1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Nông nghiệp: Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, thức ăn đến một số đặc điểm sinh học và khả năng khống chế sâu hại của bọ đuôi kìm vàng Chelisoches variegatus

101 26 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Ảnh Hưởng Của Nhiệt Độ, Thức Ăn Đến Một Số Đặc Điểm Sinh Học Và Khả Năng Khống Chế Sâu Hại Của Bọ Đuôi Kìm Vàng Chelisoches Variegatus
Tác giả Hoàng Văn Sỵ
Người hướng dẫn PGS.TS Trần Đăng Hòa
Trường học Đại học Nông Lâm Huế
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của đề tài là xác định đặc điểm sinh học của bọ đuôi kìm vàng C. variegatus ở các điều kiện nhiệt độ và thức ăn khác nhau. Xác định được khả năng tiêu diệt của bọ đuôi kìm vàng C. variegatus đối với một số loài sâu hại. Xác định được khả năng lựa chọn thức ăn của bọ đuôi kìm vàng C. variegatus đối với một số loài sâu hại.

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu là hoàn toàn trung thực

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Huế, tháng 07 năm 2016

Tác giả

Hoàng Văn Sỵ

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, ngoài sự say

mê, cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, quan tâm và giúp đỡ

tận tình của các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè

Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu nhà trường Đại học Nông Lâm Huế, phòng Đào tạo sau Đại học đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi

trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS Trần Đăng Hòa, người dẫn dắt, chỉ lối cho tôi có những ý tưởng mới, rèn luyện được tính chủ động,

năng động và sáng tạo trong công việc Thầy luôn quan tâm, động viên tôi những lúc

khó khăn và hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình học tập, thời gian thực tập

để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này

Qua đây tôi cũng muốn nói lời cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Bảo vệ thực vật, trong Khoa Nông học đã đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức, kinh

nghiệm cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực tập

Cuối cùng cho tôi gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè những người luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ và là nguồn khích lệ tinh thần cho tôi có thể vững tin vượt qua

mọi khó khăn và luôn lạc quan trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp

Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng do trình độ chuyên môn còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế còn ít vì vậy không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong

nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô cùng toàn thể các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Học viên thực tập

Hoàng Văn Sỵ

Trang 3

TÓM TẮT

Biện pháp phòng chống sâu hại không sử dụng thuốc hóa học đã được nghiên cứu như đa dạng hóa giống cây trồng, sử dụng giống kháng, luân canh, xen canh…

Trong đó, nghiên cứu nhân thả những loài thiên địch có ý nghĩa ra đồng ruộng đang

được các nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm hàng đầu Đã có nhiều

công trình nghiên cứu sử dụng biện pháp sinh học phòng trừ dịch hại, nhưng việc áp

dụng rộng rãi trong sản xuất còn hạn chế vì quy trình nhân nuôi phức tạp, cần công

nghệ cao, nhiều trang thiết bị, giá thành cao nên chủ yếu chỉ dừng ở mức bảo vệ và

khích lệ thiên địch trên đồng ruộng Bọ đuôi kìm là loài thiên địch phân bố rộng có

khả năng tiêu diệt nhiều loài sâu hại cây trồng Chúng tôi nghiên cứu đề tài này về loài

thiên địch bản địa bọ đuôi kìm vàng Chelisoches variegatus mục đích hoàn thiện quy

trình nhân nuôi, xác định khả năng khống chế một số loài sâu hại, để áp dụng phòng

trừ sâu hại cây trồng Đề tài thực hiện nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và ngoài

đồng ruộng thu được các kết quả khả quan Bọ đuôi kìm vàng sinh trưởng phát triển

tốt khi nuôi bằng cám mèo hoặc cám tôm ở điều kiện 30oC Bọ đuôi kìm vàng tiêu

diệt, khống chế có hiệu quả sâu tơ, sâu khoang, sâu ăn đọt cải Qua các kết quả của đề

tài, chúng ta nên nhân thả bọ đuôi kìm để phòng trừ sâu tơ, sâu khoang, sâu ăn đọt cải

trên đồng ruộng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

CHƯƠNG 1TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 3

1.1.1 Thành phần và vai trò của thiên địch trong phòng trừ sâu hại 4

1.1.2 Những nghiên cứu về bọ đuôi kìm 7

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 22

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ứng dụng bọ đuôi kìm phòng chống sâu hại trên Thế giới và Việt Nam 23

1.3 NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 26

1.3.1 Những nghiên cứu về loài bọ đuôi kìm vàng Chelisoches variegatus 26

1.3.2 Khả năng ứng dụng phòng trừ sâu hại của bọ đuôi kìm vàng C variegatus 28

CHƯƠNG 2NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 33

2.1.1 Phạm vi nghiên cứu 33

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 33

Trang 5

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 33

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.3.1 Trong phòng thí nghiệm 33

2.3.2 Đánh giá khả năng khống chế một số loài sâu hại của bọ đuôi kìm C.variegatus 35

2.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 36

CHƯƠNG 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA BỌ ĐUÔI KÌM VÀNG C VARIEGATUS Ở CÁC ĐIỀU KIỆN NHIỆT ĐỘ, THỨC ĂN KHÁC NHAU 37

3.1.1 Thời gian phát dục của bọ đuôi kìm vàng C variegatus ở các điều kiện nhiệt độ và thức ăn khác nhau 38

3.1.2 Kích thước qua các pha phát dục của bọ đuôi kìm vàng C variegatus ở các điều kiện nhiệt độ và thức ăn khác nhau 40

3.1.3 Tỷ lệ sống sót của bọ đuôi kìm vàng C variegatus ở các nhiệt độ và thức ăn khác nhau 44

3.1.4 Tỷ lệ đực cái của bọ đuôi kìm vàng C variegatus ở các điều kiện nhiệt độ và thức ăn khác nhau 46

3.1.5 Khả năng sinh sản và tỷ lệ trứng nở của bọ đuôi kìm vàng C variegatus ở các điều kiện nhiệt độ và thức ăn khác nhau 48

3.2 KHẢ NĂNG TIÊU DIỆT SÂU TƠ, SÂU KHOANG, SÂU ĂN ĐỌT CẢI CỦA BỌ ĐUÔI KÌM VÀNG C VARIEGATUS 50

3.3 KHẢ NĂNG LỰA CHỌN THỨC ĂN CỦA BỌ ĐUÔI KÌM VÀNG C.VARIEGATUS ĐỐI VỚI MỘT SỐ LOÀI SÂU HẠI 53

3.4 KHẢ NĂNG KHỐNG CHẾ SÂU TƠ, SÂU KHOANG, SÂU ĂN ĐỌT CẢI CỦA BỌ ĐUÔI KÌM VÀNG C VARIEGATUS NGOÀI ĐỒNG RUỘNG 54

CHƯƠNG 4 57

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57

4.1 KẾT LUẬN 57

4.2 KIẾN NGHỊ 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ LỤC 66

Trang 6

IPM Integrated pest management

LSD Least Significant Difference

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thời gian phát dục của bọ đuôi kìm vàng C variegatus 39

ở các điều kiện nhiệt độ và thức ăn khác nhau 39

Bảng 3.2 Kích thước các tuổi sâu non bọ đuôi kìm vàng C variegatus ở các điều kiện

nhiệt độ và thức ăn khác nhau 41

Bảng 3.3 Kích thước trưởng thành bọ đuôi kìm vàng C variegatus ở các điều kiện

nhiệt độ và thức ăn khác nhau 43

Bảng 3.4 Tỷ lệ sống sót của bọ đuôi kìm vàng C variegatus ở các nhiệt độ và thức ăn

khác nhau 45

Bảng 3.5 Tỷ lệ đực cái của bọ đuôi kìm vàng C variegatus ở các điều kiện nhiệt độ và

thức ăn khác nhau 47

Bảng 3.6 Khả năng sinh sản và tỷ lệ trứng nở của bọ đuôi kìm vàng C variegatus ở

các nhiệt độ và thức ăn khác nhau 49

Bảng 3.7 Khả năng tiêu diệt sâu tơ, sâu khoang, sâu ăn đọt cải của bọ đuôi kìm vàng

C variegatus 51

Bảng 3.8 Khả năng lựa chọn thức ăn của bọ đuôi kìm vàng C variegatus đối với một

số loài sâu hại 53

Bảng 3.9 Khả năng khống chế một số loài sâu hại cải của trưởng thành C variegatus

55

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Hình thái cơ bản của bọ đuôi kìm 11

Hình 1.2 Trưởng thành cái loàiEuborellia annulipes Lucas 21

Hình 1.3 Trưởng thành cái loàiEuborellia annulata Fabr 21

Hình 1.4 Trưởng thành cái loàiNala lividipes Dufour 21

Hình 1.5 Trưởng thành cái loàiLabidura riparia Pallas 21

Hình 1.6 Cấu tạo đốt bàn chân của bọ đuôi kìm vàng Chelisoches variegatus 26

Hình 1.7 Chelisoches variegatus (bên phải ♂: bên trái ♀) và hai dạng đuôi kìm của con đực (♂) Chelisoches variegatus 27

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tình trạng ngộ độc thực phẩm do thuốc bảo vệ thực vật đang là vấn đề nóng bỏng, được cả xã hội quan tâm Các ngành chức năng đã và đang vào cuộc nhưng tình

trạng trên vẫn không hề thuyên giảm Nhu cầu được sử dụng thực phẩm an toàn tăng

cao nhưng những sản phẩm thực sự an toàn, được sự tin tưởng của người tiêu dùng

vẫn chưa nhiều

Nhiều biện pháp phòng chống sâu hại không sử dụng thuốc hóa học đã được nghiên cứu như đa dạng hóa giống cây trồng; sử dụng giống kháng; luân canh, xen

canh… Trong đó, nghiên cứu nhân thả những loài thiên địch có ý nghĩa ra đồng ruộng

đang được các nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm hàng đầu Đã có

nhiều công trình nghiên cứu sử dụng biện pháp sinh học phòng trừ dịch hại, nhưng

việc áp dụng rộng rãi trong sản xuất còn hạn chế vì quy trình nhân nuôi phức tạp, cần

công nghệ cao, nhiều trang thiết bị, giá thành cao nên chủ yếu chỉ dừng ở mức bảo vệ

và khích lệ thiên địch trên đồng ruộng

Bọ đuôi kìm bắt mồi đã được nghiên cứu, ứng dụng để phòng trừ sâu hại trên nhiều loại cây trồng ở nhiều nước trên thế giới Ở Newzealand đã lợi dụng bọ đuôi kìm

bắt mồi như là thiên địch của nhiều loài sâu hại cây trồng như cây Kiwi (Maher và

Logan, 2007), cây táo (Shaw và Wallis, 2010), trên cây lựu ở Bỉ (Gobin và cs, 2007),

trên cây lê ở Canada (Walston và cs, 2003) Bọ đuôi kìm bắt mồi cũng được nhân

nuôi và ứng dụng phòng chống sâu hại ngô, mía khá phổ biến ở Thái Lan, Philippines

(DAP, 2005), (FFTC, 2009) Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu và ứng dụng trong

phòng trừ sâu hại như nhân nuôi và sử dụng bọ đuôi kìm Chelisoches spp phòng trừ

bọ cánh cứng hại dừa (Nguyễn Thị Thu Cúc và cs, 2010) Sử dụng bọ đuôi kìm

Euborellia annulipes trong phòng chống sâu tơ và sâu khoang hại rau họ hoa thập tự

(Bùi Xuân Phong và cs, 2010) Những nghiên cứu, ứng dụng bọ đuôi kìm bắt mồi

phòng chống sâu hại mía, sâu hại rau họ hoa thập tự, đậu đỗ bước đầu đều cho kết quả

khả quan

Một trong những loài thiên địch bản địa có triển vọng khống chế sâu hại đã

được phát hiện và nghiên cứu ở nước ta là bọ đuôi kìm Chelisoches variegatus Burr

Không chỉ là thiên địch của bọ dừa, bọ đuôi kìm C variegatus còn là thiên địch của

nhiều loài sâu hại khác trên đồng ruộng Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu đầy đủ

nào về đặc điểm sinh học của loài này, đặc biệt là những ảnh hưởng của các yếu tố vô

sinh và hữu sinh đến khả năng tồn tại và phát triển quần thể của chúng Hiểu thấu đáo

về sự thay đổi các đặc điểm sinh học của bọ đuôi kìm bởi các yếu tố nhiệt độ và thức

ăn nhằm đưa ra chiến lược nhân nuôi bọ đuôi kìm hợp lí nhất, từ đó làm cơ sở khoa

học để đánh giá được khả năng lựa chọn cũng như phòng trừ một số đối tượng sâu hại

Trang 10

quan trọng trên đồng ruộng, góp phần giảm thiểu sử dụng thuốc trừ sâu hóa học, xây

dựng một nền nông nghiệp sinh thái an toàn, bền vững

Chính tầm quan trọng và những lý do cấp thiết trên chúng tôi tiến hành thực hiện

đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, thức ăn đến một số đặc điểm sinh học và

khả năng khống chế sâu hại của bọ đuôi kìm vàng Chelisoches variegatus Burr”

2 Mục đích của đề tài

- Xác định đặc điểm sinh học của bọ đuôi kìm vàng C variegatus ở các điều

kiện nhiệt độ và thức ăn khác nhau

- Xác định được khả năng tiêu diệt của bọ đuôi kìm vàng C variegatus đối với

một số loài sâu hại

- Xác định được khả năng lựa chọn thức ăn của bọ đuôi kìm vàng C variegatus

đối với một số loài sâu hại

- Xác định được khả năng khống chế một số loài sâu hại của bọ đuôi kìm vàng

C variegatus trên đồng ruộng

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Cung cấp những dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học, sinh thái học của bọ

đuôi kìm vàng C variegatus, vai trò của bọ đuôi kìm vàng C variegatus trong hạn chế

sâu hại trên đồng ruộng

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của bọ đuôi kìm vàng

C.variegatus, xây dựng biện pháp sử dụng bọ đuôi kìm vàng C variegatus trong quản

lý tổng hợp sâu hại, đặc biệt là những vùng sản xuất nông sản an toàn

Đề xuất qui trình nhân nuôi số lượng lớn bọ đuôi kìm vàng C variegatus và thả

ra đồng ruộng phòng chống sâu hại

Làm tài liệu tham khảo cho học sinh - sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp ngành nông nghiệp, sinh học và cán bộ kỹ thuật ngành bảo vệ thực vật

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Đấu tranh sinh tồn là điều tất yếu xảy ra trong tự nhiên Các mối quan hệ về thức ăn, môi trường sống để tạo nên các mạng lưới thức ăn trong hệ sinh thái luôn

xảy ra và mối quan hệ này luôn ở trạng thái cân bằng động Cân bằng là khuynh

hướng tự nhiên của các quần thể động thực vật không giảm tới mức biến mất và cũng

không tăng đến mức vô tận Khuynh hướng này được hình thành nhờ các quá trình

điều hòa tự nhiên trong một môi trường không bị phá vỡ (Phạm Văn Lầm, 1995).Tức

là khi một loài này trở nên phát triển mạnh thì tất yếu sẽ có một loài nào đó bị yếu đi

Trong hệ sinh thái đồng ruộng, giữa cây trồng, sâu hại và thiên địch luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Khi có sự tác động của con người vào hệ sinh thái có

điều kiện khí hậu thời tiết khác nhau của mỗi vùng sinh thái khác nhau lại càng phức

tạp hơn Con người luôn tạo ra môi trường sống thuận lợi nhất cho sự phát triển của

cây trồng Trong điều kiện nguồn thức ăn dồi dào các loài dịch hại thường phát sinh

gây hại mạnh, vì vậy người sản xuất có xu hướng gia tăng sử dụng thuốc BVTV để giữ

năng suất cây trồng Việc nông dân sử dụng thuốc trừ sâu tràn lan trong một thời gian

dài đã làm suy giảm nguồn thiên địch, các biện pháp sinh học phòng chống sâu hại ít

được nông dân áp dụng Đã đến lúc cần phải bảo vệ, khích lệ và nhân thả những loài

thiên địch có ý nghĩa để dần lập lại cân bằng sinh thái trên đồng ruộng

Xu hướng phát triển mới là mọi hoạt động sản xuất đều phải đạt được hiệu quả kinh tế cao không làm ảnh hưởng đến môi trường sống Điều này thực sự có ý nghĩa

trong nông nghiệp vì đây là ngành sản xuất tạo ra các sản phẩm nuôi sống trực tiếp

con người Việc dùng thuốc hóa học trong nông nghiệp được xem là biện pháp bất đắc

dĩ vì có ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe con người, môi trường sống và các sinh vật

khác Xây dựng nền nông nghiệp sinh thái bền vững thì biện pháp phòng trừ tổng hợp

(IPM) đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ cây trồng mà trong đó biện pháp

phòng trừ sinh học có một vị trí đặc biệt quan trọng (Nguyễn Văn Cảm, 1994)

