Lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam đã cùng quân dân Quảng Ninh chiến đấu mưu trí, dũng cảm, sáng tạo, phát huy tốt vai trò nòng cốt, xung kích trong thế trận chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển, chống địch phong tỏa; góp phần đánh bại mọi âm mưu và hành động chống chiến tranh phá hoại; phong tỏa miền Bắc của đế quốc Mỹ, đồng thời góp phần không nhỏ vào những thắng lợi vẻ vang phong trào cách mạng cả nước. Với những đại thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), dân tộc Việt Nam đã làm cho cả thế giới phải ngạc nhiên, khâm phục khi một dân tộc nhỏ bé mà có thể chiến thắng đế quốc lớn. Hòa cùng những thắng lợi của dân tộc, Hải quân nhân dân Việt Nam cùng quân dân Quảng Ninh đã có những đóng góp quan trọng, đặc biệt trong cuộc chiến chống phong tỏa vùng biển của đế quốc Mỹ tại miền Bắc, góp phần bảo vệ chủ quyền lãnh hải và lãnh thổ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giữ vững hậu phương miền Bắc để chi viện cho tiền tuyến miền Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Trang 1NGUYỄN THỊ HẰNG NGA
ĐỀ TÀI:
HOẠT ĐỘNG CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ PHONG TỎA VÙNG BIỂN QUẢNG NINH CỦA HẢI QUÂN NHÂN DÂN VIỆT NAM NHỮNG NĂM 1967 - 1973
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT STT CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
11 QS BĐBP Quan sát bộ đội Biên phòng
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Từ xa xưa, vùng biển đảo luôn đóng vai trò quan trọng trong các cuộc đấutranh chống ngoại xâm của lịch sử dân tộc Việt Nam Vùng biển Đông Bắc,trong đó có vùng biển Quảng Ninh giữ vị trí chiến lược quan trọng Lịch sử đãchứng minh vai trò của vùng biển này, nhất là trong hai cuộc chiến tranh chốngcác nước đế quốc Pháp và Mỹ
Giai đoạn 1954 - 1975, trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đếquốc Mỹ xác định miền Bắc giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong phong trào cáchmạng của hai miền Chính vì vậy, Mỹ tập trung đánh phá miền Bắc nhằm tiêudiệt tận gốc vai trò của hậu phương lớn đối với miền Nam
Đế quốc Mỹ, sau sự thất bại quân sự ở miền Nam Việt Nam, để cứu vãntình thế đã thực hiện “leo thang” chiến tranh, đưa quân ra tiến hành chiến tranhphá hoại ở miền Bắc Với hai lần tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, Mỹđều sử dụng không quân và hải quân đánh phá, phong tỏa các vùng sông biển.Tại vùng biển Quảng Ninh, Mỹ cũng sử dụng lực lượng lớn không quân và hảiquân với những trang bị kĩ thuật hiện đại rải thủy lôi, bom từ trường để phongtỏa đường biển
Lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam đã cùng quân dân Quảng Ninhchiến đấu mưu trí, dũng cảm, sáng tạo, phát huy tốt vai trò nòng cốt, xung kíchtrong thế trận chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển, chống địchphong tỏa; góp phần đánh bại mọi âm mưu và hành động chống chiến tranh pháhoại; phong tỏa miền Bắc của đế quốc Mỹ, đồng thời góp phần không nhỏ vàonhững thắng lợi vẻ vang phong trào cách mạng cả nước
Với những đại thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 1975), dân tộc Việt Nam đã làm cho cả thế giới phải ngạc nhiên, khâm phục khimột dân tộc nhỏ bé mà có thể chiến thắng đế quốc lớn Hòa cùng những thắng
Trang 5-lợi của dân tộc, Hải quân nhân dân Việt Nam cùng quân dân Quảng Ninh đã cónhững đóng góp quan trọng, đặc biệt trong cuộc chiến chống phong tỏa vùngbiển của đế quốc Mỹ tại miền Bắc, góp phần bảo vệ chủ quyền lãnh hải và lãnhthổ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giữ vững hậu phương miền Bắc để chi viện chotiền tuyến miền Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Trong bối cảnh hiện nay, khi vấn đề an ninh biên giới, chủ quyền lãnh thổ,lãnh hải đang bị đe dọa nghiêm trọng và trở thành vấn đề chính trị mang tính cấpthiết, khi cả dân tộc Việt Nam đang cùng nhau hướng về biển đảo quê hương,việc nghiên cứu những thắng lợi của Hải quân nhân dân Việt Nam trong cuộcđấu tranh chống đế quốc Mỹ phong tỏa các địa phương miền Bắc trong thời kìkháng chiến chống Mỹ cứu nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Nhiều năm qua, khi cuộc chiến tranh đã đi qua, khi nước nhà đã hòa bình,công tác biên soạn lịch sử quân sự được thực hiện với qui mô và hệ thống hơn,việc nghiên cứu các sự kiện lịch sử về lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam đãđược nghiên cứu trong một số công trình khoa học Các công trình đó nghiêncứu, biên soạn lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam ở một số góc độ khác nhau.Tuy nhiên, công trình nghiên cứu chuyên sâu về cuộc chiến đấu chống phong tỏacủa lực lượng này tại vùng biển Quảng Ninh những năm 1967 - 1973 còn rất ít,thậm chí chưa hề có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống
Với những lí do đó, tôi đã chọn đề tài “Hoạt động chống đế quốc Mỹ phong toả vùng biển Quảng Ninh của Hải quân nhân dân Việt Nam những năm 1967 - 1973” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
Việc nghiên cứu đề tài có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Về ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần tái hiệnnhững hoạt động quân sự của lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam tại vùngbiển Quảng Ninh trên mặt trận chống đế quốc Mỹ phong tỏa; khẳng định vai trònòng cốt của lực lượng này trong thế trận chiến tranh nhân dân trên chiến trườngsông biển, cụ thể tại vùng biển Quảng Ninh; khẳng định đường lối chiến lược
Trang 6đúng đắn của Đảng và Quân ủy Trung ương; rút ra một số bài học kinh nghiệmtrong hoạt động phong tỏa và chống phong tỏa nói riêng và trong công cuộc bảo
vệ chủ quyền lãnh hải nói chung; bổ sung nguồn tư liệu địa phương vào lịch sửquân sự, lịch sử dân tộc
Về ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tư liệu lịch
sử địa phương, lịch sử quân sự hữu ích trong việc giảng dạy ở các trường phổthông, cao đẳng và đại học; góp phần giáo dục học sinh, sinh viên và quần chúngnhân dân tình yêu quê hương, đất nước, truyền thống đấu tranh kiên trung, bấtkhuất, ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh hải của Tổ quốc
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong số các công trình nghiên cứu về lịch sử quân sự, đã có một sốnghiên cứu hoạt động chống đế quốc Mỹ phong tỏa của Hải quân nhân dân ViệtNam ở các mức độ khác nhau
Năm 1966, tác giả Nguyễn Duyên cho xuất bản cuốn sách “Cách tránh phá thủy lôi” Công trình nêu bật những hoạt động nghiên cứu và tổ chức tránh
phá thủy lôi của lực lượng Hải quân, nhân dân các vùng ven sông, ven biển Tuynhiên mới chỉ đề cập ở mức độ khái quát về cuộc chiến chống phong tỏa
Năm 1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết cuốn “Chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển” Cuốn sách đề cập đường lối chiến tranh nhân
dân của lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam tại các vùng sông biển miềnBắc, trong đó có vùng biển Hải Phòng - Quảng Ninh
Năm 1985, Ban nghiên cứu lịch sử của quân chủng Hải quân xuất bản
cuốn “Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam” Cuốn sách nghiên cứu quá trình
xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Hải quân nhân dân Việt Nam từ năm
1955 đến năm 1985 Các sự kiện về cuộc chiến đấu chống phong tỏa của Quânchủng được diễn tả theo lối thông sử
Năm 1996, Bộ Tư lệnh Hải quân cũng đã hoàn thành cuốn sách “Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955 - 1995) - Biên niên sự kiện” Cuốn sách
Trang 7thống kê các sự kiện lịch sử của Hải quân từ 1955 đến 1995 Những sự kiện cơbản trong hoạt động chống phong tỏa tại vùng biển Quảng Ninh của lực lượngHải quân nhân dân Việt Nam cũng được đề cập.
Năm 1998, Hội Khoa học Lịch sử - Chi hội Lịch sử quân sự Hải Phòng, cho
xuất bản cuốn sách “Chống Mỹ phong tỏa sông biển vùng Hải Phòng” Bài viết của
các tác giả đều đề cập đến cuộc chiến chống phong tỏa trên sông biển ở Hải Phòng
và vùng phụ cận, trong đó tuyến Hải Phòng - Quảng Ninh là trọng điểm
“Tổng kết công tác kĩ thuật Hải quân trong chiến đấu chống đế quốc Mỹ phong tỏa sông biển miền Bắc (1967 - 1973)” là cuốn sách được Bộ Tư lệnh Hải
quân hoàn thành vào năm 2001 Nội dung đề cập đến toàn bộ công tác kĩ thuật củaHải quân phục vụ nhiệm vụ chống phong tỏa qua từng giai đoạn Trong đó, nhiệm
vụ cơ bản là tổ chức nghiên cứu chế tạo các thiết bị, phương tiện rà phá thủy lôi,bom từ trường của địch; tổ chức đảm bảo kĩ thuật, trang bị; tổ chức huấn luyện kĩthuật… đảm bảo cho mọi hoạt động chống phong tỏa vùng sông biển được tốt nhất,đặc biệt là trên các luồng quan trọng như Hải phòng - Quảng Ninh
Cuốn “Tổng kết công tác Đảng, công tác chính trị Hải quân trong chiến đấu chống Mỹ phong tỏa sông biển miền Bắc bằng thủy lôi và bom từ trường 1967 -1973” được Quân chủng Hải quân xuất bản năm 2004 Cuốn sách đề cập đến công
tác tham mưu, chỉ đạo hoạt động chống phong tỏa của Quân chủng trên toàn miềnBắc; đánh giá những mặt tích cực, hạn chế của các cán bộ chiến sĩ nhằm nâng caotinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu và tinh thần sẵn sàng chiến đấu trong toàn Quânchủng Đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm từ các cuộc đấu tranh trước đó để chỉđạo cho những cuộc đấu tranh tiếp theo giành thắng lợi to lớn
Năm 2005, cuốn sách“Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1995 2005)” được Quân chủng Hải quân xuất bản, thể hiện bức tranh toàn cảnh về
-quá trình xây dựng và phát triển lực lượng cũng như -quá trình chiến đấu vàtrưởng thành của Hải quân nhân dân Việt Nam từ 1955 - 2005, trong đó có các
sự kiện về hoạt động chống phong tỏa
Trang 8Cuốn “Hoạt động của Hải quân nhân dân trong chống đế quốc Mỹ phong tỏa sông biển miền Bắc Việt Nam 1967 - 1968 và 1972 - 1973” cũng được công
bố năm 2005 Đây là một cuốn kỉ yếu chuyên đề về hoạt động chống Mỹ phongtỏa cửa sông, cửa biển miền Bắc, trong đó có vùng biển Quảng Ninh
Bộ Tư lệnh Hải quân đã cho xuất bản cuốn “Tổng kết công tác chỉ huy tham mưu Hải quân chống đế quốc Mỹ phong tỏa sông biển miền Bắc bằng thủy lôi và bom từ trường 1967 - 1973” vào năm 2006 Đó là một cuốn chuyên khảo
viết về đặc điểm của chiến trường sông biển miền Bắc; tình hình địch; tình hìnhta; công tác chỉ huy tham mưu trước nguy cơ, âm mưu phong tỏa vùng sông biểnmiền Bắc; cũng như thắng lợi của Hải quân nhân dân Việt Nam trong hai lầnkháng chiến chống phong tỏa tại các vùng trọng điểm trên sông biển miền Bắcnói chung, vùng biển Quảng Ninh nói riêng; đồng thời rút ra những ưu, khuyếtđiểm, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm qua hai lần chống phongtỏa của Quân chủng Hải quân cùng quân dân miền Bắc
Cũng trong năm 2006, TS Phan Văn Xá bảo vệ thành công luận án “Sử dụng lực lượng hiệp đồng với các lực lượng khác phòng chống thủy lôi địch phong tỏa căn cứ Hải quân” tại Học viện Hải quân, Nha Trang Tác giả chỉ rõ
đặc điểm về lực lượng, phương tiện… của đối tượng tác chiến (đế quốc Mỹ) vàquan điểm của chúng về sử dụng thủy lôi phong tỏa đường biển; đặc điểm về lựclượng, phương tiện của Hải quân nhân dân Việt Nam; đồng thời tầm quan trọngcủa việc hiệp đồng chiến đấu giữa lực lượng Hải quân và các lực lượng kháccùng nhân dân miền Bắc chiến đấu chống địch phong tỏa bằng thủy lôi và bom
từ trường tại các căn cứ Hải quân của Việt Nam, đặc biệt là vùng đặt nhiều căn
cứ quan trọng như Hải Phòng - Quảng Ninh
Năm 2007, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam đã dày công biên soạn bộsách gồm 7 tập về cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam Trong đó,
cuốn “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)”, Tập VI và Tập VII đã tổng kết các sự kiện về cuộc chiến đấu của quân và dân cả hai miền Nam
Trang 9Bắc, đặc biệt là hai lần đấu tranh chống đế quốc Mỹ phá hoại, phong tỏa củaquân dân miền Bắc nói chung và quân dân Quảng Ninh nói riêng.
