GIỚI THIỆU
ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Ô nhiễm môi trường hiện đang là một vấn đề cấp bách được xã hội quan tâm, với biểu hiện rõ nét là sự nóng lên toàn cầu Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến từng quốc gia mà còn tác động đến toàn thế giới, và đất nước chúng ta cũng không thể tránh khỏi những hệ lụy này.
Ngày nay, sự phát triển hiện đại của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy nền kinh tế nước ta đi lên, nhưng đi kèm với đó là những hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường Việc chặt phá rừng bừa bãi để sản xuất gỗ đã dẫn đến xói mòn đất và lũ lụt Hơn nữa, chất thải từ các nhà máy đã gây ra tác động tiêu cực đến sức khỏe con người và làm mất cân bằng sinh thái.
Thành phố Cần Thơ, với diện tích 138.959,99 ha, nằm trong vùng bồi tụ phù sa của sông Mê Kông và có địa hình đồng bằng đặc trưng Hệ thống sông ngòi, kênh rạch phong phú, trong đó sông Hậu dài 65 km, sông Cái 20 km và sông Cần Thơ 16 km, cung cấp nguồn nước ngọt cho nông nghiệp và cải tạo đất Vị trí địa lý thuận lợi giúp Cần Thơ phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống người dân Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng cũng dẫn đến các vấn đề môi trường nghiêm trọng, như ô nhiễm rác thải và nước thải đô thị, đặc biệt là ô nhiễm nước ở các kênh rạch nội thị, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng.
Rạch Cái Khế là con rạch lớn chảy qua trung tâm Thành Phố Cần Thơ, bắt đầu từ cầu Cái Khế và đi qua cầu Nhị Kiều.
Rạch Ngỗng, kéo dài khoảng 8 km từ cầu Đầu Sấu, từng là nguồn nước sạch đẹp cho các khu dân cư ở phường An Hội, An Nghiệp, Thới Bình, Hưng Lợi, An Khánh, An Bình Tuy nhiên, hiện tại, nước sông đã chuyển sang màu đen, ô nhiễm bởi rác thải và mùi hôi khó chịu Nguyên nhân chính của tình trạng này là do nước thải từ Trung tâm thương mại Cái Khế và hàng trăm hộ dân ven sông không được xử lý, cùng với việc vứt rác bừa bãi Để giải quyết vấn đề ô nhiễm nước mặt rạch Cái Khế, nghiên cứu "PHÂN TÍCH NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VẤN ĐỀ Ô NHIỄM NƯỚC MẶT RẠCH CÁI KHẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ" đã được thực hiện nhằm đánh giá chất lượng nước và tìm ra biện pháp khắc phục hiệu quả.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Phân tích nhận thức của người dân về vấn đề ô nhiễm nước mặt rạch Cái Khế trên địa bàn Thành Phố Cần Thơ
- Phân tích và đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt rạch Cái Khế Cần Thơ
- Phân tích nhận thức của người dân về sự ô nhiễm nước mặt của rạch Cái Khế Cần Thơ
- Tìm hiểu về sự sẵn lòng chi trả của người dân về việc khôi phục lại chất lượng nước mặt rạch Cái Khế
- Đề xuất một số giải pháp làm giảm ô nhiễm.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Thực trạng ô nhiễm nước mặt rạch Cái Khế hiện nay như thế nào?
- Nhận thức của người dân về vấn đề ô nhiễm nước mặt của rạch Cái Khế ra sao?
- Liệu người dân ở rạch Cái Khế có chấp nhận chi trả một khoản tiền để chất lượng nước mặt ở đây được cải thiện tốt hơn không?
- Làm thế nào để khắc phục tình trạng ô nhiễm nước mặt?
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phạm vi về thời gian
- Số liệu sử dụng cho đề tài: Từ năm 2000 đến hết năm 2010
1.4.2 Phạm vi về không gian Địa điểm nghiên cứu: đề tài được thực hiện trên một phần rạch Cái Khế thuộc thành phố Cần Thơ
Những người dân sinh sống ở chợ An Nghiệp ven rạch Cái Khế Cần Thơ có nhận thức về sự ô nhiễm nước mặt rạch Cái Khế.
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
Cao Thị Minh Thảo (2009) đã tiến hành nghiên cứu về tình trạng ô nhiễm nước trong rạch Cái Khế, đặc biệt là đoạn từ cầu Rạch Ngỗng 2 đến cầu Cái Khế Nghiên cứu đã đánh giá chất lượng nước, lưu lượng và tải lượng ô nhiễm, cho thấy rằng nước tại đây bị ô nhiễm với các chất rắn lơ lửng, vật chất hữu cơ và coliforms.
Vũ Hoàng Đa (2009) là “Đánh giá chất lượng nước mặt tại rạch Cái Khế -
Thành phố Cần Thơ”, khảo sát đánh giá chất lượng nước mặt tại rạch Cái Khế -
Nghiên cứu về ô nhiễm nguồn nước mặt tại rạch Cái Khế ở Thành Phố Cần Thơ được tiến hành thông qua việc thu mẫu trong các thời điểm triều cường và triều kiệt Kết quả cho thấy nguồn nước tại đây đang bị ô nhiễm và có xu hướng gia tăng vào đầu mùa mưa, điều này tạo điều kiện cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu này.
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Ô nhiễm nước mặt là gì?
Nước mặt được xem là ô nhiễm khi các thành phần của nó bị biến đổi hoặc hủy hoại, dẫn đến việc nước không còn phù hợp cho các hoạt động của con người và sinh hoạt hàng ngày.
Các khuynh hướng thay đổi chất lượng và gây ô nhiễm nước do hoạt động của con người thường là:
- Giảm chất lượng nước ngọt do ô nhiễm bởi H 2 SO 4 , HNO 3 từ khí quyển, tăng hàm lượng SO4
- Tăng hàm lượng các ion Ca, Mg, Si… trong nước ngầm và nước sông hồ do nước mưa hòa tan, phong hóa các quặng cacbonat
- Tăng hàm lượng các ion kim loại nặng trong nước tự nhiên như Pb, Cd,
Hg, As, Zn và cả PO4
- Tăng hàm lượng các muối trong nước mặt do nước thải công nghiệp, sinh hoạt, nước mưa, rác thải…
- Tăng hàm lượng các chất hữu cơ do các chất khó bị phân hủy sinh học, thuốc trừ sâu…
Quá trình oxy hòa tan trong nước tự nhiên giảm nồng độ oxy, liên quan đến hiện tượng phì dưỡng ở các nguồn nước và khoáng hóa hợp chất hữu cơ.
