1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tốt nghiệp phân tích tính khả thi của dự án phân loại rác sinh hoạt tại nguồn 3r trên địa bàn quận ninh kiều

77 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Tính Khả Thi Của Dự Án Phân Loại Rác Sinh Hoạt Tại Nguồn-3R Trên Địa Bàn Quận Ninh Kiều, Tp. Cần Thơ
Tác giả Đào Thị An Bình
Người hướng dẫn Th.S. Tống Yên Đan
Trường học Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Kinh tế Tài nguyên- Môi trường
Thể loại luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 5,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 (14)
    • 1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (14)
      • 1.1.1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu (14)
      • 1.1.2. Căn cứ thực tiễn, căn cứ khoa học và cơ sở pháp lý (15)
        • 1.1.2.1. Căn cứ thực tiễn (15)
        • 1.1.2.2. Căn cứ khoa học (16)
        • 1.1.2.3. Cơ sở pháp lý (16)
    • 1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU (18)
    • 1.3. CÁC GIẢ THUYẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU (18)
      • 1.3.1. Câu hỏi nghiên cứu (18)
      • 1.3.2. Kiểm định giả thuy ết (19)
        • 1.3.2.1. Giả thuyết 1 (19)
        • 1.3.2.2. Giả thuyết 2 (19)
        • 1.3.2.3. Giả thuyết 3 (19)
        • 1.3.2.4. Giả thuyết 4 (19)
        • 1.3.2.5. Giả thuyết 5 (19)
      • 1.3.3. Mô hình nghiên cứu (20)
    • 1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU (21)
      • 1.4.1. Không gian (21)
      • 1.4.2. Thời gian (thời điểm thực hiện nghiên cứu) (21)
      • 1.4.3. Đối tượng nghiên cứu (21)
      • 1.4.4. Đối tượng khảo sát: 4 nhóm gồm (21)
    • 1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (21)
  • CHƯƠNG 2 (23)
    • 2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN (23)
      • 2.1.1. Một số khái niệm cơ bản (23)
        • 2.1.1.1. Nguyên tắc 3R và tính khả thi của dự án phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn theo nguyên tắc 3R (23)
        • 2.1.1.3. Định nghĩa rác sinh hoạt và cách phân loại rác thải sinh hoạt theo dự án phân loại rác thải sinh hoạt tại ngu ồn-3R HN (25)
        • 2.1.1.4. Ô nhiễm từ rác (26)
      • 2.1.2. Thống kê mô tả (27)
      • 2.1.3. Kiểm định Chi- bình phương (27)
      • 2.1.4. Hàm Probit (28)
      • 2.1.5. Biểu đồ Pareto (28)
      • 2.1.6. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp (30)
    • 2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (30)
      • 2.2.1. Phương pháp chọn mẫu (30)
        • 2.2.1.1. Xác đinh cỡ mẫu (30)
        • 2.2.1.2. Phương pháp chọn mẫu (30)
      • 2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu (31)
      • 2.2.3. Phương pháp phân tích số liệu (theo từng mục tiêu) (31)
  • CHƯƠNG 3 (33)
    • 3.1. ĐỊA GIỚI HÀNH CHÁNH (33)
    • 3.3. CƠ SỞ HẠ TẦNG QUẬN NINH KIỀU (35)
    • 3.4. THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ (35)
  • CHƯƠNG 4 (37)
    • 4.1. PHÂN LOAI ĐỐI TƯỢNG PHỎNG VẤN (37)
    • 4.2. MÔ TẢ ĐỐI TƯỢNG PHỎNG VẤN (37)
      • 4.3.1. Nguồn truyền đạt thông tin (42)
      • 4.3.2. Đánh giá của người dân về mức độ hiệu quả của các hệ thống thông tin truyền thông (0)
  • CHƯƠNG 5 (45)
    • 5.2.1. Thực trạng phân loại rác của người dân (45)
    • 5.2.2 Mối quan hệ giữa đối tượng phỏng vấn và việc phân loại rác sinh hoạt tại nguồn trước khi có dự án “Phân loại rác sinh hoạt tại nguồn-3R” (47)
    • 5.2.3. Xét mối quan hệ giữa đối tượng phỏng vấn và việc phân loại rác sinh hoạt tại nguồn của người dân trước khi có dự án “Phân loại rác sinh hoạt tại nguồn-3R (48)
    • 5.2. THÁI ĐỘ VÀ SỰ HIỂU BIẾT CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VẤN ĐỀ RÁC THẢI (50)
      • 5.2.1. Nhận thức, thái độ và đánh giá của người dân về vấn đề rác thải (50)
      • 5.2.3 Cách xử lý rác thải sinh hoạt của người dân khi không có dịch vụ thu gom rác (55)
  • CHƯƠNG 6 (57)
    • 6.1 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ SẴN LÒNG THAM GIA DỰ ÁN CỦA TỪNG NHÓM ĐỐI TƯỢNG (57)
      • 6.1.2 Kiểm định mối quan hệ giữa việc phân loại rác sinh hoạt trước khi có dự án và mức độ sẵn lòng tham gia của người dân khi dự án được triển khai (59)
    • 6.2 NGUYÊN NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THAM GIA DỰ ÁN PHÂN LOẠI RÁC TẠI NGUỒN CỦA NGƯỜI DÂN (61)
    • 6.3. NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ SẴN LÒNG THAM GIA DỰ ÁN (63)
      • 6.3.1. Dấu kỳ vọng của các biến giải thích sử dụng trong mô hình Probit (63)
  • CHƯƠNG 7 (67)
    • 7.1. GIẢI PHÁP CHO VIỆC TUYÊN TRUYỀN (67)
    • 7.2. GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NGUYÊN NHÂN NGƯỜI DÂN KHÔNG ĐÔNG Ý (67)
      • 7.2.1. Biện pháp khắc phục nguyên nhân “không hưởng được lợi ích gì về kinh tế” (67)
      • 7.2.2. Biện pháp khắc phục nguyên nhân “không có chế tài bắt buộc thực hiện” (68)
      • 7.2.3. Biện pháp khắc phục nguyên nhân “không hiểu cách phân loại” (68)
  • CHƯƠNG 8 (69)

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu:

Theo thống kê từ trang web vietecon, rác thải sinh hoạt chiếm đến 80% tổng lượng rác thải tại Việt Nam, là thành phần chủ yếu trong cơ cấu rác thải Báo cáo diễn biến môi trường năm 2004 cho thấy, mặc dù các khu đô thị chỉ chiếm 25% dân số cả nước, nhưng lại thải ra 50% tổng lượng rác thải sinh hoạt.

Cần Thơ, một trong năm đô thị loại 1 của Việt Nam, có diện tích 1401,6 km² và dân số năm 2009 đạt 1.189,6 nghìn người, với mật độ dân số 849 người/km² Từ 1999 đến 2009, tỷ lệ tăng dân số bình quân là 0,7%/năm, trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình giai đoạn 2004-2008 đạt 15,5% Thành phố thải ra khoảng 757 tấn rác mỗi ngày, với hơn 2/3 lượng rác thải đến từ các quận nội thành Quận Ninh Kiều, quận trung tâm của Cần Thơ, có diện tích 29,2204 km² và mật độ dân cư cao nhất, đạt 8.343 người/km², với dân số năm 2009 là 243.794 người.

2009 là 16,9% và cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng thương mại – dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp

Sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số dẫn đến nhu cầu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ ngày càng cao, kéo theo lượng rác thải sinh hoạt cũng tăng lên Tuy nhiên, nếu được phân loại và xử lý đúng cách, rác thải không chỉ không gây ô nhiễm môi trường mà còn trở thành nguồn tài nguyên quý giá cho nền kinh tế Việc này có ảnh hưởng lớn đến khả năng bảo vệ môi trường của cộng đồng Để dự án phân loại rác thải tại nguồn được triển khai hiệu quả, cần thực hiện nghiên cứu đánh giá tính khả thi và nâng cao tỷ lệ tham gia của người dân.

Đề tài "Phân tích tính khả thi của dự án phân loại rác sinh hoạt tại nguồn - 3R" được thực hiện tại phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, tp Cần Thơ, nhằm khảo sát mức độ ủng hộ của người dân đối với dự án này Hạn chế về thời gian và nhân lực đã khiến nghiên cứu chỉ tập trung vào khu vực cụ thể, nhưng vẫn mang lại cái nhìn rõ nét về tính khả thi của việc phân loại rác sinh hoạt tại nguồn.