Mục tiêu của việc bảo vệ và phòng trừ bằng sinh học là để nâng cao các điều kiện cho thiên địch tồn tại và sinh sản nhằm tác động đến dịch hại để hạn chế tỷ lệ phát

triển của quần thể dịch hại xuống thấp đến cuối vụ (Hoàng Đức Nhuận, 1979)

Bảo tồn thiên địch sẵn có trên đồng ruộng là một hình thức có hiệu quả của phòng trừ sinh học Nhiều dịch hại mới có thể có khả năng bị ảnh hưởng bởi thiên địch

bản địa Thiên địch phát huy hiệu quả, sẽ giảm khả năng xuất hiện dịch hại Để khống

chế dịch hại, việc nhân thả một loài thiên địch phụ thuộc nhiều yếu tố như khả năng

Trang 12

khống chế sâu, khả năng nhân nuôi số lượng lớn, khả năng duy trì quần thể trong các

yếu tố trên, hầu hết các loài thiên địch hiện nay đã được nghiên cứu đều cơ bản đáp

ứng được yêu cầu nhưng khả năng mở rộng mô hình mới là yếu tố quyết định việc loài

đó có được sử dụng rộng rãi hay không; quy trình nhân nuôi ong ký sinh khá phức tạp,

cần nhiều trang thiết bị và cơ sở vật chất nên mới chỉ dừng lại ở mức bảo vệ và khích

lệ ong ký sinh trên đồng ruộng, đặc biệt ở các nước đang phát triển thì việc thương mại

hóa sản phẩm ong ký sinh hoặc nhân nuôi tại hộ nông dân đều chưa làm được

1.1.1 Thành phần và vai trò của thiên địch trong phòng trừ sâu hại

1.1.1.1 Thành phần thiên địch

Thiên địch là nhóm phòng trừ sinh học quan trọng, trong một vòng đời, mỗi một thiên địch tiêu thụ rất nhiều con mồi Thiên địch thường dễ nhìn thấy nhất và đôi

lúc chúng bị nhầm lẫn với sâu hại

Theo Nguyễn Viết Tùng (2006), trong thiên nhiên có rất nhiều loài sinh vật ăn côn trùng bằng cách ký sinh hoặc bắt ăn thịt (thường gọi là bắt mồi) Những sinh vật

này được gọi là kẻ thù tự nhiên (hay thiên địch) của côn trùng Các hoạt động của

nhóm kẻ thù tự nhiên này là phần quan trọng trong mối quan hệ cạnh tranh khác loài,

có vai trò to lớn trong việc điều chỉnh số lượng quần thể của nhiều loài sâu hại Thiên

địch của côn trùng có thể thuộc vào các nhóm sinh vật sau đây:

a Vi sinh vật gây bệnh cho côn trùng

Côn trùng dễ mắc nhiều loại bệnh do các loài vi sinh vật gây nên Phổ biến nhất

phải kể đến giống vi khuẩn Bacillus trong đó có loài Bacillus thuringiensis với hàng

chục nòi chuyên gây bệnh cho nhiều loài sâu khác nhau Cùng với vi khuẩn, có nhiều

giống nấm chuyên gây bệnh cho côn trùng, thường gặp nhất là các loài nấm trắng

Beauveria bassiana, nấm xanh Metarhizium flavoviridae, nấm bột Nomuraea rileyi

Côn trùng cũng còn bị chết vì bệnh do nguyên sinh động vật và virus gây nên Trong

thiên nhiên người ta thường bắt gặp nhóm virus hạt (Granulosis virus - GV) và nhất là

nhóm virus nhân đa diện (Nucleo Polyhedrosis Virus - NPV) làm chết hàng loạt côn

trùng Tuy không thuộc vào nhóm vi sinh vật, rất nhiều loài tuyến trùng (lớp giun tròn)

là tác nhân gây bệnh cho nhiều loài sâu bọ, như loài Howardula phyllotretea ký sinh

gây bệnh cho loài bọ nhảy hại rau Cần nói thêm là nhiều loài vi sinh vật có ích nói ở

trên đó được con người phân lập, chọn lọc, nuôi cấy để sản xuất thành các chế phẩm

trừ sâu sinh học rất hiệu quả và an toàn đối với môi trường

Trang 13

- Côn trùng ký sinh: trong mối quan hệ đối kháng giữa vật ký sinh và vật chủ,

các loài côn trùng ký sinh (chủ yếu ở pha sâu non, là pha dinh dưỡng) thường có kích

thước nhỏ hơn vật chủ của chúng Hoạt động ký sinh ở côn trùng rất hiếm khi bắt gặp

kiểu sống bám ở bên ngoài (ngoại ký sinh) mà chủ yếu là kiểu sống bám bên trong cơ

thể vật chủ (nội ký sinh) Tùy theo đặc tính dinh dưỡng của vật ký sinh, hoạt động ký

sinh có thể xảy ra ở các pha phát triển của vật chủ, song phổ biến nhất là ở pha sâu

non, tiếp đến là pha trứng của côn trùng Có nhiều họ ong chuyên ký sinh trứng như họ

ong mắt đỏ (Trichogrammatidae), họ ong đen ký sinh trứng (Scelionidae) Có những

họ ong ký sinh sâu non phổ biến như họ ong kén nhỏ (Braconidae), họ ong cự

(Ichneumonidae), họ ruồi ký sinh (Tachinidae) So với pha trứng và pha sâu non, pha

nhộng và nhất là pha trưởng thành ít bị ký sinh hơn nhiều Điều cần lưu ý là khác với

các loài sinh vật ký sinh thông thường (Parasit) phải sống bám lâu dài trong cơ thể vật

chủ, các loài côn trùng ký sinh khi kết thúc giai đoạn dinh dưỡng (sâu non ký sinh đã

đẫy sức) đều làm chết vật chủ Do đó các loài côn trùng ký sinh trên sâu bọ được xếp

vào nhóm ký sinh giết vật chủ (Parasitoid) Chính nhờ đặc điểm này mà các loài côn

trùng ký sinh có thể làm giảm đáng kể số lượng sâu hại trong tự nhiên

- Côn trùng bắt mồi: trong mối quan hệ đối kháng giữa vật bắt mồi và vật mồi,

các loài côn trùng bắt mồi thường có kích thước lớn hơn vật mồi và chúng ăn thịt vật

mồi trong thời gian ngắn Khác với nhóm côn trùng ký sinh, hoạt động bắt mồi ở đây

có thể do cả hai pha sâu non và sâu thưởng thành thực hiện Những loài côn trùng bắt

mồi điển hình có nhiều ý nghĩa trong sản xuất phải kể đến nhóm bọ rùa

(Coccinellidae) và chuồn chuồn cỏ (Chrysopidae) chuyên săn bắt rệp sáp và rệp muội

hại cây trồng Ngoài ra còn có một lực lượng rất đông đảo trong tự nhiên như các loài

chân chạy (Carabidae), hổ trùng (Cicindellidae), bọ xít ăn sâu (Reduviidae), ruồi ăn

rệp (Syrphidae), chuồn chuồn (Odonata), bọ ngựa (Mantodea), và nhất là kiến

(Formicidae) chuyên săn bắt sâu bọ làm thức ăn Hầu hết các loài côn trùng bắt mồi có

phổ vật mồi rất rộng nên chúng có mặt ở khắp mọi nơi, hạn chế đáng kể số lượng sâu

bọ trong tự nhiên

Cùng với côn trùng, một số động vật chân đốt khác như nhện lớn (Araneae), nhện nhỏ (Acarina) cũng được xem là những sinh vật bắt mồi hoặc ký sinh rất phổ

biến và có nhiều tác dụng hạn chế số lượng sâu bọ trong tự nhiên

c Động vật có xương sống ăn côn trùng

Trong thiên nhiên, thành phần động vật có xương sống có tính ăn côn trùng (insectivora) hết sức phong phú Chúng có mặt ở tất cả các lớp động vật từ cá, lưỡng

cư (cóc, ếch, nhái…), bò sát (thằn lằn, rắn mối…), chim đến động vật có vú (dơi,

chuột chũi…) Qua đây chúng ta có thể hình dung được số lượng sâu bọ bị nhóm động

vật đông đảo này săn bắt hàng ngày là vô cùng lớn Lấy ví dụ giống sẻ núi (Parus) mỗi

Trang 14

ngày bắt ăn một lượng sâu bọ nặng bằng cơ thể chúng Loài chim sâu Phylloecopus sp

còn ăn nhiều hơn thế Lượng sâu bọ bị tiêu diệt hàng ngày có thể nặng gần gấp đôi

(190%) trọng lượng cơ thể của loài chim bắt sâu háu ăn này

1.1.1.2 Vai trò của thiên địch

Trên đồng ruộng có nhiều loài sinh vật là thiên địch của dịch hại, góp phần rất lớn trong việc hạn chế sự phát triển của dịch hại trong tự nhiên, giữ thế cân bằng trong

hệ sinh thái đồng ruộng Thực tế đã chứng minh có rất nhiều trường hợp dịch hại bị

tiêu diệt bởi thiên địch mà con người không cần dùng bất kỳ biện pháp nào.Trên ruộng

lúa có nhiều khi phát hiện tỷ lệ trứng sâu đục thân lúa bị ong ký sinh tới trên 90% Sức

ăn của các loài thiên địch bắt mồi cũng rất lớn Một con nhện Lycosa trưởng thành mỗi

ngày ăn từ 5 - 15 con rầy nâu, một con sâu non của bọ rùa 8 chấm mỗi ngày ăn từ 5 -

10 con mồi Một con kiến vàng mỗi ngày ăn từ 5 - 10 con rệp hại cam Ong đen kén

trắng (Apenteles Plutellea) ký sinh sâu non sâu tơ thường xuất hiện ngay từ đầu vụ và

kéo dài tới cuối vụ Vào vụ Đông Xuân tỷ lệ ký sinh đạt 9,4 – 14,6% (Từ Liêm – Hà

Nội) Mật độ của bọ rùa đỏ (Micraspis discolor) tăng cao trên ruộng cải đã hạn chế số

lượng rệp muội một cách rõ rệt (Phạm Thị Nhất, 2000) Tại vùng phía đông nam của

Canada, qua 2 năm nghiên cứu 1993 - 1994 trên cây trồng vụ sớm đã phát hiện có 6

loài kí sinh sâu xanh bướm trắng Ở vụ muộn, sâu xanh bướm trắng có tỷ lệ bị kí sinh

43% Ở Trung Quốc, trong các loài ong kí sinh sâu xanh bướm trắng loài Pteromalus

puparium có cao điểm kí sinh trong tháng 5 và 6, tỷ lệ nhộng bị ký sinh khoảng 60% ở

Hàng Châu, 35 – 60% ở Quỳ Châu và lên đến 70% ở An Huy Ong A glometarut là ký

sinh quan trọng ở thung lũng sông Trường Giang có tỷ lệ ký sinh lên tới 70%

Các loài thiên địch rất phàm ăn và khi nguồn thức ăn chính của chúng hiếm, chúng sẽ tấn công các loài có ích khác Tuy nhiên, nói chung các thiên địch ăn các loài

mà khi chúng xuất hiện rất nhiều như những dịch Nuôi thiên địch hàng loạt để thả ra

đồng ruộng là một điều hết sức tốn kém Trên mỗi mảnh ruộng của người nông dân đã

có sẵn nhiều thiên địch Các loại thiên địch cần được bảo vệ bằng cách hạn chế sử

dụng thuốc trừ sâu phổ rộng hoặc bằng cách dùng thuốc trừ sâu chỉ độc hại đối với sâu

hại mà không độc đối với thiên địch (B.M.Shepard và cs, 1989)

Có thể thấy lực lượng kẻ thù tự nhiên của côn trùng là hết sức đa dạng và đông đúc Hiển nhiên chúng giữ vai trò quan trọng trong việc điều hòa số lượng của côn

trùng, bảo đảm sự cân bằng của các hệ sinh thái Do đó cùng với việc sản xuất các chế

phẩm sinh học từ các nguồn vi sinh vật gây bệnh cho côn trùng, nhân thả các loài thiên

địch vào tự nhiên, các nỗ lực đồng bộ nhằm bảo vệ và khích lệ các loài sinh vật ăn côn

trùng sinh sống trong tự nhiên, một bộ phận quan trọng của sự đa dạng sinh học là một

công việc có ý nghĩa cần được quan tâm thích đáng

Trang 15

1.1.2 Những nghiên cứu về bọ đuôi kìm

1.1.2.1 Thành phần loài bọ đuôi kìm trên Thế giới và Việt Nam

* Trên Thế giới

Thành phần loài bọ đuôi kìm khá phong phú và phân bố rộng khắp thế giới, theo Essig (1942), loài được xác định sớm nhất tại California (Mỹ) là loài bọ đuôi kìm

Euborellia annulipes Chúng được tìm thấy ở miền Nam California năm 1883, sau đó

mới được tìm thấy ở Los Angeles năm 1892 Theo Langston và Powell (1975), bọ đuôi

kìm E annulipesthu được gần Sacramentô (California) năm 1885 và không tìm thấy

trong một thời gian dài, sau 47 năm chúng mới lại được ghi nhận

Theo Fabian Hass (1996), Gullan và Cranston (2000a, 2000b), bộ cánh da (Dermaptera) là một bộ tương đối nhỏ bao gồm khoảng 1.800 loài côn trùng với 10 họ

phân bố trên thế giới Theo Richard Leung (2004) bọ đuôi kìm được phát hiện ở hầu

hết các nơi trên thế giới trừ những vùng băng giá, rất phổ biến ở những vùng khí hậu

nóng ẩm Có khoảng 1.200 loài đã được miêu tả, số lượng này ít hơn so với công bố

của Fabian Haas và Gullan trước đó Nishida (2008), thu thập được 9 loài ở Nhật Bản

trong đó 2 loài thuộc họ Carcinophoridae là Anisolabis maritima và E annulipes; 2

loài thuộc họ Chelisochidae là C morio và Hamaxas nigrorufus; 5 loài thuộc họ

Labiidae Trong tổng số 9 loài thì loài E annulipes và C morio phân bố rộng

Fabian Haas (2009), đã công bố những kết quả điều tra, ghi nhận thành phần loài bọ đuôi kìm ở 26 nước trên thế giới Trong đó thành phần loài bọ đuôi kìm ở Công

gô nhiều nhất có tới 128 loài, ở Venezuelacó 85 loài, ở Kennia có 54 loài, ở Mỹ có 28

loài, Nhật Bản có 35 loài, Liên bang Nga có 34 loài, ít nhất là Ireland chỉ có 3 loài

Nhiều loài mới được phát hiện sau này, theo Ramamurthi (1973), ghi nhận được

3 loài mới ở Thái Lan Srivastava (1976), nghiên cứu về bọ đuôi kìm ở Philippines đã

thu thập và mô tả 18 loài thuộc các giống Diplatys, Epilandex, Chaetospania,

Auchenomus, Apachyus, Allostethus, Proreus, Adiathella, Kosmetor và Timomenus,

trong đó có 2 loài mới được ghi nhận lần đầu tiên ở Philippines

Trong những năm gần đây, Fabian Haas và Matzke (2005), mô tả loài mới là

Schizoproreus vulcanus thuộc họ Chelisochidae ở Sulawesi (Indonesia) Petr Kocarek

(2006), ghi nhận loài mới ở Campuchia thuộc giống Nala (Labiduridae) Nishikawa

(2008), phát hiện được 2 loài phụ của loài Anisolabis maritima Bonelli ở Hàn Quốc và

Nhật Bản Ho và Nishikawa (2009), Ho (2010), phát hiện 1 loài mới thuộc giống

Challia Burr (Pygidicranidae: Challinae) ở Hồng Kông và Quảng Đông, Trung Quốc

Gần đây nhất Petr Kocarek (2011), ghi nhận loài Euborellia ornata sp nov ở Nepal

Theo Zipcodezoo (2010), giống Euborellia chỉ ghi nhận có 14 loài Theo Lesley

(2012) là 50 loài nhưng cùng với công bố của Petr Kocarek (2011) thì có tổng số 51

loài đã được ghi nhận

Trang 16

Việc phân loại bọ đuôi kìm cũng được nhiều nhà khoa học tiến hành Esaki và Ishii (1952), phân loại bọ đuôi kìm bộ Dermaptera theo kiểu hình giải phẫu bên trong,

theo cơ quan sinh dục ngoài và phân bố theo vùng địa lý đã chia các loài bọ đuôi kìm

bắt mồi tập trung ở bộ phụ Forficulina gồm tổng họ Pygidicranoidea sinh sống chủ yếu

trong các kho chứa ở các nước châu Á, châu Úc, Nam Phi và Nam Mỹ; tổng họ

Karschilloidea tập trung ở Nam Phi, tổng họ này chủ yếu là bọ đuôi kìm ăn kiến; tổng

họ Labioidea có 3 họ là Labiidae, Carcinophoridae, Arixeniidae, họ Labiidea phổ biến

hơn, họ Arixeniidae bao gồm các loài ký sinh trên dơi; tổng họ Forficuloidea có ba họ

là Chelisochidae, Labiduridae, Forficuloidae trong đó họ Labiduridae phân bố rộng

