MÔ HÌNH QLRCĐ TẠI HAI THÔN TRƯỜNG LỆ VÀ KHÁNH GIANG 60
3.6.1 Hiệu quả về mặt kinh tế 60
3.6.2 Hiệu quả về mặt xã hội 61
3.6.3 Hiệu quả về mặt môi trường sinh thái 63
Trang 63.7 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP DUY TRÌ HOẠT ĐỘNG QLRCĐ VÀ
HƯỚNG ĐẾN QLRCĐ BỀN VỮNG 66
3.7.1 Giải pháp kỹ thuật 66
3.7.2 Giải pháp hỗ trợ các sáng kiến về hưởng lợi từ QLRCĐ 66
3.7.3 Giải pháp về tổ chức thực hiện QLRCĐ 67
3.7.4 Giải pháp nâng cao năng lực quản lý cho cộng đồng trong QLRCĐ 67
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 74
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Cụm từ đầy đủ
BQL Ban Quản lý CNQSDĐ Chứng nhận quyền sử dụng đất
Dự án KfW6 Dự án Khôi phục rừng và quản lý rừng bền vững ở các
tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc LNCĐ Lâm nghiệp cộng đồng
LSNG Lâm sản ngoài gỗ PTNT Phát triển nông thôn PTBV Phát triển bền vững PTR Phát triển rừng QLBVR Quản lý bảo vệ rừng QLLNCĐ Quản lý lâm nghiệp cộng đồng QLRCĐ Quản lý rừng cộng đồng QƯBV&PTR Quy ước bảo vệ và phát triển rừng RCĐ Rừng cộng đồng
UBND Ủy ban nhân dân
WOT
Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Thách thức)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Sự thay đổi diện tích rừng của Việt Nam và một số nước trên thế giới, giai
đoạn 1990-2015 14
Bảng 3.1 Tổng hợp diện tích các nhóm đất trên địa bàn xã 34
Bảng 3.2 Tổ chức QLRCĐ cấp thôn của Trường Lệ và Khánh Giang- Dự án KfW6 41 Bảng 3.3 Diện tích rừng giao cho cộng đồng Trường Lệ và Khánh Giang- Dự án KfW6 41
Bảng 3.4 Tầm quan trọng của RCĐ 43
Bảng 3.5 So sánh kết quả điều tra tài nguyên rừng ở mô hình QLRCĐ thôn Trường Lệ và Khánh Giang 43
Bảng 3.6 Kinh phí hỗ trợ các mô hình QLRCĐ dự án KfW6 45
Bảng 3.7 Kế hoạch khai thác gỗ thí điểm ở các mô hình QLRCĐ 47
Bảng 3.8 Đánh giá hiệu quả kinh tế khai thác gỗ thương mại lần thứ nhất ở rừng tự nhiên thôn Trường Lệ năm 2009 47
Bảng 3.9 Đánh giá hiệu quả kinh tế khai thác gỗ thương mại lần thứ hai ở rừng tự nhiên thôn Trường Lệ năm 2011 48
Bảng 3.10 Công tác khai thác LSNG của cộng đồng thôn 50
Bảng 3.11 Kinh phí hoạt động và các hỗ trợ cộng đồng nhận quản lý bảo vệ rừng từ năm 2008-2017 của cộng đồng thôn Khánh Giang 51
Bảng 3.12 Kinh phí hoạt động và các hỗ trợ cộng đồng nhận quản lý bảo vệ rừng từ năm 2008-2017 của cộng đồng thôn Trường Lệ 51
Bảng 3.13 Nhận thức của người dân về thay đổi quyền trên đất RCĐ 57
Bảng 3.14 Các quyền được thiết lập trên đất RCĐ trước và sau giao rừng 58
Bảng 3.15 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức(SWOT) 59
trong QLRCĐ 59
Bảng 3.16 Công tác tuần tra, truy quét bảo vệ rừng của các cộng đồng 62
Bảng 3.17 So sánh kết quả điều tra tài nguyên rừng ở hai mô hình RCĐ thôn Khánh Giang và Trường Lệ 63
Bảng 3.18 Biến động của loài động thực vật trước, trong và sau dự án kết thúc 65
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sự suy giảm diện tích rừng tự nhiên ở Việt Nam 15
Hình 1.2 Diện tích rừng toàn quốc giao cho các chủ quản lý, sử dụng 20
Hình 3.1: Vị trí khu vực nghiên cứu trong bản đồ hành chính huyện Nghĩa Hành 33
Hình 3.2 Sơ đồ quy trình xây dựng mô hình QLRCĐ 40
Hình 3.3 Nhà sinh hoạt cộng đồng thôn Trường Lệ, xã Hành Tín Đông 52
Hình 3.4 Nhà sinh hoạt cộng đồng thôn Khánh Giang, xã Hành Tín Đông 52
Hình 3.5 Sơ đồ quyền lực và mức độ ảnh hưởng của các bên liên quan đến hoạt động QLRCĐ khi còn dự án 53
Hình 3.6 Sơ đồ quyền lực và mức độ ảnh hưởng của các bên liên quan đến hoạt động QLRCĐ khi dự án kết thúc 55
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam là nước có diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích đất tự nhiên Trước thập niên 80 của thế kỷ 20, nhà nước thực hiện quản lý đất rừng tập trung, lấy vai trò nhà nước làm chủ đạo nên hầu hết diện tích đất lâm nghiệp được giao cho các nông lâm trường quốc doanh và các ban quản lý trực tiếp quản lý rừng
Cho đến cuối thập niên 80, cải cách kinh tế theo hướng phi tập trung đã khuyến khích được nhiều thành phần kinh tế tham gia vào phát triển kinh tế của đất nước, đưa Việt Nam từ một nước nhập khẩu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 6 trên thế giới vào năm 2017 (Trần Ngọc, 2017)
Ngành lâm nghiệp đã chuyển đổi từ lâm nghiệp khai thác gỗ sang phát triển tổng hợp và từ lâm nghiệp nhà nước tập trung sang lâm nghiệp xã hội với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Các hộ nông dân được xem là các đơn vị kinh tế tự chủ
Điều này đã làm cho việc quản lý tài nguyên rừng trở nên đa dạng hơn và hướng đến không chỉ đối với việc khai thác tài nguyên rừng mà còn là tái sinh phục hồi rừng Với
sự cải cách này, chính phủ đã giảm vai trò của mình và tăng cường trách nhiệm cũng như quản lý nhà nước cho chính quyền địa phương trong việc quản lý tài nguyên rừng (Hoàng Huy Tuấn, 2005)
Sự tham gia của các khu vực tư nhân trong quản lý rừng cũng là một chiến lược
để cải thiện thu nhập cho các hộ gia đình nghèo sống gần rừng Những thành tựu đạt được trong quá trình phát triển lâm nghiệp bao gồm việc nhận thức được nhiều quyền lợi hơn cho người dân địa phương trong việc sử dụng và quản lý rừng và đất lâm nghiệp, hỗ trợ tiếp cận tín dụng cho các hộ gia đình địa phương trong việc đầu tư trồng rừng và tăng độ che phủ rừng Tuy nhiên vẫn còn tồn tại những hạn chế và thách thức như bất bình đẳng về phân bố đất giữa các nhóm người nhận (McelWee, 2009) Quá trình chuyển giao rừng đã làm tăng độ che phủ rừng, tuy nhiên số lượng và chất lượng rừng tự nhiên tiếp tục giảm (Bojo, 2011) Ngoài ra, phản hồi về môi trường cũng là một thách thức, ví dụ như "các loài cây phát triển nhanh, như thông, keo và bạch đàn được biết đến là đặc biệt tiêu tốn nhiều nước" (Brụinzeel và cộng sự, 2005) Hơn nữa, rủi ro mất rừng luôn cao do giá lương thực, giá đầu vào sản xuất tăng cao và ảnh hưởng của thời tiết đến sản lượng cây trồng trong những năm gần đây Do vậy, rừng
và đất đai ngày càng được coi là nguồn thay thế không thể thiếu của người dân nông thôn nhằm cải thiện sinh kế và giảm rủi ro Điều này có tác động nghiêm trọng đến quản lý rừng bền vững của một quốc gia
Trang 11Với những nỗ lực cải cách chính sách lâm nghiệp và quản lý quản lý rừng trên đất lâm nghiệp cùng với một số chương trình phát triển nông thôn và miền núi, Chính phủ Việt Nam đã giảm nghèo ở cả nước nói chung và các vùng cao nói riêng Việc giao đất giao rừng trở thành chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc không chỉ là giải pháp để nâng độ che phủ của rừng lên mà còn
là cơ hội tăng thu nhập cho người dân sinh sống ở khu vực miền núi Việt Nam Tuy nhiên, quá trình giảm nghèo và bảo vệ môi trường dường như là những thách thức ở các vùng cao (WORLD BANK, 2012) Trong quá trình hội nhập và phát triển đó, Việt Nam không tránh khỏi những nguy cơ khủng hoảng về môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên Quản lý rừng bền vững đã được nhận thức như một chiến lược vì mục tiêu tồn tại lâu dài của con người và thiên nhiên
Do bởi giao rừng cho cộng đồng và quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ) trở thành một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước trong công tác quản lý rừng và đất lâm nghiệp Với mô hình này, người dân địa phương có trách nhiệm trực tiếp trong quản lý, bảo vệ rừng và nhận được lợi ích cụ thể từ những đóng góp đó Cần có sự hiểu biết sâu sắc về chuyển đổi rừng và thay đổi quyền sở hữu đối với lợi ích cho người dân địa phương từ quá trình này và đóng góp của việc chuyển giao rừng cho giảm nghèo nông thôn thông qua việc cấp phát nhiều quyền sử dụng rừng và đất lâm nghiệp cho người dân địa phương
Trong xu hướng nhận thức chung về vai trò của cộng đồng trong quản lý, bảo
vệ và phát triển rừng đã có nhiều thay đổi, tỉnh Quảng Ngãi đã thực hiện dự án thí điểm giao rừng cho cộng đồng quản lý với sự hỗ trợ của Dự án KfW6 (Khôi phục rừng
và quản lý rừng bền vững) với mô hình thí điểm “Quản lý rừng cộng đồng” tại thôn:
Khánh Giang và Trường Lệ, xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi theo hướng dẫn của Thông tư số 38/2007/TT-BNN&PTNT Việc xây dựng mô hình QLRCĐ được bắt đầu từ năm 2008 và kết thúc năm 2014
Cho đến thời điểm này mô hình này được xem là mô hình mang lại hiệu quả trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Nhằm hướng đến việc quản lý rừng bền vững của mô hình rừng cộng đồng (RCĐ) trong những năm tiếp theo khi dự án kết thúc, tôi nghiên cứu đề tài “Đánh giá tính bền vững của mô hình quản lý rừng cộng đồng của dự án KfW6 tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi”
2 MỤC ĐÍCH/MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Mục tiêu chung
Đề tài nhằm đánh giá tính bền vững mô hình QLRCĐ của dự án KfW6 huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, cụ thể tính ổn định về mặt kinh tế, xã hội và môi trường khi dự án kết thúc làm cơ sở đề xuất giải pháp duy trì, tiếp tục phát triển QLRCĐ tại tỉnh Quảng Ngãi
Trang 123.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá được năng lực tổ chức QLRCĐ thể hiện thông qua các quyền, các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý rừng, hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình QLRCĐ thôn Khánh Giang và Trường Lệ sau khi dự án kết thúc
- Đề xuất một số giải pháp duy trì hoạt động quản lý rừng nhằm sử dụng rừng bền vững tại tỉnh Quảng Ngãi; đồng thời từ mô hình QLRCĐ huyện Nghĩa Hành có thể nhân rộng ra cho các huyện trong địa bàn tỉnh