- Giảm độ trong của nước
- Tăng khả năng nguy hiểm của ô nhiễm nước tự nhiên do các yếu tố đồng vị phóng xạ
2.1.2 Nguyên nhân gây ô nhiễm nước mặt
Phú dưỡng là hiện tượng phổ biến ở các hồ đô thị, sông và kênh dẫn nước thải, với đặc trưng là nồng độ cao các chất dinh dưỡng N, P và tỷ lệ P/N cao do sự tích lũy P Nguyên nhân chủ yếu của phú dưỡng là sự thâm nhập lớn N, P từ nước thải sinh hoạt và sự đóng kín của môi trường hồ Hiện tượng này dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của tảo, giảm đa dạng sinh học, và gây ô nhiễm nước, thể hiện qua màu sắc và mùi hôi thối Phú dưỡng không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái nước hồ mà còn tác động đến các hoạt động văn hóa và làm gia tăng ô nhiễm không khí tại các khu đô thị gần các thành phố lớn.
2.1.2.2 Ô nhiễm vi sinh vật Ô nhiễm vi sinh vật nguồn nước mặt thường gặp trong các lưu vực tiếp nhận nước thải sinh hoạt, đặc biệt là nước thải bệnh viện, các vi khuẩn, ký sinh trùng, sinh vật gây bệnh cho con người và động vật lan truyền trong nước mặt, gây ra các loại dịch cho các khu dân cư tập trung
2.1.2.3 Ô nhiễm kim loại nặng và các hóa chất độc hại Ô nhiễm kim loại nặng và các hóa chất độc hại thường gặp trong các lưu vực nước gần các khu công nghiệp, các thành phố lớn và khu vực khai thác khoáng sản Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng và hóa chất độc hại là nước thải công nghiệp và nước thải độc hại không được xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu bị đổ vào môi trường Kim loại nặng và hóa chất độc hại tích lũy theo chuỗi thức ăn và xâm nhập vào cơ thể con người Ô nhiễm nguồn nước bởi chất bảo vệ thực vật và phân bón hóa học là hiện tượng phổ biến trong các vùng nông nghiệp thâm canh Trong quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học, một lượng lớn thuốc và phân bón không được cây trồng tiếp nhận Chúng sẽ lan truyền và tích lũy trong đất, nước và các sản phẩm nông nghiệp dưới dạng dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật Tác động tiêu cực khác của ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và phân bón là làm suy thoái chất lượng môi trường khu vực canh tác nông nghiệp, ô nhiễm đất nước, giảm tính đa dạng sinh học của khu vực nông thôn, suy giảm các loài thiên địch, tăng khả năng chống chịu của sâu bệnh đối với thuốc bảo vệ thực vật
2.1.3 Khái niệm về quan trắc môi trường
Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi định kỳ chất lượng môi trường, tập trung vào những điểm quan trọng để hỗ trợ cho các hoạt động bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Các mục tiêu cụ thể của quan trắc môi trường gồm:
Cung cấp các đánh giá về diễn biến chất lượng môi trường trên quy mô quốc gia, phục vụ việc xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường
Cung cấp đánh giá chất lượng môi trường theo từng vùng trọng điểm được quan trắc, nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường.
Cảnh báo kịp thời các diễn biến bất thường hay các nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường
Xây dựng cơ sở dữ liệu chất lượng môi trường nhằm lưu trữ, cung cấp và trao đổi thông tin cả trong nước và quốc tế.
2.1.4 Các thông số đánh giá chất lượng môi trường nước mặt
2.1.4.1 Độ pH Độ pH là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng của nước cấp và nước thải Sự thay đổi pH dẫn tới sự thay đổi thành phần hóa học của nước (sự kết tủa, sự hòa tan, cân bằng carbonat…), các quá trình sinh học trong nước Giá trị pH của nguồn nước góp phần quyết định phương pháp xử lý nước, pH được xác định bằng máy đo pH hoặc bằng phương pháp chuẩn độ
Giá trị pH là chỉ số quan trọng thể hiện mức độ axit (pH < 7) hoặc kiềm (pH > 7) trong môi trường nước, ảnh hưởng đến sự sống của thủy sinh vật Cả giá trị pH thấp và cao đều có thể gây hại nghiêm trọng cho hệ sinh thái nước.
2.1.4.2 Hàm lƣợng oxy hòa tan (Dissolved Oxygen - DO)
Oxy hòa tan trong nước được hình thành từ hai nguồn chính: oxy trong không khí và các phản ứng quang hợp của tảo cùng thực vật thủy sinh Sự hòa tan của oxy vào nước chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như nhiệt độ, áp suất khí quyển, dòng chảy và đặc điểm địa hình Giá trị oxy hòa tan còn phụ thuộc vào các tính chất vật lý, hóa học và hoạt động sinh học trong môi trường nước Phân tích hàm lượng oxy hòa tan không chỉ giúp đánh giá mức độ ô nhiễm nước mà còn kiểm tra hiệu quả của quá trình xử lý nước thải.
Các dòng sông và hồ với hàm lượng oxy hòa tan cao là môi trường lý tưởng cho nhiều loài sinh vật Tuy nhiên, nếu hàm lượng oxy hòa tan giảm đột ngột, điều này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của động vật thủy sinh, thậm chí dẫn đến sự biến mất của một số loài Khi hàm lượng oxy hòa tan xuống quá thấp hoặc không còn, nước sẽ phát sinh mùi hôi và chuyển sang màu đen do quá trình phân hủy yếm khí, khiến cho các sinh vật không thể tồn tại trong môi trường này.
Hàm lượng oxy hòa tan trong nước giảm do tác động của nước thải công nghiệp và nước mưa chảy tràn, mang theo các chất thải nông nghiệp giàu chất hữu cơ và lá cây rụng Vi sinh vật tiêu thụ oxy để phân hủy các chất hữu cơ này, dẫn đến sự suy giảm lượng oxy trong nước.