Trong các giống của các họ thì giống Labidura và Euborellia phổ biến nhất

Hoffman (1987), đã đưa ra thành phần bọ đuôi kìm ở Mỹ gồm 6 họ So sánh với danh sách các loài bọ đuôi kìm của Hoffman đưa ra năm 1987, Choate (2001), đã phát

hiện và bổ sung thêm 2 loài là Neolobophora ruficeps và Kleter atterimus Choate

cũng đưa ra hệ thống phân loại đến họ của các loài bọ đuôi kìm và sự phân bố cũng

như tập tính sống của các loài bọ đuôi kìm ở Florida Một số loài được mô tả khá chi

tiết như:

+ Loài Anisolabis maritima phân bố ở Dunedin, St.Petersburg, Sarasota, Cape

Sable Chúng thường qua đông bên dưới đống cỏ biển, các mảnh vỡ tàu thuyền

+ Loài Euborellia annulipes phân bố ở Lakeland, Fort Myers và Key West;

chúng sống bên dưới rác ở những nơi ẩm ướt, dưới các hòn đá hoặc vỏ cây

+ Loài Labidura riparia phân bố ở Sanford, Dunedin, Mile Meyers, Haven,

Utopia Chúng sống bên dưới thảm mục ven các ao hồ như Lakeland, Miami, Key West,

Punta Gorda hoặc dưới các mảnh vỡ dọc theo bờ biển và có xu tính với ánh sáng

+ Loài Vostox brunneipennis phân bố ở Okeechobee, Dunedin, St Augustine,

Palatka, Ormond Chúng sống trong các kho tàng, trong vỏ của cây sồi, cây phong, cây

mộc lan

+ Loài Labia minor sống trong kẽ nứt của vỏ cây

+ Loài Labia curvicauda phân bố vùng nhiệt đới, là loài phân bố rộng

+ Loài Labia rehni phát hiện trong kho chứa củi

+ Loài Marava pulchella phân bố ở Ormond, Gainesville, Sanford, Myakka,

Dunedin; sống phổ biến trong vỏ của cây thông, cây sồi, cây mộc lan

+ Loài Marava arachidis phân bố rộng

+ Loài Doru aculeatum sống trên cỏ và cây họ năn lác mọc ven bờ nước

+ Loài Doru davisi sống dưới thảm thực vật ven hồ Lake Okeechobee

Trang 17

+ Loài Doru taeniatum sống trong cỏ dại, được tìm thấy trong các nách lá cỏ mọc ở đầm lầy Trong số các loài trên, loài bọ đuôi kìm Forfícula auricularia phân bố

rộng nhất

Theo Charles và Norman (2005), bộ cánh da chia làm 3 bộ phụ: Arixenina, Diploglossata (Hemimerina) và Forficulina Bộ phụ Arixenina là những loài sống

ngoại ký sinh trên dơi, phân bố ở Malaysia và Philippines còn bộ phụ Diploglossata ở

Nam Phi sống ký sinh trên các loài gặm nhấm, bộ phụ Forficulina ở Bắc Mỹ Ở Bắc

Mỹ ghi nhận 22 loài, ở Châu Âu và vùng nhiệt đới có 12 loài Các tác giả đưa ra khóa

định loại 6 họ và phân bố của chúng:

+ Họ Pygidicramidae: phát hiện chỉ có 1 loài ở Mỹ là Pyragropsis buscki Phân

bố ở phía Nam Florida, Cu Ba, Jamaica và Hispaniola

+ Họ Anisolabidae (tên khác: Carcinophoridae, Psalididae), tên tiếng Anh là Seaside Earwigs hoặc Ring-ledgge Earwigs Loài bọ đuôi kìm sống ven biển điển hình

là loài Anisolabis maritima Chúng là loài bọ đuôi kìm bắt mồi thường thấy ẩn nấp

dưới các mảnh vỡ, sỏi đá ven bờ biển Ngày nay chúng xuất hiện chủ yếu dọc bờ biển

Atlantic, Pacific và Gulf Coast (Florida) Giống Euborellia có 6 loài sống ở Bắc Mỹ

Loài phổ biến nhất là loài E annulipes, phân bố rộng và thỉnh thoảng chúng vào cả

trong nhà ở Loài E cincticollis phát hiện ở California và Arizona

+ Họ Labiidae: tên tiếng Anh là Little earwigs, có 8 loài sống ở Bắc Mỹ thuộc 3

giống, trong đó loài Labia minor là phổ biến nhất Loài Marava pulchella phát hiện ở

Nam Mỹ Giống Vostox có 3 loài trong đó loài V apicadentatus thường sống quanh

các lá khô, cây xương rồng ở vùng sa mạc Tây Nam nước Mỹ

+ Họ Labiduridae: tên tiếng Anh là Striped earwigs, chỉ có một loài ở Bắc Mỹ là

Labidura riparia Phát hiện thấy ở Nam Mỹ từ phía Bắc của vùng Nam Carolina đến

Florida và đông California Chúng là loài bọ đuôi kìm bắt mồi, hoạt động về đêm còn

ban ngày ẩn náu

+ Họ Chelisochidae: tên tiếng Anh là Black earwigs, chỉ thấy 1 loài ở Bắc Mỹ là

C morio Chúng có nguồn gốc nhiệt đới nhưng thiết lập quần thể ở California

+ Họ Forficulidae: tên tiếng Anh là European earwigs hoặc Spine-tailed

earwigs Loài phổ biến nhất là Forfícula auricularia Phân bố rất rộng ở Nam Canada

đến Bắc Carolina, Arizona và California Thỉnh thoảng chúng gây hại trên rau, ngũ

cốc, cây ăn quả và cây cảnh

James (2006), đưa ra nhận xét rằng bọ đuôi kìm là những loài côn trùng có nguồn gốc nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới, thành phần bọ đuôi kìm phong phú nhất là ở

các khu rừng nhiệt đới ẩm ướt trên thế giới Ngoài một vài loài có tính phân bố rộng

trên thế giới thì mỗi loài có xu hướng bị giới hạn trong mỗi khu vực, khu hệ động vật

đặc hữu

Trang 18

* Ở Việt Nam

Theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng năm 1967-1968, Viện BVTV ghi nhận

có 5 loài bọ đuôi kìm ở miền Bắc Kết quả định danh thiên địch của sâu hại thu được

trên một số cây trồng chính như lúa, ngô, đậu tương, đậu ăn quả, rau họ hoa thập tự,

chè, cà phê, cây ăn quả có múi trong giai đoạn 1981-2002 chỉ có 1 loài thuộc bộ

Dermaptera là Forficula sp (Phạm Văn Lầm, 2002)

Theo kết quả của Cao Anh Đương và Hà Quang Hùng (1999, 2005a), điều tra ở

Bến Cát, Bình Dương phát hiện 3 loài bọ đuôi kìm là Euborellia annulipes Lucas, bọ

đuôi kìm nâu đen lớn Euborellia annulata (Carcinophoridae), bọ đuôi kìm cánh vàng

Doru sp (Forficulidae) đều ghi nhận là thiên địch của các loài sâu đục thân hại mía

Nguyễn Thị Thu Cúc và cs (2008), đã khảo sát thành phần loài bọ đuôi kìm trên cây dừa ở 7 tỉnh phía Nam từ năm 2004 đến 2005 đã phát hiện 5 loài bọ đuôi kìm,

trong đó hai loài hiện diện phổ biến thuộc họ Chelisochidae: Chelisoches morio và

Chelisoches sp Theo tác giả, cả hai loài này lần đầu tiên được ghi nhận tại Việt Nam

Theo báo cáo tại hội thảo sử dụng bọ đuôi kìm làm tác nhân sinh học phòng trừ sâu hại cây trồng ở thành phố Vinh - Nghệ An cho thấy trong kết qủa nghiên cứu đã

ghi nhận được 2 loài bọ đuôi kìm trên rau họ hoa thập tự là Euborellia annulipes và

Euborellia sp (Trung tâm BVTV phía Bắc, 2008)

Nguyễn Thị Thu Cúc và cs (2009) tiếp tục điều tra ở các tỉnh miền Trung đã công bố có 5 loài bọ đuôi kìm trên cây dừa ở các tỉnh miền Trung và miền Nam trong

đó có 2 loài phổ biến và có khả năng khống chế bọ cánh cứng hại dừa Loài bọ đuôi

kìm màu vàng C variegatus tìm thấy ở hầu hết các vườn dừa ở đồng bằng sông Cửu

Long, còn loài màu đen C morio chỉ tìm thấy trên đảo Phú Quốc, cả 2 đều thuộc họ

Chelisochidae

Một công bố đầy đủ và có tính hệ thống là của Tạ Huy Thịnh (2009) cho rằng:

có 8 họ bọ đuôi kìm theo hệ thống phân loại của Fabian Haas năm 2006 đều có đại

diện ở Việt Nam với tổng số là 83 loài: (1) họ Apachyidae có 1 loài, (2) họ

Forficulidae có 15 loài, (3) họ Chelisochidae có 6 loài, (4) họ Dyplatyidae có 8 loài,

(5) họ Pygidicranidae có 9 loài, (6) họ Spongiphoridae có 14 loài, (7) họ Labiduridae

có 11 loài và (8) họ Anisolabididae có 19 loài Trong đó 13 loài phân bố rộng trên thế

giới, 69 loài phương đông, 33 loài đã được ghi nhận tại Việt Nam Theo tác giả, khả

năng Việt Nam có nhiều loài bọ đuôi kìm đặc hữu, loài Allodahlia scabriuscula là ghi

nhận mới cho khu hệ côn trùng Việt Nam Trong họ Anisolabididae (Syn

Carcinophoridae) ghi nhận được 19 loài thuộc 4 giống, 1 họ phụ Anisolabidinae

Trong họ phụ Anisolabidinae có các loài: Anisolabis concolor, A folveolatus, A

furvus, A fusoideus, A dealbatus, A dubius, A interjacens, A nigrocapitatus, A

papulosus, A spiniger, A vitalisi, Euborellia annulipes, E femoralis, E vernicosa,

Gonolabis electa, G insidiata, G marginalis, G mystica và Nesogaster nigritus Còn

trong họ Labiduridae ghi nhận 11 loài thuộc 5 giống, ở 2 họ phụ: họ phụ Labidurinae

Trang 19

có các loài: Forcipula cicero, F obscura, F quadrispinosa, Labidura riparia và Nala

lividipes Họ phụ Echinosomatinae có các loài Echinosoma convolutum, E forsitan, E

setulosum, E.sumatranum, E trilineatum và Parapsalis laevis

Tạ Huy Thịnh (2009) cũng là người đầu tiên đưa ra khóa định loại 8 họ thuộc

bộ Dermaptera bằng tiếng Việt là họ Apachyidae, Forficulidae, Chelisochidae,

Diplatyidae, Pygidicranidae, Spogiphoridae (Labiidae), Labiduridae và họ

Anisolabididae (Carcinophoridae) Cũng theo Tạ Huy Thịnh, thu thập các khu trồng

mía ở Thanh Hóa được 4 loài bọ đuôi kìm là: Cranopygia vitticolis (Pygidicranidae);

Euborellia femoralis (Anisolabididae); C variegatus và Proreus simulans

(Chelisochidae), tác giả khẳng định chúng đóng vai trò là những thiên địch của các

loài sâu gây hại trên cây mía

1.1.2.2 Đặc điểm hình thái, sinh vật học của các loài bọ đuôi kìm trên Thế giới và

Việt Nam

* Trên Thế giới

Hình 1.1 Hình thái cơ bản của bọ đuôi kìm

1 Râu đầu; 2 Xúc tu hàm trên; 3 Trán; 4 Mắt kép; 5 Chỏm đầu (chẩm); 6 Khớp sọ ngang và khớp sọ dọc; 7 Rãnh ngang; 8 Rãnh dọc; 9 Phiến thuẫn; 10 Đường khép cánh; 11 Mép ngoài cánh trước; 12a Đốt bụng cuối (mặt lưng); 12b Đốt bụng cuối (mặt bụng); 13 Mảnh cuối bụng (Pygidium); 14 Phiến bụng ngực trước; 15 Phiến bụng ngực giữa; 16 Phiến bụng ngực sau; 17 Chân trước; 18 Chân giữa; 19 Đốt đùi chân sau; 20 Đốt ống (chầy) chân sau; 21 Đốt bàn thứ nhất; 22 Đốt bàn thứ hai;

23 Đốt bàn thứ ba; 24 Móng

(Nguồn: Esaki và Ishii (1952), Bùi Xuân Phong vẽ lại và chú thích tiếng Việt, 2012)

Bọ đuôi kìm (mặt lưng) Bọ đuôi kìm (mặt bụng)

Trang 20

Mô tả đặc điểm hình thái, sinh vật học của các loài bọ đuôi kìm bắt mồi đã được nhiều nhà khoa học công bố Easki và Ishii (1952) và Fabian Hass (1996) mô tả các

loài bọ đuôi kìm thân thuôn dài và thon, miệng nhai Trưởng thành có hai cặp cánh

trong đó cánh trước nhỏ và bóng như da Cặp cánh thứ hai lớn hơn, dạng màng da, gần

như hình bán nguyệt, thường xếp bên dưới các cánh trước một cách phức tạp Bụng

chia nhiều đốt rất uyển chuyển, đốt cuối cùng là một cặp kìm (hình 1.1) Hầu hết bọ

đuôi kìm có màu nâu hoặc màu đen, đôi khi màu nâu sáng hoặc màu vàng nâu

Knabke và Grigarich (1971), cho rằng hầu hết các loài bọ đuôi kìm có một lớp

da cứng, sáng bóng, râu mảnh, bàn chân có ba đốt Giai đoạn thiếu trùng không có

cánh, trưởng thành có thể hoàn toàn không cánh hoặc có cánh và không có khả năng

bay Cánh trước cứng và ngắn che khuất cánh sau, cánh sau lớn dạng màng da gấp lại

như quạt giấy, khi mở có hình bán nguyệt Loài Euborellia cincticollis cánh đa hình

với trưởng thành có cánh ngắn hoặc không cánh

Theo Charles và Norman (2005), các loài thuộc bộ cánh da là những loài côn trùng biến thái không hoàn toàn, có thân thon mảnh, dẹp giống như bọ cánh cứng ngắn

nhưng có phần phụ ở đốt bụng cuối cùng kéo dài giống như hai gọng kìm Trưởng

thành có thể có 1-2 cặp cánh hoặc cánh thoái hóa Nếu có cánh thì cánh trước ngắn và

không chia gân, giống như cánh cứng Cánh sau giống như lớp màng da có gân như

gân lá cây xòe tròn, gấp lại phía dưới cánh trước và chỉ nhô ra phần đầu mút cánh khỏi

cánh trước Bàn chân có 3 đốt, miệng kiểu miệng nhai Thiếu trùng bọ đuôi kìm có ít

đốt râu hơn trưởng thành, số đốt râu được thêm vào sau mỗi lần lột xác Charles và

Norman (2005), mô tả sơ lược đặc điểm của 6 họ như sau: (1) Họ Pygidicramidae: có

cánh, cơ thể dài 12–14mm; (2) Họ Anisolabidae (tên khác: Carcinophoridae,

Psalididae), điển hình là loài Anisolabis maritima có cánh thoái hóa, cơ thể màu nâu

đen, dài 20 – 25 mm, có 20 – 24 đốt râu Giống Euborellia có 6 loài, cơ thể dài

9-18mm có 14 – 20 đốt râu Loài phổ biến nhất là loài E annulipes, có cánh ngắn Loài

E cincticollis có 3 dạng hình khác nhau: có cánh phát triển; cánh trước ngắn, cánh sau

tiêu biến và không có cả 2 đôi cánh; (3) Họ Labiidae: Các loài của họ này cơ thể dài 4

– 7 mm và được bao phủ bởi lớp lông màu vàng, có thể bay vào lúc trời chạng vạng tối

hoặc bay vào đèn ban đêm Loài Marava pulchella có kích thước lớn hơn (8 – 10mm),

màu nâu đỏ sáng bóng, cánh trước phát triển hoặc không cánh, cánh sau kém phát triển

hoặc tiêu biến Loài Vostox apicadentatus dài 9 – 12mm; (4) Họ Labiduridae: Loài

Labidura riparia có kích thước lớn và có sọc đen dọc theo cánh trước và mảnh lưng

ngực; (5) Họ Chelisochidae: loài Chelisoches morio cơ thể hoàn toàn màu đen, dài 16

– 20mm; (6) Họ Forficulidae: con đực có gai ngắn ở đốt bụng cuối cùng Loài phổ

biến nhất là Forfícula auricularia, cơ thể màu đen nâu bóng, dài 15 – 20mm

Bharadwaj (1966), Charles và Norman (2005), mô tả trưởng thành bọ đuôi kìm

E annulipes có 10 đốt bụng, trong khi con cái có 8 đốt bụng Richard Leung (2004)