1.1.2 Căn cứ thực tiễn, căn cứ khoa học và cơ sở pháp lý:

Kinh tế phát triển dẫn đến nhu cầu vật chất và tinh thần của người dân tăng, cùng với sự gia tăng dân số, làm tăng việc sử dụng tài nguyên và lượng chất thải ra môi trường, đặc biệt là rác thải sinh hoạt Tài nguyên là có hạn và không thể hồi phục kịp với tốc độ phát triển, do đó, người tiêu dùng cần nhận thức rõ về trách nhiệm đối với lượng rác thải do họ tạo ra Tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, người dân thường chưa ý thức đầy đủ về trách nhiệm bảo vệ môi trường Vì vậy, việc hướng dẫn họ từng bước hành động để bảo vệ môi trường và nhận thức được khả năng của mình là rất cần thiết Phân loại rác sinh hoạt tại nguồn là một giải pháp mới mẻ nhưng không quá phức tạp, khuyến khích người dân tham gia.

Hiện tại, thành phố Cần Thơ chưa có nhà máy xử lý rác thải Đề án “Khuyến khích xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn” đang được triển khai nhằm cải thiện tình hình quản lý rác thải tại địa phương.

Đến năm 2020, TP Cần Thơ sẽ triển khai xây dựng nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại phường Phước Thới, quận Ô Môn, với quy mô 47 ha và công suất từ 700-1.000 tấn/ngày UBND TP Cần Thơ đã thống nhất ưu tiên đầu tư cho khu xử lý rác thải tại quận Ô Môn.

GVHD: T ống Yên Đan 3 SVTH: Đào Thị An Bình yêu cầu các sở, ngành khẩn trương thực hiện các thủ tục cần thiết, lựa chọn nhà đầu tư và triển khai dự án trong năm 2010.

Sau hơn 2 năm thí điểm tại quận 6, TP HCM, dự án phân loại rác hữu cơ và vô cơ đã thất bại, với tỷ lệ người dân ủng hộ việc phân loại rác tại nhà chỉ còn 20%, và cao nhất cũng chỉ đạt 50% Tính khả thi của dự án phụ thuộc vào sự tham gia của người dân, nhưng điều này không hoàn toàn do lỗi của họ, vì nỗ lực phân loại rác không có ý nghĩa do sự thiếu đồng bộ trong tổ chức Theo báo cáo từ công ty TNHH MTV môi trường đô thị TP HCM, giai đoạn 1 của chương trình đã tiêu tốn 5 tỉ đồng nhưng không có rác hữu cơ nào được chế biến thành phân compost trong suốt thời gian thực hiện.

Nghiên cứu về phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn đã được thực hiện qua các đề tài như “Nghiên cứu xây dựng mô hình phân loại rác tại nguồn trong trường học của thành phố Đà Nẵng” của Phùng Khánh Chuyên và Ngô Vân Thụy, cùng với luận văn tốt nghiệp “Xây dựng mô hình phân loại rác tại nguồn trên cơ sở cộng đồng tại chợ Cái Răng, phường Lê Bình, quận Cái Răng, TP Cần Thơ” của Vương Thị Quí và Nguyễn Thị Mỹ Linh (2004) Cả hai nghiên cứu đều tập trung vào thực trạng thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt, đồng thời đề xuất các biện pháp phân loại rác tại nguồn và phương thức thực hiện mô hình phân loại rác sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu.

Hiện tại, chưa có nghiên cứu nào đánh giá tính khả thi của dự án phân loại rác sinh hoạt tại nguồn - 3R tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, hoặc trên toàn thành phố Cần Thơ.

Theo Điều 19 và Điều 20, Chương 3, Nghị định 59/2007/NĐ-CP về việc

GVHD: T ống Yên Đan 4 SVTH: Đào Thị An Bình quản lý chất thải rắn ngày 09/07/2007 có quy định:

“Điều 19 Phân loại chất thải rắn tại nguồn

1 Chất thải rắn thông thường phải được kiểm soát, phân loại ngay tại nguồn và phải được lưu giữ trong các túi hoặc thùng được phân biệt bằng màu sắc theo quy định

2 Tổ chức, cá nhân có hoạt động làm phát sinh chất thải rắn phải có trách nhiệm thực hiện phân loại chất thải tại nguồn theo quy định tại Điều 20 Nghị định này Điều 20 Phân loại chất thải rắn thông thường

1 Chất thải rắn thông thường từ tất cả các nguồn thải khác nhau được phân loại theo hai nhóm chính: a) Nhóm các chất có thể thu hồi để tái sử dụng, tái chế: phế liệu thải ra từ quá trình sản xuất; các thiết bị điện, điện tử dân dụng và công nghiệp; các phương tiện giao thông; các sản phẩm phục vụ sản xuất và tiêu dùng đã hết hạn sử dụng; bao bì bằng giấy, kim loại, thuỷ tinh, hoặc chất dẻo khác ; b) Nhóm các chất thải cần xử lý, chôn lấp: các chất thải hữu cơ (các loại cây, lá cây, rau, thực phẩm, xác động vật, ); các sản phẩm tiêu dùng chứa các hoá chất độc hại (pin, ắc quy, dầu mỡ bôi trơn, ); các loại chất thải rắn khác không thể tái sử dụng.”

Theo khoản 2 và khoản 3, Điều 2, Chương 1 Nghị định 59/2007/NĐ-CP về việc quản lý chất thải rắn ngày 09/07/2007 có quy định:

Chất thải rắn là loại chất thải ở thể rắn phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt và nhiều hoạt động khác Chất thải rắn được chia thành hai loại chính: chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Để đánh giá tính khả thi của dự án phân loại rác sinh hoạt tại nguồn 3R ở phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ, bài viết sẽ tập trung vào việc xác định các mục tiêu cụ thể nhằm đề xuất giải pháp thực tiễn cho việc triển khai dự án.

- Nhận thức của người dân trên địa bàn về vấn đề thu gom, vận chuyển, xử lý rác

- Đánh giá mức độ tham gia phân loại rác sinh hoạt tại nguồn hiện nay của người dân

Đánh giá sự sẵn lòng tham gia của người dân vào việc phân loại rác sinh hoạt tại nguồn là một yếu tố quan trọng khi triển khai dự án này Sự tham gia tích cực của cộng đồng không chỉ giúp nâng cao hiệu quả phân loại rác mà còn góp phần bảo vệ môi trường Việc nâng cao nhận thức và khuyến khích người dân tham gia sẽ tạo ra một nền tảng vững chắc cho sự thành công của dự án phân loại rác sinh hoạt tại nguồn.

- Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng tham gia phân loại rác sinh hoạt tại nguồn của người dân quận Ninh Kiều, tp Cần Thơ

- Đề xuất giải pháp cho dự án phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn có thể triển khai trên thực tế

CÁC GIẢ THUYẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1 Nhận thức và đánh giá của người dân về hiện trạng thu gom, vận chuyển và xử lý rác như thế nào?

2 Hiện nay, tất cả người dân quận Ninh Kiều, tp Cần Thơ đều tham gia phân loại rác sinh hoạt tại nguồn hay không?

3 Những đối tượng phỏng vấn khác nhau có sẵn lòng tham gia như nhau khi có dự án phân loại rác sinh hoạt tại nguồn hay không?

4 Những đối tượng có phân loại rác và đối tượng không phân loại rác tại nguồn trước khi có dự án có sẵn lòng tham gia như nhau khi có dự án phân loại rác sinh hoạt tại nguồn không?

5 Nguyên nhân ảnh hưởng đến sự sẵn lòng tham gia dự án của người dân?

GVHD: T ống Yên Đan 6 SVTH: Đào Thị An Bình

6 Các nhân tố nào gây ảnh hưởng đến quyết định sẵn lòng tham gia dự án phân loại rác sinh hoạt tại nguồn?

Có sự liên kết giữa đối tượng phỏng vấn và việc phân loại rác sinh hoạt tại nguồn, đặc biệt trước khi triển khai dự án “Phân loại rác sinh hoạt tại nguồn-3R”.

