1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

SAP XEP HOP LY DOI NGU GIAO VIEN DAP UNG YEU CAUDOI MOI GIAO DUC

5 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 12,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 – Trong Hội nghị triển khai Đổi mới giáo dục phổ thông theo Nghị quyết 40 của Quốc hội (tháng 4 năm 2002), Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã khẳng định sự cần thiết phải nâng cao ch[r]

Trang 1

SẮP XẾP HỢP LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

Chỉ thị 40/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành ngày 15/6/2004 đã thể hiện quan điểm hết sức coi vấn đề nâng cao chất chất lượng đội ngũ giáo viên (GV) và cán bộ quản lý giáo dục (GD) để thực hiện hiệu quả những yêu cầu và nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới giáo dục đào tạo, đáp ứng sự nghiệp phát triển đất nước trong thời ký công nghiệp hoá, hiện đại hoá Hai năm qua, những quan điểm chỉ đạo của Đảng đang được từng bước hiện thực hoá Một trong những điểm nhấn của quá trình hiện thực hoá này là việc thực hiện sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ

I Cần giải quyết một nghịch lý đã và đang tồn tại: vừa thừa lại vừa thiếu giáo viên.

1 Trong những ngày tháng đất nước đầy khó khăn thử thách thời chống Mỹ cũng như những năm tháng đời sống kinh tế vất vả gay go suốt thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, ngành giáo dục (GD) có lúc lâm vào tình trạng cực kỳ nan giải, trong đó có vấn đề thiếu giáo viên (GV) trầm trọng Khi ấy, chúng ta tuyển vào làm GV thuộc nhiều trình độ khác nhau Những người đã tốt nghiệp lớp 7, lớp 9, thậm chí ở những vùng khó khăn như miền núi hoặc vùng đồng bằng sông Cửu Long, có giai đoạn chỉ cần tốt nghiệp lớp 5 là có thể được tuyển vào học nghiệp vụ sư phạm một thời gian một đôi năm rồi trở thành GV và về trường phổ thông giảng dạy Do đó, các hệ sư phạm chính quy đào tạo cấp tốc như 7+1, 7+2, 7+3 năm, 9+2, 9+3 năm, 10+1, 10+ 2, 10+ 3 năm, thậm chí 5+2, 5+3 hoặc 10+3 tháng… nối tiếp nhau ra đời, thật đa dạng và phong phú như chính cuộc sống vốn phong phú

đa dạng ở mỗi địa phương Lúc khó khăn như vậy, đào tạo nhanh để đáp ứng kịp thời yêu cầu của cách mạng là tiêu chí cần được ưu tiên số một Vấn đề chất lượng đào tạo tạm lui xuống hàng thứ hai và sẽ giải quyết bất cập bằng những giải pháp phù hợp sau đó Thế rồi đối mặt với vất vả, khó khăn, một bộ phận đáng kể GV do sức ép của cuộc sống đã phải bỏ nghề Cùng thời điểm ấy, hầu hết đội ngũ GV “đa hệ” này lại bám lớp bám trường, một lòng gắn bó nghề dạy học… Họ đã đóng góp công sức không nhỏ vào quá trình xây dựng và phát triển không ngừng sự nghiệp giáo dục đào

Giờ đây, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh toàn cầu và hội nhập quốc tế đặt ra những yêu cầu mới thúc đẩy sự đổi mới toàn diện và mạnh mẽ giáo dục đào tạo ở tất

cả các bậc học, cấp học Tiến trình xây dựng một xã hội phát triển đang ngày càng đòi hỏi gay gắt hơn đối với việc đào tạo nguồn nhân lực mới Chất lượng GD đang là điểm nóng được xem xét hơn lúc nào hết Điều này tất yếu dẫn đến việc rà soát lại chất lượng đội ngũ GV, yếu tố “quyết định chất lượng giáo dục” Nghị quyết T.Ư 2 (khoá VIII) đánh giá: đội ngũ GV còn nhiều yếu kém, bất cập Sự bất cập là do nhiều lý do, chủ quan và khách quan Nhưng bởi hoàn cảnh riêng, ở nước ta,

có nhiều sự bất cập đã thể hiện ngay trong quá trình đào tạo GV rất thiếu thống nhất như đã trình bày ở trên, mặc dầu, sự thiếu thống nhất ấy có tính lịch sử của nó Trước những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới GD hiện nay thì chỉ kinh nghiệm giảng dạy thôi chưa đủ