Trang 21

cũng mô tả bụng bọ đuôi kìm có 10 đốt ở con đực, con cái có 8 đốt bụng, máng đẻ

trứng của con cái ngắn hoặc tiêu biến tuỳ theo loài

Theo Bharadwaj (1966) trưởng thành loài bọ đuôi kìm E annulipes màu nâu

sẫm, cánh tiêu biến Chân thường nhạt màu, có một vân tối màu ở khoảng giữa của

xương đùi và xương chày ở mỗi chân Trưởng thành thường có 16 đốt râu đầu Các

vân tối màu ở chân có thể thấy dễ dàng và là cơ sở cho tên gọi chung bằng tiếng Anh

(Ring-legged) Đuôi kìm của trưởng thành có thể được sử dụng để phân biệt giới tính

ở con đực đuôi kìm cong hơn, gọng kìm bên phải cong mạnh vào phía trong ở phần

đầu mút Còn Charles và Norman (2005) cho rằng trưởng thành đực có đuôi kìm cong

và có các răng cưa phía mép trong của đuôi kìm thường rõ hơn con cái

Langston và Powell (1975) cũng mô tả loài bọ đuôi kìm E annulipes có kích

thước trung bình, màu nâu đen bóng, chân nhạt màu và thường có vòng màu đen hoặc

tối màu xung quanh đốt đùi tạo thành khoang

Theo Easki và Ishii (1952), Fabian Hass (1996), kích thước cơ thể các loài bọ đuôi kìm rất khác nhau, cơ thể chiều dài khoảng từ 4 – 80 mm bao gồm cả đuôi kìm

Nurnina Nonci (2005), cũng mô tả chiều dài của thiếu trùng bọ đuôi kìm Euborellia

annulata ở các tuổi rất khác nhau, có thể dài từ 4 – 13 mm phụ thuộc vào tuổi Còn

theo Bharadwaj (1966) trưởng thành loài bọ đuôi kìm E annulipes dài 12 – 16mm,

kích thước trưởng thành cái lớn hơn trưởng thành đực

Theo Bharadwaj (1966) việc phân biệt tuổi thiếu trùng bọ đuôi kìm E annulipes

căn cứ vào chiều dài, chiều rộng cơ thể, chiều dài và chiều rộng của mảnh ngực, tổng

số đốt râu đầu, và số lượng các đốt trong “vùng giữa” râu, mặc dù có một số lượng

đáng kể các cá thể không tuân theo quy luật rõ ràng Còn theo Langston và Powell

(1975) thì các đốt ở phần roi râu sẫm màu nhưng đốt thứ ba và thứ tư (đôi khi cả đốt

thứ năm) ở đoạn cuối roi râu thường nhạt màu

Khi nghiên cứu bọ đuôi kìm E annulipes trong điều kiện nhà kính Neiswander (1944), đã đưa ra kết quả vòng đời trung bình là 73 ngày, bọ đuôi kìm E annulipes tồn

tại trong suốt cả năm ở các giai đoạn khác nhau Còn theo Hoffman (1987) trưởng

thành bọ đuôi kìm sống khá dài, có khả năng sống tới hơn 200 ngày Silva và cs (2009)

ghi nhận thời gian trung bình mỗi tuổi của thiếu trùng bọ đuôi kìm E annulipes là 12,9

ngày, thời gian tiền đẻ trứng là 18,2 ngày

Theo Richard Leung (2004), thiếu trùng có hình dạng rất giống với trưởng thành, khác nhau chủ yếu về kích thước và chưa có cánh Đầu và bụng có màu nâu

sẫm Mảnh ngực của loài E annulipes thường hơi xám hay vàng nâu Chân có màu

trắng, với một vòng tối quanh đốt đùi Đôi gọng kìm dài trung bình và hơi cong

Theo Easki và Ishii (1952), Fabian Hass (1996) thiếu trùng bọ đuôi kìm thường

Trang 22

có 4 – 5 tuổi, hình dạng trông giống như trưởng thành nhưng không có cánh mà chỉ có

mầm cánh Các tác giả đều cho rằng không quá khó để phân biệt thiếu trùng với

trưởng thành vì đuôi kìm của thiếu trùng thường đơn giản, gần như thẳng và trông

giống như đuôi kìm của trưởng thành cái James (2006) lại cho rằng thiếu trùng bọ

đuôi kìm thường trải qua 4 lần lột xác trước khi trở thành trưởng thành nhưng ở loài

Anisolabis littorea có 5 lần Giai đoạn thiếu trùng từ khi trứng nở đến lần lột xác cuối

cùng khác nhau ở các loài và cũng phụ thuộc vào nhiệt độ khác nhau

Theo Nurnina Nonci (2005), thiếu trùng bọ đuôi kìm Euborellia annulata trải

qua 5 tuổi, Thời gian tuổi 5 là 4 – 6 ngày ở con cái và 2 – 3 ngày ở con đực

Bharadwaj (1966) khi nuôi bọ đuôi kìm E annulipes phát hiện thiếu trùng thường có 5

tuổi, có 12% số cá thể có giai đoạn thiếu trùng trải qua 6 tuổi Thiếu trùng qua 6 tuổi

với thời gian phát dục tổng cộng khoảng 99 ngày Theo Langston và Powell (1975)

trong phạm vi nhiệt độ 20 – 30oC thiếu trùng loài bọ đuôi kìm E annulipes thường có

5 tuổi, nhưng thỉnh thoảng có 6 tuổi, vòng đời khoảng 63 ngày Silva và cs (2009), ghi

nhận thiếu trùng bọ đuôi kìm E annulipes phát triển qua 5 tuổi trong khi Richard

Leung (2004), cho rằng bình thường quan sát thấy bọ đuôi kìm có 5 tuổi nhưng đôi

khi thấy có 6 tuổi Tuổi của thiếu trùng có thể phân biệt bởi số lượng các đốt râu

Thiếu trùng tuổi 1 có 8 đốt râu đầu; tuổi 2 có 11; tuổi 3 có 13; tuổi 4 thường có 14;

tuổi 5 và 6 có thể khác nhau, có từ 14 – 17 đốt Thiếu trùng bọ đuôi kìm tương tự như

trưởng thành về hình dạng nhưng kích thước khác nhau (Neiswander, 1944) Richard

Leung (2004), cũng cho rằng sử dụng số tuổi phân biệt loài rất khó vì không đặc trưng

mà cần căn cứ theo số lượng các đốt râu đầu là tốt nhất, tuy nhiên vẫn phải kết hợp số

đốt râu đầu theo tuổi để phân loại

Theo James (2006), trứng bọ đuôi kìm màu trắng, kích thước khá lớn đối với kích thước của côn trùng Trứng đẻ trong một ổ tối, ẩm như bên dưới vỏ cây, dưới đá,

lá hoặc thảm thực vật, trong các hang hốc hoặc lỗ trong đất Theo John (2009), trứng

bọ đuôi kìm khi mới đẻ trứng hình cầu, đường kính khoảng 0,75mm, khi phôi phát

triển trở thành hình elip, dài khoảng 1,25mm Trứng mới đẻ màu trắng kem, dần

chuyển thành màu nâu khi phôi phát triển Một cá thể cái có thể đẻ khoảng 50 quả

trứng trong một ổ, tổng số trứng của một con cái đẻ từ 100 – 200 quả Thời gian trứng

nở từ 6 – 17 ngày

Theo Nurnina Nonci (2005), nghiên cứu bọ đuôi kìm Euborellia annulata ăn sâu đục thân ngô (Ostrinia furnacalis), cho thấy số lượng trứng đẻ của E annulata là

86 – 166 ngày, đẻ 5 ổ, mỗi ổ từ 9 – 45 trứng Cả con đực và con cái có thể giao phối

nhiều lần tại một khoảng thời gian của một vài giây hoặc phút, giai đoạn đầu tiên giao

phối ngắn hơn; ngắn nhất là 2 phút và dài nhất là 70 phút Thời kỳ tiền đẻ trứng là 6 –

13 ngày Trứng được đẻ 5 lần, đầu tiên, thứ hai, thứ ba, thứ tư và thứ năm tương ứng

với thời gian là 7 – 22 ngày, 7 – 21 ngày, 7 – 18 ngày, 11 – 18 ngày, và 11 – 21 ngày

Trang 23

Giai đoạn đẻ trứng là 32 – 59 ngày và thời gian sau đẻ trứng là 21 – 51 ngày Tỷ lệ

giữa con đực và con cái là 1,4:1,0 Tỷ lệ tử vong tự nhiên trung bình của E annulata

là 10,5% tương đương 89,5% trứng đẻ nở thành thiếu trùng Nghiên cứu cũng cho

thấy rằng tỷ lệ tăng thực tự nhiên (r) là 0,0772, Ro là 80,16, giới hạn tốc độ tăng thực

tự nhiên (X) là 1,17, giai đoạn thiếu trùng 39 – 46 ngày, tuổi thọ của trưởng thành đực

là 57 – 75 ngày và trưởng thành cái là 61 – 89 ngày

Bharadwaj (1966), nghiên cứu bọ đuôi kìm Euborellia annulipes Lucas trong

phòng thí nghiệm ở điều kiện 20°C-29°C và thời gian chiếu sáng hàng ngày khoảng

10 giờ Nuôi trong hộp nhựa đựng thức ăn trong tủ lạnh và các đĩa Petri, có chứa hỗn

hợp với tỷ lệ 3:1 đất ẩm và cát thô Thức ăn cho cả thiếu trùng và trưởng thành bọ

đuôi kìm chủ yếu là thức ăn công nghiệp cho chó, thỉnh thoảng bổ sung côn trùng

sống nhân nuôi trong phòng thí nghiệm để tránh lây bệnh cho bọ đuôi kìm Hoạt động

đẻ trứng bắt đầu diễn ra từ 1 – 23 ngày sau khi giao phối và diễn ra trong suốt cả năm

(thường vào ban đêm), và trung bình 52,7 quả/ổ Một số con cái có khả năng đẻ 4 ổ

trứng trong suốt thời kỳ trưởng thành Thời gian tối thiểu giữa các lần đẻ các ổ trứng

khác nhau là 6 – 17 ngày, và trứng nở trong 2 – 4 ngày

Langston và Powell (1975), nghiên cứu về quần thể của loài E annulipes ở Bắc

Mỹ cho thấy trứng hình cầu, đường kính khoảng 1,25 mm Tập tính đẻ trứng thường

xảy ra vào ban đêm và trung bình là 53 quả/ổ, một số đẻ được 4 ổ trứng liên tiếp trong

khi Neiswander (1944), cho rằng thường một ổ trứng được đẻ trong một khoảng thời

gian khoảng 3 ngày Thời gian phát dục trứng của loài bọ đuôi kìm E annulipes 6 –

17 ngày ở điều kiện nhiệt độ 20 – 30oC Con cái bảo vệ trứng cho đến khi nở, và nếu

trứng bị phân tán chúng sẽ thu gom lại thành ổ và luôn quanh quan bên ổ trứng Bọ

đuôi kìm mẹ liên tục xử lý trứng để giữ sạch trứng Nếu một quả trứng bị vỡ hoặc

không nở, bọ đuôi kìm mẹ sẽ ăn nó Bọ đuôi kìm mẹ chăm sóc cho đến khi tất cả

những quả trứng nở hết

Theo Hoffman (1987), bọ đuôi kìm E annulipes là loài hoạt động về đêm Giao

phối diễn ra 1 – 2 ngày sau khi lột xác hóa trưởng thành, và thời kỳ tiền đẻ trứng

khoảng 10 – 15 ngày sau khi giao phối lần đầu Trưởng thành tạo một ổ nhỏ trong đất

để đẻ trứng và trứng được đẻ gọn thành ổ Con cái chuẩn bị ổ trước khi đẻ trứng,

chúng bảo vệ các ổ trứng khỏi nhện ăn thịt, nấm bệnh, và những sinh vật khác xâm

nhập; chúng làm sạch và di dời trứng nếu cần thiết Hoạt động chăm sóc giảm ngay

sau khi thiếu trùng nở và không còn sau khoảng 10 ngày Những con cái sẽ không

chấp nhận sự hiện diện của thiếu trùng là con của mình một khi nó bắt đầu đẻ ổ trứng

tiếp theo

Trang 24

Trong chương trình phòng chống bọ cánh cứng hại bông Anthonomus grandis

Boheman (Curculionidae), Lemos và cs (2003), nghiên cứu sự sinh sản của bọ đuôi

kìm E annulipes trong điều kiện phòng thí nghiệm và sử dụng chế độ ăn nhân tạo Kết

quả xác định trong điều kiện nhiệt độ 25oC và 30oC trưởng thành cái bọ đuôi kìm E

annulipes đẻ trung bình là 206,2 và 306,0 trứng, tuổi thọ trung bình là 198,4 ngày và

149,1 ngày

Silva và cs (2009), nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cũng chỉ ra rằng khi nuôi bọ đuôi kìm E annulipes trong tủ định ôn ở điều kiện nhiệt độ 25oC, ẩm độ 70 –

80% thức ăn là rệp muội Hyadaphis foeniculi (rệp muội hại các loài thực vật họ hoa

tán) cho kết quả 46,75 trứng/ổ

Nhiều tác giả mô tả hành vi tập tính sống của các loài bọ đuôi kìm Theo Bharadwaj (1966), phần lớn các loài bọ đuôi kìm ăn tạp, đôi khi chúng gây thiệt hại

cây cảnh hay cây trồng nông nghiệp, vào các thời điểm khác có thể lại bắt mồi Easki

và Ishii (1952) và Fabian Hass (1996) mô tả hành vi của bọ đuôi kìm rất phức tạp,

đuôi kìm đóng một vai trò quan trọng: chúng được sử dụng để mở và gấp cánh, để

nắm bắt con mồi và tự vệ Hành vi của bọ đuôi kìm cái cho thấy chúng có hành động

chăm sóc trứng và thiếu trùng tuổi nhỏ

James (2006), quan sát và cho rằng bọ đuôi kìm sống quan hệ chặt chẽ với đất,

sự lựa chọn làm tổ phụ thuộc chủ yếu lớp đất hoặc các vật liệu khác, độ ẩm rất quan

trọng với bọ đuôi kìm Một phần của tổ hở ra để con cái có thể tấn công bất kỳ đối

tượng nào di chuyển đến gần tổ, kể cả con đực Hoạt động đẻ trứng sẽ kích thích con

cái đưa ra 2 phản ứng cần thiết là liếm trứng và thu thập các quả trứng lại thành ổ nếu

những quả trứng nằm rải rác Tác dụng của liếm là để loại bỏ bào tử nấm hoặc những

vật không liên quan đến vỏ trứng; trứng sẽ bị mốc nếu con cái không chăm sóc Thiếu

trùng lột xác lần đầu tiên và lần 2 có thể diễn ra trong tổ khi thiếu trùng vẫn còn sống

thành bầy Trưởng thành cái chăm sóc trứng có thể kéo dài nếu cho trứng mới vào ổ

thay thế trứng ban đầu đã nở; hoạt động chăm sóc này cũng bị mất nếu trứng được gỡ

bỏ khỏi tổ và không cung cấp trứng khác Nếu đặt trứng trở lại trong vòng một vài

ngày con cái sẽ chấp nhận chăm sóc trứng nhưng nếu lâu hơn thì con cái sẽ ăn trứng

Con đực có hành động ăn trứng khi bắt gặp trứng mà không được con cái bảo vệ

Theo Richard Leung (2004), bọ đuôi kìm sống tự do, ăn tạp (ăn các côn trùng nhỏ), một số loài ăn chồi non thực vật nhưng khi xuất hiện con mồi thì chúng lại

chuyển sang ăn động vật ngay Bọ đuôi kìm thường sống ẩn nấp, chạy nhanh, mặc dù

có cánh nhưng rất ít khi thấy chúng bay, chỉ tìm kiếm thức ăn trên cây, ăn côn trùng

nhỏ vào ban đêm Trưởng thành cái đẻ trứng vào trong ổ làm dưới đất, chúng có biểu

hiện chăm sóc, bảo vệ trứng, thậm chí có hành động bảo vệ con 1 – 2 tuần sau nở

Trong điều kiện ấm áp chúng đẻ nhiều, mùa hè bọ đuôi kìm ít khi đẻ trứng, vào mùa

Trang 25

đông lạnh chúng đình dục hoàn toàn cho đến mùa xuân lại tiếp tục hoạt động, mỗi

năm bọ đuôi kìm thường có 7 lứa

Theo Hoffman (1987), bọ đuôi kìm E annulipes có thể nuôi trên rễ hoặc củ cải,

củ khoai tây và gốc cây lạc, mặc dù phương pháp nuôi này bọ đuôi kìm sống bình

thường nhưng khả năng đẻ trứng giảm hẳn Bọ đuôi kìm E annulipes ăn cả thực vật và

