Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu thực trạng và quá trình thu hồi đất GPMB xây dựng nhà máy nhiệt điện tại xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Đánh giá sự ảnh hưởng của việc thu hồi đất xây dựng nhà máy nhiệt điện đến sinh kế của 02 nhóm hộ dân ở xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Đề xuất các giải pháp đảm bảo sinh kế cho nhóm hộ dân bị thu hồi đất.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu và số liệu trong luận văn là trung thực, chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thiện luận văn này đều đã được cảm ơn, các thông tin tham khảo, trích dẫn đều đã được chỉ rõ tác giả và nguồn gốc
Huế, tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Trung Lâm
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau một quá trình học tập để hoàn thành khóa học và đề tài nghiên cứu tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ quý báu của Quý Thầy Cô trong Ban Giám hiệu Nhà
trường, Khoa Khuyến nông và Phát triển nông thôn, Phòng Đào tạo sau Đại học -
Trường Đại học Nông Lâm Huế, xin gửi tới Quý Thầy Cô lòng biết ơn chân thành và
huyện Quảng Trạch, Ủy ban nhân nhân xã Quảng Đông, các hộ gia đình, cá nhân thuộc
các nhóm hộ điều tra tại xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, các anh chị trong lớp Cao
học PTNT- K19A đã giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện để tôi hoàn thành đề tài này
Tuy nhiên, do kiến thức của bản thân và thời gian thực tập còn hạn chế nên nội dung đề tài không tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết, kính mong nhận được sự
giúp đỡ, góp ý, chỉ dẫn thêm của các quý thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
Tính cấp thiết của đề tài 1
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Đối tượng nghiên cứu 3
Phạm vi nghiên cứu 3
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu: 4
1.1.1.Khái niệm về sinh kế và khung phân tích sinh kế bền vững: 4
1.1.2 Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 6
1.1.3 Bản chất của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 6
1.2 Cơ sở thực tiển của vấn đề nghiên cứu 7
1.2.1 Chính sách bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam qua các thời kỳ 7
1.2.2 Phân tích các thành phần của khung phân tích sinh kế 10
1.3 Thực tiễn bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng ở Việt Nam 13
1.4 Quy định chung của Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 08 năm 2009 về bồi thường hỗ trợ và tái định cư 14
1.5 Cơ sở pháp lý của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 16
1.5.1 Bồi thường, hỗ trợ về đất 16
1.5.2 Bồi thường, hỗ trợ về tài sản 18
1.5.3 Chính sách hỗ trợ 20
1.5.4 Tái định cư 23
Trang 41.6 Vấn đề sinh kế hộ nông dân và thay đổi sinh kế hộ nông dân ở một số nước trên
thế giới và Việt Nam 24
1.6.1 Tại Trung Quốc 24
1.6.2 Tại Hàn Quốc 25
1.6.3 Tại Việt Nam 26
1.7 Các nghiên cứu về thu hồi đất ảnh hưởng tới sinh kế của hộ nông dân tại Việt Nam 27
1.8 Đặc điểm vùng nghiên cứu 35
1.8.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Quảng Đông 35
1.8.2 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 38
1.8.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 40
1.8.4 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội của xã Quảng Đông 41
Chương 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1.Mục tiêu nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.2 Nội dung nghiên cứu 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 30
2.3.2 Phương pháp chọn hộ nghiên cứu 31
2.3.3 Phương pháp phân tích theo khung sinh kế bền vững 31
2.3.4 Phương pháp thu thập thông tin 33
2.3.5 Phương pháp phân tích số liệu 34
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Tiến trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư GPMB để xây dựng Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch 1 41
3.1.1 Đặc điểm của Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch 1 41
3.1.2 Hiện trạng sử dụng đất và tình hình biến động đất đai của xã Quảng Đông 43
3.1.3 Khái quát chung về công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại huyện Quảng Trạch trong thời gian từ năm 2010 - 2013 48
3.1.4 Công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng Dự án Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch 1 48
Trang 53.2 Các bước thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư giải phóng mặt bằng khi nhà
nước thu hồi đất 50
3.2.1 Quy trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đất đai 51
3.2.2 Thu hồi đất và giải phóng mặt bằng ở Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch 1 58
3.3 Đặc điểm cơ bản của các nhóm hộ bị thu hồi đất 60
3.4 Sự thay đổi về sinh kế của nhóm hộ bị thu hồi 61
3.4.1 Thay đổi về nguồn vốn tự nhiên 61
3.4.2 Thay đổi về nguồn vốn con người 62
3.4.3 Thay đổi về nguồn vốn xã hội 65
3.4.4 Thay đổi về nguồn vốn tài chính 68
3.4.5 Thay đổi về nguồn vốn vật chất 71
3.5 Đánh giá và đề xuất các giải pháp phát triển sinh kế cho người bị thu hồi đất 73
3.5.1 Đánh giá tác động và giải pháp về việc thu hồi đất để xây dựng Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch 1 tại xã Quảng Đông 73
3.5.2 Bài học rút ra khi thực hiện thu hồi đất xây dựng Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch 1 tại xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch 75
3.5.3 Giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân sau khi bị thu hồi đất 76
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 82
Kết luận 82
Đề nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Tài liệu tiếng việt 85
Tài liệu internet 87
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Diện tích, cơ cấu các loại đất năm 2013 43
Bảng 3.2 Biến động các loại đất giai đoạn 2010 - 2013 47
Bảng 3.3 Các thông tin cơ bản của các nhóm hộ điều tra 60
Bảng 3.4 Diện tích đất thay đổi của hộ dân truớc và sau thu hồi 61
Bảng 3.5 Sự thay đổi nguồn lao động của 2 nhóm trước và sau khi bị thu hồi đất 63
Bảng 3.6 Đánh giá chất lượng dịch vụ công cộng và xã hội 67
Bảng 3.7 Tỷ trọng nguồn thu tại các nhóm hộ trước và sau khi thu hồi đất 69
Bảng 3.8 Giá đất ở bồi thường, hỗ trợ tại nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch 1 70
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu các loại đất của xã Quảng Đông năm 2013 45
Hình 1.1 Vị trí vùng nghiên cứu 35
Hình 2.1 Khung sinh kế 32
Hình 3.1 Phối cảnh Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch 1 42
Hình 3.2 Lễ khởi công xây dựng Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch 1 43
Hình 3.3 Sự thay đổi nguồn lao động sau khi thu hồi đất 64
Hình 3.4 Việc sử dụng tiền bồi thường của người dân bị thu hồi đất 68
Hình 3.5 Tài sản của người dân trước và sau thu hồi đất 72
Sơ đồ 1.1 Tài sản sinh kế của người dân 11
Sơ đồ 3.1 Các bước thực hiện công tác giải phóng mặt bằng 51
Sơ đồ 3.2 Thành phần của hội đồng giải phóng mặt bằng 53
Trang 8UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 9MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2013, dân số nước ta có 89,71 triệu người, trong đó 67,81% sống ở nông thôn và 32,19% sống ở thành thị, trong tổng số 52,84 triệu người có việc làm thì hơn
47% lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp [11] Như vậy, gần 70%
dân số vẫn cư trú ở khu vực nông thôn và dựa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước theo hướng công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) và đô thị hóa (ĐTH) tất yếu phải thu hồi một
số diện tích đất nông nghiệp và đất ở để xây dựng các khu công nghiệp (KCN), khu đô
thị (KĐT), khu chế xuất (KCX), các kết cấu hạ tầng (KCHT) thì đồng nghĩa với đó
là diện tích đất dùng cho sản xuất nông nghiệp cũng bị mất đi và một điều tất yếu là
hàng vạn người nông dân lâm vào tình cảnh mất đất, mất nghề, thiếu việc làm, sinh kế
không được đảm bảo…
Tính đến tháng 9 năm 2014, cả nước hiện có 295 KCN được thành lập trên tổng
số 461 KCN có trong quy hoạch với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 82,8 nghìn ha,
trong đó vùng Đông Nam Bộ là vùng có số lượng KCN được thành lập nhiều nhất với
100 KCN chiếm 33,9% số KCN của cả nước; tiếp đó là Đồng bằng sông Hồng với 76
KCN chiếm 25,8%; vùng Tây Nam Bộ với 51 KCN chiếm 17,3%; miền Trung với 37
KCN chiếm 12,5%; Trung du miền núi phía Bắc với 24 KCN chiếm 8,1% và vùng Tây
Nguyên với 7 KCN chiếm 2,4% [32]
Theo số liệu điều tra thì diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89%
và diện tích đất thổ cư chiếm 11% Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích đất bị
thu hồi lớn nhất, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp; Tỷ lệ này ở Đông Nam
Bộ là 2,1% và ở nhiều vùng khác dưới 0,5% Mặc dù diện tích đất nông nghiệp, đất ở
bị thu hồi tại mỗi tỉnh chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số diện tích đất tự nhiên của địa
phương nhưng lại tập trung vào một số huyện, xã có mật độ dân số cao, diện tích đất
nông nghiệp bình quân đầu người thấp, có xã diện tích đất bị thu hồi chiếm tới 70-80%
diện tích đất canh tác [36]
Không còn hoặc còn rất ít đất sản xuất nông nghiệp, nông dân phải tìm cách kiếm sống mới Nhiều người phải di cư ra thành thị để kiếm việc làm và đối mặt với
rủi ro của cuộc sống nơi đô thị, một số ít lao động trẻ được tuyển dụng vào làm việc
trong khu công nghiệp, một số lao động tìm kiếm việc làm tại các địa phương khác
hoặc mở các dịch vụ (mở quán nước, xây dựng nhà ở cho thuê ) Bên cạnh đó những
nông dân không bị thu hồi đất cũng bị tác động đến sản xuất của mình, một phần lao
động trong gia đình chuyển sang làm việc trong nhà máy hoặc dịch vụ trong khu công
nghiệp nhưng kết quả không cao Khảo sát trên 1.257 người ở độ tuổi lao động, trong
các hộ nông dân bị thu hồi đất cho thấy, chỉ một số ít có trình độ THPT, đa phần có
Trang 10trình độ THCS (63,8%) Học vấn thấp, không có tay nghề nên hầu hết nông dân khó
kiếm việc làm Do đó, đã có tới 67% số lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ
sau khi bị thu hồi đất, 13% chuyển sang nghề mới và có tới 25 đến 30% số lao động
không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định [37] Theo số liệu báo cáo
tình hình kinh tế xã hội năm 2013 của Tổng cục Thống kê cho thấy tỷ lệ thiếu việc làm
của lao động trong độ tuổi năm 2013 là 2,77%, trong đó khu vực thành thị là 1,48%,
khu vực nông thôn là 3,35% [11]
Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và đã được các địa phương nỗ lực vận dụng để giải quyết vấn đề bồi thường, tái định cư, bảo đảm việc làm, thu nhập và
đời sống của người dân có đất bị thu hồi Song tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp,
không chuyển đổi được nghề nghiệp, khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt nơi ở mới,
