ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Phòng khám Lão khoa, bệnh viện ĐHYD TPHCM
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang, mô tả.
Cỡ mẫu được tính theo công thức: n ≥
Z 1-α/2 = 1,96 d: sai số ước tính, chọn d = 0,05 [40].
P1: Tỉ lệ ước tính của SGNT nhẹ là: 0,25.
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Xuân Lan về việc đánh giá thang điểm MoCA trong việc tầm soát suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) ở người Việt Nam, tỷ lệ MCI tại phòng khám của chúng tôi tương tự với dân số nghiên cứu, đạt 28,6%, trong khi tỷ lệ suy giảm trí tuệ (SSTT) là 20%.
P2: Tỉ lệ ước tính của SSTT là: 0,20
Chọn các NB thỏa các tiêu chí đưa vào như trên theo cách chọn mẫu thuận tiện trong thời gian nghiên cứu.
2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu
Dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi đã được chuẩn bị sẵn Các nghiên cứu viên tiến hành phỏng vấn trực tiếp theo từng mục trong bảng thu thập số liệu được trình bày ở phụ lục 1.
2.3.5 Công cụ thu thập số liệu
Bảng câu hỏi phỏng vấn bao gồm bộ câu hỏi MMSE, bộ câu hỏi MoCA, cùng với bảng thu thập dữ liệu thông tin cá nhân và các đặc điểm liên quan cần khảo sát.
Bản ký thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu của NB
2.3.6 Kiểm soát sai lệch thông tin
Thiết kế bộ câu hỏi phù hợp, rõ ràng, dễ hiểu và ghi nhận đủ thông tin cần thiết.
Hướng dẫn đối tượng nghiên cứu cách trả lời câu hỏi trong phiếu phỏng vấn; nếu người bệnh chưa hiểu nội dung câu hỏi, họ có thể phối hợp với người nhà để được giải thích một cách phù hợp.
Mục đích của nghiên cứu sẽ được giải thích một cách trực tiếp và rõ ràng cho đối tượng được phỏng vấn, nhấn mạnh tính khuyết danh của thông tin và kêu gọi sự ủng hộ từ họ.
Kiểm tra lại số lượng bộ câu hỏi trước thu thập.
2.3.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Các số liệu thu thập được xử lý như sau :
Nhập liệu bằng phần mềm Epi Data 3.1 và phân tích theo phần mềm STATA 14.0.
Biến số định tính được thống kê theo tần số và tỉ lệ phần trăm.
Biến số định lượng có phân phối chuẩn được thống kê theo số trung bình và độ lệch chuẩn.
Biến số định lượng không có phân phối chuẩn được thống kê theo số trung vị và giá trị tương ứng với 25% và 75%.
Các phép kiểm định thống kê được dùng là :
Kiểm định Chi bình phương để kiểm định sự khác biệt tỷ lệ giữa 2 nhóm của biến số định tính.
Nếu không thỏa điều kiện của phép kiểm Chi bình phương thì kiểm định bằng phép kiểm chính xác Fisher.
Dùng hệ số tương quan Pearson và mô hình hồi quy tuyến tính để kiểm định mối tương quan giữa các biến định lượng có phân phối chuẩn.
Hệ số tương quan R, với R < 0 là tương quan nghịch, R > 0 là tương quan thuận. Mức độ tương quan:
│R│ > 0,7: tương quan rất chặt chẽ
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi P < 0,05
Đánh giá sự tương đồng của hai thang điểm:
Hệ số kappa được dùng để đánh giá tính đồng nhất của thang điểm Các giá trị của Kappa:
• < 0: không có tính đồng nhất
Kế hoạch thực hiện
Sơ đồ nghiên cứu 2.4.2 Các bước tiến hành thu thập số liệu
Sàng lọc, chọn NB cao tuổi (≥ 60 tuổi) thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu, không có tiêu chuẩn loại trừ tại BV ĐHYD TPHCM.
Tất cả NB đều được giải thích mục đích của nghiên cứu, đồng ý tham gia nghiên cứu có ký xác nhận vào bảng đồng thuận.
Tất cả đối tượng tham gia nghiên cứu được phỏng vấn bộ câu hỏi. Đánh giá thang hoạt động chức năng IADL, ADL.
Để xác định chẩn đoán suy giảm nhận thức nhẹ hoặc sa sút trí tuệ, cần dựa vào các chỉ số như MoCA và MMSE Người bệnh được coi là mắc sa sút trí tuệ khi có điểm số bất thường theo định nghĩa của các biến số nghiên cứu.
NCT thỏa tiêu chuẩn Đánh giá bộ câu hỏi MMSE và MoCA
MMSE, MoCA bất thường Đánh giá IADL
Tỉ lệ SGNT nhẹ Tỉ lệ SSTT Đánh giá sự tương đồng giữa MoCA và MMSE
Thu thập các dữ liệu: nhân trắc học, bệnh đi kèm, thuốc đang dùng Đánh giá mối liên quan giữa SGNT và các yếu tố
Mục tiêu chính là hỗ trợ người bệnh (NB) trong việc phục hồi và duy trì chức năng hoạt động hàng ngày (IADL) Nếu người bệnh không có sự suy giảm chức năng, họ sẽ được phân loại vào nhóm suy giảm nhận thức nhẹ.
2.4.3 Định nghĩa các biến số nghiên cứu
2.4.3.1 Biến số liên quan đặc điểm dân số xã hội- nhân trắc học:
Tuổi là một biến liên tục, được xác định bằng cách lấy năm hiện tại trừ đi năm sinh Biến này có thể được phân loại thành ba nhóm khác nhau thông qua việc mã hóa biến định lượng thành biến định tính.
Giới : biến nhị giá gồm giá trị: nam hoặc nữ.
Trình độ học vấn : biến thứ tự gồm các giá trị
Nơi sinh sống : biến nhị giá, gồm có giá trị: Thành thị hay Nông thôn.
Thành thị: đối tượng sinh sống ở thành phố, thị xã, thị trấn.
Nông thôn: đối tượng sinh sống ở các khu vực còn lại.
BMI : là biến định lượng được tính bằng công thức
Sau đó được mã hoá thành biến định tính, phân thành 3 nhóm:
- Thừa cân/ béo phì: BMI ≥ 23
Tình trạng sống : gồm các giá trị:
Tập thể dục : biến định tính có 2 giá trị.
- Có tập thể dục: tập thể dục 15 phút mỗi ngày, không tính đến cường độ của bài tập thể dục.
- Không tập thể dục: không thỏa điều kiện trên.
2.4.3.2 Biến số liên quan hội chứng Lão khoa và tiền căn bệnh tật:
Số thuốc đang dùng : biến nhị giá gồm giá trị:
Chỉ số đa bệnh lý của Charlson [101]: Đa bệnh được mã hoá thành biến nhị giá.
Các bệnh lý đi kèm : gồm các biến nhị giá, với 2 giá trị có và không, được thu thập dựa trên hồ sơ bệnh án.
- Bệnh tim thiếu máu cục bộ
- Rối loạn chuyển hóa lipid máu
Té ngã trong vòng 12 tháng trước : được mã hóa thành biến nhị giá gồm giá trị:
2.4.3.3 Biến số liên quan tình trạng nhận thức và hoạt động chức năng Tình trạng nhận thức theo MMSE (phụ lục 2) [94]
Là biến định lượng có giá trị từ 0 đến 30 và được chia theo mức độ:
- Sa sút trí tuệ: MMSE: điểm ≤ 24 điểm.
- Suy giảm nhận thức nhẹ: 25- 27 điểm.
- Không suy giảm nhận thức theo MMSE: điểm ≥ 28 điểm.
Tình trạng nhận thức theo MoCA (phụ lục 3):
Là biến định lượng có giá trị từ 0 đến 30 được chia theo mức độ:
- Suy giảm nhận thức theo MoCA (có): < 26 điểm
- Không giảm nhận thức theo MoCA (không): ≥ 26 điểm
Chúng tôi áp dụng thang đánh giá hoạt động sinh hoạt hàng ngày Lawton IADL để xác định tình trạng sức khỏe tâm thần theo tiêu chuẩn DSM-5 Thang này bao gồm 8 mục: sử dụng điện thoại, đi mua sắm, nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ, di chuyển, quản lý thuốc men và quản lý tài chính, với điểm số từ 0 đến 8.
Xác định là MCI khi đối tượng thỏa tiêu chuẩn điểm MoCA và MMSE theo định nghĩa biến số và không bất thường IADL.
Xác định là SSTT khi đối tượng thỏa tiêu chuẩn điểm MoCA và MMSE theo định nghĩa biến số và có bất thường IADL bất kỳ.
Tình trạng chức năng theo ADL, IADL (functional status): phụ lục 6
Biến nhị giá, gồm có hay không:
Có bất thường ADL (có): ADL≤ 5.
Không bất thường ADL (không): ADL= 6.
Có bất thường IADL (có): IADL ≤ 7.
Không bất thường IADL (không) IADL = 8.
Tình trạng suy yếu: biến danh định, gồm 9 giá trị theo thang điểm suy yếu lâm sàng CFS của CSHA[70]: phụ lục 6.
2.4.4 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được thông qua hội đồng khoa học và hội đồng Y đức của ĐHYD TPHCM và Hội đồng nghiên cứu khoa học BV ĐHYD TPHCM.
Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu được giải thích cụ thể về mục đích nghiên cứu.
Việc thu thập số liệu chỉ được thực hiện khi người tham gia nghiên cứu đồng ý tham gia một cách tự nguyện và có văn bản xác nhận Đồng thời, cần đảm bảo tính bí mật của thông tin nghiên cứu để bảo vệ quyền lợi của người tham gia.
KẾT QUẢ
Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
3.1.1 Phân bố mẫu nghiên cứu theo tuổi:
Bảng 3.1Đặc điểm về tuổi của mẫu nghiên cứu (n = 288) Đặc điểm Trung bình Độ lệch chuẩn
Nhận xét: Đối tượng tham gia nghiên cứu có tuổi trung bình là 70,86 ± 7,08; trong đó nhỏ nhất là 60 tuổi và lớn nhất là 94 tuổi.
Bảng 3.2 Đặc điểm về nhóm tuổi của mẫu nghiên cứu (n = 288) Đặc điểm Tần số Tỷ lệ %
Nhận xét: Đối tượng tham gia nghiên cứu chủ yếu là