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ BỀN VỮNG LÂM NGHIỆP CỘNG ĐỒNG 1.1.1 Cơ sở lý luận của Phát triển bền vững
1.1.1.1 Khái niệm về Phát triển bền vững
Khái niệm Phát triển Bền vững (PTBN) bắt đầu xuất hiện từ đầu thập niên 80 của thế kỷ 20 Năm 1980, trong bản “Chiến lược bảo tồn thế giới” do Liên minh Quốc
tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN-International Union for Conservation of Nature and Natural Resources) đã đưa ra mục tiêu của PTBV là “đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật” và thuật ngữ PTBV ở đây được đề cập tới với một nội dung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật (Phạm Thị Thanh Bình, 2016)
Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED-World Commission on Environment and Development) của Liên hợp quốc (Báo cáo Brundland), "PTBV" được định nghĩa là
“Sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” (WCED, 1987) Quan niệm này chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống cho con người trong quá trình phát triển Do đó, PTBV phải bao gồm: một quá trình thay đổi trong đó việc khai thác tài nguyên, hướng đầu tư, định hướng phát triển công nghệ và thay đổi thể chế được thực hiện phù hợp với nhu cầu trong tương lai cũng như hiện tại (WCED, 1987)
PTBV được khẳng định một lần nữa ở Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc, tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) năm 1992
Hội nghị này đã đề ra Chương trình nghị sự toàn cầu cho thế kỷ XXI, theo đó, PTBV được xác định “nên trở thành một mục ưu tiên trong chương trình nghị sự của cộng đồng quốc tế” và được bổ sung, hoàn thiện tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về PTBV tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 và được khái quát như sau: "PTBV" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế - nhấn mạnh đến tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội – tập trung vào thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm; và bảo vệ môi trường- hướng đến xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên (Phạm Thị Thanh Bình, 2016)
Trang 14Có khá nhiều mô hình “PTBV”, trong đó sơ đồ kinh điển về PTBV thường được đề cập đến là mô hình dựa trên sự phát triển hài hòa 3 lĩnh vực: Kinh tế-Môi trường-Xã hội (Bài giảng Lâm nghiệp Xã hội, 2002)
Trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên, PTBV chính là sử dụng tài nguyên thiên nhiên, điều kiện môi trường hiện có để thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ con người đang sống, nhưng lại phải đảm bảo cho cả thế hệ tương lai những điều kiện tài nguyên
và môi trường cần thiết để họ có thể sống tốt hơn ngày hôm nay (Nguyễn Bá Ngãi, 2006)
1.1.1.2 Các nguyên tắc của PTBV
Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) trong tác phẩm “Hãy cứu lấy trái đất - chiến lược cho một cuộc sống bền vững”, 1992 đã nêu ra 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững: (1) Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng; (2)
Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người; (3) Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái đất; (4) Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm các nguồn tài nguyên không tái tạo; (5) Giữ vững trong khả năng chịu đựng được của Trái đất; (6) Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân; (7) Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình; (8) Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ; (9) Xây dựng khối liên minh toàn cầu (IUCN, UNEP, WWF, 1990)
Tuy nhiên, các nguyên tắc này thực sự khó áp dụng trong thực tế của một thế giới đầy các biến động về chính trị, kinh tế và văn hoá Thực tế đòi hỏi cần thiết lập một hệ thống nguyên tắc khác có tính khả thi và sát thực tế hơn Luc Hens (1998) đã lựa chọn trong số các nguyên tắc của của Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển để
xây dựng một hệ thống các nguyên tắc mới của PTBV Những nguyên tắc đó là: (1) Nguyên tắc về sự uỷ thác của nhân dân: Nguyên tắc này yêu cầu chính quyền phải
hành động để ngăn ngừa các thiệt hại môi trường ở bất cứ đâu khi xảy ra, bất kể đã có hoặc chưa có các điều luật quy định về cách giải quyết các thiệt hại đó Nguyên tắc này cho rằng, công chúng có quyền đòi chính quyền với tư cách là tổ chức đại diện
cho họ phải có hành động ứng xử kịp thời các sự cố môi trường; (2) Nguyên tắc phòng ngừa: Ở những nơi có thể xảy ra các sự cố môi trường nghiêm trọng và không đảo
ngược được, thì không thể lấy lý do là chưa có những hiểu biết chắc chắn mà trì hoãn
các biện pháp ngăn ngừa sự suy thoái môi trường; (3) Nguyên tắc công bằng giữa các thế hệ: Đây là nguyên tắc cốt lõi của PTBV, yêu cầu rõ ràng rằng, việc thoả mãn nhu
cầu của thế hệ hiện nay không được làm phương hại đến các thế hệ tương lai thoả mãn nhu cầu của họ Nguyên tắc này phụ thuộc vào việc áp dụng tổng hợp và có hiệu quả các nguyên tắc khác của PTBV Tài nguyên và các chức năng môi trường của trái đất
đang là các yếu tố quyết định sự tồn tại của loài người chúng ta; (4) Nguyên tắc công bằng trong cùng một thế hệ: Con người trong cùng thế hệ hiện nay có quyền được
Trang 15hưởng lợi một cách bình đẳng trong việc khai thác các nguồn tài nguyên và bình đẳng trong việc chung hưởng một môi trường trong sạch Nguyên tắc này được áp dụng để
xử lý mối quan hệ giữa các nhóm người trong cùng một quốc gia và giữa các quốc gia
Lịch sử phát triển của xã hội loài người trong quá khứ, hiện tại đang diễn ra trong bối cảnh sự phân chia và cạnh tranh giai cấp, dân tộc và quốc gia trong việc xác lập quyền lợi khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các chức năng môi trường Do vậy để đảm bảo công bằng trong cùng một thế hệ đòi hỏi: (i) Xác lập quyền quản lý khai thác
và sử dụng tài nguyên của các cộng đồng dân cư trong phạm vị một địa bàn lãnh thổ;
xác lập quyền quản lý quốc gia đối với mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên và xã hội trong lãnh thổ quốc gia; phân định quyền quản lý khai thác và sử dụng tài nguyên giữa các quốc gia trên phạm vi phần lãnh thổ ngoài quyền tài phán của các quốc gia (ii) Xác lập quyền và nghĩa vụ của các cộng đồng và các quốc gia trong việc khai thác và
sử dụng các chức năng môi trường của các vùng lãnh thổ và toàn bộ không gian trái đất (iii) Thu hẹp sự chênh lệch kinh tế giữa các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển và kém phát triển.Tăng viện trợ phát triển cho các nước nghèo đồng thời với việc giảm sự lãng phí trong tiêu thụ tài nguyên của dân cư ở các quốc
gia phát triển, giảm đói nghèo ở các nước đang phát triển; (5) Nguyên tắc phân quyền
và uỷ quyền: Các quyết định cần phải được soạn thảo bởi chính các cộng đồng bị tác
động hoặc bởi các tổ chức thay mặt họ và gần gũi nhất với họ Vì vậy, các quyết định quan trọng cần ở mức địa phương hơn là mức quốc gia, mức quốc gia hơn là mức quốc
tế Như vậy, cần có sự phân quyền và uỷ quyền về sở hữu tài nguyên, về nghĩa vụ đối với môi trường và về các giải pháp riêng của địa phương đối với các vấn đề môi
trường; (6) Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền; (7) Người sử dụng môi trường phải trả tiền
Có thể thấy với 7 nguyên tắc trên, Giáo sư Luc Hens tập trung vào các khía cạnh thể chế, chế tài để đảm bảo môi trường được bền vững chứ không tập trung nhiều vào khía cạnh kinh tế và xã hội
1.1.1.3 Các tiêu chí, chỉ số đo đếm PTBV
Làm thế nào để chúng ta có thể đánh giá được sự phát triển của một quốc gia là bền vững hay không bền vững? Mức độ bền vững của sự phát triển thường được đánh giá thông qua các tiêu chí và chỉ thị đo mức bền vững của 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội nhân văn và môi trường:
Trong đó, Bền vững về kinh tế có thể được đánh giá thông qua giá trị và mức
ổn định của các chỉ số tăng trưởng kinh tế truyền thống như: Tổng sản phẩm trong nước GDP, tổng sản phẩm quốc gia GNP, GDP hay GNP bình quân đầu người, mức
tăng trưởng GDP, cơ cấu GDP Căn cứ vào GDP/người mà các tổ chức quốc tế
thường phân các quốc gia trên thế giới thành các nhóm: thu nhập thấp; thu nhập trung
Trang 16bình thấp; thu nhập trung bình cao; và thu nhập cao (Giáo trình Sức khỏe Môi trường
II) Một quốc gia PTBV về kinh tế phải bảo đảm tăng trưởng GDP và GDP bình quân
đầu người cao Các nước thu nhập thấp có mức tăng trường GDP vào khoảng 5% Nếu
có mức tăng trưởng GDP cao nhưng GDP bình quân đầu người thấp thì vẫn xem là chưa đạt tới mức bền vững
Bền vững về xã hội của một quốc gia được đánh giá thông qua các tiêu chí và
chỉ thị như: chỉ thị phát triển con người (HDI- Human Development Index), chỉ thị bất
bình đẳng về thu nhập, tiêu chí về giáo dục, dịch vụ y tế và các hoạt động văn hóa
Bền vững về môi trường có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và
phát triển của từng cá thể con người cũng như toàn thể loài người Môi trường có ba chức năng chính: là không gian sống của con người, là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người, và cũng là nơi chứa đựng và xử lý phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất (Giáo trình Sức khỏe Môi trường II)
Trong khi đó, Bộ chỉ thị về PTBV được Ủy ban Phát triển Bền Vững LHQ đưa