Năm 2013, cuốn sách chuyên khảo“Hải quân nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ tại vùng sông biển miền Bắc (1964 - 1973)” của TS Nguyễn Thị Huệ Chi đã được NXB Sự thật - Chính trị
Quốc gia xuất bản Cuốn sách là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về cuộcchiến đấu chống Mỹ đánh phá, chống Mỹ phong tỏa miền Bắc của Hải quânnhân dân Việt Nam tại khu vực sông biển trong những năm 1964 - 1973, gắn liềnquá trình vừa xây dựng, vừa chiến đấu, vừa trưởng thành của Quân chủng; qua
đó, cho thấy vai trò mang tính nòng cốt của lực lượng Hải quân trong thế trậnchiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển chống chiến tranh phá hoại của
đế quốc Mỹ; đồng thời, khẳng định đường lối quân sự đúng đắn của Đảng, Nhànước và Quân đội ta; rút ra những ý nghĩa, những nhân tố đưa đến thắng lợi,những bài học kinh nghiệm về sự phát triển của lực lượng Hải quân nhân dânViệt Nam trong hiện tại và tương lai
Các công trình nghiên cứu về cuộc chiến đấu của quân dân Quảng Ninhcũng được các tác giả quan tâm nghiên cứu
Năm 1975, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng ủy tỉnh Quảng Ninh đã viết cuốn
“Ba mươi năm đấu tranh xây dựng và bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân ở Quảng Ninh” Cuốn sách khái quát cuộc đấu tranh giành chính quyền ở Quảng
Ninh sau 30 năm (từ 1945 - 1975), trong đó có các sự kiện liên quan đến vấn đềphong tỏa và chống phong tỏa những năm 1967 - 1973 tại Quảng Ninh
Năm 1996, Phan Văn Đạt, Lê Mã Lương đã viết cuốn “Quảng Ninh lịch
sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)” Cuốn sách đề cập đến
những sự kiện lịch sử của tỉnh Quảng Ninh qua các giai đoạn chống âm mưu pháhoại miền Bắc nói chung, khu vực tỉnh Quảng Ninh nói riêng của Mỹ và tay sai(1954 - 1975)
Trang 10Cuốn luận văn “Quảng Ninh trong thời kì chống chiến tranh phá hoại của
Đế quốc Mỹ (1964 - 1972)” của tác giả Trịnh Khuyến Anh được bảo vệ tại
trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2006 Luận văn khái quát cuộc chốngchiến tranh phá hoại của quân và dân tại vùng biển Quảng Ninh Trong đó có sựđóng góp của lực lượng Hải quân trong cuộc chiến chống phong tỏa thủy lôi vàbom từ trường của Đế quốc Mỹ
Ngoài ra, trên các báo, tạp chí cũng có đề cập nhưng chưa nhiều về vấn đềphong tỏa và chống phong tỏa của Hải quân nhân dân Việt Nam cùng với quândân miền Bắc trên chiến trường sông biển Trong đó, vùng biển Quảng Ninh làmột trong những trọng điểm bị đánh phá ác liệt
Nói tóm lại, đây là những tài liệu quan trọng khi nghiên cứu về Hải quânnhân dân Việt Nam trong các giai đoạn chống đế quốc Mỹ phong tỏa vùng biểnQuảng Ninh; là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị khoa học, những cơ sở lý luậnquan trọng giúp tác giả nghiên cứu và hoàn thành đề luận văn của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài nhằm tái hiện cuộc chiến tranh chống phong tỏa của
đế quốc Mỹ tại vùng biển Quảng Ninh của lực lượng Hải quân nhân dân ViệtNam, gắn liền với quá trình chiến đấu quân dân Quảng Ninh; khẳng định vai tròmang tính nòng cốt của lực lượng Hải quân trong thế trận chiến tranh nhân dântrên chiến trường sông biển; khẳng định đường lối quân đúng đắn của Đảng, Nhànước và quân đội ta; khái quát kết quả, rút ra những ý nghĩa, nhân tố đưa đếnthắng lợi của lực lượng Hải quân và quân dân Quảng Ninh trong cuộc chiến đấu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
1 Phân tích tầm quan trọng chiến lược của vùng biển Quảng Ninh tronghai giai đoạn chống chiến tranh phong tỏa của đế quốc Mỹ
2 Phân tích âm mưu và hành động tiến hành chiến tranh phá hoại, phongtỏa miền Bắc nói chung và vùng biển Quảng Ninh nói riêng
Trang 113 Tái hiện được cuộc chiến đấu anh dũng của quân chủng Hải quân nhân dânViệt Nam trên mặt trận chống đế quốc Mỹ phong tỏa tại vùng biển Quảng Ninh.
4 Chỉ rõ mối liên hệ gắn bó, hiệp đồng giữa Hải quân nhân dân Việt Namvới các lực lượng quân, dân của tỉnh Quảng Ninh trong cuộc chiến đấu bảo vệvùng biển Quảng Ninh, góp phần bảo vệ chủ quyền lãnh thổ miền Bắc
5 Khẳng định được đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn của Đảng tatrong việc chỉ đạo hoạt động chống đế quốc Mỹ phong tỏa các vùng sông biểnmiền Bắc nói chung và khu vực vùng biển Quảng Ninh nói riêng
6 Đúc rút những ý nghĩa, nhân tố đưa đến thắng lợi của Hải quân nhândân Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống phong tỏa của Mỹ tại vùng biểnQuảng Ninh nói riêng và các vùng sông biển miền Bắc nói chung
4 Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động chống đế quốc Mỹ phongtỏa vùng biển Quảng Ninh trong những năm 1967 - 1973 của lực lượng Hải quânnhân dân Việt Nam trong thế trận chiến tranh nhân dân, hiệp đồng với các lựclượng vũ trang khác ngoài Quân chủng và quân dân Quảng Ninh
- Thông qua tìm hiểu các tài liệu mang tính chất lí luận như Văn kiệnĐảng, các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vàcác nhà quân sự khác về chiến tranh nhân dân để hiểu rõ hơn về chiến tranh, về
lý luận và cách đánh giá, nhìn nhận tình hình, cũng như vạch kế hoạch tác chiếncủa các nhà lãnh đạo, nhà quân sự lỗi lạc, nhà chiến lược tài ba
- Thông qua nghiên cứu các tư liệu thành văn, các bài trích, các tài liệucủa Bộ Tư lệnh Hải quân và các tác giả nghiên cứu chuyên sâu về chiến tranhphong tỏa, đặc biệt các tài liệu viết về cuộc chiến tranh của quân và quân QuảngNinh để có cái nhìn khái quát hơn về việc cuộc chiến tranh chống phong tỏa củalực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam trên chiến trường sông biển Qua đó,chúng tôi tái hiện được phần nào cuộc chiến đấu đầy sự gian khổ, mất mát, hi
Trang 12sinh của quân dân Quảng Ninh, đặc biệt là Hải quân nhân dân Việt Nam - lựclượng đóng vai trò nòng cốt trên chiến trường sông biển Qua đó, khẳng địnhđược đường lối đúng đắn của Đảng, Nhà nước Trên cơ sở đó, rút ra ý nghĩa,nguyên nhân thắng lợi của Quân chủng trong cuộc chiến đấu chống phong tỏatrên vùng biển Quảng Ninh.