2.1.4.3 Nhu cầu oxy sinh hóa (Biochemical Oxygen Demand - BOD)
Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) là lượng oxy cần thiết cho vi sinh vật để oxy hóa và ổn định các chất hữu cơ hoặc vô cơ trong nước Chỉ số này không chỉ giúp xác định mức độ ô nhiễm của nước mà còn gián tiếp phản ánh mức độ ô nhiễm do các chất có khả năng bị oxy hóa sinh học, đặc biệt là các chất hữu cơ.
Trong quá trình phân hủy chất hữu cơ, không thể xác định chính xác lượng oxy cần thiết cho việc phân hủy hoàn toàn do thời gian thực hiện quá dài (khoảng 20 ngày) Thay vào đó, người ta chỉ đo lượng oxy cần thiết trong 5 ngày đầu ở nhiệt độ 20°C, được gọi là BOD5, vì lúc này khoảng 70-80% chất hữu cơ đã được oxy hóa Đơn vị tính của BOD5 là mg/l.
2.1.4.4 Nhu cầu oxy hóa học (Chemical Oxygen Demand - COD)
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Khu vực tiến hành nghiên cứu chủ yếu là các hộ gia đình sống ở chợ An Nghiệp ven lưu vực rạch Cái Khế Cần Thơ
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp: qua các loại sách báo, đề tài nghiên cứu, báo cáo khoa học…
- Số liệu sơ cấp: phỏng vấn các hộ gia đình sống ven rạch Cái Khế (có kèm theo bảng câu hỏi)
Tổng cộng có 50 mẫu chính thức được thu thập nhằm đảm bảo tính đại diện cho tổng thể, đồng thời xem xét yếu tố thời gian, chi phí và nguồn nhân lực.
+ Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, số mẫu được lấy theo tỷ lệ sau:
Bảng 2.1 SỐ MẪU VÀ TỶ LỆ MẪU CHIA THEO GIỚI TÍNH
Giới tính Số mẫu Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp 2011) 2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
2.2.3.1 Mục tiêu thứ nhất: sử dụng phương pháp so sánh bằng số tương đối
2.2.3.2 Mục tiêu thứ hai: sử dụng phương pháp tần số, phương pháp phân tích bảng chéo (Cross - Tabulation), phương pháp thống kê mô tả để tóm tắt và trình bày những thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu
2.2.3.3 Mục tiêu thứ ba: sử dụng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính bội bằng mô hình kinh tế để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả của người dân ở rạch Cái Khế, quận Ninh Kiều - Thành phố Cần Thơ
2.2.3.4 Mục tiêu thứ tƣ: từ những phân tích trên, ta rút ra các giải pháp hợp lý để giảm ô nhiễm môi trường nước mặt rạch Cái Khế Cần Thơ.
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT RẠCH CÁI KHẾ CẦN THƠ
GIỚI THIỆU VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Thành phố Cần Thơ có tổng diện tích tự nhiên là 138.959,99 ha, trong đó diện tích nội thành khoảng 5.300 ha Thành phố không giáp biển và hiện tại, đất nông nghiệp chiếm khoảng 81% tổng diện tích, đất chuyên dùng 13% và đất thổ cư 4%.
Thành phố Cần Thơ hiện nay bao gồm 5 quận nội thành là Thốt Nốt, Ô Môn, Bình Thủy, Ninh Kiều, Cái Răng và 4 huyện ngoại thành gồm Thới Lai, Cờ Đỏ, Phong Điền, Vĩnh Thạnh, cùng với 76 phường và xã.
Thành phố Cần Thơ, nằm ở trung tâm Đồng Bằng sông Cửu Long, tọa lạc bên bờ Tây Sông Hậu, nổi bật với mạng lưới sông ngòi và kênh rạch chằng chịt Cần Thơ cách biển Đông 75 km, cách thủ đô Hà Nội 1.877 km và cách thành phố Hồ Chí Minh 169 km.
Km về phía Bắc ( theo đường bộ )
Thành phố Cần Thơ có vị trí địa lý trung tâm vùng ĐBSCL
Với các mặt tiếp giáp như sau:
Phía Bắc giáp An Giang
Phía Nam giáp Hậu Giang
Phía Tây giáp Kiên Giang
Phía Đông giáp hai tỉnh Vĩnh Long và Đồng Tháp
Cần Thơ có địa hình bằng phẳng, nghiêng dần từ cao ở phía Bắc xuống Tây Nam và từ bờ sông Hậu vào nội đồng, tạo nên đặc trưng địa hình độc đáo Vùng đất này nổi bật với hệ thống sông ngòi và kênh rạch chằng chịt, với độ cao mặt đất phổ biến từ 0,8m đến 1,0m so với mực nước biển tại mốc quốc gia Hòn Dấu Cần Thơ được chia thành ba vùng địa mạo chính.
Khu dòng chảy chính giới hạn bởi 02 bờ sông Hậu hình thành dãi đất cao và các cù lao giữa sông
Vùng đồng lũ Tứ giác Long Xuyên, bao gồm các huyện Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh, một phần huyện Cờ Đỏ và quận Ô Môn, thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ hàng năm.
Vùng châu thổ chịu ảnh hưởng của triều và lũ cuối bao gồm các quận Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, cùng với phần phía nam quận Ô Môn và huyện Phong Điền.
Cần Thơ nằm trong khu vực bồi tụ phù sa hằng năm của sông Mê Kông, với hai nhóm trầm tích chính là phù sa mới (Holocene) và phù sa cổ (Pleistocene) từ mặt đất xuống độ sâu khoảng 50m Mặc dù đất ở đây rất phù hợp cho sản xuất nông nghiệp, nhưng lại không thích hợp cho xây dựng và giao thông.
Chế độ thuỷ văn tại TPCT bị ảnh hưởng bởi dòng chảy sông Mekong qua sông Hậu, thuỷ triều biển Đông, mưa nội vùng và cơ sở hạ tầng Mật độ sông rạch ở TPCT khá lớn, đạt khoảng 1.8km/km², trong đó vùng ven sông Hậu thuộc quận Ninh Kiều, Ô Môn, Cái Răng và huyện Thốt Nốt có mật độ lên tới trên 2km/km² Hệ thống sông rạch chính tại Cần Thơ đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết thuỷ văn khu vực.
