Mục đích nghiên cứu của đề tài là nâng cao năng suất và hiệu quả của chăn nuôi bò sinh sản trong nông hộ một cách bền vững, đáp ứng nhu cầu thị trường bò thịt ở Việt Nam và cải thiện đời sống của người dân thông qua tăng lợi nhuận từ chăn nuôi bò.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tổng quan địa bàn nghiên cứu
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở tỉnh Bình Định
Tỉnh Bình Định có tọa độ địa lý từ 103° 36’30” đến 109° 18’15” kinh độ Đông và từ 13° 30’45” đến 14° 42’15” vĩ độ Bắc Tỉnh nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn, giáp tỉnh Quảng Ngãi ở phía Bắc, tỉnh Phú Yên ở phía Nam, tỉnh Gia Lai ở phía Tây, và phía Đông giáp biển Đông.
Hệ thống giao thông tại Bình Định bao gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế và xã hội Tỉnh Bình Định nằm trong quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, giúp tăng cường giao lưu trong nước và quốc tế Nhờ vào hệ thống giao thông này, sản phẩm chăn nuôi của Bình Định dễ dàng tiêu thụ tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có nhu cầu tiêu thụ thực phẩm cao.
Vùng núi trung bình và núi thấp của tỉnh có diện tích 254.124ha, chiếm 42% tổng diện tích tự nhiên, được phân bổ chủ yếu tại các huyện Vân Canh với 75.932ha và Vĩnh Thạnh với 78.249ha.
An Lão có diện tích 63.367ha, trong khi Tây Sơn và Hoài Ân tổng cộng có 36.576ha Khu vực này nằm ở độ cao trên 500m so với mực nước biển, với phần lớn sườn núi dốc hơn 200 độ Địa hình chủ yếu là đồi gò và bát úp ở trung du, chiếm 26% diện tích tự nhiên, tương đương 157.315ha, phân bố tại các huyện Tây Sơn (39.500ha), Hoài Ân (35.900ha) và Phù.
Cát (19.150ha), Phù Mỹ (16.200), Hoài Nhơn (15.089ha), An Lão (5.058ha), Vân
Khu vực Canh (7.924ha) có địa hình đồi gò với độ dốc từ 10 - 150, chủ yếu được hình thành từ đá granít Địa hình đồng bằng ven biển kéo dài theo hướng song song với bờ biển, tạo thành vòng cung ôm lấy vùng trung du và núi phía Tây tỉnh Kiểu địa hình này phổ biến tại các huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước, với tổng diện tích 193.619ha, chiếm 32% diện tích đất toàn tỉnh Khu vực cát ven biển bao gồm các cồn cát, xen lẫn với những hòn đảo nhỏ có sườn dốc, và được tiếp nối bởi các vũng trũng do phù sa từ sông ngòi bồi đắp Dải đồng bằng duyên hải bị chia cắt bởi các nhánh núi đâm ngang ra biển, tạo thành những đoạn tam giác châu thổ nhỏ do các sông từ dãy núi phía trong chảy ra.
Tỉnh Bình Định có tổng diện tích đất, trong đó nhóm đất đỏ vàng chiếm ưu thế với 66,41%, theo sau là nhóm đất xám và bạc màu, cùng với một diện tích đáng kể của đất phù sa.
Bảng 1.1 Phân loại đất tỉnh Bình Định
Tên nhóm đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Nhóm bãi cát, cồn cát và đất cát biển 13.283 2,20
Nhóm đất xám và bạc màu 70.809 11,70
Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi 3.461 0,57
Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá 3.292 0,54
Tổng diện tích tự nhiên 605.058 100
Nguồn: Niêm giám thống kê Bình Định (2013)[14]
Bình Định có khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình cao khoảng 26,7°C và ổn định suốt năm Nhiệt độ thấp nhất thường rơi vào tháng 1 và 2, với mức trung bình từ 23,1 - 23,9°C Số giờ nắng hàng ngày dao động từ 6,0 - 9,3 giờ, đặc biệt vào mùa khô, đạt từ 211 - 245 giờ mỗi tháng Mặc dù không có mùa đông lạnh, Bình Định vẫn chịu ảnh hưởng từ 1 đến 2 đợt gió mùa Đông Bắc hàng năm.