là thời gian kết thúc chiến dịch rà quét thủy lôi ở miền Bắc ngày 19/6/1973…
- Về nội dung: giới hạn nghiên cứu trên mặt chống đế quốc Mỹ phong toảtại vùng biển Quảng Ninh
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
- Nhóm tác phẩm lý luận: văn kiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nướcViệt Nam; các tác phẩm của các nhà lãnh đạo, nhà quân sự lỗi lạc khác củaViệt Nam…
- Tài liệu lưu trữ: Trung tâm lưu trữ UBND tỉnh Quảng Ninh, Trung tâmlưu trữ Tỉnh ủy Quảng Ninh, Thư viện tỉnh Quảng Ninh, Lữ đoàn 170, XưởngX48 Hải quân…
- Tài liệu sách, báo chuyên khảo: Các công trình nghiên cứu về quá trìnhxây dựng lực lượng, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, phong tỏa của lựclượng Hải quân, như Tạp chí Hải quân, Tạp chí Cộng Sản, Tạp chí Nghiên cứu
Trang 13Lịch sử, Tạp chí Lịch sử Quân sự, Tạp chí Quốc phòng toàn dân…
- Các công trình luận văn, luận án đã được các tác giả bảo vệ thành côngtại các trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Học viện Hải quân…
- Tài liệu trên mạng truyền thông quốc tế
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Tác giả sử dụng hai phương pháp chuyên ngành: phương pháp lịch sử vàphương pháp logic
+ Phương pháp lịch sử: nghiên cứu cuộc chiến đấu nói chung, cuộc chiếnchống phong toả của Hải quân nhân dân Việt Nam theo trình tự thời gian, theotừng giai đoạn lịch sử nhất định tại khu vực vùng biển Quảng Ninh, để thấy đượcnhững thành tích, đóng góp của lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam trongcuộc chiến tranh bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa
+ Phương pháp logic: để thấy các sự kiện có liên quan, quan hệ mật thiết,logic với nhau trong một bức tranh toàn cảnh của cuộc chiến đấu chống phong tỏacủa lực lượng Hải quân tại vùng biển Quảng Ninh trong những năm 1968 - 1973
- Ngoài ra, tác giả còn kết hợp sử dụng các phương pháp phân tích, tổnghợp, so sánh, thống kê, giám định tư liệu…
6 Đóng góp của luận văn
1 Làm rõ vai trò nòng cốt của lực lượng Hải quân nhân dân Việt Namtrong thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận hiệp đồng trên mặt trận chống phongtỏa tại Quảng Ninh trong hai giai đoạn 1967 -1968 và 1972 - 1973
2 Làm rõ những cống hiến quan trọng của lực lượng Hải quân nhân dânViệt Nam và quân dân Quảng Ninh trong cuộc chiến chống đế quốc Mỹ phongtỏa tại khu vực vùng biển Quảng Ninh; góp phần vào thắng lợi chung của hoạtđộng chống đế quốc Mỹ phong tỏa tại các vùng sông biển miền Bắc; góp phầnvào thắng lợi chung của công cuộc cách mạng bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa,giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
3 Khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối quân sự của Đảng,
Trang 14Nhà nước và Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh Hải quân… trong việc xây dựng
kế hoạch và chỉ đạo tác chiến cũng như xây dựng và phát triển lực lượng Hảiquân sẵn sàng chiến đấu tại vùng biển miền Bắc nói chung, vùng biển QuảngNinh nói riêng
4 Góp phần bổ sung kết quả nghiên cứu về lịch sử dân tộc, lịch sử quân
sự, lịch sử địa phương trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
5 Góp phần thiết thực vào việc bổ sung nguồn tài liệu giảng dạy lịch sửquân sự, lịch sử địa phương tại Quảng Ninh
7 Bố cục của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục,phần nội dung bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Âm mưu phong tỏa vùng biển Quảng Ninh của đế quốc Mỹ
và chủ trương tác chiến của Đảng ta
- Chương 2: Hải quân nhân dân Việt Nam chiến đấu chống đế quốc Mỹphong tỏa vùng biển Quảng Ninh lần thứ nhất (1967 - 1968)
- Chương 3: Củng cố và phát triển lực lượng, sẵn sàng chiến đấu chống đếquốc Mỹ phong tỏa vùng biển Quảng Ninh lần thứ hai (1969 - 1973)
Trang 15Chương 1
ÂM MƯU PHONG TOẢ VÙNG BIỂN QUẢNG NINH CỦA ĐẾ QUỐC
MỸ VÀ CHỦ TRƯƠNG TÁC CHIẾN CỦA ĐẢNG TA
1.1 Vị thế địa chiến lược của vùng biển Quảng Ninh
Quảng Ninh (tên tỉnh được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phêduyệt ngày 30/10/1963 trên cơ sở hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng) làmột tỉnh ven biển có địa thế hiểm yếu, nằm ở địa đầu Đông Bắc Tổ quốc
Quảng Ninh có biên giới quốc gia và hải phận giáp giới nước Cộng hoàNhân dân Trung Hoa Trên đất liền, phía bắc của tỉnh giáp huyện Phòng Thành
và thị trấn Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây với 132,8 km đường biên giới; phía đông
là vịnh Bắc Bộ; phía tây giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương; phíanam giáp Hải Phòng Từ xa xưa nơi đây đã được coi là vùng đất “nhân thế núilàm thành, dựa chỗ cao mà giữ hiểm, có núi để tựa, có biển vòng quanh, địa thế
xa lánh mà hiểm yếu, trong thì giữ vững cương vực, ngoài thì khống chế đấtThanh” Núi cao có Lôi Âm, sông lớn có Bạch Đằng; 22 cửa biển, hơn 10 đồn ải,hải đảo quanh co, sông bến khuất khúc, cũng là nơi then chốt ở ven biển
Tỉnh có lược đồ hình chữ nhật lệch, nằm chếch hướng đông bắc - tây nam,phía tây tựa lưng vào núi, phía đông nghiêng xuống nửa phần đầu vịnh Bắc Bộvới bờ biển khúc khuỷu nhiều cửa sông và bãi triều, bên ngoài là 2.077 hòn đảolớn nhỏ, trong đó 1.030 đảo có tên, còn 1.047 đảo chưa có tên Địa giới QuảngNinh nằm trong vĩ tuyến 20, trải rộng từ 1060 26’ đến 108031’3’’ kinh độ đông và
từ 20040’ đến 22040’ vĩ độ bắc Bề ngang từ đông sang tây, khoảng dài nhất là102km [114; 19] Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, đây là nơi mà Mỹluôn coi như là một trong những trọng điểm đánh phá
Quảng Ninh được ví như một Việt Nam thu nhỏ Bởi đây là vùng đất đượckiến tạo bởi nhiều loại địa hình đa dạng, phức tạp và chia thành các vùng: có cảvùng miền núi, trung du, biên giới, ven biển và hải đảo Sự đa dạng, phức tạp
Trang 16của địa hình tạo nên vị thế đặc biệt quan trọng của Quảng Ninh trong phát triểnkinh tế, du lịch, quân sự trong thời bình cũng như thời chiến.
Tỉnh có một vùng biển rộng bao bọc, bờ biển dài 250 km, vùng lãnh hải,vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ kéo dài theohướng bắc nam gần 200 hải lý Đây là một trong những nơi tiếp nhận và vậnchuyển hàng hóa của các nước đến với Việt Nam trong thời kì kháng chiếnchống Mỹ cứu nước
Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh có địa hình độc đáo Hơn hai nghìnhòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2077/2779), đảo trải dài theo đường venbiển hơn 250 km chia thành nhiều lớp Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu,Bản Sen, lại có đảo chỉ như một hòn non bộ Có hai huyện hoàn toàn là đảo làhuyện Vân Đồn và huyện Cô Tô Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàngngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình Karst bị nước bào mòn tạo nên muônnghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú, là nơi lýtưởng cho việc trú đậu và phát triển các căn cứ Hải quân
Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những bãi bồi phù sa cònnhững bãi cát trắng táp lên từ sóng biển Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyênliệu cho công nghệ thuỷ tinh (Vân Hải), có nơi thành bãi tắm tuyệt vời (như Trà
Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng )
Địa hình đáy biển Quảng Ninh không bằng phẳng, độ sâu trung bình là20m Có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầmlàm nơi sinh trưởng các rạn san hô rất đa dạng Các dòng chảy hiện nay nối vớicác lạch sâu đáy biển còn tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải cảng trên dải bờbiển khúc khuỷu kín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềmnăng cảng biển và giao thông đường thuỷ rất lớn
Ngoài ra, vùng biển này còn rất dồi dào về hải sản, những nguồn thựcphẩm quan trọng giàu dinh dưỡng và có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầutrong nước và xuất khẩu
Trang 17Vùng biển Quảng Ninh còn tiếp giáp với vùng biển Hải Phòng - được coi
là đường hàng hải quốc tế, vùng biển quan trọng, là đầu mối giao thông quantrọng và là cửa ngõ giao lưu quốc tế trọng yếu của miền Bắc Quảng Ninh cũng
là một đầu mối giao thông thủy, bộ quan trọng của phía Bắc Hơn nữa, QuảngNinh còn nằm trong tam giác (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh) được Đảng vàNhà nước xác định là vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Có thể thấy, Quảng Ninh giữ vị thế quan trọng về kinh tế - văn hóa - dulịch - an ninh quốc phòng, nhất là an ninh biên giới lãnh thổ và lãnh hải Với địahình hiểm trở, nơi đây mang lại những lợi thế cho việc phòng thủ quân sự
Lịch sử đấu tranh của các dân tộc Quảng Ninh hàng ngàn đời nay gắnliền với các chiến công hiển hách chống giặc ngoại xâm Núi sông biển cả củamảnh đất này ngày nay vẫn còn in đậm những chứng tích lịch sử của nhữngtrận đánh lẫy lừng của ông cha ta năm xưa Như trận Bạch Đằng Giang chốngquân Nam Hán năm 938, chống quân Tống năm 981, chống quân Nguyên -Mông năm 1288…
Vị trí địa lí và đặc điểm địa hình tạo cho Quảng Ninh nhiều thế mạnh vềkinh tế, phát triển giao thông vận tải và dịch vụ hàng hải, kết hợp xây dựng, củng
cố quốc phòng trên biển trong thế chiến lược chung của công cuộc xây dựng vàbảo vệ đất nước
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi, vị trí địa lí của vùng biểnQuảng Ninh cũng mang lại nhiều khó khăn và thách thức Vị trí mở, hướng raVịnh Bắc Bộ một cách tiện lợi làm cho vùng biển này dễ bị xâm lược từ bênngoài Lịch sử cho thấy, Quảng Ninh thường phải đối mặt với quân xâm lược khichúng tiến đánh nước ta bằng đường biển Muốn đánh thủ đô Hà Nội và khu vựcđồng bằng Bắc Bộ, quân xâm lược thường phải tiến đánh Hải Phòng, QuảngNinh từ hướng biển Hoặc, để cô lập thủ đô Hà Nội với các tỉnh thành, với cácnước bạn trên thế giới, các thế lực ngoại xâm thường phong tỏa vùng biển, nhất
là vùng biển Hải Phòng - Quảng Ninh
Trang 18Tóm lại, Quảng Ninh - cửa ngõ giao lưu quốc tế của Tổ quốc trên cả đấtliền và trên biển, có vùng biển nằm ở vị trí tiền tiêu của vùng Đông Bắc, giữ vịthế quan trọng chiến lược về chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng Vì vậy,cần có sự phòng thủ chặt chẽ bảo vệ biên giới lãnh hải thuộc đại phận QuảngNinh nói riêng và lãnh hải quốc gia nói chung.
1.2 Âm mưu, kế hoạch phong tỏa vùng biển Quảng Ninh của đế quốc Mỹ
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), đế quốc Mỹ can thiệp trực tiếp vào miềnNam Việt Nam, dùng viện trợ quân sự và kinh tế để xây dựng chế độ tay saiphản động và đội quân ngụy làm công cụ đàn áp nhân dân, tiêu diệt lực lượngcách mạng, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địakiểu mới của Mỹ Chúng trắng trợn tuyên bố “Biên giới Hoa Kì kéo dài đến vĩtuyến 17” và ráo riết chuẩn bị âm mưu “Bắc tiến”, “Lấp sông Bến Hải”
Với thắng lợi của cuộc Đồng Khởi, cách mạng miền Nam phát triển ngàycàng mạnh mẽ Mỹ và quân đội tay sai đã ráo riết tiến hành các cuộc “bình định”
ở miền Nam ngày càng gay gắt hơn, nhằm làm giảm ý chí đấu tranh của nhândân Việt Nam Để cứu vãn sự suy sụp của chế độ bù nhìn tay sai Ngô ĐìnhDiệm, đế quốc Mỹ tăng viện trợ, lập hệ thống cố vấn, đưa lực lượng yểm trợ vàlực lượng đặc biệt vào miền Nam Việt Nam triển khai chiến lược “Chiến tranhđặc biệt” dưới sự chỉ huy của cố vấn Mỹ, bằng vũ khí và tài chính của Mỹ
Về cơ bản, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” với kế hoạch Xtalây-Taylo dựđịnh thực hiện ba mục tiêu: thứ nhất, bình định miền Nam và gây cơ sở gián điệp,biệt kích ở miền Bắc; thứ hai, khôi phục kinh tế, tăng cường lực lượng quân sự taysai ở miền Nam, đẩy mạnh triển khai kế hoạch chiến tranh phá hoại miền Bắc; thứ
ba, tiến hành khai thác ở miền Nam về kinh tế và tiến công ra Bắc
Phá hoại miền Bắc, đế quốc Mỹ âm mưu triệt tiêu công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cáchmạng miền Nam, sự giúp đỡ từ các nước cho cách mạng Việt Nam; gây trở ngạitới hoạt động kinh tế của nhân dân trên biển; phong tỏa và làm tê liệt hệ thống
Trang 19giao thông sông biển miền Bắc; phá hoại tiềm lực quân sự, tàu thuyền, phươngtiện vận tải của ta, buộc ta phải phân tán lực lượng, huy động nhiều nhân lực vàtốn nhiều thời gian khắc phục; uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân ViệtNam; hỗ trợ đắc lực cho các nỗ lực chiến tranh trên bộ của Mỹ đang diễn ra trêncác lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao.
