1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nông nghiệp: Đánh giá hiện trạng chăn nuôi bò sinh sản và ảnh hưởng của bổ sung thức ăn tinh cho bò mẹ sau khi đẻ đến một số chỉ tiêu sinh sản của bò

78 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiện trạng chăn nuôi bò sinh sản và ảnh hưởng của bổ sung thức ăn tinh cho bò mẹ sau khi đẻ đến một số chỉ tiêu sinh sản của bò
Tác giả Phạm Hồng Sơn
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Xuân Bả
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Huế
Chuyên ngành Khoa học Nông nghiệp
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (10)
    • 1.1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu (10)
      • 1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở tỉnh Bình Định (10)
      • 1.1.2. Tình hình chăn nuôi bò ở tỉnh Bình Định (14)
      • 1.1.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình chăn nuôi bò ở xã Tây Giang, tỉnh Bình Định (17)
    • 1.2. Tình hình chăn nuôi bò ở nước ta (20)
      • 1.2.1. Số lượng đàn bò và sản lượng thịt bò (20)
      • 1.2.2. Sự phân bố đàn bò (21)
      • 1.2.3. Quy mô chăn nuôi bò (22)
      • 1.2.4. Chất lượng đàn bò (23)
      • 1.2.5. Những khó khăn, thách thức và cơ hội phát triển trong chăn nuôi bò thịt ở Việt (23)
      • 1.2.6. Định hướng phát triển chăn nuôi bò thịt trong thời gian tới (25)
    • 1.3. Vai trò của chăn nuôi bò sinh sản trong hệ thống chăn nuôi của nông hộ (26)
    • 1.4. Đặc điểm sinh sản của bò cái (27)
      • 1.4.1. Các chỉ tiêu chính đánh giá sinh sản ở bò cái (27)
      • 1.4.2. Các nguyên nhân gây ra tỷ lệ sinh sản thấp (29)
      • 1.4.3. Vai trò của dinh dưỡng đối với bò cái sinh sản (31)
      • 1.4.4. Một số nghiên cứu về kỹ thuật tác động dinh dưỡng để nâng cao năng suất bò (35)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (39)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (39)
      • 2.2.1. Thời gian nghiên cứu (0)
      • 2.2.2. Địa điểm nghiên cứu (39)
    • 2.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu (39)
      • 2.3.1. Điều tra cơ bản hệ thống chăn nuôi bò sinh sản (39)
      • 2.3.2. Khảo sát khả năng sinh sản của đàn bò cái và sinh trưởng của bê từ 0- 6 tháng tuổi trong nông hộ ở xã Tây Giang, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định (40)
      • 2.3.3. Thử nghiệm bổ sung thức ăn tinh cho bò cái giai đoạn sau khi đẻ trong điều kiện nông hộ ở xã Tây Giang, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định (41)
    • 2.4. Xử lý số liệu (43)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (44)
    • 3.1. Hiện trạng chăn nuôi bò sinh sản trong nông hộ ở Tây Giang, tỉnh Bình Định (44)
      • 3.1.1. Đặc điểm nhân khẩu và diện tích đất ở các nông hộ khảo sát (44)
      • 3.1.2. Quy mô và cơ cấu tuổi, giống của đàn bò (45)
      • 3.1.3. Quản lý, chăm sóc, phương thức nuôi dưỡng và kinh nghiệm chăn nuôi bò cái (46)
      • 3.1.4. Loại và lượng thức ăn cho bò sinh sản trước và sau khi đẻ (48)
    • 3.2. Đặc điểm sinh sản của đàn bò cái nuôi trong điều kiện nông hộ (51)
      • 3.2.1. Thể trạng ở đàn bò cái sinh sản (51)
      • 3.2.2. Năng suất sinh sản của đàn bò cái (52)
    • 3.3. Diễn biến khối lượng của bê từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi và tuổi bán bê (54)
    • 3.4. Kết quả thử nghiệm bổ sung thức ăn tinh cho bò cái sau đẻ (56)
      • 3.4.1. Ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh cho mẹ sau khi đẻ đến lượng thức ăn ăn vào của bò mẹ (56)
      • 3.4.2. Ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh cho mẹ sau khi đẻ đến khối lượng và điểm thể trạng của bò mẹ (57)
      • 3.4.3. Ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh cho mẹ sau khi đẻ đến khối lượng và tăng khối lượng ở bê (58)
      • 3.4.4. Ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh cho mẹ sau khi đẻ đến thời gian động dục lại sau đẻ của bò mẹ (60)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (64)
    • Hinh 3.5. Khoảng cách lứa đẻ của bò cái (0)
    • Hinh 3.7. Khối lượng bê (trung bình và độ lệch chuẩn) qua các ngày tuổi (0)

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nâng cao năng suất và hiệu quả của chăn nuôi bò sinh sản trong nông hộ một cách bền vững, đáp ứng nhu cầu thị trường bò thịt ở Việt Nam và cải thiện đời sống của người dân thông qua tăng lợi nhuận từ chăn nuôi bò.

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tổng quan địa bàn nghiên cứu

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở tỉnh Bình Định

Tỉnh Bình Định có tọa độ địa lý từ 103° 36’30” đến 109° 18’15” kinh độ Đông và từ 13° 30’45” đến 14° 42’15” vĩ độ Bắc Tỉnh nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn, giáp tỉnh Quảng Ngãi ở phía Bắc, tỉnh Phú Yên ở phía Nam, tỉnh Gia Lai ở phía Tây, và phía Đông giáp biển Đông.