mà cần phải có nhiệt tình, quyết tâm và vốn liếng tri thức mới về khoa học cơ bản cũng như về phương pháp sư phạm hiện đại Đó là những yếu tố cơ bản để làm nên sự nhanh nhạy và tính thích ứng trong việc tiếp thu tinh thần đổi mới Những điều ấy, thế hệ sinh viên được đào tạo chính quy trong các nhà trường sư phạm hiện nay hiện nay được trang bị khá tốt bởi chương trình đào tạo đã cập nhật hơn trước, môi trường kinh tế-xã hội, khoa học-kỹ thuật phát triển hơn trước Đáng tiếc rằng, ở rất nhiều địa phương, lực lượng GV trẻ mới ra trường như thế không bố trí được công việc Rất nhiều sinh viên sư phạm ra trường với tấm bằng khá, giỏi; với những tri thức mới mẻ và đặc biệt là với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ mà cũng không xin vào được các trường phổ thông để làm

Trang 2

công việc họ đã được đào tạo là đứng lớp dạy học Có một bộ phận trong họ có may mắn xin được vào dạy hợp đồng ở một nhà trường (nhiều trường hợp sẵn sàng xin dạy không ăn lương), chấp nhận thiệt thòi để những gì đã học khỏi mai một và để giữ ngọn lửa nhiệt tình của tuổi trẻ, của tình yêu nghề Cũng đã có một bộ phận không nhỏ trong họ sau bao cố gắng không thành đành phải kiếm kế mưu sinh bằng những công việc không phù hợp chút nào với những gì họ học trong trường

sư phạm Trong khi đó, quá trình thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông đang gặp không ít khó khăn, mà khó nhăn nhất là những lực cản được tạo nên bởi chính đội ngũ GV chưa đồng bộ, chất lượng còn nhiều yếu kém và bất cập như NQ

Với những GV yếu kém về phẩm chất cũng như về chuyên môn nghiệp vụ, quá trình tiếp cận và dạy theo chương trình mới chẳng những khiến họ căng thẳng vất vả thêm mà còn để lại những ảnh hưởng tiêu cực đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục các bậc học, cấp học, bởi “một người thày tồi sẽ làm dốt đi cả một thế hệ” Nhà nước và ngành giáo dục trong nhiều năm qua đã rất nỗ lực tổ chức nhiều hoạt động, nhiều loại hình bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ GV, giúp họ có khả năng đáp ứng với những yêu cầu mới Do vậy, tỷ lệ GV đạt chuẩn ở các bậc học ngày càng được nâng cao hơn Hiện nay, bậc tiểu học có 87% GV đạt chuẩn, THCS 93% và THPT 96%, trong số đó, số GV đạt trình độ trên chuẩn đã chiếm một tỷ lệ đáng kể Con số này minh chứng cho sự vươn lên của đội ngũ; song mặt khác, nó cũng thể hiện rằng, vẫn còn một bộ phận GV chưa đạt mức chuẩn đào tạo tối thiểu, do đó, chưa đáp ứng những yêu cầu của công cuộc đổi mới GD đang diễn ra Hơn nữa, giữa bằng cấp và năng lực thực tiễn cũng có một khoảng cách Một số báo chính thức của ngành giáo dục và Báo cáo về tình hình chất lượng giáo dục của Chính phủ trình Quốc hội (cuối 2004) đã đánh giá: ngay trong số GV đạt chuẩn đã có một bộ phận không nhỏ bất cập về năng lực sư phạm Gần đây nhất, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá X, trong phiên họp thứ 43 (20/9/2006) đã thông qua Báo cáo đánh giá kết quả khảo sát về đội ngũ GV và cán bộ quản lý trong ngành giáo dục của

Uỷ ban Văn hoá-Giáo dục thanh thiếu niên và nhi đồng Theo đó, tỷ lệ GV yếu kém khá cao: 20%

GV chưa đạt yêu cầu về năng lực sư phạm, từ 11,6 đến 23,8% GV không đáp ứng những yêu cầu đổi mới về chuyên môn, từ 3 đến 5% GV chưa đạt trình độ chuẩn về đạo đức nhà giáo

