HỆ THỐNG VĂN BẢN QUẢN LÝ VÀ CHẾ ĐỘ CÔNG CÁC VĂN THƯ DƯỚI THỜI PHONG KIẾN CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ CƠ QUAN LÀM CÔNG TÁC VĂN THƯ GIẤY TỜ DƯỚI TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN VIỆT NAM VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ CHẾ ĐỘ CÔNG TÁC VĂN THƯ VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
Trang 1VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC
TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ ĐÔNG DƯƠNG
SỔ GIÁO ÁN TÍCH HỢP
Môn học/ Mô-đun :
LỊCH SỬ CÔNG TÁC VĂN THƯ VIỆT NAM
Lớp : Trung cấp VĂN THƯ HÀNH CHÍNH
Khoá :……
Họ và tên giáo viên : Nguyễn Thị Tuyết Nga
Năm học: 20 – 20
Quyển số:
Trang 2CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC LỊCH SỬ CÔNG TÁC VĂN THƯ VIỆT NAM
CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG VĂN BẢN QUẢN LÝ VÀ CHẾ ĐỘ CÔNG CÁC
VĂN THƯ DƯỚI THỜI PHONG KIẾN
Mục tiêu:
- Trình bày được hệ thống văn bản và chế độ công tác văn thư dưới các triều đại phong kiến Việt Nam
- Thái độ đúng đắn trong học tập, có trách nhiệm với nghề.
I Sơ lược về quá trình hình thành các loại chữ viết ở Việt Nam
Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam
Trong lịch sử hình thành và phát triển, chữ Việt cũng chịu nhiều ảnh hưởng của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt.
Chữ Hán
Chữ Hán vào Việt Nam theo con đường giao lưu văn hóa bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên Hiện nay, ở Việt Nam còn lưu giữ được số hiện vật như đỉnh cổ có khắc chữ tượng hình (chữ Hán cổ) Điều này là một phần chứng minh được rằng chữ Hán cổ xuất hiện ở Việt Nam khá sớm và thực sự trở thành phương tiện ghi chép và truyền thông trong người Việt kể từ những thế kỷ đầu Công nguyên trở đi
Đến thế kỷ VII – XI chữ Hán và tiếng Hán được sử dụng ngày càng rộng rãi ở Việt Nam Thời kỳ này tiếng Hán được sử dụng như một phương tiện giao tiếp, giao lưu kinh tế thương mại với Trung Quốc Do Việt Nam bị ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong khoảng thời gian hơn một ngàn năm, vì vậy hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng chữ Hán có ảnh hưởng to lớn như thế nào đối với nền văn hóa của nước Việt Nam xưa Từ sau thế kỷ thứ X, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng để phát triển văn hóa dân tộc
Chữ Nôm
Dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự ngoại lai không thể nào đáp ứng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của bản thân người Việt Chính vì vậy chữ Nôm đã ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán không đáp ứng nổi
Trang 3Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng Việt Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn:
Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn “đồng hóa chữ Hán”, tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ Việt thường là tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ chim muông, đồ vật… xuất hiện lẻ tẻ trong văn bản Hán Những từ chữ Nôm này xuất hiện vào thế kỷ đầu sau Công nguyên (đặc biệt rõ nét nhất vào thế kỷ thứ VI)