đặc biệt đối với người nông dân bị thu hồi đất đã và đang diễn ra tại nhiều địa phương
Nguyên nhân này một phần do nhiều nơi thực hiện đền bù, tái định cư, đào tạo, giải
quyết việc làm cho người dân có đất bị thu hồi còn chưa hợp lý dẫn đến tình trạng
khiếu kiện gây mất trật tự an ninh, xã hội Bên cạnh đó, bản thân người dân bị thu hồi
đất còn thụ động trông chờ vào nhà nước, chưa tích cực tự đào tạo để đáp ứng với sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước [26]
Không nằm ngoài những vấn đề chung đó, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình cũng gặp những vấn đề khó khăn trong công tác giải quyết việc làm và
ổn định đời sống cho người dân sau khi bị thu hồi đất Dự án Nhà máy Nhiệt điện
Quảng Trạch 1 thuộc Trung tâm Nhiệt điện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, được xây
dựng tại thôn Vĩnh Sơn, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình với
diện tích hơn 199 ha, do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam làm chủ đầu tư Công suất thiết
kế: 1.200MW (gồm 02 tổ máy); Điện năng sản xuất: 8,43 tỷ KWh/năm Đây là dự án
trọng điểm, cấp bách nằm trong Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006
- 2015 có xét đến 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt [13]
Tuy nhiên cùng với đó là việc thu hồi đất sản xuất đã có tác động đến đời sống của hàng trăm hộ gia đình Các hộ bị thu hồi đất phần lớn là những hộ sản xuất nông
nghiệp Sau khi bị thu hồi đất, có nhiều hộ đã được tạo điều kiện chuyển đổi sang các
ngành nghề khác, nhưng cũng có rất nhiều hộ phải đối mặt với mất việc làm Vấn đề
đặt ra là sau khi mất đất, sinh kế của các hộ dân thay đổi như thế nào? Có đảm bảo cho
cuộc sống ổn định của họ hay không? Mức sống của họ thay đổi ra sao? Làm sao để
ổn định đời sống, đảm bảo an sinh xã hội cho họ? Chính vì vậy, vấn đề làm thế nào để
quá trình thu hồi đất được thực hiện tốt, vừa thuận lợi cho công cuộc xây dựng, phát
triển của đất nước vừa thuận lòng dân, tạo niềm tin nơi nhân dân luôn là vấn đề nan giải
đặt ra cho các nhà lãnh đạo, các cấp có thẩm quyền của xã Quảng Đông, huyện Quảng
Trạch, tỉnh Quảng Bình nói riêng và cả nước nói chung
Nhằm kịp thời có những đánh giá đúng đắn về ảnh hưởng của thu hồi đất thực hiện dự án tới sinh kế của hộ nông dân và đưa ra một số giải pháp về sinh kế
Trang 11đối với dự án liên quan, đề tài nghiên cứu “ Ảnh hưởng của việc thu hồi đất tới sinh
kế của các nhóm hộ dân tại dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện ở xã Quảng Đông,
huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình” đã được tiến hành
- Đề xuất các giải pháp đảm bảo sinh kế cho nhóm hộ dân bị thu hồi đất
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học
Góp thêm tư liệu về quan hệ giữa sinh kế và vấn đề thu hồi đất của những nhóm hộ
khác nhau theo chủ trương của Nhà nước để phát triển kinh tế - xã hội
Ý nghĩa thực tiễn
Thông tin từ nghiên cứu này có thể là cơ sở khoa học cho đề xuất các giải pháp về thực thi chính sách thu hồi đất với các mục đích khác nhau nhằm cải thiện sinh kế của người dân
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ dân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp trong quá trình xây dựng Nhà máy Nhiệt điện tại xã Quảng Đông, huyện
Trang 12Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu:
1.1.1.Khái niệm về sinh kế và khung phân tích sinh kế bền vững:
* Khái niệm về sinh kế:
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sinh kế tùy theo quan điểm và bối cảnh đưa ra định nghĩa cũng như những khía cạnh quan tâm khác nhau trong quá trình thực
hiện công tác phát triển
Theo từ điển Tiếng Việt: Sinh kế là một cách để sống [29]
Theo tiếng Nga: Sinh kế có nghĩa là tạo thu nhập và việc làm nông thôn (Hội nghị các đối tác dự án ADAS/DFID) [29]
Theo tiếng Tây Ban Nha: Sinh kế có nghĩa là một cách sống bền vững (dự án DFID FORCIAT, Bolovia) [29]
Theo Chamber and Conway (1992): Một sinh kế bao gồm khả năng (capacity), tài sản (assets) – (các nguồn dự trữ, các nguồn tài nguyên, quyền được bảo vệ và tiếp
cận) – và các hoạt động cần có cho một cách thức kiếm sống [29]
Theo Ellis: Một sinh kế bao gồm tài sản (assets) – (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và vốn xã hội), các hoạt động và việc tiếp cận đến các tài sản
và các hoạt động này (qua thể chế, quan hệ xã hội), tất cả cùng nhau xác định sự sống
mà cá nhân hay hộ gia đình nhận được [29]
Theo DFID: Sinh kế là một tập hợp của việc sử dụng các nguồn lực thực hiện các hoạt động để sống Các nguồn lực có thể bao gồm kỹ năng và khả năng (vốn con
người) của một cá nhân, đất đai (vốn tự nhiên), tiết kiệm (vốn tài chính) và trang thiết
bị (vốn vật chất) các nhóm hỗ trợ chính thức hay các nhóm không chính thức cho việc
thực thi hoạt động (vốn xã hội) [29]
Để duy trì sinh kế, mỗi hộ gia đình thường có các kế sinh nhai khác nhau Kế sách sinh nhai của hộ hay chiến lược sinh kế của hộ là quá trình ra quyết định về các
vấn đề cấp hộ Bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các
thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ
* Sinh kế bền vững
Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ Nó phải có khả năng
đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ Sinh kế bền vững không
được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và
Trang 13tương lai, trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những
điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai
Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này phải hội đủ những nguyên tắc sau: Lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân, xây dựng dựa trên
sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, tổng thể, thực hiện
ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác bền vững và năng động [22]
Một sinh kế bền vững khi nó có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai,
trong khi không làm xói mòn nền tảng nguồn lực tự nhiên Ngầm ẩn trong khung sinh
kế bền vững là một lý thuyết cho rằng con người dựa vào năm loại tài sản vốn, hay
hình thức vốn để giảm nghèo và đảm bảo an ninh sinh kế của mình, bao gồm: vốn vật
chất, vốn tài chính, vốn xã hội, vốn con người và vốn tự nhiên là những loại vốn đóng
cả hai vai đầu vào và đầu ra Khung sinh kế bền vững coi đất đai là một tài sản tự
nhiên rất quan trọng đối với sinh kế nông thôn Quyền sử dụng đất đai đóng một vị trí
quan trọng về nhiều mặt và tạo cơ sở để người nông dân tiếp cận các loại tài sản khác
và những sự lựa chọn sinh kế thay thế
Ở một số quốc gia, việc thiếu tiếp cận đối với đất đai là một hạn chế quan trọng đối với sinh kế của nhiều người và những người không có đảm bảo quyền của mình đối với
đất đai thì khi diễn ra thu hồi đất thường bị đền bù một cách không công bằng [21]
* Khung phân tích sinh kế bền vững:
Theo UNDP khung sinh kế là một cách để hệ thống những vấn đề phức tạp xung quanh nghèo đói Nó là một công cụ hữu ích trợ giúp cho công tác phát triển và
giảm đói nghèo
Theo DFID, khung phân tích sinh kế bền vững (SLA) là một công cụ trực quan hóa được DFID xây dựng nhằm tìm hiểu các loại hình sinh kế Mục đích của nó là
giúp người sử dụng nắm được những khía cạnh khác nhau của các loại hình sinh kế,
nhất là những yếu tố làm nảy sinh vấn đề hay những yếu tố tạo cơ hội
Phân tích sinh kế bền vững đơn giản là tìm hiểu về sinh kế của người dân và từ
đó tìm cách để làm cho chúng trở nên bền vững Để thực hiện điều này chúng ta sử
dụng công cụ mang tên “Khung sinh kế bền vững” Khung sinh kế bền vững được cơ
quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 2003) đã nêu lên những yếu tố chính
ảnh hưởng đến sinh kế người dân Khung này không chỉ đơn thuần là công cụ phân
tích Người ta xây dựng nó với dụng ý nó sẽ cung cấp nền tảng cho các hoạt động
hướng đến sinh kế bền vững
Theo quan điểm của tổ chức quốc tế vương quốc Anh DFID khung sinh kế có thể chia làm 5 hợp phần chính: Bối cảnh tổn thương; các tài sản sinh kế; những chính
Trang 14sách thể chế và tiến trình; các chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế Các thành tố của
một sinh kế có mối quan hệ nhân quả và chiến lược sinh kế của con người chịu sự tác
động bởi các yếu tố bên ngoài
1.1.2 Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý
theo quy định của Luật này [3]
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất [3]
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm
mới [3]
Giải phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đất
nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới
Quá trình giải phóng mặt bằng được tính từ khi bắt đầu hình thành hội đồng giải phóng
mặt bằng đến khi giải phóng xong và giao cho chủ đầu tư mới Đây là một quá trình đa
dạng và phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các dự án và liên quan đến lợi ích trực tiếp
của các bên tham gia và cả của xã hội
Tái định cư là người sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau: bồi
thường bằng nhà ở, bồi thường bằng giao đất ở mới, bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ
ở mới
1.1.3 Bản chất của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Phát triển công nghiệp và đô thị là một tiến trình tất yếu trên toàn thế giới Và thu hồi đất nông nghiệp là cách thức thường được thực hiện để xây khu công nghiệp
và đô thị Quá trình thu hồi đất đặt ra rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội cần được giải
quyết kịp thời và thỏa đáng Để có thể hài hòa được lợi ích của xã hội, tập thể và cá
nhân, mỗi quốc gia có cách làm riêng của mình
Về mặt hành chính thì đây là một quá trình không tự nguyện, có tính cưỡng chế
và vẫn đòi hỏi sự “hy sinh” Không chỉ là một sự đền bù ngang giá tuyệt đối
Từ những nhận thức trên có thể hiểu bản chất của công tác đền bù giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng trong quá trình hiện nay không chỉ đơn thuần là sự đền bù
về mặt vật chất mà còn phải đảm bảo lợi ích của người dân phải di chuyển Đó là họ
Trang 15phải có được chỗ ở ổn định, điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi cũ, nhưng chắc chắn
phải tốt hơn nơi cũ về mọi mặt thì mới tạo điều kiện cho người dân sống và ổn định
1.2 Cơ sở thực tiển của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Chính sách bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam qua
các thời kỳ
1.2.1.1.Trước khi có Luật Đất đai năm 1993
Luật đất đai năm 1987 ra đời dựa trên quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước thống nhất quản lý Tại Khoản 4 Điều 48 quy định: “Đền bù thiệt hại
thực tế cho người đang sử dụng đất bị thu hồi để giao cho mình, bồi hoàn thành quả
lao động và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật.”
Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 186-HĐBT ngày 31/5/1990, về bồi thường thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác Căn cứ
để tính mức bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp và đất có rừng tại Quyết định này
là diện tích, chất lượng và vị trí đất Toàn bộ tiền bồi thường phải nộp vào ngân sách
Nhà nước và được điều tiết theo phân cấp ngân sách trung ương 30%, địa phương 70%
để sử dụng vào mục đích khai hoang, phục hoá và định canh, định cư cho nhân dân
quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc
tổ chức theo thời giá thị trường Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định”
quyền và nghĩa vụ, đây là sự đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác bồi
thường, GPMB của Luật Đất đai năm 1993
Trang 16Những quy định về bồi thường, GPMB của Luật Đất đai năm 1993 đã thu được những thành tựu quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện, nhưng càng về sau, do sự
chuyển biến nhanh chóng của tình hình kinh tế xã hội, nó đã dần mất đi vai trò làm
động lực thúc đẩy phát triển Để tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ GPMB, đẩy nhanh tiến
độ thi công công trình đồng thời bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất,
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai đã được thông qua ngày 29/6/2001
Để cụ thể hoá các quy định của Luật Đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, nhiều văn bản quy định về chính sách bồi
thường, GPMB đã được ban hành, bao gồm:
- Nghị định số 90/CP ngày 17/9/1994 của Chính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc
phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Xét về tính chất và nội dung, Nghị định
90/CP đã đáp ứng được một số yêu cầu nhất định, so với các văn bản trước, Nghị định
này là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao và cụ thể hoá việc thực hiện chính sách
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, việc đền bù bằng đất cùng mục đích sử dụng,
cùng hạng đất
- Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất;
- Thông tư Liên bộ số 94/TTLB ngày 14/11/1994 của liên bộ Tài chính - Xây dựng - Tổng cục Địa chính - Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định 87/CP;
- Nghị định số 22/1998/NĐ - CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh,
lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thay thế Nghị định số 90/CP nói trên;
- Thông tư 145/1998/TT - BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 22/1998/NĐ - CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ
* Chính sách bồi thường, GPMB cụ thể theo quy định của Nghị định số 22/1998/NĐ - CP và Thông tư số 145/1998/TT - BTC:
- Nghị định số 22/1998/NĐ - CP và Thông tư số 145/1998/TT - BTC đã quy định rõ phạm vi áp dụng bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, đối tượng phải
bồi thường thiệt hại, đối tượng được bồi thường thiệt hại, phạm vi bồi thường thiệt hại
và các chính sách cụ thể về bồi thường thiệt hại về đất, tài sản gắn liền với đất, việc lập
khu TĐC cũng như việc tổ chức thực hiện
1.2.1.3.Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai năm 2003
Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực ngày 01 tháng
7 năm 2004 Để hướng dẫn việc bồi thường, GPMB theo quy định của Luật Đất đai
năm 2003, một số văn bản sau đã được ban hành:
Trang 17- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất;
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai và Nghị định số
187/2004/NĐ - CP về việc chuyển công ty Nhà nước thành công ty cổ phần;
- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi
thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 69/2006/TT-BTC ngày 02/8/2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn
thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi
thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Về cơ bản, chính sách bồi thường, GPMB theo Luật Đất đai 2003 đã kế thừa những ưu điểm của chính sách trong thời kỳ trước, đồng thời có những đổi mới nhằm
góp phần tháo gỡ các vướng mắc trong việc bồi thường, GPMB hiện nay
Tuy nhiên, để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong công tác bồi thường, GPMB ngày 25/5/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 84/2007/NĐ - CP quy
định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự,
thủ tục bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất
đai; Thông tư 06 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP,
Thông tư 145/2007/TT-BTC Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày
16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất; Thông tư liên tịch số
14/2008/TTLT/BTC-BTNMT ngày 31/01/2008 Hướng dẫn thực hiện một số điều của
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc
cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường,
hỗ trợ, TĐC khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Nghị định số
69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ về quy định bổ sung về quy hoạch sử
dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC; Thông tư số 14/2009/TT -
BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và môi trường quy định chi tiết về bồi
thường, hỗ trợ, TĐC và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất
Về Nghị định số 69/2009/NĐ-CP tập trung vào việc làm rõ, bãi bỏ một số điều Nghị định số 181/2004/NĐ - CP và Nghị định số 84/2006/NĐ-CP về một số vấn đề
cơ bản về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC
Nguyên tắc xuyên suốt của Nghị định 69/2009/NĐ-CP là đảm bảo quyền và lợi ích của
Trang 18người sử dụng đất, thực hiện hài hòa 3 lợi ích: Người sử dụng đất, nhà đầu tư và quyền
của nhà nước theo quy định của pháp luật
1.2.1.4 Nhận xét, đánh giá
Qua nghiên cứu chính sách bồi thường, GPMB của Việt Nam qua các thời kỳ cho thấy vấn đề bồi thường, GPMB đã được đặt ra từ rất sớm, các chính sách đều xuất
phát từ nhu cầu thực tiễn và được điều chỉnh tích cực để phù hợp hơn với xu hướng
phát triển của đất nước Trên thực tế các chính sách đó đã có tác dụng tích cực trong
việc đảm bảo sự cân đối và ổn định trong phát triển, khuyến khích được đầu tư và
tương đối giữ được nguyên tắc công bằng
Cùng với sự đổi mới về tiến trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan lập pháp và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, chính sách bồi thường, hỗ
trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trong những năm gần đây đã có nhiều điểm đổi
mới thể hiện chính sách ưu việt của một Nhà nước của dân, do dân và vì dân
1.2.2 Phân tích các thành phần của khung phân tích sinh kế
- Bối cảnh dễ bị tổn thương:
Bối cảnh dễ bị tổn thương là môi trường bên ngoài mà trong môi trường đó sinh
kế con người và các tài sản sẵn có của họ bị ảnh hưởng cơ bản, vừa tích cực vừa tiêu
cực, bởi những xu hướng kinh tế xã hội và môi trường, sự thay đổi đột ngột hoặc tính
mùa vụ - mà họ hạn chế được hoặc không thể nào kiểm soát được [22]
Các yếu tố trong hoàn cảnh dễ bị tổn thương:
• Cơ hội công việc
Trang 19- Tài sản sinh kế:
Tài sản sinh kế là một hợp phần chính trong khung phân tích sinh kế bền vững, đây là những tài sản sinh kế mà các loại hình sinh kế được xây dựng trên đó Các tài
sản này được chia làm 5 loại (hay loại vốn), đó là: Vốn con người, vốn vật chất, vốn
tài chính, vốn tự nhiên, vốn xã hội
Sơ đồ 1.1 Tài sản sinh kế của người dân
+ Nguồn vốn con người:
Đây có lẽ là nhân tố quan trọng nhất Nguồn vốn con người thể hiện kỹ năng, kiến thức và sự giáo dục của từng cá nhân và các thành viên trong gia đình, năng lực
để lao động, sức khỏe, thời gian và khả năng làm việc tốt giúp con người theo đuổi
những chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của mình Ở mức hộ
gia đình thì nguồn lực con người là yếu tố về số lượng và chất lượng lao động sẵn có;
yếu tố này thay đổi tùy theo số lượng người trong hộ, kỹ năng lao động, khả năng lãnh
đạo, tình trạng sức khỏe
+ Nguồn vốn xã hội:
Là các tiềm lực xã hội mà con người vạch ra nhằm theo đuổi các mục tiêu sinh
kế của mình Các mục tiêu này được phát triển thông qua các mạng lưới và các mối
liên kết với nhau, tính đoàn hội của các nhóm chính thức và mối quan hệ dựa trên sự
tin tưởng, sự trao đổi và ảnh hưởng lẫn nhau
+ Nguồn vốn vật chất:
Nguồn vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và công cụ sản xuất hàng hóa cần thiết để hỗ trợ sinh kế Cơ sở hạ tầng được hiểu là một loại hàng hóa công cộng sử
dụng mà không cần trả phí trực tiếp, bao gồm những thay đổi trong môi trường vật
chất mà chúng giúp con người đáp ứng nhu cầu cơ bản của mình và đem lại nhiều lợi
ích hơn Công cụ sản xuất hàng hóa là những công cụ và thiết bị mà con người sử
Trang 20dụng để hoạt động mang lại năng suất cao hơn Các công cụ đó có thể do một cá nhân
hay nhóm người sở hữu, cũng có thể thuê hoặc mua, phổ biến là đối với các thiết bị
phức tạp
+ Nguồn vốn tài chính:
Đây là yếu tố trung gian cho sự trao đổi có ý nghĩa quan trọng đối với việc sử dụng thành công các yếu tố tài sản khác Nguồn tài chính nghĩa là các nguồn lực tài
chính mà con người sử dụng để đạt được mục tiêu sinh kế của mình Có hai nguồn tài
chính cơ bản, đó là nguồn vốn sẵn có và nguồn vốn vào thường xuyên
• Nguồn sẵn có: tiết kiệm, tiền gửi ngân hàng, vật nuôi, khoản vay tín dụng…
• Nguồn vốn vào thường xuyên: trợ cấp, các khoản tiền chuyển nhượng từ nhà nước hoặc các khoản tiền gửi
+ Nguồn vốn tự nhiên:
Vốn tự nhiên là những yếu tố được sử dụng trong các nguồn lực tự nhiên Nó cung cấp và phục vụ rất hữu ích cho phương kế kiếm sống của con người Có rất nhiều
nguồn lực hình thành nên vốn tự nhiên Từ các hàng hoá vô hình như không khí, tính
đa dạng sinh học đến các tài sản có thể phân chia được sử dụng trực tiếp trong sản xuất
