Những nhân tố chủ quan, khách quan là nguyên nhân cản trở gạo Việt Nam khi tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế
Trang 1Mục lục
Lời nói đầu
I Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng hoá
II Đánh giá chung về tình hình của Việt nam đối với sản xuất và tiêu dùng gạo từ năm 2008-2013
1 Về tình hình sản xuất
2 Về tình hình tiêu dùng
III Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt nam từ năm 2008-2013
1 Số lượng và kim ngạch xuất khẩu
2 Chất lượng và chủng loại gạo xuất khẩu
2.1 Chất lượng gạo xuất khẩu 2.2 Chủng loại gạo xuất khẩu
3 Thị trường và giá cả
3.1 Thị trường xuất khẩu gạo của Việt nam 3.2 Giá gạo xuất khẩu
4 Hình thức xuất khẩu và phương thức thanh toán
5 Thuế và hiệu quả xuất khẩu gạo
a Chính sách thuế xuất khẩu gạo
b Chính sách quản lý xuất khẩu gạo
6 Hiệu quả xuất khẩu gạo của Việt Nam từ năm 2008-2013
7 Đơn vị và khả năng cạnh tranh của Việt nam trong xuất khẩu gạo
IV Những tồn tại trong hoạt động xuất khẩu gạo và nguyên nhân gây ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu gạo khi tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế tại Việt Nam
1 Những tồn tại chính
2 Nguyên nhân
2.1 Nguyên nhân chủ quan 2.2 Nguyên nhân khách quan
V Thách thức cho sản xuất lúa ở Việt Nam
VI Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả xuất khẩu gạo của nước ta giai đoạn 2008-2013
1 Giải pháp đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả XK gạo
2 Định hướng chiến lược cho sản xuất và xuất khẩu gạo của nước ta trong thời gian tới
Tài liệu tham khảo
Trang 2Lời nói đầu
Gạo là loại lương thực được sản xuất và tiêu thụ chủ yếu ở nước ta Vấn đề sảnxuất và mua bán, tiêu thụ gạo trong nước từ xa xưa đã là vấn đề quan trọng hàng đầucủa quốc tế nhân sinh Trong suốt ¼ thế kỷ phát triển, ngành gạo Việt Nam đã và đangđạt được những thành tựu đáng kể, từ một nước xuất khẩu ở vị trí thấp, cho đến nay,nước ta đã vươn lên vị trí là nước xuất khẩu đứng thứ hai trên thế giới mang lại mộtnguồn thu nhập không nhỏ đóng góp vào ngân sách nhà nước Đặc điểm nền kinh tếnước ta là một nước nông nghiệp, Việt Nam đã xác định gạo là mặt hàng xuất khẩumũi nhọn không những tạo nguồn thu ban đầu rất cần thiết cho sự phát triển đất nước
mà còn là nguồn thu nhập chính của hầu hết các hộ gia đình của Việt Nam
Hiện nay trước xu hướng quốc tế hóa, hội nhập các nền kinh tế, tình hình sảnxuất và kinh doanh lúa gạo trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang phảiđối đầu với những thách thức lớn như: thị trường bất ổn định, sản lượng xuất khẩutăng giảm không đều, xu hướng cạnh tranh của các nước ngày càng ác liệt, thị trườngnhập khẩu biến động không ngừng… Bên cạnh đó, lợi ích của người nông dân sảnxuất lúa gạo cho xuất khẩu không được đảm bảo, giá trị gia tăng từ sản phẩm cuốicùng không có sự phân bổ công bằng giữa các chủ thể tham gia sản xuất kinh doanhlúa gạo, trong đó người nông dân thường bị thua thiệt Điều đó khiến cho hiệu quả củaxuất khẩu gạo của Việt Nam còn thấp, thiếu tính bền vững
Xuất phát từ thực tế đó, nhóm chúng em nghiên cứu đề tài về “Các nhân tố gây trở ngại đối với ngành hàng gạo khi tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế ở Việt Nam giai đoạn hiện nay” để biết vấn để khó khăn ngành gạo Việt Nam từ
đó đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhằm cải thiện tình hình, nâng cao hiệu quả xuấtkhẩu gạo của Việt Nam trong tương lai Trong quá trình nghiên cứu, nhóm chúng em
có tham khảo nhiều tư liệu song do kiến thức còn hạn chế nên khó tránh khỏi sai sótrất mong thầy và các bạn bổ sung để bài tiểu luận của chúng em được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cám ơn!
Trang 3I Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng hoá:
1 Khái niệm xuất khẩu:
Xuất khẩu (export) là bán hàng hoặc đưa ra nước ngoài Hàng hóa xuất khẩu rất
đa dạng, bao gồm: hàng công nghiệp, hàng nông nghiệp, hàng tiêu dùng…, kiến thứckhoa học kỹ thuật (phát minh, sáng chế…), các dịch vụ (tư vấn kỹ thuật, sữa chữa,dịch vụ vận tải, bảo hiểm, thông tin quảng cáo…)
2 Các hình thức của xuất khẩu:
Xuất khẩu trực tiếp: là xuất khẩu các hàng hoá và dịch vụ do chính doanhnghiệp sản xuất ra hoặc mua từ các đơn vị sản xuất trong nước, sau đó xuất khẩu ranước ngoài với danh nghĩa là hàng của mình Hình thức này có ưu điểm là lợi nhuận
mà đơn vị kinh doanh xuất khẩu thường cao hơn các hình thức khác do không phảichia sẻ lợi nhuận qua khâu trung gian Với vai trò là người bán trực tiếp, đơn vị ngoạithương có thể nâng cao uy tín của mình Tuy vậy, nó đòi hỏi đơn vị phải ứng trướcmột lượng vốn khá lớn để sản xuất hoặc thu mua hàng và có thể gặp nhiều rủi ro
Xuất khẩu gián tiếp (indirect export): là xuất khẩu qua các trung gian thươngmại (các công ty sử dụng các đại lý xuất khẩu, các công ty thương mại quốc tế, hoặcbán hàng cho các chi nhánh của các tổ chức nước ngoài đặt trong nước) Trách nhiệmthực hiện các chức năng xuất khẩu được chuyển cho các tổ chức khác, hình thức nàyphù hợp với các công ty mà mục tiêu mở rộng các thị trường nước ngoài và các nguồnlực còn hạn chế Xuất khẩu gián tiếp sẽ hạn chế mối liên hệ với bạn hàng của nhà xuấtkhẩu, đồng thời khiến nhà xuất khẩu phải chia sẻ một phần lợi nhuận cho người trunggian Tuy nhiên, trên thực tế phương thức này được sử dụng rất nhiều, đặc biệt là ởcác nước kém phát triển, vì các lý do:
Người trung gian thường hiểu biết rõ thị trường kinh doanh còn các nhàkinh doanh thường rất thiếu thông tin trên thị trường nên người trung gian tìm đượcnhiều cơ hội kinh doanh thuận lợi hơn
Người trung gian có khả năng nhất định về vốn, nhân lực cho nên nhà xuấtkhẩu có thể khai thác để tiết kiệm phần nào chi phí trong quá trình vận tải
Hợp tác xuất khẩu: với một công ty muốn phát triển ở một mức độ nào đó hoạtđộng xuất khẩu, nhưng lại hạn chế về nguồn lực hoặc khối lượng hàng bán không đủlớn để thành lập một bộ phận bán hàng xuất khẩu thì hợp tác xuất khẩu là một lựachọn phù hợp Trong trường hợp này, công ty thỏa thuận hợp tác với một công ty khác
để phân phối các hoạt động xuất khẩu
3 Chức năng của xuất khẩu:
Chức năng cơ bản của hoạt động xuất khẩu là mở rộng lưu thông hàng hóa giữatrong nước với nước ngoài Chức năng cơ bản đó được thể hiện qua ba chức năng sau:
- Xét dưới gốc độ xuất khẩu là một khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng:
hàng hóa xuất khẩu là chuyển hóa hình thức vật chất, giá trị của hàng hóa trong nước
và nước ngoài Thực hiện chức năng này là để bổ sung các yếu tố ban đầu vào cho sảnxuất một khi chúng khan hiếm, đồng thời tạo đầu ra cho sản xuất Thông qua đó, cácnhà sản xuất giải quyết được bài toán hiệu quả nhất theo quy mô, có điều kiện để tăng
Trang 4năng xuất lao động đạt mức cao nhất, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng hiện đại hóa, có tính cạnh tranh cao.