ra gồm 58 chỉ tiêu cho 15 chủ đề: Công bằng Xã hội, Y tế, giáo dục, nhà ở, an ninh, dân số, Không khí, đất, đại dương/biển/bờ biển, nước sạch, đa dạng sinh học, cơ cấu kinh tế, mẫu hình sản xuất tiêu dùng, khuôn khổ thể chế, Năng lực thể chế (UN, 2007)
1.1.2 Cơ sở lý luận về quản lý rừng và QLRCĐ bền vững
1.1.2.1 Cơ sở lý luận về quản lý rừng bền vững
Nhận thức về vai trò của rừng đã có nhiều thay đổi kể từ nửa cuối thế kỷ XX trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ và trước áp lực lên tài nguyên ngày càng cao Con người ngày càng chờ đợi ở rừng nhiều hơn nữa các khả năng cung ứng không chỉ về gỗ, lâm sản ngoài gõ mà còn có các chức năng bảo vệ môi trường như: phòng hộ nguồn nước, chống thiên tai, bảo tồn đa dạng sinh học, giáo dục thẩm mỹ, môi trường (Đào Công Khanh, 2016)
Theo tổ chức Gỗ nhiệt đới Quốc tế (International Tropical Timber Organisation):
“Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý các khu rừng cố định nhằm đạt một hoặc nhiều hơn các mục tiêu quản lý đã được đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ của rừng mà không làm giảm đáng kể những giá trị
di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường và xã hội”
Trong khi đó theo Tiến trình Helsinki (1995): “Quản lý rừng bền vững là sự quản
lý và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong hiện tại và
Trang 17tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế - xã hội của chúng ở cấp địa phương, quốc gia
và toàn cầu không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái khác”
Có thể hiểu Quản lý rừng bền vững là cách quản lý đảm bảo được các lợi ích lâu dài, bền vững về kinh tế, xã hội, và môi trường cho con người cả ở thế hệ hiện tại
và các thế hệ của con cháu trong tương lai (Đào Công Khanh, 2016)
Tùy theo từng mục đích sử dụng mà các bộ tiêu chuẩn cho quản lý bảo vệ rừng thường khác nhau về nội dung cụ thể, nhưng nhìn chung nôi dung quản lý rừng bền
vững đều bao gồm những phần sau: a) Tuân thủ luật pháp: Quyền sử dụng đất hợp
pháp trên diện tích mà chủ rừng đang quản lý; Tuân thủ đầy đủ luật pháp hiện hành và các quy định dưới luật của Nhà nước về các lĩnh vực liên quan đến sản xuất kinh
doanh rừng b) Đảm bảo duy trì sản xuất tối ưu, hiệu quả kinh tế cao:Có kế hoạch
quản lý phù hợp, hiệu quả; Năng suất, chất lượng sản phẩm rừng bền vững; Rừng được bảo vệ tốt, an toàn; Kiểm tra, giám sát hiệu quả; quản lý và điều chỉnh kế hoạch
phù hợp; Đa dạng hóa sản phẩm rừng, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh rừng c)
Tôn trọng lợi ích của công nhân, người dân và cộng đồng địa phương: Đảm bảo lợi
ích hợp pháp của người lao động; Thực hiện lấy ý kiến đóng góp của các bên liên quan nhằm cải thiện chất lượng các hoạt động quản lý của đơn vị; Có đánh giá tác động kinh tế, xã hội và có biện pháp khắc phục những tác động tiêu cực trong quá trình quản
lý rừng và đất rừng; Tôn trọng tập tục, văn hóa và các quyền theo phong tục tập quán truyền thống của cộng đồng địa phương; Có đóng góp cho phúc lợi, an sinh xã hội
trong khu vực d) Bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học: Đánh giá tác động môi
trường được thực hiện và khắc phục những tác động xấu có thể có do các hoạt động quản lý rừng gây ra; Bảo vệ các loài cây, con quý hiếm; Bảo vệ các hệ sinh thái trong khu vực; Sử dụng phân bón, hóa chất an toàn với môi trường; Có quy chế xử lý chất
thải e) Những nội dung liên quan đến rừng trồng: Không chuyển rừng tự nhiên
thành rừng trồng; Chọn loài cây trồng phù hợp, an toàn sinh thái; Có quy chế bảo vệ đất chống xói mòn, thoái hóa; Có biện pháp phòng trừ sâu bệnh, cháy rừng; Dành một phần diện tích đang quản lý cho phục hồi rừng tự nhiên (Đào Công Khanh, 2016)
1.1.2.2 Khái niệm QLRCĐ
Như chúng ta đã biết, quản lý tài nguyên rừng và đất rừng dựa vào cộng đồng là một phương thức quản lý rừng dựa vào kiến thức kinh nghiệm truyền thống và nguyện vọng của cộng đồng, hướng đến việc nâng cao năng lực và tăng cường sự hợp tác chia
sẻ kinh nghiệm cho cộng đồng và bên liên quan nhằm quản lý các nguồn tài nguyên bền vững, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, văn hoá của các cộng đồng dân tộc sống trong và gần rừng
Theo đánh giá của tổ chức lương thực thế giới thì khái niệm về QLRCĐ đã phát triển nhanh hơn tất cả các lĩnh vực quan tâm khác trong quản lý và phát triển tài
Trang 18nguyên rừng (Arnold, 1992) Thực tế đã chỉ ra rằng trải qua nhiều thế hệ, những cộng đồng sống trong rừng, phụ thuộc vào các sản phẩm từ rừng đã đúc kết cho mình những kiến thức bản địa, những luật tục truyền thống trong quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên rừng xung quanh họ
Theo Arnold 1992, định nghĩa tổng quát về lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ), hiểu một cách chính xác và thiết thực nhất thì LNCĐ là một thuật ngữ bao trùm hàng loạt các hoạt động gắn kết người dân nông thôn với cây và rừng cũng như các sản phẩm và lợi ích thu được từ cây rừng
Thuật ngữ cộng đồng tham gia quản lý rừng hay còn gọi là lâm nghiệp cộng đồng được Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) lần đầu tiên định nghĩa vào năm 1991 là: “hàng loạt các hoạt động gắn người dân với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích các sản phẩm này ” Những định nghĩa rộng hơn dùng thuật ngữ này để chỉ những hoạt động có liên quan đến mối quan
hệ giữa con người với cây cối Các định nghĩa hẹp hơn tập trung vào việc quản lý rừng bởi cộng đồng địa phương có lợi ích của mình Theo FAO 1978, Lâm nghiệp cộng đồng (Community Forestry), lâm nghiệp xã hội (Social Forestry) là những thuật ngữ được dùng để chỉ việc quản lý rừng có liên quan chặt chẽ với người dân địa phương
Thuật ngữ QLRCĐ ở Việt Nam được hiểu là sự tham gia của cộng đồng địa phương trong việc quản lý (tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định) những diện tích rừng do cộng đồng trực tiếp quản lý sử dụng chung (được Nhà nước giao hoặc thuộc quyền quản lý truyền thống) hay những diện tích rừng của các tổ chức Nhà nước khác thông qua các hợp đồng khoán
QLRCĐ ngày nay xuất phát từ hoạt động quản lý rừng được thực hiện trực tiếp bởi cộng đồng đã xuất hiện từ rất lâu trong đời sống các cộng đồng dân tộc khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam Truyền thống quản lý rừng của họ được thể hiện ở những tục
lệ giữ rừng, trồng cây, xây dựng hương ước, luật tục bảo vệ rừng, bảo vệ cây cối của nhiều làng xã
Theo quan niệm của đồng bào dân tộc thiểu số, RCĐ là những khu rừng thuộc
sở hữu chung của toàn cộng đồng làng bản; được giới hạn trong một không gian có ranh giới xác định và được thừa nhận bởi những làng xung quanh Theo cách hiểu của đồng bào, RCĐ có hai đặc điểm: (i) là rừng thuộc sở hữu toàn cộng đồng và trong lịch
sử hình thành, phát triển của các làng bản là không có rừng thuộc sở hữu cá nhân Điều này là tuyệt đối ở khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên (ii) RCĐ bao gồm các loại rừng: rừng cấm, rừng thiêng, rừng ma (rừng tâm linh); rừng canh tác, rừng đầu nguồn…
Thuật ngữ RCĐ theo quy định của Nhà nước ta là rừng mà Nhà nước giao cho cộng đồng dân cư thôn để sử dụng rừng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
Trang 19Theo quy định của Nhà nước, RCĐ có hai đặc điểm là: (1) là rừng mà nhà nước giao cho một cộng đồng địa phương quản lý; (2) Rừng giao cho cộng đồng chủ yếu là rừng sản xuất và rừng phòng hộ (Cổng thông tin điện tử Hội đồng dân tộc- Quốc hội)
Ngoài ra, tại điều 3 của Bản hướng dẫn QLRCĐ dân cư thôn ban hành kèm theo Quyết định số 106/2006/QĐ-BNN, ngày 27/11/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho các cộng đồng tham gia Dự án "Chương trình thí điểm LNCĐ"
trên 10 tỉnh đã đưa ra khái niệm RCĐ là rừng Nhà nước giao cho cộng đồng dân cư thôn để sử dụng rừng ổn định, lâu dài vào mục đích Lâm nghiệp
Cho đến nay chưa có có một thống nhất nào cho các thuật ngữ này ở Việt Nam mặc dù đã có những cuộc hội thảo quốc gia về RCĐ Tuy nhiên qua quá trình thực hiện các chương trình dự án liên quan đến QLRCĐ, có thể thấy ở Việt Nam có hai hình thức QLRCĐ phù hợp với định nghĩa của FAO như sau:
- Thứ nhất là QLRCĐ : Đây là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng Rừng của cộng đồng là rừng của thôn đã được quản lý theo truyền thống trước đây (quản lý theo các luật tục truyền thống), rừng trồng của các hợp tác xã, rừng tự nhiên đã được giao cho các hợp tác xã trước đây mà sau khi chuyển đổi hoặc giải thể, hợp tác xã đã giao lại cho các xã hoặc các thôn quản lý Những diện tích rừng này có thể Nhà nước chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã công nhận quyền sử dụng đất của cộng đồng, song trên thực tế, mặc nhiên cộng đồng đang tự tổ chức quản lý sử dụng và hưởng lợi
từ những khu rừng đó
Như vậy, thực chất “quản lý rừng cộng đồng” là cộng đồng dân cư thôn quản lý rừng thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng, được hình thành chủ yếu thông qua chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn
Tóm lại hình thức quản lý này bao gồm các đối tượng chính sau: Cộng đồng trực tiếp quản lý những diện tích rừng hoặc những đám cây gỗ của họ từ lâu đời; Cộng đồng trực tiếp quản lý những khu rừng được Nhà nước giao; và các hoạt động mang tính chất lâm nghiệp khác do cộng đồng tổ chức phục vụ lợi ích trực tiếp cho cộng đồng Cũng cần nói thêm rằng theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, có quy định nếu cộng đồng được giao rừng tự nhiên thì cộng đồng chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu khu rừng đó và được thực hiện thông qua chính sách hưởng lợi