Giai đoạn sau: Ở giai đoạn này, bên cạnh việc tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm
từ tiếng Việt, đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo một số nguyên tắc nhất định Loại chữ Nôm tự tạo này, sau phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt Từ thời Lý thế kỷ thứ XI đến đời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh Theo sử sách đến nay còn ghi lại được một số tác phẩm đã được viết bằng chữ Nôm như đời Trần có cuốn “Thiền Tông Bản Hạnh” Đến thế kỷ XVIII – XIX chữ Nôm đã phát triển tới mức cao, át cả địa vị chữ Hán Các tác phẩm như hịch Tây Sơn, Khoa thi hương dưới thời Quang Trung (1789) đã có bài thi làm bằng chữ Nôm Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng được viết bằng chữ Nôm là những ví dụ
Như vậy, có thể thấy chữ Hán và chữ Nôm có những khác nhau cơ bản về lịch sử
ra đời, mục đích sử dụng và mỗi chữ có bản sắc riêng về văn hóa
Chữ Quốc ngữ hiện nay
Việc chế tác chữ Quốc ngữ là một công việc tập thể của nhiều linh mục dòng tên người châu Âu, trong đó nổi bật lên vai trò của Francesco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa và Alexandre De Rhodes Trong công việc này có sự hợp tác tích cực
và hiệu quả của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng Việt Nam (giúp việc cho các linh mục người Âu) Alexandre De Rhodes đã có công lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bộ chữ Quốc ngữ Đặc biệt là ông đã dùng bộ chữ ấy để biên soạn
và tổ chức in ấn lần đầu tiên cuốn từ điển Việt – Bồ – La (trong đó có phần về ngữ pháp tiếng Việt) và cuốn Phép giảng tám ngày Xét về góc độ ngôn ngữ thì cuốn diễn giảng vắn tắt về tiếng An Nam hay tiếng đàng ngoài (in chung trong từ điển) có thể được xem như công trình đầu tiên khảo cứu về ngữ pháp Còn cuốn Phép giảng tám ngày có thể được coi như tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ, sử dụng lời văn tiếng nói bình dân hàng ngày của người Việt Nam thế kỷ XVII
Tuy chữ Quốc ngữ của Alexandre De Rhodes năm 1651 trong cuốn từ điển Việt –
Bồ – La đã khá hoàn chỉnh nhưng cũng phải chờ đến từ điển Việt – Bồ – La (1772), tức
là 121 năm sau, với những cải cách quan trọng của Pigneau de Behaine thì chữ Quốc ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống chữ Việt mà chúng ta đang dùng hiện nay
II Hệ thống văn bản quản lý thời phong kiến
1 Luật: Được ban hành lần đầu tiên vào năm 1049 ở triều Lý, đó là Luật Hình thư.
Triều Trần cũng có Quốc triều thống chế (1230), sau này đổi tên thành Quốc triều hình
Trang 4luật Bộ luật Hồng Đức của nhà Lê (1483) trước có tên là Quốc triều hình luật Luật Gia Long thời Nguyễn
- Luật do vua ban hành (vì vua có toàn quyền về lập pháp, hành pháp và tư pháp) Dùng
để điều chỉnh tổng hợp các MQHXH, trong đó có nhiều điều nói về công tác công văn giấy tờ (đặc biệt là Luật Hồng Đức)