- Xét dưới góc độ xuất khẩu là lĩnh vực mũi nhọn của nền kinh tế mở: chức
năng của hoạt động xuất khẩu là gắn kết thị trường trong nước với thị trường nướcngoài nhằm nâng cao trình độ phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao năng suất laođộng
- Chức năng dưới góc độ là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thương
mại toàn cầu: chức năng của hoạt dộng xuất khẩu là thông qua thương mại quốc tế đểphát huy cao độ lợi thế so sánh của đất nước và lợi thế trong phân công lao động quốc
tế nhờ tập trung và tận dụng nguồn lực trong nước để nâng cao sức cạnh tranh và hiệuquả của xuất khẩu
4 Vai trò của xuất khẩu:
a) Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân:
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hóa đất
b) Vai trò của xuất khẩu đối với các doanh nghiệp:
- Xuất khẩu giúp doanh nghiệp sử dụng khả năng dư thừa.
- Xuất khẩu giúp doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất.
- Xuất khẩu giúp tăng doanh số bán hàng và lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Xuất khẩu giúp doanh nghiệp phân tán rủi ro.
- Xuất khẩu giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường nước ngoài.
II Đánh giá chung về tình hình của Việt nam đối với sản xuất và tiêu dùng gạo từ năm 2008-2013:
1 Về tình hình sản xuất:
Sản lượng lúa cả năm 2008 ước tính đạt 38,6 triệu tấn, tăng 2,7 triệu tấn (7,5%)
so với năm 2007 do diện tích gieo trồng tăng 200,5 nghìn ha và năng suất tăng 2,3tạ/ha Trong sản lượng lúa cả năm, lúa đông xuân đạt 18,3 triệu tấn, tăng 7,6% so vớinăm trước; lúa hè thu 11,4 triệu tấn, tăng 12%; lúa mùa 8,9 triệu tấn, tăng 2% Nếutính cả 4,5 triệu tấn ngô thì tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2008 đạt 43,2 triệutấn, tăng 7,5% so với năm trước
Mặc dù là nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới, nhưng những năm gầnđây, sản xuất, xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn đang đối mặt với những khó khăn,thách thức to lớn và đòi hỏi cần có những giải pháp phù hợp
Trong những năm gần đây, sự suy giảm đáng kể diện tích đất trồng lúa đang làmối quan tâm hàng đầu đối với nhiều quốc gia Thêm vào đó, sự cạnh tranh gay gắttrong việc sử dụng những nhân tố cơ bản như nguồn nước, diện tích đất,… giữa khuvực nông nghiệp và phi nông nghiệp, cũng như những ảnh hưởng tiêu cực từ môitrường liên quan đến trồng trọt đặc biệt là trồng lúa đang đặt ra nhiều thách thức cho
Trang 5tất cả các nước trên thế giới khi lượng cầu về gạo trên thế giới đang không ngừng giatăng.
Diện tích, năng suất và sản lượng lúa năm 2008
Ước tính năm 2008 Năm 2008 so với năm 2007(%)
Tổng số
Chia ra
Tổngsố
Chia raMiền
Bắc
MiềnNam
MiềnBắc
MiềnNam
Lúa cả năm
Diện tích (Nghìn ha) 7399,6 2497,6 4902,0 102,8 99,7 104,4Năng suất (Tạ/ha) 52,2 52,9 51,9 104,6 105,0 104,4Sản lượng (Nghìn tấn) 38630,5 13203,1 25427,4 107,5 104,6 109,1
Lúa đông xuân
Diện tích (Nghìn ha) 3012,5 1128,8 1883,7 100,8 98,9 102.0Năng suất (Tạ/ha) 60,8 59,3 61,7 106,7 110,0 104.8Sản lượng (Nghìn tấn) 18324,3 6698,4 11625,9 107,6 109,0 106.9
Lúa hè thu
Diện tích (Nghìn ha) 2368,7 163,4 2205,3 107,5 100,2 108.1Năng suất (Tạ/ha) 48,0 48,9 47,9 104,3 118,1 103.2Sản lượng (Nghìn tấn) 11360,7 799,8 10560,9 112,0 118,5 111.6
Trang 62 Về tình hình tiêu dùng:
Tình hình tiêu thụ gạo của thế giới tăng mạnh trong hơn hai thập kỷ qua: năm
1989 toàn thế giới tiêu thụ 334,685 triệu tấn, năm 1996 là 375,996 triệu tấn, và đếnnăm 2006 tăng lên đến 416,83 triệu tấn Tuy nhiên, dự trữ gạo ở các nước sản xuấtcũng như nhập khẩu sẽ vẫn cao, hạn chế xu hướng mậu dịch gạo
III Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt nam từ năm 2008-2013:
1) Số lượng và kim ngạch xuất khẩu:
Sau hơn 20 năm liên tiếp xuất khẩu gạo trên quy mô lớn, Việt Nam đã vươn lêntrở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới (chỉ sau Thái Lan) với mức đóng gópbình quân 4,5 triệu tấn/năm cho thị trường gạo thế giới
Với mức tăng trưởng mạnh mẽ cả về sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩugạo trong thời gian qua đặc biệt là trong những năm gần đây, Việt Nam trở thành nướcxuất khẩu gạo thứ 2 trên thế giới Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận thực tế là mặc dùxuất khẩu gạo của Việt Nam gần như liên tục tăng trong những năm qua, nhưng kimngạch lại biến động hết sức thất thường do yếu tố giá trên thị trường thế giới và chấtlượng gạo của Việt Nam Xuất khẩu gạo tăng về lượng, nhưng giá trị lại không tănghoặc tăng ở tốc độ không tương xứng Vậy để giá trị gạo xuất khẩu tăng tương xứngvới sản lượng gạo xuất khẩu thì Việt Nam cần quan tâm đến chất lượng gạo xuất khẩu
và cần xây dựng thương hiệu cho gạo Việt Nam
Trong năm 2011 khối lượng gạo xuất khẩu giữa các tháng tăng giảm liên tục,khối lượng xuất khẩu cao nhất là tháng 3 đạt 752 nghìn tấn (tăng 22% so với thángtrước) với kim ngạch xuất khẩu là 348 triệu USD (tăng 18% so với tháng trước).Nhưng cũng ở tháng này, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu thấp hơn tốc độ tăng sảnlượng xuất khẩu
Bờ Biển Ngà phải nhập khẩu mỗi năm khoảng 900.000 tấn gạo Từ nhiều nămnay, gạo luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Bờ Biển Ngà chiếmđến 90% tổng kim ngạch xuất khẩu của ta sang thị trường này Thị phần gạo ViệtNam ngày càng được mở rộng, chiếm gần 50% tổng lượng gạo nhập khẩu của BờBiển Ngà năm 2012 Trong thời gian tới, gạo vẫn tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chính
Trang 7của ta sang thị trường này do Bờ Biển Ngà chưa thể sản xuất đủ lương thực và ngườidân cũng như doanh nghiệp nhập khẩu gạo Bờ Biển Ngà đã quen với gạo Việt Nam.