Mùa mưa ở khu vực này diễn ra từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm 80 - 85% tổng lượng mưa hàng năm, với những cơn mưa lớn thường xảy ra vào tháng 10 và 11, gây ra lũ lụt nghiêm trọng ảnh hưởng đến kinh tế và môi trường Các huyện miền núi trải qua mùa mưa sớm hơn, bắt đầu từ tháng 8, với lượng mưa và cường độ lớn hơn so với vùng đồng bằng ven biển Tháng 10 và 11 cũng là thời điểm thường xảy ra giông bão, với tần suất 2 - 3 năm có một trận lũ lớn và khoảng 0,6 trận bão mỗi năm Mùa khô kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8, với lượng mưa chỉ chiếm 15 - 20% tổng lượng mưa hàng năm, và tháng 5 đến tháng 7 là thời kỳ khô hạn nhất.
Hình 1.1 Yếu tố khí hậu tỉnh Bình Định [10]
Điều kiện đất đai và khí hậu thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển, cho phép trồng các loại cây thức ăn gia súc và giống cỏ cao sản So với điều kiện sinh lý của vật nuôi nhiệt đới, môi trường này rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển Tuy nhiên, khí hậu nóng và độ ẩm cao (71 - 83%) tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển, dễ dẫn đến dịch bệnh Thời điểm chuyển giao giữa mùa mưa và mùa khô cũng là thời điểm nhạy cảm, nếu không chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật, gia súc và gia cầm có nguy cơ mắc bệnh cao.
Bình Định là một tỉnh có thành phố loại I là TP Quy Nhơn, cùng với một thị xã An Nhơn Tỉnh này còn có 3 huyện miền núi (An Lão, Vân Canh, Vĩnh Thạnh), 2 huyện trung du (Hoài Ân, Tây Sơn) và 4 huyện đồng bằng (Hoài Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ, Tuy Phước).
Toàn tỉnh có 159 xã, phường và thị trấn Trung tâm hành chính của tỉnh là Thành phố
Dân số tỉnh đang có xu hướng giảm cơ học, theo kết quả điều tra chính thức năm
2014, dân số của tỉnh là 1.506.600 người; trong đó: thành thị 464.700 người chiếm
30,8%, nông thôn 1.041.900 người, chiếm 69,2% tổng dân số
Thảm cỏ tự nhiên ở tỉnh Bình Định, bao gồm cả thảm cỏ dưới tán rừng, thuộc loại đồng cỏ chân đồi và ven suối, phát triển theo mùa Đồng cỏ này chủ yếu là hòa thảo, sinh trưởng trên nền đất xám phù sa cổ và đất đỏ vàng trên đá granit Đặc điểm nổi bật của thảm cỏ tự nhiên tại đây rất đa dạng và phong phú.
Cỏ tự nhiên thường phát triển trên các gò đồi, bờ ruộng, ven kênh mương và trong vườn nhà, bao gồm nhiều loại cỏ hòa thảo như cỏ gà, cỏ chỉ, cỏ ống, cỏ lá tre và cỏ mật, cùng với một lượng nhỏ cỏ họ đậu Chất lượng và thành phần dinh dưỡng của cỏ tự nhiên thay đổi đáng kể, phụ thuộc vào điều kiện thời tiết như mùa khô hay mùa mưa, độ tuổi của cỏ, cũng như vị trí nơi cỏ mọc, chẳng hạn như ở chân ruộng cao hoặc dưới đồng trũng.