Mỹ cho rằng, sở dĩ cách mạng miền Nam giành thắng lợi là do có sự hậuthuẫn của miền Bắc Qua miền Bắc, sự giúp đỡ, viện trợ của các nước xã hội chủnghĩa như Liên Xô, Trung Quốc… đã được tiếp nhận và vận chuyển, chi việnvào miền Nam Mọi hoạt động tập kết và vận chuyển hàng hóa đều thực hiện tạicác cửa sông, cửa biển miền Bắc, đặc biệt là khu vực vùng biển Đông Bắc(Quảng Ninh), Hải Phòng
Để thực hiện những mưu toan này, ngay từ những năm sau Hiệp địnhGiơnevơ, Mỹ đã tiến hành chiến tranh tâm lý, tung biệt kích, thám báo vào miềnBắc, móc nối với các phần tử phản động, kích động sự chống đối của một bộphận quần chúng, tiến hành hoạt động phá hoại gây mất ổn định trong nội địa
Mọi sự cố gắng cứu vãn tình thế của Mỹ và quân đội tay sai đã bị quân vàdân miềm Nam đáp trả bằng những đòn đấu tranh sôi nổi giành thắng lợi vẻ vangtrên nhiều mặt trận, diễn ra trên khắp cả nước Không khí đấu tranh ấy lan truyềnsâu rộng nhanh chóng làm rộ lên một làn sóng đấu tranh trong cả nước Khí thếsục sôi đấu tranh giành độc lập khắp nơi đã khiến cho chế độ Mỹ - Diệm khủnghoảng, bế tắc
Với quan điểm chung các nhà lãnh đạo, quân sự Mỹ đưa ra “Bắc ViệtNam là hiểm họa số 1”, là nguồn gốc của phong trào cách mạng ở Việt Nam vàĐông Dương “Cuộc nổi loạn ở miền Nam là do Hà Nội nâng đỡ và chỉ huy từbên ngoài” Do đó, muốn ngăn chặn sự sụp đổ của Sài Gòn, ngăn chặn sự sụp đổhoàn toàn địa vị của Mỹ ở Đông Nam Á, Mỹ phải hành động để “buộc Hà Nộiphải từ bỏ miền Nam” [74; 3-4] Đó là những lý do mà họ đưa ra để hòng chemắt, tranh thủ sự ủng hộ của Quốc hội, che mắt nhân dân Mỹ, nhân dân yêu
Trang 20chuộng hòa bình trên thế giới, tạo dư luận trong nước và quốc tế, nhằm mục đíchhợp thức hóa tiến hành chiến tranh phá hoại ra miền Bắc.
Đầu tháng 6/1964, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn triệu tập các tướng và cố vấnchủ chốt tới Hô-nô-lu-lu để thảo luận “một kế hoạch mới” và đi đến kết luận:
“Tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân chống Bắc Việt Nam”.Chúng liên tục tung nhiều toán biệt kích (Mỹ - Tưởng, Mỹ - Diệm) ra miền Bắc,
ra sức phá hoại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, huy độngnhiều máy bay, tàu chiến xâm phạm vùng trời, vùng biển, khiêu khích, kiếm cớ
để đánh phá miền Bắc nói chung, vùng trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - QuảngNinh gây áp lực, ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc với tiềntuyến miền Nam
Theo chỉ thị của Tổng thống Mỹ Giôn-xơn, nhiều phương án ném bombắn phá miền Bắc được Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ chuẩn bị như chươngtrình gây sức ép quân sự công khai từng bước một của Bộ trưởng Bộ quốc phòngMác Namara (Namara R.S.Mc) bao gồm các cuộc tiến công bằng máy bay vàocác mục tiêu quân sự và kinh tế, “ném bom bắn phá các đô thị, các khu côngnghiệp tập trung, các công trình thủy lợi, các trục giao thông, hoặc thả vi trùng,chất độc hóa học, nhằm phá hoại kinh tế, gây thiệt hại đến tính mệnh và sứckhỏe của nhân dân ta; tập kích vùng ven biển, biên giới đi đôi với hoạt độngquấy rối của lực lượng phản động nội địa, kết hợp với phong tỏa đường biển, bắttàu thuyền của ta, thả thủy lôi phá hoại…” [10;1]
Cao điểm của các hoạt động trong mùa hè năm 1964 là “Sự kiện Vịnh BắcBộ” (5/8/1964), màn kịch tàu khu trục Mỹ bị hải quân miền Bắc Việt Nam tiếncông ở ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ; đó là cái cớ để Mỹ mở cuộc tấn công “Mũi tênxuyên” (Pierce Arrow) đánh vào một số căn cứ hải quân và kho dầu của ta ngaytrong ngày 5/8/1964 Ngay sau đó, Hạ nghị viện, Thượng nghị viện Mỹ họpthông qua “Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ” (7/8/1964) cho phép Tổng thống và giớiquân sự Mỹ toàn quyền hành động
Trang 21Theo “Tài liệu mật Lầu Năm góc”, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ MácNamara đã đưa ra bản dự thảo văn kiện ngày 1/7/1965, đề nghị phong tỏa hoàntoàn luồng vận chuyển thiết bị chiến tranh vào Bắc Việt Nam qua cửa ngõ đườngbiển, đường sắt và đường bộ bằng cách thả mìn, thủy lôi cảng Hải Phòng, QuảngNinh và tất cả các bến cảng khác bằng cách phá hủy các cầu cống trên đường sắt
và đường bộ từ Trung Quốc đi Hà Nội [111, 59]
Để cụ thể cho chiến lược trên, các nhà quân sự Mỹ đưa ra kế hoạch chiếnlược quân sự cho cuộc chiến tranh không quân và hải quân tại miền Bắc:
1/ Phương án A: Tăng cường oanh tạc căn cứ hậu cần Hà Nội - HảiPhòng Theo phương án này, Mỹ sẽ tiếp tục oanh tạc các cơ sở công nghiệp của
ta, sẽ đánh phá mạnh mẽ cùng một lúc và kéo dài tất cả các thành phần thuộc cáctuyến giao thông thủy bộ và trên không tại miền Bắc, đặc biệt là những tuyến ra,vào khu vực Hà Nội, Hải Phòng bằng một loạt oanh tạc tiến sát gần trung tâmcủa toàn bộ khu vực cảng Hải cảng và các luồng ra vào sẽ được thả mìn, hoặctàu bè ngoại quốc phải ra các cửa sông phụ cận để dỡ hàng xuống xà lan Các phi
vụ trinh sát vũ trang tăng cường và có hệ thống sẽ thực hiện nhằm vào các đường
bộ và đường sắt từ Trung Quốc (nhất là đường sắt ở Đông Bắc), nhằm vào cáctàu bè chạy bờ biển và các vị trí bốc dỡ chuyển hàng sang tàu dọc ven biển, vànhằm vào tất cả các tuyến giao thông khác trên bộ Tám sân bay lớn, các hảicảng có mực nước sâu, Cẩm Phả, Hòn Gai sẽ bị đánh phá và thả mìn
2/ Phương án B: Nhấn mạnh đến các đường xâm nhập ở phía nam vĩtuyến 20 Phương án này trọng tâm chủ yếu không phải là ngăn chặn việc đưavật dụng nhập khẩu vào miền Bắc nước ta mà là ngăn chặn không cho binh lính
và vật dụng quân sự ra khỏi miền Bắc để vào miền Nam
3/ Phương án C: Mở rộng kế hoạch hiện thời Thực chất đó chính là sự cảitiến kế hoạch đã được chuẩn y và thực hiện vào thời điểm hiện tại và một sựdung hòa giữa phương án A và phương án B Theo phương án đó, trong khi tránhkhông oanh tạc khu vực cấm 10 dặm quanh Hà Nội, không oanh kích và thả mìn
Trang 22các hải cảng, đế quốc Mỹ sẽ thực hiện một số nỗ lực mạnh mẽ đánh phá tất cảcác tuyến giao thông khác trên bộ, dưới biển, trên không của miền Bắc; vẫn duytrì việc triệt hạ các mục tiêu cố định quan trọng Các phi vụ trinh sát vũ trangrộng rãi, kéo dài và có hệ thống sẽ được thực hiện nhằm vào các đường bộ,đường sắt và tàu bè vận chuyển ven biển trong toàn miền Bắc và 8 sân bay lớncũng sẽ bị đánh phá có hệ thống [111; 390].
Nằm trong âm mưu phong toả các vùng sông biển miền Bắc, mục tiêu phongtoả vùng biển Quảng Ninh của đế quốc Mỹ nhằm hỗ trợ đắc lực cho các mục tiêuphá, đẩy cao hơn một bước phá hoại tiềm lực, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hộicủa miền Bắc nói chung, Quảng Ninh nói riêng, đặc biệt là các khu vực cảng biểnHòn Gai, Cẩm Phả; ngăn chặn, phong tỏa, cô lập, cắt đứt nguồn chi viện quốc tếcho Việt Nam, nguồn chi viện từ miền Bắc vào miền Nam; làm giảm sút ý chí chiếnđấu của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Ngoài ra, đánh phá, phong toả, cô lập vùng biển Quảng Ninh, đế quốc Mỹcòn nhằm phá hoại tiềm lực của lực lượng Hải quân của ta, ngăn chặn các hoạtđộng quân sự Hải quân trên vùng biển Quảng Ninh, vùng biển Đông Bắc (Quânchủng Hải quân có rất nhiều căn cứ đồn trú trên vùng biển Quảng Ninh - khuvực Hạ Long, Bái Tử Long, Cẩm Phả, Bãi Cháy, Quảng Yên )
Đối phó âm mưu, hành động của đế quốc Mỹ và tay sai, nhân dân miềnBắc ra sức sản xuất, xây dựng bước đầu cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa
xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, chuẩn bị lựclượng sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, phong tỏa của đế quốc
Mỹ, đồng thời ra sức chi viện cho miền Nam về người và của, tranh thủ sựủng hộ của bạn bè yêu chuộng hòa bình trên thế giới, góp phần đánh bạichiến lược chiến tranh của Mỹ
Cuối năm 1963, Hội đồng chính phủ ra Chỉ thị số 112 - CP triển khai côngtác phòng không nhân dân trên phạm vi toàn miền Bắc, chuẩn bị sẵn sàng chiếnđấu Tiếp theo đó, Bộ Quốc phòng ra mệnh lệnh số 372/ML về tổ chức lực lượng
Trang 23bắn máy bay địch, chỉ thị số 157 - B về công tác phòng không Tháng 3/1964,Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh quyết định chuyển một bộ phận lựclượng vũ trang miền Bắc, trong đó có Quân chủng Hải quân từ trạng thái thờibình sang thời chiến Tất cả các đơn vị cao xạ, ra đa, tuần tra của binh chủng,quân chủng Hải quân cũng như các lực lượng vũ trang khác đều lấy nhiệm vụhuấn luyện chiến đấu làm trung tâm Tháng 6/1964, Bộ chính trị ra Chỉ thị yêucầu các đơn vị, các địa phương tăng cường công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấuđánh bại mọi âm mưu khiêu khích, đánh phá miền Bắc của địch Phối hợp vớilực lượng Hải quân, nhân dân Quảng Ninh nêu cao tinh thần sẵn sàng chiến đấu.