Mối quan hệ giữa đối tượng phỏng vấn và đánh giá của họ về lợi ích từ dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải là rất quan trọng Sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ này ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức của họ về lợi ích mà nó mang lại Việc cải thiện chất lượng dịch vụ có thể nâng cao đánh giá tích cực từ cộng đồng, đồng thời khuyến khích sự tham gia của họ trong việc bảo vệ môi trường.

Có mối quan hệ giữa đối tượng phỏng vấn và mức độ sẵn lòng tham gia của họ khi dự án được triển khai

Việc phân loại rác sinh hoạt trước khi triển khai dự án có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ sẵn lòng tham gia của người dân khi dự án được thực hiện Sự chuẩn bị và nhận thức của cộng đồng về phân loại rác sẽ quyết định hiệu quả của chương trình thu gom và xử lý rác thải.

Có mối quan hệ giữa đối tượng phỏng vấn và nguyên nhân không tham gia dự án của họ

GVHD: T ống Yên Đan 7 SVTH: Đào Thị An Bình

Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu của đề tài “Phân tích tính khả thi của dự án phân loại rác sinh hoạt tại nguồn 3R trên địa bàn quận

Ninh Kiều, tp Cần Thơ”

Thái độ và hiểu biết của người dân về vấn đề rác thải

Hiện trạng phân loại rác sinh hoạt tại nguồn của người dân

Sự sẵn lòng tham gia của người dân khi dự án phân loại rác sinh hoạt tại nguồn được triển khai

Thông tin của đáp viên

Các nguyên nhân ảnh hưởng đến quyết định tham gia khi dự án phân loại rác sinh hoạt tại nguồn được triển khai

H 0 : Những đối tượng phỏng vấn khác nhau đều phân loại rác tại nguồn trước khi có dự án

Kiểm định Chi- bình phương

H 0 : Những đối tượng phỏng vấn khác nhau có nhận thức và đánh giá như nhau về các vấn đề rác thải

Kiểm định Chi- bình phương

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng tham gia dự án phân loại rác tại nguồn

H 0 : Những đối tượng phỏng vấn khác nhau có cùng nguyên nhân ảnh hưởng đến quyết định không tham gia dự án

Kiểm định Chi- bình phương

H 0 : Những đối tượng phỏng vấn khác nhau đều sẵn lòng tham gia dự án phân loại rác tại nguồn

Kiểm định Chi- bình phương

GVHD: T ống Yên Đan 8 SVTH: Đào Thị An Bình

Bài viết sử dụng biểu đồ Pareto để đề xuất giải pháp hiệu quả, nhằm giảm thiểu các nguyên nhân chính gây ra sự không sẵn lòng tham gia dự án phân loại rác tại nguồn của người tham gia, với nỗ lực tối thiểu.

PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Không gian: phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, Tp Cần Thơ

1.4.2 Thời gian (thời điểm thực hiện nghiên cứu): tháng 4 năm 2011

1.4.3 Đối tượng nghiên cứu: mức độ ủng hộ của người dân ảnh hưởng đến tính khả thi của dự án phân loại rác sinh hoạt tại nguồn- 3R

1.4.4 Đối tượng khảo sát: 4 nhóm gồm:

 Hộ gia đình trong hẻm (không sản xuất, không kinh doanh)

 Hộ gia đình mặt tiền (không sản xuất, không kinh doanh)

 Nhóm các hộ buôn bán cố định.

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu "Xây dựng mô hình phân loại rác tại nguồn trong trường học của thành phố Đà Nẵng" của Phùng Khánh Chuyên và Ngô Vân Thụy Cẩm nhằm thiết lập một mô hình phân loại rác thải sinh hoạt phù hợp với thực tế tại Đà Nẵng Đề tài tập trung vào việc xác định khối lượng và thành phần rác thải trong trường học, điều tra nhận thức của học sinh về rác thải sinh hoạt và phân loại rác tại nguồn, cũng như thiết kế các biện pháp tuyên truyền Qua đó, nhóm tác giả đánh giá hiệu quả của các biện pháp truyền thông trong việc nâng cao nhận thức và hành động của học sinh Phương pháp nghiên cứu bao gồm thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp, số liệu sơ cấp qua phỏng vấn nhanh, tham khảo ý kiến chuyên gia, cùng với thống kê và xử lý dữ liệu.

GVHD: T ống Yên Đan 9 SVTH: Đào Thị An Bình

Luận văn tốt nghiệp này tập trung vào việc xây dựng mô hình phân lập rác thải nguồn tại chợ Cái Răng, phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ Mục tiêu của nghiên cứu là cải thiện quản lý rác thải thông qua sự tham gia của cộng đồng, nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và phát triển bền vững tại địa phương.

Vương Thị Quí và Nguyễn Thị Mỹ Linh (2004) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá hiện trạng rác thải tại khu vực chợ Cái Răng, nhằm tìm hiểu và đánh giá công tác quản lý và xử lý rác thải của các cơ quan chức năng Nghiên cứu cũng tập trung vào khả năng nhận thức về môi trường, đặc biệt là vấn đề rác thải trong cộng đồng dân cư Từ đó, nhóm tác giả đã xây dựng quy ước cộng đồng, nhằm thiết lập nguyên tắc ứng xử cho cộng đồng và làm cơ sở pháp lý cho việc thực thi dự án.

GVHD: T ống Yên Đan 10 SVTH: Đào Thị An Bình

PHƯƠNG PHÁP LUẬN

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản:

2.1.1.1 Nguyên tắc 3R và tính khả thi của dự án phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn theo nguyên tắc 3R:

Nguyên tắc 3R, bao gồm Giảm thiểu (Reduce), Tái sử dụng (Reuse) và Tái chế (Recycle), là phương pháp quan trọng nhằm giảm lượng chất thải Giảm thiểu đề cập đến việc lựa chọn sử dụng sản phẩm với mục tiêu giảm thiểu rác thải sau khi sử dụng Tái sử dụng liên quan đến việc tận dụng lại các món đồ hoặc phần của sản phẩm cho những mục đích khác Tái chế là quá trình biến rác thải thành nguồn tài nguyên Để đạt được hiệu quả tối đa trong việc giảm thiểu rác thải, cần tập trung vào việc áp dụng các nguyên tắc này một cách đồng bộ.

“3Rs” là giảm thải- reduce tiếp theo là tái sử dụng- reuse và tái chế- recycle

Phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn theo nguyên tắc 3R: gồm 3 công việc chính:

 Người dân phân loại rác tại nguồn (gia đình, cơ quan, xí nghiệp,…) theo đúng nguyên tắc phân loại của dự án

 Thu gom và vận chuyển các loại rác đã được phân loại trong các dụng cụ riêng

 Xử lý theo đúng mục tiêu cam kết của dự án đối với từng nhóm rác đã được người dân phân loại

Khả thi: (tính từ) Có khả năng thực hiện

Để dự án phân loại rác thải sinh hoạt theo nguyên tắc 3R (Giảm thiểu, Tái sử dụng, Tái chế) có tính khả thi và có thể triển khai thực tế, cần đảm bảo các điều kiện sau đây: sự tham gia tích cực của cộng đồng, hệ thống thu gom và xử lý rác thải hiệu quả, cũng như chính sách hỗ trợ từ các cơ quan chức năng.

 Tỷ lệ người dân tham gia phân loại rác sinh hoạt tại nguồn cao

 Có nhà máy xử lý rác thải

GVHD: T ống Yên Đan 11 SVTH: Đào Thị An Bình

 Có sự đồng bộ về việc thu gom và xử lý rác thải đúng theo mục tiêu cam kết của dự án

Do giới hạn về thời gian thu thập và xử lý dữ liệu, bài viết chỉ tập trung phân tích ảnh hưởng của sự ủng hộ từ người dân đối với tính khả thi của dự án.

Và đề tài chỉ khảo sát trên phạm vi phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều tp Cần Thơ

2.1.1.2 Định nghĩa chất thải rắn theo Nghị định 59/2007/NĐ-CP về việc quản lý chất thải rắn ngày 09/07/2007:

Chất thải rắn là loại chất thải ở thể rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt Chất thải rắn được chia thành hai loại: chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại Chất thải thông thường được định nghĩa là những loại chất thải không gây hại cho sức khỏe con người và môi trường.

Chất thải rắn thông thường gồm: chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn công nghiệp Định nghĩa chất thải rắn công nghiệp:

Chất thải rắn công nghiệp bao gồm các loại chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ và các hoạt động khác Định nghĩa chất thải rắn sinh hoạt cũng cần được làm rõ để phân biệt với chất thải rắn công nghiệp.

Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt

Chất thải rắn sinh hoạt gồm: rác hữu cơ và rác vô cơ Trong rác vô cơ có: rác tái chế và rác không thể tái chế

Rác hữu cơ gồm: các loại cây, lá cây, rau, thực phẩm, xác động vật, dễ phân hủy trong điều kiện tự nhiên

Rác tái chế bao gồm bao bì bằng giấy, kim loại, thủy tinh và các chất dẻo khác, trong khi rác không thể tái chế là những sản phẩm tiêu dùng chứa hóa chất độc hại như pin, ắc quy và dầu mỡ bôi trơn, cùng với các loại chất thải rắn khác không thể tái sử dụng Chất thải rắn nguy hại được định nghĩa là những chất thải có khả năng gây nguy hiểm cho sức khỏe con người và môi trường.

GVHD: T ống Yên Đan 12 SVTH: Đào Thị An Bình

Chất thải rắn nguy hại là loại chất thải chứa các chất hoặc hợp chất có những đặc tính nguy hiểm như phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính độc hại khác.

2.1.1.3 Định nghĩa rác sinh hoạt và cách phân loại rác thải sinh hoạt theo dự án phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn-3R HN

Theo cách phân loại của dự án phân loại rác sinh hoạt tại nguồn- 3R ở HN

(2006 đến 2009) thì rác sinh hoạt được phân chia như sau:

Bảng 2.1 CÁCH PHÂN LOẠI RÁC SINH HOẠT TẠI NGUỒN- 3R HN

Rác sinh hoạt Cách phân loại

Rác hữu cơ Rác thực phẩm, cỏ, hoa, lá

Rác vô cơ (rác vô cơ không thể tái chế)

Xương động vật, vỏ sò hến, gỗ, bã mía, vỏ dừa, vỏ đậu phộng, vỏ hộp sữa, giấy ăn đã qua sử dụng và các loại giấy khác là những vật liệu có thể tái chế Ngoài ra, túi chất dẻo, khay nhựa, ly nhựa, vỏ hộp xốp cùng đồ nhựa gia dụng cũng cần được xử lý đúng cách Các chất dẻo khác, thủy tinh vỡ, da, cao su, vải, pin, ắc quy, bóng đèn, than tổ ong, giấy tả và bỉm là những vật phẩm cần được phân loại và thu gom riêng Cuối cùng, các thiết bị điện cũ, sành sứ, bao tải dứa, lông gà và lông vịt cũng góp phần vào việc bảo vệ môi trường nếu được xử lý hợp lý.

Rác tái chế (rác vô cơ có thể tái chế)

Giấy báo, tạp chí, bìa carton, vỏ bao TL, sách, vở, viết, giấy photo, chai nhựa cứng, chai nhựa khác, hộp kim loại, kim loại vụ, nhôm vụn, hộp nhôm và chai thủy tinh là những loại vật liệu tái chế quan trọng, góp phần bảo vệ môi trường và giảm thiểu rác thải.

(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 11/2008 tại phường Thành Công và phường Láng Hạ tài liệu được cung cấp bởi bà Nguyễn Hương Giang, trợ lý dự án 3R- HN)

Mỗi dự án phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn -3R có phương pháp phân loại khác nhau tùy thuộc vào cách xử lý rác thải Bài viết này chỉ ra một ví dụ về cách phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn của dự án 3R HN.

GVHD: T ống Yên Đan 13 SVTH: Đào Thị An Bình

2.1.1.4 Ô nhiễm từ rác: Ô nhiễm đất: Rác chứa tới 80% là nước, khi bị phân giải bởi vi sinh vật chúng sẽ tạo thành vô số các sản phẩm có mùi hôi thối (indol, skatol, H 2 S,

NH 3 ) và nước hôi thối ấy ngày ngày sẽ chảy ra từ đống rác [5] Nước rò rỉ từ các bãi rác và hầm cầu làm ô nhiễm trầm trọng về mặt sinh học, các chất thải kim loại nặng từ bãi rác thấm vào đất gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái đất Thêm vào đó là các loại khí độc là sản phảm của quá trình oxy hóa hiếu khí và kỵ khí của vi khuẩn như SO 2 , H 2 S, NH 3 … ngấm vào đất qua khuếch tán nhưng do nồng độ cao nên bị giữ lại trong đất làm đất bị ô nhiễm gây ảnh hưởng đến hệ động thực vật sống trong đất Ô nhiễm nước: do tác động của các chất hữu cơ, chất rắn lơ lững và tác động của chất dinh dưỡng

Chất hữu cơ trong rác thải không được xử lý tốt tạo ra nước thải từ chất thải rắn, chủ yếu là carbonhydrate, dễ bị vi sinh vật phân hủy Quá trình này tiêu tốn oxy hòa tan trong nước, dẫn đến sự ô nhiễm và suy giảm nồng độ oxy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hệ sinh thái thủy vực Sự giảm oxy hòa tan tạo điều kiện cho vi khuẩn kỵ khí phát triển, sinh ra H2S gây mùi hôi khó chịu, làm giảm mỹ quan đô thị và tác động xấu đến môi trường xung quanh.

Chất rắn lơ lững có tác động tiêu cực đến tài nguyên sinh vật thủy sinh, làm đục nguồn nước và gây bồi lắng ở các kênh rạch, sông ngòi.

Các chất dinh dưỡng như Nitơ và Phốt pho gây ra hiện tượng phù dưỡng hóa nguồn nước, dẫn đến việc giảm lượng oxy ở các lớp nước phía dưới Hiện tượng này kích thích sự phát triển nhanh chóng của tảo và thực vật đơn giản, tạo ra các mảng thực vật nổi màu xanh, làm giảm đáng kể ánh sáng mặt trời xâm nhập vào các lớp nước dưới Kết quả là quá trình quang hợp của thực vật ở tầng nước dưới bị suy giảm, ảnh hưởng đến lượng oxy trong môi trường nước.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện với bốn đối tượng phỏng vấn, bao gồm hộ mặt tiền không tham gia sản xuất kinh doanh, hộ trong hẻm không sản xuất kinh doanh, cùng với các đối tượng buôn bán lẻ và buôn bán cố định.

Do hạn chế về thời gian và ngân sách, nghiên cứu chỉ khảo sát 50 phần tử cho mỗi đối tượng phỏng vấn, dẫn đến cỡ mẫu tổng cộng là 200 phần tử.

2.2.1.2 Phương pháp chọn mẫu: sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất

Phương pháp chọn mẫu phi xác suất là cách chọn mẫu không ngẫu nhiên, thường dựa trên mục đích chủ quan hoặc điều kiện thuận lợi để thu thập mẫu Việc lựa chọn mẫu có chủ đích này giúp đảm bảo rằng mẫu được chọn phù hợp với yêu cầu nghiên cứu.

GVHD: T ống Yên Đan 18 SVTH: Đào Thị An Bình Trong nghiên cứu, các phần tử trong tổng thể có khả năng được chọn ra khác nhau, thể hiện sự ưu tiên trong mục đích nghiên cứu Phương pháp chọn mẫu phi xác suất được áp dụng để đảm bảo tính đa dạng và phù hợp với yêu cầu nghiên cứu.

 Chọn mẫu tích lũy nhanh

 Chọn mẫu theo hạn mức

 Chọn mẫu kiểm tra tỷ lệ

Trong nghiên cứu này ta sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện của phương pháp chọn mẫu phi xác suất

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện là một kỹ thuật chọn lựa dựa vào cơ hội dễ dàng trong quá trình thu thập dữ liệu Phỏng vấn viên sẽ quyết định đối tượng phỏng vấn dựa trên khả năng tiếp cận và sự thuận tiện Ưu điểm của phương pháp này bao gồm việc tiết kiệm thời gian, nhanh chóng trong việc thu thập dữ liệu và giảm thiểu chi phí điều tra.

Phương pháp này có nhược điểm là mẫu không có tính đại diện cao, chỉ phù hợp cho nghiên cứu thăm dò và trắc nghiệm, không áp dụng cho nghiên cứu nhân quả hay mô tả.