Dọc theo các tuyến đường, loại cỏ sả dòng địa phương (Panicum maximum sp) và cỏ ống (Panicum repens) thường xuất hiện bên các kênh mương tưới, tiêu thoát nước Đây là những loại cỏ quý giá có thể được sử dụng làm thức ăn cho bò thịt.
Thảm cỏ dưới tán rừng và trên các trảng đất dốc, nơi thường xuyên chăn thả bò, không thấy sự xuất hiện của các dòng cỏ sả Nguyên nhân chính là do việc chăn thả quá mức, dẫn đến cỏ bị gặm sát, không có đủ thời gian để tái sinh.
Các giống cỏ tự nhiên phát triển sát mặt đất và có khả năng chịu giẫm đạp cũng như gặm sát tại các bãi chăn thả chủ yếu bao gồm cỏ mần trầu (Eleusine indica), cỏ chỉ (Cynodon dactylon) và cỏ mật.
(Melinus minutifora), cỏ gấu (Cyperus rodundus), cỏ lá gừng (Paspalum conjugatum), cỏ Mỹ (Pennisetum polystrachyon), cỏ lá tre (Setaria palmifolis), cỏ dẹp (Setaris cephaselata),…
Tình hình chăn nuôi bò ở nước ta
1.2.1 Số lượng đàn bò và sản lượng thịt bò
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi ở Việt Nam, đặc biệt là chăn nuôi bò thịt, đã trải qua nhiều biến động do thời tiết bất lợi, tình hình thị trường không ổn định, giá thức ăn chăn nuôi dao động và dịch bệnh thường xuyên bùng phát.
Ngành chăn nuôi bò thịt đang có những chuyển biến tích cực và phát triển mạnh mẽ tại nhiều địa phương, mang lại những kết quả đáng ghi nhận.
1.3 cho thấy từ 2007 đến năm 2014 đàn bò của nước ta có tốc độ tăng trưởng âm về số lượng (giảm từ 6,72 xuống còn 5,23 triệu con; tốc độ giảm đàn bình quân 3,84%/năm)
Bảng 1.3 Số lượng đàn bò và sản lượng thịt bò ở Việt Nam qua các năm
Nguồn: Niên giám thống kê (2014) [15]
Nguyên nhân chính dẫn đến sự giảm số lượng đàn bò là do tăng cường cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, khiến số bò phục vụ cày kéo giảm 15,6% so với năm trước Bên cạnh đó, diện tích chăn thả bị thu hẹp và hiệu quả chăn nuôi thấp không khuyến khích người nuôi mở rộng quy mô đàn Thời gian tái đàn chậm cùng với thói quen ăn thịt bê thui của người Việt Nam cũng làm giảm số lượng bê trưởng thành Tuy nhiên, nhờ cải thiện giống, kỹ thuật nuôi dưỡng và phương thức chăn nuôi, sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng hàng năm vẫn liên tục tăng.
(năm 2014 đạt 292,9 ngàn tấn; tăng 4,27% so với năm 2007)
1.2.2 Sự phân bố đàn bò
Phân bố của đàn bò nước ta theo các vùng sinh thái được trình bày ở bảng 1.4
Bảng 1.4 chỉ ra rằng sự phân bố tự nhiên của đàn bò không đồng đều giữa các vùng sinh thái khác nhau Năm 2014, tổng đàn bò cả nước đạt 5,23 triệu con, với sự phân bố rộng rãi trên toàn quốc Tuy nhiên, miền Trung chiếm tỷ lệ cao nhất, với 40,6% tổng đàn, nhờ vào điều kiện tự nhiên thuận lợi cho chăn nuôi bò thịt Khu vực này có tiềm năng lớn để phát triển chăn nuôi bò thịt chất lượng cao với quy mô lớn, đặc biệt tại Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây.
Sản xuất bò thịt đóng vai trò quan trọng trong hệ thống nông nghiệp của các hộ chăn nuôi nhỏ ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, mang lại cơ hội đa dạng hóa nguồn thu nhập và cung cấp phân bón cho trồng trọt.