Quảng Ninh thuộc Quân khu Tả Ngạn giáp vùng biển Đông và liền kề vớiHải Phòng Đây là một trong những nơi trọng yếu mà đế quốc Mỹ xác định đánhchiếm ngay từ những ngày đầu khi đánh phá miền Bắc
Với phương châm “mỗi người làm việc bằng hai”, quân dân Quảng Ninh
đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc khôi phục và phát triển kinh tế,chú trọng củng cố quốc phòng an ninh để chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu khi đếquốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại ra miền Bắc
Cùng với việc tăng cường công tác quốc phòng an ninh, ngay từ năm
1961, Ban thường vụ Khu ủy Hồng Quảng ra nghị quyết thành lập Ban Nghiêncứu xây dựng và củng cố căn cứ địa của khu tại huyện Hoành Bồ, đề phòng khi
có chiến tranh Đến ngày 30/10/1963, Quốc hội đã kí Quyết nghị phê chuẩn việchợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành một đơn vị hành chính mớilấy tên là tỉnh Quảng Ninh Sự kết hợp ấy mang lại sự phát triển về mọi mặt kinh
tế, văn hóa giáo dục, y tế, và an ninh quốc phòng Quốc phòng lớn mạnh, an ninhđược giữ vững Thắng lợi đó là tiền đề cho Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh vữngbước thực hiện nhiệm vụ cách mạng mới
1.3 Chủ trương của Đảng trong chỉ đạo chống đế quốc Mỹ phong tỏa
Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi bàn về đường lối chiến tranh nhândân trên chiến trường sông biển, cho rằng: “Chiến tranh nhân dân trên chiến
Trang 24trường sông biển nhất định phải do toàn dân, trực tiếp là do nhân dân ở trênsông, trên biển và ở vùng ven biển, ven sông tiến hành, lấy lực lượng hải quân vàcác lực lượng vũ trang khác hoạt động ở trên sông, trên biển và ở vùng ven sông,ven biển làm nòng cốt Các lực lượng đó nhờ dựa vững chắc vào đất liền vàthông luồng lạch trên sông biển nên có thế rất lợi để đánh địch Vấn đề đặt ra làcần tổ chức và phối hợp các lực lượng này một cách thích hợp và chặt chẽ, nhằmphát huy được sức mạnh của toàn dân đánh giặc trên chiến trường sông biển”[90; 26]
Chính vì vậy, lực lượng Hải quân tuy còn non trẻ nhưng đã sớm nhận thứcđược vai trò nòng cốt của mình trong thế trận chiến tranh nhân dân trên chiếntrường sông biển, thực hiện tốt việc hiệp đồng chiến đấu với các quân, binhchủng khác và dân quân tự vệ ven sông, biển ở địa phương, để phát huy sứcmạnh tổng hợp, chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược với dã tâm phong tỏavùng sông biển
Phong tỏa, theo GS Phan Ngọc Liên “ là bao vây một nước (hoặc mộtkhu vực) bằng các biện pháp quân sự, chính trị, kinh tế nhằm gây khó khăn, làmsuy yếu để buộc nước đó phải đầu hàng hoặc thực hiện những yêu cầu của nướcphong tỏa nếu ra” [100; 319]
Phòng chống địch phong toả bằng thủy lôi là những hoạt động và biệnpháp đặc biệt được tiến hành nhằm bảo đảm cho các tàu chiến đấu, tàu vận tảikhông bị thiệt hại Để phòng chống thủy lôi phải tổ chức: quan sát, thông báonhững thủy lôi đã phát hiện thấy ở những khu vực trú đậu, trên những tuyếnhành quân, trên những khu vực hoạt động chiến đấu, rà phá thủy lôi, dẫn tài đisau bộ quét, tránh thủy lôi đã phát hiện được Ngoài ra, còn phải tìm và phánhững thủy lôi trôi, khi cần thiết phải tiến hành rà phá kiểm tra các luồng và khuvực dự kiến sẽ triển khai lực lượng Lực lượng phòng chống thủy lôi gồm: cácđài, trạm quan sát trên bờ, các phương tiện phát hiện thủy lôi của tàu và máy bay,lực lượng rà phá thủy lôi [51]
Trang 25Như vậy, theo lí luận này, chúng ta hiểu cuộc phong tỏa của đế quốc
Mỹ trên vùng sông biển miền Bắc Việt Nam chủ yếu dùng biện pháp quân sự
để uy hiếp về chính trị, làm giảm ý chí chiến đấu của nhân dân ta, giảm sự chiviện của miền Bắc đối với miền Nam và buộc chúng ta phải nhượng bộ trênchính trường Chính vì thế, từ khi Đế quốc Mỹ thực hiện chiến tranh leo thangmiền Bắc, biện pháp mà chúng cho là “hữu hiệu nhất” chính là sử dụng tàuchiến cùng máy bay của Hải quân và không quân đánh phá, ngăn chặn, thảthủy lôi, bom từ trường hết sức ác liệt để phong tỏa vùng sông biển miền Bắc;kết hợp với các biện pháp chính trị, ngoại giao và kinh tế hòng đè bẹp ý chíchống xâm lược và thống nhất đất nước của quân và dân ta Chống phong tỏavùng sông biển thực chất chính là phòng chống thủy lôi, bom từ trường do đếquốc Mỹ rải xuống miền Bắc nước ta Bởi lẽ, đây chính là hình thức leo thangchiến tranh chủ yếu, nguy hiểm nhất trên chiến trường sông biển, gây hậu quảnặng nề nhất đối với cách mạng Việt Nam và toàn quân, dân trên toàn miềnBắc (Cô Tuyết có hỏi: Tại sao chống phong tỏa mà lại chỉ chống thủy lôi vàbom từ trường, mà không phải hình thức khác… em đã trình bày và chỉ rõthêm ý này cô nhé)
Điều này cho thấy, cuộc chiến chống phong tỏa vùng sông biển miền Bắcbằng thủy lôi và bom từ trường của của đế quốc Mỹ là một nhiệm vụ vô cùngnặng nề, ảnh hưởng trực tiếp đến thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ,cứu nước của dân tộc ta Đây là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn quân, toàndân ta Trong cuộc chiến đấu chống địch phong tỏa phải huy động sức mạnh tổnghợp với nhiều thành phần lực lượng vũ trang, bán vũ trang của quân khu, quânchủng, binh chủng, các bộ, ngành, cơ quan dân, chính, Đảng Cuộc chiến đấunày hoàn toàn mới mẻ, chưa có tiền lệ trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc;kinh nghiệm chiến đấu cũng như lực lượng chống phong tỏa hầu như chưa đượcxây dựng có hệ thống, chưa qua kiểm nghiệm thực tế Có thể thấy, đây là mộtcuộc đấu trí giữa nền khoa học kĩ thuật quân sự hùng hậu của đế quốc Mỹ với trí
Trang 26tuệ và tinh thần quyết chiến quyết thắng của quân và dân ta trên mặt trận khoahọc và kĩ thuật.
Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng chốt trên chiến trườngsông biển, các căn cứ quan trọng của Hải quân đóng quân ở khu vực Hải Phòng -Quảng Ninh Vì vậy, nơi đây cũng chính là một trong những địa bàn mà Mỹchọn làm trọng điểm đánh phá, phong tỏa ác liệt
Chống phong tỏa các cửa sông, cảng biển miền Bắc bằng thủy lôi, bom từtrường là một nhiệm vụ hết sức mới mẻ, phức tạp và hết sức khó khăn đối vớiĐảng và quân dân ta nói chung, với Quân chủng Hải quân nói riêng
Chỉ hai ngày sau khi giặc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, BộChính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 81-CT/TW
“Về tăng cường sẵn sàng chiến đấu chống mọi âm mưu của địch khiêu khích,phá hoại miền Bắc” Chỉ thị đã nhận định rằng: “Đứng trước tình hình đó, nhất làtrước nguy cơ thất bại nặng nề hơn nữa ở miền Nam Việt Nam, bọn cầm quyền
Mỹ một lần nữa đang ra sức tìm mọi cách hòng cứu vãn tình thế Chúng đangbàn tính mấy giải pháp sau đây: 1/ Đẩy mạnh hơn nữa cuộc chiến tranh xâm lượcmiền Nam, đồng thời tăng cường hoạt động khiêu khích và phá hoại miền Bắc,hòng uy hiếp tinh thần nhân dân ta và ngăn cản sự giúp đỡ của miền Bắc đối vớimiền Nam 2/ Đánh ra miền Bắc, mở rộng chiến tranh xâm lược của chúng ratoàn nước ta 3/ Dùng một giải pháp chính trị nào đó để giải quyết vấn đề ViệtNam” Và nêu rõ nhiệm vụ trước mắt là “Ra sức xây dựng miền Bắc trong hòabình, đồng thời luôn sẵn sàng ứng phó với mọi tình thế” [39; 1]
Thi hành Chỉ thị số 81 của Trung ương Đảng, ngày 15/8/1964, Tỉnh ủyQuảng Ninh đã họp ra Nghị quyết số 27-NQ/TU “Về tăng cường sẵn sàng chiếnđấu chống âm mưu khiêu khích và phá hoại miền Bắc của địch”, chỉ rõ: ToànĐảng bộ mở đợt phổ biến, giải thích trong toàn dân âm mưu thủ đoạn của địch,đẩy mạnh phong trào thi đua “mỗi người làm việc bằng hai”, đoàn kết, nhất trí,sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng Ở các cấp huyện, thị, các cơ sở sản xuất phải
Trang 27phối hợp chặt chẽ dân quân tự vệ, công an với các lực lượng vũ trang đóng trênđịa bàn để đẩy mạnh sản xuất với sẵn sàng chiến đấu.
Quân ủy Trung ương cũng nhận định: trước sau đế quốc Mỹ và bè lũ taysai sẽ mở rộng cuộc chiến tranh ra miền Bắc bằng cách cho bộ binh đổ bộ đánhchiếm một số tỉnh thuộc Khu 4 hoặc dùng lực lượng không quân, hải quân đánhphá miền Bắc hòng ngăn cản sự chi viện của miền Bắc, cứu nguy cho sự sụp đổcủa chính quyền ngụy Sài Gòn trước thế tiến công cách mạng như vũ bão củaquân và dân miền Nam Sau ngày 2 và 5/8, các kế hoạch xây dựng lực lượng vũtrang chuyển hẳn sang kế hoạch thời chiến nhằm nâng cao tốc độ xây dựng vũtrang lên cả ba thứ quân, cả miền Nam và miền Bắc Cuối tháng 4, Bộ TổngTham mưu ra lệnh báo động sẵn sàng chiến đấu trong lực lượng phòng không,đến đầu tháng 6, chỉ thị sẵn sàng chiến đấu chống âm mưu khiêu khích, đánh phácủa không quân địch được áp dụng cho toàn lực lượng vũ trang miền Bắc Tháng9/1964, Bộ Tổng tham mưu đã tổ chức hội nghị “Phòng không nhân dân toànmiền Bắc lần thứ nhất” để bàn biện pháp đánh bại các cuộc tập kích của khôngquân, hải quân Mỹ, bảo vệ miền Bắc
Tháng 2/1965, đế quốc Mỹ đẩy mạnh leo thang bắn phá miền Bắc với quy
mô rộng lớn hơn Ngày 23/2/1965, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đãhọp và ra Nghị quyết số 39-NQ/TU “Về phát triển kinh tế văn hóa năm 1965”.Sau khi nêu lên những thành quả mà Đảng bộ và nhân dân Quảng Ninh đã đạtđược trong năm 1964, Đảng bộ không quên đề ra phương hướng nhiệm vụ trongnăm 1965 Trong đó, đối với vấn đề an ninh quốc phòng, Nghị quyết có nêu rõsẵn sàng chiến đấu chống mọi hành động chiến tranh của đế quốc Mỹ Nghịquyết 39 không những đánh dấu bước phát triển mới cho mục tiêu kinh tế màcòn là dấu mốc lịch sử quan trọng về chuyển hướng xây dựng kinh tế của tỉnh từthời bình sang thời chiến
Trước những hành động đánh phá điên cuồng của đế quốc Mỹ, Hội nghịBan Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 11 (khóa III) họp từ ngày 25 đến
Trang 2827/3/1965 đã xác định nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là: “Tiếptục xây dựng miền Bắc, kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế và tăng cường quốcphòng, kiên quyết bảo vệ miền Bắc, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại vàphong tỏa bằng không quân, hải quân của địch, chuẩn bị sẵn sàng để đánh địchtrong trường hợp chúng đưa cuộc chiến tranh phá hoại hiện nay đến một mức độ
ác liệt gấp bội hoặc chuyển nó thành cuộc “chiến tranh cục bộ” ở cả miền Namlẫn miền Bắc, ra sức động viên lực lượng ở cả miền Bắc, chi viện cho miền
Nam…” [58; 19].