2 Chiếu: Do vua ban hành, được sử dụng vào các mục đích:
- Công bố cho thần dân biết một chủ trương, 1 quyết sách lớn liên quan đến vận mệnh đất nước (VD: Chiếu dời đô, chiếu cầu hiền, chiếu lên ngôi, chiếu nhường ngôi )
- Dùng để ban hành Luật
- Dùng để ra lệnh cho người dân thi hành một nhiệm vụ cụ thể (vD: triều Trần khi quy định về pháp lý văn khế, có chiếu quy định trong văn khế phải có dấu vân tay )
Công dụng của chiếu là đa năng, ngoài những công dụng trên, nó có thể được sử dụng để quyết định tổ chức bộ máy, bổ nhiệm một số quan lại
3 Lệ: Do nhà vua ban hành Dùng để quy định các vấn đề cụ thể, thường nhằm để
cụ thể hoá những vấn đề trong luật hoặc đề ra những quy định mới mà luật chưa điều chỉnh (VD: Lệ cưới hỏi, lệ làm các bản tâu, lệ nộp tô thuế )
4 Lệnh: Do nhà vua ban hành ở một chừng mực nào đó, nó có công dụng gần
giống Lệ, điểm khác là lệnh thường nghiêng về vấn đề cấm đoán (lệ rộng hơn, nó có thể bao hàm cả lệnh, VD như lệnh cấm đánh bạc, cấm chặt gỗ, lệnh chặt đầu )
5 Chỉ: Do vua ban hành Thường là các mệnh lệnh rất cụ thể So với Lệ và Lệnh
thì các quy định trong Chỉ nhỏ hơn và cụ thể hơn rất nhiều (vD: có thể cụ thể tới cá nhân, khu vực, địa phương ) Nó cũng được sử dụng rất nhiều trong tuyển dụng, bổ nhiệm quan lại
6 Dụ: Do vua ban hành Hình thức này thể hiện mệnh lệnh của vua, nhưng có tính
chất truyền dạy, khuyên răn thần dân hay quan lại (VD: vua Lê Thánh Tông có đạo dụ khuyên răn các người tài khi đỗ đạt thì phải phụng sự đất nước ) Dụ thường dùng với hành văn mềm dẻo
7 Sắc: Do vua ban hành Dùng để điều động, thăng-giáng chức quan lại, dùng để
phong thần cho những người có công với đất nước hoặc các làng xã có công (VD: phong sắc cho người có công về một ngành nghề nào đó, hay muốn thờ tự ai đó thì phải có sắc phong thừa nhận công lao )
Trang 58 Cáo: Do vua ban hành Được dùng để ban bố một sự kiện quan trọng nào đó
của đất nước (VD: cáo Bình ngô) Cáo ít được dùng, thường chỉ trong những trường hợp đặc biệt
9 Sách: Do nhà vua ban hành Dùng để sắc phong hoàng hậu, thái tử hoặc phong
tước hiệu cho hoàng thân quốc thích Loại này có thường có nhiều tờ, được viết trên các giấy có nhũ vàng, nhũ bạc, ghi chi tiết công lao, tiểu sử của hoàng thân quốc thích Có
2 loại sách: Kim sách (nhũ vàng) và ngân sách (nhũ bạc)
10 Hịch: Do các tướng lĩnh ban hành nhằm động viên, khuyến khích quân sĩ
(VD: Hịch tướng sĩ)
11 Biểu: Do các triều thần, quan lại, dân chúng viết, dùng để tạ ơn hay tạ lỗi với
nhà vua Ngoài ra, biểu còn dùng để chúc mừng, dâng tiến lễ vật nhân dịp vua lên ngôi hoặc ngày tết, lễ Hình thức này được sử dụng rộng rãi ở thời Lý và Trần
12 Tấu: Là VB do các quan lại địa phương trình bày với nhà vua về những vấn đề
mà vua hỏi hoặc yêu cầu Ngoài ra, nó cũng được sử dụng để phản ánh, báo cáo tình hình
cụ thể để đề nghị nhà vua xem xét, giải quyết một công việc nào đó
13 Sớ: Là VB do các quan lại ở địa phương trình lên vua để báo cáo hoặc trình
bày mọt vấn đề mang tính chất định kỳ hoặc đột xuất (công dụng của loại này gần giống Tấu và giữa hai loại đó chưa phân biệt rõ ràng)
14 Điều trần: Là VB để cấp dưới trình bày lên cấp trên ý kiến của mình (VD: bản
điều trần của Nguyễn Trường Tộ về mở cửa, cải cách thời vua Tự Đức) Hình thức này không được sử dụng nhiều
15 Đề: là VD dùng đẻ phản ánh tình hình thực hiện mệnh lệnh của nhà vua (gần
giống như báo cáo ngày nay) Thời Lê Thánh tông có phân biệt rõ: báo cáo tình hình của
cơ quan, nha môn thì là Đề, còn báo cáo của một cá nhân lãnh đạo thì phải là Tấu
16 Khải: Là VB để quan lại, thần dân tấu trình lên thái tử (công dụng giống tấu
sớ, nhưng đối tượng nhận là khác nhau)
17 Giấy thông hành: Là giấy chứng nhận do cơ quan có thẩm quyền cấp cho binh
lính hoặc quan lại hoặc người dân đi công tác hoặc buôn bán (gần giống chứng minh thư ngày nay)
18 Các loai CV trao đổi: Các loại này rất phức tạp do thứ bậc trong xã hội phong
kiến đa dạng ở cơ quan TW, các quan văn và quan võ trao đổi với nhay thì có công văn Truyền thị, các CV trao đổi giữa các cơ quan TW và tỉnh (TW gửi xuống) gọi là Tư, các
cơ quan cấp dưới gửi lên TW gội là Tư di, Hoàng tử gửi xuống cấp dưới gọi là Giao thị
Trang 619 Các sổ sách: Trong thời PK, các sổ sách được coi là một loại VB (như sổ thuế,
sổ địa lý )
- Nhiều nhất là sổ hộ tịch, dùng để đăng ký nhân khẩu ở các làng xã Việc quản lý này bắt đầu được thực hiện từ thời Lý cho đến ngày nay (chỉ đăng ký nam giới)
- Sổ địa bạ: dùng ghi chép thống kê tình hình ruộng đất từng làng xã, bắt đầu được sử dụng từ thời Lý, thời Nguyễn rất chi tiết và chặt chẽ, có rất nhiều điểm ưu việt giúp cho việc sử dụng đất đai có hiệu quả
- Sổ duyệt tuyển: dùng đẻ kê khai dân đinh qua sự kiểm tra, phân loại của các quan lại nhà nước có thẩm quyền Sổ này bắt đầu từ thời Nguyễn, cứ 6 năm tổ chức duyệt tuyển lại một lần
- Lý lịch của quan lại: gồm các giấy tờ liên quan đến quan lại (tương tự như hồ sơ cán bộ bây giờ) Loại này bắt đầu từ thời Lê, được phát triển và sử dụng phổ biến ở thời Nguyễn (đặc biệt thời Lê Thái tông, cứ 3 năm phải khảo khoá một lần để đánh giá lại năng lực của tầng lớp quan lại)
- Sổ thuế: ghi chép tình hình thu thuế của các địa phương, các loại thuế được chú ý như thuế ruộng đất, dân đinh, buôn bán
- Sổ khai tiêu: ghi chép việc chi tiêu công quỹ và cấp phát vật liệu ở các cơ quan (dùng để thanh tra, quyết toán tài chính)
- Ngọc điệp và Tôn phả: ghi chép tiểu sử, thông tin cần thiết của những người trong hoàng tộc (Ngọc điệp, Tôn phả chính là căn cứ để cấp phát bổng lộc, để phong tước hay
bổ nhiệm) Ngọc điệp ghi chép về vua hoặc ngang hàng, Tôn phả ghi chép về các con cháu vua
III Chế độ công tác văn thư dưới các triều đại phong kiến Việt Nam
1 Quy định về soạn thảo, ban hành văn bản và quy định về chuyển giao:
Thời xưa đã có quy định rất rõ ràng về việc viết văn bản, ký tên, đóng dấu như thế nào Triều đình nghiêm cấm các quan lại dùng ấn công đóng vào thư riêng, viên quan nào vi phạm thì chiếu luật để trị tội
1.1 Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tháng 4 năm Mậu Thân (1428), Lê Thái Tổ
ngay sau khi lên ngôi đã xuống chiếu quy định về việc ban hành văn bản: “Nếu quân hay dân có dâng thư nói việc gì thì phải theo đúng quốc hiệu (Đại Việt), đô hiệu (tên kinh đô – Đông Kinh), niên hiệu như trong chiếu thư, ai trái thế thì phải xử phạt trượng hay biếm chức; những giấy tờ, văn khế, khoán ước về mua bán, đổi chác, vay mượn mà không theo đúng như trong chiếu thì sẽ không có giá trị”
Đến đời Lê Thánh Tông, năm 1468, nhà vua đã chỉ thị cho bộ lễ bàn định quy cách giấy
tờ trong dân gian để ban hành trong cả nước Đến tháng 7 năm Tân Mão (1471), vua cho ban
Trang 7hành thể thức bản đồ và văn khế, có hiệu lực thi hành từ ngày mồng 10, tháng giêng năm sau, sau ngày đó nếu ai không tuân theo thì cho là không hợp lệ
Đến triều Nguyễn, Đại Nam thực lục ghi: Tháng 2 năm Giáp Tý (1804), vua Gia Long đặt quốc hiệu là Việt Nam, ngày Đinh Sửu, vua xuống chiếu bố cáo trong ngoài rằng: “Đế vương dựng nước trước hết phải trọng quốc hiệu để tỏ rõ sự nhất thống… sau nghĩ tới mưu văn công võ, ở ngôi chính, chịu mệnh trời, nên định lấy ngày 17 tháng 2 năm nay kính cáo thái miếu, cải chính quốc hiệu là Việt Nam để dựng nền lớn, truyền lâu
xa Phàm công việc nước ta, việc gì quan hệ đến quốc hiệu và thư từ báo cáo với nước ngoài, đều lấy Việt Nam làm tên nước, không được xưng hiệu cũ là An Nam nữa”
Năm 1838, sau khi quyết định đổi tên nước thành Đại Nam, Minh Mạng đã ra sắc chỉ nhấn mạnh: “Việc ghi quốc hiệu lên văn bản là vấn đề hệ trọng có liên quan đến quốc thể, từ nay quốc hiệu phải gọi là Đại Nam, mọi văn bản, giấy tờ đều phải ghi như vậy”
1.2 Các văn bản thời phong kiến đều phải ghi niên hiệu (tên hiệu nhà vua, người
ta dựa vào đó để tính năm kể từ khi ông vua đó lên ngôi) Ví dụ: Thuận Thiên năm thứ nhất (1428, Lê Thái Tổ), Gia Long năm thứ ba (1805), và ngày tháng ban hành Thời Lê Thánh Tông, có nhiều quy định về ký văn bản được ban hành Năm 1446, vua quy định:
“Văn bản của các nha môn nếu chánh quan khuyết hoặc đi vắng thì quan tá nhị thay giữ
ấn tín của nha môn ấy ký tên ở dưới chỗ đề năm tháng” Năm 1478, Thánh Tông định lệ
ký tên cho người đứng đầu các nha môn: “Các bản tâu và mọi giấy tờ việc quan, quan thủ lĩnh các nha môn ký tên vào cuối tờ giấy…”
Năm Hồng Đức thứ 14 (1483), ra sắc chỉ rằng: “Kể từ nay, sáu bộ có bản tâu và hết thảy công văn các việc đều phải ký tên ở cuối tờ giấy như các quan kinh lịch và thủ lĩnh thừa ty ở các xứ” Năm 1484 lại ra quy định: “Các bản tâu và đề của các quan viên
Trang 8trong ngoài thì chính viên quan phụ trách phải ký tên, không được sai lại viên viết chữ ký thay” Như vậy, văn bản bắt buộc phải có chữ ký của người có thẩm quyền và đúng chỗ
Triều Nguyễn đã thừa kế các quy định về ký văn bản của triều Lê, đồng thời đã đề
ra một số quy định: Văn bản trước khi đưa cho người có trách nhiệm duyệt ký để ban hành thì phải cử người kiểm tra lại cẩn thận; văn bản tâu trình lên nhà vua ngoài chữ ký của người đứng đầu cơ quan (hoặc cấp phó), thì người thảo văn bản (phụng thảo) và người soát xét lại văn bản (phụng khảo) đều phải ghi tên mình vào văn bản đó Hai quan này đều phải chịu trách nhiệm liên đới với nhau về nội dung văn bản tâu trình
Việc quản lý con dấu được các triều đại coi trọng hơn so với chữ ký, xem con dấu
là yếu tố thông tin quan trọng nhất để đảm bảo hiệu lực pháp lý và tính chân thực của văn bản, đặc biệt là thể hiện quyền uy của hoàng đế và của cả vương triều Triều Lê, các con dấu của nhà vua được đúc bằng vàng và bạc Quy định của triều Lê về đóng dấu văn bản
và quản lý con dấu như sau: Các văn bản do các nha môn ban hành đều phải đóng dấu;
xử phạt rất nặng những vi phạm về thể thức đóng dấu văn bản, làm dấu giả hoặc dùng dấu giả đóng vào văn bản Quốc triều hình luật có quy định nếu đóng dấu vào sổ sách công bị thiếu sót phạt 80 trượng Nếu cố ý đóng gian thì xử phạt nặng hơn: Bị biếm chức hoặc bị tội đồ
Đến triều Nguyễn, vua Minh Mạng cũng quy định và xử phạt việc đóng dấu và quản lý dấu Đối với các loại sổ sách đóng thành tập, phải đóng dấu kiềm vào chỗ giáp lai Trong văn bản, những chỗ tẩy xóa, sửa chữa, những chỗ viết số liệu đều phải đóng dấu kiềm lên hoặc vào bên cạnh để ngăn ngừa sự tẩy xóa, sửa chữa
Các trường hợp đóng sót hoặc không đóng dấu đều bị xử phạt nghiêm Nếu xảy ra sai sót thì cả người trực tiếp làm công tác văn thư và người quản lý công việc này đều bị phạt Quy định ghi rõ: “Phàm các nha môn làm giấy tờ gửi đi nơi khác mà đóng dấu ấn sót một chỗ cần phải đóng thì lại điển, quan thủ lĩnh soát lại và người phát đi đều phải phạt 60 trượng Nếu không đóng ấn thì phạt 80 trượng Nếu giấy tờ nào đóng sót hoặc không đóng ấn khiến cho việc điều bát binh mã, cung cấp quân nhu, tiền lương cho nơi biên giới
bị trở ngại thì đều bị phạt 100 trượng”
1.4 Vua Minh Mạng cũng nghiêm cấm việc sử dụng dấu sai nguyên tắc như dùng
ấn công đóng vào văn bản riêng Theo chỉ dụ của nhà vua, phàm các quan viên lớn nhỏ ở các doanh, trấn có viên nào đem ấn công đóng vào thư riêng thì chiếu luật vì chế trị tội Nếu có sự mưu cầu gì ở trong ấy thì tùy theo mức nặng nhẹ mà luận tội Đến thời vua Thiệu Trị lại quy định thêm: “Ai đã được cấp riêng dấu quan phòng thì trong tập tự tâu bày mới được đem dấu quan phòng cấp riêng, thì cho phép ký tên đè lên, không được lấy
ấn công của bản nha dùng vào tập tự tâu bày của mình”
Minh Mạng còn quy định, nếu nội dung văn bản không phải là việc công mà quan phụ trách bắt phải đóng dấu thì nhân viên của phòng dấu được phép làm văn bản báo cáo lên cấp trên Nếu nhân viên phòng dấu vị nể mà che giấu, khi sự việc bị phát giác thì quan phụ trách đó sẽ bị kết tội là thủ phạm, nhân viên phòng đóng dấu bị quy là tòng phạm Nếu không có xác nhận của thủ trưởng cơ quan mà nhân viên phòng đóng dấu tự tiện đóng dấu trộm sẽ bị xử tội nặng
Theo quy định ban hành năm Minh Mạng thứ 2, định lệ các nha đóng ấn như sau: Bửu của vua đóng trên chữ niên (chỗ ghi ngày tháng phát hành văn bản, như: Minh Mạng
Trang 9nhị niên, tam nguyệt); ấn đại tiểu nha môn đóng trên chữ “nguyệt”; để phân biệt kẻ tôn người ti và phòng cạo tẩy; ấn tam nha hội đồng theo thứ đóng hai bên chữ “nguyệt”
Từ năm Minh Mạng thứ hai, cũng mới bắt đầu đúc ấn đồng cho quan các dinh, trấn, đạo, phủ, châu, huyện Các phủ, châu, huyện trước đó đều dùng triện gỗ, đến lúc này mới đúc ấn đồng và khắc bốn chữ triện “tên phủ + ấn” hoặc “tên châu + ấn” (ví dụ: Ứng Hòa phủ ấn)
Minh Mạng năm thứ 3 quy định ấn của dinh trấn đạo thì núm hình con hổ, dây màu tía, đóng dấu son Ấn phủ huyện châu núm thẳng, phủ thì dây xanh, đóng dấu màu hồng Huyện châu thì dây đen, đóng dấu màu tía
Minh Mạng thứ 7 định cách thức làm triện vuông cho quan văn võ từ tứ phẩm trở lên Triện nhất nhị phẩm to, tam tứ phẩm nhỏ hơn một chút, khắc các chữ “họ tên + tín ký”, nhất phẩm đến tam phẩm đóng bằng son, tứ phẩm màu đỏ, ngũ phẩm trở xuống đóng bằng mực
1.5 Nội dung soạn thảo trong văn bản của các triều đại cũng được coi trọng Minh
Mạng nói: “Làm vua thì một lời nói, một việc làm là người dưới xem đấy mà theo Nếu một mực giản dị thì sinh ra nhu nhơ, một mực nghiêm khắc thì sinh ra gay gắt, gay gắt lắm thì có hại đến chính trị mà nhu nhơ thì cũng không phải là cách làm chính trị, cho nên mỗi lần trẫm giáng chỉ dụ một chữ không dám khinh suất là vì thế”
Vua Minh Mạng thấy các văn thư chỗ ngày tháng đều dùng chữ đơn, sắc cho từ nay phải dùng chữ kép để phòng sự chỉnh sửa Ví dụ chữ “nhất” (-), viết đơn, có thể thêm nét để sửa thành rất nhiều chữ số khác nhau, từ “nhị”, “tam”, “tứ”, “ngũ”, “lục”, “thất”,
“cửu”, “thập”… do đó, con số trong văn bản phải dùng chữ “nhất kép”, sẽ không thể sửa chữa được
1.6 Có một câu chuyện về việc xử phạt quan lại sử dụng sai loại ấn còn ghi lại
trong Đại Nam thực lục Đó là chuyện Thự Đô thống chế hậu dinh là Bùi Văn Thái ra làm quan ở trấn, khi đóng dấu công văn gửi về triều đình vẫn dùng ấn cũ Vua Minh Mạng xem thấy lạ hỏi: “Thái còn giữ tạm ấn cũ?”
Vua triệu Tham tri bộ lại là Lê Đồng Lý vào trách tội, bắt cùm lại Sau phạt Lý giáng làm Thái thường tự khanh, tham lý công việc ở bộ lễ Thượng thư Trịnh Hoài Đức, cùng Hoàng Quỳnh, Lê Vạn Công ở văn thư phòng đều bị quở trách Vua dụ bộ lại rằng:
“Quan văn võ trong ngoài có chức giữ việc quan trọng thì lệ có cấp ấn quan phòng là để
tỏ sự tin, phòng gian dối và trọng danh vị Từ nay về sau có ai được cất bổ, đáng cấp ấn quan phòng, thì để thỉnh trước để đúc ấn, đến ngày ban chiếu sắc thì cấp cả một thể Nếu viên quan nào được chọn bổ chức khác, cùng với chức cũ không có liên quan, thì nộp ấn
ấy ở bộ, đưa sang văn thư phòng thu giữ”
2 Quy định về ấn tín (con dấu/ngọc tỷ)