Bảng 1.4 Sự phân bố đàn bò theo vùng sinh thái năm 2014
Vùng sinh thái Số lượng (nghìn con) Tỷ lệ (%) Đồng bằng sông Hồng 496,3 9,6
Trung du và miền núi phía Bắc 896,6 17,4
Bắc Trung bộ và Duyên hải Miền Trung 2092,6 40,6
Tây Nguyên 662,6 12,8 Đông Nam Bộ 364,0 7 Đồng bằng sông Cửu Long 643,9 12,4
Nguồn: Bộ NN và PTNT (2015)[5]
Quy mô đàn bò trong nông hộ thường nhỏ, khoảng 3 – 4 con mỗi hộ, bao gồm giống bò vàng chăn thả tự do và bò lai chăn thả bán tự do (Parsons và cộng sự, 2013).
Hệ thống sản xuất bò chủ yếu bao gồm chăn thả kết hợp với bổ sung thức ăn và nuôi nhốt hoàn toàn Khoảng 59,4% tổng đàn bò được phân bố trên 5 vùng, trong đó khu vực Trung du và miền núi phía Bắc chiếm 17,4% với 896,6 nghìn con Tây Nguyên, với diện tích đất đai và đồng cỏ phong phú, tập trung 12,8% đàn bò, trong khi đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng lần lượt chiếm 12,4%.
9,6% và Đông Nam Bộ là 7%
1.2.3 Quy mô chăn nuôi bò
Hơn 90% bò thịt tại Việt Nam được chăn nuôi theo quy mô nhỏ, chủ yếu trong các nông hộ và dựa vào phương pháp chăn thả tự nhiên Ở đồng bằng, việc nuôi 1 - 2 con bò là phổ biến để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, tận dụng phế phụ phẩm và lao động phụ, trong khi chỉ một số ít hộ có quy mô từ 10 - 20 con Chăn nuôi bò quy mô vừa chủ yếu tập trung ở miền núi và trung du, đặc biệt là các tỉnh Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên.
Chăn nuôi trang trại tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, với năm 2010 ghi nhận 2.774 trang trại bò sinh sản, chiếm 43,3% tổng số trang trại chăn nuôi bò, cùng với 1.620 trang trại chăn nuôi bò thịt, chiếm 25,3% (Bộ NN và PTNT, 2010).
Các trang trại chăn nuôi bò thịt tập trung chủ yếu ở Đông Nam Bộ: 811 trang trại, chiếm
50,1%; Tây Nguyên: 351 trang trại, chiếm 21,7%; Tây Bắc: 153 trang trại, chiếm 9,4%;
Khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ có 108 trang trại, chiếm 6,7% tổng số trang trại, trong khi Bắc Trung Bộ có 105 trang trại, chiếm 6,5% Các vùng khác cũng có sự hiện diện của trang trại, nhưng số lượng ít hơn Đặc biệt, tỉnh Bình có số lượng trang trại bò thịt nhiều nhất trong khu vực này.