Trung ương Đảng xác định nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân
ta là phải chiến thắng cho kỳ được cuộc chiến tranh đặc biệt ở mức độ cao nhấtcủa địch ở miền Nam, tích cực chống lại và đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại,phong tỏa bằng không quân và hải quân của địch ngày càng ác liệt ở miền Bắc
Từ những nhận định ban đầu, ngay khi địch tiến hành khiêu khích ra miềnBắc, Đảng ta đã đưa ra những chủ trương, kế hoạch để toàn dân đoàn kết chốngchiến tranh phá hoại, chiến tranh phong tỏa của đế quốc Mỹ trên các vùng sông,biển miền Bắc Để giành thắng lợi, Đảng ta đã chủ trương phát động cuộc chiếntranh đất đối không chưa từng có trong lịch sử dân tộc Vận dụng và phát triển cáchđánh sáng tạo trong điều kiện cụ thể của nước nhà, Đảng đề ra nội dung toàn dânđánh máy bay và tàu chiến của địch, toàn dân làm công tác phòng tránh, toàn dânđảm bảo giao thông vận tải, kết hợp chặt chẽ giữa chiến đấu và sản xuất
Trên chiến trường sông biển, Đảng chủ trương phát triển thế trận chiếntranh nhân dân, đất đối không, biển đối không, biển đối không, biển đối biển,trong đó lực lượng Hải quân giữ vai trò nòng cốt chống Mỹ phong tỏa các cửasông, cửa biển, chặn thế tiến công của chúng từ hướng biển vào
Bộ Tư lệnh Hải quân là đơn vị nòng cốt, tham mưu, chỉ đạo nghiệp vụtrong thực hiện nhiệm vụ chống chiến tranh phong tỏa bằng thủy lôi của địch;trực tiếp tổ chức và chỉ huy các lực lượng hải quân chiến đấu trên chiến trườngsông, biển Ngay từ đầu, Bộ Tư lệnh đã nhận định địch thả thuỷ lôi phong tỏa
Trang 29cảng Hải Phòng và khu vực Đông Bắc và xác định tập trung chống phong tỏa ởcác khu vực cảng Hải Phòng, cảng Cẩm Phả, Hòn Gai và các tuyến luồng ra vào
ba cảng trên Bộ Tư lệnh cũng xác định chủ yếu địch dùng máy bay hải quân đểthả thủy lôi
Điểm mạnh của địch là tiềm lực kinh tế quốc phòng và lực lượng khôngquân và hải quân mạnh, chủ động về không gian, thời gian, khu vực cần phongtỏa; có nhiều kinh nghiệm trong tác chiến phong tỏa, cũng như giải quyết hậuquả thủy lôi từ Đại chiến thứ II, chiến tranh Triều Tiên…; có kinh nghiệm trongtác chiến hiệp đồng quân chủng; các căn cứ hậu cần, kĩ thuật (tàu sân bay) gầnnơi phong tỏa: 60-150 hải lý, vừa thuận lợi cho tàu sân bay của chúng vừa phongtỏa vừa kiểm tra kết quả Đế quốc Mỹ đã ứng dụng những thành tựu khoa học kĩthuật tiên tiến, liên tục cải tiến vũ khí và bom từ trường DST-36, thủy lôi MK-
50, MK-52; có hệ thống trinh sát, thông tin và tính cơ động cao, hiệp đồng chặtchẽ giữa máy bay và tàu chiến; có các máy bay chuyên dụng trong mọi thời tiếtchuyên thả thủy lôi và làm nhiệm vụ cường kích, trinh sát (A4, A6, A7…)
Tuy nhiên, điểm yếu của địch là cuộc phong tỏa do chúng phát động làcuộc chiến tranh phi nghĩa nên tinh thần của bọn giặc lái bạc nhược, lo sợ vì bịthương vong, nhất là phải tác chiến trong thế trận phòng không nhân dân củaquân và dân ta ở địa hình hiểm trở, nhất là khu vực Đông Bắc Hệ thống sôngngòi ở miền Bắc nước ta chằng chịt, hẹp, quanh co, độ chênh lệch thủy triều lớn,trời sương mù nhiều (nhất là vào mùa xuân)… nên hiệu quả thả thủy lôi đúng vịtrí cần phong tỏa đạt tỉ lệ thấp Hệ thống vũ khí thủy lôi, bom từ trường dù tinh
vi, hiện đại nhưng là vũ khí thụ động, vẫn bộc lộ một số hạn chế mà địch chưakhắc phục được như bom từ trường DST-36 có độ kín nước kém, chống nhiễuchưa triệt để, dễ bị phá, bẫy tháo gỡ lộ liễu Đối với thủy lôi MK-50, MK-52:máy móc tinh vi, phức tạp nhưng dễ hỏng hóc, máy định vị dễ bị nhầm lẫn, nếu
ở độ sâu nhỏ hơn 4m thì máy móc không hoạt động được dễ bị phát hiện, vì khithả phải có dù, dễ tháo gỡ vì không có hệ thống chống tháo, tàu thuyền phải có
Trang 30trọng tải từ 800 tấn trở lên đối với loại MK-52 cải tiến thì máy gây nổ mới làmviệc được; qua đó ta có thể tính toán cho các tàu thuyền loại nhỏ qua được dễdàng Địch phải đối chọi với một dân tộc có tinh thần dũng cảm, ý thức tự lực tựcường, tiến hành chiến tranh chính nghĩa chống xâm lược, có lối đánh biến hóa
và mưu trí” [57; 30 - 31]
Về vấn đề tác chiến trên chiến trường sông biển, ta kết hợp phương thứctác chiến tại chỗ, rộng khắp của lực lượng vũ trang ba thứ quân với phương thứctác chiến tập trung hiệp đồng quân chủng, binh chủng giữa phòng không - khôngquân, pháo binh, Hải quân tạo nên lưới lửa dày đặc tiêu diệt máy bay, tàu chiếncủa địch
Việc kết hợp tác chiến tại chỗ và rộng khắp của lực lượng vũ trang ba thứquân nhằm thu hút đông đảo nhân dân vùng ven sông, ven biển tham gia đánhmáy bay, tàu chiến địch, làm cho địch đi đến bất cứ nơi nào cũng bị đánh trảquyết liệt Việc đẩy mạnh tác chiến tập trung, hiệp đồng quân chủng, binh chủngnhằm phát huy cao nhất vai trò nòng cốt, chủ lực của lực lượng Hải quân trênchiến trường sông biển Từ đó, phát triển sức mạnh lực lượng tại chỗ với sứcmạnh cơ động, sức mạnh rộng khắp và sức mạnh có trọng điểm giành thắng lợitrong từng trận đánh, trong từng chiến dịch [69;115]
Ngay từ tháng 9/1965, Thương trực Quân ủy Trung ương đã chỉ rõ: vấn đềchống địch phong tỏa cảng là một nhiệm vụ cấp thiết; Đảng ủy và Bộ Tư lệnhHải quân cần tích cực nghiên cứu kế hoạch và chuẩn bị đối phó phải quán triệtđường lối chiến tranh nhân dân vào thực tế tác chiến và xây dựng của Hải quân;nắm vững tư tưởng chỉ đạo tác chiến của Hải quân là đánh du kích, chú trọnghiệp đồng với các binh chủng khác… Đầu năm 1966, khi đế quốc Mỹ dùngkhông quân và hải quân đánh phá ác liệt toàn miền Bắc, Quân ủy Trung ương đãnhận định địch có thể tiến hành đánh phá bao vây phong tỏa mặt biển và cáccảng, đặc biệt là cảng Hải Phòng [56; 17]
Đầu năm 1966, Mỹ tuyên bố vùng biển Việt Nam và vùng kế cận là khu
Trang 31vực hoạt động chiến đấu của lực lượng vũ trang Mỹ, đồng thời báo chí Mỹ đãtung tin Mỹ sẽ tiến hành oanh tạc, phong tỏa các cảng tại Hải Phòng, QuảngNinh thăm dò dư luận cho việc chuẩn bị tiến hành bao vây các cảng, sông biểnmiền Bắc Việt Nam bằng thủy lôi, bom từ trường - một thủ đoạn chiến tranh bịthế giới coi là vô nhân đạo.
Trước tình hình đó, ngày 1/6/1966, Thường trực Quân ủy Trung ương raNghị quyết về nhiệm vụ của Hải quân xác định rõ: “Vấn đề chống phong tỏa làmột nhiệm vụ cấp thiết Đảng ủy và Bộ Tư lệnh cần tích cực nghiên cứu kếhoạch và tích cực đối phó” [53; 170]
Quán triệt sự lãnh đạo của Thường trực Quân ủy Trung ương, ngày5/8/1966, Đảng ủy Bộ Tư lệnh Hải quân họp đề ra các chủ trương biện phápchống phong tỏa Trên cơ sở phân tích những thuận lợi, khó khăn, Đảng ủy đề ramột số chủ trương, biện pháp: “Với thực lực hiện có, Quân chủng cũng phải tíchcực triển khai chuẩn bị kế hoạch chống phong tỏa như tổ chức quan sát pháthiện, kiểm tra, tổ chức lặn mò, phá gỡ thủy lôi; cùng Bộ Giao thông vận tải làm
kế hoạch sơ tán tàu thuyền một cách toàn diện; cùng với Bộ Tư lệnh Phòngkhông - Không quân làm kế hoạch bảo vệ tàu thuyền quốc doanh và tàu Hảiquân; mặt khác đề nghị trên liên hệ nhờ nước bạn (Liên Xô, Trung Quốc) giúp
đỡ tăng cường phương tiện và biện pháp khắc phục Cần chú trọng củng cố lựclượng cán bộ biệt phái sang các đoàn tàu vận tải, đánh cá quốc doanh Trungương thông báo tình hình, giúp đỡ làm kế hoạch đi lại trú đậu, kế hoạch tác chiếnbảo vệ” [59; 358]
Đến ngày 20/6/1966, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị: “Phải tích cực đánhđịch không để chúng phong tỏa cảng, chuẩn bị mọi điều kiện để khi địch phongtỏa thì giải tỏa nhanh chóng” [55; 20]
Chấp hành chỉ thị của Quân ủy Trung ương và được sự ủy quyền của BộTổng Tham mưu, trong hai ngày 23 và 24/6/1966, Bộ tư lệnh Hải quân tổ chứchội nghị hiệp đồng các lực lượng tham gia chống phong tỏa do Đại tá Nguyễn
Trang 32Bá Phát - Tư lệnh Hải quân chủ trì, để bàn kế hoạch hiệp đồng, phân công nhiệm
vụ chống phong tỏa; đồng thời chỉ đạo các lực lượng chống phong tỏa trên toànmiền Bắc và trực tiếp tổ chức triển khai các lực lượng chống phong tỏa của Hảiquân Cụ thể là các công việc tổ chức lực lượng rà phá thủy lôi, bom từ trường -lực lượng nòng cốt của Quân chủng trong việc phá gỡ thủy lôi khi địch phongtỏa; xây dựng các đài, trạm quan sát ở các cửa sông, ven biển và trên các đảo đểtheo dõi, phát hiện, đánh dấu lên hải đồ các khu vực bị địch phong tỏa, làm cơ sởcho việc vòng tránh và tháo gỡ thủy lôi; tổ chức bộ phận nghiên cứu kĩ thuật đểtiến hành nghiên cứu vũ khí địch; thiết kế chế tạo các thiết bị, phương tiện rà pháthủy lôi và huấn luyện kĩ thuật cho các lực lượng chống phong tỏa
Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã chủ trương tích cực đánh địch,đừng để địch phong tỏa cảng; quyết tâm huy động mọi lực lượng chống phongtỏa, tận dụng và phát huy mọi khả năng, phương tiện, khí tài hiện có để đánhđịch, ngăn chặn không cho địch thả thủy lôi, đồng thời có kế hoạch giải quyếtnếu địch thả Bộ Quốc phòng giao cho Bộ Tư lệnh Hải quân lập đề án, tổ chứchiệp đồng các lực lượng chống phong tỏa [56; 17-18]
Cũng trong ngày 20/6/1966, Bộ Tổng Tham mưu ra chỉ thị số 390/TMxác định rõ: các lực lượng cao xạ, pháo bờ biển hiệp đồng bố trí và tích cựcchống địch phong tỏa bằng cách đánh máy bay, tàu chiến đến phong tỏa.Không quân nghiên cứu và thực tập đánh máy bay địch vào phong tỏa các cảngchính, tăng cường các loại súng phòng không đặt trên các vị trí trên bờ, dọctheo luồng lạch quan trọng; phải hết sức tích cực đánh địch, không cho địchphong tỏa cảng được nhanh chóng, chú ý ba trọng điểm là ba cảng chính: HảiPhòng, Hòn Gai, Cẩm Phả
Theo chỉ thị này, Quân chủng Hải quân được Bộ Quốc Phòng giao nhiệm
vụ làm tham mưu cho Bộ trong việc tháo gỡ thủy lôi; chỉ đạo nghiệp vụ tháo gỡ;chỉ đạo kỹ thuật, biên soạn tài liệu để huấn luyện, nghiên cứu kĩ thuật rà pháthủy lôi; tổ chức các đội phá, gỡ thủy lôi chuyên nghiệp, cơ động, dự bị của Bộ
Trang 33cho các nơi trọng điểm; làm nòng cốt tuần tiễu ở 3 cảng lớn: Hải Phòng, HònGai, Cẩm Phả; tìm đường vòng tránh, tổ chức tháo gỡ thủy lôi…; lập đề án, tổchức hiệp đồng lực lượng chống phong tỏa.