Do bảng câu hỏi của luận văn này thuộc loại thiết kế nghiên cứu thăm dò nên cách chọn mẫu này phù hợp

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu: phỏng vấn trực tiếp

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu (theo từng mục tiêu)

GVHD: T ống Yên Đan 19 SVTH: Đào Thị An Bình

Bảng 2.2 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU THEO TỪNG MỤC

TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu nghiên cứu

Phương pháp phân tích số liệu

Thực trạng phân loại rác tại nguồn của người dân phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, tp Cần

 Phương pháp thống kê mô tả

Nhận thức và đánh giá của người dân đối với các vấn đề về rác thải

 Phương pháp thống kê mô tả

 Kiểm định Chi- bình phương Đánh giá sự sẵn lòng tham gia phân loại rác sinh hoạt tại nguồn hiện nay của người dân phường

Người dân phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, tp Cần Thơ thể hiện sự sẵn lòng tham gia vào việc phân loại rác sinh hoạt tại nguồn nếu dự án này được triển khai Việc đánh giá mức độ sẵn sàng của cộng đồng trong việc tham gia phân loại rác là rất quan trọng để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng sống tại địa phương.

Những nguyên nhân ảnh hưởng đến quyết định tham gia dự án phân loại rác tại nguồn của người dân

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng tham gia phân loại rác sinh hoạt tại nguồn của người dân phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, là một nghiên cứu quan trọng nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường Những yếu tố này bao gồm nhận thức của người dân về lợi ích của việc phân loại rác, sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương, và các chương trình giáo dục môi trường Đặc biệt, việc tạo ra các cơ chế khuyến khích, như giảm phí rác cho hộ gia đình tham gia phân loại, cũng có thể thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng Từ đó, việc nâng cao trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc quản lý rác thải sẽ góp phần cải thiện chất lượng môi trường sống.

 Phương pháp thống kê mô tả

Giải pháp nhằm loại bỏ những nguyên nhân chính dẫn đến việc người dân không sẵn lòng tham gia khi dự án được triển khai

GVHD: T ống Yên Đan 20 SVTH: Đào Thị An Bình

ĐỊA GIỚI HÀNH CHÁNH

Ninh Kiều là quận trung tâm của thành phố Cần Thơ, được thành lập theo Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2004 của Chính phủ Quận này bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của hầu hết các phường nội thành Cần Thơ cũ, như Cái Khế, An Hòa, Thới Bình, An Nghiệp, An Cư, An Hội, Tân An, An Lạc, An Phú, Xuân Khánh và Hưng Lợi.

An Bình (thuộc thành phố Cần Thơ cũ)

Quận Ninh Kiều có diện tích tự nhiên là 2.922,04 ha và được bao quanh bởi các địa giới hành chính: phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Tây giáp huyện Phong Điền, phía Nam giáp huyện Phong Điền và quận Cái Răng, còn phía Bắc giáp quận Bình Thủy.

Quận Ninh Kiều có 13 phường:

GVHD: T ống Yên Đan 21 SVTH: Đào Thị An Bình

13 Phường An Khánh (tách ra từ phường An Bình theo Nghị định số 11/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 1, 2007 của Chính phủ)

Theo thống kê dân số các phường tại Quận Ninh Kiều năm 2009, phường Hưng Lợi có diện tích 3,53 km 2 , dân số 34.973 người, mật độ dân số 9.907người/km 2

Hình 3.1: Bản đồ địa giới hành chánh của quận Ninh Kiều

(Nguồn: http://www.cantho.gov.vn/wps/PA_1_0_3O/map/ctmap.html)

GVHD: T ống Yên Đan 22 SVTH: Đào Thị An Bình

3.2 HỆ THỐNG SÔNG NGÒI KINH RẠCH TẠI QUẬN NINH KIỀU, TP CẦN THƠ

Quận Ninh Kiều nổi bật với hai con sông lớn là sông Hậu và sông Cần Thơ Sông Cần Thơ bắt đầu chảy vào quận qua phường An Bình, tại điểm giáp ranh với xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền Từ đây, sông Cần Thơ chảy ra sông Hậu tại Bến Ninh Kiều ở phường Tân An, đi qua các phường An Bình, Hưng Lợi, Xuân Khánh, An Lạc và Tân An thuộc quận Ninh Kiều.

Sông Hậu chảy qua địa phận phường Cái Khế, quận Ninh Kiều

Ngoài ra còn có hệ thống hồ, kênh, rạch chằng chịt khắp các phường trong quận Ninh Kiều như: kênh Cái Khế, sông Hàm Luông, hồ Sáng Thổi,

CƠ SỞ HẠ TẦNG QUẬN NINH KIỀU

Quận Ninh Kiều, trung tâm tài chính của Cần Thơ, có mật độ dân cư cao và sở hữu hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển, bao gồm các cơ quan truyền thông, báo chí, khu vui chơi giải trí, câu lạc bộ sinh hoạt và giao thông thuận tiện.

THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ

Cơ cấu kinh tế quận Ninh Kiều đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng thương mại, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp Từ năm 2004 đến năm 2009, tốc độ phát triển kinh tế của quận đã tăng từ 14,87% lên 16,9% Nền kinh tế tại đây phát triển toàn diện, với sự nổi bật trong các hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch đang diễn ra nhanh chóng.

Quận Ninh Kiều, trung tâm của thành phố Cần Thơ với mật độ dân cư đông đúc, nổi bật với hoạt động thương mại dịch vụ sôi động Khu vực này có nhiều trung tâm thương mại, siêu thị, siêu thị điện máy và siêu thị điện thoại laptop Ngoài ra, Ninh Kiều còn là trung tâm tài chính và chính trị của thành phố, nơi tập trung nhiều cơ quan nhà nước, trụ sở ngân hàng và công ty tài chính.

GVHD: T ống Yên Đan 23 SVTH: Đào Thị An Bình

Quận Ninh Kiều có hệ thống giáo dục đa dạng, bao gồm các trường học các cấp, trung tâm giáo dục thường xuyên, cùng với các trường đại học và cao đẳng dạy nghề Ngoài ra, khu vực này còn có hệ thống chăm sóc sức khỏe từ cấp trung ương đến các trạm y tế phường, đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu của cộng đồng.

GVHD: T ống Yên Đan 24 SVTH: Đào Thị An Bình

PHÂN LOAI ĐỐI TƯỢNG PHỎNG VẤN

Trong cuộc điều tra, bốn đối tượng đã được phỏng vấn, bao gồm buôn bán cố định, buôn bán lẻ, hộ mặt tiền (không sản xuất kinh doanh) và hộ trong hẻm (không sản xuất kinh doanh) Việc phân chia các đối tượng này dựa trên Quyết định số 02/2011/QĐ-UBND của Ủy Ban Nhân Dân Tp Cần Thơ liên quan đến mức phí vệ sinh, với các quy định được tóm tắt trong bảng.

Bảng 4.1 MỨC PHÍ VỆ SINH HẰNG THÁNG CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG

Phí vệ sinh Mức thu Đối với hộ:

 Buôn bán cố định (kể cả các hộ buôn bán cố định tại các chợ)

20.000 đồng/tháng Đối với hộ gia đình không sản xuất, không kinh doanh:

Dựa vào mức phí vệ sinh hàng tháng, chúng tôi phân chia các đối tượng khảo sát thành bốn nhóm chính Ngoài ra, một số trường hợp khảo sát cũng bao gồm các công ty và doanh nghiệp tư nhân, vì họ vẫn thuộc một trong bốn nhóm đối tượng phỏng vấn dựa trên mức phí vệ sinh của họ.

MÔ TẢ ĐỐI TƯỢNG PHỎNG VẤN

Theo dữ liệu từ cuộc điều tra, chúng ta có thể xác định độ tuổi trung bình, số lượng thành viên trong gia đình và tổng thu nhập hàng tháng.

GVHD: T ống Yên Đan 25 SVTH: Đào Thị An Bình

Bảng 4.2 MÔ TẢ ĐỐI TƯỢNG PHỎNG VẤN

Trung bình Độ lệch chuẩn

Số thành viên trong gia đình

Tổng thu nhập hàng tháng

(Nguồn: thống kê từ số liệu điều tra năm 2011)

Cuộc khảo sát được thực hiện trên 200 đối tượng, nhằm thu thập thông tin từ bốn nhóm phỏng vấn khác nhau Mẫu khảo sát có những đặc điểm nổi bật như sau:

Theo khảo sát, độ tuổi của các đáp viên dao động từ 21 đến 80, với độ tuổi trung bình là 46 Điều này cho thấy đáp viên chủ yếu là những người có thu nhập trong gia đình và có khả năng quyết định tham gia vào dự án phân loại rác tại nguồn - 3R nếu dự án được triển khai.