như: đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng
Trong khung sinh kế bền vững, mối quan hệ giữa nguồn vốn tự nhiên và các tổn hại có sự gắn kết thực sự Nhiều thảm hoạ tàn phá kế sinh nhai của người nghèo
thường xuất phát từ các tiến trình của tự nhiên, tàn phá nguồn vốn tự nhiên (cháy rừng,
lũ và động đất làm thiệt hại về hoa màu và đất nông nghiệp) và tính mùa vụ thì ảnh
hưởng lớn đến những biến đổi trong năng suất và giá trị của nguồn vốn tự nhiên qua
các năm
- Các chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế
+ Chiến lược sinh kế là cách thức sinh nhai để người dân đạt được mục tiêu của
họ Các hộ gia đình, các cộng đồng thường theo đuổi chiến lược đa sinh kế (nhiều cách
sinh sống) Các chiến lược sinh kế đó có thể phụ thuộc hoặc không phụ thuộc vào điều
kiện môi trường, chúng phụ thuộc ít nhiều vào thị trường, việc làm trong nền kinh tế và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Người dân có thể sử dụng những gì mà
họ có thể tiếp cận được để tồn tại hoặc cải thiện tình hình hiện tại
+ Chiến lược sinh kế của người dân bao gồm những quyết định và lựa chọn của
họ về sự đầu tư và sự kết hợp các nguồn lực sinh kế nào với nhau Quy mô của các
hoạt động tạo thu nhập mà họ đang theo đuổi Quản lý như thế nào để bảo tồn được
các nguồn lực sinh kế và thu nhập của họ? Cách người dân thu thập và phát triển các
Trang 21kiến thức, kỹ năng cần thiết để kiếm sống ? Cách sử dụng thời gian và công sức? Cách
họ đối phó với rủi ro
+ Kết quả sinh kế mang tính chất là tiêu chí cao nhất trong khung sinh kế bền vững Kết quả sinh kế là vấn đề thuộc về an sinh xã hội, cuộc sống của người dân ra
sao ? Thu nhập của họ như thế nào? An ninh lương thực được củng cố, khả năng ứng
biến sinh kế trước những thay đổi, cải thiện công bằng xã hội Đây là kết quả của
những thay đổi cuối cùng mà người dân, cộng đồng và các tổ chức phát triển mong
muốn đạt được
1.3 Thực tiễn bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng ở Việt Nam
Ở nước ta, các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế
Quan tâm tới lợi ích của những người bị thu hồi đất, Nghị định 197/2004/NĐ-CP sau
một thời gian thực hiện, đặc biệt là sau sự ra đời của nghị định 84/2007/NĐ-CP đã thể
hiện được tính khả thi và vai trò tích cực của các văn bản pháp luật Vì thế, công tác
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong thời gian qua đã đạt được các kết quả khá khả
quan, thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, đối tượng được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ngày càng được xác
định đầy đủ chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công tác
quản lý đất đai của Nhà nước được nâng cao, người nhận đền bù cũng thấy thảo đáng
Thứ hai, mức bồi thường, hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân bị
thu hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất Một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ
sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước
nhằm giúp cho người dân ổn định về đời sống và sản xuất
Thứ ba, việc bổ sung quy định về quyền tự thỏa thuận của các nhà đầu tư cần
đất với người sử dụng đất đã góp phần giảm sức ép cho các cơ quan hành chính trong
việc thu hồi đất
Thứ tư, trình tự thủ tục tiến hành bồi thường hỗ trợ và tái định cư đã giải quyết
được nhiều khúc mắc trong thời gian qua, giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thực hiện công tác bồi thường, tái định cư đạt hiệu quả
Thứ năm, các địa phương bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật Đất đai
năm 2003, các Nghị định hướng dẫn thi hành, đã dựa trên sự định hướng chính sách
của Đảng và Nhà nước, tình hình thực tế tại địa phương để ban hành các văn bản pháp
luật áp dụng cho địa phương mình, làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
được thực hiện hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn Chẳng hạn như: Quyết định
143/QĐ-UB sửa đổi bổ sung một số vấn đề về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của 143/QĐ-UBND
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 15/08/2007; Quyết định số 80/2005/QĐ-UB của UBND
Trang 22thành phố Hà Nội…Do đã vận dụng các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thỏa
đáng nên việc thu hồi đất tiến hành bình thường, mặc dù vẫn còn những khiếu nại
nhưng con số này ít và không gây trở ngại đáng kể trong quá trình thực hiện
Thứ sáu, nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng như tính chất
phức tạp của vấn đề thu hồi đất, tái định cư của các nhà quản lý, hoạch định chính
sách, của chính quyền địa phương được nâng lên Chính phủ đã có nhiều nỗ lực để tạo
điều kiện vật chất và kỹ thuật trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có năng lực và có nhiều kinh nghiệm ngày càng đông đảo; sự chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của công tác
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giữa các bộ, ban, ngành có các dự án đầu tư ngày càng
được mở rộng và có hiệu quả
Nhờ những cải thiện về quy định pháp luật về phương pháp tổ chức, về năng lực cán bộ thực thi giải phóng mặt bằng, tiến độ giải phóng mặt bằng trong các dự án
đầu tư gần đây đã được rút ngắn hơn so với các dự án cũ, góp phần giảm bớt tác động
tiêu cực đối với người dân cũng như đối với dự án Việc thực hiện chính sách bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư đã giúp cho đất nước ta xây dựng cơ sở vật chất, phát triển
kết cấu hạ tầng, xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự
án trọng điểm của Nhà nước, cũng như góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn
định đời sống sản xuất cho người có đất bị thu hồi
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó chúng ta cũng còn những tồn tại, vướng mắc khi tiến hành bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, trong đó đặc biệt là vấn đề
giá đền bù, gây những tác động tiêu cực đối với thị trường bất động sản
1.4 Quy định chung của Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 08 năm 2009
về bồi thường hỗ trợ và tái định cư
Nhà nước thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng và giao đất cho nhà đầu
tư để thực hiện dự án đối với các trường hợp đã có dự án đầu tư được cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền xét duyệt
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất thực hiện việc thu hồi đất đối với các trường hợp quy định của pháp luật thì: đất thu hồi thuộc khu vực nông thôn được
UBND xã quản lý, đất thuộc khu vực đô thị và khu vực đã được quy hoạch để phát
triển đô thị được giao cho tổ chức phát triển quỹ đất quản lý
Bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi (Điều 42 Luật Đất đai năm 2003) Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất mà người bị thu hồi đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 của Luật Đất đai này thì người bị thu hồi đất
được bồi thường, trừ các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11,
12 điều 38 và các điểm b, c, d, đ, g, khoản 1 Điều 43 của Luật Đất đai năm 2003
Trang 23Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường loại đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền
sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi UBND tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương lập và thực hiện các dự án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường
bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chổ khác, khu tái định
cư được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện
phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ
Trường hợp không có khu tái định cư thì bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước đối với khu vực
đô thị, bồi thường bằng đất ở đối với khu vực nông thôn, trường hợp giá trị quyền sử
dụng đất ở bị thu hồi lớn hơn đất ở được bồi thường thì người bị thu hồi đất được bồi
thường bằng tiền đối với phần chênh lệch đó
Trường hợp thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất mà không có đất để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc bồi thường bằng tiền, người
bị thu hồi đất còn được Nhà nước hỗ trợ để ổn định đời sống, đào tạo để chuyển đổi
ngành nghề, bố trí việc làm mới
Trường hợp người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất mà chưa được thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật thì phải
trừ đi giá trị nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện trong giá trị được bồi thường
Chính phủ quy định việc bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi và việc hỗ trợ để thực hiện thu hồi đất bao gồm đối tượng phải đền bù thiệt hại, đối tượng
được đền bù thiệt hại và phạm vi đền bù thiệt hại
* Đối tượng phải đền bù thiệt hại
Tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài được Nhà nước giao đất, cho thuê đất (gọi chung là người sử dụng đất) để sử dụng đất vào mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng có trách nhiệm đền bù thiệt hại về
đất và tài sản hiện có gắn liền với đất theo quy định tại Nghị định 69/2009/NĐ-CP của
Chính phủ
* Đối tượng được đền bù thiệt hại
Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước có đất bị thu hồi (gọi chung là người
bị thu hồi đất) được đền bù thiệt hại về đất khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào
mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng phải là người có đủ
điều kiện theo quy định của Nghị định 69/2009/NĐ-CP của CP
Người được đền bù thiệt hại về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi phải là người
sở hữu hợp pháp tài sản đó phù hợp với quy định của pháp luật
Trang 24Việc đền bù thiệt hại khi thu hồi đất của tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người định cư ở nước ngoài đã được Việt Nam cho thuê đất giải quyết theo
quyết định riêng của Thủ Tướng Chính phủ
Việc sử dụng đất phục vụ cho các công trình công ích của làng, xã bằng hình thức huy động sự đóng góp của dân thì không áp dụng những quy định tại Nghị định
người phải di chuyển chổ ở, di chuyển nơi sản xuất kinh doanh, hỗ trợ chuyển đổi
nghề nghiệp và tạo việc làm
Trả các chi phí phục vụ trực tiếp cho việc tổ chức thực hiện đền bù, di chuyển, giải phóng mặt bằng
1.5 Cơ sở pháp lý của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1.5.1 Bồi thường, hỗ trợ về đất
1.5.1.1 Điều kiện để được bồi thường về đất
Điều kiện để được bồi thuờng về đất được thực hiện theo Nghị định, người đang sử dụng đất được bồi thường về đất thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3,
4, 5, 7, 9, 10 và 11 Điều 8 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và các Điều 44, 45 và
46 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP Một số điểm tại khoản 3 Điều 8 của Nghị định
số 197/2004/NĐ-CP được quy định cụ thể như sau:
- Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất và giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất quy định tại điểm c khoản 3
Điều 8 bao gồm:
+ Giấy tờ thừa kế theo quy định của pháp luật + Giấy tờ tặng, cho nhà đất có công chứng hoặc xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là UBND cấp xã) tại thời điểm tặng, cho;
+ Giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất của cơ quan, tổ chức giao nhà
- Giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 8, trường hợp này phải bảo đảm các điều kiện sau:
+ Nhà thanh lý, hóa giá, nhà bán phải thuộc sở hữu Nhà nước Nhà thuộc sở hữu Nhà nước gồm: nhà ở tiếp quản từ chế độ cũ, nhà vô chủ, nhà vắng chủ đã được
Trang 25xác lập sở hữu Nhà nước; nhà ở tạo lập do ngân sách Nhà nước đầu tư; nhà ở được tạo
lập bằng tiền có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước; nhà ở được tạo lập bằng tiền theo
phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm; các nhà ở khác thuộc sở hữu Nhà nước
+ Nhà được cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, tổ chức đoàn thể của Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước thanh lý, hoá giá
nhà ở, bán nhà ở gắn liền với đất ở thuộc sở hữu Nhà nước trước ngày 5 tháng 7 năm
1994 hoặc giấy tờ bán nhà ở do tổ chức chuyên quản nhà ở bán theo quy định tại Nghị
định số 61/1994/NĐ-CP ngày 5 tháng 7 năm 1994 của CP về mua bán và kinh doanh
1.5.1.2 Giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại
Giá đất để tính bồi thường quy định tại Điều 11 của Nghị định số
69/2009/NĐ-CP là giá đất theo mục đích đang sử dụng của loại đất bị thu hồi, được UBND cấp tỉnh
quy định và công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm
Trường hợp giá đất do UBND cấp tỉnh công bố chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì UBND cấp
tỉnh giao cho cơ quan chức năng xác định lại giá đất cụ thể để quyết định giá đất tính
bồi thường cho phù hợp và không bị giới hạn bởi quy định về khung giá các loại đất
Chi phí đầu tư vào đất còn lại quy định tại khoản 3 Điều 9 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP là các chi phí thực tế hợp lý mà người sử dụng đất đã đầu tư vào đất
để sử dụng theo mục đích được phép sử dụng mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất
còn chưa thu hồi được Các khoản chi phí đầu tư vào đất phải có đầy đủ hồ sơ, chứng
từ, thực tế chứng minh Chi phí đầu tư vào đất còn lại được xác định bằng tổng chi phí
thực tế hợp lý tính thành tiền đã đầu tư vào đất trừ đi số tiền đầu tư phân bổ cho thời
gian đã sử dụng đất Các khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại gồm:
- Tiền sử dụng đất của thời hạn chưa sử dụng đất trong trường hợp giao đất có thời hạn, tiền thuê đất đã nộp trước cho thời hạn chưa sử dụng đất (có chứng từ hóa
đơn nộp tiền); Các khoản chi phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất được giao, được
thuê và phù hợp với mục đích sử dụng đất Trường hợp thu hồi đất mà đã được bồi
thường về đất thì không được bồi thường chi phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất
Trang 26- Các khoản chi phí khác có liên quan
- UBND cấp tỉnh quy định việc xác định khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại đối với các trường hợp không có hồ sơ, chứng từ về chi phí đã đầu tư vào đất cho phù
hợp với thực tế tại địa phương
1.5.1.3 Bồi thường đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
Bồi thường đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân thực hiện theo quy định tại Điều 16 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP như sau:
- Đất nông nghiệp được bồi thường gồm: đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất
nông nghiệp khác
- Đối với đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt quy hoạch rừng phòng hộ, rừng đặc dụng mà các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận khoanh nuôi
tái sinh rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng hoặc trồng rừng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà
nước theo hợp đồng khoán thì khi Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất,
chỉ được bồi thường về cây trồng trên đất Mức bồi thường tương đương với mức phân
chia sản phẩm theo quy định tại Thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT/BNN-BTC ngày
03/9/2003 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài chính hướng dẫn
thực hiện Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính
phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận
khoán rừng và đất lâm nghiệp
1.5.1.4 Bồi thường đối với đất ở
Người bị thu hồi đất ở được bồi thường bằng việc giao đất ở mới hoặc bằng nhà
ở tái định cư hoặc bằng tiền theo giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định
đất không xác định được diện tích đất thuộc quyền sử dụng riêng của từng tổ chức,
từng hộ gia đình, cá nhân thì UBND cấp tỉnh hướng dẫn việc tiếp nhận và phân chia
tiền bồi thường về đất
1.5.2 Bồi thường, hỗ trợ về tài sản
1.5.2.1 Các trường hợp bồi thường, hỗ trợ cụ thể về nhà, công trình
Xử lý các trường hợp bồi thường, hỗ trợ cụ thể về nhà, công trình quy định tại Điều 20 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP được quy định cụ thể như sau:
Trang 27- Nhà, công trình khác được phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng trên đất có đủ điều kiện được bồi thường về đất thì được bồi thường theo quy
định tại Điều 24 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP
- Nhà, công trình khác không được phép xây dựng theo quy định của pháp luật
về xây dựng nhưng xây dựng trên đất có đủ điều kiện được bồi thường về đất và xây
dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì được bồi thường theo quy định tại Điều 24
của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP; nếu xây dựng từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về
sau, xây dựng không đúng với mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật thì
không được bồi thường Trong trường hợp đặc biệt, UBND cấp tỉnh xem xét hỗ trợ
từng trường hợp cụ thể cho phù hợp với thực tế tại địa phương
1.5.2.2 Bồi thường, hỗ trợ nhà, công trình đối với người đang sử dụng nhà ở thuộc sở
hữu Nhà nước
Bồi thường, hỗ trợ nhà, công trình đối với người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước thực hiện theo quy định tại Điều 21 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP
và được quy định cụ thể như sau:
- Khoản 1 Điều 21 quy định về phần diện tích nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước tự cải tạo, sửa chữa, nâng cấp được coi là hợp pháp khi được cơ quan ra quyết định phân
nhà hoặc cơ quan quản lý nhà đất thuộc sở hữu Nhà nước tại địa phương cho phép
- Khoản 2 Điều 21 quy định về người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước bị phá dỡ được thuê nhà tại nơi tái định cư; trường hợp không có nhà tái định cư
để bố trí thì được hỗ trợ bằng tiền để tự lo chỗ ở mới, mức hỗ trợ bằng 60% trị giá đất
và 60% trị giá nhà đang thuê; trường hợp có nhà tái định cư để bố trí mà người đang
sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước không có nhu cầu thuê thì không được hỗ trợ
bằng tiền
1.5.2.3 Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi
Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi thực hiện theo quy định tại Điều 24 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và được quy định cụ thể như sau:
- Mức bồi thường đối với cây hàng năm bằng giá trị sản lượng thu hoạch của một (01) vụ thu hoạch Giá trị sản lượng của một (01) vụ thu hoạch được tính theo
năng suất cao nhất trong ba (03) năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương
theo thời giá trung bình của nông sản cùng loại ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất
- Cây lâu năm bao gồm cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lấy gỗ, lấy lá, cây rừng quy định tại khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 74 ngày 25 tháng 10 năm 1993 của
CP quy định chi tiết thi hành Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp, khi Nhà nước thu
hồi được bồi thường theo giá trị hiện có của vườn cây, giá trị này không bao gồm giá
trị quyền sử dụng đất Giá trị hiện có của vườn cây lâu năm để tính bồi thường được
xác định như sau:
Trang 28- Cây trồng đang ở chu kỳ đầu tư hoặc đang ở thời gian xây dựng cơ bản thì giá trị hiện có của vườn cây là toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu và chi phí chăm sóc đến thời
điểm thu hồi đất tính thành tiền theo thời giá tại thị trường địa phương;
- Cây lâu năm là loại thu hoạch một lần (cây lấy gỗ) đang ở trong thời kỳ thu hoạch thì giá trị hiện có của vườn cây được tính bồi thường bằng số lượng từng loại
cây trồng nhân với giá bán một (01) cây tương ứng cùng loại, cùng độ tuổi, cùng kích
thước hoặc có cùng khả năng cho sản phẩm ở thị trường địa phương tại thời điểm bồi
thường trừ đi giá trị thu hồi (nếu có);
- Cây lâu năm là loại thu hoạch nhiều lần (ví dụ như cây ăn quả, cây lấy dầu, nhựa…) đang ở trong thời kỳ thu hoạch thì giá trị hiện có của vườn cây được tính bồi
thường là giá bán vườn cây ở thị trường địa phương tại thời điểm bồi thường trừ đi giá
trị thu hồi (nếu có);
- Cây lâu năm đã đến thời hạn thanh lý thì chỉ bồi thường chi phí chặt hạ cho chủ sở hữu vườn cây
- Chi phí đầu tư ban đầu, chi phí chăm sóc, chi phí chặt hạ quy định tại khoản này được tính thành tiền theo mức chi phí trung bình tại địa phương do UBND cấp
tỉnh quy định cụ thể đối với từng loại cây
- Đối với cây trồng và lâm sản phụ trồng trên diện tích đất lâm nghiệp do Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân để trồng, khoanh nuôi, bảo vệ, tái sinh rừng, mà
khi giao là đất trống, đồi núi trọc, hộ gia đình, cá nhân tự bỏ vốn đầu tư trồng rừng thì
được bồi thường theo giá bán cây rừng chặt hạ tại cửa rừng cùng loại ở địa phương tại
thời điểm có quyết định thu hồi đất trừ đi giá trị thu hồi
1.5.2.4 Xử lý tiền bồi thường đối với tài sản thuộc sở hữu Nhà nước
Việc sử dụng tiền bồi thường đối với tài sản thuộc sở hữu Nhà nước quy định tại Điều 25 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP được quy định cụ thể như sau:
- Tổ chức bị thu hồi đất có tài sản được Nhà nước giao quản lý, sử dụng bị thiệt hại và phải di dời đến địa điểm mới thì được sử dụng tiền bồi thường tài sản để đầu tư
tại địa điểm mới theo dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt Số tiền bồi
thường tài sản này do người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất chi trả; nếu không
sử dụng hết thì số tiền còn lại được nộp vào ngân sách Nhà nước
1.5.3 Chính sách hỗ trợ
1.5.3.1 Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất
Tại Điều 20 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP được quy định cụ thể như sau:
- Đối tượng được hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất là hộ gia đình,cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp và được xác định như sau:
Trang 29+ Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp khi thực hiện Nghị định số 64/1993/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của CP ban hành
quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu
dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp; Nghị định số 02/1994/NĐ-CP ngày 15 tháng
01 năm 1994 của CP ban hành quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Nghị định số
85/1999/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 1999 của CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài
vào mục đích sản xuất nông nghiệp và bổ sung việc giao đất làm muối cho hộ gia đình và
cá nhân sử dụng ổn định lâu dài; Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm
1999 của CP về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân
sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày
29 tháng 10 năm 2004 của CP về thi hành Luật Đất đai năm 2003;
+ Nhân khẩu nông nghiệp trong hộ gia đình quy định tại điểm a khoản này nhưng phát sinh sau thời điểm giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình đó;
+ Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng đủ điều kiện được giao đất nông nghiệp theo quy định tại điểm a khoản này nhưng chưa được giao đất nông nghiệp và đang sử
dụng đất nông nghiệp do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho, khai
hoang theo quy định của pháp luật, được UBND cấp xã nơi có đất bị thu hồi xác nhận
là đang trực tiếp sản xuất trên đất nông nghiệp đó
Diện tích đất nông nghiệp mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng quy định tại khoản 1 Điều 20 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP gồm diện tích đất trồng cây hàng
năm, đất trồng cây lâu năm, đất được giao để trồng rừng sản xuất, đất nuôi trồng thuỷ
sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác và được xác định như sau:
- Đối với đất nông nghiệp đã có giấy tờ về quyền sử dụng đất (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai
năm 2003) thì xác định diện tích đất ghi trên giấy tờ đó;
- Đối với đất nông nghiệp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nhưng được thể hiện trong phương án giao đất nông nghiệp khi thực hiện quy định tại điểm a
khoản 1 Điều này thì diện tích đất nông nghiệp được xác định theo phương án đó;
- Đối với đất nông nghiệp không có giấy tờ, phương án giao đất quy định tại điểm a và điểm b khoản này thì xác định theo hiện trạng thực tế đang sử dụng
Khi Nhà nước thu hồi đất của tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh có đăng ký kinh
doanh mà bị ngừng sản xuất kinh doanh thì được hỗ trợ tối đa bằng 30% một (01) năm
thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của ba (03) năm liền kề trước đó Thu
nhập sau thuế được xác định căn cứ vào báo cáo tài chính đã được kiểm toán hoặc
Trang 30được cơ quan thuế chấp thuận; trường hợp chưa được kiểm toán hoặc chưa được cơ
quan thuế chấp thuận thì việc xác định thu nhập sau thuế được căn cứ vào thu nhập sau
thuế do đơn vị kê khai tại báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh cuối mỗi năm đã gửi cơ quan thuế
1.5.3.2 Xác định khu dân cư để tính hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu
dân cư
Khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều 21 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP được xác định theo ranh giới của thửa đất
có nhà ở ngoài cùng của làng, bản, thôn, ấp, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư
tương tự UBND cấp tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương quy định việc
xác định ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng quy định tại khoản 1 Điều này
1.5.3.3 Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm
Việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm được thực hiện theo quy định tại Điều 22 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP và được quy định như sau:
Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 14 của Thông
tư này mà bị thu hồi đất nông nghiệp nhưng không thuộc trường hợp quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều 21 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP thì được hỗ trợ chuyển
đổi nghề nghiệp và tạo việc làm
Việc áp dụng hình thức hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng một (01) suất đất ở hoặc một (01) căn hộ chung cư hoặc một (01) suất đất sản xuất,
kinh doanh phi nông nghiệp chỉ thực hiện một lần khi có đủ các điều kiện sau:
Hộ gia đình, cá nhân được hỗ trợ có nhu cầu nhận suất đất ở hoặc căn hộ chung
cư hoặc suất đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp;
Địa phương có điều kiện về quỹ đất ở, quỹ nhà ở;
Số tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 22 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP phải bằng hoặc lớn hơn giá trị một
(01) suất đất ở hoặc giá một (01) căn hộ chung cư hoặc giá trị một (01) suất đất sản
xuất, kinh doanh phi nông nghiệp
Việc lấy ý kiến của người bị thu hồi đất nông nghiệp về phương án đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp được thực hiện đồng thời khi lấy ý kiến về phương án bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư Hình thức lấy ý kiến thực hiện như việc lấy ý kiến về
phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quy định tại khoản 2 Điều 30 của Nghị
định số 69/2009/NĐ-CP
Trang 311.5.3.4 Hỗ trợ người đang thuê nhà không thuộc sở hữu Nhà nước
Hỗ trợ người đang thuê nhà không thuộc sở hữu Nhà nước quy định tại Điều 30 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP được quy định cụ thể như sau:
- Hộ gia đình, cá nhân đang hợp đồng thuê nhà mà không thuộc sở hữu Nhà nước, khi Nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ chi phí di chuyển
theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 18 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP
1.5.4 Tái định cư
1.5.4.1 Các trường hợp được bố trí tái định cư
Hộ gia đình, cá nhân khi bị Nhà nước thu hồi đất ở thì được bố trí tái định cư trong các trường hợp sau:
- Hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi hết đất ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi (trừ trường hợp
hộ gia đình, cá nhân không có nhu cầu tái định cư)
- Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất mà phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của UBND cấp tỉnh mà không có chỗ ở nào
khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở mà không có
chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi
- Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ (nhiều cặp vợ chồng) cùng chung sống đủ điều kiện tách hộ hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng
một (01) thửa đất ở bị thu hồi thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện thực tế tại địa
phương để quy định diện tích đất, diện tích nhà ở để bố trí tái định cư
1.5.4.2 Bố trí tái định cư
Việc bố trí tái định cư thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và được quy định cụ thể như sau:
- Công khai phương án bố trí tái định cư; đối với dự án đã có khu tái định cư thì
hộ gia đình, cá nhân được tái định cư được xem nơi dự kiến tái định cư trước khi
chuyển đến
- Giá đất tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư do UBND cấp tỉnh quyết định theo quy định của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các
loại đất Giá bán nhà tái định cư do UBND cấp tỉnh quyết định trên cơ sở suất đầu tư
nhà ở và thực tế tại địa phương Giá cho thuê nhà do UBND cấp tỉnh quyết định cho
phù với thực tế tại địa phương
Trang 32- Hộ gia đình, cá nhân được giao đất, mua nhà, thuê nhà tại nơi tái định cư phải nộp tiền sử dụng đất, tiền mua nhà, tiền thuê nhà theo quy định của pháp luật và được
trừ vào tiền bồi thường, hỗ trợ; nếu có chênh lệch thì thực hiện thanh toán bằng tiền
phần chênh lệch đó theo quy định, trừ trường hợp được hỗ trợ tái định cư quy định tại
khoản 1 Điều 19 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP
1.6 Vấn đề sinh kế hộ nông dân và thay đổi sinh kế hộ nông dân ở một số nước
trên thế giới và Việt Nam
1.6.1 Tại Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia có điều kiện tự nhiên và phong tục tập quán tương đối giống Việt Nam Là nước đông dân nhất thế giới, với trên 1.3 tỷ người nhưng cũng giống
như Việt Nam, gần 70% dân số Trung Quốc vẫn sống ở khu vực nông thôn, hàng năm có
tới hơn 10 triệu lao động đến tuổi tham gia vào lực lượng lao động Vì thế nhu cầu giải
quyết việc làm càng trở nên gay gắt Sau cải cách và mở cửa nền kinh tế năm 1978, Trung
Quốc thực hiện phương châm “Ly nông bất ly hương” thông qua chính sách khuyến khích
phát triển mạnh mẽ công nghiệp Hương Trấn nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và phân công lao động xã hội ở nông thôn, từ đó rút ngắn khoảng cách nông thôn và thành
thị Trung Quốc coi việc phát triển công nghiệp nông thôn là con đường giải quyết vấn đề
việc làm và sinh kế của người dân Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá đã thu hút lực
lượng lao động dôi dư ở nông thôn Bên cạnh đó, chính sách khuyến khích đầu tư của nhà
nước cùng với sự đầu tư của kinh tế tư nhân vào khu vực phi nông nghiệp đã thúc đẩy sự
phát triển của các doanh nghiệp địa phương Trong những năm đầu đã có đến 20% thậm
chí có nơi 50% tổng thu nhập của người dân nông thôn là từ các doanh nghiệp địa phương
[23],[30],[31]
Cùng với việc đưa ra các chính sách phát triển thì nhà nước cũng đẩy mạnh xây
dựng CSHT nông thôn, tạo điều kiện cho các hộ nông dân sản xuất hàng hoá, thu mua bảo
trợ hàng hoá nông nghiệp, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thị trường tín dụng
Chỉ trong vòng hơn 10 năm (từ 1978 đến 1991) Trung Quốc đã thu hút được 96 triệu lao động vào các xí nghiệp Hương Trấn (bằng 13.8% lực lượng lao động ở nông
thôn), tạo ra được 1162 tỷ nhân dân tệ (chiếm đến 60% giá trị sản phẩm khu vực nông
thôn, 1/3 giá trị sản lượng công nghiệp và 1/4 GDP cả nước) Đây là một thành công
lớn, nó đã làm cho tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ trên 70% (năm 1978) xuống còn
dưới 50% (năm 1991) [30]
Trong những năm gần đây, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân (vấn đề tam nông) vẫn được chú trọng phát triển ở Trung Quốc Những chính sách nhằm nâng
cao thu nhập cho nông dân luôn được coi trọng Trong đó đặc biệt chú trọng việc nâng
cao thu nhập, cải thiện sinh kế cho người nghèo bằng việc mở mang các ngành nghề
dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, chính sách vốn, tín dụng
Trang 33Từ thực tiễn phát triển công nghiệp và giải quyết vấn đề sinh kế cho người dân nông thôn Trung Quốc trong thời gian qua có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- Thứ nhất: Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đa dạng hoá
ngành nghề, khuyến khích nông dân đầu tư dài hạn để phát triển sản xuất, mở mang
hoạt động phi nông nghiệp đã góp phần lớn tạo nên tốc độ phát triển kinh tế và làm
đa dạng mô hình sinh kế cho người dân nông thôn, thu hút nhiều lao động vào các hoạt
động phi nông nghiệp ở nông thôn
- Thứ hai: Trong một giai đoạn nhất định, nhà nước bảo hộ sản xuất trong nước
Điều này giải quyết vấn đề lao động, việc làm ở nông thôn Từ đó sinh kế của người
dân cũng được cải thiện hơn
- Thứ ba: Việc hạn chế lao động di chuyển giữa các vùng, miền làm hạn chế
sinh kế của người dân nông thôn Do các doanh nghiệp sẽ gây khó dễ trong việc trả
lương hoặc hạn chế trong việc sử dụng tay nghề của người dân
1.6.2 Tại Hàn Quốc
Hàn Quốc là một quốc gia có nhiều sự tương đồng với sự phát triển kinh tế của Việt Nam Trước những năm 70, Hàn Quốc cũng là một nước nông nghiệp, nông
nghiệp chiếm 50% GDP Hàn Quốc Nông dân Hàn Quốc cũng là người Châu Á, mang
ý thức hệ của người Á Đông: mặc cảm, tự ti Trước năm 1970, GDP bình quân đầu
người của Hàn Quốc tương tự nước ta vào năm 1991, 1992, khoảng 300 – 350
USD/người/năm
Cũng là nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, năm 1954 thực hiện cải cách ruộng đất Nhà nước mua lại đất của chủ có trên 3ha để bán lại cho nông hộ thiếu đất
với phương thức trả dần để tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển Từ năm 1965 đến
năm 1971 tốc độ phát triển nông nghiệp tăng 2.5% Năm 1971 đến năm 1978 tăng
6.9%, 3/5 đất hoang được nông hộ khai thác sử dụng có hiệu quả kinh tế cao Năm
1975 tự túc được nhiều lương thực và nhiều nông sản khác, chăn nuôi tăng 8 –
10%/năm Cơ cấu sản xuất chuyển dịch theo hướng hàng hóa với hệ thống cây, con,
ngành nghề có giá trị kinh tế cao Thu nhập phi nông nghiệp chiếm 35% tổng số
[23],[30],[31]
Trước năm 1970 Hàn Quốc lấy CNH – HĐH làm trọng điểm, công nghiệp tăng trưởng rất nóng nhưng lại ko có cơ hội vì không có thị trường Trong khi đó nông
nghiệp tăng chậm Khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa giàu – nghèo lớn
Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra 1 con đường giải phóng đó là phong trào
“Sumomidon” (phong trào xây dựng nông thôn mới) Học tập phương châm “Lấy nông
nghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp” Một mặt vẫn phát triển
công nghiệp, mặt khác đầu tư vào nông nghiệp, phát huy nội lực của người nông dân trên
Trang 34mảnh đất của họ để phát triển kinh tế Chính phủ đầu tư, hỗ trợ vào nông nghiệp bằng vật
chất để phát triển nông nghiệp, nông thôn Với tư tưởng là chỉ đầu tư tài chính một phần
mà chủ yếu là vật chất bằng cách đưa sản phẩm công nghiệp không thể ra thị trường tiêu
thụ về nông thôn như sắt, thép xây dựng cơ sở vật chất như: đường giao thông, các công
trình công cộng (trường học, bệnh viện )
Mặt khác chuyển giao một số khoa học công nghệ tiên tiến vào lĩnh vực nông thôn Xây dựng các phương án, dự án phát triển theo từng cấp:
Cấp 1: Nâng cao điều kiện sống cho người dân Cấp 2: Nâng cao cơ sở hạ tầng
Cấp 3: Tăng thu nhập cho nông dân Làm từ thấp đến cao, chỉ khi nào hoàn thành cấp 1 mới được làm tiếp cấp 2
Từ thực tiễn của Hàn Quốc rút ra kinh nghiệm : Phát triển công nghiệp song song với đầu từ phát triển nông nghiệp Như vậy vừa thực hiện được CNH – HĐH đất
nước vừa đảm bảo được an ninh lương thực Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo
từng bước không nóng vội, hoàn thành cấp này mới làm tiếp cấp kia
1.6.3 Tại Việt Nam
Nông dân nước ta chiếm 69,5% tổng dân số cả nước Lao động nông nghiệp chiếm 47% tổng lao động xã hội và đóng góp tới gần 21% GDP của cả nước Chính
vì thế, người nông dân có vị trí quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế đất nước và
sinh kế nông thôn, là bộ phận chính cấu thành của nền kinh tế cả nước Nếu vấn đề
sinh kế nông thôn không tốt thì đời sống một bộ phận lớn dân cư trong xã hội (chủ
yếu là người nông dân) sẽ không được đảm bảo, tức là khả năng sản xuất ra của cải
vật chất cho xã hội sẽ bị hạn chế Thế nhưng, dưới tác động của quá trình công nghiệp
hóa, đô thị hóa ở nước ta trong những năm gần đây, sinh kế của một bộ phận nông
dân đang gặp rất nhiều khó khăn và thiếu bền vững
Điều đáng lo là chỉ có khoảng trên 27% lao động bị thu hồi đất đã tốt nghiệp phổ thông, 14% được đào tạo nghề ngắn hạn Đặc biệt, số lượng lao động
quá tuổi tuyển dụng (trên 35 tuổi) chiếm rất đông và hầu như ít có hy vọng tìm được
việc làm tốt trong ngành công nghiệp – dịch vụ
Người nông dân có duy nhất đất nông nghiệp là công cụ sản xuất, khi bị thu hồi đất rồi thì người ta không còn công cụ sản xuất nữa Chính vì vậy mà nhu cầu chuyển
đổi việc làm là rất cần thiết Những người đang trong độ tuổi lao động phải đi tìm lấy
một nghề để học và đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp Người nông
dân phải tự vay kinh phí từ các chương trình và tự học nghề sau đó họ tự tạo việc
làm Các huyện ngoại thành, các ngành nghề chưa phát triển lắm, phần lớn là thuần
Trang 35nông cho nên có sự chênh lệch về trình độ đào tạo, giáo dục phổ thông so với người
dân trong nội thành Ngoài ra, các cơ sở dạy nghề tại khu vực nông thôn còn ít
Qua số liệu điều tra của một số công trình nghiên cứu cho thấy, khi nông dân bị thu hồi đất, họ không chỉ mất đi tài sản sinh kế quan trọng nhất, mất đi nguồn lương
thực, thu nhập, địa vị, cơ hội, họ còn phải chịu đựng các xáo trộn trong đời sống xã hội
nông thôn Tiếp đó là sự đối mặt với việc tìm kế mưu sinh mới với những khó khăn và
đầy rủi ro Các hộ gia đình nhận được tiền đền bù, chủ yếu dành cho xây nhà, mua xe
máy Đối với một số hộ neo đơn, tiền đền bù là điểm tựa quan trọng cho các chi tiêu
học hành của con cháu họ Sau thu hồi đất, nguồn thu nhập bấp bênh từ làm thuê lại
trở thành nguồn thu nhập chính của nhiều hộ, nhất là các hộ ở độ tuổi 25-45 Họ gặp
khó khăn khi muốn xin việc ở khu công nghiệp vì không có bằng cấp III (đây cũng là
lý do giải thích vì sao các hộ đều cố gắng đầu tư cho con ăn học, đặc biệt từ năm
2000) Chuyển sang chăn nuôi gà công nghiệp trên đất thổ cư và dựa vào nguồn thức
ăn mua chịu từ các đại lý là lựa chọn của nhiều hộ, tuy nhiên họ gặp rủi ro cao do dịch
cúm gia cầm Từ đó, đề tài đưa ra kiến nghị: khi thu hồi đất, nhà nước cần đánh giá
đầy đủ các mất mát của hộ và cộng đồng, chứ không chỉ mất đất; đẩy mạnh hướng
nghiệp và đào tạo lực lượng lao động nông thôn; cần có chính sách điều chỉnh đất đai,
đảm bảo diện tích đất tối thiểu để sản xuất đủ lương thực cho tiêu dùng của hộ; tổ chức
tư vấn hộ sử dụng tiền đền bù; đầu tư công tác khuyến nông nhằm giúp các hộ và lao
động nông nghiệp chuyển đổi trong sản xuất nông nghiệp
1.7 Các nghiên cứu về thu hồi đất ảnh hưởng tới sinh kế của hộ nông dân tại
Việt Nam
Theo Dung Hiếu (2007), trong 6 năm thực hiện thu hồi đất, có khoảng 2,5 triệu nông dân bị ảnh hưởng đến đời sống Theo số liệu tại một vài địa phương, có tỉnh có
25 - 30% số lao động sau thu hồi đất không có việc làm hoặc việc làm không ổn định
Có tỉnh hàng chục nghìn lao động mất việc làm Tại một số vùng ven đô đồng bằng
sông Hồng, trước khi thu hồi đất chỉ có 10% lao động đi làm thuê, sau khi thu hồi đất
tỷ lệ này là 17% Tình trạng này cũng đang có xu hướng tăng lên ở miền Đông Nam
Bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Hiện nay các vùng kinh tế trọng điểm là khu vực có diện tích đất nông nghiệp
bị thu hồi lớn nhất (khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên cả nước) Mặc dù diện tích
đất đó chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích đất tự nhiên của mỗi địa phương
(khoảng 1 đến 2%), nhưng lại tập trung phần lớn vào đất canh tác nông nghiệp và khu
đông dân cư Việc thu hồi đất thời gian qua đã góp phần rất lớn vào việc phát triển nền
kinh tế - xã hội của đất nước [25]
Chỉ tính từ 5 năm trở lại đây, theo báo cáo của 49 tỉnh, thành phố (số còn lại không báo cáo) đã lấy đi 750.000 ha đất để thực hiện 29.000 dự án đầu tư, trong đó có
Trang 36tới 80% là đất nông nghiệp Khoảng 50% diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nằm
trong vùng kinh tế trọng điểm mỗi năm hai vụ lúa "Phong trào" xây sân golf dồn dập
trong hai năm nay, nếu như trong 16 năm chỉ cấp phép cho 34 dự án sân golf, thì có
hai năm (2006 - 2008) đã cấp 104 dự án, tức là cứ bình quân một tuần lại "mọc" một
sân golf mới Hiện cả nước có 141 sân golf ở 39 tỉnh, thành, sử dụng tới 49.268 ha,
trong đó có 2.625 đất bờ xôi ruộng mật [25]
Điều tra thực tế cho thấy: 67% lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ, chỉ có 13% chuyển nghề mới và có tới 25 - 30% nông dân không có việc làm, hoặc có
nhưng không ổn định, 53% hộ nông dân bị thu hồi đất thu nhập bị giảm so với trước,
chỉ có 13% là tăng hơn trước Trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất có 1,5 lao động bị thất
nghiệp và mỗi ha đất bị thu hồi làm mất việc của 13 lao động Nhiều địa bàn có tới
hàng ngàn lao động bị mất việc, nhưng chỉ có 10-20 người là đã qua đào tạo nghề mới
Những năm qua Chính phủ đã có nhiều chính sách ưu tiên giải quyết việc làm cho
nông dân vùng dự án, nhưng mỗi năm chỉ giải quyết được khoảng 55.000 người, là
"muối bỏ biển" trong tổng số lao động mất việc [25]
Kết quả điều tra các hộ bị thu hồi đất cho thấy nguyên nhân khiến họ không có khả năng chuyển đổi ngành nghề và phát triển sản xuất là do khi bị thu hồi đất, họ đã
mất đi tư liệu sản xuất chính và thiếu các điều kiện cơ bản trong kinh doanh cũng như
trợ giúp ổn định sinh kế
Điều tra tại thành phố Hồ Chí Minh, Hưng Yên và Thái Bình cho thấy có tới 83% số hộ thiếu đất sản xuất nông nghiệp, 66,58% số hộ thiếu vốn kinh doanh và
54,26% số lao động chưa có nghề ổn định Đối tượng chủ yếu không tìm được việc
làm sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp là những lao động có độ tuổi cao, trên 40, nhất
là lao động nữ Số này vừa già vừa yếu vừa khó đào tạo nghề mới nên không có cơ hội
tìm kiếm việc làm ở các nhà máy, xí nghiệp trong các khu công nghiệp lớn Không có
việc làm đã dẫn đến một thực trạng không hiếm là nguy cơ "trắng tay" khi sử dụng hết
tiền đền bù đất Có không ít những người còn tiêu xài tiền đền bù vào cờ bạc, đề
đóm Ở TP Hồ Chí Minh, số này chiếm khoảng 44,45%, Hưng Yên 26% và Thái
Bình 14% [27]
Theo Đỗ Thị Năng và Nguyễn Văn Ga (2008), nghiên cứu thực hiện tại thôn Thọ Đa, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội với 31 hộ gia đình sau khi bị thu hồi
đất: Khi nông dân bị thu hồi đất, họ không chỉ mất đi tài sản sinh kế quan trọng nhất,
mất đi nguồn lương thực, thu nhập, địa vị, cơ hội, họ còn phải chịu đựng các xáo trộn
trong đời sống xã hội nông thôn Tiếp đó là sự đối mặt với việc tìm kế mưu sinh mới
với những khó khăn và đầy rủi ro Các hộ gia đình nhận được tiền đền bù, chủ yếu
dành cho xây nhà, mua xe máy Đối với một số hộ neo đơn, tiền đền bù là điểm tựa
quan trọng cho các chi tiêu học hành của con cháu họ Sau thu hồi đất, nguồn thu nhập
Trang 37bấp bênh từ làm thuê lại trở thành nguồn thu nhập chính của nhiều hộ, nhất là các hộ ở
độ tuổi 25-45 Họ gặp khó khăn khi muốn xin việc ở khu công nghiệp vì không có
bằng cấp III (đây cũng là lý do giải thích vì sao các hộ đều cố gắng đầu tư cho con ăn
học, đặc biệt từ năm 2000) Chuyển sang chăn nuôi gà công nghiệp trên đất thổ cư và
dựa vào nguồn thức ăn mua chịu từ các đại lý là lựa chọn của nhiều hộ, tuy nhiên họ
gặp rủi ro cao do dịch cúm gia cầm Từ đó, đề tài đưa ra kiến nghị: khi thu hồi đất, nhà
nước cần đánh giá đầy đủ các mất mát của hộ và cộng đồng, chứ không chỉ mất đất;
đẩy mạnh hướng nghiệp và đào tạo lực lượng lao động nông thôn; cần có chính sách
điều chỉnh đất đai, đảm bảo diện tích đất tối thiểu để sản xuất đủ lương thực cho tiêu
dùng của hộ; tổ chức tư vấn hộ sử dụng tiền đền bù; đầu tư công tác khuyến nông
nhằm giúp các hộ và lao động nông nghiệp chuyển đổi trong sản xuất nông nghiệp
Theo Huỳnh Văn Chương và Ngô Hữu Hoạnh (2010), việc Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp làm thay đổi nguồn tài
nguyên tạo sinh kế thực sự là một cú sốc lớn gây xáo trộn cuộc sống của người nông
dân Các nguồn tài nguyên tạo sinh kế có sự luân chuyển cho nhau, qua điều tra và
phân tích chỉ ra rằng, tài sản đất đai của người nông dân chuyển thành vốn tài chính và
vốn vật chất, rất ít trường hợp chuyển thành nguồn vốn xã hội và nguồn vốn con người
trong nhóm các nguồn tài nguyên tạo sinh kế Nghiên cứu cho thấy nhiều hộ dân tuy
có thu nhập cao hơn sau khi chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp
để thực hiện quá trình đô thị hoá nhưng người dân không yên tâm do thu nhập không
ổn định và cuộc sống tiềm ẩn những bất ổn Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cần có
những giải pháp cụ thể hơn về tạo việc làm, tư vấn sử dụng nguồn vốn bồi thường, hỗ
trợ đền bù, tái định cư từ phía Nhà nước để người dân bị thu hồi đất có sinh kế bền
vững sau thu hồi đất
Trang 38Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu
2.1.1 Thông tin về tình hình chung của địa bàn nghiên cứu:
- Điều kiện tự nhiên của xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
- Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
- Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng tại xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
- Thông tin về dân số, lao động, việc làm và thu nhập tại địa bàn nghiên cứu
2.1.2 Thông tin về tình hình thu hồi đất GPMB
- Nghiên cứu quá trình thu hồi đất GPMB để xây dựng dự án Nhà máy nhiệt
điện Quảng Trạch tại xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
- Thực trạng sử dụng đất và tình hình biến động đất đai của xã Quảng Đông
- Nghiên cứu thực trạng việc bồi thường, hỗ trợ và tái định tại xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
2.1.3 Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế của 02 nhóm hộ dân
- Tìm hiểu những ảnh hưởng của nguồn sinh kế đến các nhóm hộ bị thu hồi đất:
Nguồn vốn tự nhiên, Nguồn vốn con người, Nguồn vốn xã hội, Nguồn vốn tài chính và
- Đánh giá tác động tích cực và tiêu cực của việc thu hồi đất đối với các nhóm
hộ dân tại xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
- Đề xuất một số giải pháp thích ứng sinh kế cho 02 nhóm hộ bị thu hồi đất để
xây dựng nhà máy nhiệt điện tại vùng nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Quảng Đông là một xã nằm ở phía Bắc huyện Quảng Trạch, có vị trí địa lý và giao thông thuận lợi (có tuyến đường Quốc lộ 1A đi qua địa bàn xã), có đường bờ
biển dài Mặt khác xã Quảng Đông được chọn để quy hoạch xây dựng khu kinh tế
Trang 39Hòn La nên vấn đề chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp để xây
dựng khu kinh tế diễn ra mạnh mẽ Bên cạnh đó quá trình chuyển đổi này đã ảnh
hưởng không nhỏ đến đời sống, kinh tế, xã hội của địa phương cũng như sinh kế của
các hộ nông dân sau khi bàn giao đất Do vậy, để đạt được mục tiêu nghiên cứu tôi
tiến hành chọn điểm nghiên cứu dựa trên diện tích đất nông nghiệp đã bàn giao đất
cho nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch 1 để thấy được sự thay đổi
2.3.2 Phương pháp chọn hộ nghiên cứu
Đề tài đã điều tra 60 hộ nông dân dựa trên phương pháp phân tổ thống kê
Tiêu chí phân tổ là tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi Theo tiêu chí này có 02
nhóm hộ sau:
+ Nhóm 1: Nhóm hộ bị mất ít đất: Là hộ có diện tích đất bị thu hồi từ 30%
đến 70% tổng diện tích đất nông nghiệp được giao Điều tra trên 27 hộ
+ Nhóm 2: Nhóm hộ bị mất nhiều đất: Là hộ có diện tích đất bị thu hồi trên 70% tổng diện tích đất nông nghiệp được giao Điều tra trên 33 hộ
Sở dỉ chọn 02 nhóm hộ trên để điều tra là do quá trình thu hồi đất và đền bù thì thấy có sự biến chuyển rõ nét về đời sống cũng như sinh kế so với các hộ trong
vùng Do vậy tôi chọn 02 nhóm này để xem xét bối cảnh dễ gây tổn thương đối với
hộ, tình trạng và sự dịch chuyển nguồn lực sinh kế của hộ, sự thay đổi chiến lược và
mô hình sinh kế của hộ, kết quả sinh kế của từng nhóm hộ, những khó khăn về sinh
kế của hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất
2.3.3 Phương pháp phân tích theo khung sinh kế bền vững
Nghiên cứu được thiết kế và phân tích dựa vào khung sinh kế của Bộ Phát triển Quốc tế Vương Quốc Anh (DFID) Dựa vào lý thuyết khung sinh kế bền vững của DFID
để phân tích khả năng tiếp cận các loại nguồn vốn tạo sinh kế, hoàn cảnh của người nông
dân, sinh kế của họ trước khi thu hồi đất Các nội dung nghiên cứu được thể hiện thông
qua khung phân tích sau:
Trang 40(Nguồn: DFID, 2003)
Hình 2.1 Khung sinh kế