Sông Hậu là nhánh phía tây của sông Mê Kông tại Việt Nam, đóng vai trò quan trọng như nguồn cung cấp nước ngọt chính cho Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và Cần Thơ Đây cũng là ranh giới tự nhiên giữa Cần Thơ và hai tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long Với chiều dài 55km chảy qua Cần Thơ, sông Hậu là thủy lộ quốc tế cho các tàu đi Campuchia, cung cấp khoảng 200 tỷ m³ nước mỗi năm, chiếm 41% tổng lượng nước của sông Mê Kông Bên cạnh đó, sông Hậu cũng mang lại 35 triệu m³ phù sa hàng năm, đóng góp khoảng ẵ% tổng lượng phù sa của sông Mê Kông.
Rạch Cái Khế là một trong 4 rạch thuộc hệ thống sông Hậu (San Trắng, Trà Nóc, Bình Thủy, Cái Khế), có:
+ Diện tích lưu vực 10,59 km 2 Chiều dài dòng chảy 19,9 km
+ Diện tích dòng chảy: 0,68 km 2 Hệ số dòng chảy 1,88 km/ km 2
Rạch Cái Khế, bắt nguồn từ phường An Hòa giáp lưu vực Bình Thủy, hướng ra cửa Khai Luông, là khu vực đông dân nhất của thành phố Nơi đây nổi bật với hai đầm An Cư và rạch Ngỗng, được hình thành từ quá trình khai thác đất xây dựng.
Hình 1: Hình ảnh về rạch Cái Khế
(Nguồn: Tác giả thu thập từ thực tế)
1 Tài nguyên đất Được bồi đắp thường xuyên của sông Hậu và các sông khác nên đất đai Cần Thơ tương đối màu mỡ Diện tích đất phù sa có trên 14,6 vạn ha, chiếm 49,6% diện tích tự nhiên, hình thành một vùng rộng lớn, trải dài từ Thốt Nốt qua Ô Môn đến thành phố Cần Thơ Ngoài ra Cần Thơ còn một số loại đất khác, trong đó có đất nhiễm mặn ít, đất nhiễm phèn nhưng không nhiễm mặn Nhìn chung, khí hậu và thổ nhưỡng Cần Thơ rất thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp đa ngành với nhiều loại cây trồng và vật nuôi Trong đó cây lúa nước cũng phát triển nhiều và chiếm vị trí quan trọng
Thành phố Cần Thơ có hai nhóm đất chính là đất phù sa và đất phèn Đất phù sa chiếm 84% diện tích đất tự nhiên bao gồm 5 loại:
- Phù sa bồi ven sông chiếm 1,9 % đất tự nhiên
- Phù sa đốn rỉ có sét chiếm 58%,
- Phù sa sét 4,1% Đất phèn chiếm 16% diện tích tự nhiên, toàn bộ là đấ phèn hoạt động, bao gồm:
- Đất phèn hoạt động nông chiếm 2,6% diện tích tự nhiên,
- Đất phèn hoạt động sâu chiếm 7%,
- Đất phèn hoạt động rất sâu chiếm 6,4%
Nước khoáng cũng đã tìm thấy ở một số điểm có độ nóng 42 0 C với lưu áp 16 lít/s
Sông Hậu, một nhánh của sông Me Kông, cung cấp khoảng 200 tỷ m³ nước ngọt mỗi năm, nhưng 81% lưu lượng này chỉ có trong mùa mưa Trong 5 tháng mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4, chỉ có 19% lưu lượng nước hàng năm, và trong 3 tháng mùa kiệt từ tháng 3 đến tháng 5, lưu lượng chỉ đạt 4% Đáng chú ý, 90% lưu lượng của sông Me Kông đến từ các nguồn nước ngoài biên giới Việt Nam, khiến cho các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long không thể chủ động khai thác nguồn tài nguyên này và chịu ảnh hưởng lớn từ các quốc gia thượng nguồn.
Nước mưa trung bình hàng năm đạt khoảng 2,3 tỷ m³, nhưng chỉ đủ đáp ứng nhu cầu nước cho toàn thành phố Cần Thơ trong khoảng 3 tháng của mùa khô hạn.
Nước ngầm tại Cần Thơ có trữ lượng phong phú từ các tầng leistocene, Plocen và Miocen với chất lượng tốt Tuy nhiên, theo nghiên cứu của các chuyên gia, nguồn nước ngầm ở đây thuộc dạng chôn vùi và được bổ cập rất ít, dẫn đến nguy cơ cạn kiệt khi khai thác Cụ thể, nghiên cứu từ trường Đại học Bochum, Đức cho thấy mực nước ngầm khu vực Trà Nóc giảm 0,7m/năm do khai thác cho sản xuất công nghiệp Hiện TP Cần Thơ có hơn 32 giếng khoan nhỏ của hộ gia đình, 397 giếng trung bình và 31 giếng vừa phục vụ cho các hoạt động dịch vụ và sản xuất Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn TP.Cần Thơ dự kiến phê duyệt các dự án xây dựng gần 200 trạm xử lý nước ngầm đến năm 2010 để giải quyết tình trạng thiếu nước cho người dân.
Thành phố Cần Thơ không có tài nguyên mỏ khoáng sản và biển
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Bảng 3.1: DÂN SỐ VÀ MẬT ĐỘ DÂN CƢ ĐVHC Năm 2006 2007 2008 2009
(Nguồn: báo cáo diễn biến môi trường TP Cần Thơ 10 năm 1999-2008 và Cục thống kê TPCT)
Theo điều tra dân số ngày 01/04/2009, dân số Cần Thơ đạt 1.187.089 người, trong đó dân cư thành thị chiếm 65,8% (781.481 người) và dân cư nông thôn chiếm 34,2% (405.608 người) Dân số này bao gồm thành phố Cần Thơ, quận Ô Môn, huyện Thốt Nốt, và một phần huyện Châu Thành, với nhiều ấp và xã như thị trấn Cái Răng, ấp Phú Quới, ấp Phú Hưng, ấp Phú Lợi, xã Trường Long, xã Nhơn Ái và xã Nhơn Nghĩa, cùng với tổng số dân từ các ấp khác trong khu vực.