Hệ thống giao thông tại Bình Định bao gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế và xã hội Tỉnh Bình Định nằm trong quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, giúp tăng cường giao lưu trong nước và quốc tế Nhờ vào hệ thống giao thông này, sản phẩm chăn nuôi của Bình Định dễ dàng tiêu thụ tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có nhu cầu tiêu thụ thực phẩm cao.

Vùng núi trung bình và núi thấp của tỉnh có diện tích 254.124ha, chiếm 42% tổng diện tích tự nhiên, được phân bổ chủ yếu tại các huyện Vân Canh với 75.932ha và Vĩnh Thạnh với 78.249ha.

An Lão có diện tích 63.367ha, trong khi Tây Sơn và Hoài Ân tổng cộng có 36.576ha Khu vực này nằm ở độ cao trên 500m so với mực nước biển, với phần lớn sườn núi dốc hơn 200 độ Địa hình chủ yếu là đồi gò và bát úp ở trung du, chiếm 26% diện tích tự nhiên, tương đương 157.315ha, phân bố tại các huyện Tây Sơn (39.500ha), Hoài Ân (35.900ha) và Phù.

Cát (19.150ha), Phù Mỹ (16.200), Hoài Nhơn (15.089ha), An Lão (5.058ha), Vân

Khu vực Canh (7.924ha) có địa hình đồi gò với độ dốc từ 10 - 150, chủ yếu được hình thành từ đá granít Địa hình đồng bằng ven biển kéo dài theo hướng song song với bờ biển, tạo thành vòng cung ôm lấy vùng trung du và núi phía Tây tỉnh Kiểu địa hình này phổ biến tại các huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước, với tổng diện tích 193.619ha, chiếm 32% diện tích đất toàn tỉnh Khu vực cát ven biển bao gồm các cồn cát, xen lẫn với những hòn đảo nhỏ có sườn dốc, và được tiếp nối bởi các vũng trũng do phù sa từ sông ngòi bồi đắp Dải đồng bằng duyên hải bị chia cắt bởi các nhánh núi đâm ngang ra biển, tạo thành những đoạn tam giác châu thổ nhỏ do các sông từ dãy núi phía trong chảy ra.

Tỉnh Bình Định có tổng diện tích đất, trong đó nhóm đất đỏ vàng chiếm ưu thế với 66,41%, theo sau là nhóm đất xám và bạc màu, cùng với một diện tích đáng kể của đất phù sa.

Bảng 1.1 Phân loại đất tỉnh Bình Định

Tên nhóm đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)

Nhóm bãi cát, cồn cát và đất cát biển 13.283 2,20

Nhóm đất xám và bạc màu 70.809 11,70

Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi 3.461 0,57

Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá 3.292 0,54

Tổng diện tích tự nhiên 605.058 100

Nguồn: Niêm giám thống kê Bình Định (2013)[14]

Bình Định có khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình cao khoảng 26,7°C và ổn định suốt năm Nhiệt độ thấp nhất thường rơi vào tháng 1 và 2, với mức trung bình từ 23,1 - 23,9°C Số giờ nắng hàng ngày dao động từ 6,0 - 9,3 giờ, đặc biệt vào mùa khô, đạt từ 211 - 245 giờ mỗi tháng Mặc dù không có mùa đông lạnh, Bình Định vẫn chịu ảnh hưởng từ 1 đến 2 đợt gió mùa Đông Bắc hàng năm.

Mùa mưa ở khu vực này diễn ra từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm 80 - 85% tổng lượng mưa hàng năm, với những cơn mưa lớn thường xảy ra vào tháng 10 và 11, gây ra lũ lụt nghiêm trọng ảnh hưởng đến kinh tế và môi trường Các huyện miền núi trải qua mùa mưa sớm hơn, bắt đầu từ tháng 8, với lượng mưa và cường độ lớn hơn so với vùng đồng bằng ven biển Tháng 10 và 11 cũng là thời điểm thường xảy ra giông bão, với tần suất 2 - 3 năm có một trận lũ lớn và khoảng 0,6 trận bão mỗi năm Mùa khô kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8, với lượng mưa chỉ chiếm 15 - 20% tổng lượng mưa hàng năm, và tháng 5 đến tháng 7 là thời kỳ khô hạn nhất.

Hình 1.1 Yếu tố khí hậu tỉnh Bình Định [10]

Điều kiện đất đai và khí hậu thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển, cho phép trồng các loại cây thức ăn gia súc và giống cỏ cao sản So với điều kiện sinh lý của vật nuôi nhiệt đới, môi trường này rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển Tuy nhiên, khí hậu nóng và độ ẩm cao (71 - 83%) tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển, dễ dẫn đến dịch bệnh Thời điểm chuyển giao giữa mùa mưa và mùa khô cũng là thời điểm nhạy cảm, nếu không chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật, gia súc và gia cầm có nguy cơ mắc bệnh cao.

Bình Định là một tỉnh có thành phố loại I là TP Quy Nhơn, cùng với một thị xã An Nhơn Tỉnh này còn có 3 huyện miền núi (An Lão, Vân Canh, Vĩnh Thạnh), 2 huyện trung du (Hoài Ân, Tây Sơn) và 4 huyện đồng bằng (Hoài Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ, Tuy Phước).