Thuận: 528, Gia Lai: 155, Đắk Lắk: 134 (Bộ NN và PTNT, 2010)
Các trang trại chăn nuôi bò sinh sản phân bố khá đều ở các vùng, Bắc Trung Bộ: 684, chiếm 24,7%; Đồng bằng sông Cửu Long: 591, chiếm 21,7%; Tây Nguyên:
557, chiếm 20,1%; Duyên hải Nam Trung Bộ: 446, chiếm 16,1%; Đồng bằng sông
Hồng: 214, chiếm 7,7%; Đông Nam Bộ: 174, chiếm 6,3%; Đông Bắc: 108, chiếm 3,9%
Quy mô chăn nuôi ở các trang trại bò thịt phổ biến là 50 - 100 con/trang trại với số lượng là 1.269 trang trại, chiếm 78,3%; từ 100 - 150 con/trang trại là 230, chiếm
Theo số liệu từ Bộ NN và PTNT (2010), quy mô chăn nuôi bò thịt tại Việt Nam cho thấy 14,2% trang trại nuôi từ 150 - 200 con, 5,7% từ 200 - 500 con, 1,4% từ 500 con trở lên, và 0,3% có trên 500 con Tây Nguyên là khu vực có quy mô lớn nhất với 11 trang trại nuôi từ 200 - 500 con và 1 trang trại trên 500 con Đông Nam Bộ cũng ghi nhận 5 trang trại từ 200 - 500 con và 3 trang trại trên 500 con Đối với chăn nuôi bò sinh sản, 88,6% trang trại nuôi từ 10 - 20 con, 10,2% từ 20 - 50 con, 1,0% từ 50 - 100 con, và 0,2% có trên 100 con.
Các tiến bộ trong giống, thức ăn, chuồng trại và quy trình kỹ thuật chăm sóc đã nâng cao năng suất và chất lượng trong chăn nuôi bò thịt Tuy nhiên, ngành hàng và quản lý giống bò thịt tại Việt Nam vẫn thiếu hệ thống và chưa được quy củ hóa.
Tính đến năm 2008, đàn bò các giống địa phương chiếm khoảng 70% tổng đàn, tuy nhiên, đàn bò nội có năng suất thịt thấp do tăng trưởng chậm và khối lượng trưởng thành không cao Cụ thể, bò đực chỉ đạt từ 180 - 200 kg, trong khi bò cái dao động từ 150 - 160 kg, dẫn đến tỷ lệ thịt xẻ cũng ở mức thấp.
Theo Đỗ Kim Tuyên (2009), tỷ lệ thịt tinh của bò nội chỉ đạt 32 - 33%, với tăng trọng bình quân từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi chỉ 190 - 220 gam/ngày (Đinh Văn Cải, 2007a) Khối lượng sống thấp khiến sản lượng thịt tinh chỉ đạt 50 - 60 kg/con Trong khi đó, đàn bò lai chiếm trên 30% cả nước, chủ yếu là lai Zêbu (Sind, Sahiwal, Brahman), có tốc độ tăng trọng và sinh trưởng nhanh hơn, khối lượng trưởng thành đạt 230 - 270 kg và tỷ lệ thịt xẻ từ 49 - 50%, đã thích nghi tốt với điều kiện sinh thái.
Việt Nam và làm phong phú nguồn gen của bò thịt trong nước (Đỗ Kim Tuyên,
Vai trò của chăn nuôi bò sinh sản trong hệ thống chăn nuôi của nông hộ
Chăn nuôi bò sinh sản là bước khởi đầu quan trọng trong hệ thống chăn nuôi bò, đóng vai trò quyết định trong việc gia tăng số lượng, năng suất và chất lượng đàn bò Phát triển chăn nuôi bò cần hướng tới sự biến đổi cơ cấu đàn và giá trị sản phẩm một cách hiệu quả và bền vững Do đó, việc phát triển chăn nuôi bò cần thực hiện đồng bộ nhiều nội dung khác nhau, trong đó chăn nuôi bò cái và bê là những yếu tố chủ yếu.
Để tăng quy mô tổng đàn bò trong vùng, cần tập trung vào việc nhân giống, mua thêm con giống và mở rộng diện tích chăn thả Việc áp dụng các hình thức tổ chức chăn nuôi phù hợp với điều kiện của hộ và vùng cũng rất quan trọng Trong số các biện pháp, chăn nuôi bò sinh sản được coi là giải pháp bền vững nhất cho sự phát triển của ngành chăn nuôi bò.