động vật, chúng gây hại không nghiêm trọng cho các khu vườn thực vật và trong nhà

kính, chúng chỉ ăn nhấm nháp cây mọng nước như rau diếp Bọ đuôi kìm E annulipes

ít gây ra chấn thương trực tiếp cho cây rau, nhưng chúng có thể ăn cả những phần cây

trên mặt đất và phần dưới mặt đất của thực vật Bọ đuôi kìm gây ra khó chịu cho con

người khi chúng bò vào các sản phẩm rau, nhất là rau ăn lá Tuy nhiên, tác giả khẳng

định bọ đuôi kìm là loài côn trùng bắt mồi quan trọng, và đã được ghi nhận phổ con

mồi rất đa dạng như sâu non bộ cánh vảy, ấu trùng bộ cánh cứng và nhóm rầy hại lá

Silva và cs (2009), cho rằng bọ đuôi kìm E annulipes là loài bắt mồi ăn thịt

(BMAT) phàm ăn, tấn công nhiều loài sâu hại trên cỏ ngọt như trứng của các loài sâu

hại thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera), bộ cánh nửa (Hemiptera), bộ cánh cứng

(Coleoptera) và bộ hai cánh (Diptera) Giải thích về hiện tượng các loài BMAT ăn cả

thực vật, Roy và cs (2008) cho rằng việc các loài BMAT ăn thực vật được ghi nhận ở

nhiều loài khi chúng phát sinh với số lượng lớn, nguồn thức ăn trở lên khan hiếm Khi

nguồn thức ăn chính được đáp ứng thì chúng lại ngừng ăn thực vật ngay, tuy nhiên sẽ

có những thiệt hại nhỏ cho sản xuất Ví dụ như loài BMAT thuộc họ Phymatidae khi

thiếu thức ăn thì chúng ăn mật hoa để duy trì sự sống; các loài họ bọ rùa Coccinelidae

ăn phấn hoa; họ bọ trĩ bắt mồi ăn nhựa quả hoặc lá cây bơ Việc này rất quan trọng vì

nó giúp cho các loài BMAT duy trì sự sống, tăng khả năng bắt gặp con cái để duy trì

nòi giống khi không còn nguồn thức ăn chính

Theo Hoffman (1987) cho rằng đáng tiếc là những thông tin đó chỉ được ghi

nhận chứ không có nhiều công trình công bố về bọ đuôi kìm E annulipes Chưa có

thông tin rõ ràng về kẻ thù tự nhiên của loài bọ đuôi kìm E annulipes Tập tính ăn thịt

đồng loại, ăn trứng, thiếu trùng và cả trưởng thành là một yếu tố gây tỷ lệ tử vong

quan trọng Bọ đuôi kìm hiếm khi phát sinh số lượng lớn và dễ dàng bị giết bởi hầu

hết các loại thuốc trừ sâu hóa học

Josh Sesek (2008) nghiên cứu ảnh hưởng của tín hiệu khứu giác đến những tập

tính giao phối của bọ đuôi kìm E annulipes thông qua chất dẫn dụ giới tính kết quả

cho thấy rằng khả năng giao phối của loài bọ đuôi kìm E annulipes tăng khi có mặt

của cặp giao phối khác, khả năng bọ đuôi kìm được kích thích để giao phối Sự có mặt

của con người làm giảm hành vi giao phối, dẫn đến giao phối không thành công hoặc

rút ngắn thời gian giao phối

Trang 26

Việc nghiên cứu ở mức tế bào và thần kinh của bọ đuôi kìm cũng đã được nghiên cứu từ thế kỷ 19 khi khoa học công nghệ phát triển, chủ yếu để phục vụ công

tác định loại Awasthi (1976) nghiên cứu hệ thống nội tiết tố của bọ đuôi kìm E

annulipes thông qua các axít PARF (performic acid resorcin fuchsin) và PAVB

(performic acid victoria blue); Susan và cs (1995, 2004), James và cs (1996) đã tiến

hành nghiên cứu sinh tổng hợp các nội tiết tố trong chu kỳ sinh sản của bọ đuôi kìm

Kết quả của các nghiên cứu đều chỉ ra rằng việc sản xuất nội tiết tố liên quan mật thiết

đến hành vi giao phối, đẻ trứng và chăm sóc con của bọ đuôi kìm mẹ

Khi nghiên cứu bọ đuôi kìm E annulipes trong điều kiện nhà kính, Neiswander (1944) đã đưa ra kết quả vòng đời trung bình là 73 ngày, bọ đuôi kìm E annulipes tồn

tại trong suốt cả năm ở các giai đoạn khác nhau Còn theo Hoffman (1987) trưởng

thành bọ đuôi kìm sống khá dài, có khả năng sống tới hơn 200 ngày Silva và cs (2009)

ghi nhận thời gian trung bình mỗi tuổi của thiếu trùng bọ đuôi kìm E annulipes là 12,9

ngày, thời gian tiền đẻ trứng là 18,2 ngày

Theo Richard Leung (2004) thiếu trùng có hình dạng rất giống với trưởng thành, khác nhau chủ yếu về kích thước và chưa có cánh Đầu và bụng có màu nâu sẫm

Mảnh ngực của loài E annulipes thường hơi xám hay vàng nâu Chân có màu trắng,

với một vòng tối quanh đốt đùi Đôi gọng kìm dài trung bình và hơi cong

Theo Easki và Ishii (1952), Fabian Hass (1996) thiếu trùng bọ đuôi kìm thường

có 4 – 5 tuổi, hình dạng trông giống như trưởng thành nhưng không có cánh mà chỉ có

mầm cánh Các tác giả đều cho rằng không quá khó để phân biệt thiếu trùng với

trưởng thành vì đuôi kìm của thiếu trùng thường đơn giản, gần như thẳng và trông

giống như đuôi kìm của trưởng thành cái James (2006) lại cho rằng thiếu trùng bọ

đuôi kìm thường trải qua 4 lần lột xác trước khi trở thành trưởng thành nhưng ở loài

Anisolabis littorea có 5 lần Giai đoạn thiếu trùng từ khi trứng nở đến lần lột xác cuối

cùng khác nhau ở các loài và cũng phụ thuộc vào nhiệt độ khác nhau

Theo Nurnina Nonci (2005) thiếu trùng bọ đuôi kìm Euborellia annulata trải

qua 5 tuổi, Thời gian tuổi 5 là 4 – 6 ngày ở con cái và 2 – 3 ngày ở con đực

Bharadwaj (1966) khi nuôi bọ đuôi kìm E annulipes phát hiện thiếu trùng thường có 5

tuổi, có 12% số cá thể có giai đoạn thiếu trùng trải qua 6 tuổi Thiếu trùng qua 6 tuổi

với thời gian phát dục tổng cộng khoảng 99 ngày Theo Langston và Powell (1975)

trong phạm vi nhiệt độ 20 – 30oC thiếu trùng loài bọ đuôi kìm E annulipes thường có

5 tuổi, nhưng thỉnh thoảng có 6 tuổi, vòng đời khoảng 63 ngày Silva và cs (2009) ghi

nhận thiếu trùng bọ đuôi kìm E annulipes phát triển qua 5 tuổi trong khi Richard

Leung (2004) cho rằng bình thường quan sát thấy bọ đuôi kìm có 5 tuổi nhưng đôi khi

thấy có 6 tuổi Tuổi của thiếu trùng có thể phân biệt bởi số lượng các đốt râu Thiếu

trùng tuổi 1 có 8 đốt râu đầu; tuổi 2 có 11; tuổi 3 có 13; tuổi 4 thường có 14; tuổi 5 và

Trang 27

6 có thể khác nhau, có từ 14 – 17 đốt Thiếu trùng bọ đuôi kìm tương tự như trưởng

thành về hình dạng nhưng kích thước khác nhau (Neiswander, 1944); Richard Leung

(2004) cũng cho rằng sử dụng số tuổi phân biệt loài rất khó vì không đặc trưng mà cần

căn cứ theo số lượng các đốt râu đầu là tốt nhất, tuy nhiên vẫn phải kết hợp số đốt râu

đầu theo tuổi để phân loại

* Ở Việt Nam

Theo kết quả nghiên cứu của Cao Anh Đương và Hà Quang Hùng (1999) vòng

đời Euborellia annulipes trung bình 98,8 ngày (trong điều kiện nhiệt độ 29,6oC, ẩm độ

73,3%); Thời gian trứng trung bình 7,7 ngày; Thời gian thiếu trùng trung bình 75,4

ngày; Trưởng thành từ vũ hóa đến đẻ quả trứng đầu tiên trung bình 11,9 ngày Giai

đoạn sâu non có 6 tuổi với 5 lần lột xác, tuổi 6 thời gian phát dục trung bình 16,8 ngày

Khả năng đẻ trứng của trưởng thành cái trung bình 24,8 quả, cao 50,6 quả; Tỷ lệ nở

của trứng đạt 84,4% trong điều kiện nhiệt độ 29,2oC, ẩm độ 71,5% Kết quả điều tra

cũng chỉ ra rằng đỉnh cao mật độ bọ đuôi kẹp sọc thường xuất hiện sau đỉnh cao mật

độ sâu đục thân Các tác giả cũng thử nghiệm ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ sâu

đến bọ đuôi kẹp sọc, kết quả cho thấy sau 2 ngày phun thuốc Cartap bọ đuôi kẹp chết

50%, sau 3 – 4 ngày chết 70 – 100% nhưng thuốc trừ cỏ Gramoxone và Roundup

không ảnh hưởng đến bọ đuôi kẹp sọc

Cao Anh Đương và Hà Quang Hùng (2005b), nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc trừ sâu đến các loài thiên địch của sâu đục thân mía ta thấy việc sử dụng

các loại thuốc trừ sâu dạng hạt như Diazinon (Diaphos 10H), Cartap (Padan 4H) và

Fipronil (Regent 0.3G) để bón lót khi trồng tuy có làm giảm mật độ loài bọ đuôi kìm

E annulipes song không có sự khác biệt rõ rệt so với ruộng đối chứng không sử dụng

thuốc Thuốc Carbosulfan (Marshal 5G) thì làm giảm mật độ bọ đuôi kìm E.annulipes

rõ rệt so với đối chứng (9,73 con/100m2 so với 13,54 con/100m2) Sử dụng các loại

thuốc trừ sâu dạng nước phun lên cây mía cho thấy, việc sử dụng các loại thuốc

Diazinon, Carbosulfan, Cartap và Fipronil hòa với nước để phun theo kiểu thông

thường đã có ảnh hưởng rõ rệt đến mật độ loài bọ đuôi kìm E annulipes

Nguyễn Xuân Niệm (2006a), khi nghiên cứu bọ đuôi kìm Chelisoches morio

cho thấy chúng đẻ khá nhiều, trung bình 40 trứng/ổ, tỷ lệ nở trên 90% Mỗi ngày ăn

trung bình 7 ấu trùng bọ cánh cứng hại dừa

Theo Nguyễn Thị Thu Cúc và cs (2009), bọ đuôi kìm Chelisoches variegatus

thường ẩn nấp, khả năng chạy rất nhanh nhưng ít khi bay Khả năng bắt cặp rất cao,

con cái chăm sóc và bảo vệ trứng, thời gian sống của bọ đuôi kìm khá dài Loài

Chelisoches morio có thời gian pha trứng trung bình 6,75 ngày, pha thiếu trùng có 4

tuổi, tuổi 1 là 8,92 ngày, tuổi 2 là 9,05 ngày, tuổi 3 là 12,58 ngày, tuổi 4 là 17,97 ngày,

trưởng thành sống 26,8 ngày Vòng đời của bọ đuôi kìm C morio trung bình là 80,8

Trang 28

ngày Loài C variegatus có thời gian phát dục các pha ngắn hơn, vòng đời là 72,3

ngày Khả năng đẻ trứng của con cái loài C morio là 144,5 quả (28,7 quả/ổ), loài C

variegatus là 243 quả (55 quả/ổ) cao hơn loài C morio Cả hai loài này có khả năng ăn

tất cả các pha của bọ cánh cứng hại dừa nhưng thích ăn ấu trùng tuổi 1 – 2 nhất Các

thí nghiệm cho thấy bọ đuôi kìm còn ăn sâu non của sâu khoang, rệp, mối

Theo Trung tâm BVTV phía Bắc (2009), bọ đuôi kìm Euborellia annulipes

Lucas là loài côn trùng có biến thái không hoàn toàn, trải qua 3 pha phát dục: trứng,

thiếu trùng và trưởng thành Trứng bọ đuôi kìm hình tròn, đẻ thành từng ổ dưới mặt

đất, trứng mới đẻ màu trắng sữa Thiếu trùng bọ đuôi kìm E annulipes mới nở có màu

trắng sữa, đôi kìm màu vàng trong suốt, sau chuyển màu nâu xám đến đen bóng

Trưởng thành bọ đuôi kìm E annulipes có màu đen bóng, giữa đốt bụng và đốt ngực

có khoang trắng, râu đầu có 12 – 16 đốt Ngực có 3 đôi chân kiểu chân bò, khả năng di

chuyển rất nhanh Đốt bụng cuối cùng phát triển thành gọng kìm dùng để tự vệ và tấn

công con mồi Các pha của bọ đuôi kìm đen đều sống trong các tàn dư trên ruộng rau,

chui vào lá hoặc chui xuống đất để sống và ẩn náu vào ban ngày Trưởng thành cái có

kích thước lớn hơn con đực, phần bụng phình to hơn Con cái có đôi kìm đối xứng,

con đực đôi kìm thường cong bất đối xứng, bọ đuôi kìm cái sau khi đẻ trứng thường ẩn

náu bên cạnh ổ trứng, khi thấy có dấu hiệu không an toàn chúng dùng đôi kìm di

chuyển từng quả trứng đi nơi khác

Nguyễn Đức Tùng và Nguyễn Thanh Thảo (2010) nghiên cứu về ảnh hưởng của hai loại thức ăn nhân tạo (thức ăn chó và mèo) tới kích thước và một số đặc điểm sinh

vật học khá chi tiết của bọ đuôi kìm Euborellia annulata Kết quả cho thấy hai loại

thức ăn này không ảnh hưởng tới kích thước của bọ đuôi kìm E annulata Kích thước

các pha trứng là 1,25 mm, tuổi 1 là 3,897 mm, tuổi 2 là 5,86 mm, tuổi 3 là 8,76 mm,

tuổi 4 là 11,75 mm, trưởng thành đực là 11,11 mm và trưởng thành cái 12,15 mm khi

nuôi bằng thức ăn cho mèo Thời gian phát dục của bọ đuôi kìm E annulata khi nuôi

bằng thức ăn cho chó ngắn hơn rõ rệt so với thức ăn mèo Vòng đời khi nuôi bằng thức

ăn chó là 56,07±6,27 ngày ngắn hơn khi nuôi bằng thức ăn mèo (72,22±5,92 ngày) Bọ

đuôi kìm cái đẻ 387,55±18,48 trứng khi nuôi bằng thức ăn công nghiệp cho chó, đẻ

nhiều hơn so với nuôi bằng thức ăn công nghiệp cho mèo (273,40±10,91 trứng) Khi

tác giả nuôi 6 cá thể trưởng thành cái với 2 cá thể trưởng thành đực bọ đuôi kìm E

annulata sau 60 ngày ở công thức ăn thức ăn cho chó thu được 110 quả trứng và 1.119

bọ đuôi kìm, nhưng ở công thức nuôi bằng thức ăn mèo chỉ thu được 52,7 trứng và 624

con bọ đuôi kìm Tác giả cũng xây dựng tờ rơi hướng dẫn nhân nuôi và sử dụng bọ

đuôi kìm E annulata phòng trừ sâu đục thân ngô

Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Xuân Phong (2012), đã xác định được 4 loài

thuộc bộ cánh da (Dermaptera) là bọ đuôi kìm chân khoang Euborellia annulipes

(Lucas, 1847) (hình 1.2), bọ đuôi kìm nâu đen Euborellia annulata (Fabricius, 1793)

Trang 29

(hình 1.3), loài bọ đuôi kìm đen nhỏ Nala lividipes (Dufour, 1828) (hình 1.4) và loài

bọ đuôi kìm sọc Labidura riparia (Pallas, 1773) (hình 1.5) trong đó hai loài Euborellia

annulipes Lucas và Euborellia annulata Fabr thuộc họ Carcinophoridae (Syn

Anisonabididae), hai loài Nala lividipes Dufour và Labidura riparia Pallas thuộc họ

Labiduridae Cả 4 loài đã xác định tên khoa học đều có trong hệ thống phân loại của

Hoffman, Choate và Fabian Haas Loài bọ đuôi kìm E annulipes Lucas phố biến nhất

Hình 1.2 Trưởng thành cái loài

Euborellia annulipes Lucas

Hình 1.3 Trưởng thành cái loài

Euborellia annulata Fabr

Hình 1.4 Trưởng thành cái loài

Nala lividipes Dufour

Hình 1.5 Trưởng thành cái loài

Labidura riparia Pallas

Trang 30

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Hiện nay, sâu hại vẫn là mối gây hại nguy hiểm cho nhiều đối tượng cây trồng