Từ ngày 26/2/1967, địch bắt đầu mở chiến dịch thả thủy lôi, bom từtrường phong tỏa các cửa sông Nhật Lệ, Cửa Gianh, Cửa Hội, Lạch Trào, CửaSót, Cửa Ròn ở Quân khu 4 và sau đó lần dần ra phía Bắc Tháng 9/1967, cácsông, các bến phà ra vào Hải Phòng đều bị địch thả bom từ trường (trừ luồng vàocảng) gây nên tình hình rất căng thẳng, hoang mang trong nhân dân Nhưng do
có sự chủ động chuẩn bị về mọi mặt để đối phó với phong tỏa của địch nên Đảng
bộ Quân chủng không hề bị bất ngờ, đã nhanh chóng lãnh đạo, chỉ đạo quânchủng triển khai các biện pháp phá gỡ giải phóng luồng lạch
Ngày 8/3/1967, Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh thông qua Kế hoạchchống phong tỏa Kế hoạch nêu rõ chủ trương là, cần phải “huy động mọi lựclượng, mọi khả năng, trang bị kĩ thuật, khí tài làm nhiệm vụ chống phong tỏa”,trong tổ chức tiến hành rà phá thủy lôi phải khẩn trương, nhưng từng bước, có trọngtâm, trọng điểm, bảo đảm an toàn, bí mật; phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu kĩthuật để sản xuất ra nhiều loại khí tài phóng từ, khí tài phóng âm thanh các loại thủylôi địch; tiếp tục tổ chức các trạm quan sát ở phía nam (Quân khu 4); đồng thời làmtốt công tác tuyên truyền giáo dục và phát động rộng rãi trong nhân dân ở vùng venbiển tham gia chống phong tỏa
Thực hiện chủ trương của Quân ủy Trung ương về thực hiện nhiệm vụchống phong tỏa, Bộ Tổng Tham mưu đã có Chỉ thị số 16-TM/CT ngày14/4/1967 về phòng chống phá gỡ thủy lôi địch, trong đó giao cho Bộ Tư lệnhHải quân kiêm Quân khu Đông Bắc “nhiệm vụ tham mưu cho Bộ về chống, pháthủy lôi cho toàn thể lực lượng vũ trang và bán vũ trang, đồng thời tổ chức cácđội phá gỡ thủy lôi ở các khu vực trọng điểm” [59; 360]; đồng thời giao cho cáclực lượng tổ chức quan sát thủy lôi, tổ chức các đội mò, vớt, lấy lực lượng côngbinh làm nòng cốt; với phương châm hành động: phá hủy là chủ yếu, mò vớt để
Trang 34nghiên cứu là thứ yếu.
Chấp hành Chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu và thực hiện sự ủy quyền của
Bộ Quốc Phòng, hai ngày 5 và 6/7/1967, Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh đãchủ trì tổ chức Hội nghị hiệp đồng chống phong tỏa lần thứ nhất, gồm đại biểucủa các lực lượng Quân khu Tả Ngạn, Quân khu Hữu Ngạn, Quân khu Việt Bắc,
Bộ Tư lệnh Thủ đô, Bộ Tư lệnh Công an vũ trang, Bộ Tư lệnh Công binh, CụcTác chiến, Cục Dân quân, Cục Đường biển, Cục Đường sông (Bộ Giao thôngvận tải), Tổng cục Thủy sản, Bộ Tư lệnh Hải quân kiêm Quân khu Đông Bắc, Bộ
Tư lệnh 350 Hải Phòng và Công an vũ trang Quảng Ninh
Hội nghị đã bàn và thống nhất các biện pháp chống phong tỏa như: Về tổchức quan sát phải kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng vũ trang và bán vũ trang,tập trung ở các khu vực ven sông, ven biển; Gấp rút tổ chức các đội phá gỡ thủylôi chuyên nghiệp; Nghiên cứu các phương án mở đường vòng tránh, trước khigiải tỏa một khu vực bị phong tỏa sử dụng biện pháp vòng tránh là chủ yếu;Tăng cường hỏa lực phòng không bắn máy bay tầm thấp để hạn chế, ngăn cảnđịch thả thủy lôi; Các lực lượng, đơn vị phải tận dụng tốt khả năng của xí nghiệpcông nghiệp để sản xuất phương tiện, khí tài rà phá thủy lôi Hội nghị xác địnhmột số trọng điểm cần tập trung khả năng chống phá địch phong tỏa thủy lôi nhưkhu vực Đông Bắc Vì vậy cần chú ý luồng ra vào cảng Hòn Gai, Cẩm Phả, đặcbiệt là luồng vận chuyển Việt - Trung, chú ý các đoạn sông Chanh, Bạch Đằng,phà Bãi Cháy, phà Rừng
Sau Hội nghị chống phong tỏa lần thứ nhất, đến ngày 16/8/1967, Bộ Tưlệnh Hải quân kiêm Quân khu Đông Bắc tiếp tục chủ trì Hội nghị hiệp đồngchống phong tỏa lần thứ hai, bàn thống nhất cụ thể về phân công nhiệm vụ và kếhoạch của các lực lượng chống phong tỏa Theo kế hoạch đã được thống nhất tạiHội nghị, lực lượng Hải quân có nhiệm vụ tổ chức rà phá, tháo gỡ thủy lôi, bom
từ trường ở các cửa biển, các luồng chính vào cảng và cửa sông ven biển; huấnluyện, hướng dẫn kĩ thuật rà phá bom mìn, thủy lôi và nghiên cứu chế tạo thiết bị
rà phá cho các lực lượng khác
Trang 35Cùng với tổ chức và chủ trì các hội nghị hiệp đồng chống phong tỏa,Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh tích cực chủ động tiến hành các biện phápnhằm huy động mọi lực lượng, mọi khả năng của quân chủng, quân khu thamgia vào chống phá thủy lôi địch Ngay từ đầu tháng 4/1967, Thường vụ Đảng
ủy và Bộ Tư lệnh giao nhiệm vụ phá gỡ thủy lôi chống phong tỏa cho các lựclượng, đơn vị
Ngày 14/6/1967, Bộ Tư lệnh ra Chỉ thị về nhiệm vụ chống phong tỏa thủylôi khu vực Đông Bắc, nêu rõ: phát động toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trongtỉnh (Quảng Ninh) nhận thức đầy đủ âm mưu thủ đoạn của thủy lôi địch, quántriệt sâu sắc tính chất, tầm quan trọng của công tác chống phong tỏa thủy lôi, để
ra sức chuẩn bị mọi mặt về tinh thần, vật chất và tổ chức, nỗ lực tham gia chốngphá thủy lôi, tích cực đánh địch, đồng thời tích cực giải tỏa nhanh chóng và mởđường vòng tránh ngay sau khi địch thả, bảo đảm giao thông không bị gián đoạn,duy trì sự làm ăn của nhân dân và hoạt động chiến đấu của ta trong bất kì tìnhhuống nào
Bộ Tư lệnh nhấn mạnh các cấp ủy cần trực tiếp lãnh đạo, giáo dục quántriệt tình hình chống phong tỏa thủy lôi sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân,trong các lực lượng của quân chủng, quân khu Trên cơ sở đó, huy động mọilực lượng vũ trang và bán vũ trang, các ngành và đông đảo nhân dân tham gia;thống nhất lãnh đạo, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng Lấy tinh thần tựlực cánh sinh, tận dụng mọi trang bị thô sơ sẵn có, phát huy tính sáng tạo củaquân chúng, tận dụng mọi khả năng công nghiệp của địa phương để sáng tạomọi dụng cụ thô sơ kết hợp với khí tài kĩ thuật hiện đại tạo ra nhiều biện phápchống phong tỏa hiệu quả
Quán triệt sâu sắc các nhiệm vụ được giao, các đơn vị đóng quân của Hảiquân nhân dân Việt Nam như Trung đoàn 171, 172, đơn vị sông Mã, các trungđoàn phòng không, các đơn vị phòng thủ đảo… trong quân chủng, quân khu lãnhđạo tổ chức các trạm quan sát thủy lôi, các tổ phá gỡ thủy lôi và giúp đỡ các địa
Trang 36phương chống phong tỏa thủy lôi Phòng Công binh vừa là cơ quan tham mưucho Đảng ủy và Bộ Tư lệnh lãnh đạo chỉ đạo chống phong tỏa, vừa là các cơquan chuyên môn trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị công binh Hải quân.Trong hoàn cảnh chưa có kinh nghiệm và thiếu phương tiện, khí tài chống cácloại vũ khí, thủy lôi, bom từ trường, Đảng bộ Phòng Công binh đã nắm chắc cácyêu cầu, nhiệm vụ được giao, các biện pháp chỉ đạo của cấp trên, vận dụngđường lối quân sự, quan điểm chiến tranh nhân dân, nêu cao tinh thần tự lực tựcường, lãnh đạo lực lượng công binh chuyên nghiệp làm nòng cốt, đi đầu trongchống phá thủy lôi, bom từ trường địch trong quân chủng, quân khu.