Tăng cường năng suất và chất lượng đàn bò bằng cách cải tạo đàn bò vàng thông qua việc áp dụng giống mới có kích thước lớn, trọng lượng cao và tỷ lệ thịt xẻ cao Giống bò này cần có khả năng chống chịu bệnh tật tốt và thích nghi với điều kiện chăn thả của từng vùng Đồng thời, việc chăn nuôi bò cái nền và bê chất lượng là rất quan trọng để đảm bảo cơ cấu đàn bò phù hợp cho quá trình tái sản xuất.
Trong chăn nuôi bò thịt, sự phát triển về số lượng và chất lượng có mối quan hệ chặt chẽ, với chất lượng cao là yếu tố thúc đẩy sự gia tăng số lượng đàn bò Những giống bò thịt có năng suất cao và khả năng chống chịu tốt, cùng với tổ chức chăn nuôi hợp lý, là cơ sở để mở rộng quy mô đàn bò và nâng cao sản lượng Việc tăng quy mô đàn bò thịt và sản lượng là điều kiện then chốt để đạt hiệu quả cao trong chăn nuôi.
Tổng đàn bò tại Việt Nam đã tăng từ 3,9 triệu con năm 2001 lên 5,23 triệu con vào năm 2014, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 2,36% mỗi năm, trong đó sự đóng góp đáng kể đến từ đàn cái nền.
Từ năm 2001 đến 2014, tổng sản lượng thịt bò hơi đã tăng từ 97,7 ngàn tấn lên 292,9 ngàn tấn, với mức tăng trưởng bình quân 9,34% mỗi năm Sự gia tăng này là kết quả của các chương trình cải tạo đàn bò theo hướng Zebu, nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt bò Việc áp dụng giống bò mới có tầm vóc lớn, trọng lượng nặng và tỷ lệ thịt xẻ cao, cùng khả năng chống chịu bệnh tật tốt, đã giúp bò thích nghi tốt với các điều kiện chăn thả khác nhau.
Trong cơ cấu đàn bò nuôi tại các nông hộ, tỷ lệ bò cái sinh sản thường chiếm từ 20-50% tổng số bò, cho thấy vai trò quan trọng của chúng trong chăn nuôi.
Nuôi bò sinh sản đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chăn nuôi của các nông hộ, được coi là “1 vốn bốn lời” bởi những lợi ích kinh tế mà nó mang lại Nhiều hộ gia đình đã nhanh chóng thoát nghèo nhờ vào việc chăn nuôi bò sinh sản, như trường hợp ở xã Phổ Hòa, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, nơi nhiều hộ đã cải thiện đời sống nhờ vào mô hình này.
Chủ tịch hội nông dân xã Phổ Hòa, ông Thanh, cho biết toàn xã hiện có 1.900 con bò, trong đó bò lai sinh sản chiếm khoảng 70% Hơn 75% hộ dân trong xã tham gia chăn nuôi bò, nhiều hộ nuôi bò cái sinh sản Nhờ giá bán bò ổn định và cao, hầu hết người chăn nuôi đều có lãi, với thu nhập trung bình từ 30-40 triệu đồng/hộ/năm, và nhiều hộ có thu nhập trên 100 triệu đồng/năm, góp phần giúp nhiều hộ thoát nghèo.
Chăn nuôi bò sinh sản là một hướng đi đúng và có thật sự hiệu quả Năm 2014 xã Phổ
Hòa đã thành lập Tổ hợp tác chăn nuôi bò với sự tham gia của 30 nông dân, tạo điều kiện cho việc trao đổi kinh nghiệm và nâng cao hiệu quả mua bán bò Trong thời gian tới, xã Phổ Hòa sẽ tiếp tục khuyến khích người dân mở rộng quy mô chăn nuôi và phối hợp với các ngành chức năng để tổ chức lớp tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
Đặc điểm sinh sản của bò cái
1.4.1 Các chỉ tiêu chính đánh giá sinh sản ở bò cái
Tuổi đẻ lứa đầu của bò tơ bị ảnh hưởng bởi giống, chế độ nuôi dưỡng và quản lý Giống bò Brahman có tuổi thành thục sinh dục muộn hơn so với bò Vàng Bê được nuôi dưỡng tốt sẽ đạt khối lượng lớn hơn và thành thục sinh dục sớm hơn, trong khi bê nuôi dưỡng kém thường thành thục muộn hơn Quản lý tốt giúp không bỏ lỡ chu kỳ động dục lần đầu, với dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất Bò tơ được nuôi dưỡng và quản lý tốt có thể phối giống ở tuổi 16 - 17 tháng, dẫn đến việc đẻ lứa đầu sớm nhất vào khoảng 25 - 27 tháng tuổi Ở vùng nóng, bò tơ nuôi dưỡng kém thường có thời gian phối giống lần đầu muộn hơn.