Tuy áp dụng nhiều biện pháp để phòng trừ sâu hại nhưng hiệu quả đạt được không như

mong muốn, nhiều loài sâu vẫn gây hại nặng, hệ lụy tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, ô

nhiễm môi trường Việc áp dụng biện pháp hóa học tuy có hiệu quả nhanh nhưng

không bền vững và gặp nhiều khó khăn như: gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức

khỏe con người, vật nuôi, tiêu diệt các thiên địch trong tự nhiên làm mất cân bằng sinh thái

Áp dụng biện pháp sinh học như phun trừ bằng chế phẩm nấm, vi khuẩn đã có được một số ưu điểm như: Không gây ô nhiễm môi trường; không gây độc cho người,

gia súc và thiên địch Song bên cạnh cũng gặp nhiều khó khăn như: chi phí cao, hiệu

quả thấp, dễ bị tái nhiễm và không ổn định theo mùa Các chế phẩm nấm chỉ phát huy

hiệu lực khi sử dụng trong điều kiện nhiệt độ thấp, ẩm độ không khí cao trên 85%, đặc

biệt trong mùa mưa; còn mùa nắng với nhiệt độ cao và ẩm độ thấp thì nấm không thể

phát triển ngoài tự nhiên được

Trước những thực trạng đó, vấn đề cấp bách đặt ra cho việc phòng trừ sâu hại

là phải nghiên cứu xác định một tác nhân sinh học khác, một loài thiên địch bản địa để

khống chế

Theo Phạm Văn Lầm (1995), sự đa dạng về loài thực vật sẽ dẫn đến đa dạng về loài sâu hại và thiên địch của chúng Đa dạng sinh học các loài thiên địch có thể được

tăng cường và phát huy hiệu quả bằng cách nhân nuôi rồi phóng thích hàng loạt Van

Mele và Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), Van Mele và cs (2002) đã sử dụng kiến vàng để

quản lý sâu hại trên cam quýt thành công trên nhiều vườn cây ở vùng Đồng bằng sông

Cửu Long Quần thể kiến vàng đã từng bước được khôi phục lại trên rất nhiều vườn

cây có múi tại Đồng bằng sông Cửu Long, từ đó đã làm giảm một cách đáng kể lượng

hóa chất bảo vệ thực vật trên các vườn cam, quýt, bưởi Sự thành công này có ý nghĩa

khích lệ to lớn cho việc tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng các loài bắt mồi ăn thịt phòng

trừ sâu hại ở nước ta

Tại Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về bọ đuôi kìm và ứng dụng chúng

trong phòng trừ sâu hại như nhân nuôi và sử dụng bọ đuôi kìm Chelisoches spp phòng

trừ bọ cánh cứng hại dừa (Nguyễn Thị Thu Cúc và cs, 2010) hay sử dụng bọ đuôi kìm

Euborellia annulipes trong phòng chống sâu tơ và sâu khoang hại rau họ thập tự (Bùi

Xuân Phong và cs, 2010)

Nghiên cứu khai thác lợi dụng thiên địch tự nhiên để phòng chống sâu hại hiệu quả là một hướng quan trọng trong phát triển biện pháp sinh học Đây cũng là biện

pháp chủ đạo của hệ thống phòng trừ dịch hại tổng hợp và là nhiệm vụ quan trọng

trong phát triển nông nghiệp bền vững Các nhà khoa học đã thành công trong việc

nhân nuôi và sử dụng một số thiên địch bản địa trong việc phòng trừ dịch hại bảo vệ

cây trồng, hạn chế sử dụng thuốc hóa học theo hướng đấu tranh sinh học

Trang 31

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ứng dụng bọ đuôi kìm phòng chống sâu hại trên Thế

giới và Việt Nam

1.2.1.1 Trên Thế giới

Theo Talekar và cs (1995), đối với phòng trừ sinh học thì việc sử dụng các loài thiên địch bản địa thông qua bảo tồn, nhân thả bổ sung là quan trọng Việc nhập nội ký

sinh thiên địch cũng cần được thực hiện khi cần thiết và đã có nhiều thành công trên

thế giới Sử dụng các loài ký sinh, BMAT, vi sinh vật gây hại sâu tơ để làm giảm mật

độ sâu tơ xuống dưới mức gây hại kinh tế Nhiều loài BMAT là loài đa thực có thể tấn

công nhiều loại con mồi, các loài côn trùng BMAT có ý nghĩa với sâu tơ như bọ rùa,

bọ đuôi kìm, bọ cánh cứng ngắn; đông đảo các loài ong ký sinh sâu tơ và các loài nhện

lớn bắt mồi góp phần làm giảm số lượng sâu tơ, đóng góp quan trọng trong việc điều

hòa số lượng sâu tơ

Bọ đuôi kìm bắt mồi đã được nghiên cứu, ứng dụng để phòng trừ sâu hại trên nhiều loại cây trồng ở nhiều nước trên thế giới ớ Newzealand đã lợi dụng bọ đuôi kìm

bắt mồi như là kẻ thù tự nhiên của nhiều loài sâu hại táo, kiwi: Maher và Logan (2007)

đã nghiên cứu ứng dụng bọ đuôi kìm bắt mồi Forfícula auricularia trên cây Kiwi;

Shaw và Wallis (2010), cũng ứng dụng bọ đuôi kìm Forficula auricularia trên cây táo

Gobin và cs (2007) sử dụng bọ đuôi kìm phòng trừ sâu hại trên cây lựu ở Bỉ còn

Walston và cs (2003) sử dụng bọ đuôi kìm Forficula auricularia trên cây lê ở Canada

Hennessey (1997) quan sát thấy ở Florida bọ đuôi kìm E annulipes ăn ấu trùng của

ruồi đục trái ổi và khế khi chúng bò xuống đất hóa nhộng, đặc biệt là chúng ăn cả

nhộng ruồi đục trái nằm trong đất

Đối với các loài côn trùng bắt mồi sâu đục thân mía, Situmorang và Gabriel

(1998) nghiên cứu về bọ đuôi kìm E annulata, Bharadwaj (1966) nghiên cứu bọ đuôi

kìm E annulipes đều cho rằng pha sâu non và trưởng thành thường bọ đuôi kìm tìm ăn

ổ trứng sâu đục thân mình hồng trên ruộng mía hoặc sâu đục thân ngô trên ruộng ngô,

ngoài ra nó còn ăn thịt một số loài sâu hại trên một số cây trồng khác như cây bắp cải,

cây đậu tương và cây đậu rau

Theo Situmorang và Gabriel (1998), Capinera (1999), một trong những phương

pháp kiểm soát sâu đục thân ngô (Ostrinia furnacalis) là bọ đuôi kìm E annulata

Chúng là một trong những loài săn mồi có hiệu quả, thức ăn của chúng còn là sâu xanh

Helicoverpa armigera, rệp và nhện nhỏ Theo Nurnina Nonci (2005), bọ đuôi kìm E

annulata là côn trùng ăn thịt tiềm năng của sâu đục thân ngô (Ostrinia furnacalis), một

trong các loài gây hại quan trọng nhất của ngô Bao gồm việc sử dụng các loài bắt mồi

ăn thịt trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) để kiểm soát loài vật gây hại Tác giả

đánh giá E annulata là tiềm năng trong quản lý dịch hại tổng hợp IPM cho việc kiểm

soát sâu đục thân ngô

Trang 32

Theo Trung tâm Công nghệ Lương thực và Phân bón của Đài Loan (FFTC) (2009) kiểm soát sâu đục thân là một mối quan tâm lớn của người trồng ngô, nông dân

chủ yếu là áp dụng thuốc trừ sâu hóa học Tuy nhiên, việc sử dụng liên tục thuốc trừ

sâu đã dẫn tới sâu kháng thuốc Do đó cần thiết xác định kẻ thù tiềm năng tự nhiên của

sâu đục thân ngô như các biện pháp kiểm soát sinh học Trong số những kẻ thù tự

nhiên của sâu đục thân ngô là bọ đuôi kìm E annulata Cục Nông nghiệp của

Philippines (DAP, 2005) đã chỉ đạo áp dụng phòng trừ sâu hại bằng biện pháp sinh

học, trong đó đã sử dụng bọ đuôi kìm và nấm Trichogramma để phòng trừ sâu đục

thân ngô, phát hành tờ rơi hướng dẫn sử dụng bọ đuôi kìm và ong ký sinh

Trichogramma trong quản lý sâu hại ngô nói chung, sâu đục thân ngô nói riêng

Trong chương trình hợp tác nghiên cứu của FFTC với các nhà nghiên cứu của Trường Đại học Los Baños, Phipppines (FFTC, 2009) tiến hành theo các bước nhân

thả bọ đuôi kìm: Nhân nuôi hàng loạt bọ đuôi kìm E annulata với chế độ thức ăn nhân

tạo (kết hợp thức ăn công nghiệp của chó và lõi ngô, trong dụng cụ nuôi có đất); Thả

bọ đuôi kìm ở tuổi 3 – 4 và trưởng thành, mật độ thả 1 bọ đuôi kìm cho mỗi mét

vuông, thường thả vào buối chiều muộn; Đi bộ qua các hàng ngô và đặt một bọ đuôi

kìm vào nõn cây ngô, cứ cách 4 cây theo chiều dọc hàng ngô thì thả 1 con Thả theo

kiểu zíc zắc giữa các hàng để bọ đuôi kìm được phân bố đều ngay từ ban đầu trong

khu ruộng Các nhà khoa học đã làm thử nghiệm diện hẹp 50m2 và diện rộng 250 m2

và đưa ra kết quả đã chỉ ra rằng các biện pháp can thiệp của bọ đuôi kìm làm tăng sản

lượng ngô lên 40% Với việc sử dụng bọ đuôi kìm chi phí sản xuất được giảm 8–10%

1.2.1.2 Tại Việt Nam

Nguyễn Xuân Niệm (2006a), nghiên cứu và nhân nuôi bọ đuôi kìm Chelisoches morio bằng thức ăn ấu trùng ngài gạo để làm thức ăn cho bọ đuôi kìm để phòng trừ bọ

cánh cứng hại dừa

Trung tâm BVTV khu 4 nghiên cứu bọ đuôi kìm trên cây cà và cải bắp năm

2008 chỉ ra rằng ở Nghệ An loài bọ đuôi kìm màu đen Euborellia sp xuất hiện trên

cây lạc, cà tím, mướp đắng và trên rau họ hoa thập tự Kết quả nhân nuôi bọ đuôi kìm

tại Trung tâm đạt hệ số nhân 8,1 – 8,8 lần còn tại hộ nông dân chỉ đạt 6,3 – 6,5 lần

Trong các loại thức ăn cho bọ đuôi kìm là rệp muội hại rau, sâu tơ, sâu khoang tuổi

nhỏ, thức ăn cá cảnh và cơm mốc thì bọ đuôi kìm ăn rệp rau nhiều nhất, ăn thức ăn cá

cảnh ít nhất Mỗi bọ đuôi kìm ăn trung bình 75 – 112 rệp/ngày Trong điều kiện tự

nhiên bọ đuôi kìm tồn tại trên đồng ruộng nhưng mật độ không cao Kết quả nghiên

cứu chỉ ra rằng thời điểm thả bọ đuôi kìm tốt nhất khi sâu hại bắt đầu xuất hiện trên

đồng ruộng, số lượng bọ đuôi kìm phóng thích từ 1 – 2 con/m2

Thuốc trừ sâu ảnh hưởng lớn đến bọ đuôi kìm trên đồng ruộng Qua mô hình sử dụng bọ đuôi kìm khống

chế sâu hại trên cây cà tím cho thấy năng suất ruộng mô hình và ruộng nông dân tương

Trang 33

đương nhau, ruộng mô hình chi phí ít hơn ruộng nông dân do giảm số lần phun thuốc

trừ sâu

Trung tâm BVTV phía Bắc (2008) điều tra thành phần và mức độ phổ biến của

bọ đuôi kìm trên ruộng cải bắp, su hào sau thu hoạch, ruộng cà chua hoa-quả non,

ruộng lúa đã thu hoạch, ruộng ngô giai đoạn 3 – 4 lá cho thấy bọ đuôi kìm có 2 loài

màu đen và màu nâu (E annulipes), loài bọ đuôi kìm màu nâu phổ biến hơn loài màu

đen Chúng xuất hiện tất cả các cây trồng trên nhưng trên ruộng rau cải bắp, su hào

nhiều hơn Vì là loài ăn đêm nên ban ngày rất ít điều tra thấy chúng trên rau, ban ngày

bọ đuôi kìm ẩn nấp dưới đất, dưới các lá già, đống lá tàn dư trên ruộng Kết quả thí

nghiệm với thức ăn là sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, sâu khoang (trứng, sâu non các

tuổi) và rệp (rệp non các tuổi và rệp trưởng thành) cho thấy bọ đuôi kìm bắt mồi thích

ăn sâu tơ tuổi 1 – 2, sâu xanh tuổi 1 – 2, sâu khoang tuổi 1 hơn; bọ đuôi kìm thích ăn

rệp tuổi 2-3 và trưởng thành hơn tuổi 1

Kết quả nhân nuôi bọ đuôi kìm E annulipes tại Trung tâm BVTV phía Bắc

(2009) hệ số nhân đạt cao nhất 8,9 lần Kết quả nhân nuôi bọ đuôi kìm của nhóm nông

dân cho hệ số nhân thấp hơn (6,3 lần) Trung tâm cũng bố trí thí nghiệm sử dụng bọ

đuôi kìm E annulipes để phòng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự Mật độ thả bọ đuôi kìm

1,4 – 2 con/m2 trừ rệp, sâu tơ hại súp lơ, cải ngọt tại Hưng Yên kết quả cho thấy mật

độ sâu hại thấp hơn nhiều so đối chứng Bọ đuôi kìm E annulipes có khả năng ăn 52

rệp muội hại rau, 43 sâu khoang, 50 sâu tơ tuổi nhỏ/ngày với mỗi loại thức ăn Chúng

có khả năng ăn cám công nghiệp như cám mèo, cám cá cảnh nhưng ăn cám mèo nhiều hơn

Cũng theo Trung tâm BVTV phía Bắc (2009), kết quả thí nghiệm phòng trừ sâu

đục quả đậu đũa bằng bọ đuôi kìm E annulipes cho kết quả rất khả quan, tỷ lệ hại ở

công thức thả bọ đuôi kìm và tuốt hoa 2,4% trong khi ở công thức phun thuốc Tập kỳ

1,8 EC là 4,2% còn ở công thức đối chứng 30,7% sau xử lý 14 ngày Kết quả cũng cho

thấy có thể sử dụng bọ đuôi kìm để trừ rệp và sâu tơ, sâu xanh bướm trắng hại rau, sâu

đục quả đậu đũa khi tuổi còn nhỏ

Theo Trần Đức Viên và cs (2004), trong thiên nhiên mỗi loài côn trùng tồn tại dưới dạng quần thể, quần thể mỗi loài chỉ phân bố ở một số khu vực nhất định trong

khả năng chịu đựng được của loài Ở hệ sinh thái đồng ruộng khi đạt được cân bằng

sinh học thì mật độ sâu không cao, tổn thất mùa màng không đáng kể

Các kết quả này mở ra một triển vọng sử dụng bọ đuôi kìm bắt mồi để phòng trừ sâu hại ở quy mô nông hộ từ đó phát triển và nhân rộng trên quy mô hàng hóa

Trang 34

1.3 NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.3.1 Những nghiên cứu về loài bọ đuôi kìm vàng Chelisoches variegatus

1.3.1.1 Nguồn gốc, phân loại

Năm 2008, nguyễn Thị Thu Cúc và cs đã khảo sát thành phần loài bọ đuôi kìm trên cây dừa ở 7 tỉnh phía Nam từ năm 2004 đến 2005 đã phát hiện 5 loài bọ đuôi kìm,

trong đó hai loài hiện diện phổ biến thuộc họ Chelisochidae, trong đó một loài đã được

định danh C morio và một loài chưa được định danh Chelisoches sp Theo tác giả, cả

hai loài này lần đầu tiên được ghi nhận tại Việt Nam

Nguyễn Thị Thu Cúc và cs (2009) tiếp tục điều tra ở các tỉnh miền Trung đã công bố có 5 loài bọ đuôi kìm trên cây dừa ở các tỉnh miền Trung và miền Nam trong

đó có 2 loài phổ biến và có khả năng khống chế bọ cánh cứng hại dừa trong đó loài bọ

đuôi kìm màu vàng C variegatus, đây là loài bản địa được tìm thấy ở hầu hết các vườn

dừa ở đồng bằng sông Cửu Long

Phân loại bọ đuôi kìm vàng (C variegatus)