Gia đình hoặc nơi làm việc thường có từ 1 đến 12 thành viên, với trung bình khoảng 4 người Trong đó, số thành viên phổ biến nhất là 4 người.

Thu nhập trung bình hằng tháng của hộ gia đình hoặc nơi làm việc dao động từ 8-9 triệu đồng Trong 200 bản câu hỏi phỏng vấn, 100 bản được thực hiện với đối tượng là hộ buôn bán cố định và buôn bán lẻ, dẫn đến thu nhập trung bình cao Tuy nhiên, không thể kết luận rằng thu nhập trung bình của tất cả các hộ gia đình là cao.

Sau đây là thống kê về tổng thu nhập hằng tháng của các đối tượng phỏng vấn:

GVHD: T ống Yên Đan 26 SVTH: Đào Thị An Bình

Hình 4.1 Cơ cấu tổng thu nhập hằng tháng

(Nguồn: thống kê từ số liệu điều tra năm 2011)

Trong cơ cấu tổng thu nhập trung bình hằng tháng, thu nhập từ 3 triệu đến 6 triệu đồng chiếm tỷ trọng cao nhất với 30% Tiếp theo, thu nhập trên 15 triệu đồng chiếm 20%.

12 triệu- 15 triệu chiếm tỷ trọng thấp nhất (chiếm khoảng 5%)

Hình 4.2 Cơ cấu theo giới tính của đáp viên

Theo thống kê từ điều tra năm 2011, gần 70% đáp viên là nữ, điều này có thể mang lại lợi thế cho nghiên cứu, vì phụ nữ thường đảm nhận công việc nhà tại Việt Nam, bao gồm nấu ăn, dọn dẹp và chăm sóc con cái.

GVHD: T ống Yên Đan 27 SVTH: Đào Thị An Bình cho rằng phỏng vấn nữ sẽ mang lại kết quả chính xác hơn về vấn đề rác thải sinh hoạt, vì phụ nữ thường xuyên thực hiện công việc dọn dẹp vệ sinh trong gia đình hơn nam giới.

Hình 4.3 Cơ cấu thành phần nghề nghiệp

(Nguồn: thống kê từ số liệu điều tra năm 2011)

Theo cơ cấu nghề nghiệp, gần 45% đáp viên làm nghề buôn bán nhỏ, điều này góp phần làm tăng tổng thu nhập trung bình hàng tháng của mẫu khảo sát.

Hình 4.4 Cơ cấu trình độ học vấn

(Nguồn: thống kê từ số liệu điều tra năm 2011)

GVHD: T ống Yên Đan 28 SVTH: Đào Thị An Bình

Đa số đáp viên có trình độ học vấn trung học phổ thông, chiếm gần 40%, trong khi trình độ cao đẳng/đại học trở lên chiếm 25% Điều này cho thấy khả năng tiếp cận thông tin của họ khá tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thuyết phục họ tham gia dự án phân loại rác sinh hoạt tại nguồn - 3R.

Hình 4.5 Cơ cấu tình trạng hôn nhân của đáp viên

(Nguồn: thống kê từ số liệu điều tra năm 2011)

Về tình trạng hôn nhân: có gần 90% đáp viên đã lập gia đình

4.3 MỨC ĐỘ HIỆU QUẢ CỦA CÁC KÊNH TRUYỀN THÔNG VỀ VẤN ĐỀ RÁC THẢI ĐẾN NGƯỜI DÂN: Để nâng cao nhận thức của người dân về một vấn đề nào đó, thì người dân cần được cung cấp đầy đủ thông tin và được hướng dẫn cách thức thực hiện Về vấn đề tuyên truyền bảo vệ môi trường liên quan đến rác thải sinh hoạt, hiên nay chúng ta chỉ được được phổ biến thông tin vào một vài đợt cao điểm trong năm và việc tuyên truyền này chỉ mang tính chất thời điểm

GVHD: T ống Yên Đan 29 SVTH: Đào Thị An Bình

Bảng 4.3 KHẢO SÁT TỶ LỆ NGƯỜI DÂN NHẬN ĐƯỢC THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN RÁC

THẢI TRONG VÒNG 6 THÁNG QUA Nhận được thông tin Tần số (lần) Tỷ trọng (%)

(Nguồn: thống kê từ số liệu điều tra năm 2011)

Theo khảo sát, gần 90% người tham gia cho biết họ không nhận được thông tin nào về việc bảo vệ môi trường liên quan đến rác thải trong 6 tháng qua Điều này cho thấy rằng vấn đề bảo vệ môi trường chưa được truyền đạt thường xuyên đến cộng đồng.

4.3.1 Nguồn truyền đạt thông tin:

Để triển khai dự án hiệu quả, người dân cần nắm rõ thông tin về khu vực thực hiện, thời gian, cách thức hoạt động và phân loại rác Việc truyền thông và vận động đúng cách đến từng đối tượng là cần thiết để tăng tỷ lệ tham gia của họ Để đạt hiệu quả trong công tác truyền thông, cần xác định người phát ngôn có ảnh hưởng tích cực đến nhận thức và hành động của cộng đồng.

Theo ý kiến của người dân, người có ảnh hưởng đến họ khi phổ biến thông tin tuyên truyền cho dự án là:

GVHD: T ống Yên Đan 30 SVTH: Đào Thị An Bình

Bảng 4.4 NGƯỜI CÓ ẢNH HƯỞNG NHẤT ĐỂ PHỔ BIẾN THÔNG TIN

TUYÊN TRUYỀN CHO DỰ ÁN

Người truyền thông tin Tần số

Lãnh đạo phường 58 30,9 Đại diện công ty thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải 14 7,4

Thành viên hội phụ nữ 28 14,9

Thành viên đoàn thanh niên 1 0,5

(Nguồn: thống kê từ số liệu điều tra năm 2011)

Theo khảo sát, lãnh đạo phường là người có ảnh hưởng nhất trong việc phổ biến thông tin bảo vệ môi trường liên quan đến rác thải Điều này cho thấy vai trò quan trọng của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền về vấn đề rác thải Do đó, khi triển khai dự án phân loại rác sinh hoạt tại nguồn - 3R, cần tập huấn cho cán bộ địa phương để họ hiểu rõ cách thực hiện phân loại rác và các thông tin liên quan, nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền đến người dân.

4.3.2 Đánh giá của người dân về mức độ hiệu quả của các kênh thông tin truyền thông:

Để tối ưu hóa việc truyền thông dự án, cần xác định không chỉ người có ảnh hưởng mà còn các kênh truyền thông dễ tiếp cận và có tác động tích cực đến nhận thức và hành động của người dân Dưới đây là đánh giá của cộng đồng về hiệu quả của các kênh truyền thông.

GVHD: T ống Yên Đan 31 SVTH: Đào Thị An Bình

Bảng 4.5 ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI DÂN VỀ MỨC ĐỘ HIỆU QUẢ CỦA

Kênh truyền thông Điểm trung bình Ý nghĩa

Tới hộ gia đình 2,06 Tương đối hiệu quả

Họp dân phố 1,91 Tương đối hiệu quả

Họp phường 1,82 Tương đối hiệu quả

Loa phát thanh 1,25 Không hiệu quả Áp phích 1,11 Không hiệu quả

Tờ rơi 1,12 Không hiệu quả

Bản tin 1,27 Không hiệu quả Đài phát thanh/ Radio 1,49 Không hiệu quả

TV 2,16 Tương đối hiệu quả

Báo 2,01 Tương đối hiệu quả

Bảng quảng cáo 1,17 Không hiệu quả

Chiến dịch cộng đồng 1,36 Không hiệu quả

(Nguồn: thống kê từ số liệu điều tra năm 2011)

Với điểm trung bình trên có ý nghĩa như sau:

Thực trạng phân loại rác của người dân

Một trong những yếu tố quyết định đến thành công của dự án phân loại rác sinh hoạt tại nguồn - 3R là sự tham gia của người dân trong việc phân loại rác Điều đáng chú ý là trước khi dự án được triển khai, người dân đã thực hiện phân loại rác sinh hoạt hay chưa, và mục đích của họ trong việc này là gì Hai câu hỏi này sẽ được làm rõ thông qua các số liệu thống kê sau đây.