Tuổi phối giống lần đầu cho bò cái chủ yếu phụ thuộc vào khối lượng cơ thể thay vì tháng tuổi Bò tơ nên được phối giống lần đầu khi đạt từ 65% đến 70% khối lượng trưởng thành.
Thí dụ bò lai Sind khối lượng trưởng thành 250kg thì phối giống lần đầu cho bò cái tơ lai Sind khi đạt khối lượng 180kg
Trong nghiên cứu, chỉ tiêu tuổi và khối lượng bò tơ khi lên giống lần đầu được sử dụng để đánh giá Tuy nhiên, thực tế sản xuất cho thấy số liệu thường không chính xác do phụ thuộc vào khả năng phát hiện và ghi nhận thời điểm lên giống lần đầu của gia súc.
Khoảng cách lứa đẻ là thời gian giữa hai lần đẻ thành công, được chia thành hai giai đoạn Giai đoạn đầu là từ khi sinh bê đến khi đậu thai lại, gọi là giai đoạn "mở" hay giai đoạn chờ phối đậu Giai đoạn thứ hai là thời gian mang thai, thường kéo dài từ 278 đến 285 ngày hoặc hơn, tùy thuộc vào giống Nếu khoảng cách lứa đẻ kéo dài, thường là do vấn đề ở giai đoạn mở.
Một bò cái sinh sản tốt thì khoảng cách lứa đẻ nhỏ hơn hoặc bằng 12 tháng
Khoảng cách lứa đẻ trung bình của đàn được xác định từ khoảng cách lứa đẻ của từng cá thể Một đàn sinh sản đạt hiệu quả cao thường có khoảng cách lứa đẻ trung bình dưới 13 tháng.
Một đàn sinh sản tốt là yếu tố quyết định để đạt hiệu quả kinh tế tối ưu, với việc sinh ra nhiều bê hơn Điều này tạo cơ hội cho việc chọn lọc và giữ lại những con giống tốt, thay thế cho những con chất lượng kém Tuy nhiên, việc duy trì khả năng sinh sản cao không phải dễ dàng, do nhiều vấn đề sinh sản dẫn đến tỷ lệ đậu thai thấp, kéo dài khoảng cách lứa đẻ Do đó, quản lý tốt để phát hiện kịp thời bò cái chậm lên giống, cũng như nhận diện và phối giống đúng thời điểm cho bò cái, là những công việc quan trọng giúp rút ngắn khoảng cách lứa đẻ.
1.4.1.3 Phối giống lần đầu sau khi đẻ
Bò cái khỏe mạnh thường sẽ động dục trở lại sau 40 ngày sau khi sinh, ngay cả khi đang cho con bú Tuy nhiên, có thể xảy ra động dục lần đầu sớm hơn, khoảng 24 ngày sau khi đẻ, nhưng dấu hiệu động dục lần đầu thường khó phát hiện do yếu tố này.
Sau 40 ngày sau khi đẻ, chu kỳ động dục của bò cái sẽ xuất hiện rõ ràng sau 21 ngày Để đạt khoảng cách lứa đẻ 365 ngày, cần chủ động phát hiện bò cái lên giống và tiến hành phối giống lại Thông thường, bò khỏe mạnh có thể phối giống lại sau 40 ngày sau khi đẻ, nhưng nếu phối giống quá sớm, tỷ lệ đậu thai sẽ thấp.