Toàn tỉnh có 159 xã, phường và thị trấn Trung tâm hành chính của tỉnh là Thành phố

Dân số tỉnh đang có xu hướng giảm cơ học, theo kết quả điều tra chính thức năm

2014, dân số của tỉnh là 1.506.600 người; trong đó: thành thị 464.700 người chiếm

30,8%, nông thôn 1.041.900 người, chiếm 69,2% tổng dân số

Thảm cỏ tự nhiên ở tỉnh Bình Định, bao gồm cả thảm cỏ dưới tán rừng, thuộc loại đồng cỏ chân đồi và ven suối, phát triển theo mùa Đồng cỏ này chủ yếu là hòa thảo, sinh trưởng trên nền đất xám phù sa cổ và đất đỏ vàng trên đá granit Đặc điểm nổi bật của thảm cỏ tự nhiên tại đây rất đa dạng và phong phú.

Cỏ tự nhiên thường phát triển trên các gò đồi, bờ ruộng, ven kênh mương và trong vườn nhà, bao gồm nhiều loại cỏ hòa thảo như cỏ gà, cỏ chỉ, cỏ ống, cỏ lá tre và cỏ mật, cùng với một lượng nhỏ cỏ họ đậu Chất lượng và thành phần dinh dưỡng của cỏ tự nhiên thay đổi đáng kể, phụ thuộc vào điều kiện thời tiết như mùa khô hay mùa mưa, độ tuổi của cỏ, cũng như vị trí nơi cỏ mọc, chẳng hạn như ở chân ruộng cao hoặc dưới đồng trũng.

Dọc theo các tuyến đường, loại cỏ sả dòng địa phương (Panicum maximum sp) và cỏ ống (Panicum repens) thường xuất hiện bên các kênh mương tưới, tiêu thoát nước Đây là những loại cỏ quý giá có thể được sử dụng làm thức ăn cho bò thịt.

Thảm cỏ dưới tán rừng và trên các trảng đất dốc, nơi thường xuyên chăn thả bò, không thấy sự xuất hiện của các dòng cỏ sả Nguyên nhân chính là do việc chăn thả quá mức, dẫn đến cỏ bị gặm sát, không có đủ thời gian để tái sinh.

Các giống cỏ tự nhiên phát triển sát mặt đất và có khả năng chịu giẫm đạp cũng như gặm sát tại các bãi chăn thả chủ yếu bao gồm cỏ mần trầu (Eleusine indica), cỏ chỉ (Cynodon dactylon) và cỏ mật.

(Melinus minutifora), cỏ gấu (Cyperus rodundus), cỏ lá gừng (Paspalum conjugatum), cỏ Mỹ (Pennisetum polystrachyon), cỏ lá tre (Setaria palmifolis), cỏ dẹp (Setaris cephaselata),…

Tình hình chăn nuôi bò ở nước ta

1.2.1 Số lượng đàn bò và sản lượng thịt bò

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi ở Việt Nam, đặc biệt là chăn nuôi bò thịt, đã trải qua nhiều biến động do thời tiết bất lợi, tình hình thị trường không ổn định, giá thức ăn chăn nuôi dao động và dịch bệnh thường xuyên bùng phát.

Ngành chăn nuôi bò thịt đang có những chuyển biến tích cực và phát triển mạnh mẽ tại nhiều địa phương, mang lại những kết quả đáng ghi nhận.

1.3 cho thấy từ 2007 đến năm 2014 đàn bò của nước ta có tốc độ tăng trưởng âm về số lượng (giảm từ 6,72 xuống còn 5,23 triệu con; tốc độ giảm đàn bình quân 3,84%/năm)

Bảng 1.3 Số lượng đàn bò và sản lượng thịt bò ở Việt Nam qua các năm

Nguồn: Niên giám thống kê (2014) [15]

Nguyên nhân chính dẫn đến sự giảm số lượng đàn bò là do tăng cường cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, khiến số bò phục vụ cày kéo giảm 15,6% so với năm trước Bên cạnh đó, diện tích chăn thả bị thu hẹp và hiệu quả chăn nuôi thấp không khuyến khích người nuôi mở rộng quy mô đàn Thời gian tái đàn chậm cùng với thói quen ăn thịt bê thui của người Việt Nam cũng làm giảm số lượng bê trưởng thành Tuy nhiên, nhờ cải thiện giống, kỹ thuật nuôi dưỡng và phương thức chăn nuôi, sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng hàng năm vẫn liên tục tăng.

(năm 2014 đạt 292,9 ngàn tấn; tăng 4,27% so với năm 2007)

1.2.2 Sự phân bố đàn bò

Phân bố của đàn bò nước ta theo các vùng sinh thái được trình bày ở bảng 1.4

Bảng 1.4 chỉ ra rằng sự phân bố tự nhiên của đàn bò không đồng đều giữa các vùng sinh thái khác nhau Năm 2014, tổng đàn bò cả nước đạt 5,23 triệu con, với sự phân bố rộng rãi trên toàn quốc Tuy nhiên, miền Trung chiếm tỷ lệ cao nhất, với 40,6% tổng đàn, nhờ vào điều kiện tự nhiên thuận lợi cho chăn nuôi bò thịt Khu vực này có tiềm năng lớn để phát triển chăn nuôi bò thịt chất lượng cao với quy mô lớn, đặc biệt tại Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây.

Sản xuất bò thịt đóng vai trò quan trọng trong hệ thống nông nghiệp của các hộ chăn nuôi nhỏ ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, mang lại cơ hội đa dạng hóa nguồn thu nhập và cung cấp phân bón cho trồng trọt.