Phối hợp với các lực lượng vũ trang, Tỉnh uỷ Quảng Ninh đã có nhữngquyết sách kịp thời Ngay từ đầu năm 1965, quán triệt Nghị quyết của Ban Chấphành Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Quảng Ninh đã chỉ đạo: Trong bất kì tình huốngnào, quân và dân cũng giữ vững quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược và xâydựng thành công chủ nghĩa xã hội Động viên nhân dân vừa sản xuất vừa chiếnđấu, đánh địch tốt và phòng tránh tốt, bảo vệ cảng và mạch máu giao thông vậntải thông suốt Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho các lực lượng vũ trang trong tỉnh luôncảnh giác, sẵn sàng chiến đấu không để địch oanh tạc bất ngờ, tích cực tiêu diệtmáy bay địch
Đồng thời, ngay khi địch tiến hành phong tỏa các vùng sông biển miềnBắc vào đầu năm 1967, Tỉnh ủy Quảng Ninh đã chỉ đạo các đơn vị công an vũtrang, dân quân tự vệ các khu cảng, bến phà… đặc biệt phối hợp chặt chẽ với lựclượng đóng quân trên địa bàn tỉnh hiệp đồng chiến đấu chống đế quốc Mỹ phongtỏa, phá hoại miền Bắc
Sự hiệp đồng giữa cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam với cáclực lượng vũ trang, bán vũ trang khác và nhân dân Quảng Ninh đã tạo nên sứcmạnh tổng hợp trên chiến trường sông biển, sẵn sàng từng bước đánh tan âmmưu và hành động phá hoại, phong toả bằng thủy lôi, bom từ trường của đếquốc Mỹ
Tiểu kết Chương 1
Trang 37Quảng Ninh là một vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng trong khu vựcmiền Bắc, cả về kinh tế, chính trị lẫn quân sự Chính vì vậy, từ xa xưa, QuảngNinh luôn bị các nước xâm lược chọn làm nơi trọng yếu và nơi đây có nhiều trậnđánh đã làm nên lịch sử, nhất là trong cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán,Tống, Nguyên - Mông, hay cả với thực dân Pháp Đế quốc Mỹ cũng không phải
là ngoại lệ Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, cuộc chiến tranh pháhoại hay lần thứ hai và cả trong hai lần đế quốc Mỹ phong tỏa vùng sông biểnmiền Bắc, Quảng Ninh là một trong những trọng điểm bắn phá ác liệt mà đếquốc Mỹ lựa chọn
Ngay từ ngày đầu đánh phá miền Bắc, với âm mưu “Lấp sông Bến Hải”
“để Bắc tiến”, đế quốc Mỹ sử dụng không quân và Hải quân đánh phá vào vùngsông biển, gây nhiều tổn thất nặng nề cho quân và dân trên toàn miền Bắc.Không đơn giản chỉ là đánh phá đe dọa, âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mỹthâm độc hơn rất nhiều mà mục đích rõ nét là thực hiện chiến tranh leo thang,với cường độ, qui mô đánh phá ngày càng với ác liệt, lan rộng trên toàn khu vực,
cô lập, triệt tiêu hậu phương miền Bắc, tiến tới thôn tính toàn Việt Nam
Đặc biệt, từ 26/2/1967, đế quốc Mỹ sử dụng hình thức chiến tranh mới,chiến tranh phong tỏa lần thứ nhất, đế quốc Mỹ đã leo thang ra miền Bắc khôngchỉ trên không, trên bộ mà còn cả trên sông, trên biển Với số lượng lớn bom mìn
từ trường, thủy lôi mà Mỹ rải xuống vùng sông biển miền Bắc, trong đó QuảngNinh vẫn là một trong những trọng điểm đánh phá, phong toả
Thực hiện âm mưu đó, đế quốc Mỹ đã có những hành động đi từ khiêukhích đến đánh phá ác liệt các vùng sông biển miền Bắc, vùng biển Quảng Ninh.Đối phương đã dùng máy bay, tàu chiến, vũ khí hiện đại nhất từ trước đến nay đểđánh phá vùng biển nước ta, gây thiệt hại lớn về người và của
Nhận định được tình hình địch sẽ bắn phá miền Bắc sau khi thua đau ởmiền Nam, Trung ương Đảng và Nhà nước ta đã chỉ đạo toàn quân và dân miềnBắc chuyển từ thời bình sang thời chiến; vừa sản xuất, vừa chiến đấu để đáp vừa
Trang 38đáp ứng được nhu cầu thời bình và chuẩn bị tốt khi chiến tranh xảy ra.
Yêu cầu đặt ra là toàn quân và dân miền Bắc phải nâng cao ý chí chiếnđấu, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ vùng trời, vùng biển miền Bắc; đồng thời phảivững mạnh để làm hậu phương lớn cho miền Nam… Tất cả những chủ trươngbiện pháp đó đã được Đảng và Nhà nước ta đưa ra một cách kịp thời, đúng đắn
để đối phó với đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh leo thang
Trên chiến trường sông biển, lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam đượcgiao nhiệm vụ là lực lượng nòng cốt, cùng hiệp đồng với các lực lượng khác vànhân dân trên toàn miền Bắc chống địch phong tỏa bằng thủy lôi và bom mìn từtrường, đặc biệt là trên các luồng trọng điểm như Hải Phòng, Quảng Ninh, Khu4… Trên địa phận Quảng Ninh, cảng Cẩm Phả, Hòn Gai, Cửa Ông, Bãi Cháy vàmột số tuyến đảo cũng là những nơi mà địch chọn làm trọng điểm rải thủy lôi,bom từ trường
Quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta, Quân chủngHải quân cũng có những chủ trương, biện pháp phù hợp chỉ đạo toàn lực lượngtham gia chiến đấu chống địch phong tỏa trên toàn miền Bắc nói chung, trên địabàn tỉnh Quảng Ninh nói riêng, để đưa cuộc chiến đấu chống phong tỏa lần thứnhất của ta đi đến thắng lợi
Trang 39Chương 2 HẢI QUÂN NHÂN DÂN VỆT NAM CHIẾN ĐẤU CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ PHONG TOẢ VÙNG BIỂN QUẢNG NINH LẦN THỨ NHẤT (1967 - 1968)
2.1 Hành động phong tỏa của đế quốc Mỹ
Càng thua đau ở miền Nam, đế quốc Mỹ càng liên tiếp thực hiện ý đồ tiếncông đánh phá miền Bắc Để thực hiện âm mưu, Mỹ đã huy động số lượng lớntàu chiến và máy bay của hạm đội 7 ở Biển Đông, phối hợp với máy bay chiếnlược B52 - có căn cứ ở Thái Lan và đảo Gu-am, tiến hành tập kích quy mô lớnvào các cơ sở kinh tế quân sự của ta, trong đó tập trung vào các mục tiêu chính:cảng, cầu, dầu, dân và các phương tiện tàu thuyền, sân bay, các trận địa ra đa,pháo binh, tên lửa, đèn biển, kho tàng, các khu công nghiệp…
Dựng lên “Sự kiện Vịnh Bắc bộ”, vào hồi 12 giờ 30 phút (giờ Hà Nội)ngày 5/8/1964, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn trực tiếp ra lệnh cho máy bay từ hạmđội 7 bắn phá nhiều nơi như: Bến Thủy (Nghệ An), Sông Gianh (Quảng Bình),Lạch Trường (Thanh Hóa) và thị xã Hòn Gai (Quảng Ninh)
Lần đánh thăm dò này, Mỹ tiến hành 3 đợt đánh phá: Đợt một, 12 giờ 20phút, địch sử dụng 16 chiếc máy bay cất cánh từ sân bay Ticơnđêrôga đánh đồngthời vào bốn mục tiêu: Kho xăng và căn cứ Cửa Hội (Nghệ An), căn cứ SôngGianh, Cửa Ròn (Quảng Bình); Đợt 2, lúc 14 giờ, địch sử dụng 16 chiếc máybay cất cánh từ tàu sân bay Contenlâysơn đánh đồng thời vào: căn cứ LạchTrường (Thanh Hóa), căn cứ Bãi Cháy (Quảng Ninh); Đợt 3, vào lúc 16 giờ 30phút, địch sử dụng 16 chiếc máy bay cất cánh từ sân bay Ticơnđêrôga đánh đồngthời vào các căn cứ Hải quân ở Vinh và cảng Sông Gianh, Hòn La (Quảng Bình)
… Quảng Ninh nằm trong đợt tiến công thứ hai
Vào hồi 13 giờ 35 phút ngày 5/8/1964, nhiều tốp máy bay của giặc Mỹgồm: 2 chiếc F86, 2 chiếc F102, 4 chiếc AD6 bất ngờ tập kích vào Bãi Cháy,cảng Hải quân cột 8 thị xã Hòn Gai Sau 30 phút, chúng đã ném 10 quả bom,
Trang 40bắn nhiều đạn rốc két, giết chết một công nhân xí nghiệp bến Hòn Gai, làm bịthương 3 người khác, đánh đắm một xà lan chở than, hỏng 2 toa xe lửa vàmột đoạn đường ray.
Trong số các mục tiêu từ Bãi Cháy đến Hà Lầm, Hà Tu, Mỹ xác định BãiCháy là căn cứ Hải quân lớn nhất và quan trọng nhất của miền Bắc, là nơithường xuyên trú đậu nhiều loại tàu chiến đấu hiện đại, tập trung một bộ phậnquan trọng tàu tuần tiễu của Khu Tuần phòng và là nơi tập kết hàng hóa từ nhiềunơi, tập trung nhiều tàu lớn giao lưu buôn bán của các nước lớn trên thế giới,nhất là Liên Xô, Trung Quốc Mỹ tập trung đánh phá với cường độ mạnh, thờigian dài nhằm gây thiệt hại nặng nề cho lực lượng Hải quân Phi công Mỹ sửdụng thủ đoạn bay sát mặt biển đến gần đèn Long Châu vọt lên cao rồi bất ngờlao xuống đánh các tàu ở vịnh Cửa Lục làm cho một số tàu bất ngờ không kịp nổsúng Nhưng ngay sau đó, thế trận hiệp đồng đã được thiết lập, hỏa lực pháo từcác tàu quân vịnh Cửa Lục cùng trận địa pháo cao xạ của Tiểu đoàn Phòngkhông 207, công an nhân dân, lực lượng tự vệ khu vực Hòn Gai buộc máy bayđịch phải tăng độ cao Một số tàu chiến đấu 144, tàu săn ngầm 225, tàu tuần tiễu
134, 122, 124 của Khu Tuần phòng 1 cũng được lệnh cơ động ra vịnh chiến đấu.Nổi bật trong cuộc chiến đấu này là những tấm gương sáng về chủ nghĩa anhhùng Họ đã góp phần không nhỏ cùng đơn vị bắn hạ 3 máy bay địch, bắt sốngtên giặc lái Anvarét làm nên sự vẻ vang trong chiến thắng trận đầu của Hải quânnhân dân Việt Nam
Trận chiến đấu ngày 5/8/1964 của Hải quân nhân dân Việt Nam chống lại lựclượng không quân của Hạm đội 7 diễn ra trên suốt dải bờ biển miền Bắc từ giớituyến quân sự tạm thời đến Quảng Ninh đã kết thúc thắng lợi Tại Quảng Ninh, Hảiquân nhân dân Việt Nam cùng với các lực lượng vũ trang, tự vệ khác đã bắn rơi máybay và bắt sống tên giặc lái đầu tiên của Mỹ góp phần làm nên chiến thắng trận đầu,
mở đầu cho chiến thắng cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ Chiến thắng trận đầu làchiến thắng của sức mạnh tinh thần toàn dân tộc, là ý chí quyết tâm, dám đánh,