2 – Trong Hội nghị triển khai Đổi mới giáo dục phổ thông theo Nghị quyết 40 của Quốc hội (tháng 4 năm 2002), Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã khẳng định sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ GV, một điều kiện quan trọng số một để thực hiện thành công chủ trương đổi mới GD của Đảng và Nhà nước, đồng thời nêu rõ quyết tâm của Chính phủ trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV đứng lớp, trước hết là có những biện pháp chỉ đạo các địa phương và ngành giáo dục giải quyết tình trạng vừa thừa vừa thiếu GV nói trên Nghị quyết 09/2003 của Chính phủ (mở rộng nghị quyết 16/2000) cho phép tiến hành tinh giản biên chế đối với cả đối tượng là GV trực tiếp giảng dạy nếu không đủ tiêu chuẩn về sức khoẻ, về phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn Theo đó, trên

cơ sở đánh giá, xếp loại một cách công bằng, khách quan, những đối tượng ở trong diện tinh giảm

sẽ được giải quyết theo các phương hướng sau: 1) đi học nâng cao trình độ nếu có đủ điều kiện đi học; 2) chuyển sang công tác khác phù hợp với khả năng bản thân; 3) nghỉ hưu trước thời hạn

Có thể thấy rằng, NQ 09 thực sự là cơ hội tốt, là hành lang pháp lý tạo điều kiện cho ngành GD nâng cao chất lượng đội ngũ Đồng thời cũng có thể coi đây là tác động quản lý tạo ra những động lực quan trọng thúc đẩy giải quyết mâu thuẫn thừa – thiếu trong đội ngũ giáo viên hiện nay Tuy nhiên, đây là vấn đề thật “nhạy cảm” vì liên quan đến vấn đề con người, nhất là người trí thức

đã gắn bó với quá trình không ít khó khăn gian khổ để xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục dân tộc Nếu tiến hành nóng vội và áp đặt sẽ tạo ra sự bất bình trong dư luận Nếu quy trình tiến hành không có những bước đi được xem xét cẩn trọng sẽ dễ bị đánh giá là “vắt chanh bỏ vỏ” Nếu

Trang 3

thiếu sự thống nhất giữa các ban ngành trong một địa phương, chẳng những không thực hiện tốt chủ trương của Chính phủ mà còn gây ra những xáo trộn lớn trong đội ngũ GV Vấn đề là làm thế nào để thống nhất nhận thức trong và ngoài ngành GD rằng, theo yêu cầu đổi mới GD và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, chúng ta phải giải quyết nhưng cần thận trọng và đảm bảo quyền lợi cho những cán bộ giáo viên trong diện được tinh giảm

2- Kinh nghiệm bố trí, sắp xếp lại đội ngũ theo NQ 09 ở một số địa phương:

ở Hải Dương, Chí Linh là huyện miền núi duy nhất của tỉnh nhưng cũng là nơi có nhịp độ phát triển

GD tốt Một yếu tố tiền đề rất quan trọng là Chí Linh luôn quan tâm đầu tư xây dựng đội ngũ GV Kết quả là, đến nay, tỷ lệ GV đã đạt chuẩn và trên chuẩn trong toàn huyện đạt 98%, riêng Tiểu học

Ngay từ 1998, Chí Linh đã tập trung điều tiết GV cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu Thực hiện thông báo số 35 của Huyện uỷ về công tác tổ chức cán bộ, Phòng GD ĐT đã tuyên truyền, động viên các GV chưa được đào tạo chuẩn, có trình độ chuyên môn hạn chế mà không có điều kiện đào tạo thêm, nay tuy chưa đến tuổi nghỉ hưu nhưng tuổi cao, sức khoẻ kém thì về nghỉ chờ hưu, hưởng nguyên lương (trừ phụ cấp đứng lớp) Phần 70% phụ cấp đứng lớp này dùng vào việc hợp đồng với các GV trẻ, có trình độ đào tạo chuẩn và trên chuẩn vào dạy nhằm nâng cao chất lượng Do tự ý thức được trách nhiệm nghề nghiệp, do được làm công tác tư tưởng tốt nên nhiều GV đã tự nguyện làm đơn xin nghỉ chờ hưu (nữ 50 tuổi, nam 55 tuổi) Cụ thể, ở bậc tiểu học “thừa” gần 100 giáo viên trong biên chế, ngành đã vận động được gần 80 GV nghỉ chờ hưu để hợp đồng hơn 100 GV trẻ khác cho đồng bộ về cơ cấu và đảm bảo chất lượng giảng dạy