2) Chất lượng và chủng loại gạo xuất khẩu:
a) Chất lượng gạo xuất khẩu:
Trong những năm qua, chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam tuy đã được cảithiện, song vẫn ở và thấp hơn so với các nước xuất khẩu gạo chính trên thế giới Hiệncác loại gạo xuất khẩu phẩm cấp cao của Việt Nam không nhiều, chủ yếu vẫn là loạigạo phẩm cấp trung bình Trong tỷ trọng xuất khẩu gạo năm 2001 thì gạo chất lượngcao(5% tấm) chiếm 25%, gạo tấm 25% chiếm 32%, gạo 100% tấm chiếm 5% Đếnnăm 2010, tỷ trọng gạo 5% tấm cũng chỉ tăng lên khoảng 30%, gạo 7%-10% tấmchiếm khoảng 8%, các loại gạo 15% tấm và 25% tấm chiếm tỷ trọng lớn nhất tới trên55% kim ngạch xuất khẩu
Trang 8b) Chủng loại gạo xuất khẩu:
Xu hướng đa dạng hóa chủng loại gạo xuất khẩu thể hiện rõ ràng trong nhữngnăm qua Ngoài gạo xô phân theo cấp độ tấm (gạo 5%, 15% và 25% tấm), các doanhnghiệp đã tích cực sản xuất và xuất khẩu các loại gạo đặc thù khác như gạo thơm, gạođồ
Theo VFA, trong chín tháng đầu năm nay xuất khẩu gạo cấp thấp chỉ đạt847.000 tấn, giảm trên 61% so với cùng kỳ năm ngoái (nên nói năm cụ thể) Ngượclại, xuất khẩu gạo loại trung bình lại tăng tới 193%, xuất khẩu gạo thơm và gạo đồtăng tương ứng 115% và 57%
Dưới đây là xuất khẩu gạo của Việt Nam theo chủng loại tháng 7/2013
FOB, USD/MT
3) Thị trường và giá cả:
a) Thị trường xuất khẩu gạo của Việt nam:
Năm 2012, xuất khẩu gạo đạt 7,72 triệu tấn, đạt hơn 3,5 tỷ USD, tăng gần 8,3%
về số lượng nhưng lại giảm 1,98% về trị giá so với năm 2011; giá xuất khẩu bình quânđạt xấp xỉ 447 USD/tấn Về chủng loại xuất khẩu gạo: cao cấp là 3,5 triệu tấn (chiếm46,3%); gạo cấp trung bình là 1,8 triệu tấn (chiếm 23,5%), số còn lại là gạo cấp thấp
Trang 9Châu Á là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm 77,7% tổnglượng gạo xuất khẩu của cả nước (tương đương 6 triệu tấn) Năm 2012, Indonesia,Phillipines và Malaysia vẫn tiếp tục là ba thị trường nhập khẩu truyền thống Tiềmnăng tiêu thụ gạo của các thị trường này vẫn còn khá lớn Tuy nhiên, theo USDAtrong vài năm tới, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường này sẽ bị thuhẹp dần.