Phối giống cho bò sau khi đẻ 50 ngày giúp tăng tỷ lệ đậu thai Theo kinh nghiệm thực tế, bò trong trạng thái bình thường và đang nuôi con nên được phối giống sau khoảng 50-60 ngày sau khi sinh.
Phối giống trực tiếp cũng áp dụng tương tự.`
1.4.1.4 Khoảng cách giữa hai lần động dục
Khoảng cách giữa hai lần động dục bình thường ở bò là 21 ngày, với dao động từ 18 đến 24 ngày Nếu bò không đậu thai sau khi phối giống, nó sẽ động dục lại sau 21 ngày Khi khoảng cách giữa hai lần động dục là 6 hoặc 9 tuần, điều này có thể cho thấy đã bỏ lỡ một hoặc hai chu kỳ động dục Thực tế, nhiều trường hợp bò không động dục thường do dấu hiệu động dục ngắn và yếu mà người quản lý không nhận ra Nếu khoảng cách động dục kéo dài và không theo quy luật như 30, 50 hoặc 90 ngày, có thể là dấu hiệu của việc chết phôi.
1.4.2 Các nguyên nhân gây ra tỷ lệ sinh sản thấp
1.4.2.1 Phát hiện động dục kém
Trong những đàn bò sử dụng phương pháp phối giống tự nhiên không kiểm soát, việc phát hiện bò cái lên giống và thời điểm phối giống phụ thuộc vào bò đực thả chung đàn Ngược lại, ở những đàn áp dụng kỹ thuật gieo tinh nhân tạo hoặc dắt bò cái đến bò đực, công việc này do người quản lý và kỹ thuật viên đảm nhiệm Đây là bước đầu tiên quyết định thành tích sinh sản của gia súc.
Phát hiện bò động dục nên được thực hiện ít nhất ba lần mỗi ngày: vào buổi sáng trước khi thả bò, buổi chiều khi bò trở về chuồng và vào khoảng 10 giờ tối Ở các nước nhiệt đới như Việt Nam, do khí hậu nóng và thời gian động dục ngắn hơn, dấu hiệu động dục thường không rõ ràng, vì vậy cần tăng số lần và thời gian phát hiện động dục để đảm bảo hiệu quả.
Bò thường có dấu hiệu động dục rõ rệt hơn vào thời điểm mát mẻ trong ngày, trong khi vào buổi trưa, khi nhiệt độ đạt đỉnh, dấu hiệu này lại yếu hơn.
Trong quá trình phối giống có kiểm soát, việc phát hiện động dục không hiệu quả có thể dẫn đến việc bỏ lỡ nhiều lần động dục, kéo dài khoảng cách giữa các lứa đẻ Nếu khoảng cách giữa các lần động dục hoặc giữa hai lần phối giống là 42 hoặc 63 ngày, điều này cho thấy có thể đã bỏ lỡ một hoặc hai chu kỳ động dục Để tránh tình trạng này, cần nắm rõ các biểu hiện của bò cái khi động dục.
1.4.2.2 Phối giống cho bò không đúng thời điểm
Thời điểm lý tưởng để phối giống hoặc gieo tinh là từ nửa sau của chu kỳ động dục cho đến khoảng 8 giờ sau khi bò cái ngừng chịu đực Việc kiểm tra thường xuyên là cần thiết để xác định thời điểm bò bắt đầu động dục Nếu bò động dục vào sáng sớm, có thể tiến hành phối giống vào buổi chiều cùng ngày Thời gian phối giống nên diễn ra trong khoảng cuối chu kỳ động dục hoặc trong vòng 6 - 8 giờ sau khi kết thúc giai đoạn động dục.