Giới : Animalia Nghành : Arthropoda Lớp : Insecta

Bộ : Dermaptera

Họ : Chelisochidae Chi : Chelisoches

Loài : C variegatus

1.3.1.2 Đặc điểm hình thái

Con cái: Cơ thể màu nâu đỏ, chân và cánh trước có màu vàng, tươi sáng, chiều

dài cơ thể biến động từ 16 – 22 mm (không kể phần đuôi kìm) trung bình 18,80 mm,

rộng 3,55 mm Râu đầu hình sợi chỉ có 23 đốt râu, dài 16 – 17 mm, đốt thứ nhất và đốt

thứ hai có màu vàng, các đốt còn lại có màu đen, trên đốt thứ nhất có một vài gai nhỏ

Miệng thuộc loại miệng nhai gặm, phát triển về phía trước

Hình 1.6 Cấu tạo đốt bàn chân của bọ đuôi kìm vàng Chelisoches variegatus

Trang 35

Chân ngực màu vàng, đốt bàn chân gồm có 3 đốt nhỏ với một đôi móng dài, cong, màu nâu đen Mặt dưới các đốt của đốt bàn chân có nhiều lông tơ mịn, đốt thứ hai

của đốt bàn chân kéo dài về phía dưới của đốt, đốt thứ ba đồng thời phần kéo dài này rất

phát triển và phình to về phía hai bên Bụng có 8 đốt, màu nâu đỏ Cuối bụng có một đôi

kìm đối xứng dài và cong vào bên trong, phía trong kìm có gai nhỏ, chiều dài của kìm từ

4,5 – 5,0 mm

Hình 1.7 Chelisoches variegatus (bên phải ♂ : bên trái ♀ ) và hai dạng đuôi kìm của

con đực ( ♂ ) Chelisoches variegatus

Con đực: Cơ thể cũng có màu tương tự như con cái, nhưng thường có kích

thước nhỏ hơn con cái, chiều dài cơ thể biến động từ 16 – 21 mm (không kể phần đuôi

kìm) trung bình 17,95 mm, rộng 3,55 mm Râu đầu cũng có 23 đốt, màu sắc và cách

sắp xếp của các đốt râu cũng tương tự như con cái Bụng có 10 đốt Đuôi kìm có hai

dạng, dạng đuôi kìm ngắn và dạng đuôi kìm dài, cả hai dạng đuôi kìm đều có gai lớn

phía trong rất mạnh mẽ

1.3.1.3 Đặc điểm sinh học, sinh thái học

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Cúc và cs (2010) về tiềm năng sử

dụng loài thiên địch nội địa C variegatius (Burr, 1917) trong phòng trừ sinh học bọ

cánh cứng hại dừa Brontispa longissima (Gestro) qua các nghiên cứu về đặc điểm sinh

học (chu kỳ sinh trưởng, khả năng sinh sản, tuổi thọ, sống sót, khả năng ăn mồi) và qui

trình nuôi nhân với khối lượng lớn, ghi nhận: với chu kỳ sinh trưởng không dài (72,3 ±

1,4 ngày), khả năng sinh sản cao: 243 trứng/con cái), tuổi thọ dài trên 7 tháng

Theo Nguyễn Thị Thu Cúc và cs (2009) bọ đuôi kìm C variegatus thường ẩn

nấp, khả năng chạy rất nhanh nhưng ít khi bay Khả năng bắt cặp rất cao, con cái chăm

sóc và bảo vệ trứng, thời gian sống của bọ đuôi kìm khá dài Loài C variegatus có

thời gian phát dục các pha ngắn hơn, vòng đời là 72,3 ngày Khả năng đẻ trứng của

con cái loài C variegatus là 243 quả (55 quả/ổ) cao hơn loài C morio Loài này có

khả năng ăn tất cả các pha của bọ cánh cứng hại dừa nhưng thích ăn ấu trùng tuổi 1-2

nhất Các thí nghiệm cho thấy bọ đuôi kìm còn ăn sâu non của sâu khoang, rệp, mối

Trang 36

1.3.2 Khả năng ứng dụng phòng trừ sâu hại của bọ đuôi kìm vàng C variegatus

Bọ đuôi kìm C variegatus là loài thiên địch xuất hiện phổ biến trên các vườn

dừa, ăn các giai đoạn sâu non của bọ cánh cứng hại dừa Do vậy, người dân có thể thu

bắt bọ đuôi kìm ngoài tự nhiên và thu sâu non bọ cánh cứng hại dừa, lá dừa, thức ăn

tổng hợp để nhân nuôi, sau đó phóng thích bọ kìm với số lượng lớn để phòng trừ bọ

cánh cứng hại dừa

Theo kỹ sư Ngọc Khánh, bọ đuôi kìm có 5 loài, trong đó bọ đuôi kìm màu vàng

C variegatus là loài phổ biến nhất ở Khánh Hòa, chi cục đang tiến hành nhân nuôi bọ

đuôi kìm này Việc nhân nuôi không quá khó khăn, có thể chuyển giao cho nông dân

để nhân rộng Đến nay, Chi cục BVTV đã tiến hành nhân nuôi và phóng thích 5 lần,

với hơn 9000 cá thể bọ đuôi kìm ra tự nhiên Kết quả nhân nuôi bọ đuôi kìm cho thấy,

từ 50 cặp, 100 cá thể bọ đuôi kìm ban đầu, sau thời gian 75 ngày thu được 1513 cá thể

mới Đồng thời, qua điều tra công thức thí nghiệm có phóng thích bọ đuôi kìm cho

thấy, tỉ lệ tàu dừa bị hại giảm sau 2 tháng là hơn 20% so với đối chứng (không thả bọ

đuôi kìm) Lợi nhuận thu được trong quá trình nhân nuôi so với chi phí ban đầu xấp xỉ

2 triệu đồng Đó là chưa kể lợi ích đem lại cho năng suất, cảnh quan, môi trường…

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Cúc và cs (2010), về tiềm năng sử

dụng loài thiên địch nội địa C variegatius (Burr, 1917) trong phòng trừ sinh học bọ

cánh cứng hại dừa Brontispa longissima (Gestro) qua các nghiên cứu về đặc điểm sinh

học (chu kỳ sinh trưởng, khả năng sinh sản, tuổi thọ, sống sót, khả năng ăn mồi) và qui

trình nuôi nhân đơn giản, rẽ tiền, cho thấy có thể sử dụng rất tốt loài bọ đuôi kìm này

không những để phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa mà cả nhiều loài côn trùng khác như

rầy nâu Nilaparvata lugens, sâu ăn tạp Spodoptera litura, sâu xếp lá Lamprosema

indicata, rệp sáp Pseudococcus sp., mối, rầy mềm,… Qui trình nuôi nhân với số lượng

bọ đuôi kìm (BỌ ĐUÔI KÌM) đã được chuyển giao cho cán bộ bảo vệ thực vật và

khuyến nông tại Việt Nam trong 2 năm 2007 – 2008, và mới đây kỹ thuật nuôi nhân

này cũng đã được chuyển giao cho nhiều nông dân trồng dừa tại Việt Nam

Nguyễn Xuân Niệm (2006b) cũng nghiên cứu khả năng ăn bọ cánh cứng hại

dừa của bọ đuôi kìm C variegatus Các tác giả cũng đã phóng thích bọ đuôi kìm để

phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa có hiệu quả cao

Nguyễn Thị Thu Cúc và cs (2008, 2009), đã xây dựng thành công một quy trình

nuôi nhân loài bọ đuôi kìm C variegatus Với quy trình này, người nông dân có thể tự

nuôi tại nhà một cách dễ dàng Kết quả nghiên cứu trên các cá thể đã được nuôi qua 12

thế hệ liên tục trong điều kiện phòng thí nghiệm cho thấy nuôi theo quy trình này, C

variegatus vẫn tiếp tục phát triển rất bình thường, không có dấu hiệu suy thoái (kích

thước, thời gian phát triển, khả năng sinh sản, khả năng ăn mồi) Việc xây dựng thành

công quy trình nuôi nhân với khối lượng lớn như hiện nay đã mở ra một triển vọng rất

Trang 37

lớn cho việc sử dụng C variegatus trong phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa tại những

vùng nhiễm bọ cánh cứng hại dừa Năm 2007, quy trình nuôi nhân và sử dụng bọ đuôi

kìm đã được chuyển giao rộng rãi cho nhiều cán bộ kỹ thuật của Chi Cục BVTV tỉnh

Kiên Giang, Quảng Ngãi sau đó Chi cục BVTV đã tiếp tục mở lớp hướng dẫn nông

dân nhân nuôi và sử dụng C variegatus để phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa

Theo kết quả nghiên cứu về bọ đuôi kìm của Nguyễn Thị Thu Cúc và cs (2008), đây là loài thiên địch của bọ cánh cứng hại dừa xuất hiện khá phổ biến trên các vườn

dừa, có khả năng ăn mồi cao (1,88 – 5,34 con/ngày) Việc nhân nuôi bọ đuôi kìm bằng

thức ăn tổng hợp và sâu non bọ cứng hại dừa hoặc sâu non ngài gạo rất thuận lợi, có

thể nhân ra số lượng lớn bọ đuôi kìm rất nhanh Sau đó dùng bọ đuôi kìm phóng thích

ra các vườn dừa bị hại để chúng tự tìm bọ cánh cứng hại dừa tiêu diệt Xuất phát từ

thực tế trên và được sự giúp đỡ của văn phòng FAO-IPM Việt Nam, Trung tâm BVTV

miền Trung đã triển khai ‘‘Xây dựng mô hình nhân nuôi bọ đuôi kìm để phòng trừ bọ

cánh cứng hại dừa” ở Quảng Ngãi được nhiều nông dân tham gia hưởng ứng

Trung tâm BVTV miền Trung (2008) đã điều tra tại Quảng Ngãi năm 2008 ghi

nhận có 4 loài bọ đuôi kìm hiện diện trên cây dừa là loài C variegatus (bọ đuôi kìm

màu vàng), loài C morio (bọ đuôi kìm màu đen), loài bọ đuôi kìm cỡ vừa và loài bọ

đuôi kìm cỡ nhỏ (chưa xác định tên khoa học) Trong đó loài đuôi kìm màu vàng rất

phổ biến trên các vườn dừa Quảng Ngãi, hai loài còn lại chưa định danh được có kích

cỡ nhỏ hơn xuất hiện với mật độ rất thấp Sau phóng thích 100% cây dừa có bọ đuôi

kìm và xuất hiện thiếu trùng bọ đuôi kìm, như vậy chứng tỏ bọ đuôi kìm đã tồn tại và

thích ứng tạo quần thể mới trên cây dừa Trung tâm đã chuyển giao quy trình nhân

nuôi bọ đuôi kìm cho các hộ tham gia Việc nhân nuôi bọ đuôi kìm bằng thức ăn tổng

hợp và sâu non bọ dừa hoặc sâu non ngài gạo rất thuận lợi, có thể nhân ra số lượng lớn

bọ đuôi kìm rất nhanh Hai tháng nuôi thì cứ 2 tuần/lần chọn bọ đuôi kìm trưởng thành

để phóng thích ra các vườn dừa, mỗi cây dừa phóng thích 20 cặp bọ đuôi kìm

Nguyễn Thị Thu Cúc và cs (2009), nhân nuôi bằng thức ăn nhân tạo đã tạo ra số lượng lớn bọ đuôi kìm và thả trên một số diện tích vườn dừa Bước đầu nhân nuôi loài

bọ đuôi kìm màu vàng C variegatus bằng thức ăn ấu trùng ngài gạo Kết quả này mở

ra một triển vọng huấn luyện chuyển giao cho nông dân nhân nuôi bọ đuôi kìm bằng

thức ăn là ấu trùng ngài gạo để thả trên vườn dừa, sau đó bọ đuôi kìm tự tìm bọ cánh

cứng dừa mà tiêu diệt Bọ đuôi kìm màu vàng có vòng đời khoảng 70 ngày, nên nhân

mật số khá nhanh, hơn nữa bọ đuôi kìm này từ trưởng thành đến thiếu trùng đều ăn sâu

non của bọ dừa, đây là ưu điểm để khống chế mật số của bọ cánh cứng hại dừa liên tục

trên vườn dừa Loài này có khả năng ăn tất cả các pha của bọ cánh cứng hại dừa nhưng

thích ăn ấu trùng tuổi 1 – 2 nhất Các thí nghiệm cho thấy bọ đuôi kìm còn ăn sâu non

sâu khoang, rệp, mối Khả năng nhân nuôi bọ đuôi kìm rất cao, có thể dễ dàng nhân

nuôi bọ đuôi kìm với nhiều loại thức ăn khác nhau, chi phí nuôi lại rất thấp bởi dụng

Trang 38

cụ nuôi rất đơn giản, rẻ tiền như thùng, xô, chậu, hộp nhựa

Gần đây, ở Phú Yên người ta đang tiến hành nhân nuôi bọ đuôi kìm C

variegatus rồi thả ra các vườn dừa đã đem lại nhiều kết quả khả quan Theo ông Nguyễn

Ngọc Thơ, Phó giám đốc trung tâm Bảo vệ thực vật miền Trung, khả năng nhân nuôi tập

thể đối với bọ đuôi kìm C variegatus rất tốt với tỉ lệ đạt cao từ 16,64 – 27,75 lần, tỉ lệ

nhân nuôi đạt cao đối với thùng nuôi 10 cặp bọ đuôi kìm/thùng 15 lít Nông dân thị xã

Sông Cầu đã phóng thích 5 đợt với số lượng 5.000 cặp bọ đuôi kìm trưởng thành để diệt

trừ bọ cánh cứng hại dừa Kết quả, sau 8 tháng thả tỉ lệ bọ cánh cứng hại dừa giảm chỉ

còn từ 24,84 – 32,61% Từ kết quả này, trung tâm Bảo vệ thực vật miền Trung phối hợp

với Chi cục BVTV Phú Yên tiếp tục tuyên truyền lợi ích của việc nhân nuôi bọ đuôi

kìm, đồng thời tập huấn, chuyển giao quy trình nuôi bọ đuôi kìm ở các địa phương và

các hộ trồng dừa trên địa bàn tỉnh Phú Yên để phóng thích với số lượng lớn ra vùng dừa

bị hại nhằm phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa đạt hiệu quả cao

Từ tháng 3/2009, được sự hướng dẫn kỹ thuật của các kỹ sư trung tâm Bảo vệ thực vật miền Trung và Chi cục bảo vệ thực vật Phú Yên, 5 nông dân ở các phường

Xuân Yên, Xuân Phương, Xuân Phú thực hiện nhân nuôi thành công bọ đuôi kìm Ông

Nguyễn Văn Sướng ở phường Xuân Yên cho biết: “Bọ đuôi kìm rất dễ nhân nuôi, ít tốn

kém Tôi đã thả bọ đuôi kìm lên 20 cây dừa, bình quân thả 20 cặp bọ đuôi kìm trưởng

thành/cây dừa Kết quả, sau 2 tháng bọ đuôi kìm diệt bọ cánh cứng hại dừa tốt hơn nhiều

so với ong ký sinh diệt bọ cành cứng Tuy nhiên, khả năng phát tán của bọ đuôi kìm

chậm Do vậy phải nhân nuôi với số lượng lớn mới phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa hiệu

quả hơn”

Từ năm 2009, được sự hỗ trợ của Trung tâm BVTV miền Trung, Khánh Hòa đã triển khai việc nhân nuôi bọ đuôi kìm tại Chi cục và các Trạm trực thuộc, bình quân mỗi

năm phóng thích 2 đợt Qua điều tra cho thấy, sau khi phóng thích bọ đuôi kìm tại các

vườn dừa, đặc biệt là dọc công viên bờ biển Nha Trang, các vườn dừa bắt đầu xanh trở lại,

lá dừa không bị sâu bệnh, tỷ lệ phục hồi cao, không sử dụng các biện pháp hóa học làm

hủy hoại môi trường Thời gian tới, chi cục tiếp tục duy trì chương trình này, nhân rộng và

chuyển giao việc nhân nuôi bọ đuôi kìm đến nông dân Bà con có thể tự mình nuôi và

phóng thích làm cơ sở bảo vệ vườn dừa của hộ gia đình

Tháng 7/2012, được sự tư vấn của các nhà khoa học khoa Nông học, trường đại học Nông lâm Huế, dự án cạnh tranh nông nghiệp tỉnh Bình Định đã triển khai 6 mô hình

phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa bằng phương pháp sinh học sử dụng bọ đuôi kìm tại 6 xã

ở 2 huyện Hoài Nhơn và Phù Cát cho hơn 100 hộ dân Kết quả các mô hình hầu hết bà

con nhân thả thành công bọ đuôi kìm vàng C variegatus lên các cây dừa trong vườn và

vườn dừa có sự hồi phục xanh tốt, tỷ lệ bọ cánh cứng giảm nhanh Thời gian tới tỉnh