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT RẠCH CÁI KHẾ CẦN THƠ
3.2.1 Phân tích chất lượng nước mặt rạch Cái Khế qua các năm
Các thông số được quan trắc: pH, DO, BOD 5 , COD, TSS, NO 2 - N, NH 4 + và
Fe diễn biến trong 10 năm có số liệu trung bình năm như sau:
Bảng 3.2 CÁC THÔNG SỐ CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT QUAN TRẮC ĐƢỢC QUA CÁC NĂM
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài Nguyên và Môi Trường) Ghi chú: Coliform (đơn vị = 1000MPN/100ml)
Nồng độ pH trung bình QCVN 08:2008.Cột A1 QCVN
Hình 3: Diễn biến pH trong nước mặt rạch Cái Khế 2000 - 2009
Theo số liệu thống kê, nồng độ pH thấp nhất được ghi nhận vào năm 2001, sau đó bắt đầu tăng từ năm 2002 và giảm dần cho đến năm 2009.
Trong suốt 10 năm qua, thông số pH của nước mặt rạch Cái Khế luôn đạt tiêu chuẩn cho phép theo QCVN 08:2008 Giá trị pH trong khoảng quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật trong môi trường nước.
Hàm lượng DO trung bình
Hình 4: Diễn biến DO trong nước mặt rạch Cái Khế 2000 - 2009
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài Nguyên và Môi Trường)
Trong 10 năm, hàm lượng oxy hòa tan trung bình ở rạch Cái Khế dao động trong khoảng 1,77 – 4.34 mg/l và lớn nhất là vào năm 2003 Nhìn chung, tất cả nồng độ DO đều thấp hơn TCVN loại A1 cho phép DO ≥ 6, điều này cho thấy rằng môi trường nước mặt rạch Cái Khế đã bị ô nhiễm chất hữu cơ rất cao, chất hữu cơ khi phân hủy sinh học thích hợp cho sự phát triển sinh vật làm tăng nhu cầu oxy nên làm giảm nồng độ DO trong nước Sự thiếu oxy trong môi trường nước tạo điều kiện phân hủy sinh học yếm khí tạo ra mùi hôi như khí H2S, CH 4 độc hại cho con người
B O D 5 ( m g /l ) Nồng độ BOD trung bình
Hình 5: Diễn biến BOD 5 trong nước mặt rạch Cái Khế 2000 - 2009
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài Nguyên và Môi Trường)
Trong 10 năm qua, nồng độ BOD5 trung bình của rạch Cái Khế đã dao động từ 3,5 đến 15 mg/l, với mức thấp nhất ghi nhận vào năm 2001 Tuy nhiên, sau năm 2001, nồng độ BOD5 đã tăng đột biến, cho thấy sự biến động đáng kể trong chất lượng nước của rạch.
2002, như vậy rạch Cái Khế đã bị ô nhiễm chất hữu cơ khá cao BOD5 vượt QCVN gấp 2 – 3 lần
C O D ( m g /l ) Nồng độ COD trung bình
Hình 6: Diễn biến COD trong nước mặt rạch Cái Khế 2000 - 2009
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài Nguyên và Môi Trường)
Trong 10 năm qua, hàm lượng COD của rạch Cái Khế đã vượt mức QCVN cho phép kể từ năm 2002, dao động từ 12,5 mg/l đến 25,4 mg/l, đạt mức cao nhất trong các năm Tuy nhiên, vào năm 2009, hàm lượng COD đã giảm nhờ vào việc giải tỏa nhà sàn dọc theo rạch và sự nâng cao ý thức của người dân.
- Chất rắn lơ lửng TSS:
Hàm lượng TSS trung bình
Hình 7: Diễn biến TSS trong nước mặt rạch Cái Khế 2000 - 2009
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài Nguyên và Môi Trường)
Trong 10 năm qua, hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) tại rạch Cái Khế đã dao động mạnh, từ 46 đến 90,5 mg/l, với mức tăng đột biến vào năm 2009, vượt xa quy chuẩn QCVN Nguyên nhân chính có thể là do quá trình thi công bờ kè tại rạch Cái Khế, gây ra sự xáo trộn lớn trong thủy vực và ảnh hưởng đến hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước.
Hình 8: Diễn biến Nitrit trong nước mặt rạch Cái Khế 2000 - 2009
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài Nguyên và Môi Trường)
Hàm lượng Nitrit (NO2-N) trên rạch Cái Khế đã tăng từ 0,023mg/l lên 0,112mg/l, với mức tăng đột ngột vào năm 2009, vượt mức cho phép của Qui chuẩn nước mặt cột A1 gấp 11,2 lần (QCVN 08:2008: 0,01mg/l).
- Nồng độ muối amoni NH 4 + :
Nồng độ muối trung bình
Hình 9: Diễn biến Amoni trong nước mặt rạch Cái Khế 2000 - 2009
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài Nguyên và Môi Trường)
Amoni (NH 4 + ) trên rạch Cái Khế dao động từ 1,018 – 1,083 mg/l, tăng cao nhất là vào năm 2007, cao hơn gấp 20,65 lần qui chuẩn cho phép ( QCVN 08:
2008 : 0,1mg/l) và đã giảm dần vào năm 2009 Hiện nay, rạch Cái Khế là rạch có hàm lượng Amoni (NH4
+) cao nhất trong số tất cả các kênh rạch trên địa bàn Thành phố Cần Thơ
Hàm lượng Coliform trung bình
Hình 10: Diễn biến Coliform trong nước mặt rạch Cái Khế 2000 - 2009
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài Nguyên và Môi Trường)
Các vi sinh vật Coliform, khi tồn tại ở nồng độ thấp, không gây hại cho con người và động vật Tuy nhiên, khi nồng độ tăng cao, chúng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, gây ra các bệnh như tiêu chảy, lị và giun sáng Theo thống kê trong 10 năm qua, hàm lượng Coliform đã vượt quá giới hạn quy định trong QCVN.
14 – 198 lần Điều này cho thấy chất lượng rạch Cái Khế bị nhiễm vi sinh rất nặng chủ yếu từ nước thải sinh hoạt không hợp vệ sinh
- Hàm lượng kim loại nặng Fe:
Hàm lượng sắt trung bình
Hình 11: Diễn biến Sắt trong nước mặt rạch Cái Khế 2000 - 2009
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài Nguyên và Môi Trường)
Trong 10 năm qua, hàm lượng sắt tại rạch Cái Khế đã giảm đáng kể từ 1,02 mg/l xuống còn 0,14 mg/l, điều này cho thấy sự cải thiện tích cực trong chất lượng nước Sự giảm thiểu này là quan trọng vì lượng sắt cao có thể cản trở quá trình hô hấp của sinh vật và tiêu hao oxy trong nước Mặc dù nước có hàm lượng sắt cao không gây hại trực tiếp cho sức khỏe, nhưng nó thường có mùi tanh khó chịu và có thể gây nổi váng bề mặt, đồng thời dẫn đến hiện tượng đóng cặn trong các đường ống.