Áp lực thị trường ngày càng lớn tại Phillippines trong mùa vụ 2012/13 khi mà
Bộ Công Thương vừa đồng ý với kiến nghị của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, chophép các doanh nghiệp được xuất khẩu gạo sang Phillipines nhằm tận dụng cơ hội thịtrường, góp phần thúc đẩy xuất khẩu gạo Trước đây, đối với các thị trường tập trunggồm Philippines, Malaysia, Indonesia, hợp đồng xuất khẩu phải dựa trên thỏa thuậncủa chính phủ hai nước Chính phủ giao cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam chỉ địnhmột doanh nghiệp đứng ra đàm phán ký kết, cụ thể là Tổng Công ty Lương thực miềnNam (Vinafood2), sau đó về phân chia cho các doanh nghiệp hội viên VFA
Mùa vụ 2011/12, Trung Quốc là nước nhập khẩu gạo nhiều nhất của Việt Namvới kim ngạch hơn 2 triệu tấn Dự báo xuất gạo của Việt Nam sang thị trường này sẽtiếp tục tăng trong mùa vụ 2012/13 Tuy nhiên, Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnhtranh mạnh mẽ từ Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan và Myanmar khi xuất khẩu gạo sangTrung Quốc
Đối với thị trường Châu Phi, Việt Nam có nhiều lợi thế hơn so với Ấn Độ vàPakistan nhất là với loại gạo tấm 5%; nhưng lại phải đối mặt với sức ép cạnh tranhgay gắt từ Thái Lan vì các nhà xuất khẩu Thái Lan có thể hạ thấp giá bán để cạnhtranh tại thị trường quan trọng này Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, Ấn Độ vàPakistan lại có lợi thế rất cạnh tranh đối với thị trường gạo chất lượng thấp (đặc biệt làgạo tấm 25%)
Xét về lượng, trung bình mỗi năm Việt Nam xuất khẩu sang châu Phi từ 1,2đến 1,5 triệu tấn gạo Mùa mua sắm tại thị trường châu Phi không bắt đầu vào quý đầutiên mà thường từ quý 2 trở đi Gạo xuất sang châu Phi thường được bán theo cơ sởgiá FOB; hàng hóa được chuyển bằng tàu lớn và dừng lại ở nhiều cảng tại các quốcgia châu Phi khác nhau Chính vì vậy, rất khó để đưa ra con số chính xác về lượng gạoxuất khẩu của Việt Nam sang châu lục này
Theo báo cáo của USDA, Việt Nam đang muốn tiếp cận thị trường mới để đẩymạnh xuất khẩu Việt Nam đã xuất khẩu gạo đến Chile và Haiti trong năm ngoái vàđang tìm cách mở rộng thị phần tại Tây bán cầu
Cũng theo báo cáo, sản lượng lúa gạo Việt Nam năm 2013 ước tính 27,65 triệutấn, tăng so với khoảng 27,15 triệu tấn năm trước Tiêu thụ lúa gạo trong nước dự kiến
sẽ tăng nhẹ, từ khoảng 19,65 triệu tấn năm 2012 lên 20,1 triệu tấn năm 2013
Trang 10b) Giá gạo xuất khẩu:
Năm 2010:
Năm 2011:
Tháng 9-2011, giá gạo Việt 5% là 492 USD/ tấn (FOB) so với 2010 là 395
USD/tấn, tăng 24,6%; giá gạo Việt 25% là 456 USD/tấn (FOB) so với 2010 là 367USD/tấn, tăng 24,2%; giá gạo Thái 5% là 527 USD/tấn (FOB) so với 2010 là 482USD/tấn, tăng 9,2%; giá gạo Thái 25% là 488 USD/tấn (FOB) so với 2010 là 433USD/tấn, tăng 12,7%
Năm 2012:
Tháng 5 năm 2012, Giá gạo Việt 5% là 434 USD/tấn (FOB) so với 2011 là469USD/tấn, giảm 7,4%; giá gạo Việt 25% là 393 USD/tấn (FOB) so với 2011 là432USD/tấn, giảm 9,1%; giá gạo Thái 5% là 557 USD/tấn (FOB) so với 2011 là 509USD/tấn, tăng 9,5%; giá gạo Thái 25% là 551 USD/tấn (FOB) so với 2011 là 472USD/tấn, tăng 16,7%
Năm 2013:
Giá gạo 5% tấm xuất khẩu của Việt Nam ổn định ở mức 410 USD/tấn trong khigạo 25% tấm đã tăng giá 12,9% lên mức 350 USD/tấn từ giữa tuần trước Theo trung
Trang 11tâm Thông tin phát triển nông nghiệp nông thôn, giá tăng nhờ ảnh hưởng tích cực từcác hợp đồng xuất khẩu gạo sang Nigeria và Philippines Hiện có 7 doanh nghiệpChâu Phi đang tìm mua gạo xuất khẩu của Việt Nam Theo đó, Nigeria đã mua250.000 tấn gạo của Việt Nam do giá bán thấp hơn từ 80–90 USD/tấn so với sản phẩmcủa Thái Lan Philippines dự kiến ký hợp đồng với tổng công ty Lương thực miềnNam để mua 500.000 tấn gạo 25% tấm.
Đáng chú ý, tỉnh Bạc Liêu xuất khẩu 25.000 tấn gạo sạch chất lượng cao sangChâu Âu, với giá tương đương 887 USD/tấn Giống gạo này có tên là Một bụi đỏHồng Dân được trồng tại Bạc Liêu trên diện tích 20.000 hecta, năng suất trung bình 6tấn/ha, trong điều kiện không sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón Giống lúa này đãđược bảo hộ thương hiệu từ tháng 6/2008
Giá lúa thu mua tại các địa phương đã tăng nhẹ 50–200đ/kg, khiến cho giá gạobán lẻ cũng tăng Giá lúa tại An Giang tăng khoảng 200–500đ/kg, tuỳ loại, với giá lúathường là 3.400đ/kg, lúa Jasmine là 7.500đ/kg, tăng 500đ/kg so với tháng trước Giálúa tại Cần Thơ tăng lên 4.400đ/kg, tăng 200đ/kg Giá trung bình gạo thường ở cáctỉnh đồng bằng sông Cửu Long là 7.500đ/kg, gạo thơm là 14.000đ/kg, đều tăng500đ/kg
4) Hình thức xuất khẩu và phương thức thanh toán:
Hình thức xuất khẩu:
Trong những năm đầu của công cuộc đổi mới đất nước, chương trình xuất khẩugạo của Việt Nam chủ yếu là hàng đổi hàng và trả nợ Thời gian sau đó chúng ta đã sửdụng phương thức xuất khẩu trực tiếp và qua trung gian Đối với những thị trường dễtính như Châu Phi thì Việt Nam thực hiện phương thức xuất khẩu trực tiếp, vì đối vớinhững thị trường này yêu cầu về chất lượng sản phẩm không cao chúng ta có thể dễdàng đáp ứng Còn đối với những thị trường như Mỹ, Nhật Bản thì họ lại yêu cầu sảnphẩm với chất lượng cao Vì vậy để đáp ứng những nhu cầu này Việt Nam phải sửdụng qua trung gian
Phương thức thanh toán:
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt như hiện nay trên thị trường gạo quốc tế, cácdoanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam đã luôn linh hoạt trong phương thức thanhtoán để chiếm được nhiều thị trường khác nhau
Trang 125) Thuế và hiệu quả xuất khẩu gạo:
a) Chính sách thuế xuất khẩu gạo:
Bộ Tài chính vừa cho biết gạo xuất khẩu được chính thức ngưng đánh thuế từngày 19/12 để khuyến khích xuất khẩu Quyết định một phần dựa trên đề nghị củaHiệp hội Lương thực Việt Nam về việc bỏ thuế xuất khẩu gạo hoặc nâng mức giá gạoxuất khẩu chịu thuế xuất khẩu lên từ 800 USD/tấn thay vì 600 USD/tấn
Mức chịu thuế 500.000 đồng/tấn với gạo xuất giá từ 600 USD/tấn đến dưới 700USD/tấn; 600.000 đồng/tấn với gạo xuất đi giá 700 USD/tấn - 800 USD/tấn Mức thuếtuyệt đối tăng lũy tiến từ 800.000 – 2,9 triệu đồng/tấn theo mức tăng giá xuất khẩu gạotừ 800 – 1.300 USD/tấn
Thống kê của Hiệp hội Lương thực VN cho biết, tính từ đầu tháng 12 đến naycác DN trong cả nước xuất khẩu thêm được 234.893 tấn gạo với trị giá 100,184 triệuUSD Như vậy luỹ kế xuất khẩu gạo từ đầu năm đến nay đã đạt 4.479.336 tấn, trị giátương đương 2,576 tỉ USD
Trong khi đó, theo dự báo của Bộ NNPTNT và Bộ Công Thương, thị trườnggạo thế giới năm 2009 sẽ tiếp tục tình trạng khan hiếm
Từ ngày 15/8/2013, các loại gạo xuất khẩu sẽ chịu thuế suất tuyệt đối từ800.000 đồng đến 2,9 triệu đồng/tấn tùy loại Riêng gạo có giá xuất dưới 800 USD/tấnchưa nằm trong diện áp thuế Như vậy, việc đánh thuế đối với gạo xuất khẩu loại dưới
800 USD/tấn theo quyết định ban hành ngày 23/7 vừa qua không còn hiệu lực Cácloại gạo từ 800 USD – 900 USD một tấn sẽ chịu thuế 800.000 đồng/tấn Loại gạo cógiá từ 900 USD – 1.000 USD một tấn chịu thuế 1,2 triệu đồng Loại có giá 1.300 USDtrở lên có mức thuế tuyệt đối 2,9 triệu đồng Mức thuế này áp dụng đối với các tờ khaihải quan từ ngày 15/8
Trước đó, Hiệp hội Lương thực VN (VFA) đã có văn bản gửi Chính phủ và các
bộ liên quan kiến nghị bỏ thuế xuất khẩu gạo hoặc nâng mức giá gạo xuất khẩu chịuthuế
Theo VFA giá gạo thế giới hiện nay còn khoảng 750-780 USD một tấn, tùyloại, trong khi đó, giá chào bán của Việt Nam luôn thấp hơn mức này Nếu đánh thuế
Trang 13cao, doanh nghiệp khó khăn dẫn đến hạn chế mua lúa vào, như vậy vô hình chung ảnhhưởng đến quyền lợi của bà con nông dân.
7 tháng đầu năm, các doanh nghiệp Việt Nam đã xuất được khoảng 2,7 triệutấn gạo với kim ngạch 1,55 tỷ USD Giá xuất khẩu bình quân theo phương thức giaohàng FOB được 574 USD/tấn
b) Chính sách quản lý xuất khẩu gạo:
Giai đoạn 1989 – 2000:
- Năm 1991, chế độ hạn ngạch xuất khẩu gạo được thiết lập.
- Năm 1994, bắt đầu thực hiện chế độ thu gom đầu mối xuất khẩu nhằm hạn
chế tình trạng tranh mua - tranh bán
- Năm 1996, Chính phủ đã chấn chỉnh việc xuất khẩu gạo, ngừng hoạt động
xuất khẩu của các doanh nghiệp nhỏ và phân tán, chỉ định các doanh nghiệp thực sự
đủ điều kiện xuất khẩu gạo làm đầu mối xuất khẩu nhằm nâng cao trình độ tập trung
và chuyên môn hóa
- Năm 1998, hạn ngạch đã được nới lỏng dần Hạn ngạch được phân bố từ
đầu năm dựa trên cơ sở kết quả hoạt động thực tế trong năm trước và sự xem xét tìnhhình sản xuất của năm
Giai đoạn 2001 – 2005:
Nhà nước thực hiện chính sách thưởng kim ngạch xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất vayngân hàng đã góp phần làm tăng số lượng gạo xuất khẩu, giúp nông dân tiêu thụ đượcsản phẩm Giá gạo đã tăng khiến cho người nông dân yên tâm hơn trong sản xuất Bêncạnh đó nhờ các cơ chế, chính sách khuyến khích xuất khẩu, các doanh nghiệp đãgiảm bớt được khó khăn về tài chính
Giai đoạn 2006 đến nay:
Trong những năm gần đây, đặc biệt là từ sau khi ban hành nghị quyết trungương 7 khóa X nhiều chính sách được ban hành và thực thi như: Đầu tư mạnh chonghiên cứu, chọn lọc, phân nhánh các loại lúa có năng suất cao, chất lượng tốt để đảmbảo cho xuất khẩu; các chính sách đảm bảo lợi ích của người trồng lúa trong so sánhvới lợi ích của người trồng các loại cây trồng khác và với các khâu thu mua, chế biến,xuất khẩu gạo; ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu, chế tạo, nhập khẩu, phổ biến các loạimáy móc phục vụ sấy, bảo quản, chế biến lúa gạo phù hợp với từng vùng; hỗ trợ tín
Trang 14dụng để các doanh nghiệp thu mua lúa của nông dân phục vụ cho xuất khẩu, để ngườinông dân không phải bán lúa với giá rẻ ngay sau khi thu hoạch, nhất là người dân ởĐBSCL
Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) là đơn vị quyết định giá sàn xuất khẩugạo (hay còn gọi là giá định hướng xuất khẩu) Việc tính toán giá sàn gạo xuất khẩutheo từng tiêu chuẩn, phẩm cấp gạo bình quân chung của ngành, công bố giá sàn gạoxuất khẩu ngay từ đầu vụ và phù hợp với từng thời kỳ để làm cơ sở cho các DN ký kếthợp đồng xuất khẩu gạo
Trước đây, VFA thường quy định cụ thể giá sàn xuất khẩu gạo tối thiểu củatừng chủng loại gạo 5%, 15% và 25% tấm để kiểm soát tình trạng doanh nghiệp bánphá giá lẫn nhau trong ký kết hợp đồng
Đầu năm 2013, nhận định tình hình xuất khẩu gạo ngày càng khó khăn, VFA
đã điều chỉnh quy định đối với giá sàn theo hướng buông, không quản lý chặt, nhằmgiúp khơi thông dòng chảy xuất khẩu gạo, giải cứu thị trường nội địa hay nói đúnghơn là giải cứu doanh nghiệp xuất khẩu gạo
Theo đó, VFA chỉ công bố một mức giá sàn duy nhất đối với chủng loại gạo cóchất lượng thấp nhất (gạo 25% tấm) với 370 USD/tấn Và doanh nghiệp được tự do kýhợp đồng xuất khẩu, miễn không dưới mức giá sàn này
Ngay sau khi giá sàn được thay đổi, tình hình xuất khẩu gạo của doanh nghiệptrong nước được cải thiện một cách rõ rệt Trong quý I năm 2013, xuất khẩu gạo trên
cả nước đạt gần 1,4 triệu tấn với tổng giá trị trên 616 triệu USD, tăng trên 34% vềlượng nhưng lại giảm gần 6% về giá trị so với cùng kỳ
Ban đầu, VFA đã nhận định một cách lạc quan rằng giá gạo xuất khẩu sụt giảmliên tục là do cạnh tranh ngày càng gay gắt từ Ấn Độ, Thái Lan và một số nước xuấtkhẩu gạo lớn khác Nhưng trên thực tế, giá giảm bắt nguồn từ việc giảm giá sàn.Thương nhân “vô tư” hạ giá xuất khẩu để giành hợp đồng mà vẫn an toàn về hiệu quảkinh doanh còn nông dân mới là người chịu thiệt Vì doanh nghiệp căn cứ vào giá gạoxuất khẩu (có khấu trừ chi phí hao hụt) để thu mua nguyên liệu đầu vào Giá xuấtkhẩu giảm dẫn đến tình trạng nông dân bị ép bán lúa, gạo cho thương nhân với giá rẻhơn
Một số trường hợp thương nhân ký hợp đồng mua lúa gạo với giá sàn nhưngđến khi thu mua trực tiếp thì ép giá thấp hơn giá thỏa thuận với lý do giá xuất khẩugạo trên thị trường sụt giảm Thậm chí có doanh nghiệp còn tự ý chào bán dưới giásàn mà vẫn chưa có chế tài để xử lý hoặc cảnh cáo
Sự “tự tung tự tác” của doanh nghiệp xuất khẩu gạo trong thời gian qua chính
là nguyên nhân khiến người nông dân có thói quen giao thương với thương lái, cò lúa,
cò gạo để có thể bán lúa gạo với giá tốt hơn
6) Công tác thu mua và tổ chức xuất khẩu gạo:
a) Công tác thu mua:
Sau hơn 1 tháng triển khai công tác thu mua, đến nay, các doanh nghiệp thuộcHiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) đã mua hơn 950.000 tấn gạo, đạt khoảng 95%chỉ tiêu đề ra và dự kiến đến ngày 31/3 sẽ hoàn tất thu mua theo kế hoạch Ngay sau
Trang 15khi có thông tin Chính phủ đồng ý triển khai chương trình thu mua tạm trữ, giá lúatrên thị trường đã tăng so với thời điểm đầu vụ, giúp nhà nông gia tăng được lợinhuận Cụ thể, giá bình quân lúa tươi ngoài đồng tăng từ 150 - 200 đồng/kg, đạt 4.400đồng/kg đối với lúa thường, 4.600 - 5.300 đồng/kg đối với lúa chất lượng cao, lúathơm “Giá thu mua lúa tạm trữ được đánh giá phù hợp với tình hình thực tế trongnước và giá thị trường quốc tế Qua những dự báo cân đối cung - cầu, năm nay chúng
ta có khả năng xuất khẩu 3,5 triệu tấn, giữ mức tồn kho 800.000 - 1 triệu tấn và sẽđảm bảo giá thu mua tốt cho nông dân”, ông Trương Thanh Phong, Chủ tịch VFAkhẳng định
Vụ đông xuân năm nay tỉnh Long An xuống giống hơn 220.000 ha lúa, dự kiếnđạt sản lượng 1,5 triệu tấn lúa và nhận chỉ tiêu thu mua tạm trữ 88.000 tấn gạo (tươngđương với 150.000 tấn lúa) Còn tại tỉnh Đồng Tháp được phân bổ chỉ tiêu cho 6doanh nghiệp thu mua tạm trữ 58.000 tấn gạo, ít hơn cùng kỳ năm 2012 là 25.000 tấn
“Cả tỉnh xuống giống gần 210.000 ha và đến nay đã thu hoạch 197.852 ha, năng suấtbình quân ước đạt khoảng 70 tạ/ha Hiện các doanh nghiệp giao nhiệm vụ thu mua lúatạm trữ trên địa bàn đã hoàn tất công tác thu mua Dù số lượng thu mua ít hơn nămtrước nhưng cũng đã góp phần giúp nhà nông giải phóng lượng lúa tồn kho với giá cólãi”, ông Dương Nghĩa Quốc, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnhĐồng Tháp cho hay
Theo số liệu của Cục Trồng trọt, tính đến ngày 19/3, các tỉnh ĐBSCL đã thuhoạch được hơn 1,2 triệu ha lúa đông xuân và dự kiến đến cuối tháng 4/2013 sẽ thuhoạch dứt điểm trên 1,5 triệu ha Với năng suất đạt khoảng 6,8 tấn/ha, sản lượng lúa
vụ đông xuân năm nay sẽ đạt trên 10,6 triệu tấn, trong đó lượng lúa hàng hóa cần tiêuthụ chiếm gần 80% Chủ trương mua lúa tạm trữ đã kịp thời giữ được giá lúa gạo, tăngthêm thu nhập cho nông dân Theo ông Phong, năm 2013, xuất khẩu gạo chịu nhiềusức ép về cạnh tranh thị trường, giá cả… nhưng số lượng đăng ký hợp đồng xuất khẩugạo đầu năm rất khả quan Việc tạm trữ lúa gạo sẽ giúp ngành lương thực chủ độnghơn trong điều hành sản lượng tiêu thụ gạo trong năm, từng bước đưa công tác tạm trữthực hiện theo đúng kế hoạch góp phần giúp công tác chỉ đạo, kết quả sản xuất, tiêuthụ lúa hàng năm đi vào ổn định
b) Tổ chức xuất khẩu gạo:
Bên cạnh những kết quả khả quan, việc điều hành xuất khẩu gạo thời gian quacũng bộc lộ nhiều tồn tại cần chấn chỉnh Với cơ chế điều hành như hiện nay, tất cảmọi doanh nghiệp đều có quyền kinh doanh xuất khẩu gạo Số lượng doanh nghiệpxuất khẩu gạo đã lên đến hơn 200 doanh nghiệp
Theo đại diện Hiệp hội Lương thực Việt Nam, hiện có tới 205 doanh nghiệpđang tham gia xuất khẩu gạo Trong số này, có 11 doanh nghiệp xuất khẩu lớn nhất(chiếm tới 69%), 82 doanh nghiệp xuất dưới 1.000 tấn/năm, 41 doanh nghiệp xuấtkhoảng 200 tấn, thậm chí có doanh nghiệp 1 năm chỉ xuất khẩu được 1 tấn
Điều đáng nói là trong số đó có nhiều doanh nghiệp không đáp ứng đượcnhững yêu cầu tối thiểu về cơ sở vật chất phục vụ xuất khẩu Thậm chí, nhiều doanhnghiệp không dự trữ đủ lượng gạo cần thiết cho xuất khẩu, chỉ khi ký được hợp đồngxuất khẩu mới tổ chức mua lúa gạo của dân, dẫn đến tình trạng tới mùa thu hoạch,nông dân phải chờ doanh nghiệp ký hợp đồng xuất khẩu, thương lái mới đến mua
Trang 16Theo Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải, nếu giữ cơ chế cũ, Việt Nam mỗi nămxuất tới 6 triệu tấn gạo, nếu chia cho hàng trăm doanh nghiệp thì sẽ tăng thêm chi phí.Hơn nữa, từ 2011, Việt Nam cho phép doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào lĩnh vựcsản xuất và xuất khẩu gạo, kéo theo khả năng dư thừa các nhà máy xay xát, khochứa Vì thế, Phó thủ tướng đặt vấn đề nên xem xét giảm bớt các doanh nghiệpkhông đủ lực mà vẫn được phép tham gia xuất khẩu gạo.
Trước thực trạng đó, dự thảo lần 4 về nghị định kinh doanh xuất khẩu gạo gồm
7 chương, 29 điều đã bổ sung các điều kiện để doanh nghiệp được cấp giấy chứngnhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo như phải có kho chuyên dùng với sứcchứa tối thiểu 5.000 tấn Các quy định này sẽ loại bớt những doanh nghiệp không cóthực lực
Dự thảo cũng quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc thu mualúa, gạo hàng hoá theo chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền và trách nhiệm duy trì mức
dự trữ lưu thông tương đương 20% lượng gạo mà thương nhân đã xuất khẩu trong 6tháng trước đó nhằm can thiệp bình ổn giá gạo cung ứng thị trường khi có biến động
Dự thảo yêu cầu các doanh nghiệp có trách nhiệm đăng ký hợp đồng xuất khẩugạo tại Hiệp hội Lương thực Việt Nam với các tiêu chí như giá thoả thuận trong hợpđồng không thấp hơn giá sàn định hướng xuất khẩu đã được công bố, lượng gạo tồnkho tối thiểu tương đương 50% lượng gạo trong hợp đồng đăng ký xuất khẩu
Theo Ban soạn thảo nghị định, quy định này để thúc đẩy thương nhân mua lúacho nông dân ngay sau thu hoạch, không bị động chờ hợp đồng xuất khẩu Bên cạnh
đó, dự thảo cũng quy định việc xây dựng và công bố giá thành sản xuất, giá thu muađịnh hướng đảm bảo có lãi cho người sản xuất và giá sàn định hướng xuất khẩu
Ngoài ra, dự thảo cũng quy định rõ các chế tài áp dụng đối với doanh nghiệp viphạm luật chơi như tạm ngừng đăng ký hợp đồng xuất khẩu 3 đến 6 tháng hoặc thậmchí thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo
Ngày 14/11, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Văn phòng Chính phủ và
Bộ Công Thương đã tổ chức hội thảo về nghị định kinh doanh xuất khẩu gạo Phátbiểu tại đây, đa số doanh nghiệp đồng tình với quy định của dự thảo rằng kinh doanhxuất khẩu gạo phải là ngành hàng kinh doanh có điều kiện
7) Hiệu quả xuất khẩu gạo của Việt Nam từ năm 2008-2013:
a) Những thành tựu đạt được và tác động kinh tế - xã hội:
Xuất khẩu gạo của Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nổi bật như:
Thứ nhất: Thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của đảng và nhà nước,
kinh tế nông nghiệp và nông thôn nước ta đã có những bước phát triển đáng kể
Thứ hai: Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo không ngừng tăng lên Thứ ba: Kết cấu chủng loại gạo xuất khẩu đã có những cải thiện nhất định
trong những năm gần đây
Thứ tư: Thị trường xuất khẩu gạo không ngừng được mở rộng
Trang 17Thứ năm: Xuất khẩu gạo góp phần quan trọng đưa đất nước vượt qua thời kỳ
khó khăn, tạo sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, tạo tiền đề bước vào giai đoạn pháttriển mới
Thứ sáu: Xuất khẩu gạo có vai trò quan trọng đối với phát triển nông nghiệp,
nông thôn
Thứ bảy: xuất khẩu gạo tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo
ở khu vực nông thôn nói riêng và trong cả nước nói chung
Thứ tám: Xuất khẩu gạo đã đi cùng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
Nam từ buổi đầu(1989) và góp phần quan trọng vào quá trình này
b) Hạn chế và nguyên nhân:
Hạn chế:
Về thị trường xuất khẩu:
Trong thời gian vừa qua thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn là thịtrường có sức mua thấp thiếu tính bền vững, chủ yếu là thị trường đòi hỏi phẩm cấpsản phẩm không cao
Về chất lượng gạo xuất khẩu:
Chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam còn kém, gạo 5% tấm, gạo nếp, gạothơm mới chiếm khoảng 50% Chất lượng gạo xuất khẩu thấp do một số nguyên nhânchính sau:
Thứ nhất : Do giống lúa kém
Thứ hai: Chính sách hướng xuất khẩu vào các thị trường tập trung với việcđáp ứng nhu cầu gạo phẩm cấp thấp đã khiến người nông dân vẫn phải duytrì sản xuất giống lúa có phẩm cấp thấp đó
Thứ ba: Công nghệ chế biến lạc hậu, các công việc sau thu hoạch chưa đạtđược tiêu chuẩn làm thất thoát một lượng gạo đáng kể
Về giá gạo xuất khẩu:
Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam thấp hơn giá gạo xuất khẩu của một số nướcnhư Thái Lan, Ấn Độ, Mỹ vì thế kim ngạch xuất khẩu tăng chủ yếu là do tăng khốilượng xuất khẩu
Nguyên nhân giá gạo thấp là do:
Thứ nhất: Chất lượng gạo xuất khẩu còn kém, phẩm chất thấp, mẫu mã chưađáp ứng được yêu cầu của các thị trường khó tính, đã làm giá gạo nước ta thấphơn giá gạo quốc tế
Thứ hai : Cạnh tranh gay gắt giữa chính các doanh nghiệp xuất khẩu gạo củaViệt Nam trên
thị trường thế giới làm cho giá gạo của Việt Nam giảm thấp
Thứ ba: Việc quản lý gạo trong xuất khẩu còn buông lỏng, gạo chất lượng kémvẫn còn tham gia vào thị trường xuất khẩu đã ảnh hưởng đến uy tín của gạoViệt Nam trên thị trường thế giới
Trang 18 Thứ tư: Dự báo thị trường nông sản trong khu vực và trên thế giới chưa nhanhnhạy và chính xác, chưa phân tích đầy đủ các yếu tố tác động đến giá cả trongnhiều năm
Thứ năm : Năng lực tạm trữ gạo xuất khẩu còn yếu nên thường xuất khẩu gạo ồ
ạt vào vụ thu hoạch nên giá thấp, khi giá gạo trên thị trường thế giới lên cao thìlại không có gạo bán
Thứ sáu : Mức chênh lệch giá gạo của nước ta so với các nước khác còn cao còn
do Việt Nam chưa có được hệ thống bạn hàng tin cậy từ nhiều năm như TháiLan, do đó doanh thu xuất khẩu cũng giảm do phải chi khoản hoa hồng môigiới
Thứ bảy : Xuất khẩu gạo qua trung gian còn tồn tại khá phổ biến và vì vậy giáxuất khẩu thấp
8) Đơn vị và khả năng cạnh tranh của Việt nam trong xuất khẩu gạo:
Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ và Pakistan thường nằm ở vị trí hàng đầu trongnhững nước xuất khẩu gạo quan trọng trên thế giới Tuy nhiên, xét về góc độ giá trịxuất khẩu thì Việt Nam cho đến nay hầu như đứng sau cùng trong nhóm 4 nước này.Cho ví dụ, số liệu hiện có năm gần nhất của FAO, năm 2009 về mặt số lượng gạo xuấtkhẩu Việt Nam đứng sau Thái Lan kế đến Pakistan và Ấn Độ Tuy nhiên về giá trịViệt Nam đứng cuối khi so sánh giá đơn vị 1 tấn gạo cùng năm 2009 như sau: Ấn Độ1.083 USD, kế đến Pakistan 704 USD, thứ ba là Thái Lan 626 USD và sau cùng làViệt Nam 475 USD cho 1 tấn gạo xuất khẩu Rõ ràng giá trị đi đôi với chất lượng gạoxuất khẩu của Việt Nam cũng kém nhất so với nhóm 4 nước này
Một số liệu khác gần đây giá gạo trong tháng 4 năm 2012, theo nguồn USDA(Bộ Nông nghiệp Mỹ) chưa tính giá gạo thơm, gạo các loại khác, chỉ tính gạo trắng có
tỷ lệ tấm khác nhau là sản phẩm xuất khẩu chính của Việt Nam như sau:
Theo bảng giá trên, những loại gạo trắng hạt dài chất lượng trung bình củanước ta cũng chỉ bán với giá thấp nhất so với cùng loại của Thái Lan và Ấn Độ
Đối với xuất khẩu gạo thơm, chúng ta mới xuất khẩu gạo thơm sản phẩm chungchung, chưa có thương hiệu cho từng giống, gọi là gạo thơm 5% tấm (gạo mới), giáchỉ 620 USD/tấn Trong khi đó gạo thơm có thương hiệu của Thái Lan như Hom Mali100% phẩm cấp B (mới và cũ) giá 1.000 USD/tấn, Hom Mali siêu A1 605 USD/tấn vàgạo thơm Pathumthani 100% phẩm cấp B là 910 USD/tấn Chưa kể gạo thơm của Ấn
Độ hay Pakistan như Basmati có giá còn cao hơn rất nhiều
Trang 19Chất lượng gạo kém, giá trị xuất khẩu thấp, dẫn đến kim ngạch xuất khẩu cũngthấp và chắc chắn thu nhập của những đối tượng tham gia đều thấp, nhất là ngườinông dân sản xuất lúa cho xuất khẩu Nguyên nhân dẫn đến chất lượng và giá trị gạoViệt Nam thấp: Một là, Việt Nam chưa xuất khẩu được nhiều những giống có chấtlượng gạo thơm ngon nổi tiếng trong nước như: Nàng thơm Chợ Đào, Nàng Nhenthơm, Tài nguyên, Một bụi đỏ, Huyết rồng… Ngoài ra cũng có những giống lúa thơm/thơm nhẹ do các nhà khoa học chọn tạo nhưng chưa được khai thác cho xuất khẩu, ví
dụ OM 3536, OM 4900, OM 7347, OM 6162, ST 3, ST 5, MTL 495… Gạo thơmchúng ta đang xuất khẩu hầu hết đều có nguồn gốc từ nước ngoài ví dụ: Jasmine 85,Khaodak Mali, DS 10, DS 20… nên nếu xây dựng thương hiệu cũng gặp nhiều khókhăn
Hai là, chúng ta chưa xây dựng được thương hiệu cho gạo trắng cũng như gạothơm nói riêng cho từng giống như các nước Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan đã có Chúng
ta chỉ có thương hiệu chung là gạo trắng, hạt dài bao nhiêu phần trăm tấm cho cả gạothơm và gạo trắng thường Vì vậy, gạo chất lượng kém do lẫn tạp nhiều giống khácnhau, trong đó có những giống chất lượng thấp Qua nghiên cứu, chúng tôi được biếtmột nguyên nhân chính mà các giống chất lượng thấp như IR 50404 còn được trồngvới tỷ lệ khá cao do thương lái hay các nhà máy thu mua xay chà trộn chung với cácgiống gạo trắng hạt dài với mức độ nhất định để trở thành gạo 5, 10…25% tấm (vì hạtgạo IR 50404 ngắn hơn, xem như là tấm) Chúng ta chưa có tên thương hiệu cho từnggiống như của Thái Lan, Pakistan và Ấn Độ Các nước này tên thương hiệu hầu như làtên của giống lúa đã tạo nên chất lượng gạo đặc thù của giống và giá cũng theo chấtlượng từng loại giống quyết định
Ba là, chúng ta chưa đa dạng sản phẩm gạo xuất khẩu mà hầu hết chỉ là gạotrắng phẩm cấp trung bình, ít gạo thơm và chưa nhiều dạng gạo đồ (parboiled rice),hay nếp Trong lúc Thái Lan xuất khẩu rất đa dạng sản phẩm gạo xuất khẩu có thươnghiệu riêng.Theo nhận định của giới chuyên môn và các nguồn tin cậy, Việt Nam cóthể chiếm vịtrí xuất khẩu hàng đầu của Thái Lan trong năm 2012 Tuy nhiên, cũng cónhiều thông tin cho rằng, hiện nay Ấn Độ nổi lên như là một nhà xuất khẩu gạo đánggờm Từ nay, Ấn Độ đã dỡ bỏ rào cản cấm xuất khẩu gạo trắng thường (non-basmatirice) vì trước đây họ chỉ xuất khẩu gạo thơm Basmiti với giá rất cao, mà không xuấtkhẩu gạo thường vì lý do an ninhlương thực trong nước Với việc sản xuất lúa pháttriển rồi dỡ bỏ rào cản cấm xuất khẩu gạo thường, Ấn Độ trở thành là đối thủ cạnhtranh xuất khẩu gạo thường với Thái Lan và ViệtNam Từ đó, cũng có nhiều nhậnđịnh rằng Ấn Độ có thể thay thế Việt Nam và Thái Lan trởthành nước xuất khẩu gạolớn nhất trong năm 2012
Theo chúng tôi, vấn đề không chỉ cạnh tranh ngôi vị xuất khẩu, cần mà gia tănggiá trị thông qua tăng chất lượng và phát triển thị trường xuất khẩu cho từng loại gạovới thương hiệu riêng của Việt Nam là điều quan trọng nhất nhằm gia tăng kim ngạchxuất khẩu cho đất nước, doanh nghiệp tham gia và nhất là cải thiện đời sống ngườinông dân
Song, việc cạnh tranh xuất khẩu trên thị trường về chất lượng và giá trị vô cùngphức tạp cần có sự linh hoạt giữa chất lượng và giá trị để đạt được mục tiêu xuất khẩuđược với số lượng nhiều và giá cả hợp lý và nhất là tìm được đầu ra cho lúa chấtlượng cao để mở rộng phát triển sản xuất nguồn nguyên liệu gạo phẩm chất cao mà