từ rừng, đương nhiên nếu cộng đồng quản lý rừng trồng được hình thành bằng nguồn vốn tự có của mình thì cộng đồng có quyền sở hữu khu rừng đó
- Thứ hai là quản lý rừng dựa vào cộng đồng
Trang 20Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng sở hữu của các thành phần kinh tế khác nhưng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đến việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi ích khác của cộng đồng (thuỷ lợi nhỏ, nước sinh hoạt…)
Hình thức này có thể chia thành hai đối tượng: (1) Rừng của hộ gia đình, cá nhân là thành viên trong cộng đồng Cộng đồng tham gia quản lý với tính chất hợp tác,
hỗ trợ lẫn nhau, chia sẻ lợi ích cùng nhau trên cơ sở tự nguyện (tạo thêm sức mạnh để bảo vệ rừng, hỗ trợ hoặc đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp…); (2) Rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của các tổ chức nhà nước (các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các lâm trường, công ty lâm nghiệp nhà nước, các trạm trại…) và các tổ chức tư nhân khác Cộng đồng tham gia các hoạt động lâm nghiệp như bảo vệ, khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh, phục hồi rừng, trồng rừng với tư cách là người làm thuê thông qua các hợp đồng khoán và hưởng lợi theo các cam kết trong hợp đồng
Như vậy, QLRCĐ là việc đưa cộng đồng vào quản lý, bảo vệ, sử dụng rừng vào đất lâm nghiệp QLRCĐ một cách trực tiếp để đạt được mục tiêu bảo vệ nguồn tài nguyên rừng hiện có và cho phép người dân địa phương địa phương có quyền quản lý
sử dụng lâu dài các nguồn tài nguyên rừng, lợi ích thu được thuộc về người dân và sử dụng cho phát triển của cộng đồng
Một loạt các nghiên cứu điểm về thực trạng QLRCĐ cũng đã được tiến hành trên các vùng sinh thái nhân văn ở các tỉnh miền núi phái bắc và Tây Nguyên (An Văn Bảy, Bảo Huy, Nguyễn Huy Dũng, Vũ Long, Bùi Đình Toái, Trần Văn Con (2000), qua phân tích, đánh giá kết quả của các nghiên cứu này đã rút ra một kết luận quan trọng là: trong số các hệ thống quản lý rừng khác thì hình thức QLRCĐ là một phương án thích hợp cho quản lý rừng bền vững ở Việt Nam
Trong các nghiên cứu về hiện trạng QLRCĐ ở Việt Nam, công cụ định vị dùng
để đánh giá mức độ tham gia của cộng đồng trong các hệ thống quản lý rừng hiện tại
Công cụ định vị này được nhóm công tác QLRCĐ quốc gia xây dựng, bao gồm 5 mảng biểu thị 5 yếu tố của QLRCĐ là: i) quyền sử dụng đất, ii) lợi ích từ quản lý rừng, iii) thực trạng tài nguyên rừng, iv) tác động của chính phủ đối với quản lý rừng có sự tham gia của người dân, và v) tổ chức cộng đồng trong quản lý rừng có sự tham gia
Mặc dù chưa có nhiều cơ sở lý thuyết về QLRCĐ bền vững, nhưng các dự án
hỗ trợ QLRCĐ ở Việt Nam đã tạo ra các bộ tiêu chí làm kim chỉ nam cho việc các khởi xướng về QLRCĐ với mục đích hướng đến cộng đồng có thể tự quản lý rừng sau khi dự án kết thúc, hay phát huy tối đa sự tham gia của cộng đồng trong tiến trình ra quyết định Vì thế, các phương pháp điều tra rừng, lập kế hoạch kinh doanh rừng, giải pháp kỹ thuật phải đơn giản, thích ứng và có sự tham gia của người dân đáp ứng các
Trang 21tiêu chí (i) đơn giản, thực tế; (ii) Đầu vào thấp; (iii) Dễ theo dõi, giám sát; và (iv) Rủi
ro thấp về mặt sử dụng tài nguyên quá mức (Bảo Huy, 2005) Tóm lại: QLRCĐ cần được nhìn nhận là một cách quản lý để đạt được mục tiêu quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng bền vững hiện còn và cho phép người dân địa phương có quyền quản lý, sử dụng lâu dài các nguồn tài nguyên rừng, lợi ích thu được thuộc về người dân địa phương và được sử dụng cho sự phát triển nông thôn Hình thức này được hình thành trên cơ sở kiến thức bản địa của người dân địa phương
1.1.2.3 Các loại hình QLRCĐ
Hình thức QLRCĐ rất đa dạng với quy mô khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện
cụ thể của từng cộng đồng, địa phương Tuy nhiên có thể khái quát thành các hình thức dưới đây: (1) Hình thức tổ chức quản lý rừng theo dòng tộc (dòng họ), theo dân tộc; (2) Hình thức tổ chức quản lý rừng theo thôn, làng, buôn, bản, ấp (gọi chung là thôn); và (3) Hình thức tổ chức quản lý rừng theo nhóm hộ/nhóm sở thích
Từ kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, quy mô thôn là phù hợp cho QLRCĐ vì: (i) Thích hợp đối với vùng sâu, vùng xa; (ii) Phù hợp với tập quán của nhiều nhóm dân tộc; (iii) Phù hợp với điều kiện sản xuất hiện nay của dân khi nền kinh tế đang phát triển; (iv) Phù hợp đối với quản lý tất cả các loại rừng, kể cả rừng phòng hộ và đặc dụng; và (v) Phù hợp với trình độ quản lý của người dân cấp thôn
1.1.2.4 Đóng góp của QLRCĐ cho phát triển nông thôn
(1) Đóng góp vào sinh kế của cộng động địa phương Theo Bảo Huy (2009) trong "Xây dựng cơ chế hưởng lợi trong QLRCĐ " thì kết quả trong 6 năm thử nghiệm đã giao được 7.620 ha rừng tự nhiên, từ nghèo đến trung bình giao cho 6 cộng đồng thôn, buôn của 4 tỉnh Ở tất cả 6 thôn buôn này, cộng đồng đều quyết định nhận rừng theo phương thức cộng đồng thôn, buôn Và từ quá trình 6 năm nghiên cứu, thử nghiệm QLRCĐ ở Tây Nguyên cho thấy đây là phương thức quản lý rừng thích hợp với cộng đồng dân tộc thiểu số sống gần rừng Cộng đồng hưởng lợi từ gỗ thương mại, rừng sau khai thác ổn định đồng thời đã tạo được thu nhập cho người dân nghèo nhận rừng Tổng thu nhập từ khai thác gỗ thương mại tại 6 thôn, buôn ở trên là 6.820 triệu đồng, từ chi phí khai thác, thuế tài nguyên và trích cho UBND xã, tổng hưởng lợi của cộng đồng là 3.250 triệu đồng
(2) Đóng góp vào phúc lợi xã hội và phát triển nông thôn:
Hội nghị thế giới về phát triển nông thôn của FAO vào năm 1979 đã nhấn mạnh rằng: không thể phát triển nền kinh tế quốc gia nếu không phát triển nông thôn Điều quan trọng trong phát triển nông thôn là phải đảm bảo cho nông dân mức sống tối thiểu, nhưng phải nhân rộng hơn, lâu dài hơn bằng cách tìm kiếm công ăn việc làm,
Trang 22tăng thu nhập, hoặc dịch vụ và phát triển kinh tế các vùng nông thôn QLRCĐ có thể đóng góp vào việc này nếu sử dụng hợp lý chu đáo tài nguyên rừng và sẽ mang lại nhiều lợi ích cho người dân địa phương
(3) Đóng góp vào bảo vệ môi trường:
Lâm nghiệp cộng đồng góp phần bảo vệ môi trường sinh thái thông qua sử dụng, bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên của các cộng đồng cho phù hợp với các vùng sinh thái khác nhau nhằm làm sao cho hệ sinh thái tự nhiên được duy trì bền vững, và chất lượng cuộc sống tổng thể của các cộng đồng được nâng cao trong hiện tại và tương lai Lâm nghiệp cộng đồng góp phần vào phát triển bền vững về mặt sinh thái có nghĩa là thích ứng giữa sự tăng trưởng kinh tế của cộng đồng với điều kiện
tự nhiên, vì nền kinh tế cộng đồng bền vững chỉ có thể thực hiện được trên nền tảng hệ sinh thái ổn định Như vậy để phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng và đất rừng, thì việc xác định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ các bên có liên quan rất quan trọng, trong
đó thay đổi nhận thức của các cộng đồng sống gần rừng trong bảo vệ nguồn tài nguyên
là vô cùng quan trọng (Dương Viết Tình, Trần Hữu Nghị, 2012)
Một trong những nội dung trọng tâm của Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 - 2020 là nâng độ che phủ rừng lên 42%, tạo việc làm
và tăng thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân làm nghề rừng Thực tế đã cho thấy, ở những nơi nào rừng được quản lý và bảo vệ tốt với
sự tham gia mạnh mẽ của cộng đồng, nơi đó rừng sẽ mang lại những lợi ích thiết thực
cả về kinh tế và môi trường, và cải thiện đời sống cho người dân
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.2.1 Sự thay đổi diện tích rừng ở Việt Nam
Rừng ở Việt Nam đã có sự thay đổi không ngừng trong lịch sử phát triển Từ độ che phủ rừng là 43% vào năm 1943, rừng đã trải qua quá trình thay đổi do bởi chiến tranh, do áp lực lấy đất cho sản xuất nông nghiệp cho đến khai thác tài nguyên gỗ và lâm sản ngoài gỗ (LSNG) phục vụ cho công cuộc tái thiết đất nước và nhu cầu kinh tế của các cộng đồng địa phương, đã làm cho diện tích rừng tại Việt Nam suy giảm tới 27,8% năm cuối thập niên 80 của thế kỷ 20 Sau đó nhờ các nỗ lực trồng rừng và phát triển rừng mà độ che phủ đã tăng lên 40,3% vào năm 2017 (Cục Lâm nghiệp, 2017)
Khác với các nước trong khối đang phát triển, Việt Nam là một trong số ít nước
có độ che phủ chung của rừng tăng lên, nhất là trong khoảng hơn 25 năm qua (kể từ năm 1990 đến năm 2015) (Bảng 1.1):
Trang 23Bảng 1.1 Sự thay đổi diện tích rừng của Việt Nam và một số nước trên thế giới, giai đoạn 1990-2015
%
1000 ha/năm
%
1000 ha/năm
%
1000 ha/năm
Trang 24Kết quả ở Bảng 1.1 cho thấy, diện tích có rừng ở Việt Nam tăng lên trong 25 năm qua là do sự tăng lên nhanh của diện tích rừng trồng và rừng tự nhiên mới phục hồi Trong khi đó, diện tích rừng tự nhiên bị suy giảm khá rõ cả về số lượng và chất lượng (Hình 1.1)
Hình 1.1 Sự suy giảm diện tích rừng tự nhiên ở Việt Nam
(Nguồn:http://www.kiemlam.org.vn/)
1.2.2 Cơ sở thực tiễn và bài học kinh nghiệm về QLRCĐ của một số nước trên thế giới và trong khu vực
Khi nói tới phát triển Lâm nghiệp hiện nay, người ta bàn nhiều tới Lâm nghiệp
xã hội hay Lâm nghiệp cộng đồng Về phương diện khoa học, QLRCĐ chỉ mới được nhận diện vào những năm đầu của thập kỷ 70, khi mà hạn hán ở châu Phi và lũ lụt ở châu Á đã làm cho tài nguyên rừng bị suy giảm một cách nghiêm trọng Nhiên liệu và chất đốt cho các cộng đồng nông thôn trở nên ngày càng khó khăn Chính tại thời điểm này các kinh nghiệm về QLRCĐ ở Ấn Độ (mô hình lâm nghiệp xã hội), Hàn Quốc (mô hình vườn cây cấp thôn bản), Thái Lan (mô hình rừng cấp thôn bản) và ở Tanzania (trồng rừng cấp thôn bản) đã được các nhà khoa học trên thế giới đặc biệt chú ý và chúng được coi như là một giải pháp nhằm phát triển rừng và giải quyết vấn
đề chất đốt ở nông thôn (Văn phòng thực địa Si Ma Cai, 2006) Nhiều ví dụ về hệ thống quản lý tài nguyên rừng bản địa hoặc được đề xướng tại địa phương có thể tìm thấy ở Châu Á, những dạng hình QLRCĐ được tổng hợp gồm: Quản lý rừng theo phương thức nương rẫy-bỏ hóa được tìm thấy nhiều ở Đông Nam Á; Quản lý rừng tại môi trường miền núi ở Nam Á như các hình thức quản lý rừng cổ truyền ở Nêpan, các khu rừng cấm ở gần Mount Merapi của Inđônêxia hay ở
Trang 25dãy núi Himachal Pradesh tại Ấn Độ ; Quản lý rừng trong môi trường bán khô hạn ở Nam Á, người ta có thể thấy nhiều kiểu quản lý tài nguyên cộng đồng về rừng và cây như kiểu quản lý đất Gauchar ở Gujurat của Ấn Độ; Quản lý rừng gắn với nguồn nước thôn bản như rừng ở vùng Ifugao ở Philippin với việc cung cấp nước cho canh tác, phương thức trồng rừng bên các bờ ao để hạn chế xói mòn tại nhiều vùng thấp ở Terai
ở Nêpan; và cuối cùng là quản lý các lùm cây thiêng và các hệ tương tự, nhiều xã hội ở
Ấn Độ, Philippin và Thái Lan, nhân dân địa phương theo cổ truyền vẫn bảo vệ những đảm rừng nhỏ gọi là những "lùm cây thiêng" để có chổ ở cho các vị thành linh và linh hồn của địa phương, hoặc các khu rừng cấm dưới sự giám sát của các tu viện, lăng tẩm, nghĩa địa như được coi như tài sản chung của thôn bản
Hiểu rõ hơn chúng ta đi vào tìm hiểu tình hình QLRCĐ một số quốc gia đại diện như sau:
* Ấn Độ:
Trong những năm 1920, các nhà chức trách thuộc địa tại Ấn Độ đã thử đưa ra các hệ thống quản lý rừng địa phương mới Tại bang Uttar Pradesh, người ta đã thành lập các "hội đồng rừng" địa phương đặc biệt (Van Panchayat) nhằm mục đích tạo ra một lớp đệm giữa rừng của nhà nước và dân làng địa phương Hội đồng này có quyền đưa ra những nguyên tắc giải quyết các vấn đề sử dụng rừng chung của địa phương dựa trên những luật lệ được chính phủ ban hành
Sau đó với sự hỗ trợ của nhũng nhà tài trợ trong và ngoài nước, nhiều chính phủ
ở các bang của Ấn Độ đã bắt đầu xúc tiến các kế hoạch xây dựng lâm nghiệp xã hội thông qua những kế hoạch quản lý tài nguyên RCĐ Và Ấn Độ trở thành một trong những nước đầu tiên thử nghiệm "Lâm nghiệp xã hội" trong những năm 1970, tuy nhiên mục tiêu là không để cho cộng đồng kiểm soát quá lớn nguồn tài nguyên rừng
Thay vào đó, Lâm nghiệp xã hội tập trung vào việc thiết lập rừng cho cộng đồng sử dụng trên đất chưa có rừng để giải phóng những khu rừng hiện có cho khai thác thương mại Tuy nhiên với việc thử nghiệm lâm nghiệp xã hội khá sớm đã dẫn đến các cuộc xung đột ngày càng tăng giữa các cơ quan lâm nghiệp và cộng đồng địa phương, khiến chính phủ phải đưa ra một chính sách mới nhấn mạnh việc quản lý rừng cho bảo tồn và nhu cầu của cộng đồng Điều này dẫn đến sự ra đời của chương trình quản lý rừng có sự tham gia (JFM), đây là chương trình nổi tiếng nhất trên toàn cầu được biết đến với hệ thống quản lý rừng dựa trên sự chia sẽ trách nhiệm và lợi ích nhà nước và cộng đồng địa phương
Việc sửa đổi Hiến pháp 73 và đạo luật 1992 cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nó phân cấp những quyền hạn khác nhau liên quan đến việc thực thi những kế hoạch phát triển kinh tế và công bằng xã hội cho các tổ chức, hoặc những hội đồng làng, những tổ chức mà có chức năng ở huyện, khối hay ở thôn Ở đây có hình thức
Trang 26quản lý rừng theo nhóm người sử dụng gọi là CFUG Ghorlas, CFUG đại diện cho một loạt các nhóm xã hội mà chủ yếu là những người có cuộc sống gắn bó với sản xuất nông nghiệp Các chính sách lâm nghiệp (1998) cũng đã hỗ trợ nhiều cho sự tham gia của cộng đồng vào lâm nghiệp tại Ấn Độ
Ở bang Andhra Pradesh hơn 250 tổ chức phi chính phủ đã chính thức tham gia vào việc thực hiện doanh nghiệp quản lý rừng và đã cải thiện được sự giao tiếp giữa chính phủ và người dân địa phương Chương trình lâm nghiệp cộng đồng ở Andhra Pradesh xuất hiện khá thuận lợi với sự giám sát được thực hiện bởi một số ủy ban bao gồm kiểm lâm, các tổ chức phi chính phủ, người đứng đầu các Panchayat và hiệu trưởng các trường làng
* Nêpan:
Cũng như Ấn Độ, Nêpan cũng có những sai sót trong việc thiết kế các Chương trình Lâm nghiệp cộng đồng, tuy nhiên đất nước này cũng đã rút ra được những bài học từ những sai sót đó và đã thực hiện những cải cách lớn để cải thiện hiệu quả của Lâm nghiệp cộng đồng Và xem LNCĐ như một công cụ trong việc bảo tồn nguồn tài nguyên rừng và phát triển nông thôn Vào những năm 1970, Nêpan đã bắt đầu xem xét các chính sách về LNCĐ Một cộng đồng chính thức được thành lập và các vùng đất bị
suy thoái đã dược giao cho Panchayats (Panchayats là đơn vị cơ bản của chính quyền
ở Nêpan, nó có 3 cấp huyện, khối và thôn) Tuy nhiên thực tế là Panchayats không
phải là một phân cấp đầy đủ quyền để đại diện cho lợi ích cho cộng đồng của địa phương, cộng đồng vẫn là nhóm bất lợi bị tách riêng ra Do đó các chương trình LNCĐ được chuyển đến đơn vị hoạt động thấp hơn - các nhóm sử dụng RCĐ và trao cho các nhóm này những quyền lực lớn hơn để thiết kế, quản lý và hưởng lợi từ RCĐ
Các nhóm này có quy mô quản lý từ 10 đến h\àng trăm hecta rừng và đất rừng không phụ thuộc vào quản lý hành chính Qua nhiều thử nghiệm nhóm sử dụng rừng (FUG) được xem là có hiệu quả nhất Sau 25 năm thực hiện QLRCĐ đã có 1,2 triệu hecta rừng, chiếm 25% diện tích quốc gia đã được giao cho nhóm hộ quản lý (Kanel, 2004)
Trang 27rừng CBFM nhằm thúc đẩy trao quyền cho cộng đồng, quản lý rừng bền vững, lành mạnh và cân bằng sinh thái, công nhận quyền của người dân bản địa đối với những khu vực tổ tiên của họ Quyền sử dụng được thể hiện trong thỏa thuận quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFMA), mà phục vụ như sự bảo lãnh cho cộng đồng để tiếp cận
và quản lý rừng trong 25 năm và gia hạn thêm 25 năm nữa (Pulhin, 2003)
bộ Lâm nghiệp và người dân địa phương, họ đổ lỗi nạn phá rừng là do người dân địa phương thay vì làm việc với cộng đồng để tìm ra các giải pháp khắc phục Cục Lâm nghiệp Hoàng gia đề xuất dự thảo đầu tiên về dự luật Lâm nghiệp cộng đồng, trong đó phần lớn là một bộ quy tắc và quy định để cho phép người dân địa phương tham gia trong đề án tái trồng rừng của chính phủ (Makarabhirom, 2000)
Cộng đồng rừng ngập mặn Pred Nai được xem như một trường hợp nghiên cứu
để minh họa cho khả năng tham gia của cộng đồng trong Lâm nghiệp, các làng Pred Nai đã thành công trong việc ngăn chặn đốn gỗ và tiến hành tham gia các hoạt động như trồng cây Những tác động ngay lập tức bao gồm việc cải thiện sinh kế và điều kiện của các hệ sinh thái rừng ngập mặn, ngoài ra còn là xúc tác cho phong trào quản
lý dựa vào cộng đồng ở Thái Lan
* Trung Quốc:
Ở Trung Quốc rừng tiếp tục được quản lý theo tập thể, Trung Quốc là nơi tập thể làm chủ hơn một nữa đất Lâm nghiệp của quốc gia Theo thống kê chính thức của phòng thống kê, kể từ cuối những năm 1950, quyền sở hữu đất lâm nghiệp đã được giới hạn cho nhà nước hoặc cho các cơ quan tập thể, tổng diện tích rừng thuộc sở hữu của nhà nước chiếm 41,6% tổng số, còn lại là thuộc sở hữu của các cơ quan tập thể, cụ thể là các đơn vị hành chính cơ bản, các thị trấn và làng mạc Chiến lược quản lý rừng đầu tiên trên toàn quốc, là một chiến lược được triển khai từ năm 1950 và đến nay vẫn tiếp tục, là chiến lược có quy mô lớn đã vận động được người dân địa phương vào quản lý và bảo vệ rừng Đó là những khu rừng được người dân địa phương trồng dọc theo các dòng suối, con sông, đập để bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn, những khu rừng trồng để bảo tồn nguồn nước sinh hoạt và cả những khu rừng trồng chắn gió và cát Tỉnh Sơn Tây là một ví dụ, vào giữa nhưng năm 1950, ngoài những khu rừng của
Trang 28làng, các hộ gia đình, rừng còn được quản lý theo tập thể như "rừng thanh niên", "rừng của phụ nữ", "rừng của những người lính", "rừng của trường", "rừng nhà máy"
* Inđônêxia:
Vào năm 1992, tại Ngawi, java của Inđônêxia, người ta đã xây dựng một rừng làng 5 hecta theo sáng kiến của Sở Lâm nghiệp trên đất rừng không thích hợp cho trồng trọt Dân làng được phép thu hoạch gỗ để sử dụng tại địa phương và buôn bán
Việc chăn thả gia súc trong rừng bị nghiêm cấm Chính phủ phải quản lý những khu rừng mà việc bảo vệ là rất cần thiết và các cộng đồng địa phương không thể quản lý được đầy đủ Theo đó các khu rừng cấm để giữ nước, rừng sản xuất để xuất khẩu và cung cấp gỗ cho vùng do Sở Lâm nghiệp quản lý, những khu rừng còn lại giao cho địa phương
Như vậy, có thể thấy QLRCĐ đã tồn tại từ lâu đời ở các nước trên thế giới thông qua những hình thức khác nhau như ủy ban bảo vệ rừng ở Ấn Độ, nhóm người
sử dụng rừng ở Nêpan, các tổ chức nhân dân quản lý rừng ở Philippin hay quản lý rừng tập thể ở Trung Quốc Nhưng tất cả các hình thức đều gắn với sự tham gia của người dân địa phương vào việc quản lý bảo vệ rừng và đã thu được những hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng cũng như trong việc cải thiện đời sống kinh tế của người dân địa phương
Và tiếp theo sau các quốc gia Châu Á này, các quốc gia ở Châu Mỹ La Tinh như Brazil, Mexico đã bước đầu xây dựng thành công mô hình hợp tác quản lý rừng (Joint Forest Management) giữa cơ quan quản lý rừng nhà nước và các nhóm hưởng lợi cộng đồng (ODI, s.d) thể hiện mô hình phân quyền trong quản lý tài nguyên rừng
từ Trung ương xuống địa phương (Quang Nguyễn, 2005)
1.2.3 Cơ sở thực tiễn và bài học kinh nghiệm về QLRCĐ ở Việt Nam
1.2.3.1 Quá trình phát triển QLRCĐ ở Việt Nam và kết quả đạt được:
QLRCĐ (QLRCĐ) đã được xác định trong bối cảnh Việt Nam là các hình thức quản lý trong đó người dân địa phương cùng nhau quản lý nguồn tài nguyên tự nhiên trong ranh giới cồng đồng của họ mà tại đó họ đã quản lý theo phong tục lâu dài và hoặc có quyền pháp lý (Wode và Bảo Huy, 2009)
Quá trình chuyển hướng mang tính chiến lược của ngành lâm nghiệp từ lâm nghiệp thuần tuý nhà nước sang lâm nghiệp nhân dân – lâm nghiệp cộng đồng (xã hội hoá ngành lâm nghiệp) được thực hiện từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, đã tạo ra nhiều nhân tố tích cực mới, đa dạng hoá các hình thức quản lý và phương thức tiếp cận mới đối với quản lý tài nguyên rừng Qua đó, ngoài lâm nghiệp quốc doanh còn phát huy được vai trò của các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là cộng đồng và hộ gia đình
Trang 29tham gia quản lý bảo vệ và phát triển vốn rừng (Nguyễn Hồng Quân và Phạm Xuân Phương, 2006)
Trên cơ sở số liệu diễn biến rừng từ năm 2012 đến 2016 của Cục Kiểm lâm thì trong những năm qua diện tích rừng do các chủ quản lý đang có sự thay đổi, cụ thể rừng được giao cho các ban quản lý, cộng đồng dân cư thôn, các tổ chức kinh tế khác tăng lên; trong khi đối tượng quản lý là các doanh nghiệp nhà nước, đơn vị vũ trang và
tổ chức khác lại giảm đi
Hình 1.2 Diện tích rừng toàn quốc giao cho các chủ quản lý, sử dụng
(Nguồn: Số liệu diễn biến tài nguyên rừng từ năm 2012-2016, Cục Kiểm lâm)
Có thể thấy diện tích rừng giao cho cộng đồng quản lý đã có sự tăng lên, tuy nhiên nếu so sánh với các hình thức quản lý rừng và đất rừng khác thì diện tích rừng giao cho cộng đồng vẫn còn rất khiêm tốn
1.2.3.2 Các chính sách và thể chế về QLRCĐ của Việt Nam
Cộng đồng quản lý rừng là một thực tiễn với nhiều hình thái và cách thức hoạt động khác nhau, nó đòi hỏi phải có khung pháp lý và hệ thống chính sách phù hợp
Khuôn khổ luật pháp và chính sách của Chính phủ dần được hình thành và tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển LNCĐ Sự cải tiến của chính sách lâm nghiệp trong quá trình phát triển về quản lý nguồn tài nguyên rừng có tác động đến hoạt động LNCĐ, cụ thể:
Trước năm 1954: Thừa nhận sự tồn tại của RCĐ Lâm nghiệp thuộc địa, phong kiến thừa nhận RCĐ truyền thống QLRCĐ dựa trên các hương ước và luật tục truyền thống
Trang 301954-1975: Không quan tâm đến RCĐ nhưng tôn trọng cộng đồng đang quản lý những khu rừng theo truyền thống Tập trung thực hiện chính sách cải cách ruộng đất
và hợp tác hóa, tập trung phát triển lâm nghiệp quốc doanh (Lâm trường quốc doanh)
và lâm nghiệp tập thể (Hợp tác xã nông – lâm nghiệp) Mặc dù không quan tâm lâm nghiệp hộ gia đình và LNCĐ, nhưng về cơ bản, Nhà nước vẫn tôn trọng cộng đồng vùng cao quản lý rừng theo phong tục truyền thống, lâm nghiệp hộ gia đình được xác định là kinh tế phụ
1976-1985: Quản lý tập trung và kế hoạch hóa cao độ Lâm nghiệp quốc doanh và tập thể, trong khi đó rừng do cộng đồng quản lý bị thu hẹp Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Chính phủ chỉ chú ý phát triển 2 thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể (hợp tác xã) Lâm nghiệp quốc doanh và lâm nghiệp tập thể phát triển ở quy mô lớn theo cơ chế kế hoạch hóa, tập Trung cao độ LNCĐ và lâm nghiệp hộ gia đình không được khuyến khích phát triển Tuy nhiên, một số nơi ở vùng cao, vùng đồng bào dân tộc vẫn duy trì các khu rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý, nhưng mức độ
tự quản dần bị mai một và lảng quên do thiếu sự quan tâm của Nhà nước
Quyết định 184 của Hội đồng Bộ trưởng năm 1982 và Chỉ thị 29 của Ban Bí thư năm 1983 về giao đất giao rừng cho các thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể,
và bắt đầu chú ý đến hợp đồng khoán rừng cho hộ gia đình
1986- 1992: Lần đầu tiên Nhà nước đề cập làng bản là chủ rừng hợp pháp đối với rừng truyền thống của làng bản Năm 1986, Chính phủ bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới bằng việc thừa nhận 5 thành phần kinh tế Năm 1988 và năm 1991 lần đầu tiên ra đời Luật Đất đai và Luật BV&PTR cho phép giao đất, giao rừng cho tổ chức, cá nhân và hộ gia đình Lâm nghiệp cộng đồng (làng bản, hộ gia đình) được thừa nhận Ngày 17/1/1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ra Nghị định số 17/HTBT về việc thi hành Luật BV& PTR xác nhận làng, bản có rừng trước ngày ban hành Luật BV&PTR là chủ rừng hợp pháp
1993-2002: Tăng cường quá trình phi tập trung hóa trong quản lý rừng, quan tâm đến xã hội hóa nghề rừng nhưng chính sách đối với LNCĐ chưa rõ ràng Ở các địa phương thực hiện nhiều mô hình QLRCĐ nhưng ở mức độ tự phát hoặc mang tính chất thí điểm Bộ NN&PTNT thành lập Tổ công tác Quốc gia về LNCĐ để triển khai một số nghiên cứu và tổ chức nhiều hội thảo quốc gia về LNCĐ
Nhiều chương trình, dự án quốc tế đã quan tâm đến phát triển LNCĐ nhưng về
cơ bản LNCĐ chưa được thể chế hóa rõ ràng Luật Đất đai (sửa đổi) năm 1993, Nghị định số 02/CP năm 1994 và Nghị định số 163/CP năm 1999 về giao đất lâm nghiệp đều không quy định rõ ràng cho đối tượng cộng đồng Luật Dân sự năm 1995 không quy định cộng đồng dân cư là một chủ thể kinh tế có tư cách pháp nhân Tuy nhiên trong giai đoạn này nhiều địa phương đã vận dụng một số văn bản của Nhà nước và
Trang 31của ngành cho phát triển LNCĐ như Nghị định số 01/CP năm 1995 về giao khoán đất lâm nghiệp, Nghị định số 29/CP năm 1998 về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg về việc thực hiện trách nhiệm của Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp, Thông tư 56/TT năm 1999 của Bộ NN&PTNT về hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ phát triển rừng trong cộng đồng, Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg năm 2001 về quy chế quản lý 3 loại rừng, Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg năm
2001 về quyền hưởng lợi và nghĩa vụ khi tham gia quản lý rừng
Những văn bản liên quan đến chính sách định hướng phát triển QLRCĐ :
- Luật Đất đai ngày 29/11/2013;
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng ngày 03/12/2004;
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Đất đai;
- Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành luật Bảo vệ và phát triển rừng;
- Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ
về ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng
- Luật Dân sự năm 2005 thừa nhận khái niệm sở hữu chung của cộng đồng
Theo đó, cộng đồng dân cư thôn có quyền sở hữu đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên trong cộng đồng đóng góp và cùng quản lý, sử dụng theo thoả thuận vì lợi ích của cộng đồng
- Thông tư số 70/2007/TT-BNN ngày 01/8/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn xây dựng và thực hiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn
- Thông tư số 38/20007/TT- BNN ngày 25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn
- Thông tư số 25/2011/TT-BNNPTNT ngày 06/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về sửa đổi bổ sung một số điều Thông tư 38/2007/TT-BNNPTNT ngày 25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và công đồng dân cư thôn;
- Thông tư số 21/2016/TT-BNNPTNT ngày 28/6/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về khai thác chính và tận dụng, tân thụ lâm sản;
Trang 32- Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT-BNNPTNT-BTNMT ngày 29/01/2011 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài Nguyên và Môi trường về hướng dẫn một số nội dung về giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp;
- Văn bản hợp nhất số 21/2014/VBHN-BNNPTNT ngày 06/5/2014 của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành thông tư hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn;
- Quyết định 138/2004/QĐ-UBND ngày 20/5/2014 của UBND tỉnh Quảng Ngãi
về ban hành khung hưởng lợi và nghĩa vụ của hộ gia đình cá nhân được giao, cho thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp tỉnh Quảng Ngãi;
- Quyết định số 2480/QĐ-UBND ngày 31/12/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc phê duyệt kết quả rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch 03 loại rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi;
- Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam (VFDS) 2006-2020 đã coi RCĐ thuộc 20 ưu tiên hàng đầu cho ngành lâm nghiệp, thiết lập mục tiêu QLRCĐ đạt 2,5 triệu ha vào năm 2010 và 4 triệu ha vào năm 2020 Việc giao rừng cho cộng đồng và việc công nhận cộng đồng là một chủ thể quản lý rừng đã đưa phương thức QLRCĐ ở nước ta lên tầm cao mới
- Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dâm tộc thiểu số giai đọan 2015-2020
Đặc biệt, từ 2003 đến nay: Hình thành khung pháp lý cơ bản cho lâm nghiệp cộng đồng Theo Luật Đất đai năm 2003, cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp với tư cách là người sử dụng đất
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng mới năm 2004 có một mục riêng quy định về giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn; quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư thôn được giao rừng Luật Dân sự (sửa đổi) tháng 7 năm 2005 thừa nhận khái niệm sở hữu chung của cộng đồng Theo đó, cộng đồng dân cư thôn có quyền sở hữu đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên RCĐ đóng góp và cùng quản lý, sử dụng theo thoả thuận vì lợi ích của cộng đồng
Như vậy, đến nay Việt Nam đó có khung pháp lý và chính sách cơ bản cho phát triển LNCĐ, được thể hiện trong 2 bộ luật lớn, đó là Luật Đất đai năm 2003 (nay là Luật Đất đai 2013), Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) năm 2004, Quyết định
số 178/2001/QĐ-TTg năm 2001 và các văn bản chính sách khác
Khung pháp lý và chính sách này thể hiện các điểm căn bản sau đây:
Trang 33- Thứ nhất, cộng đồng dân cư là chủ rừng, người sử dụng rừng có tư cách pháp
nhân đầy đủ hoặc không đầy đủ tuỳ theo từng điều kiện của mỗi cộng đồng và đối tượng rừng được giao hay nhận khoán rừng
- Thứ hai, cộng đồng được giao đất, giao rừng, nhận hợp đồng khoán rừng lâu
dài khi đáp ứng các quy định của pháp luật và chính sách hiện hành như: Khu rừng do cộng đồng dân cư thôn đang quản lý sử dụng có hiệu quả; Khu rừng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho lợi ích chung của cộng đồng; Khu rừng giáp danh giữa các thôn,
xã, huyện không thể giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mà cần giao cho cộng đồng dân cư thôn để phục vụ lợi ích của cộng đồng
- Thứ ba, cộng đồng được hưởng các quyền khi tham gia quản lý rừng theo quy
định của pháp luật như: Được công nhận quyền sử dụng rừng ổn định, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng; Được khai thác, sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng vào mục đích công cộng và gia dụng cho thành viên trong cộng đồng; Được sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp, ngư nghiệp kết hợp; Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích rừng được giao; Được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của Nhà nước để bảo vệ và phát triển rừng và được hưởng lợi ích do các công trình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang lại; Được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư để bảo vệ và phát triển rừng khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng
- Thứ tư, cộng đồng thực hiện nghĩa vụ khi tham gia quản lý rừng theo quy định
của pháp luật như: Xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng; Tổ chức bảo vệ và phát triển rừng, định kỳ báo cáo cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về diễn biến tài nguyên và các hoạt động liên quan đến khu vực; Thực hiện nghĩa vụ chính trị và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
1.2.3.3 Những thành tựu và bài học kinh nghiệm về QLRCĐ
Cho đến nay, phát triển LNCĐ ở Việt Nam đó gặt hái được nhiều thành công trên các mặt như cơ chế chính sách, phương pháp và cách thức thực hiện cũng như thành quả trên thực tiễn Bên cạnh những thành công vẫn còn có nhiều mặt hạn chế
Từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm trong phát triển LNCĐ sau:
Về cơ chế, chính sách: Để phát triển LNCĐ cần phải có một khung pháp lý quy
định pháp nhân cơ bản của cộng đồng là chủ thể trong quản lý và sử dụng rừng và đất rừng Bên cạnh khung pháp lý cũng cần có hệ thống chính sách đủ để cộng đồng phát huy năng lực sẵn có và tiềm năng hỗ trợ từ bên ngoài cho QLRCĐ Phải sau 15 năm, tính từ 1991 đến nay, nghiên cứu, thử nghiệm, tổng kết và đúc rút từ thực tiễn, về cơ bản Việt Nam có một khung pháp lý tương đối rõ và hệ thống chính sách đang trong giai đoạn hoàn thiện là tiền đề hết sức cơ bản cho phát triển LNCĐ
Trang 34Về quá trình xác lập quyền sử dụng rừng và đất rừng: Khác với tiến trình quy
hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp (LUP/LA) trước đây, về cơ bản tiến trình liên kết 3 hợp phần trong quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng ngày càng được làm rõ như sau:
+ Quy hoạch sử dụng đất cấp xã và thôn bản: Hợp phần này nhằm trả lời rõ 2 câu hỏi “CÁI GÌ”, nghĩa là đối tượng rừng, đất nào sẽ giao và giao “Ở ĐÂU”;
+ Lập kế hoạch quản lý rừng nhằm trả lời câu hỏi: rừng sẽ được cộng đồng quản lý “NHƯ THẾ NÀO” Kế hoạch quản lý rừng gồm 3 nội dung chủ yếu là mục tiêu quản lý, phương thức và thời gian quản lý, trong đó xây dựng mục tiêu quản lý rừng là quan trọng nhất
+ Giao đất lâm nghiệp cũng gọi là quá trình giao đất (LA) nhằm trả lời rõ câu hỏi giao cho “AI”, nghĩa là đối tượng nào được giao
- Hình thành loại hình LNCĐ đáp ứng nhu cầu sinh kế và LNCĐ cho sản xuất hàng hóa:
+ Từ thực tiễn cho thấy do tính đa dạng của các cộng đồng nên không thể có một mô hình LNCĐ chung mà cần có các loại hình LNCĐ khác nhau, phù hợp với từng điều kiện cụ thể của các vùng miền khác nhau
+ Hiện tại ở Việt Nam đang dần hình thành rõ rệt 2 loại hình LNCĐ, đó là LNCĐ đáp ứng nhu cầu sinh kế của các cộng đồng ở vùng sâu vùng xa, tỷ lệ hộ nghèo cao và loại hình LNCĐ cho sản xuất hàng hóa của các cộng đồng phát triển ở các vùng nông thôn dân trí cao khả năng tiếp cận thị trường tốt
Sự tham gia và phối hợp của các bên liên quan rừng phát triển LNCĐ: Thực
tiễn cho thấy rằng, địa phương nào không có sự phối hợp tốt của các bên liên quan, đặc biệt sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng hạn chế thì hiệu quả quản lý rừng thấp
- Phát triển các mô hình LNCĐ điểm và phổ cập lan rộng bằng các chương trình, dự án lâm nghiệp của Chính phủ và địa phương: Những thành công về LNCĐ
hiện nay chủ yếu là từ các mô hình thí điểm được thực hiện bởi các chương trình, dự
án của các tổ chức quốc tế Sự thành công mới dừng ở mức độ nhỏ hẹp, việc mở rộng
áp dụng các phương pháp phổ cập mô hình bị hạn chế Kinh nghiệm cho thấy ở địa phương nào có sự liên kết giữa các chương trình, dự án lâm nghiệp của Chính phủ và địa phương với các chương trình, dự án của các tổ chức quốc tế để LNCĐ phát triển vững chắc hơn
- Phát triển nguồn nhân lực và tổ chức cộng đồng: Bài học kinh nghiệm của xã
Thuỷ Yên Thượng (Thừa Thiên Huế) cũng như ở nhiều nơi cho thấy 2 điều kiện quan trọng để LNCĐ thành công là: i) điều kiện cần là lãnh đạo cộng đồng mạnh, rừng bắt
Trang 35buộc phải bảo vệ để chống xâm hại, ý chí và nguyện vọng của dân làng; ii) điều kiện
đủ là nhận rừng phải là cơ hội giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho dân làng,
hệ thống chính trị từng xã, thôn phải mạnh và có ý thức cao về bảo vệ rừng Cả hai điều kiện trên là bài học kinh nghiệm đều liên quan đến phát triển nguồn nhân lực và
tổ chức của cộng đồng
Báo cáo của Nguyễn Quang Tân và cộng sự (2009) liên quan đến địa vị pháp lý của cộng đồng, vấn đề giảm nghèo và những hỗ trợ cần thiết cho QLRCĐ đã nêu bật được một số nội dung như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là rất quan trọng khi
có mâu thuẫn phát sinh và người dân được bảo vệ quyền của họ; Những hỗ trợ về thể chế, pháp lý, kỹ thuật, tài chính là rất cần thiết, trong đó, việc hỗ trợ hướng đến nâng cao năng lực là quan trọng nhất, những hỗ trợ bên ngoài đóng vai trò huy động nội lực trong cộng đồng và hỗ trợ sử dụng hiệu quả nội lực để QLRCĐ
1.2.3.4 Các giải pháp và sáng kiến về QLRCĐ và kết quả đạt được
Theo Bảo Huy (2009) trong "Xây dựng cơ chế hưởng lợi trong QLRCĐ cho thấy đây là phương thức quản lý rừng thích hợp với cộng đồng dân tộc thiểu số sống gần rừng Cộng đồng hưởng lợi từ gỗ thương mại, rừng sau khai thác ổn định đồng thời đã tạo được thu nhập cho người dân nghèo nhận rừng Tuy nhiên trong "Giải pháp xác lập cơ chế hưởng lợi trong QLRCĐ ", Bảo Huy đã khẳng định, thực tế sau 5 năm hầu như rất ít nơi người nhận rừng được hưởng lợi Lý do căn bản là đa số các khu rừng được giao chưa đạt tiêu chuẩn rừng khai thác theo các quy định hiện hành và như vậy người quản lý rừng phải chờ đợi Điều này đã hạn chế mối quan tâm quản lý rừng
tự nhiên của người dân, để xác định quyền hưởng lợi của chủ rừng một cách công bằng là dựa vào tăng trưởng sau giao rừng, người quản lý hưởng lợi được phần tăng trưởng rừng mà họ nuôi dưỡng, nếu bảo vệ nuôi dưỡng tốt sẽ hưởng lợi cao hơn nhờ gia tăng lượng tăng trưởng Tuy nhiên tăng trưởng theo trữ lượng là một vấn đề khó xác định và thực tế ở Việt Nam đang thiếu chỉ tiêu này cho các kiểu rừng, điều kiện lập địa, khí hậu và trạng thái rừng khác nhau Vì vậy tiếp cận theo tăng trưởng để xác định là một nguyên tắc cần có cách xác định đơn giản để có thể vận dụng và cộng đồng có thể tiếp cận được Ông cũng chỉ ra rằng xây dựng mô hình rừng ổn định như
là công cụ xác định tăng trưởng số cây, làm cơ sở xác định quyền lợi, lập kế hoạch và giám sát RCĐ Một lựa chọn quan trọng trong trường hợp này là lập kế hoạch và thực hiện khai thác hưởng lợi gỗ củi dựa vào mô hình rừng ổn định, mục tiêu xây dựng mô hình rừng ổn định nhằm định hướng trong cân đối khả năng cung cấp của rừng địa phương với nhu cầu lâm sản của cộng đồng ổn định trong một kỳ kế hoạch 5 năm, làm
cơ sở cho việc xác định giải pháp khai thác, chặt nuôi dưỡng rừng tự nhiên theo hướng dẫn dắt rừng về dạng ổn định và tính toán được khả năng cung cấp gỗ, củi cho đời sống cộng đồng
Trang 36Ngoài nguồn hưởng lợi từ lượng tăng trưởng về gỗ của rừng và các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ từ rừng thì trong nghiên cứu về cơ chế hưởng lợi từ QLRCĐ, Bảo Huy cũng nhấn mạnh hưởng lợi từ các dịch vụ môi trường rừng, đây là một tiềm năng
để tạo ra thu nhập và khuyến khích người nhận rừng bảo vệ và phát triển rừng; do vậy cần có nhiều quan tâm để phát triển chính sách về lĩnh vực này; trong đó chi trả hấp thụ CO2 trong bảo vệ các khu rừng non, nghèo chưa có thu hoạch là vấn đề cần có nghiên cứu và chính sách thích hợp
1.2.3.5 Các chương trình dự án hỗ trợ hình thành và phát triển phương thức QLRCĐ đã được thực hiện ở Việt Nam
Đồng thời với quá trình đổi mới của Chính phủ trong ngành lâm nghiệp, từ giữa những năm 1990 sự hỗ trợ của các nhà tài trợ và các tổ chức phi chính phủ về RCĐ đã tăng lên Nhiều kinh nghiệm hay về lập kế hoạch quản lý rừng đã được triển khai thông qua các chương trình dự án như:
Dự án PAM 5233 từ 1995 đến 1997 đã tiến hành hỗ trợ 52.000 hộ gia đình lập
kế hoạch quản lý rừng cấp hộ làm cơ sở cho đầu tư trồng rừng 52.000 ha rừng PAM, bình quân mỗi hộ lập kế hoạch và thực hiện 1 ha rừng;
Chương trình Phát triển Nông thôn miền núi (MRDP) Việt Nam - Thụy Điển trong giai đoạn 1997-2001 đã lập kế hoạch quản lý rừng của 300 thôn bản ở 5 tỉnh miền núi phía Bắc qua quá trình thực hiện đã cho xuất bản các tài liệu phục vụ cho công
tác QLRCĐ như: “ Điều tra đánh giá nông thôn có sự tham gia của nông dân, xây dựng
kế hoạch ở thôn bản”,“ Phát triển Quỹ thôn bản”
Dự án Phát Triển Lâm Nghiệp Xã Hội Sông Đà (SFDP) do GIZ tài trợ ở Sơn La
và Lai Châu và Điện Biên để thực hiện các mô hình QLRCĐ Dự án đã hỗ trợ phía Việt Nam xây dựng quy trình lập kế hoạch phát triển thôn bản (VDP) và xuất bản tài
liệu giới thiệu về “Lâm nghiệp cộng đồng” có đề cập đến hưởng dụng đất và cây rừng
ở cấp cộng đồng với lý do “ Trong quản lý lâm nghiệp cộng đồng, hưởng dụng là một nhân tố quan trọng vì nó điều tiết sự kiểm soát và sự tiếp cận với tài nguyên rừng”
Dự án phát triển bền vững Tài nguyên và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk do GIZ tài trợ đã hỗ trợ khu vực Tây Nguyên giao rừng và phát triển RCĐ
Dự án Phát triển nông thôn Sơn La - Lai Châu của EU thực hiện lập kế hoạch QLRCĐ cho thấy việc lập kế hoạch quản lý rừng ở cấp làng bản, nhóm hộ và hộ gia đình phải được thực hiện ngay sau khi quy hoạch sử dụng đất để làm cơ sở cho giao đất giao rừng
Dự án “hỗ trợ và phổ cập đào tạo cho cán bộ nông lâm nghiệp vùng cao” (ETSP – Helvetas) đã hỗ trợ thực hiện các mô hình QLRCĐ và triển khai chu trình đào tạo Tập huấn viên (TOT) tại 03 tỉnh Hòa Bình, Đắc Nông và Thừa Thiên Huế
Trang 37AusAID tài trợ hợp tác Nông Nghiệp & Phát triển nông thôn (CARD) tại tỉnh Bắc Kạn
Dự án “Chương trình thí điểm Lâm nghiệp cộng đồng” do Cục Lâm nghiệp chủ
trì đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp lý hỗ trợ 40 xã thuộc vùng dự án trong QLRCĐ Trong các văn bản này có nhiều quy định có liên quan đến hưởng lợi và cơ chế hưởng lợi từ dự án cũng như từ rừng Dự án cũng đã xuất bản Tài liệu Hướng dẫn
kỹ thuật QLRCĐ và tài liệu Hướng dẫn tập huấn tiểu giáo viên (ToT) về lâm nghiệp cộng
đồng Các tài liệu này đã giúp cho các dự án khác có liên quan đến Hỗ trợ QLRCĐ xây dựng được các nội dung hướng dẫn và tập huấn cho cộng đồng
Dự án Kfw3-pha 3, trong học phần “Nâng cao năng lực hỗ trợ kỹ thuật QLRCĐ cho cán bộ quản lý Dự án cấp cơ sở và cán bộ cộng đồng dân cư thôn”
trong khuôn khổ của Dự án đã rất chú ý đến các nội dung hưởng lợi và cơ chế hưởng lợi cũng từ hỗ trợ của dự án và từ rừng
Dự án “Chương trình tài trợ các dự án nhỏ Quản lý bền vững rừng nhiệt đới (EC/UNDP SGP PTF) đã hỗ trợ kinh phí cho 23 cộng đồng thôn bản tại các địa
phương trong cả nước thực thi các mô hình về QLRCĐ Ví dụ, để thực hiện các nội dung: Bảo vệ rừng tự nhiên, bảo vệ rừng trồng, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng, ươm
cây trong 5 năm (2006-2010), riêng năm 2007 dự án đã hỗ trợ 122 triệu đồng và xuất
bản Sổ tay hướng dẫn QLRCĐ - 2007 trong đó có phân tích và hướng dẫn chi tiết về những điều kiện cơ bản trong QLRCĐ ; những cơ sở pháp lý và luật tục tác động đến QLRCĐ và các hoạt động trong QLRCĐ
Dự án ADB-FSP thí điểm các quy trình lập kế hoạch lâm nghiệp cộng đồng tại tỉnh Gia Lai
Trang 38CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Phạm vi nghiên cứu (Phạm vi về không gian và thời gian của việc nghiên cứu
và thu thập số liệu)
Nghiên cứu được thực hiện tại các thôn Khánh Giang và Trường Lệ, xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Rừng tự nhiên đã giao cho cộng đồng các thôn Khánh Giang và Trường Lệ thuộc Dự án Khôi phục rừng và quản lý rừng bền vững (KfW6) tỉnh Quảng Ngãi
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
2.2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội khu vực nghiên cứu 2.2.2 Khái quát về Dự án “Khôi phục rừng và quản lý rừng bền vững và triển khai mô hình QLRCĐ tại xã Hành Tín Đông- Dự án KfW6
- Thông tin chung về dự án
- Thực hiện thí điểm giao rừng và QLRCĐ 2.2.3 Đánh giá tính bền vững của tiến trình giao rừng và thực hiện QLRCĐ ở hai thôn Trường Lệ và Khánh Giang
- Tóm tắt tiến trình xây dựng mô hình QLRCĐ
- Ảnh hưởng của việc xây dựng và thực hiện quy trình QLRCĐ đến tính bền vững của
mô hình RCĐ 2.2.4 Phân tích các cơ chế chia sẻ lợi ích có ảnh hưởng đến tính bền vững của mô hình QLRCĐ trên địa bàn xã nghiên cứu
- Thực hiện kế hoạch khai thác gỗ cho mục đích thương mại
- Thực hiện kế hoạch khai thác LSNG từ RCĐ
- Hỗ trợ kinh phí trong và sau dự án
- Hỗ trợ các cơ sở vật chất khác
2.2.5 Phân tích những thay đổi về thể chế ảnh hưởng đến QLRCĐ bền vững
- Vai trò, trách nhiệm của các bên liên quan
- Thay đổi các quyền của người dân khi tham gia QLRCĐ
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) trong QLRCĐ tại hai
thôn Trường Lệ và Khánh Giang
2.2.6 Đánh giá hiệu quả kinh tế- xã hội – môi trường của mô hình QLRCĐ tại hai thôn Trường Lệ và Khánh Giang
- Hiệu quả về mặt kinh tế
Trang 39- Hiệu quả về mặt xã hội
- Hiệu quả về mặt môi trường
2.2.7 Đề xuất một số giải pháp duy trì hoạt động QLRCĐ hướng đến QLRCĐ bền vững
- Giải pháp kỹ thuật
- Giải pháp hỗ trợ các sáng kiến và hưởng lợi từ QLRCĐ
- Giải pháp về tổ chức thực hiện QLRCĐ
- Giải pháp nâng cao năng lực hoạt động cho cộng đồng trong QLRCĐ
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
Thu thập các tài liệu có liên quan đến QLRCĐ (giáo trình, bài giảng, báo cáo khoa học,…); Các văn bản luật pháp của Việt Nam về bảo vệ và phát triển RCĐ được ban hành bởi các bộ, ban ngành thuộc cơ quan Trung ương và địa phương/từ thư viện
Thu thập các tài liệu liên quan đến RCĐ của dự án KfW6
Thu thập thông tin dựa trên các báo cáo của địa phương
Thu thập các số liệu về tình hình cơ bản tại Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, Hạt kiểm lâm, UBND huyện, xã, ban quản lý thôn, hồ sơ giao rừng cho cộng đồng
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
Làm việc với các bên liên quan được xác định trước khi đi phỏng vấn
Thông tin sơ cấp được thu thập bằng một số công cụ trong phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng PRA (Participatory Rural Appraisal) như:
sơ đồ thôn bản, lịch sử thôn bản, sơ đồ tài nguyên và diễn biến tài nguyên rừng, phỏng vấn nhóm tập trung,
Phỏng vấn bán cấu trúc được sử dụng để thu thập các thông tin liên quan đến các hoạt động lâm nghiệp cộng đồng diễn ra trên địa bàn nghiên cứu Đối tượng cho phỏng vấn bán cấu trúc/hoặc theo bảng câu hỏi bao gồm: (1) Cấp tỉnh (2 cán bộ): Đại diện Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tham gia chỉ đạo thực hiện Dự
án QLRCĐ; (2) Cấp huyện (2 cán bộ): Đại diện Hạt Kiểm lâm, phòng Nông nghiệp và PTNT; (3) Đại diện cấp xã (2 người) và cộng đồng tham gia (2 Trưởng ban QLLNCĐ
thôn Trường Lệ và Khánh Giang) (4) Phỏng vấn đối tượng hỗ trợ của dự án: Các
chuyên gia, các cán bộ đến từ các đơn vị của tỉnh, huyện đã hỗ trợ thực hiện mô hình
Khảo sát hộ gia đình (70 hộ) được thực hiện nhằm đánh giá nhận thức cũng như thực tiễn về khả năng QLBV&PT rừng cộng đồng sau khi dự án kết thúc Mẫu tham gia phỏng vấn hộ được thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng: Lấy danh sách
Trang 40cộng đồng; xác định các hộ có tác động sinh kế liên quan đến rừng; lấy mẫu ngẫu
nhiên với số mẫu n>=30
Các thông tin dùng trong khảo sát hộ sau khi dự án kết thúc bao gồm: các thông tin về cơ cấu thu nhập, đời sống kinh tế cộng đồng, hoạt động tham gia bảo vệ rừng;
về nhận thức hộ gia đình liên quan đến RCĐ và hoạt động/tham gia QLRCĐ/Các đánh giá liên quan đến tác động môi trường của các mô hình RCĐ bao gồm ảnh hưởng của RCĐ đến nguồn nước sinh hoạt, nước tưới tiêu, tham quan, du lịch…
Phương pháp phân tích số liệu
- Sử dụng phần mềm Excel để hỗ trợ cho việc xử lý các số liệu thu được như là:
các mô tả thống kê đơn giản, so sánh sự giống và khác nhau về các biến điều tra của 2 thôn được chọn cho nghiên cứu
- Các phỏng vấn nhóm chuyên sâu hay phỏng vấn bán cấu trúc sẽ được tổng hợp và phân tích theo phương pháp định tính
- Sử dụng phương pháp SWOT để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức cho việc tiếp tục phát triển các mô hình QLRCĐ trên địa bàn điểm nghiên cứu
- Sử dụng các bảng biểu để phân tích và tổng hợp kết quả nghiên cứu