Hình 5 1 Tỷ lệ người dân phân loại rác tại nguồn

(Nguồn: thống kê từ số liệu điều tra năm 2011)

Tỷ lệ người dân tham gia phân loại rác hữu cơ hiện chỉ dưới 20%, trong khi tỷ lệ phân loại rác vô cơ đạt khoảng 60% Do số lượng câu hỏi khảo sát cho cả hai loại rác là như nhau, chúng ta có thể kết luận rằng tỷ lệ người dân tham gia phân loại rác vô cơ cao gấp nhiều lần so với rác hữu cơ.

GVHD: T ống Yên Đan 33 SVTH: Đào Thị An Bình Trước khi triển khai dự án, tỷ lệ người dân tham gia phân loại rác hữu cơ tại nguồn đạt 60%.

Trước khi có dự án, mục đích của người dân khi phân loại rác vô cơ là:

Hình 5 2 Tỷ lệ người dân phân loại rác vô cơ phân theo mục đích

(Nguồn: thống kê từ số liệu điều tra năm 2011)

Người dân phân loại rác vô cơ chủ yếu để bán ve chai, chiếm tỷ lệ gần 50% Bên cạnh đó, họ cũng phân loại rác vô cơ nhằm tái sử dụng trong gia đình hoặc chia sẻ cho người khác.

Trước khi có dự án, mục đích của người dân khi phân loại rác hữu cơ là:

Hình 5 3 Tỷ lệ người dân phân loại rác hữu cơ phân theo mục đích

(Nguồn: thống kê từ số liệu điều tra năm 2011)

GVHD: T ống Yên Đan 34 SVTH: Đào Thị An Bình

Trong số các mục đích phân loại rác, tỷ lệ phân loại rác hữu cơ để phục vụ chăn nuôi đạt trên 10%, cho thấy sự quan tâm của người dân Họ không trực tiếp chăn nuôi mà phân loại rác để cung cấp cho những người chăn nuôi nhỏ lẻ Tại Việt Nam, việc này rất phổ biến, đặc biệt ở các quán ăn, nơi thức ăn thừa thường được để vào thùng chứa để bán hoặc cho người khác lấy về làm thức ăn cho vật nuôi.

Tỷ lệ tham gia phân loại rác vô cơ (xấp xỉ 60%) cao hơn nhiều so với rác hữu cơ (nhỏ hơn 20%), chủ yếu do đối tượng khảo sát là cư dân tại trung tâm thành phố Việc phân loại rác hữu cơ ít mang lại lợi ích cho họ, và nếu có, họ không biết cách xử lý Ngược lại, động lực chính để người dân phân loại rác vô cơ là bán ve chai, nhờ vào tính dễ dàng và mạng lưới thu mua rộng khắp Điều này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn khuyến khích họ tham gia Ngoài việc bán ve chai, khoảng 15% người dân còn phân loại rác vô cơ để tái sử dụng trong gia đình và cho người khác, thể hiện hành động tự phát nhưng có ý nghĩa lớn trong việc triển khai dự án phân loại rác sinh hoạt tại nguồn - 3R.

Trước khi dự án phân loại rác sinh hoạt tại nguồn được triển khai, người dân đã thực hiện hai nguyên tắc đầu tiên của 3R là giảm thải (Reduce) và tái sử dụng (Reuse) Mặc dù tỷ lệ người dân thực hiện phân loại rác chưa cao, nhưng đây là nền tảng quan trọng để dự án có thể được triển khai hiệu quả Nguyên tắc 3R ưu tiên theo thứ tự: giảm thải, tái sử dụng và tái chế (Recycle).

Mối quan hệ giữa đối tượng phỏng vấn và việc phân loại rác sinh hoạt tại nguồn trước khi có dự án “Phân loại rác sinh hoạt tại nguồn-3R”

Qua cuộc khảo sát, ta có được số liệu thống kê sau:

GVHD: T ống Yên Đan 35 SVTH: Đào Thị An Bình

Bảng 5.1 TỶ LỆ NGƯỜI DÂN THAM GIA PHÂN LOẠI RÁC

TẠI NGUỒN TRƯỚC KHI CÓ DỰ ÁN PHÂN THEO ĐỐI TƯỢNG PHỎNG VẤN

Các đối tượng phỏng vấn

Phân loại Rác hữu cơ Rác vô cơ Rác (HC và VC) Tần số

Hộ buôn bán cố định 3 6,0 28 56,0 29 58,0

Hộ mặt tiền (không sản xuất kinh doanh)

Hộ trong hẻm (không sản xuất kinh doanh)

Tổng (so với tổng số

(Nguồn: thống kê từ số liệu điều tra năm 2011)

Chỉ có 60% người tham gia khảo sát thực hiện phân loại rác sinh hoạt trước khi dự án được triển khai, cho thấy tỷ lệ này còn thấp Mức độ tham gia phân loại rác khác nhau giữa các nhóm đối tượng, nhưng hộ buôn bán lẻ nổi bật với tần số phân loại rác vô cơ, hữu cơ cao nhất trong bốn nhóm khảo sát.

Xét mối quan hệ giữa đối tượng phỏng vấn và việc phân loại rác sinh hoạt tại nguồn của người dân trước khi có dự án “Phân loại rác sinh hoạt tại nguồn-3R

H 0 : Tất cả các đối tượng phỏng vấn đều phân loại rác tại nguồn như nhau trước khi có dự án

GVHD: T ống Yên Đan 36 SVTH: Đào Thị An Bình

H 1 : Các đối tượng phỏng vấn khác nhau phân loại rác tại nguồn khác nhau trước khi có dự án

Sau đây là bảng kiểm định Chi- bình phương:

Kiểm định Chi- bình phương

N of Valid Cases 200 a 0 cells (.0%) have expected count less than 5 The minimum expected count is 20.00

(Nguồn: phân tích số liệu bằng phần mền SPSS)

Vì số ô có tần số mong đợi nhỏ hơn 5 chiếm 0% ( bé hơn 20%) nêm kiểm định Chi- bình phương có ý nghĩa

Do p-value = 0,011 nhỏ hơn mức ý nghĩa α= 5% nên ta bác bỏ giả thuyết

Kết luận: tại mức ý nghĩa α= 5%, các đối tượng phỏng vấn khác nhau phân loại rác tại nguồn khác nhau trước khi có dự án

Sự khác biệt này được thể hiên qua mô hình sau:

GVHD: T ống Yên Đan 37 SVTH: Đào Thị An Bình

Hình 5 4 Tỷ lệ phân loại rác của người dân trước khi có dự án phân theo đối tượng phỏng vấn

(Nguồn: thống kê từ số liệu điều tra năm 2011)

Trước khi triển khai dự án, tỷ lệ tham gia phân loại rác tại nguồn giữa các đối tượng phỏng vấn có sự khác biệt rõ rệt Cụ thể, hộ buôn bán lẻ ghi nhận tỷ lệ phân loại rác tại nguồn cao nhất, vượt quá 70%, trong khi đó, hộ mặt tiền không sản xuất kinh doanh chỉ đạt khoảng 40%.

THÁI ĐỘ VÀ SỰ HIỂU BIẾT CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VẤN ĐỀ RÁC THẢI

5.2.1 Nhận thức, thái độ và đánh giá của người dân về vấn đề rác thải Để làm tốt công tác truyền thông cho dự án, ta cần biết nhận thức và thái độ của người dân về lợi ích có được từ dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải Người dân nhận thức và đánh giá như thế nào về các lợi ích mang lại từ dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải hiện nay Từ những thông tin này, ta sẽ xem xét người dân đã nhận thức được những lợi ích mang lại từ dịch vụ này hay chưa, vì sao Và lợi ích tăng thêm cho người dân khi họ tham gia dự án này là gì Qua đó, ta có thể xác định được một trong những mục tiêu của dự án và thiết kế nội dung tuyên truyền lợi ích của người dân có được khi dự án được triển khai Thông qua đó, ta có thể tăng tỷ lệ tham gia của người dân

Sau đây là đánh giá của người dân về lợi ích mang lại từ dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt:

GVHD: T ống Yên Đan 38 SVTH: Đào Thị An Bình

Bảng 5.2 NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ LỢI ÍCH MANG LẠI TỪ DỊCH VỤ THU GON, VẬN CHUYỂN VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT Đơn vị tính: %

Lợi ích từ việc thu gom, vận chuyển, xử lý rác

Hạn chế ô nhiễm môi trường 5,2 4,4 90,4

Hạn chế phát sinh dịch bệnh 3,5 6,9 89,6

Giúp cảnh quan đẹp hơn 4,3 2,6 93,1

Góp phần thể hiện nếp sống văn hóa, văn minh 3,5 5,2 91,3

Góp phần hạn chế biến đổi khí hậu 3,5 36 60,5

( Nguồn: thống kê từ số liệu điều tra năm 2011)

Theo một cuộc khảo sát, hơn 80% người tham gia nhận thấy lợi ích từ dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác, bao gồm việc giảm ô nhiễm môi trường, hạn chế dịch bệnh, cải thiện cảnh quan và thể hiện nếp sống văn minh Tuy nhiên, chỉ khoảng 60% người dân nhận thức được rằng dịch vụ này còn góp phần hạn chế biến đổi khí hậu, trong khi 40% vẫn không biết đến lợi ích này.