Bình Định dự định nhân rộng mô hình ra các vùng trồng dừa khác trong tỉnh

Trang 39

Mô hình trên được triển khai tại 4 xã Hoài Tân, Hoài Châu, Tam Quan Nam và Hoài Thanh Tây với 60 hộ nông dân tham gia mô hình Dưới sự hướng dẫn, tập huấn

kĩ thuật nhân nuôi bọ đuôi kìm của các giảng viên Trường Đại học nông lâm Huế, các

hộ dân đã bước đầu tiếp cận với việc nhân nuôi bọ đuôi kiềm Theo Tiến sĩ Trần Đăng

Hòa – Giảng viên Khoa nông học Trường Đại học Nông lâm Huế - Người trực tiếp

hướng dẫn nông dân ở mô hình cho biết, việc xử lý bọ cánh cứng hại dừa có nhiều

phương pháp Trong đó, việc sử dụng ong kí sinh cũng có hiệu quả cao, tuy nhiên Bình

Định là khu vực miền Trung nắng nóng nhiều, trong khi đó, ong kí sinh chỉ sinh

trưởng trong điều kiện khí hậu ôn hòa, với nhiệt độ từ 20 – 28 độ, nên khả năng phòng

trừ vào mùa hè hiệu quả thấp, đối với việc dùng thuốc phun hóa học, đặt thuốc thì tốn

kém và đối với những dừa cao thì khó thực hiện được,…

Riêng đối với bọ đuôi kìm C variegatus, người dân có thể tự nhân nuôi, sau khi

nhân nuôi được số lượng nhiều, nông dân có thể thả từ 5-7 cặp/cây dừa đã cho hiệu

quả phòng trừ, chi phí cho 1 cặp con giống khoảng 5.000 đồng, Thạc sĩ Lê Khắc Phúc

cho biết thêm: “Xét về ưu thế, thứ nhất con bọ đuôi kìm là loài ăn mồi bản địa có khả

năng thích nghi, vừa chịu nắng, chịu lạnh, chịu mưa Ngoài ra, nếu không có bọ dừa

nó có thể ăn các con khác nên có thể sống và phát triển quanh năm, khi đã lên cây dừa

nó chỉ có thể ở trên và không thể xuống vì đặc điểm của bọ đuôi kìm là có 6 chân ở

phía trước nên chỉ có thể bò lên mà không thể bò xuống Khi vệ sinh vườn dừa nông

dân có thể thấy bọ đuôi kìm phát tán được trong môi trường tự nhiên, từ đó nông dân

có thể bắt về nuôi và thả ra ở các vườn dừa khác”

Những năm gần đây, bọ cánh cứng hại dừa phát triển mạnh, gây thiệt hại nặng cho nhiều diện tích dừa ở Phù Cát; mặc dù các chủ vườn dừa đã áp dụng một số biện

pháp như: phun thuốc hóa học, đặt muối, ong ký sinh để phòng trừ, nhưng hiệu quả

không cao Trước tình hình này, trong năm nay, Trạm Khuyến nông huyện Phù Cát đã

phối hợp với UBND xã Cát Hanh triển khai thực hiện mô hình nhân nuôi bọ đuôi kìm

phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa, tại thôn Vĩnh Long và Khánh Phước Tham gia mô

hình có 30 hộ, được hỗ trợ 100% con giống bọ đuôi kìm, 30% các loại vật tư thiết bị,

còn lại 70% nông dân đối ứng Các hộ tham gia được hướng dẫn kỹ thuật nhân nuôi,

chăm sóc, thả bọ đuôi kìm trưởng thành ra vườn dừa

Sau thời gian 10 tháng thực hiện, ngành chức năng đã tổ chức kiểm tra 3 vườn dừa, mỗi vườn 50 cây, gồm 1 vườn thả bọ đuôi kìm, 1 vườn dừa đối chứng có sử dụng

thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và 1 vườn dừa không sử dụng thuốc BVTV, không thả

bọ đuôi kìm Kết quả cho thấy: Trên vườn dừa thả bọ đuôi kìm, tỉ lệ gây hại lá giảm

còn 3%, thấp hơn 3 lần so với vườn dừa đối chứng dùng thuốc BVTV, và thấp hơn 8,3

lần so với vườn dừa không dùng thuốc BVTV, không thả bọ đuôi kìm Theo tính toán

cho thấy, chi phí thực hiện nuôi bọ đuôi kìm trên vườn dừa 50 cây khoảng 1,14 triệu

đồng, thấp hơn 885 ngàn đồng so với sử dụng thuốc BVTV; không chỉ lợi nhuận tăng

Trang 40

hơn nhờ giảm được chi phí thuốc BVTV, mà còn giảm ô nhiễm môi trường, cho cây

có bộ lá khỏe, sinh trưởng phát triển tốt

Với kết quả này, huyện Phù Cát tiếp tục tổ chức tập huấn, chuyển giao quy trình

kỹ thuật nhân nuôi bọ đuôi kìm để thả lên vườn dừa, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế

cây dừa

Với khả năng khống chế bọ cánh cứng hại dừa của bọ đuôi kìm vàng C

variegatus, nhiều tỉnh trong cả nước ta triển khai mô hình nhân nuôi và thử nghiệm bọ

đuôi kìm để phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa kết quả bước đầu mang lại khả quan Tùy

vào đặc điểm tự nhiên của mỗi vùng miền mà tần suất xuất hiện của bọ đuôi kìm có sự

khác nhau Khi tiến hành nhân nuôi phóng thích bọ đuôi kìm ra các vườn dừa: Chọn

những cây dừa có bọ cánh cứng gây hại để thả bọ đuôi kìm Đối với cây dừa thấp thì

thả ngay trên ngọn, nếu cây dừa cao có thể thả trên cây, sau đó bọ đuôi kìm tự bò lên

ngọn dừa Nên thả vào chiều tối hoặc sáng sớm, thả vào đầu hoặc cuối mùa mưa Nếu

vườn dừa có ít bọ cánh cứng gây hại nên thả vào giai đoạn dừa ra hoa là tốt nhất

Ngày đăng: 01/07/2021, 15:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Trần Xuân Bí (1993), “Thuốc trừ sâu và môi trường”, Thông tin Khoa học và Công nghệ, Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nghệ An, tr. 11-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc trừ sâu và môi trường”, "Thông tin Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Trần Xuân Bí
Năm: 1993
[2] Bộ Nông nghiệp & PTNT (2009), Danh mục thuốc Bảo vệ thực vật được phép sử dụng trên rau, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Nông nghiệp & PTNT (2009), Danh mục thuốc Bảo vệ thực vật được "phép sử dụng trên rau
Tác giả: Bộ Nông nghiệp & PTNT
Năm: 2009
[3] Cao Anh Đương và Hà Quang Hùng (1999), “Đặc tính sinh, sinh thái học của bọ đuôi kẹp sọc”, Tạp chí Bảo vệ thực vật, Số 2(164), tr. 16-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc tính sinh, sinh thái học của bọ đuôi kẹp sọc”, "Tạp chí Bảo vệ thực vật
Tác giả: Cao Anh Đương và Hà Quang Hùng
Năm: 1999
[4] Cao Anh Đương và Hà Quang Hùng (2005a), “Thành phần và vai trò thiên địch của sâu đục thân mía ở vùng Bến Cát (Bình Dương) và phụ cận”, Báo cáo Hội nghị Côn trùng học toàn quốc Lần thứ 5, Hà Nội 11-12/04/2005, tr.357-362 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần và vai trò thiên địch của sâu đục thân mía ở vùng Bến Cát (Bình Dương) và phụ cận”, "Báo cáo Hội nghị Côn trùng học toàn quốc Lần thứ 5
[5] Cao Anh Đương và Hà Quang Hùng (2005b), “Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc trừ sâu đến các loài thiên địch của sâu đục thân mía”, Báo cáo Hội nghị Côn trùng học toàn quốc lần thứ 5, Hà Nội 1112/4/2005, tr.363-366 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc trừ sâu đến các loài thiên địch của sâu đục thân mía”, "Báo cáo Hội nghị Côn trùng học toàn quốc lần thứ" 5, "Hà Nội 1112/4/2005
[6] Nguyễn Văn Cảm (1996), “Kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật của trung tâm đấu tranh sinh học, Viện BVTV trong 5 năm (1990-1995)”, Tuyển tập công trình nghiên cứu biện pháp sinh học phỏng trừ dịch hại cây trồng (1990-1995) của Trung tâm Đấu tranh sinh học, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.69-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến "bộ kỹ thuật của trung tâm đấu tranh sinh học, Viện BVTV trong 5 năm (1990-1995)
Tác giả: Nguyễn Văn Cảm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
[7] Nguyễn Thị Thu Cúc, Lê Thị Ngọc Hương, Hà Thanh Liêm và Nguyễn Xuân Niệm (2009), “Nuôi nhân và sử dụng bọ đuôi kìm Chelisoches spp. (Dermaptera, Chelisochidae) phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa Brontispa longissima (Gestro)”, Hội nghị Ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững ở ĐBSCL, Cần Thơ 04/12/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi nhân và sử dụng bọ đuôi kìm "Chelisoches "spp. (Dermaptera, Chelisochidae) phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa "Brontispa longissima" (Gestro")”, Hội nghị Ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững ở ĐBSCL
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Cúc, Lê Thị Ngọc Hương, Hà Thanh Liêm và Nguyễn Xuân Niệm
Năm: 2009
[8] Nguyễn Thị Thu Cúc, Lê Thị Ngọc Hưng, Hà Thanh Liêm, Nguyễn Xuân Niệm, Nuôi nhân và sử dụng bọ đuôi kìm Chelisoches spp. (Dermaptera: Chelisochidae) phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa Brontispa longissima (Gestro), Tạp chí khoa học 2010, Trường Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chelisoches" spp. (Dermaptera: Chelisochidae) phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa "Brontispa longissima" (Gestro), "Tạp chí khoa học 2010
[9] Nguyễn Thị Thu Cúc, Nguyễn Xuân Niệm và cộng tác viên (2009), “Bọ đuôi kìm Chelisoches spp. (Dermaptera: Chelisochidae) trên cây dừa và tiềm năng sử dụng trong phòng trừ sinh học”, Báo cáo hội thảo Nhân nuôi và sử dụng bọ đuôi kìm làm tác nhân phòng trừ sinh học, Thành phố Vinh, Nghệ An, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bọ đuôi kìm "Chelisoches" spp. (Dermaptera: Chelisochidae) trên cây dừa và tiềm năng sử dụng trong phòng trừ sinh học”, "Báo cáo hội thảo Nhân nuôi và sử dụng bọ đuôi kìm làm tác nhân phòng trừ sinh học
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Cúc, Nguyễn Xuân Niệm và cộng tác viên
Năm: 2009
[10] Nguyễn Thị Thu Cúc, Nguyễn Trọng Nhâm, Đặng Tiến Dũng, Phan Kim Ngọc, Trần Văn Cầu và Nguyễn Xuân Niệm (2008), “Bọ đuôi kìm trên cây dừa và tiềm năng sử dụng trong biện pháp phòng trừ sinh học vùng ĐBSCL”, Hội nghị Côn trùng học toàn quốc (lần thứ 6) - Hà Nội, tr.473- 480 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bọ đuôi kìm trên cây dừa và tiềm năng sử dụng trong biện pháp phòng trừ sinh học vùng ĐBSCL”, "Hội nghị Côn trùng học toàn quốc (lần thứ 6)
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Cúc, Nguyễn Trọng Nhâm, Đặng Tiến Dũng, Phan Kim Ngọc, Trần Văn Cầu và Nguyễn Xuân Niệm
Năm: 2008
[11] Phạm Văn Lầm (1995), Biện pháp sinh học phỏng chống dịch hại nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Văn Lầm (1995), Biện pháp sinh học phỏng chống dịch hại nông nghiệp
Tác giả: Phạm Văn Lầm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
[12] Phạm Văn Lầm (2002), “Kết quả định danh thiên địch của sâu hại thu được trên một số cây trồng chính trong giai đoạn 1981-2002”, Tài nguyên thiên địch của sâu hại: Nghiên cứu và ứng dụng, Quyển 1, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.7- 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả định danh thiên địch của sâu hại thu được trên một số cây trồng chính trong giai đoạn 1981-2002”, "Tài nguyên thiên địch của sâu hại: Nghiên cứu và ứng dụng
Tác giả: Phạm Văn Lầm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
[13] Nguyễn Xuân Niệm (2006a), “Sử dụng bọ đuôi kìm màu vàng Chelisoches variegatus (Dermaptera: Chelisochidae) tiêu diệt bọ cánh cứng hại dừa (Brontispa longissimà)”,http://www.khoahoc.net/baivo/-nguyenxuaniem/021106boduoikim.htm, truy cập ngày 30/11/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bọ đuôi kìm màu vàng "Chelisoches variegatus" (Dermaptera: Chelisochidae) tiêu diệt bọ cánh cứng hại dừa "(Brontispa longissimà)”
[14] Nguyễn Xuân Niệm (2006b), “Nghiên cứu bọ cánh cứng hại dừa(Brontispa longissima Gestro) ở ĐBSCL và biện pháp quản lý tong hợp (IPM) có sử dụng chế phẩm sinh học từ Metarhizium anisopliae Sorok.”, Luận án Tiến sĩ, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bọ cánh cứng hại dừa"(Brontispa longissima" Gestro) ở ĐBSCL và biện pháp quản lý tong hợp (IPM) có sử dụng chế phẩm sinh học từ "Metarhizium anisopliae" Sorok.”, "Luận án Tiến sĩ
[18] Bùi Xuân Phong, Trương Xuân Lan, Hà Quang Hùng (2010)‚ Đặc điểm sinh học của bọ đuôi kìm đen Euborellia anulipes Lucas và khả năng kìm hãm mật số sâu khoang, sâu tơ hại rau họ hoa thập tự trong nhà lưới, Tạp chí khoa học và Phát triển, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, tập 8, số 5/2010, tr 756 – 771 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Euborellia anulipes "Lucas và khả năng kìm hãm mật số sâu khoang, sâu tơ hại rau họ hoa thập tự trong nhà lưới, "Tạp chí khoa học và Phát triển
[19] Talekar N.S. và Lin Mei-ying (1995), Cẩm nang phỏng chống tổng hợp sâu tơ, AVRDC - Trung tâm nghiên cứu và phát triểu rau Châu Á, Taiwan (Nguyễn Kim Chiến dịch, Hoàng Chúng Lằm hiệu đính) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang phỏng chống tổng hợp sâu tơ
Tác giả: Talekar N.S. và Lin Mei-ying
Năm: 1995
[20] Tạ Huy Thịnh (2009), “Danh lục các loài thuộc bộ cánh da (Insecta: Dermaptera) ở Việt Nam”, Báo cáo khoa học về sinh thái và tài nguyên sinh vật - Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 3, Hà Nội ngày 22/10/2009, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.342-356 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thuộc bộ cánh da (Insecta: "Dermaptera) ở Việt Nam
Tác giả: Tạ Huy Thịnh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2009
[21] Trung tâm BVTV phía Bắc (2008), “Kết qủa nhân nuôi và sử dụng Bọ đuôi kìm làm tác nhân sinh học phòng trừ một số loài sâu hại rau họ hoa thập tự tại trung tâm bảo vệ thực vật phía Bắc và thôn Ngô Xuyên, thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên năm 2008”, Báo cáo Hội thảo Sử dụng bọ đuôi kìm làm tác nhân sinh học phỏng trừ sâu hại cây trồng, năm 2009, Thành phố Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết qủa nhân nuôi và sử dụng Bọ đuôi kìm làm tác nhân sinh học phòng trừ một số loài sâu hại rau họ hoa thập tự tại trung tâm bảo vệ thực vật phía Bắc và thôn Ngô Xuyên, thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên năm 2008”, "Báo cáo Hội thảo Sử dụng bọ đuôi kìm làm tác nhân sinh học phỏng trừ sâu hại cây trồng, năm 2009
Tác giả: Trung tâm BVTV phía Bắc
Năm: 2008
[22] Trung tâm Kiểm định thuốc BVTV phía Bắc (2003), “Báo cáo kết quả đề tài khảo sát thực trạng dư lượng thuốc BVTV trong một số loại rau quả tại vùng trồng rau Hà Nội năm 2003”, Tuyển tập đề tài nghiên cứu khoa học, Cục BVTV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả đề tài khảo sát thực trạng dư lượng thuốc BVTV trong một số loại rau quả tại vùng trồng rau Hà Nội năm 2003”, "Tuyển tập đề tài nghiên cứu khoa học
Tác giả: Trung tâm Kiểm định thuốc BVTV phía Bắc
Năm: 2003
[23] Trung tâm BVTV miền Trung (2008), “Xây dựng mô hình nhân nuôi bọ đuôi kìm để phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa”, Báo cáo Hội thảo Sử dụng bọ đuôi kìm làm tác nhân sinh học phòng trừ sâu hại cây trồng, năm 2009, Thành phố Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình nhân nuôi bọ đuôi kìm để phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa”, "Báo cáo Hội thảo Sử dụng bọ đuôi kìm làm tác nhân sinh học phòng trừ sâu hại cây trồng, năm 2009
Tác giả: Trung tâm BVTV miền Trung
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm