1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò tạo thu nhập của hoạt động trồng keo đối với các nhóm hộ ở huyện nam đông, tỉnh thừa thiên huế

76 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, đề tài cũng góp phần đánh giá thực trạng thu nhập của nông hộ ở huyện Nam Đông và tác động của hoạt động trồng keo đối với việc thực hiện các tiêu chí trong tiến trình xây d

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi trong thời gian từ năm 2015 đến 2016 Những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung

thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác Nếu sai tôi

xin chịu hoàn toàn trách nhiệm./

Người cam đoan

Võ Minh Thiện

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau hai năm học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế

và thực tập tốt nghiệp, tôi đã hoàn thành đề tài “Vai trò tạo thu nhập của hoạt động

trồng keo đối với các nhóm hộ ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế” Trong

quá trình học tập, triển khai việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi xin chân

thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Huế, các thầy giáo, cô giáo ở

trong và ngoài trường đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi

Xin chân thành cảm ơn nhân dân và cán bộ xã Thượng Quảng, Thượng Nhật, cán bộ phòng NN&PTNT, Hạt kiểm lâm, Trạm Khuyến Nông Lâm Ngư, Chi cục

Thống kê huyện Nam Đông đã luôn tạo điều kiện để cho tôi có thể học hỏi, nắm được

các kiến thức thực tế cũng như việc thu thập số liệu để phục vụ cho đề tài của tôi được

hoàn thiện hơn

Xin cảm ơn các đồng chí lãnh đạo huyện Nam Đông, lãnh đạo các xã, các đồng chí, đồng nghiệp cơ quan và mọi người đã nhiệt tình trao đổi, góp ý, bổ sung giúp đỡ

tôi trong quá trình học tập và thực hiện nội dung đề tài này

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS Trương Văn Tuyển, thầy đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Rất mong nhận được sự giúp đỡ, góp ý, chỉ dẫn thêm của các thầy giáo, cô giáo

và các bạn để đề tài này được hoàn thiện hơn

Huế, ngày 30 tháng 08 năm 2016

Võ Minh Thiện, Học viên cao học PTNT 20

Trang 3

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Vai trò tạo thu nhập của hoạt động trồng keo đối với các nhóm hộ ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế” với mục đích đánh giá

mức độ hưởng lợi từ các giá trị mà hoạt động trồng keo đối với các nhóm hộ, đặc biệt

là với những nhóm hộ không trồng keo, nhóm hộ nghèo và cận nghèo từ đó tìm ra các

giải pháp nhằm nâng cao mức độ hưởng lợi cho các nhóm hộ này Bên cạnh đó, đề tài

cũng góp phần đánh giá thực trạng thu nhập của nông hộ ở huyện Nam Đông và tác

động của hoạt động trồng keo đối với việc thực hiện các tiêu chí trong tiến trình

xây dựng nông thôn mới Để thực hiện đề tài trên, tôi tiến hành thu thập các số liệu

thứ cấp liên quan đến tình hình phát triển cây keo trên địa bàn huyện Bên cạnh đó,

để thu thập các số liệu thứ cấp, tôi tiến hành phỏng vấn 100 hộ gia đình nằm trong

vùng trồng keo của hai xã Thượng Quảng và Thượng Nhật, kết hợp với việc phỏng

vấn sâu người am hiểu và thảo luận nhóm để làm rõ vai trò của hoạt động trồng keo

đối với các nhóm nông hộ

Qua nghiên cứu tôi thấy được rằng, diện tích keo trên địa bàn huyện không ngừng tăng lên qua các năm và giá trị từ trồng keo luôn chiếm từ 10-12% trong tổng

giá trị sản xuất và từ 25-28% trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện Quy

mô rừng keo/hộ trên địa bàn huyện mặc dù tương đối lớn, trung bình đạt 1,19 ha/hộ

Tuy nhiên, có sự chênh lệch khá lớn về quy mô rừng keo giữa nhóm hộ người Kinh so

với nhóm hộ người Cơ tu, ở nhóm hộ người Kinh là 1,67 ha/hộ trong khi ở nhóm hộ

người Cơ tu chỉ là 0,7 ha/hộ Bên cạnh đó, hiệu quả sản xuất keo tính bình quân trên 1

ha diện tích vẫn chưa cao, mức lãi ròng bình quân đạt 5,155 triệu đồng/ha/năm và có

sự chênh lệch giữa nhóm hộ người Kinh và nhóm hộ người Cơ tu, mức chênh lệch là

0,395 triệu đồng/ha/năm

Nguồn thu từ phát triển keo bao gồm việc trồng keo và các dịch vụ trồng keo tuy có sự chênh lệch rõ rệt giữa các nhóm hộ, khi nhóm hộ người Kinh, nhóm hộ có

trồng keo, nhóm hộ không nghèo là những nhóm hộ hưởng được nhiều lợi ích hơn so

với nhóm hộ người Cơ tu, nhóm hộ không trồng keo, nhóm hộ nghèo và cận nghèo

Tuy nhiên, vai trò mà nguồn thu này mang lại có ý nghĩa quan trọng đối với thu nhập

của các nhóm hộ, kể cả những nhóm hộ ít được hưởng lợi

Hơn nữa, việc phát triển keo còn có nhiều tác động đến việc thực hiện các tiêu chí trong tiến trình xây dựng NTM đặc biệt là tiêu chí thu nhập Tuy bình quân thu

nhập đầu người của huyện chỉ mới đạt 17,43 triệu đồng/người/năm song không thể

phủ nhận những đóng góp của việc phát triển keo đối với việc thực hiện tiêu chí thu

nhập Bên cạnh đó, việc phát triển keo còn tác động đến việc thực hiện các tiêu chí

khác trong xây dựng NTM như tiêu chí về cơ cấu lao động, tiêu chí về giao thông,

giáo dục

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT LUẬN VĂN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội các huyện (địa phương) miền núi 3

1.2 Tình hình và các hình thức trồng rừng 5

1.2.1 Trên thế giới 5

1.2.2 Ở Việt Nam 5

1.2.3 Ở Thừa Thiên Huế 6

1.2.4 Ở Nam Đông 7

1.3 Vai trò và hiệu quả trồng rừng 8

1.3.1 Vai trò trồng rừng 8

1.3.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả trồng rừng 9

1.3.3 Hiệu quả kinh tế của trồng rừng 9

1.4 Thu nhập của nông hộ miền núi 11

1.4.1 Thu nhập của nông hộ 11

1.4.2 Khái niệm nghèo và chuẩn nghèo 12

1.4.3 Thực trạng nghèo và thu nhập của nông hộ miền núi 14

1.5 Yêu cầu phát triển sản xuất và tăng thu nhập người dân trong xây dựng NTM 17

1.5.1 Các tiêu chí về tăng thu nhập và giảm nghèo trong xây dựng NTM 17

1.5.2 Yêu cầu và nội dung thực hiện các tiêu chí phát triển sản xuất và tăng thu nhập 18

Trang 5

1.5.3 Tình hình xây dựng NTM và triển khai thực hiện các tiêu chí phát triển sản xuất,

tăng thu nhập và giảm nghèo 19

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 21

2.1.1 Phạm vi nghiên cứu 21

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Nội dung nghiên cứu 21

2.3 Phương pháp nghiên cứu 22

2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 22

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu 22

2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu 22

2.3.4 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu 23

2.3.5 Phương pháp phân tích số liệu 23

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

3.1 Tình hình phát triển rừng keo huyện Nam Đông, Thừa Thiên Huế 24

3.1.1 Đặc điểm cơ bản huyện miền núi Nam Đông 24

3.1.2 Tình hình phát triển rừng keo trên địa bàn huyện Nam Đông và các xã nghiên cứu 25

3.1.3 Giá trị sản xuất keo trong cơ cấu kinh tế huyện Nam Đông 28

3.2 Đặc điểm của nông hộ huyện Nam Đông 30

3.2.1 Đặc điểm nhân khẩu 30

3.2.2 Đặc điểm về đất đai 31

3.2.3 Đặc điểm tài sản, trang thiết bị sản xuất 32

3.3 Đặc điểm phát triển rừng keo của nông hộ huyện Nam Đông 33

3.3.1 Đặc điểm về quy mô, diện tích, nguồn gốc đất đai 33

3.3.2 Đặc điểm về chu kỳ kinh doanh, thời gian trồng 34

3.3.3 Đặc điểm về hình thức đầu tư 35

3.4 Hiệu quả tạo thu nhập của hoạt động trồng keo đối với các nhóm hộ 36

3.4.1 Các nguồn thu nhập do phát triển keo tại huyện Nam Đông mang lại 36

3.4.2 Hiệu quả sản xuất keo ở huyện Nam Đông (tính trên 1 ha) 37

3.4.3 Thu nhập từ keo trên các nhóm hộ có trồng keo huyện Nam Đông 39

Trang 6

3.4.4 Thu nhập từ dịch vụ sản xuất keo đối với các nhóm hộ huyện Nam Đông 40

3.4.5 Thu nhập từ phát triển keo đối với các nhóm hộ huyện Nam Đông 41

3.5 Nguồn thu và thu nhập của nông hộ huyện Nam Đông 42

3.5.1 Tình hình sinh kế, thu nhập trên các nhóm hộ 42

3.5.2 Sự thay đổi về cơ cấu thu nhập trên các nhóm hộ qua các năm 44

3.6 Vai trò của hoạt động trồng keo đối với việc thực hiện các tiêu chí NTM 45

3.6.1 Thực trạng thu nhập của nông hộ theo tiêu chí NTM 45

3.6.2 Vai trò phát triển keo đối với thu nhập của các nhóm hộ huyện Nam Đông 46

3.6.3 Ý kiến người dân về vai trò phát triển keo đối với việc thực hiện tiêu chí thu nhập 47

3.6.4 Ý kiến người dân về vai trò phát triển keo đối với tạo việc làm và bảo vệ rừng 49 3.6.5 Ý kiến người dân về vai trò phát triển keo đối với việc thực hiện một số tiêu chí NTM 50

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53

4.1 Kết luận 53

4.2 Kiến nghị 54

Trang 7

ĐVT : Đơn vị tính KTCB : Kiến thiết cơ bản KTXH : Kinh tế xã hội

LĐ : Lao động

NĐ-CP : Nghị định Chính phủ

NN : Nông nghiệp NTM : Nông thôn mới PMT : Giá trị san đều hàng năm

SX : Sản xuất

TB : Trung bình TDMN : Trung du miền núi

TK : Trồng keo

TN : Thu nhập TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

TR.Đ : Triệu đồng UBND : Ủy ban nhân dân

UN : Liên hợp quốc

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Chi phí sản xuất cao su của nông hộ huyện Nam Đông năm 2013 12

Bảng 1.2: Tỷ lệ và cơ cấu nghèo, theo vùng và theo khu vực 15

Bảng 1.3: Tỷ lệ và cơ cấu nghèo, theo lĩnh vực ngành nghề của chủ hộ 16

Bảng 1.4: Quy định về mức thu nhập bình quân đầu người ở các vùng 18

Bảng 2.1: Tiêu chí chọn mẫu hộ tại điểm nghiên cứu 22

Bảng 3.1: Đặc điểm đất đai, lao động, nhân khẩu huyện Nam Đông 25

Bảng 3.2: Tình hình phát triển rừng keo trên địa bàn huyện qua các năm 26

Bảng 3.3: Tình hình phát triển rừng keo tại các xã nghiên cứu 28

Bảng 3.4: Cơ cấu kinh tế huyện Nam Đông và giá trị sản xuất keo 29

Bảng 3.5: Đặc điểm nhân khẩu, lao động của nhóm hộ nghiên cứu 30

Bảng 3.6: Đặc điểm đất đai của các nhóm hộ nghiên cứu 32

Bảng 3.7: Đặc điểm tài sản, trang thiết bị sản xuất của các nhóm hộ nghiên cứu 32

Bảng 3.8: Đặc điểm phát triển rừng keo của nhóm hộ về quy mô, diện tích 34

Bảng 3.9: Đặc điểm phát triển rừng keo của nhóm hộ về thời gian trồng, kinh doanh 35

Bảng 3.10: Đặc điểm phát triển rừng keo của nhóm hộ về hình thức đầu tư 36

Bảng 3.11: Mức độ hưởng lợi từ các nguồn thu do phát triển keo mang lại 37

Bảng 3.12: Kết quả sản xuất keo của các nhóm nông hộ 38

Bảng 3.13: Thu nhập từ keo trên các nhóm hộ có trồng keo 40

Bảng 3.14: Thu nhập từ dịch vụ sản xuất keo trên các nhóm hộ 41

Bảng 3.15: Thu nhập từ phát triển keo trên các nhóm hộ 42

Bảng 3.16: Tình hình sinh kế và thu nhập trên các nhóm hộ nghiên cứu 43

Bảng 3.17: Sự thay đổi về thu nhập bình quân/hộ của nhóm hộ 44

Bảng 3.18: Sự thay đổi về thu nhập bình quân/khẩu của nhóm hộ 45

Bảng 3.19: Thực trạng thu nhập nông hộ so với chuẩn NTM về thu nhập 46

Bảng 3.20: Vai trò tạo thu nhập của phát triển keo đối với các nhóm hộ 47

Bảng 3.21: Vai trò phát triển keo đối với việc thực hiện tiêu chí thu nhập 49

Bảng 3.22: Vai trò phát triển keo đối với tạo việc làm và nâng cao chất lượng rừng 50

Bảng 3.23: Ý kiến người dân về vai trò phát triển keo đối với việc thực hiện một số tiêu chí NTM 51

Bảng 4.1: Giải pháp gia tăng mức độ hưởng lợi từ trồng keo cho hộ nghèo 55

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở một số vùng trong nước 4

Hình 3.1: Diễn biến diện tích rừng keo của huyện Nam Đông qua các năm 27

Hình 3.2: Cơ cấu kinh tế huyện Nam Đông và giá trị sản xuất keo 29

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài

Thu nhập là một trong những chỉ tiêu hàng đầu để đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân Mỗi quốc gia, mỗi địa phương đều coi thu nhập là mục tiêu hàng

đầu cần phải hướng đến Trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay,

việc thực hiện tiêu chí thu nhập luôn là một bài toán khó đối với các địa phương, nhất

là đối với các địa phương ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa

Nam Đông là huyện miền núi của tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi có khoảng 43,9%

dân cư là người đồng bào dân tộc Cơ tu đang sinh sống [3] Vì là một địa phương có

tỷ lệ hộ nghèo khá cao, đời sống của người dân còn rất nhiều khó khăn nên việc

nâng cao thu nhập cho người dân được đặt ra như một yêu cầu bức thiết cần phải

giải quyết, nhất là trong bối cảnh huyện đang phấn đấu để trở thành huyện đạt

chuẩn nông thôn mới

Trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2012, thu nhập của người dân trên địa bàn đã có bước tăng đột phá nhờ vào nguồn thu từ cây cao su Tuy nhiên,

trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến nay, giá mủ cao su liên tục giảm làm đời sống

của người dân tưởng chừng đã được ổn định nay trở nên lao đao Trước bối cảnh đó,

cây keo ngày càng thể hiện vai trò là cây kinh tế chủ lực góp phần cải thiện và nâng

cao thu nhập cho người dân Bên cạnh đó, nó còn góp phần tạo ra việc làm, cải thiện

môi trường và đóng góp vào nhiều giá trị khác Tuy hoạt động trồng keo tạo ra nhiều

lợi ích kinh tế cho người dân, cho địa phương nhưng việc hưởng lợi từ các giá trị gia

tăng này lại không có sự chênh lệch rõ rệt giữa các nhóm hộ Thực tế cho thấy rằng,

chỉ một bộ phận những hộ khá với quy mô đất rừng keo lớn được hưởng lợi nhiều từ

những giá trị gia tăng này Còn đối với nhóm hộ nghèo, là nhóm hộ thường không có

hoặc có ít đất để sản xuất nhất là đất lâm nghiệp thì sự hưởng lợi này rất ít Điều này

khiến ý nghĩa của việc nâng cao thu nhập cho người dân trong tiến trình xây dựng

nông thôn mới không còn thể hiện đúng ý nghĩa của nó, đó là tập trung cải thiện và

nâng cao thu nhập cho nhóm hộ nghèo, nhóm hộ có thu nhập thấp

Chính từ nguyên nhân trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Vai trò tạo thu

nhập của hoạt động trồng keo đối với các nhóm hộ ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa

Thiên Huế” để đánh giá được sự chênh lệch về mức độ hưởng lợi giữa các nhóm hộ

khác nhau như thế nào, từ đó tìm ra được các giải pháp để hạn chế tình trạng trên

Trang 11

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu tình hình và đặc điểm phát triển rừng keo của nông hộ huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Đánh giá hiệu quả tạo thu nhập của hoạt động trồng keo đối với các nhóm hộ trồng keo và không trồng keo

- Nghiên cứu vai trò của hoạt động trồng keo đối với việc thực hiện các tiêu chí nông thôn mới

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

nghèo, từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao vai trò của hoạt động trồng keo Đây là

cơ sở để địa phương có thể vận dụng trong tiến trình xây dựng nông thôn mới

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội các huyện (địa phương) miền núi

Vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam chiếm 2/3 diện tích tự nhiên, có địa hình tương đối đa dạng, phức tạp với nhiều sông, suối, độ dốc cao, vừa có cao

nguyên và cả những vùng đồng bằng nhỏ nhưng chủ yếu vẫn là đồi núi Tuy nhiên, về

diện tích giữa đồi, núi, cao nguyên và đồng bằng là không giống nhau giữa các vùng;

điều này làm nên những điểm khác biệt tương đối lớn trong phân bố dân cư, đầu tư

phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng Đây là vùng có nguồn tài nguyên phong phú,

nhiều lợi thế phát triển kinh tế: sản xuất nông nghiệp, cây công nghiệp (cà phê, cao su,

tiêu, điều, chè ), cây lương thực, chăn nuôi thuỷ sản lớn (lúa, thuỷ sản vùng đồng

bằng sông Cửu Long); lâm nghiệp đồi rừng; công nghiệp khai khoáng (quặng, sắt,

than ); phát triển năng lượng (thuỷ điện) và du lịch sinh thái, du lịch văn hoá [15]

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với tổng số 54 dân tộc Dân tộc Việt (Kinh) chiếm 87% dân số cả nước, 13% tương đương hơn 10 triệu người thuộc về 53

dân tộc thiểu số sống tập trung chủ yếu trên các vùng đồi núi, cao nguyên (chiếm 2/3

diện tích tự nhiện cả nước) trải dài từ Bắc vào Nam Trong số các dân tộc thiểu số,

đông nhất là Tày, Thái, Mường, Hoa, Khơ-me, Nùng mỗi dân tộc có trên một triệu

người; nhỏ nhất là Brâu, Romam, O-du chỉ hơn 300 trăm người Với dân cư ít lại phân

bố trên địa bàn rộng nên mật độ dân số thấp; mặt khác các dân tộc thiểu số Việt Nam

đa phần không cư trú trên một lãnh địa riêng, biệt lập và tập trung mà sống xen ghép

lẫn nhau trên cùng địa bàn Những đặc điểm đó cũng là điểm đặc thù so với các tộc

người ở các quốc gia khác

Cùng với xu thế chung của nền kinh tế quốc gia, kinh tế - xã hội vùng miền núi những năm vừa qua có sự tăng trưởng và phát triển đáng kể Tốc độ tăng trưởng kinh

tế vùng miền núi phía Bắc đạt hơn 10%, miền Trung 12%, Tây Nguyên 12,5% và Nam

Bộ là 12% Cơ cấu kinh tế cũng có sự thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng các ngành:

dịch vụ, thương mại, du lịch, công nghiệp; tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp giảm

nhưng bình quân các tỉnh thuộc vùng vẫn chiếm trên 50% Trong ngành nông, lâm

nghiệp – ngành chủ đạo của những vùng này đã bước đầu được định hướng phát triển

sản xuất hàng hóa, tiếp cận thị trường với những sản phẩm nông nghiệp qua sơ chế

như: cao su, tiêu; các sản phẩm tinh chế như: cà phê, chè, thủy hải sản… Sự tăng

trưởng kinh tế có được nhờ những chính sách kinh tế vĩ mô cũng như các chương trình

đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đã làm nên một diện mạo mới cho vùng miền núi về hạ

tầng kinh tế - xã hội, các dịch vụ công và thương mại [15] [23]

Trang 13

Hình 1.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở một số vùng trong nước [15]

Từ những đặc điểm về địa hình, điều kiện tự nhiên và dân cư, lao động cũng cho thấy những kết quả phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi nước ta những năm

qua vẫn chưa đưa được vùng này ra khỏi diện vùng nghèo và chậm phát triển nhất so

với các khu vực khác trong nước Mặt khác, trong những vùng dân tộc và miền núi

cũng có sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế và hội nhập xã hội Có những vùng

đã định hướng và quy hoạch phát triển với việc phát huy những lợi thế của mình như

Tây Nguyên là cây công nghiệp, du lịch; Nam Bộ là lương thực và thủy, hải sản Sự

giao thương hàng hóa và phát triển kinh tế của các dân tộc của những vùng này là

tương đối mạnh mẽ ngoại trừ đồng bào các dân tộc bản địa (người Ê Đê, Gia Lai, Ba

Na, Khmer) Một số vùng khác như miền núi phía Bắc, Tây Thanh Hóa, Nghệ An việc

xác định hướng phát triển kinh tế cho mình dường như chưa rõ ràng; sinh kế của người

dân còn chủ yếu dựa vào nông nghiệp tự cấp, tự túc Các dịch vụ xã hội: y tế, giáo dục,

thông tin… đã được cải thiện nhưng chưa phát triển toàn diện và hướng tới việc đảm

bảo chất lượng dịch vụ tốt [15]

Với nhiều chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhưng xuất phát điểm hạn chế về trình

độ học vấn nên nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và lao động vùng dân

tộc và miền núi nói riêng vẫn là vấn đề quan trọng trong những năm tới Việc làm phụ

thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế, cơ cấu kinh tế và bản thân năng lực của

người lao động Đa phần lao động của vùng dân tộc và miền núi (hơn 80%) là thuộc

ngành nông, lâm nghiệp; thiếu việc làm trong thời gian nông nhàn là không thể tránh

khỏi nhưng ở những vùng này sự di chuyển lao động cũng là rất hạn chế Người lao

động dường như chưa thể đi ra khỏi làng, bản, xã mình để làm việc và kiếm việc

Nghèo đói là vấn đề lớn và đây là rốn nghèo hay vùng tập trung nhiều người nghèo nhất Hơn 10 triệu người nghèo thuộc về vùng miền núi và chủ yếu là đồng bào

dân tộc thiểu số Những nỗ lực của Chính phủ thông qua các chính sách, chương trình,

Cả nước Miền núi phía Bắc Duyên hải miền trung

Tây Nguyên Đồng bằng sông Cửu long

Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Trang 14

nghị quyết tập trung đầu tư hỗ trợ cho người nghèo, vùng nghèo đã giảm đáng kể tỷ lệ

đói nghèo từ 47% năm 2006 xuống 31,2% năm 2009; thiếu đói cơ bản không còn

nhưng tỷ lệ nghèo vẫn còn cao và là vấn đề khó giải quyết trong quãng thời gian ngắn

của tương lai Giữa các vùng, các dân tộc thiếu số tỷ lệ nghèo và vấn đề đói nghèo

cũng khác nhau Vùng Tây Nguyên, đói nghèo tập trung chủ yếu ở người dân tộc bản

địa, trong khi miền núi phía Bắc phân bố ở tất cả các dân tộc thiếu số Nguyên nhân

nghèo chính vẫn là thiếu trình độ kỹ thuật canh tác, đất sản xuất, vốn đấu tư… [15]

1.2 Tình hình và các hình thức trồng rừng

1.2.1 Trên thế giới

Trên toàn thế giới, ước tính có khoảng 3.870 triệu ha rừng, trong đó 95% là rừng tự nhiên và 5% là rừng trồng Trong những năm trở lại đây, diện tích rừng trồng

tăng nhanh và liên tục qua các năm Cụ thể, từ năm 2005 – 2010, diện tích rừng trồng

trên thế giới tăng khoảng 5 triệu ha/năm Diện tích rừng trồng mới chủ yếu ở các quốc

gia như Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ Ở khu vực Đông Nam Á thì Việt Nam là một

trong những quốc gia có tốc độ gia tăng về diện tích rừng trồng lớn nhất [13]

1.2.2 Ở Việt Nam

Diện tích rừng trồng đã tăng lên nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu và cung cấp khoảng 50% tổng sản lượng gỗ trên toàn thế giới Tổ chức Nông nghiệp và Lương

thực thế giới (FAO) ước tính rằng tổng diện tích rừng trồng đến năm 2005 khoảng 140

triệu ha (FAO 2006), bình quân mỗi năm tăng khoảng 3 triệu ha Ở Việt Nam, diện

tích rừng trồng cũng tăng lên rất nhanh từ 1 triệu ha năm 1990 lên 2,7 triệu ha năm

2005, nằm trong tốp 10 các nước (đứng thứ 9 thế giới và thứ 3 Đông Nam Á) có diện

tích rừng trồng lớn nhất thế giới Đây là kết quả của sự đổi mới trong chính sách phát

triển lâm nghiệp đã thúc đẩy trồng rừng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh trên

cơ sở tận dụng tối đa lợi thế so sánh cấp quốc gia Những chính sách quan trọng có thể

kể đến là: Luật đất đai, Luật BV&PTR; các Nghị định 01/CP; 02/CP; 163/CP về việc

giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp Bên cạnh đó là các chính sách đầu tư, tín dụng như

luật Khuyến khích đầu tư trong nước như: Nghị định 43/1999/NĐ-CP, Nghị định

50/1999/NĐ-CP,… Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2007 của

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn

2006 – 2020 [24]

Kết quả kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng liên tục, năm 2008 là 2,8 tỷ USD và tập trung chủ yếu ở các vùng trọng điểm như: Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh,

Đồng Nai, Bình Định, Quảng Trị, vùng Tây Nguyên và Đông Bắc Bộ (Phú Thọ, Yên

Bái, Tuyên Quang và một số tỉnh lân cận khác) Những vùng này đã chế biến thành

các sản phẩm gỗ xuất khẩu và đồng thời cung cấp một khối lượng lớn gỗ rừng trồng

cho nhu cầu nguyên liệu giấy, gỗ trụ mỏ, gỗ xẻ đồ mộc và xây dựng Tuy nhiên, lượng

Trang 15

gỗ nguyên liệu phải nhập khẩu “ròng” gia tăng trong nhiều năm qua theo kim ngạch

xuất khẩu, chiếm gần 80% nhu cầu sản xuất trong nước bởi sự thiếu vắng nguồn cung

cấp gỗ nguyên liệu trong nước mà mỗi người trồng rừng là tác nhân quan trọng của

chuỗi hàng hóa gỗ rừng trồng [24]

Ở Việt Nam, việc trồng rừng chủ yếu dựa trên các phương thức:

Mô hình 1: Trồng cây mọc nhanh, chu kỳ ngắn, cung cấp gỗ nhỏ cho

nguyên liệu: dăm, giấy, ván sợi Mô hình này được trồng trên đất tốt, đất trung bình

và đất xấu nhưng có điều kiện làm đất (cày ngầm sâu 40-60cm)

Mô hình 2: Trồng cây mọc nhanh, chu kỳ ngắn cung cấp gỗ nhỏ kết hợp chu

kỳ dài cung cấp gỗ lớn Mô hình này được trồng chủ yếu trên đất tốt và đất trung

bình có điều kiện thâm canh

Mô hình 3: Trồng cây gỗ lớn thuần loài Mô hình này được trồng chủ yếu

trên đất tốt, còn tính chất đất rừng

Mô hình 4: Trồng cây mọc nhanh, chu kỳ ngắn xen cây nông nghiệp trong 2

năm đầu đạt năng suất cao Mô hình này được thực hiện trên đất tốt, độ dốc dưới

10 độ [14]

1.2.3 Ở Thừa Thiên Huế

Theo báo cáo KT-XH tỉnh Thừa Thiên Huế, đến cuối năm 2014, diện tích rừng trồng trên toàn tỉnh ước đạt 4.300 ha [19]

Trồng rừng ở Thừa Thiên - Huế ngoài ý nghĩa phòng hộ, rừng còn mang lại nguồn lợi kinh tế rất lớn, tăng thu nhập cho người dân Phong trào trồng rừng ở Thừa

Thiên - Huế phát triển mạnh, địa phương nào cũng cảm thấy thiếu đất để trồng rừng

Bằng chứng là gần đây, tỉnh Thừa Thiên - Huế phải ra quyết định thu hồi gần 50 nghìn

ha rừng và đất rừng trong tổng số hơn 205 nghìn ha của bốn lâm trường (nay là công

ty lâm nghiệp), sáu ban quản lý rừng phòng hộ để giao cho địa phương và dân quản lý,

trồng rừng Điển hình, Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Đông giao lại gần 9.819 ha

đất rừng trong tổng số hơn 41.710 ha rừng và đất rừng đơn vị đang quản lý nhưng

không sử dụng hết cho các xã Thượng Nhật, Hương Sơn, Thượng Long (thuộc huyện

Nam Đông) để phân bổ cho dân trồng rừng Tại xã Lộc Hòa (huyện Phú Lộc) có 494

ha rừng nằm trong khu vực bảo vệ của Vườn quốc gia Bạch Mã Bên cạnh đó có thêm

345 ha rừng thuộc Công ty TNHH nhà nước một thành viên lâm nghiệp Phú Lộc quản

lý, nên diện tích rừng còn lại giao cho các hộ dân rất ít Tương tự, tại xã Xuân Lộc

cũng nằm trong tình trạng trên, người dân không có đất rừng để trồng và phát triển

kinh tế rừng Trong khi đó, vẫn còn nhiều diện tích rừng ở các lâm trường A Lưới,

Tiền Phong, Phong Điền cũng đang trong tình trạng tương tự, cần được tiến hành giao

thêm đất cho dân trồng rừng, tránh lãng phí tài nguyên rừng và đất rừng [25]

Trang 16

Điều có ý nghĩa hơn cả trong việc trồng rừng ở Thừa Thiên Huế hiện nay là tỉnh

đã xác định và xây dựng được bộ giống cây trồng thích hợp để trồng rừng kinh tế gồm:

keo lá tràm, keo lưỡi mác, keo tai tượng, keo lai, phi lao, thông nhựa, cây sao, dầu,

huỷnh và một số cây bản địa có ở rừng tự nhiên trong toàn tỉnh Thay vì trồng cây

bạch đàn như trước đây, hiện các địa phương, hộ dân trong tỉnh đã chuyển toàn bộ

diện tích sang trồng các loại cây trồng nói trên Tính ra, cứ một ha rừng cây keo, chi

phí bỏ ra ban đầu không quá 7 triệu đồng, sau từ 5 đến 7 năm cho thu hoạch từ 20 đến

40 triệu đồng/ha Đầu ra của cây keo hiện nay lại hết sức thuận lợi, cung cấp gỗ làm

nhà, làm đồ gia dụng, bàn ghế học sinh, và nguyên liệu dăm giấy cho xuất khẩu Chính

điều này góp phần thúc đẩy tích cực việc trồng rừng ở Thừa Thiên - Huế Hiện tại, mỗi

năm, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã thu mua và chế biến xuất khẩu khoảng 140 nghìn m3

gỗ dăm sang thị trường Nhật Bản và Trung Quốc Năm 2008, giá trị xuất khẩu từ dăm

gỗ ở Thừa Thiên - Huế đạt 12 triệu USD Hiện mỗi năm Thừa Thiên - Huế gieo ươm

được từ 10 triệu đến 12 triệu cây con, thỏa mãn nguồn giống tại chỗ phục vụ cho việc

trồng rừng [25]

Bên cạnh đó, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã đẩy mạnh công tác xã hội hóa nghề rừng, tiến hành giao đất, giao rừng cho dân quản lý để góp phần nâng cao ý thức tự

giác của người dân trong việc bảo vệ và làm giàu vốn rừng Đến nay, tỉnh Thừa Thiên

Huế đã giao được 59.100 ha rừng và đất lâm nghiệp cho 167 đơn vị và 12.003 hộ nhận

chăm sóc và quản lý Có 10 xã thuộc bốn huyện Nam Đông, A Lưới, Phú Lộc, Phong

Điền xây dựng mô hình nhận quản lý, chăm sóc bốn nghìn ha rừng tự nhiên theo cộng

đồng thôn bản và nhóm hộ, với phương châm "lấy rừng nuôi rừng, lấy rừng nuôi dân",

người dân được hưởng lợi từ việc khai thác gỗ rừng theo quy định của UBND tỉnh,

thay vì đầu tư kinh phí từ ngân sách như trước đây, nên được nhân dân đồng tình ủng

hộ cao, rừng ngày càng xanh tốt Huyện Phú Lộc đã có 3.550 hộ nhận khoán bảo vệ và

sử dụng có hiệu quả trên diện tích 5.467 ha rừng Hạt kiểm lâm huyện đã vận động

nhân dân nhận đất trống, đồi núi trọc xây dựng được 59 trang trại, với tổng diện tích

1.666 ha để làm vườn rừng, kết hợp với sản xuất nông lâm nghiệp mang lại lợi ích

kinh tế cao, góp phần xóa đói, giảm nghèo [25]

1.2.4 Ở Nam Đông

Tài nguyên rừng Nam Đông khá phong phú, đất lâm nghiệp chiếm tới 75,06%

diện tích đất tự nhiên Tuy nhiên, phát triển rừng trồng sản xuất chưa tương xứng với

tiềm năng, vị thế và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương Diện tích rừng

trồng mới chỉ chiếm 26% diện tích rừng và 8,1% diện tích đất lâm nghiệp toàn huyện

Đặc biệt hơn, đất chưa sử dụng được quy hoạch cho sản xuất lâm nghiệp nhiều gấp 1,6

lần diện tích rừng trồng hiện có, đây là tiềm năng lớn của huyện cần khai thác [4]

Trong những năm gần đây, hoạt động trồng rừng sản xuất của các hộ gia đình có

Trang 17

xu hướng phát triển mạnh đã làm cho diện tích rừng trồng liên tục tăng từ năm 2006

với mức tăng bình quân 105 ha/năm, đưa cơ cấu loại rừng này từ 7,5% năm 2006 lên

8,7% năm 2010 Một trong những yếu tố quan trọng là công tác giao đất, giao rừng cho

hộ gia đình, cộng đồng quản lý sử dụng đã thúc đẩy, tạo cơ hội cho rừng trồng sản xuất

phát triển Nếu năm 2006 nhóm đối tượng này chỉ quản lý 2,5% diện tích đất lâm

nghiệp thì con số này của năm 2010 đã lên tới 39,3% Hiện nay, theo số liệu khảo sát

các hộ trồng rừng, mỗi hộ nắm giữ 2,3 ha đất rừng sản xuất Đây là tiền đề quan trọng

cho việc phát triển nghề rừng đối với các hộ gia đình trong thời gian tới Tuy nhiên, có

sự chênh lệch khá lớn về quy mô diện tích rừng trồng sản xuất giữa hộ người Kinh (3,1

ha/hộ) và hộ đồng bào dân tộc ít người (1,5 ha/hộ) [4]

1.3 Vai trò và hiệu quả trồng rừng

1.3.1 Vai trò trồng rừng

Việc trồng rừng kinh tế, đặc biệt là rừng keo hiện nay đã và đang đem lại nhiều giá trị về mặt kinh tế và xã hội Theo Trần Duy Rương (2013), thì cây keo là cây có

khả năng sinh trưởng tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân, tạo được công ăn

việc làm, góp phần vào việc phủ xanh đất trống đồi trọc, cải thiện môi trường Trồng

keo đã tạo ra nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp giấy, ván dăm và

phục vụ xuất khẩu Sau 7 năm trồng, doanh thu được từ 62,68 – 98,79 triệu đồng/ha

chưa trừ chi phí và lãi suất Ngân hàng Lợi nhuận ròng dao động từ 21,62 – 43,54 triệu

đồng/ha, trung bình là 33,48 triệu đồng/ha [12]

Bên cạnh đó, xét trên khía cạnh xã hội và môi trường thì trồng keo càng thể hiện được vai trò đặc biệt quan trọng khi giúp người dân có thêm việc làm, thu nhập

được tăng lên, hạn chế được tình trạng phá rừng, phá tài nguyên, góp phần ổn định đời

sống của người dân

Theo nghiên cứu của Phan Văn Hòa (2010) về tác động của trồng keo đến việc tạo ra việc làm cho người dân tại tỉnh Bình Định đã chỉ ra rằng: “Số công lao động tạo

ra trên 1 ha rừng trồng trong một chu kỳ kinh doanh trung bình của người dân là 215,1

công/ha, bình quân là 30,7 công/ha/năm”

Ngoài ra, việc trồng keo còn giúp nâng cấp và phát triển mạng lưới giao thông,

cơ sở hạ tầng ở nhiều địa phương trên toàn quốc Cũng theo Phan Văn Hòa, qua công

tác trồng rừng tại các huyện Vân Canh, Tuy Phước và Quy Nhơn tỉnh Bình Định sau 6

- 7 năm trồng rừng, hệ thống đường giao thông từ khu trung tâm xã đến các thôn nơi

có rừng trồng đã được cải thiện đáng kể Kết thúc chu kỳ kinh doanh lần thứ nhất làm

mới được 30 km đường giao thông vào các thôn, sửa chữa và làm mới được 11 cây

cầu, trong đó có 3 cầu bán kiên cố và 8 cây cầu tạm, bảo đảm phục vụ được nhu cầu

giao thông đi lại của người dân [8]

Trang 18

1.3.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả trồng rừng

Để đánh giá hiệu quả kinh tế của rừng trồng keo, tôi sử dụng công thức tính giá trị hiện tại thuần để tính toán

1 ( 1 )

Trong đó: Bt là giá trị thu nhập ở thời điểm t

Ct là chi phí ở thời điểm t

i là lãi suất thanh toán

n là chu kỳ kinh doanh tính theo năm Các số liệu về thu nhập và chi phí từ trồng keo được xác định dựa vào kết quả điều tra nông hộ qua các năm và được tính toán riêng cho từng hộ trên phần mềm

Excel sau đó lấy kết quả trung bình Do đặc trưng của địa phương là một vùng miền

núi, người dân ở đây tiếp cận với nguồn tín dụng chủ yếu thông qua Ngân hàng Chính

sách xã hội nên lãi suất thanh toán dùng để tính toán hiệu quả trồng keo trong giai

đoạn này được lấy ở mức bình quân là 6,5%/năm [8]

1.3.3 Hiệu quả kinh tế của trồng rừng

a Ở Phú Lộc

Kết quả điều tra của Phan Văn Hòa và các cộng sự (2010) cho thấy: Trong năm

2009, diện tích rừng trồng thương mại bình quân mỗi hộ là 4,25 ha, với số lao động

bình quân/hộ là 3,12 lao động Lực lượng lao động gia đình như vậy là không lớn

nhưng đảm bảo để hộ có thể tổ chức sản xuất và quản lý diện tích rừng trồng của gia

đình Qua điều tra cho thấy, phần lớn rừng trồng ở các xã điều tra của huyện Phú Lộc

trồng hai loại cây chính là keo tai tượng và keo lai Nguyên nhân chính là do nhu cầu

thị trường về gỗ nguyên liệu cho các nhà máy chủ yếu chế biến gỗ dăm để làm giấy, đồng

thời cây keo có thời gian sinh trưởng ngắn, dễ chăm sóc, phù hợp với điều kiện đất đai và

khí hậu ở đây, đặc biệt là keo tai tượng là loại rễ cọc, thân chắc khỏe, ít bị đổ gãy khi có

gió bão [9]

Kết quả phân tích số liệu điều tra Phan Văn Hòa và các cộng sự (2010) cho thấy

tỷ lệ chiết khấu được tính theo lãi suất cho vay ưu đãi đối với trồng rừng thương mại ở

Phú Lộc là 6,5%/năm Bình quân 1 ha trồng rừng trong 5 năm hộ phải đầu tư một

khoản chi phí trung gian hơn 5,5 triệu đồng đối với keo lai và hơn 3,9 triệu đồng đối với

keo tai tượng Sau khi trừ chi phí trung gian, bình quân 1 ha rừng trồng, hộ tạo ra một

lượng giá trị gia tăng là 22,08 triệu đồng đối với keo lai và 16,99 triệu đồng đối với keo

tai tượng Bình quân hộ bỏ ra 1 đồng chi phí trung gian/1 ha để trồng keo lai, sau 5 năm

sẽ thu được 4,99 đồng giá trị sản xuất và 3,99 đồng giá trị gia tăng Tương tự, kết quả

Trang 19

tính toán cũng cho thấy, đối với keo tai tượng các giá trị tương ứng là 5,27 đồng và 4,27

đồng Như vậy, xét về mặt hiệu quả kinh tế theo giá trị sản xuất và giá trị gia tăng thì

trồng keo tai tượng cho hiệu quả cao hơn trồng keo lai Nguyên nhân chính là do hộ

trồng keo lai hai năm đầu đầu tư nhiều chi phí vật chất, đặc biệt là giống và phân bón,

trong khi đó công lao động chủ yếu của gia đình nên hiệu suất giá trị sản xuất và giá trị

gia tăng theo chi phí trung gian thấp hơn các hiệu suất đó của keo tai tượng Tuy nhiên,

xét các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế theo lợi nhuận ròng, tỷ suất thu nhập và chi phí thì

ngược lại Đối với keo lai, giá trị NPV và BCR cao hơn nhiều so với các giá trị này

của keo tai tượng Bình quân 1 ha keo lai lợi nhuận ròng hộ thu được sau 5 năm đầu tư

là 20,6 triệu đồng, cao hơn nhiều so với đầu tư 1 ha keo tai tượng chỉ đạt 15,6 triệu

đồng Nếu xét tỷ suất thu nhập và chi phí BCR ta thấy, hệ số này của keo lai là 2,3 và

của keo tai tượng là 2,1 Điều này nói lên rằng, hộ bỏ ra 1 triệu đồng để trồng rừng keo

lai hoặc keo tai tượng, sau 5 năm sẽ thu được 2,3 triệu đồng hoặc 2,1 triệu đồng tương

ứng Đây là mức thu nhập cao so với nhiều ngành sản xuất trong nông nghiệp hiện nay,

đặc biệt ở những địa phương như Phú Lộc Đây là cơ hội lớn để người dân nơi đây đầu

tư trồng rừng, khai thác có hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là đất đai và lao động [9]

b Ở Nam Đông

Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tài Phúc và các cộng sự (2012) về trồng rừng sản xuất quy mô hộ ở huyện Nam Đông cho thấy loài cây trồng cho mục đích

rừng sản xuất chủ yếu là keo tai tượng và keo lai, một số ít hộ trồng bạch đàn Theo

kết quả khảo sát ngẫu nhiên 93 hộ trồng rừng đã khai thác thì có tới 70% hộ trồng keo

tai tượng, 27% trồng keo lai và 3% trồng bạch đàn Vì vậy, trong các phân tích tiếp

theo các tính toán chỉ tập trung vào hai nhóm chủ lực là keo tai tượng và keo lai [4]

Theo kết quả khảo sát, chi phí trồng rừng sản xuất bình quân 15 triệu đồng/ha

Đặc biệt, có sự khác biệt rất lớn giữa nhóm hộ người dân tộc Kinh và nhóm hộ đồng

bào dân tộc ít người với mức tương ứng là 17,2 triệu đồng/ha đối với hộ người Kinh và

9 triệu đồng/ha đối với hộ đồng bào dân tộc ít người

Xét theo các hạng mục chi phí, chi phí khai thác chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm 63% tương ứng 9,4 triệu đồng/ha Các chi phí này phát sinh vào thời điểm khai thác

nên tính chiếm dụng vốn không cao Nhóm chi phí tiếp theo là chi phí trồng rừng năm

thứ nhất, với mức 3,4 triệu đồng, nhóm này chiếm 23% tổng chi phí toàn chu kỳ Tuy

không phải là nhóm chi phí lớn nhất nhưng lại có ảnh hưởng quyết định tới năng

suất, sản lượng rừng Đây là mức chi phí rất thấp so với định mức của của cơ quan

chức năng cũng như một số địa phương lân cận như huyện Phú Lộc [4]

Kết quả và hiệu quả trồng rừng sản xuất, thu nhập hỗn hợp của người trồng rừng thu được trên một ha đất là 13,4 triệu đồng Các khoản chi phí mua, thuê ngoài của

hoạt động trồng rừng thấp, chỉ chiếm 13,2% giá trị sản xuất, nếu xét tổng chi phí mua,

Trang 20

thuê ngoài – bao gồm cả hoạt động khai thác, con số này là 48,1% Có nghĩa rằng thu

nhập hỗn hợp mà người trồng rừng thu được chiếm tỷ lệ cao Tuy nhiên, do chu kỳ

kinh doanh dài trong khi chi phí tập trung ở đầu kỳ và doanh thu chỉ phát sinh một lần

ở cuối chu kỳ đã làm cho chỉ tiêu tài chính quan trọng là NPV không cao, chỉ đạt 6,6

triệu đồng/ha và tương tự chỉ tiêu giá trị san đều hàng năm PMT chỉ 1,7 triệu

đồng/ha/năm Như đã phân tích ở trên, đa số các khoản chi phí đều do lao động gia

đình bỏ ra, trong khi đó các giá trị này đã bị loại ra khỏi các chỉ tiêu NPV và PMT

Ngoài ra, hiệu quả sử dụng vốn của trồng keo khá cao, BCR là 2,14 lần, điều này càng

khẳng định đây là hoạt động phù hợp với người ít vốn Mặt khác IRR đạt 48,7% cũng

thể hiện tính an toàn (về mặt tài chính) trong đầu tư (tuy nhiên chỉ tiêu này không bao

hàm ý nghĩa an toàn về thiên tai) [4]

1.4 Thu nhập của nông hộ miền núi

1.4.1 Thu nhập của nông hộ

Theo Tổng cục Thống kê: Thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong

thời gian 1 năm

Thu nhập của hộ bao gồm:

+ Thu nhập từ tiền công, tiền lương;

+ Thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất);

+ Thu nhập từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất);

+ Thu khác được tính vào thu nhập như thu cho biếu, mừng, lãi tiết kiệm…

Các khoản thu không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên

kết trong sản xuất kinh doanh …

Thu nhập bình quân đầu người 1 năm được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ dân cư chia cho số nhân khẩu của hộ trong năm

Công thức tính:

+ Thu nhập bình quân 1 người 1 năm (nghìn đồng) = Tổng thu nhập trong năm của hộ/Tổng số người trong hộ

+ Chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập và cơ cấu thu nhập của các tầng lớp dân cư

để đánh giá mức sống, phân hoá giàu nghèo, tính tỷ lệ nghèo làm cơ sở cho hoạch định

chính sách nhằm nâng cao mức sống của nhân dân, xoá đói giảm nghèo [11]

Trang 21

Ở huyện Nam Đông, do nguồn thu của nông hộ rất đa dạng và có chu kỳ sản xuất dài nên việc hạch toán thu nhập của nông hộ là khá phức tạp, đặc biệt là việc hạch toán

thu nhập từ cây cao su Việc tính toán thu nhập từ cây cao su được dựa trên công thức:

Thu nhập = Doanh thu – Tổng chi phí

 Doanh thu (GO): Là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ do lao động sản xuất

xã hội tạo ra trong một kỳ nhất định, thông thường là một năm

GO = P x Q Trong đó: P: giá bán/kg mủ cao su

Q: sản lượng mủ cao su

 Tổng chi phí sản xuất (TC): là toàn bộ các hao phí về vật chất, dịch vụ và lao

động đã đầu tư cho tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh trong chu kỳ sản xuất [22]

Tuy nhiên, để đơn giản hóa việc tính toán thu nhập từ cây cao su, việc tính toán chi phí sản xuất cây cao su trong một chu kỳ căn cứ vào kết quả đã được công bố ở

bảng 1.1, còn doanh thu được tính toán dựa vào kết quả điều tra hộ về giá bán và sản

lượng qua các năm

Bảng 1.1: Chi phí sản xuất cao su của nông hộ huyện Nam Đông năm 2013

Chỉ tiêu

BQ/ha BQ/hộ BQ/ha BQ/hộ

+ Chi phí khấu hao thời kỳ KTCB (20 năm) 3.116 4.144 2.981 2.772

+ Chi phí thời kỳ kinh doanh BQ/năm 23.383 31.099 22.219 20.664

Nguồn: Võ Thuận – Luận văn Thạc sỹ nông nghiệp [22]

1.4.2 Khái niệm nghèo và chuẩn nghèo

Cho đến nay, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức về nghèo đói song có nhiều quan điểm về nghèo đói đang được các quốc gia thừa nhận:

Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được

đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp

để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không

an toàn, không có quyền và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng

Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện

rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” [1]

Trang 22

Còn tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 09 năm 2013, các quốc

gia đã thống nhất cao rằng: “Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả

năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc

vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những

phong tục ấy được xã hội thừa nhận”

Để xác định được được ai là người nghèo (hoặc không nghèo) để thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của nhà nước, nhằm đảm bảo công bằng trong thực hiện

các chính sách giảm nghèo; người ta đã đưa ra một thước đo đó là “chuẩn nghèo” [1]

Theo đó, Quyết định số 09/2011/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ đã quy định chuần hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 như sau:

+ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống

+ Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống

+ Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng

+ Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng [5]

Hiện nay, để việc đánh giá hộ nghèo đảm bảo được tính toàn diện, không chỉ dựa trên việc đánh giá về mức thu nhập nhưng còn đánh giá về các dịch vụ xã hội

khác, do đó khái niệm Chuẩn nghèo đa chiều được áp dụng Theo quyết định số

59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra các tiêu chí tiếp cận đo lường và

chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 như sau:

Điều 1 Các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020

1 Các tiêu chí về thu nhập a) Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị

b) Chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị

2 Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản a) Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và

vệ sinh; thông tin;

Trang 23

b) Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số):

tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi

học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước

sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp

cận thông tin [7]

Điều 2 Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016-2020

1 Hộ nghèo a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội

cơ bản trở lên

b) Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội

cơ bản trở lên

2 Hộ cận nghèo a) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu

hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp

cận các dịch vụ xã hội cơ bản

3 Hộ có mức sống trung bình a) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng

b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng [7]

1.4.3 Thực trạng nghèo và thu nhập của nông hộ miền núi

a Miền núi cả nước

Người nghèo ở sống ở nông thôn và chủ yếu là nông dân với trình độ học vấn thấp và khả năng tiếp cận thông tin và các kỹ năng bị hạn chế Năm 1998, gần 4/5

Trang 24

người nghèo thuộc hộ làm nông Dù hiện nay tỷ lệ nghèo đã giảm đáng kể nhưng

nhiều nhân tố đặc trưng cho người nghèo thập kỷ 90 vẫn tiếp tục đặc trưng cho người

nghèo hiện nay Đó là việc phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp tự cung tự cấp, bị cô lập

về vị trí địa lý và xã hội, những bất lợi đặc trưng liên quan tới đặc điểm dân tộc, dễ bị

tổn thương trước thiên tai và rủi ro Những người thoát nghèo được học hành tốt hơn

và thu được nhiều kỹ năng nghề nghiệp hơn, ngành nghề cũng đa dạng hơn, không chỉ

ở lĩnh vực nông nghiệp mà chuyển sang lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, đồng thời mức

độ dễ bị tổn thương trước những khó khăn thời vụ và các cú sốc cũng giảm nhờ đa

dạng hóa thu nhập và di cư [20]

Theo báo cáo năm 2010, có khoảng 20,7% dân số nghèo và 8% nghèo cùng cực (bảng 1.2) Nghèo vẫn là hiện tượng phổ biến ở nông thôn Việt Nam – trên 90% người

nghèo và 94% người nghèo cùng cực sống ở nông thôn

Bảng 1.2: Tỷ lệ và cơ cấu nghèo, theo vùng và theo khu vực

Nghèo Nghèo cùng cực

Tỷ lệ nghèo (%)

Tỷ trọng trong tổng số (%)

Tỷ lệ nghèo (%)

Tỷ trọng trong tổng số (%)

Tỷ trọng trong tổng

số dân (%)

Trang 25

Qua bảng 1.2 ta thấy, những vùng núi cao luôn là những vùng có tỷ lệ nghèo cao nhất Cụ thể như tỷ lệ nghèo ở vùng miền núi Đông Bắc, miền núi Tây Bắc và Tây

Nguyên lần lượt chiếm đến 37,7%, 60,1% và 32,8% trong tổng nghèo của cả nước là

20,7% Tương tự, tỷ lệ nghèo cùng cực ở ba khu vực cũng chiếm tỷ lệ cao tương ứng

là 17,9%, 36,5% và 17,0% trong tỷ lệ nghèo cùng cực của toàn quốc là 8,0%

Bên cạnh đó, đa số người nghèo ở Việt Nam vẫn là nông dân: 32,9% hộ nông nghiệp dưới chuẩn nghèo, tỷ lệ này gấp ban lần tỷ lệ nghèo toàn quốc, và các hộ nông

nghiệp chiếm 65% số hộ nghèo (và 73% hộ nghèo cùng cực) so với tỷ trọng chỉ 41%

của họ trong tổng dân số (bảng 1.3) Các hộ nông nghiệp cũng chiếm phần lớn trong

khoảng cách nghèo và mức độ trầm trọng của tình trạng nghèo [20]

Bảng 1.3: Tỷ lệ và cơ cấu nghèo, theo lĩnh vực ngành nghề của chủ hộ

Nghèo Nghèo cùng cực

Tỷ lệ nghèo (%)

Tỷ trọng trong tổng

số (%)

Tỷ lệ nghèo (%)

Tỷ trọng trong tổng

số (%)

Tỷ trọng trong tổng

Làm công ăn lương trong các ngành:

Nguồn: Valerie Kozel và CTV (2012) [20]

b Miền núi Thừa Thiên Huế, Nam Đông

Theo báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, đến cuối năm 2015

tỷ lệ hộ nghèo ở tỉnh Thừa Thiên Huế ước còn 4,7%, giảm 0,6% so với năm 2014

(5,3%) [19]

Trang 26

Còn ở huyện Nam Đông, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn cũ giảm của huyện năm

2015 chỉ còn dưới 7%; qua rà soát đánh giá hộ nghèo theo chuẩn mới, đa chiều thì tỷ

lệ hộ nghèo tăng lên gấp đôi, cụ thể toàn huyện có 900 hộ nghèo (tăng lên 14,5%) và

499 hộ cận nghèo (tăng lên 8,04%) Khó khăn nhất của Nam Đông hiện nay trong việc

giảm nghèo bền vững là về tiêu chí thu nhập và nước sinh hoạt, đây cũng là tiêu chí

khó khăn nhất trong việc xây dựng huyện đạt chuẩn nông thôn mới Các xã có tỷ lệ hộ

nghèo cao (Thượng Long, Thượng Quảng, Thượng Nhật, Hương Hữu) đều không đảm

bảo về tiêu chí nước sinh hoạt hợp vệ sinh Đặc biệt vào mùa khô và mùa hè, các khe

suối khô cạn, giếng nước đào không có nước, không chỉ gây khó khăn cho người dân

trong sinh hoạt hàng ngày mà còn ảnh hưởng đến sản xuất làm cho cuộc sống của

người dân lại càng khó khăn, thiếu thốn hơn Để đảm bảo tính bền vững thì cần một

nguồn lực khá lớn, chỉ riêng với nước sạch cho 5 xã này phải cần nguồn đầu tư trên 40

tỷ đồng, vượt khả năng ngân sách huyện, vì vậy rất cần sự quan tâm đầu tư của tỉnh và

các sở, ngành [16]

Qua kiểm tra thực tế 6 hộ gia đình ở 2 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao của Nam Đông

là xã Thượng Long (235 hộ nghèo) và Hương Hữu (255 hộ nghèo), các hộ nghèo đều

ở dạng mức nghèo khác nhau, nhưng chủ yếu là không đáp ứng theo tiêu chí điều kiện

sống như về chất lượng nhà ở, nước sinh hoạt, nhà tiêu hợp vệ sinh và mức thu nhập

Theo báo cáo của chính quyền địa phương, các xã này chủ yếu là đồng bào dân tộc

thiểu số, phong tục tập quán còn lạc hậu nên hầu hết các hộ gia đình chỉ làm nhà tiêu

tạm bợ và gần nhà ở nên không đảm bảo vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường và dễ phát

sinh dịch bệnh [16]

1.5 Yêu cầu phát triển sản xuất và tăng thu nhập người dân trong xây dựng NTM

1.5.1 Các tiêu chí về tăng thu nhập và giảm nghèo trong xây dựng NTM

Nội dung của tiêu chí về thu nhập (tiêu chí số 10) trong bộ tiêu chí về xây dựng NTM đã đưa ra những chỉ tiêu chung cho cả nước Trong đó, mức thu nhập bình quân

đầu người phải đạt 18 triệu đồng/người vào năm 2012; đến năm 2015 phải đạt 26 triệu

đồng/người và đến năm 2020 phải đạt 44 triệu đồng/người [6]

Đối với từng vùng miền và từng giai đoạn khác nhau thì gắn với một mức thu nhập bình quân đầu người, chỉ tiêu này do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

cùng với Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định, cụ thể:

Trang 27

Bảng 1.4: Quy định về mức thu nhập bình quân đầu người ở các vùng

Tên tiêu chí

Nội dung tiêu chí

Chỉ tiêu chung

Chỉ tiêu theo vùng

TDMN phía Bắc

Đồng bằng sông Hồng

Bắc Trung

bộ

Duyên hải Nam

TB

Tây Nguyên

Đông Nam

Bộ

ĐB Sông Cửu Long

Thu nhập

Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông

Nguồn: Nguyễn Tấn Dũng - Quyết định 342/QĐ-TTg [6]

Về tiêu chí giảm nghèo, những xã đạt tiêu chí về hộ nghèo là xã có tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống dưới 5% [2]

1.5.2 Yêu cầu và nội dung thực hiện các tiêu chí phát triển sản xuất và tăng thu nhập

a Yêu cầu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 10, 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới

- Nội dung 4: Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm

"mỗi làng một sản phẩm", phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương;

- Nội dung 5: Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động

nông thôn.[2]

Trang 28

1.5.3 Tình hình xây dựng NTM và triển khai thực hiện các tiêu chí phát triển sản

xuất, tăng thu nhập và giảm nghèo

a Trong nước

Tính đến hết tháng 11/2015, cả nước có 1.298 xã (14,5%) được công nhận đạt chuẩn NTM; số tiêu chí bình quân/xã là 12,9 tiêu chí (tăng 8,2 tiêu chí so với 2010); số

xã khó khăn nhưng có nỗ lực vươn lên (xuất phát điểm dưới 3 tiêu chí, nay đã đạt

được 10 tiêu chí trở lên) là 183 xã

Ở cấp huyện, đã có 11 đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định công nhận đạt chuẩn NTM là: Huyện Xuân Lộc, Thống Nhất, thị xã Long

Khánh (Đồng Nai), Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè (Thành phố Hồ Chí Minh), Đông Triều

(Quảng Ninh), Hải Hậu (Nam Định), Đơn Dương (Lâm Đồng), Đan Phượng (Thành

phố Hà Nội), thị xã Ngã Bảy (Hậu Giang)

Mức thu nhập bình quân đầu người vùng nông thôn đã đạt 24,4 triệu đồng/năm (tăng khoảng 1,9 lần so với năm 2010) [21]

b Ở Thừa Thiên Huế

Theo báo cáo của Văn phòng Điều phối NTM tỉnh Thừa Thiên Huế về tình hình xây dựng NTM đến ngày 31/12/2015 thì trên địa bàn toàn tỉnh đã có tổng cộng 20 xã

Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế: 81%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo:

56%; Tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh đạt trên 95% (trong đó,

vật chất, hạ tầng và đặc biệt là trên khía cạnh phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập

cho người dân Theo báo cáo đến cuối năm 2015, toàn huyện có 05/10 xã đã được

công nhận đạt chuẩn NTM bao gồm xã Hương Giang, Hương Hòa, Hương Phú,

Hương Lộc và Hương Sơn Các xã còn lại đều đạt từ 13/18 tiêu chí trở lên (do không

thực hiện tiêu chí “Chợ”) [18]

Trang 29

Thu nhập bình quân đầu người của huyện trong năm 2015 đạt 20,5 triệu đồng/người/năm, tăng 9,0% so với năm 2010 Tỷ lệ hộ nghèo trên toàn huyện giảm

mạnh, chỉ trong vòng 5 năm từ năm 2011-2015 đã xóa được 348 hộ nghèo, bình quân

tỷ lệ hộ nghèo còn 6,5%, giảm 8,87% so với cuối năm 2010; trong đó có 6 xã tỷ lệ hộ

nghèo dưới 5% (Hương Giang, Hương Hòa, Hương Lộc, Hương Phú, Hương Sơn và

Thượng Quảng).[18]

Trang 30

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Phạm vi nghiên cứu

* Về nội dung:

Nghiên cứu thu nhập của các nhóm hộ trong vùng trồng keo trọng điểm và mức

độ hưởng lợi từ các giá trị mà trồng keo tạo ra đối với các nhóm hộ trồng keo và không

trồng keo, nhóm hộ khá và nhóm hộ nghèo, cận nghèo

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là thu nhập của nhóm hộ nghèo và không nghèo, nhóm

hộ có trồng keo và không trồng keo trong vùng trồng keo trọng điểm, qua đó đánh giá

vai trò tạo thu nhập của hoạt động trồng keo đối với các nhóm hộ

2.2 Nội dung nghiên cứu

Để đáp ứng mục tiêu đề tài, nội dung nghiên cứu tập trung vào:

- Nghiên cứu tình hình phát triển cây keo ở huyện Nam Đông về quy mô, số hộ, năm trồng, chu kỳ kinh doanh, những thuận lợi, khó khăn

- Nghiên cứu đặc điểm nguồn lực nông hộ về nhân khẩu, lao động, tài nguyên đất đai của hộ và các hoạt động sinh kế

- Nghiên cứu tình hình phát triển cây keo ở cấp nông hộ về quy mô, mức đầu tư, hiệu quả kinh tế

- Nghiên cứu thực trạng và cơ cấu thu nhập của các nhóm hộ trong vùng trồng keo trọng điểm

- Nghiên cứu vai trò tạo thu nhập của hoạt động trồng keo đối với nhóm hộ trồng keo và không trồng keo

- Nghiên cứu vai trò của hoạt động trồng keo đối với việc thực hiện các tiêu chí nông thôn mới

Trang 31

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Để có sự so sánh giữa các hình thức phát triển cây keo và đánh giá được giá trị

mà cây keo mang lại cho các nhóm hộ khác nhau, tôi chọn nghiên cứu hai xã nằm

trong vùng trồng keo trọng điểm, trong đó mỗi xã có hai cộng đồng người khác nhau,

cộng đồng người Kinh và cộng đồng người Cơ tu:

+ Xã Thượng Quảng: chọn thôn 6 đại diện cho cộng đồng người Kinh và thôn 4 đại diện cho cộng đồng người Cơ tu

+ Xã Thượng Nhật: chọn thôn 7 đại diện cho cộng đồng người Kinh và thôn 4 đại diện cho cộng đồng người Cơ tu

Nguồn: Phòng NN huyện Nam Đông (2015) [10]

Mẫu hộ điều tra được thu thập tại thôn 4 và thôn 6 của xã Thượng Quảng; thôn

4 và thôn 7 của xã Thượng Nhật Tại các thôn, mẫu hộ được lựa chọn như các tiêu chí

ở bảng 2.1, trong đó nhóm hộ trồng keo là 60 mẫu hộ, nhóm hộ không trồng keo là 40

mẫu hộ, ở mỗi nhóm gồm 50% mẫu hộ người Kinh và 50% mẫu hộ người Cơ tu Bên

cạnh đó, số lượng trong mỗi mẫu hộ còn được lựa chọn thông qua tỷ lệ hộ khá – trung

môn liên quan

Các số liệu được thu thập ở Trung tâm học liệu Đại học Huế, Thư viện trường Đại học Nông Lâm Huế, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện, Trạm Khuyến Nông

Lâm Ngư huyện, UBND xã và từ internet

Trang 32

2.3.3.2 Thu thập số liệu sơ cấp

- Phương pháp phỏng sâu: Sẽ phỏng vấn 06 người, trong đó cấp huyện phỏng phấn 02 người và cấp xã 04 người Để có thể thu thập được những thông tin sâu về vai

trò trồng keo trên địa bàn huyện, tôi chọn phỏng vấn các đối tượng có sự am hiểu sâu

và bao quát về tình hình trồng keo trên địa bàn huyện, giá trị của trồng keo trong cơ

cấu kinh tế huyện và thu nhập của hộ Cụ thể như sau:

+ Cấp huyện: Phỏng vấn Phó trưởng Phòng Nông nghiệp huyện, Trưởng Trạm Khuyến Nông Lâm Ngư huyện

+ Cấp xã: Mỗi xã phỏng vấn 02 người (Phó Chủ tịch UBND xã phụ trách mảng Kinh tế xã hội và Cán bộ Nông nghiệp xã)

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp các hộ theo phiếu điều tra đã thiết kế sẵn: Sẽ tiến hành phỏng vấn 100 hộ tại 02 xã đã chọn để thu thập các thông tin phục vụ cho

việc nghiên cứu

- Phương pháp thảo luận nhóm:

+ Số nhóm: 02 nhóm, số lượng 15-20 người/1 nhóm/1 xã để thảo luận, những người tham gia là những người trực tiếp tham gia vào các hoạt động trồng

keo tại địa phương

+ Nội dung thảo luận: Tác động của hoạt động trồng keo đối với việc thực hiện tiêu chí thu nhập và các tiêu chí liên quan khác trong NTM, các giải pháp nhằm nâng

cao mức độ hưởng lợi cho nhóm hộ nghèo, hộ có thu nhập thấp từ những giá trị mà

hoạt động trồng keo mang lại

2.3.4 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu

- Số liệu thứ cấp: Tổng hợp, chọn lọc thông tin có liên quan

- Số liệu sơ cấp:

+ Số liệu định tính: Tổng hợp, phân loại và so sánh

+ Số liệu định lượng: Xử lý bằng phần mềm Excel

2.3.5 Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp mô tả: Dùng các con số tuyệt đối, phần trăm, trung bình… để mô tả thực trạng và hiệu quả của hoạt động trồng keo, thu nhập của nông hộ

- Phương pháp so sánh: Là phương pháp nhằm đánh giá khả năng hưởng lợi cao hay thấp, ít hay nhiều giữa các nhóm hộ

Trang 33

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Tình hình phát triển rừng keo huyện Nam Đông, Thừa Thiên Huế

3.1.1 Đặc điểm cơ bản huyện miền núi Nam Đông

Nam Đông là huyện miền núi có địa hình tương đối phức tạp, phần lớn lãnh thổ

là đất núi đồi, còn lại rất ít bãi bồi ven sông suối Tổng diện tích đất tự nhiên trên địa

bàn huyện là 64.777,88 ha, trong đó phần lớn là đất dùng cho sản xuất nông lâm ngư

nghiệp chiếm đến 92,94% Do địa hình chủ yếu là đồi núi nên thế mạnh của huyện chủ

yếu là phát triển các loại cây lâm nghiệp và cây công nghiệp lâu năm trong đó có cây

keo Tổng diện tích đất cho phát triển lâm nghiệp là 55.305,67, chiếm đến 85,38%

tổng diện tích đất tự nhiên Ngoài ra, diện tích đất chưa sử dụng trên địa bàn huyện

còn khá lớn, chiếm đến 3,69% tổng diện tích đất tự nhiên Đây chính là điều kiện

thuận lợi để mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp, giúp người dân nâng cao thu nhập,

nhất là những người có thu nhập thấp

Huyện Nam Đông hiện tại gồm có 10 xã và 01 thị trấn (Xã Hương Phú, Hương Hòa, Hương Lộc, Hương Giang, Hương Hữu, Hương Sơn, Thượng Lộ, Thượng Nhật,

Thượng Long, Thượng Quảng và thị trấn Khe Tre) Tổng số hộ trên địa bàn huyện là

6.083 hộ, trong đó người Kinh chiếm 58,1% và người Cơ tu chiếm 41,9% Với trình

độ dân trí khá thấp so với mặt bằng chung của các huyện khác trên tỉnh Thừa Thiên

Huế nên việc phát triển kinh tế của trên địa bàn huyện gặp nhiều khó khăn, nhất là khi

đưa vào sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi đòi hỏi mức độ thâm canh và yêu cầu kỹ

thuật cao Tuy vậy, huyện vẫn có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế nhất là đội

ngũ lao động dồi dào, tổng số lao động trên địa bàn huyện là 15.831 người, chiếm

61,22% so với tổng dân số Bình quân lao động/hộ khá cao, tương đương 2,67 lao

động/hộ, đây chính là lực lượng nòng cốt tham gia vào sản xuất phát triển nông

lâm ngư nghiệp của hộ

Nhìn chung, huyện Nam Đông tuy là một huyện nghèo với trình độ dân trí của người dân còn thấp Tuy nhiên, lại hội tụ nhiều điều kiện như diện tích đất lâm nghiệp

dồi dào, số người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao trong tổng dân số Đây là tiềm

năng để huyện phát triển các loại cây công nghiệp và cây lâm nghiệp có giá trị mà đặc

biệt là cây keo, một loại cây không đòi hỏi trình độ thâm canh quá cao nhưng mang lại

nhiều giá trị kinh tế và xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho

người dân mà đặc biệt là đối với nhóm người nghèo

Trang 34

Bảng 3.1: Đặc điểm đất đai, lao động, nhân khẩu huyện Nam Đông

Số lượng

Cơ cấu (%)

Hộ

6.083 2.548

100 41,9

- Tổng số nhân khẩu + Tổng số khẩu người Cơ tu Người 25.859

11.340

100 43,9

Nguồn: Báo cáo của UBND huyện Nam Đông năm 2015 [3] [17]

3.1.2 Tình hình phát triển rừng keo trên địa bàn huyện Nam Đông và các xã

nghiên cứu

a Ở huyện Nam Đông

Cây keo được đánh giá là một trong những loại cây kinh tế chủ lực của huyện Nam Đông Trong những năm qua, cây keo trên địa bàn huyện không ngừng gia tăng

về quy mô và số hộ Sự tăng trưởng mạnh mẽ này bắt nguồn từ việc giá trị từ trồng keo

Trang 35

mang lại không ngừng tăng cao, giá cả và thị trường tiêu thụ ổn định, chi phí đầu tư

tương đối thấp và ít rủi ro Bên cạnh đó, việc một số loại cây chủ lực khác trên địa bàn

huyện như cây cao su không còn giữ được vị thế của mình càng làm cho quá trình phát

triển cây keo diễn ra mạnh mẽ hơn Qua bảng 3.2 ta thấy, diện tích keo tăng liên tục

qua các năm, trong đó tăng mạnh trong giai đoạn từ cuối năm 2011 đến cuối năm

2013, đây chính là giai đoạn cây cao su trên địa bàn huyện có sự sụt giảm mạnh về giá

Khi nguồn thu từ cây cao su không còn là thu nhập chính của hộ nữa thì người dân bắt

đầu chú ý hơn đến việc phát triển cây keo, họ chuyển đổi các diện tích đất cao su

không còn hiệu quả hoặc đất trồng các loại cây khác sang trồng keo Cùng với sự gia

tăng mạnh mẽ về quy mô, thì số hộ tham gia vào việc phát triển cây keo cũng không

ngừng gia tăng Trong giai đoạn từ năm 2011 – 2015 thì tỷ lệ hộ có trồng keo luôn

chiếm trên 60% tổng số hộ trên địa bàn huyện

Bảng 3.2: Tình hình phát triển rừng keo trên địa bàn huyện qua các năm

5.631 3.557 63,1

5.743 3.639 63,4

5.826 3.662 62,9

5.918 3.697 62,5

6.083 3.738 61,4

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Nam Đông năm 2015 [3]

Mặt khác, quá trình tích tụ đất trồng keo diễn ra mạnh mẽ khi những hộ có khả năng về kinh tế bắt đầu thuê lại hay mua lại các thửa đất keo của những hộ nghèo, hộ

có thu nhập thấp làm cho diện tích rừng keo bình quân/hộ tăng lên Chẳng hạn, diện

tích keo bình quân/hộ ở năm 2011 chỉ là 1,15 ha/hộ nhưng đến năm 2015 thì đã tăng

lên thành 1,21 ha/hộ Việc tích tụ này đã làm tăng hiệu quả sản xuất keo khi các hộ có

điều kiện thuận lợi hơn để đầu tư thâm canh, giảm chi phí chăm sóc và khai thác Tuy

nhiên, những sự thuận lợi này chỉ dành cho những hộ có quy mô trồng keo lớn, còn

đối với những hộ nghèo, hộ có thu nhập thấp thì điều này đồng nghĩa với việc họ mất

đi tư liệu sản xuất quý giá nhất là đất đai để phát triển trồng keo nhằm cải thiện và

nâng cao thu nhập Chính vì thế, mới làm nảy sinh vấn đề khi những lợi ích kinh tế từ

trồng keo tạo ra thì đối tượng hưởng lợi hầu hết là nhóm hộ khá, còn đối với nhóm hộ

nghèo thì sự hưởng lợi là rất ít và sự hưởng lợi của họ chủ yếu nhờ vào những công

việc được tạo ra từ hoạt động trồng keo

Trang 36

Hình 3.1: Diễn biến diện tích rừng keo của huyện Nam Đông qua các năm [3]

b Ở các xã nghiên cứu

Xem xét về đặc điểm và tình hình phát triển cây keo ở hai xã nghiên cứu là xã Thượng Quảng và xã Thượng Nhật, ta sẽ thấy được sự khác nhau về đặc điểm phát

triển cây keo giữa các nhóm hộ và giữa hai xã này khác nhau như thế nào Trước hết,

xét về quy mô thì hai xã này có tổng diện tích keo ở mức trung bình khi so sánh với

các xã khác trên địa bàn huyện, trong đó Thượng Nhật là xã có tổng diện tích keo lớn

hơn gần gấp đôi so với xã Thượng Quảng, lần lượt là 441,6 ha so với 271,3 ha Bên

cạnh đó, xét trên tiêu chí diện tích bình quân/hộ thì cũng xảy ra điều tương tự, diện

tích bình quân/hộ ở xã Thượng Nhật là 1,18 ha/hộ lớn hơn 0,02 ha/hộ so với diện tích

bình quân/hộ ở xã Thượng Quảng

Khi so sánh về phân loại các nhóm hộ trồng keo theo dân tộc, thì nhóm hộ người dân tộc Cơ tu chiếm tỷ lệ lớn hơn nhiều so với nhóm hộ người Kinh Ở xã

Thượng Nhật thì tỷ lệ hộ người Cơ tu có trồng keo chiếm 90,7% trong khi tỷ lệ này ở

nhóm hộ người Kinh chỉ là 9,3% Ở xã Thượng Quảng thì con số này lần lượt là

66,1% so với 33,9%

Ngoài ra, khi so sánh các nhóm hộ trồng keo theo phân loại hộ, thì có sự chênh lệch khá lớn về tỷ lệ giữa nhóm hộ nghèo và cận nghèo có trồng keo so với nhóm hộ

không nghèo có trồng keo Cụ thể, ở xã Thượng Nhật, trong khi tỷ lệ nhóm hộ nghèo

và cận nghèo có trồng keo chỉ chiếm 11,2% thì tỷ lệ nhóm hộ không nghèo có trồng

keo chiếm đến 88,8% Ở xã Thượng Quảng thì con số này lần lượt là 6,0% so với

94,0% Qua sự chênh lệch này có thể đánh giá được rằng, sự tham gia và hưởng lợi

20112012201320142015

Số hộ có trồng keo (hộ) Tổng diện tích (ha)

Trang 37

của nhóm hộ nghèo, cận nghèo vào việc phát triển rừng keo và nguồn thu từ trồng keo

mang lại là rất ít

Bảng 3.3: Tình hình phát triển rừng keo tại các xã nghiên cứu

Chỉ tiêu ĐVT Xã Thượng Nhật Xã Thượng Quảng

+ Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo có trồng keo + Tỷ lệ hộ không nghèo có trồng keo

Nguồn: Số liệu Phòng Nông nghiệp năm 2015 [10]

3.1.3 Giá trị sản xuất keo trong cơ cấu kinh tế huyện Nam Đông

Trong giai đoạn từ năm 2011-2015, tổng giá trị sản xuất trên địa bàn huyện luôn tăng qua các năm, tuy nhiên mức tăng này lại có sự khác nhau giữa hai giai đoạn

Ở giai đoạn đầu từ năm 2011-2012 thì tổng giá trị sản xuất tăng mạnh và có xu hướng

giảm dần bắt đầu từ năm 2013 cho đến nay Nguyên nhân chính làm cho tổng giá trị

sản xuất trên địa bàn huyện tăng chậm trong khoảng thời gian gần đây là do sự sụt

giảm nghiêm trọng về nguồn thu từ cây cao su Trong thời kỳ đầu khi giá mủ cao su

còn ở thời kỳ vàng son thì nguồn thu từ cây cao su đóng góp một phần rất lớn vào tổng

giá trị sản xuất của huyện Nhưng khi giá mủ cao su liên tục giảm trong những năm

gần đây thì sự đóng góp này bị sụt giảm nghiêm trọng khiến cho giá trị tổng sản xuất

trên địa bàn huyện tăng chậm lại Bên cạnh đó, tuy là một địa phương có nền kinh tế

chủ yếu vẫn dựa vào thế mạnh phát triển nông nghiệp nhưng giá trị mà sản xuất nông

nghiệp mang lại vẫn chưa cao, giá trị sản xuất nông nghiệp trong năm 2015 chỉ chiếm

39,26% tổng giá trị sản xuất, điều này vẫn chưa tương xứng với những thế mạnh mà

địa phương có được

Trang 38

Bảng 3.4: Cơ cấu kinh tế huyện Nam Đông và giá trị sản xuất keo

ĐVT: Triệu đồng/năm

Năm Giá trị SX

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Nam Đông năm 2015 [3]

Hình 3.2: Cơ cấu kinh tế huyện Nam Đông và giá trị sản xuất keo [3]

Trái với đà sụt giảm về giá trị của cây cao su, trong những năm qua, tỷ trọng từ trồng keo liên tục tăng và đóng góp một phần quan trọng trong cơ cấu kinh tế của

huyện Trong giai đoạn từ năm 2011-2015 thì tỷ trọng từ trồng keo luôn chiếm từ

10-0 500000 1000000 1500000

ĐVT: Triệu đồng

Trồng keo Nông nghiệp Thương mại - Dịch vụ Công nghiệp - Xây dựng Tổng giá trị sản xuất

Ngày đăng: 02/07/2021, 05:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ Lao động Thương binh và xã hội (2015), “Tờ trình đề nghị phê duyệt Đề án chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”, Số: 1568/2015/TTr-BLĐTBXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tờ trình đề nghị phê duyệt Đề án chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và xã hội
Năm: 2015
[3] Chi cục Thống kê huyện Nam Đông,”Niên giám thống kê năm 2011 đến 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Niên giám thống kê năm 2011 đến 2015
[4] Nguyễn Tài Phúc, Trần Minh Trí, Võ Vân Sơn (2012), “Trồng rừng sản xuất quy mô hộ ở huyện Nam Đông, mô hình hiệu quả và tiềm năng”, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, tập 72B, số 3, tr. 255-261 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trồng rừng sản xuất quy mô hộ ở huyện Nam Đông, mô hình hiệu quả và tiềm năng”
Tác giả: Nguyễn Tài Phúc, Trần Minh Trí, Võ Vân Sơn
Năm: 2012
[5] Nguyễn Tấn Dũng (2011), “Quyết định về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015”, Số: 09/2011/QĐ-TTg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015”
Tác giả: Nguyễn Tấn Dũng
Năm: 2011
[6] Nguyễn Tấn Dũng (2013), “Quyết định sửa đổi một số tiêu chí của bộ tiêu chí Quốc gia về NTM”, Số: 342/QĐ-TTg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định sửa đổi một số tiêu chí của bộ tiêu chí Quốc gia về NTM”
Tác giả: Nguyễn Tấn Dũng
Năm: 2013
[7] Nguyễn Tấn Dũng (2015), “Quyết định về việc ban hành chuẩn nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2015-2020”, Số: 59/2015/QĐ-TTg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc ban hành chuẩn nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2015-2020”
Tác giả: Nguyễn Tấn Dũng
Năm: 2015
[8] Phan Văn Hòa (2010), “Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội của việc trồng rừng keo lai làm nguyên liệu giấy tại một số địa phương tỉnh Bình Định”, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Tây Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội của việc trồng rừng keo lai làm nguyên liệu giấy tại một số địa phương tỉnh Bình Định”
Tác giả: Phan Văn Hòa
Năm: 2010
[9] Phan Văn Hòa, Nguyễn Đức Quân, Nguyễn Thanh Hùng (2010), “Hiệu quả kinh tế của rừng trồng thương mại ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế”, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, số 62, tr. 101-106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hiệu quả kinh tế của rừng trồng thương mại ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế”
Tác giả: Phan Văn Hòa, Nguyễn Đức Quân, Nguyễn Thanh Hùng
Năm: 2010
[10] Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Nam Đông, “Tổng hợp diện tích rừng trồng trên địa bàn huyện Nam Đông các năm, từ năm 2011 đến 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng hợp diện tích rừng trồng trên địa bàn huyện Nam Đông các năm, từ năm 2011 đến 2015
[11] Tổng cục Thống kê (2011), “Kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2010
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Năm: 2011
[12] Trần Duy Rương (2013),“Sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của rừng trồng keo lai ở Bình Định”, Tạp chí lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, tr.2793-2798 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ),“Sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của rừng trồng keo lai ở Bình Định”
Tác giả: Trần Duy Rương
Năm: 2013
[13] Trần Thị Tuyết Thu (2011), “Tài nguyên rừng thế giới”, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học QGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tài nguyên rừng thế giới”
Tác giả: Trần Thị Tuyết Thu
Năm: 2011
[14] Trần Văn Côn và CTV (2006), “Cẩm nang ngành lâm nghiệp”, Bộ NN và PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cẩm nang ngành lâm nghiệp”
Tác giả: Trần Văn Côn và CTV
Năm: 2006
[15] Ủy ban Dân tộc, “Văn kiện chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2011- 2015”, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2011-2015”
[16] Ủy ban nhân dân huyện Nam Đông (2015), “Báo cáo nghèo huyện Nam Đông năm 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo nghèo huyện Nam Đông năm 2015
Tác giả: Ủy ban nhân dân huyện Nam Đông
Năm: 2015
[17] Ủy ban nhân dân huyện Nam Đông (2015), “Báo cáo tình hình kinh tế xã hội huyện Nam Đông, năm 2015 ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tình hình kinh tế xã hội huyện Nam Đông, năm 2015
Tác giả: Ủy ban nhân dân huyện Nam Đông
Năm: 2015
[18] Ủy ban nhân dân huyện Nam Đông (2015), “Báo cáo tổng kết chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015, phương hướng nhiệm vụ giai đoạn 2016-2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tổng kết chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015, phương hướng nhiệm vụ giai đoạn 2016-2020
Tác giả: Ủy ban nhân dân huyện Nam Đông
Năm: 2015
[19] Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, “Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2014 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2014 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2015
[20] Valerie Kozel và CTV (2012), “Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam 2012”, Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam 2012”
Tác giả: Valerie Kozel và CTV
Năm: 2012
[21] Văn phòng điều phối NTM trung ương (2015), “Báo cáo tóm tắt kết quả xây dựng NTM 2014, kế hoạch 2015 và định hướng chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tóm tắt kết quả xây dựng NTM 2014, kế hoạch 2015 và định hướng chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020
Tác giả: Văn phòng điều phối NTM trung ương
Năm: 2015

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w