Người dân vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tác động tích cực của việc thu gom và xử lý rác đúng cách trong việc hạn chế biến đổi khí hậu Họ có thể không nhận thấy lợi ích rõ ràng từ hành động này Hơn nữa, thực trạng xử lý rác hiện nay tại thành phố được cho là không an toàn, dẫn đến sự hoài nghi về lợi ích mà nó mang lại.

GVHD: T ống Yên Đan 39 SVTH: Đào Thị An Bình

Hình 5 5 Biểu đồ thể hiện nhận thức của đáp viên về lợi ích mang lại từ việc thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải

(Nguồn: thống kê từ số liệu điều tra năm 2011)

Người dân phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ bày tỏ lo ngại về việc thu gom và vận chuyển rác thải không hợp lý, cũng như quy trình xử lý rác thải không an toàn Họ cho rằng tình trạng này ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống và sức khỏe cộng đồng Việc cải thiện hệ thống quản lý rác thải là cần thiết để đảm bảo an toàn và vệ sinh cho khu vực.

Bảng 5.3 ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VẤN ĐỀ THU GOM,

VẬN CHUYỂN VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT

Vấn đề Điểm trung bình Ý nghĩa

Thu gom, vận chuyển rác thải không hợp lý

Xử lý rác thải không an toàn 2,15 Không nghiêm trọng

(Nguồn: thống kê từ số liệu điều tra năm 2011)

Với điểm trung bình mang ý nghĩa như sau:

Hoàn toàn không nghiêm trọng

Trung bình Rất nghiêm trọng

GVHD: T ống Yên Đan 40 SVTH: Đào Thị An Bình

Vấn đề xử lý rác không an toàn và thu gom vận chuyển rác không hợp lý tại phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, Tp Cần Thơ được các đáp viên đánh giá là không nghiêm trọng Tuy nhiên, thực trạng xử lý rác thải của thành phố Cần Thơ hiện nay lại rất nghiêm trọng do rác thải không được xử lý an toàn Điều này dẫn đến sự đối lập hoàn toàn giữa đánh giá của người dân và thực tế về mức độ nghiêm trọng của vấn đề xử lý rác thải.

Kết luận từ khảo sát cho thấy, cư dân tại phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, Tp Cần Thơ đánh giá rằng việc xử lý rác thải không an toàn không phải là vấn đề nghiêm trọng, vì họ không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quy trình này.

5.2.2 Kiểm định mối quan hệ giữa đối tượng phỏng vấn và đánh giá của họ về lợi ích mang lại từ dịch vụ thu gom, vân chuyển và xử lý rác thải

H0: Những đối tượng phỏng vấn khác nhau có cùng đánh về lợi ích mang lại từ dịch vụ thu gom, vân chuyển và xử lý rác thải

H 1 : Những đối tượng phỏng vấn khác nhau đánh giá khác nhau về lợi ích mang lại từ dịch vụ thu gom, vân chuyển và xử lý rác thải

Chúng tôi tiến hành kiểm định mối quan hệ giữa đối tượng phỏng vấn và đánh giá của họ về các lợi ích từ dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải Các lợi ích này bao gồm:

 Hạn chế ô nhiễm môi trường

 Hạn chế phát sinh dịch bệnh

 Giúp cảnh quan đẹp hơn

 Góp phần thể hiện nếp sống văn hóa, văn minh

 Góp phần hạn chế sự biến đổi khí hậu.

Kết quả kiểm định Chi-bình phương cho thấy chỉ có mối quan hệ có ý nghĩa giữa đối tượng phỏng vấn và đánh giá của người dân về lợi ích trong việc hạn chế biến đổi khí hậu, với tần suất mong đợi nhỏ hơn 5 là 0% Do đó, không thể rút ra kết luận nào về mối quan hệ giữa đối tượng phỏng vấn và các lợi ích khác từ dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải.

GVHD: T ống Yên Đan 41 SVTH: Đào Thị An Bình

Chúng tôi sẽ trình bày kiểm định Chi-bình phương để phân tích mối quan hệ giữa đối tượng phỏng vấn và đánh giá của họ về lợi ích trong việc hạn chế biến đổi khí hậu mà dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải mang lại.

H 0: Các nhóm đối tượng phỏng vấn đều có chung quan điểm về lợi ích của dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải trong việc hạn chế biến đổi khí hậu.

Các đối tượng phỏng vấn có quan điểm khác nhau về lợi ích của dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải trong việc hạn chế biến đổi khí hậu Những ý kiến này phản ánh sự đa dạng trong nhận thức về vai trò của quản lý rác thải đối với môi trường và sự phát triển bền vững.

Sau đây là bảng kiểm định Chi- bình phương:

Kiểm định Chi-bình phương

N of Valid Cases 114 a 0 cells (.0%) have expected count less than 5 The minimum expected count is 5.53

(Nguồn: phân tích số liệu bằng phần mền SPSS)

Kiểm định Chi bình phương có ý nghĩa do số ô có tần suất mong đợi nhỏ hơn 5 là 0%

Thêm vào đó kiểm định Chi- bình phương có p- value= 0,06 (nhỏ hơn mức ý nghĩa α =1%) Do đó ta bác bỏ giả thuyết H0 tại mức ý nghĩa α =1%

Kết luận: Tại mức ý nghĩa α = 1%, các đối tượng phỏng vấn có những đánh giá khác nhau về lợi ích của dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải trong việc hạn chế biến đổi khí hậu.

GVHD: T ống Yên Đan 42 SVTH: Đào Thị An Bình

Sự khác biệt này được thể hiện ở hình sau:

Hình 5 6 Đánh giá của người dân về lợi ích hạn chế biến đổi khí hậu mang lại từ dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác

Theo số liệu điều tra năm 2011, nhiều người tham gia phỏng vấn cho rằng dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác không đóng góp vào việc hạn chế biến đổi khí hậu Tuy nhiên, một số lượng lớn các hộ mặt tiền lại nhận thấy rõ ràng lợi ích từ dịch vụ này trong việc giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

5.2.3 Cách xử lý rác thải sinh hoạt của người dân khi không có dịch vụ thu gom rác

Bảng 5.4 CÁCH XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT CỦA NGƯỜI DÂN

NẾU KHÔNG CÒN DỊCH VỤ THU GOM RÁC Cách xử lý

Bỏ rác ra cánh đồng 3 1,5

Vứt rác tại thùng rác công cộng 93 46,7

Bỏ rác xuống sông, hồ, mương 15 7,5

Không biết hoặc không trả lời 67 33,7

(Nguồn: tổng hợp từ số liệu điều tra năm 2011)

Trong nghiên cứu về cách xử lý rác thải sinh hoạt tại Tp Cần Thơ, 46,7% đáp viên cho biết họ sẽ vứt rác vào thùng rác công cộng khi không còn dịch vụ thu gom Tuy nhiên, thực tế cho thấy số lượng và mật độ thùng rác công cộng ở thành phố này rất thấp, khiến khả năng thực hiện phương án này của họ trở nên nghi ngờ Hơn 30% đáp viên không biết đến phương án xử lý rác khác hoặc từ chối trả lời, cho thấy sự thiếu thông tin và lựa chọn trong việc xử lý rác thải.

Ngày đăng: 01/07/2021, 17:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w