Ngọc tỷ (玉 璽 ) của hoàng đế là vật tượng trưng cho quyền lực tối thượng của chính bản thân Hoàng đế Ngọc tỷ còn là được coi là quốc bảo, nên được cất giữ tôn trọng truyền từ đời này sang đời khác Muốn củng cố tư cách hoàng đế của mình, các vua chúa dù là cướp ngôi hay được nhường ngôi, thường tìm cách chiếm cho được "ngọc tỷ truyền quốc"
Ý nghĩa của ngọc tỷ truyền quốc:
Trang 10Ngọc tỷ thực chất là một con dấu Thời cổ đại, ấn triện mang ý nghĩa là bằng chứng của quyền lực chính trị của người mang ấn Với mỗi chức quan hay tướng quân đội đều có ấn và người cầm ấn được coi là người có thực quyền trong tay Không còn ấn
là không còn quyền Viên quan nào bị tội phải bãi chức hay bị điều nhậm nơi khác thì phải trả lại ấn cho triều đình
Mỗi ấn triện quy định quyền hạn theo lĩnh vực, quan văn có ấn riêng và quan võ
có ấn riêng Vua trao quân sĩ cho một người dưới quyền mình có kèm theo ấn tướng quân
và vị tướng này có toàn quyền chỉ huy quân đội Chừng nào ấn còn trong tay vị tướng thì
vị tướng đó còn toàn quyền chỉ huy với đội quân đó; khi bị thu ấn tức là không còn quyền chỉ huy Trên nguyên tắc, quân sĩ luôn nghe theo người mang ấn Chính vì vậy trong thời Hán Sở tranh hùng, khi Lưu Bang bị Hạng Vũ đánh bại ở Thành Cao, phải bỏ trốn đến Tu Vũ với hai tướng dưới quyền là Hàn Tín và Trương Nhĩ Vì sợ Hàn Tín không nghe mình nên Lưu Bang đã phải nhân lúc Hàn Tín ngủ mà lấy trộm ấn tướng quân để ra lệnh cho quân sĩ Hàn Tín và Trương Nhĩ tỉnh dậy mới biết Lưu Bang đã thay đổi hết nhân sự mà mình sắp đặt Sự việc đó được sử sách gọi là "Lưu Bang cướp quân của Hàn Tín", hành động tượng trưng là việc cướp ấn tướng
Việc dùng ấn làm bằng chứng bổ nhiệm quan lại thực hiện từ thời Đông Chu, gọi
là tỷ, có thể làm bằng kim loại hoặc bằng ngọc, gọi là quan ấn Ấn của vua hoặc quan đóng lên văn thư gọi là tỷ thư (văn bản có đóng dấu triện)
CHƯƠNG 2:
CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ CƠ QUAN LÀM CÔNG TÁC VĂN THƯ GIẤY TỜ DƯỚI TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN VIỆT NAM
Mục tiêu:
- Trình bày được hệ thống văn bản, cơ cấu tổ chức công tác văn thư thời vua Lý Thái Tông và vua Nguyễn Ánh
- Thái độ đúng đắn trong học tập, có trách nhiệm với nghề.
1 Công tác văn thư thời vua Lý Thái Tông:
- Thời vua Lê Thánh Tông, ông đã thiết lập các cơ quan:
+ Hàn lâm viện (chuyên khởi thảo văn bản)
Hàn lâm viện (翰林院, Hanlin Academy) là một tổ chức trong các triều đại quân chủ Á Đông xưa gồm các học sĩ uyên thâm Nho học, văn hay chữ tốt, chuyên trách việc soạn thảo văn kiện triều đình như chiếu, chỉ, sắc, dụ, chế
Quan viên của Hàn lâm viện cũng là nguồn nhân lực cung cấp cho Quốc sử quán trong việc biên soạn quốc sử, thực lục, điển lễ Ngoài ra, Hàn lâm viện cùng với các
cơ quan học thuật khác đảm nhiệm trọng trách nghiên cứu, giảng dạy kinh truyện, phụ trách việc khoa cử, thị tùng văn học, và khi cần, đảm nhận trách nhiệm Khâm sai Hàn lâm viện và Quốc tử giám (tức trung tâm giáo dục giữ trọng trách đào tạo nhân tài cho quốc gia) là hai cơ quan học thuật rất được trọng vọng trong quan chế triều đình xưa