Bảng 1.4 Sự phân bố đàn bò theo vùng sinh thái năm 2014

Vùng sinh thái Số lượng (nghìn con) Tỷ lệ (%) Đồng bằng sông Hồng 496,3 9,6

Trung du và miền núi phía Bắc 896,6 17,4

Bắc Trung bộ và Duyên hải Miền Trung 2092,6 40,6

Tây Nguyên 662,6 12,8 Đông Nam Bộ 364,0 7 Đồng bằng sông Cửu Long 643,9 12,4

Nguồn: Bộ NN và PTNT (2015)[5]

Quy mô đàn bò trong nông hộ thường nhỏ, khoảng 3 – 4 con mỗi hộ, bao gồm giống bò vàng chăn thả tự do và bò lai chăn thả bán tự do (Parsons và cộng sự, 2013).

Hệ thống sản xuất bò chủ yếu bao gồm chăn thả kết hợp với bổ sung thức ăn và nuôi nhốt hoàn toàn Khoảng 59,4% tổng đàn bò được phân bố trên 5 vùng, trong đó khu vực Trung du và miền núi phía Bắc chiếm 17,4% với 896,6 nghìn con Tây Nguyên, với diện tích đất đai và đồng cỏ phong phú, tập trung 12,8% đàn bò, trong khi đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng lần lượt chiếm 12,4%.

9,6% và Đông Nam Bộ là 7%

1.2.3 Quy mô chăn nuôi bò

Hơn 90% bò thịt tại Việt Nam được chăn nuôi theo quy mô nhỏ, chủ yếu trong các nông hộ và dựa vào phương pháp chăn thả tự nhiên Ở đồng bằng, việc nuôi 1 - 2 con bò là phổ biến để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, tận dụng phế phụ phẩm và lao động phụ, trong khi chỉ một số ít hộ có quy mô từ 10 - 20 con Chăn nuôi bò quy mô vừa chủ yếu tập trung ở miền núi và trung du, đặc biệt là các tỉnh Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên.

Chăn nuôi trang trại tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, với năm 2010 ghi nhận 2.774 trang trại bò sinh sản, chiếm 43,3% tổng số trang trại chăn nuôi bò, cùng với 1.620 trang trại chăn nuôi bò thịt, chiếm 25,3% (Bộ NN và PTNT, 2010).

Các trang trại chăn nuôi bò thịt tập trung chủ yếu ở Đông Nam Bộ: 811 trang trại, chiếm

50,1%; Tây Nguyên: 351 trang trại, chiếm 21,7%; Tây Bắc: 153 trang trại, chiếm 9,4%;

Khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ có 108 trang trại, chiếm 6,7% tổng số trang trại, trong khi Bắc Trung Bộ có 105 trang trại, chiếm 6,5% Các vùng khác cũng có sự hiện diện của trang trại, nhưng số lượng ít hơn Đặc biệt, tỉnh Bình có số lượng trang trại bò thịt nhiều nhất trong khu vực này.

Thuận: 528, Gia Lai: 155, Đắk Lắk: 134 (Bộ NN và PTNT, 2010)

Các trang trại chăn nuôi bò sinh sản phân bố khá đều ở các vùng, Bắc Trung Bộ: 684, chiếm 24,7%; Đồng bằng sông Cửu Long: 591, chiếm 21,7%; Tây Nguyên:

557, chiếm 20,1%; Duyên hải Nam Trung Bộ: 446, chiếm 16,1%; Đồng bằng sông

Hồng: 214, chiếm 7,7%; Đông Nam Bộ: 174, chiếm 6,3%; Đông Bắc: 108, chiếm 3,9%

Quy mô chăn nuôi ở các trang trại bò thịt phổ biến là 50 - 100 con/trang trại với số lượng là 1.269 trang trại, chiếm 78,3%; từ 100 - 150 con/trang trại là 230, chiếm

Theo số liệu từ Bộ NN và PTNT (2010), quy mô chăn nuôi bò thịt tại Việt Nam cho thấy 14,2% trang trại nuôi từ 150 - 200 con, 5,7% từ 200 - 500 con, 1,4% từ 500 con trở lên, và 0,3% có trên 500 con Tây Nguyên là khu vực có quy mô lớn nhất với 11 trang trại nuôi từ 200 - 500 con và 1 trang trại trên 500 con Đông Nam Bộ cũng ghi nhận 5 trang trại từ 200 - 500 con và 3 trang trại trên 500 con Đối với chăn nuôi bò sinh sản, 88,6% trang trại nuôi từ 10 - 20 con, 10,2% từ 20 - 50 con, 1,0% từ 50 - 100 con, và 0,2% có trên 100 con.

Các tiến bộ trong giống, thức ăn, chuồng trại và quy trình kỹ thuật chăm sóc đã nâng cao năng suất và chất lượng trong chăn nuôi bò thịt Tuy nhiên, ngành hàng và quản lý giống bò thịt tại Việt Nam vẫn thiếu hệ thống và chưa được quy củ hóa.

Tính đến năm 2008, đàn bò các giống địa phương chiếm khoảng 70% tổng đàn, tuy nhiên, đàn bò nội có năng suất thịt thấp do tăng trưởng chậm và khối lượng trưởng thành không cao Cụ thể, bò đực chỉ đạt từ 180 - 200 kg, trong khi bò cái dao động từ 150 - 160 kg, dẫn đến tỷ lệ thịt xẻ cũng ở mức thấp.

Theo Đỗ Kim Tuyên (2009), tỷ lệ thịt tinh của bò nội chỉ đạt 32 - 33%, với tăng trọng bình quân từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi chỉ 190 - 220 gam/ngày (Đinh Văn Cải, 2007a) Khối lượng sống thấp khiến sản lượng thịt tinh chỉ đạt 50 - 60 kg/con Trong khi đó, đàn bò lai chiếm trên 30% cả nước, chủ yếu là lai Zêbu (Sind, Sahiwal, Brahman), có tốc độ tăng trọng và sinh trưởng nhanh hơn, khối lượng trưởng thành đạt 230 - 270 kg và tỷ lệ thịt xẻ từ 49 - 50%, đã thích nghi tốt với điều kiện sinh thái.

Việt Nam và làm phong phú nguồn gen của bò thịt trong nước (Đỗ Kim Tuyên,

Vai trò của chăn nuôi bò sinh sản trong hệ thống chăn nuôi của nông hộ

Chăn nuôi bò sinh sản là bước khởi đầu quan trọng trong hệ thống chăn nuôi bò, đóng vai trò quyết định trong việc gia tăng số lượng, năng suất và chất lượng đàn bò Phát triển chăn nuôi bò cần hướng tới sự biến đổi cơ cấu đàn và giá trị sản phẩm một cách hiệu quả và bền vững Do đó, việc phát triển chăn nuôi bò cần thực hiện đồng bộ nhiều nội dung khác nhau, trong đó chăn nuôi bò cái và bê là những yếu tố chủ yếu.

Để tăng quy mô tổng đàn bò trong vùng, cần tập trung vào việc nhân giống, mua thêm con giống và mở rộng diện tích chăn thả Việc áp dụng các hình thức tổ chức chăn nuôi phù hợp với điều kiện của hộ và vùng cũng rất quan trọng Trong số các biện pháp, chăn nuôi bò sinh sản được coi là giải pháp bền vững nhất cho sự phát triển của ngành chăn nuôi bò.

Tăng cường năng suất và chất lượng đàn bò bằng cách cải tạo đàn bò vàng thông qua việc áp dụng giống mới có kích thước lớn, trọng lượng cao và tỷ lệ thịt xẻ cao Giống bò này cần có khả năng chống chịu bệnh tật tốt và thích nghi với điều kiện chăn thả của từng vùng Đồng thời, việc chăn nuôi bò cái nền và bê chất lượng là rất quan trọng để đảm bảo cơ cấu đàn bò phù hợp cho quá trình tái sản xuất.

Trong chăn nuôi bò thịt, sự phát triển về số lượng và chất lượng có mối quan hệ chặt chẽ, với chất lượng cao là yếu tố thúc đẩy sự gia tăng số lượng đàn bò Những giống bò thịt có năng suất cao và khả năng chống chịu tốt, cùng với tổ chức chăn nuôi hợp lý, là cơ sở để mở rộng quy mô đàn bò và nâng cao sản lượng Việc tăng quy mô đàn bò thịt và sản lượng là điều kiện then chốt để đạt hiệu quả cao trong chăn nuôi.

Tổng đàn bò tại Việt Nam đã tăng từ 3,9 triệu con năm 2001 lên 5,23 triệu con vào năm 2014, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 2,36% mỗi năm, trong đó sự đóng góp đáng kể đến từ đàn cái nền.

Từ năm 2001 đến 2014, tổng sản lượng thịt bò hơi đã tăng từ 97,7 ngàn tấn lên 292,9 ngàn tấn, với mức tăng trưởng bình quân 9,34% mỗi năm Sự gia tăng này là kết quả của các chương trình cải tạo đàn bò theo hướng Zebu, nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt bò Việc áp dụng giống bò mới có tầm vóc lớn, trọng lượng nặng và tỷ lệ thịt xẻ cao, cùng khả năng chống chịu bệnh tật tốt, đã giúp bò thích nghi tốt với các điều kiện chăn thả khác nhau.

Trong cơ cấu đàn bò nuôi tại các nông hộ, tỷ lệ bò cái sinh sản thường chiếm từ 20-50% tổng số bò, cho thấy vai trò quan trọng của chúng trong chăn nuôi.

Nuôi bò sinh sản đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chăn nuôi của các nông hộ, được coi là “1 vốn bốn lời” bởi những lợi ích kinh tế mà nó mang lại Nhiều hộ gia đình đã nhanh chóng thoát nghèo nhờ vào việc chăn nuôi bò sinh sản, như trường hợp ở xã Phổ Hòa, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, nơi nhiều hộ đã cải thiện đời sống nhờ vào mô hình này.

Chủ tịch hội nông dân xã Phổ Hòa, ông Thanh, cho biết toàn xã hiện có 1.900 con bò, trong đó bò lai sinh sản chiếm khoảng 70% Hơn 75% hộ dân trong xã tham gia chăn nuôi bò, nhiều hộ nuôi bò cái sinh sản Nhờ giá bán bò ổn định và cao, hầu hết người chăn nuôi đều có lãi, với thu nhập trung bình từ 30-40 triệu đồng/hộ/năm, và nhiều hộ có thu nhập trên 100 triệu đồng/năm, góp phần giúp nhiều hộ thoát nghèo.

Chăn nuôi bò sinh sản là một hướng đi đúng và có thật sự hiệu quả Năm 2014 xã Phổ

Hòa đã thành lập Tổ hợp tác chăn nuôi bò với sự tham gia của 30 nông dân, tạo điều kiện cho việc trao đổi kinh nghiệm và nâng cao hiệu quả mua bán bò Trong thời gian tới, xã Phổ Hòa sẽ tiếp tục khuyến khích người dân mở rộng quy mô chăn nuôi và phối hợp với các ngành chức năng để tổ chức lớp tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi.

Đặc điểm sinh sản của bò cái

1.4.1 Các chỉ tiêu chính đánh giá sinh sản ở bò cái

Tuổi đẻ lứa đầu của bò tơ bị ảnh hưởng bởi giống, chế độ nuôi dưỡng và quản lý Giống bò Brahman có tuổi thành thục sinh dục muộn hơn so với bò Vàng Bê được nuôi dưỡng tốt sẽ đạt khối lượng lớn hơn và thành thục sinh dục sớm hơn, trong khi bê nuôi dưỡng kém thường thành thục muộn hơn Quản lý tốt giúp không bỏ lỡ chu kỳ động dục lần đầu, với dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất Bò tơ được nuôi dưỡng và quản lý tốt có thể phối giống ở tuổi 16 - 17 tháng, dẫn đến việc đẻ lứa đầu sớm nhất vào khoảng 25 - 27 tháng tuổi Ở vùng nóng, bò tơ nuôi dưỡng kém thường có thời gian phối giống lần đầu muộn hơn.

Tuổi phối giống lần đầu cho bò cái chủ yếu phụ thuộc vào khối lượng cơ thể thay vì tháng tuổi Bò tơ nên được phối giống lần đầu khi đạt từ 65% đến 70% khối lượng trưởng thành.

Thí dụ bò lai Sind khối lượng trưởng thành 250kg thì phối giống lần đầu cho bò cái tơ lai Sind khi đạt khối lượng 180kg

Trong nghiên cứu, chỉ tiêu tuổi và khối lượng bò tơ khi lên giống lần đầu được sử dụng để đánh giá Tuy nhiên, thực tế sản xuất cho thấy số liệu thường không chính xác do phụ thuộc vào khả năng phát hiện và ghi nhận thời điểm lên giống lần đầu của gia súc.

Khoảng cách lứa đẻ là thời gian giữa hai lần đẻ thành công, được chia thành hai giai đoạn Giai đoạn đầu là từ khi sinh bê đến khi đậu thai lại, gọi là giai đoạn "mở" hay giai đoạn chờ phối đậu Giai đoạn thứ hai là thời gian mang thai, thường kéo dài từ 278 đến 285 ngày hoặc hơn, tùy thuộc vào giống Nếu khoảng cách lứa đẻ kéo dài, thường là do vấn đề ở giai đoạn mở.

Một bò cái sinh sản tốt thì khoảng cách lứa đẻ nhỏ hơn hoặc bằng 12 tháng

Khoảng cách lứa đẻ trung bình của đàn được xác định từ khoảng cách lứa đẻ của từng cá thể Một đàn sinh sản đạt hiệu quả cao thường có khoảng cách lứa đẻ trung bình dưới 13 tháng.

Một đàn sinh sản tốt là yếu tố quyết định để đạt hiệu quả kinh tế tối ưu, với việc sinh ra nhiều bê hơn Điều này tạo cơ hội cho việc chọn lọc và giữ lại những con giống tốt, thay thế cho những con chất lượng kém Tuy nhiên, việc duy trì khả năng sinh sản cao không phải dễ dàng, do nhiều vấn đề sinh sản dẫn đến tỷ lệ đậu thai thấp, kéo dài khoảng cách lứa đẻ Do đó, quản lý tốt để phát hiện kịp thời bò cái chậm lên giống, cũng như nhận diện và phối giống đúng thời điểm cho bò cái, là những công việc quan trọng giúp rút ngắn khoảng cách lứa đẻ.

1.4.1.3 Phối giống lần đầu sau khi đẻ

Bò cái khỏe mạnh thường sẽ động dục trở lại sau 40 ngày sau khi sinh, ngay cả khi đang cho con bú Tuy nhiên, có thể xảy ra động dục lần đầu sớm hơn, khoảng 24 ngày sau khi đẻ, nhưng dấu hiệu động dục lần đầu thường khó phát hiện do yếu tố này.

Sau 40 ngày sau khi đẻ, chu kỳ động dục của bò cái sẽ xuất hiện rõ ràng sau 21 ngày Để đạt khoảng cách lứa đẻ 365 ngày, cần chủ động phát hiện bò cái lên giống và tiến hành phối giống lại Thông thường, bò khỏe mạnh có thể phối giống lại sau 40 ngày sau khi đẻ, nhưng nếu phối giống quá sớm, tỷ lệ đậu thai sẽ thấp.

Phối giống cho bò sau khi đẻ 50 ngày giúp tăng tỷ lệ đậu thai Theo kinh nghiệm thực tế, bò trong trạng thái bình thường và đang nuôi con nên được phối giống sau khoảng 50-60 ngày sau khi sinh.

Phối giống trực tiếp cũng áp dụng tương tự.`

1.4.1.4 Khoảng cách giữa hai lần động dục

Khoảng cách giữa hai lần động dục bình thường ở bò là 21 ngày, với dao động từ 18 đến 24 ngày Nếu bò không đậu thai sau khi phối giống, nó sẽ động dục lại sau 21 ngày Khi khoảng cách giữa hai lần động dục là 6 hoặc 9 tuần, điều này có thể cho thấy đã bỏ lỡ một hoặc hai chu kỳ động dục Thực tế, nhiều trường hợp bò không động dục thường do dấu hiệu động dục ngắn và yếu mà người quản lý không nhận ra Nếu khoảng cách động dục kéo dài và không theo quy luật như 30, 50 hoặc 90 ngày, có thể là dấu hiệu của việc chết phôi.

1.4.2 Các nguyên nhân gây ra tỷ lệ sinh sản thấp

1.4.2.1 Phát hiện động dục kém

Trong những đàn bò sử dụng phương pháp phối giống tự nhiên không kiểm soát, việc phát hiện bò cái lên giống và thời điểm phối giống phụ thuộc vào bò đực thả chung đàn Ngược lại, ở những đàn áp dụng kỹ thuật gieo tinh nhân tạo hoặc dắt bò cái đến bò đực, công việc này do người quản lý và kỹ thuật viên đảm nhiệm Đây là bước đầu tiên quyết định thành tích sinh sản của gia súc.

Phát hiện bò động dục nên được thực hiện ít nhất ba lần mỗi ngày: vào buổi sáng trước khi thả bò, buổi chiều khi bò trở về chuồng và vào khoảng 10 giờ tối Ở các nước nhiệt đới như Việt Nam, do khí hậu nóng và thời gian động dục ngắn hơn, dấu hiệu động dục thường không rõ ràng, vì vậy cần tăng số lần và thời gian phát hiện động dục để đảm bảo hiệu quả.

Bò thường có dấu hiệu động dục rõ rệt hơn vào thời điểm mát mẻ trong ngày, trong khi vào buổi trưa, khi nhiệt độ đạt đỉnh, dấu hiệu này lại yếu hơn.

Trong quá trình phối giống có kiểm soát, việc phát hiện động dục không hiệu quả có thể dẫn đến việc bỏ lỡ nhiều lần động dục, kéo dài khoảng cách giữa các lứa đẻ Nếu khoảng cách giữa các lần động dục hoặc giữa hai lần phối giống là 42 hoặc 63 ngày, điều này cho thấy có thể đã bỏ lỡ một hoặc hai chu kỳ động dục Để tránh tình trạng này, cần nắm rõ các biểu hiện của bò cái khi động dục.

1.4.2.2 Phối giống cho bò không đúng thời điểm

Thời điểm lý tưởng để phối giống hoặc gieo tinh là từ nửa sau của chu kỳ động dục cho đến khoảng 8 giờ sau khi bò cái ngừng chịu đực Việc kiểm tra thường xuyên là cần thiết để xác định thời điểm bò bắt đầu động dục Nếu bò động dục vào sáng sớm, có thể tiến hành phối giống vào buổi chiều cùng ngày Thời gian phối giống nên diễn ra trong khoảng cuối chu kỳ động dục hoặc trong vòng 6 - 8 giờ sau khi kết thúc giai đoạn động dục.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 01/07/2021, 14:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Nhân Ái, Nguyễn Tiến Vởn (2009), Nghiên cứu khả năng tiết sữa của bò nội và ảnh hưởng của các chế độ bổ sung thức ăn cho bê bú sữa đến tăng trọng của bê từ 0-12 tuần tuổi, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn 10, tr 59-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Tạ Nhân Ái, Nguyễn Tiến Vởn
Năm: 2009
2. Tạ Nhân Ái, Nguyễn Tiến Vởn (2010), Nghiên cứu ảnh hưởng của các chế độ bổ sung thức ăn khác nhau đến sự phát triển dạ cỏ của bê địa phương trong giai đoạn bú sữa từ 0-12 tuần tuổi.II. Sự phát triển của nhú lông niêm mạc dạ cỏ, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn 4, tr, 63-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Tạ Nhân Ái, Nguyễn Tiến Vởn
Năm: 2010
3. Tạ Nhân Ái, Nguyễn Tiến Vởn (2010), Nghiên cứu ảnh hưởng của các chế độ bổ sung thức ăn khác nhau đến sự phát triển dạ cỏ của bê địa phương trong giai đoạn bú sữa từ 0-12 tuần tuổi: I. Sự phát triển của khối lượng, dung tích, tầng cơ và độ dày thành dạ cỏ, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn 1, tr, 75-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Tạ Nhân Ái, Nguyễn Tiến Vởn
Năm: 2010
8. Đinh Văn Cải (2007), Nuôi bò thịt, Kỹ thuật-Kinh nghiệm-Hiệu Quả, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, TP Hồ Chí Minh.9. Cục Chăn nuôi (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà xuất bản Nông Nghiệp, TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Đinh Văn Cải
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp
Năm: 2007
12. Lê Đức Ngoan, Đinh Văn Dũng, Lê Đình Phùng, Vũ Chí Cương, Lê Thị Hoa Sen (2015), Hiện trạng và một số kịch bản giảm phát thải khí methane từ chăn nuôi bò thịt bán thâm canh quy mô nông hộ ở đồng bằng sông Hồng: Nghiên cứu trường hợp tại huyện Đông Anh – Hà Nội, Tạp chí Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn 7, tr, 70-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
Tác giả: Lê Đức Ngoan, Đinh Văn Dũng, Lê Đình Phùng, Vũ Chí Cương, Lê Thị Hoa Sen
Năm: 2015
13. Lê Đức Ngoan, Trần Thị Bích Phượng (2008), Đánh giá thực trạng và hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò ở nông hộ tại hai vùng sinh thái (đồng bằng và miền núi) của Quảng Ngãi, Tạp chí Khoa học Đại học Huế 46, tr, 3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học Đại học Huế
Tác giả: Lê Đức Ngoan, Trần Thị Bích Phượng
Năm: 2008
18. Nguyễn Trung Trực (2013), Điều tra tình hình chăn nuôi bò ở nông hộ tại xã Đồng Thạnh và Thạnh Trị huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang, Tạp chí Khoa học và Giáo dục 3, tr, 113-119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học và Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Trung Trực
Năm: 2013
19. Đinh Văn Tuyền, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Tấn Vui, Hoàng Công Nhiên (2010), Sinh trưởng của bờ ẵ Red Angus và bờ lai Sind nuụi tập trung bỏn chăn thả tại ĐăkLăk, Tạp chí Khoa học công nghệ chăn nuôi 22(5), tr, 5-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học công nghệ chăn nuôi
Tác giả: Đinh Văn Tuyền, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Tấn Vui, Hoàng Công Nhiên
Năm: 2010
20. Nguyễn Hữu Văn, Nguyễn Tiến Vởn, Nguyễn Xuân Bả (2014), Khảo sát phương thúc chăn nuôi bò hiện tại ở vùng gò đồi tỉnh Quảng Trị, Tạp chí Khoa học Đại học Huế 89(1), tr, 187-199 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học Đại học Huế
Tác giả: Nguyễn Hữu Văn, Nguyễn Tiến Vởn, Nguyễn Xuân Bả
Năm: 2014
21. Nguyễn Hữu Văn, Nguyễn Tiến Vởn, Nguyễn Xuân Bả, Tạ Nhân Ái (2009), Đánh giá khả năng sinh trưởng từ sơ sinh đến trưởng thành của đàn bò địa phương và lai Sind hiện nuôi ở tỉnh Quảng Trị, Tạp chí Khoa học Đại học Huế 55, tr, 133-140.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học Đại học Huế
Tác giả: Nguyễn Hữu Văn, Nguyễn Tiến Vởn, Nguyễn Xuân Bả, Tạ Nhân Ái
Năm: 2009
22. Brauner CC, Marcelo AP, Leonardo dMM, Jean PMM, José CFM (2011), Effect of short period feed supplementation during early lactation on performance of cows and calves raised in extensive system, Revista Brasileira de Zootecnia 40(6), pp, 1381-1387 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Revista Brasileira de Zootecnia
Tác giả: Brauner CC, Marcelo AP, Leonardo dMM, Jean PMM, José CFM
Năm: 2011
23. Cunha TJ, Warilick AC, Koger M (1967), Factors effecting calf crop, University of Florida Press, Gainesville, Florida, USA, pp, 376 Sách, tạp chí
Tiêu đề: University of Florida Press, Gainesville, Florida, USA
Tác giả: Cunha TJ, Warilick AC, Koger M
Năm: 1967
25. Kanuya NL, Greve T (2000), Effect of Parity, Season and FSH Treatment on the Calving Interval of Ayrshire Cows in the Tropics, Trop. Anim. Health Pro 32 (3), pp, 97-204 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trop. Anim. Health Pro
Tác giả: Kanuya NL, Greve T
Năm: 2000
26. Kleinhesterkamp I, Botero F, Amezquita MC, Cabralez RD (1981), Conception rates in lactating cows on the eastern plains of Colombia, Animal breeding abstracts 52, pp, 64-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Animal breeding abstracts
Tác giả: Kleinhesterkamp I, Botero F, Amezquita MC, Cabralez RD
Năm: 1981
27. Le PD, Koops WJ (2003), The impact of crossbred cattle (Red Sindhi x Yellow Local) on smallholder households in the mountainous and lowland zones of Quang Ngai, Vietnam, Asian-Austra. J. Anim. Sci. 16, pp, 1390-1396 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asian-Austra. J. Anim. Sci
Tác giả: Le PD, Koops WJ
Năm: 2003
28. McNamara S, O’Mara FP, Rath M, Murphy JJ (2003), Effects of different transition diets on dry matter intake, milk production, and milk composition in dairy cows, J. Dairy Sci. 86(7), pp, 2397-2408 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Dairy Sci
Tác giả: McNamara S, O’Mara FP, Rath M, Murphy JJ
Năm: 2003
31. Nelson RA, Cramb RA (1998), Economics incentives for farmers in the Philipine uplands to adopt hedgerow inter-cropping, Environmental Management 54, pp, 83-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental Management
Tác giả: Nelson RA, Cramb RA
Năm: 1998
32. Parsons D, Lane PA, Ngoan LD, Ba NX, Tuan DT, Van NH, Dung DV, Phung LD (2013), Systems of cattle production in South Central Coastal Vietnam, Lives. Res. Rural Develop 25(2), pp, 1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lives. Res. Rural Develop
Tác giả: Parsons D, Lane PA, Ngoan LD, Ba NX, Tuan DT, Van NH, Dung DV, Phung LD
Năm: 2013
11. Trần Mạnh (2014), Nuôi bò, nhà đầu tư còn thận trọng, Báo tuổi trẻ online, http://www.tuoitre.vn/tin/kinh-te/20140322/nuoi-bo-nha-dau-tu-con-than-trong/599232.html Link
16. Phạm Lệ Quyên (2015), Kinh nghiệm chăn nuôi bò cái sinh sản cho thu nhập cao (23/04/2015),http://www.quangngai.gov.vn/vi/sonn/Pages/qnp-kinhnghiemchannuoibocai-qnpnd-926-qnpnc-13-qnpsite-1.html Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w