3.2.2 Phân tích và đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt rạch Cái Khế Cần Thơ
Bảng 3.3 HIỆN TRẠNG CÁC THÔNG SỐ CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài Nguyên và Môi Trường)
Trong năm 2009, giá trị pH của nguồn nước loại A được đo không vượt quá phạm vi cho phép theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (QCVN 08:2008), với pH nằm trong khoảng 6 đến 8,5 (xem phụ lục 2 trang 69).
DO là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ ô nhiễm của môi trường nước, phụ thuộc vào nhiệt độ, áp suất và các thành phần hóa học, vi sinh vật cũng như thủy sinh vật trong nguồn nước Kết quả phân tích cho thấy chỉ số DO thấp hơn so với QCVN nhưng vẫn nằm trong giới hạn cho phép.
BOD 5 là thông số được sử dụng phổ biến nhất, đó chính là oxy cần thiết để oxy hóa sinh học trong năm ngày ở nhiệt độ 20 0C Ngoài ra, theo yêu cầu nghiên cứu người ta còn xác định các đại lượng nhu cầu oxy hóa sau 60 – 90 ngày
Hàm lượng BOD5 thông qua kết quả quan trắc được năm 2009 là 10,875 mg/l so với QCVN thì vượt mức cho phép 2,72 lần
Nhu cầu oxy hóa học (COD) là chỉ số quan trọng để đánh giá lượng chất hữu cơ trong nước có khả năng bị oxi hóa bởi các chất hóa học, từ đó phản ánh mức độ ô nhiễm của nguồn nước.
Hàm lượng COD đo được là 12,538 mg/l, so với QCVN 08:2008 thì chỉ tiêu trên đã vượt mức giới hạn cho phép 1,25 lần
- Chất rắn lơ lửng TSS:
Kết quả phân tích cho thấy tổng hàm lượng chất rắn lơ lửng dao là 90,5 mg/l, vượt quá mức giới hạn so với QCVN gấp 4,53 lần
Nitơ có thể gây ra mối đe dọa nghiêm trọng cho sức khỏe con người, khi vi khuẩn trong ruột chuyển hóa nitrat thành nitrit Nitrit tác động lên hồng cầu, làm giảm khả năng vận chuyển oxy, dẫn đến tình trạng methomoglobin trong máu, gây ra bệnh xanh xao, thiếu máu và thậm chí có thể dẫn đến tử vong.
Hàm lượng nitrat quan trắc được năm 2009 là 1,275 mg/l, so với QCVN 08:2008 loại A (NO3
- = 2 mg/l) là chưa vượt quá mức giới hạn cho phép
- Nồng độ muối amoni NH 4 + :
Qua số liệu quan trắc cho thấy nồng độ muối amoni là 1,018 mg/l, cao gấp 10,18 lần so với mức giới hạn của QCVN
Vi sinh( Coliform) trong rạch Cái Khế luôn vượt mức cho phép của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước mặt cột A1 QCVN08:2008/BTNMT (2.500MPN/100ml)
Hàm lượng vi sinh tại rạch Cái Khế năm 2009 gấp 17 lần mức quy chuẩn
- Hàm lượng kim loại nặng Fe:
Sắt chỉ tồn tại dạng hòa tan trong nước ngầm dưới dạng muối Fe2
+ của HCO 3 - , SO 4 2- , Cl - …, còn trong nước bề mặt Fe2
+ nhanh chóng bị oxy hóa thành
Nước thiên nhiên thường có hàm lượng sắt lên đến 30 mg/l, và khi hàm lượng sắt vượt quá 0,5 mg/l, nước sẽ có mùi tanh khó chịu và có thể làm vàng quần áo khi giặt Các cặn kết tủa từ sắt cũng có khả năng gây tắc nghẽn đường ống dẫn nước Để xử lý nước, sắt được loại bỏ bằng phương pháp thông khí và keo tụ.
PHÂN TÍCH NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ SỰ Ô NHIỄM NƯỚC MẶT CỦA RẠCH CÁI KHẾ VÀ XÁC ĐỊNH SỰ SẴN LÕNG TRẢ CỦA HỌ ĐỂ KHÔI PHỤC LẠI CHẤT LƢỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC
MÔ TẢ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này chủ yếu là người dân và hộ gia đình sinh sống lâu năm dọc theo bờ rạch Cái Khế, với nhiều công việc và độ tuổi khác nhau.
Bảng 4.1 THỐNG KÊ THÔNG TIN VỀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU ĐVT: người
Công nhân viên chức Buôn bán Khác Tổng
Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nam
(Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp 2011)
Theo số liệu điều tra, tỷ lệ nam giới và nữ giới tham gia vào các công việc khác nhau ở các độ tuổi khác nhau có sự chênh lệch rõ rệt Trong 50 mẫu quan sát, nam giới chiếm 48% và nữ giới chiếm 52% Sự vượt trội của nữ giới trong mẫu khảo sát này chủ yếu do địa điểm phỏng vấn tại khu vực chợ, nơi mà phần lớn là nữ buôn bán tại nhà, giúp họ hiểu rõ hơn về môi trường sống xung quanh Hơn nữa, trong thời đại hiện nay, mối quan hệ giữa nam và nữ đã trở nên bình đẳng hơn, với sự tham gia tích cực của nữ giới trong các hoạt động xã hội và vai trò quan trọng trong gia đình.
Theo hình 12, độ tuổi từ 18 – 25 chiếm 18% (9 hộ), 26 – 35 tuổi chiếm 10% (5 hộ), 36 – 45 tuổi chiếm 12% (6 hộ), 46 – 55 tuổi chiếm 36% (18 hộ) và 56 – 75 tuổi chiếm 24% (12 hộ) Đối tượng phỏng vấn chủ yếu là người từ 46 – 75 tuổi, những người lớn tuổi đã sống lâu năm tại đây, do đó họ có khả năng nhận thức chính xác hơn về sự thay đổi của nguồn nước.