ở Nghệ An: Đến nay các trường học ở các huyện trong tỉnh đã hoàn thành việc phân loại GV theo quyết định 109 của UBND tỉnh (triển khai thực hiện NQ 09/ CP) Có 2690 GV, trong đó có 1175 GV mầm non, 1016 GV Tiểu học, 486 GV THCS, 13 GV THPT không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phải chuyển sang công tác khác hoặc bố trí cho đi đào tạo lại hoặc giải quyết nghỉ hưu trước tuổi (được hưởng 100% lương) với số đối tượng nữ trên 50 tuổi và nam trên 55 tuổi Tỉnh đã chi khoảng 25 tỷ đồng để giải quyết chế độ cho đối tượng này Dư luận rất đồng tình với quyết định không bố trí GV yếu kém đứng lớp của UBND tỉnh Nghệ An, coi đó là động thái tích cực để tạo điều kiện bố trí sinh viên sư phạm chính quy mới ra trường, có năng lực đảm nhiệm công việc đứng lớp, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học tại các địa phương trong tỉnh, đặc biệt là vùng miền núi Tỉnh Thái Nguyên đã cho triển khai khảo sát thống kê và phân loại đội ngũ từ trước khi có Nghị quyết 09 Đến nay, hầu hết số GV không đáp ứng yêu cầu đều có đơn xin nghỉ Tính ra, đến năm

2005, khoảng 700 GV thuộc diện này sẽ được nghỉ giảng dạy theo NQ 09 Trước khi có NQ 09, ngành giáo dục Thái Nguyên đã tiến hành tuyên truyền và tham mưu với UBND tỉnh cho áp dụng tinh giản biên chế theo NQ 16 đối với cả GV trực tiếp giảng dạy Ngành giáo dục đã lập hồ sơ được

400 giáo viên xin giảm biên chế Tuy nhiên, khi chuyển sang BHXH, cơ quan này yêu cầu phải phải ghi trong hồ sơ của những GV này là GV kiêm hành chính hoặc thư viện, thí nghiệm vì như thế mới thực hiện chế độ BHXH theo NQ 16 được Các GV không đồng ý Họ muốn khi về nghỉ chế độ vẫn được ghi trong hồ sơ là GV nên cuối cùng chỉ có 108 GV về theo NQ 16 (trong đó có 70 GV nghỉ trước tuổi) Theo bà Nguyễn Thị Hoà Bình, Chủ tịch Công đoàn giáo dục tỉnh Thái Nguyên, Đại biểu Quốc hội: “Bây giờ có NQ 09, việc thực hiện khá dễ dàng và đến năm 2005 có 700 GV chưa chuẩn của Thái Nguyên sẽ nghỉ theo các NQ 09 và 16″

3- Những điều cần lưu ý trong công tác tổ chức chỉ đạo thực hiện NQ 09/ CP

Thứ nhất là vấn đề nhận thức, tư tưởng của đội ngũ giáo viên

Phó Giám đốc Sở GD ĐT Ninh Thuận Huỳnh Dã Thanh- cho rằng : “Khi tiến hành thực hiện giảm

Trang 4

biên chế, điều quan trọng là làm công tác tư tưởng cho cho những GV đó Vấn đề là giải thích cho

họ hiểu sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng GD và sự thay thế đội ngũ sao cho chuẩn hoá để đáp ứng yêu cầu đó Việc tiến hành thực hiện phải xây dựng đề án, chỉ đạo các ngành cùng tham gia và làm thật công bằng, khách quan từ cơ sở đi lên chứ không được áp đặt từ trên xuống”

Có thể nêu bài học của Thái nguyên: Ngành giáo dục đã làm theo quy trình tuyên truyền cho GV hiểu đúng về việc giảm biên chế để nâng cao chất lượng đội ngũ, nâng cao chất lượng GD nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới GD Do làm tốt công tác tư tưởng, những GV khi nghỉ theo diện trên đều được động viên kịp thời và quyền lợi được giải quyết thoả đáng Kết quả là, trong đội ngũ GV không nảy sinh những vướng mắc lớn về vấn đề tư tưởng Anh chị em giáo viên đều thể hiện rõ ý thức trách nhiệm với sự nghiệp đổi mới của ngành Các GV trong diện tinh giản biên chế đều tự nguyện làm đơn xin nghỉ Nhiều GV còn mong đợi được nghỉ theo chế độ của NQ 16 Hầu hết các GV đều cho rằng như thế là bình thường và hợp lý vì họ ý thức được sức ép với chất lượng GD,