Hình 12: Độ tuổi của đối tƣợng nghiên cứu
(Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp )
Theo hình 13, phần lớn các hộ gia đình trong chợ An Nghiệp chủ yếu hoạt động kinh doanh buôn bán nhỏ, với 32 hộ buôn bán chiếm 64% tổng số hộ Điều này cho thấy rằng buôn bán là nguồn sống chính của người dân nơi đây, mang lại thu nhập đáng kể và thúc đẩy sự tham gia vào ngành nghề này Tuy nhiên, do có nhiều lựa chọn trong khu vực thành phố, việc buôn bán yêu cầu kinh nghiệm, hàng hóa chất lượng và giá cả hợp lý để đảm bảo lợi nhuận và cuộc sống ổn định Ngoài ra, với đặc thù là chợ đông đúc và mỗi gia đình trung bình có 4 thành viên, chủ yếu là gia đình một thế hệ, người dân rất chú trọng đến học vấn của con cái, dẫn đến tỷ lệ học sinh, sinh viên tương đối cao, đạt 18% (9 hộ).
PHÂN TÍCH NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VÊ Ô NHIỄM NƯỚC MẶT RẠCH CÁI KHẾ
Hình 13: Cơ cấu nghề nghiệp của hộ gia đình
(Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp)
4.2 PHÂN TÍCH NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ Ô NHIỄM NƯỚC MẶT RẠCH CÁI KHẾ
4.2.1 Nhận thức của người dân về mức độ và nguyên nhân ô nhiễm
Từ số liệu phỏng vấn, vấn đề ô nhiễm nước mặt rạch Cái Khế được chia ra làm nhiều mức độ khác nhau:
Hình 14: Mức độ ô nhiễm của rạch Cái Khế
(Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp)
Nhận thức của người dân về mức độ ô nhiễm rạch Cái Khế được phân chia thành 4 mức: ít ô nhiễm, hơi ô nhiễm, ô nhiễm và rất ô nhiễm, trong đó 44% hộ gia đình cho rằng rạch đang ở mức rất ô nhiễm Tỷ lệ hộ gia đình xác định ô nhiễm (30%) cao hơn so với tỷ lệ hơi ô nhiễm (22%), cho thấy tình trạng ô nhiễm nước mặt tại rạch Cái Khế đang ở mức báo động Thực tế này được xác nhận qua các chỉ số chất lượng môi trường, với hàm lượng BOD5, COD, TSS, NH4+ vượt quy chuẩn cho phép nhiều lần, chứng tỏ người dân có nhận thức chính xác về mức độ ô nhiễm hiện nay.
- Mức độ và nguyên nhân ô nhiễm:
Bảng 4.2 MỨC ĐỘ VÀ NGUYÊN NHÂN Ô NHIỄM
Mức độ Rác thải sinh hoạt Nước thải sinh hoạt
Khu trung tâm thương mại Cái Khế
Tần số % Tần số % Tần số % Ít ô nhiễm 1 4,0 1 3,2 - -
(Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp)
Mức độ và nguyên nhân ô nhiễm được người dân nhận thức rõ ràng, với tỉ lệ cao nhất về nguyên nhân ô nhiễm là rác thải sinh hoạt, chiếm 40% Đối với ô nhiễm từ khu trung tâm thương mại Cái Khế, tỉ lệ rất ô nhiễm đạt 45,5% Số liệu cho thấy người dân đặc biệt quan tâm đến ô nhiễm nước mặt rạch Cái Khế, với sự đồng nhất trong việc xác định các nguyên nhân ô nhiễm như rác thải sinh hoạt và nước thải từ khu thương mại.
Thời gian ô nhiễm mà các hộ gia đình xác định cho nguồn nước mặt ở rạch Cái Khế có sự khác biệt đáng kể, với mức trung bình là 8 năm, thấp nhất là 1 năm và cao nhất là 30 năm Sự khác nhau này chủ yếu xuất phát từ ý thức bảo vệ môi trường còn hạn chế, khiến người dân không nhớ chính xác thời điểm ô nhiễm bắt đầu Họ thường dựa vào thời gian hoạt động của khu trung tâm thương mại để xác định ô nhiễm, cho rằng nước thải từ các cơ sở này là nguyên nhân chính gây ô nhiễm cho sông.
4.2.2 Phân tích nhận thức của người dân về ô nhiễm nước mặt rạch Cái Khế do rác thải sinh hoạt
- Lượng rác trung bình và cách xử lý rác:
Qua kết quả khảo sát từ thực tế, lượng rác trung bình và cách xử lý rác thống kê được như sau:
Bảng 4.3 LƢỢNG RÁC TRUNG BÌNH VÀ CÁCH XỬ LÝ RÁC
1kg 2 đến 3 kg Trên 3 kg Tổng cộng
Tỉ trọng Tỉ trọng Tỉ trọng Tỉ trọng Đổ trực tiếp xuống sông 10,0 4,0 2,0 16,0 Để ra thùng và chờ người thu gom 62,0 18,0 4,0 84,0
(Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp)
Mỗi lượng rác đều có hai cách xử lý khác nhau, với rác trung bình 1kg/ngày có 10% được đổ trực tiếp xuống sông, trong khi cách xử lý khác chiếm tới 62% Đối với rác từ 2 đến 3 kg/ngày, tỷ lệ đổ xuống sông chỉ 4%, và 18% được để chờ thu gom Đối với lượng rác trên 3 kg/ngày, tỷ lệ này còn nhỏ hơn, chỉ 2% Điều này cho thấy lượng rác từ 1kg/ngày và 2 đến 3kg/ngày là chủ yếu, chiếm đa số trong số 50 mẫu phỏng vấn Dù chỉ 16% chọn đổ rác xuống sông, vẫn có nhiều hộ gia đình duy trì thói quen này mà không nhận thức được tác hại lâu dài như ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái dưới sông, dẫn đến cái chết hoặc di cư của các loài thủy sinh.
Xem xét biểu đồ cách xử lý rác của 50 hộ gia đình được phỏng vấn sau: Để ra thùng và chờ người thu gom 84% Đổ trực tiếp xuống sông 16%
Hình 15: Cách xử lý rác của hộ gia đình
(Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp)
Theo biểu đồ, chỉ có 16% hộ gia đình thực hiện việc bỏ rác đúng nơi quy định Điều này cho thấy nhận thức của người dân về tác hại của rác đối với môi trường, sức khỏe và cảnh quan đô thị vẫn còn hạn chế.
Môi trường sống hiện nay đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng do sự phát triển của công nghiệp và rác thải gia đình Sự gia tăng khói bụi từ các nhà máy đã tác động tiêu cực đến môi trường, trong khi rác thải sinh hoạt cũng góp phần lớn vào vấn đề này Nghiên cứu cho thấy người dân có ý thức cao về việc bảo vệ môi trường và sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thu gom rác, với nhiều hộ gia đình xử lý rác thải hợp lý Tuy nhiên, vẫn còn một số hộ đổ rác xuống sông, gây ô nhiễm nguồn nước Do đó, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường là cần thiết để đảm bảo nguồn nước sạch cho sinh hoạt.
Hình 16: Rác thải đổ trực tiếp xuống rạch Cái Khế
(Nguồn: Tác giả thu thập từ thực tế)
Nhiều hộ gia đình đưa ra lý do để biện minh cho việc đổ rác xuống sông, và bảng số liệu dưới đây sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vấn đề này.
Bảng 4.4 LÝ DO XẢ RÁC XUỐNG SÔNG
Stt Lý do Số quan sát Tỉ lệ (%)
1 Tiện lợi và nhanh chóng 3 42,9
(Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp)
Kết quả phỏng vấn 50 người cho thấy có 7 người thừa nhận đổ rác trực tiếp xuống sông, trong đó 3 người cho rằng hành động này tiện lợi và nhanh chóng Tỉ lệ lý do tiện lợi và nhanh chóng chiếm 42,9%, được tính bằng cách chia số người trả lời lý do này (3) cho tổng số người (7).
Kế đến là lý do do thói quen với 4 câu trả lời chiếm 57,1% Đồng thời ta cũng nhận thấy rằng lý do do thói quen chiếm đa số
- Mức độ tham gia thu gom rác:
Theo số liệu, tỷ lệ người dân sẵn lòng tham gia thu gom rác tại khu vực họ sinh sống đạt 52%, trong khi 38% cho biết họ tham gia thường xuyên và 10% thỉnh thoảng tham gia.
Bảng 4.5 MỨC ĐỘ THAM GIA THU GOM RÁC CỦA NGƯỜI DÂN KHI
Khoản mục Đồng ý tham gia gom rác ở khu vực đang sống
Nhiều người tham gia thì tham gia 38,0
(Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp)
Mặc dù nhiều hộ gia đình sẵn lòng tham gia thu gom rác tại khu vực sinh sống, ý thức bảo vệ môi trường và con sông vẫn chưa cao, dẫn đến việc người dân không tự giác giữ gìn vệ sinh cho sông Họ chỉ tham gia khi có phong trào do địa phương phát động Thêm vào đó, một số hộ gia đình có tâm lý phụ thuộc vào số đông, chỉ tham gia nếu thấy nhiều người khác tham gia Ngoài ra, một số hộ do bận rộn với công việc mưu sinh nên không có thời gian quan tâm đến môi trường, dẫn đến việc họ chỉ tham gia thỉnh thoảng hoặc không tham gia.
Hình 17: Phong trào vớt rác trên rạch Cái Khế do Đoàn thanh niên Thành Phố tổ chức 2010
Ý thức tự giác giữ gìn vệ sinh môi trường và sự quan tâm của người dân về việc làm sạch con sông đang có những chuyển biến tích cực Sự nâng cao trình độ học vấn giúp người dân nhận thức rõ hơn về tác hại của ô nhiễm Đồng thời, các khu vực cũng tích cực tuyên truyền về vệ sinh môi trường, giúp người dân không còn coi việc đổ rác xuống sông là thói quen bình thường Tuy nhiên, việc xây dựng lối sống văn minh và ý thức giữ gìn vệ sinh đô thị là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì từ các cơ quan chức năng để dần thay đổi thói quen của người dân.
Khi được hỏi về việc người khác đổ rác và nước thải trực tiếp xuống sông, 46% hộ gia đình cho rằng cần nâng cao ý thức cộng đồng, cho thấy sự quan tâm sâu sắc của người dân đối với môi trường Tuy nhiên, có 28% không có ý kiến, 22% im lặng và 4% không quan tâm, cho thấy sự chán nản vì họ đã phản ánh nhiều lần nhưng tình trạng này vẫn tiếp diễn.
22% Mọi người phải có ý thức 46%
Hình 18: Suy nghĩ của người dân khi thấy người khác đổ rác xuống sông
(Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp)
Người dân thể hiện ý thức bảo vệ môi trường tốt thông qua việc tham gia thu gom rác và bức xúc khi chứng kiến hành vi xả rác xuống sông.
4.2.3 Phân tích nhận thức của người dân về ô nhiễm nước mặt rạch Cái Khế do nước thải sinh hoạt
- Sự thay đổi trong việc sử dụng nguồn nước trước kia và hiện tại:
Theo kết quả phỏng vấn trực tiếp, người dân cho biết rạch Cái Khế bắt đầu bị ô nhiễm khoảng 8 năm trước Trước thời điểm đó, họ vẫn sử dụng nước từ rạch Cái Khế cho sinh hoạt Tuy nhiên, khi nhận thức được sự gia tăng ô nhiễm, họ đã dần từ bỏ nguồn nước này.
BẢNG 4.6 SỰ THAY ĐỔI TRONG VIỆC SỬ DỤNG NGUỒN NƯỚC SINH HOẠT TRƯỚC KIA VÀ HIỆN TẠI
(Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp)
Trước đây, 62% hộ gia đình vẫn sử dụng nước sông như nguồn nước sinh hoạt chính để tiết kiệm chi phí Tuy nhiên, với mức sống ngày càng được nâng cao và thu nhập ổn định, người dân đã chú trọng hơn đến sức khỏe Nước, là nguồn sống thiết yếu cho các hoạt động như tắm, giặt, nấu ăn, đã bị ô nhiễm nghiêm trọng Do đó, hiện nay, 100% hộ gia đình đã chuyển sang sử dụng nước máy để cải thiện chất lượng sinh hoạt.