Vấn đề tinh giảm biên chế GV luôn đi đôi với việc bảo đảm chế độ chính sách một cách kịp thời Do vậy nguồn lực tài chính là vấn đề cần được tính đếm thấu đáo Nếu chúng ta không mạnh dạn bỏ ra một khoản kinh phí để giải quyết cho số GV không đảm bảo yêu cầu hiện đang đứng lớp thì chúng

ta không thể giải quyết được nghịch lý trên của ngành GD Tuy nhiên, để giải quyết vấn đề này, rất cần một chính sách vĩ mô từ Trung ương và sự vào cuộc đồng bộ của UBND các tỉnh thành, các

Hiện nay, đội ngũ GV phổ thông cùng một lúc do nhiều ngành, cấp quản lý Đối với GV từ THCS trở xuống, đa số các tỉnh đều đã phân cấp cho cho các quận huyện quản lý, GV THPT do tỉnh quản lý Tuy nhiên, nhìn một cách cụ thể hơn sẽ thấy rằng, việc quản lý và điều hành cụ thể lại do các ban ngành chuyên môn thuộc UBND như Ban Tổ chức chính quyền (cấp tỉnh) và Phòng Tổ chức lao động (cấp quận huyện) phụ trách quản lý biên chế, còn Sở và Phòng GD chỉ phụ trách về phần chuyên môn Vì vậy, cần có sự phối kết hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan chức năng trong và ngoài ngành

GD trong quá trình giải quyết, sự thiếu đồng bộ trong cơ chế quản lý nhân sự là vấn đề cần được

Nếu thiếu sự thống nhất, phối hợp chặt chẽ và đồng bộ của các cơ quan chức năng nói trên, nhất là khi thiếu “cây đũa chỉ huy” nhất quán của UBND các cấp thì việc thực hiện Nghị quyết 09/2003 của Chính phủ nhất định sẽ khó thông luồng Trường hợp Lạng Giang (Bắc Giang) là một ví dụ rõ nét Cách tiến hành giảm biên chế ở đây khá nóng vội Đầu năm 2004, sau khi ngành GD tổ chức cho cán bộ quản lý các nhà trường trong huyện học tập Nghị quyết, hiệu trưởng các nhà trường về cơ sở phổ biến chủ trương kế hoạch và vận động giáo viên ký vào những lá đơn “tình nguyện” do Phòng

Tổ chức-Lao động-Thương binh huyện thảo sẵn và phát đích danh theo tên viết sẵn cho người trong diện đã “được” xếp loại Nhiều GV ở đây đã bất đồng và xem đó là “dân chủ hình thức” Thêm nữa, việc giải quyết chế độ chính sách thiếu kịp thời, cách giải quyết lại có sự khác biệt với cách giải quyết của các huyện khác trong tỉnh nên đội ngũ GV đã có những phản ứng bất bình mặc dầu họ thông hiểu và ủng hộ chủ trương của chính phủ, của ngành Về tổ chức, ở đây còn thể hiện sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa hai ngành chức năng là Phòng giáo dục và Phòng tổ chức – lao

Để kết thúc, chúng tôi bày tỏ sự đồng tình với một ý kiến khi bàn về vấn đề này: “Việc tinh giản biên chế để nâng cao chất lượng đội ngũ ngành giáo dục là một yêu cầu cấp bách nhưng không vì thế mà đốt cháy giai đoạn rồi không quan tâm tới ý kiến, quyền lợi và cả tâm tư, nguyện vọng của

Trang 5

những người về nghỉ Họ là những người đã từng chịu thiệt thòi và cống hiến cho nhiều cho giáo dục Vì vậy, ngày nay, không có lý gì mà chúng ta lại xử sự theo kiểu “vắt chanh bỏ vỏ” (Phí Quốc Thuyên – báo GD&TĐ số 69, 8/6/2004)

Phạm Quang Huân,Viện NCSP , ĐHSP Hà Nội (Viết theo yêu cầu của Ban Khoa giáo Trung ương Đã đăng trên Tạp chí Khoa giáo tháng 11 năm 2006

Ngày đăng: 02/07/2021, 03:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w