Trong bài viết này, phân tích thực trạng pháp luật về chế tài xử lý hành vi BLGĐ ở Việt Nam; Thực trạng áp dụng pháp luật về chế tài xử lý hành vi BLGĐ; Kiến nghị hoàn thiện và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chế tài xử lý hành vi BLGĐ...Mời các bạn tham khảo!
Trang 1MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
ĐỐI VỚI HÀNH VI BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Lê Thị Minh Mẫn, Nguyễn Thị Phương Thu, Bùi Võ Thảo Vy,
Nguyễn Phạm Trường Vinh *
Viện Công nghệ Việt – Nhật, Trường Đại học Công nghệ TP Hồ Chí Minh
GVHD: Ths Lê Th ị Minh Thư
TÓM TẮT
Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội Theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
2007 (PC BLGĐ), đây là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình BLGĐ xảy ra ở mọi quốc gia, nền văn hóa, tôn giáo, không có ngoại lệ về giàu - nghèo hay trình độ học vấn Ở Việt Nam, BLGĐ đang có chiều hướng gia tăng đáng báo động và trái ngược với truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc BLGĐ không còn đơn thuần chỉ là hành vi đánh đập ngược đãi về thể xác, về tinh thần, bạo hành trong tình dục, bạo lực kinh tế… mà còn là hành vi phạm tội nghiêm trọng Vậy nguyên nhân gây nên BLGĐ là gì, công tác quản lý; công tác phòng, chống hành vi bạo lực gia đình có những bất cập, chế tài xử lý hành vi BLGĐ vẫn chưa đủ răn đe Trong bài viết này, nhóm tác giả phân tích: Thực trạng pháp luật về chế tài xử lý hành vi BLGĐ ở Việt Nam; Thực trạng áp dụng pháp luật về chế tài xử lý hành vi BLGĐ; Kiến nghị hoàn thiện và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chế tài xử lý hành vi BLGĐ
Từ khóa: Bất cập, bạo lực gia đình, chế tài, kiến nghị, xử lý.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo báo cáo Tổ chức Y tế thế giới công bố năm 2013 cho biết, trong số 3 phụ nữ trên thế giới thì có
1 người là nạn nhân của bạo hành gia đình, đa số là phụ nữ ở châu Á và Trung Đông Còn ở Việt Nam, theo thống kê của Tổng cục Thống kê và Liên hiệp quốc đã đưa ra con số đáng báo động: có đến 58% phụ nữ Việt Nam cho biết mình đã từng là nạn nhân của ít nhất 1 trong 3 hình thức bạo hành trong đời sống vợ chồng là bạo hành thể xác, tình dục và tinh thần Và có tới khoảng một nửa
số nạn nhân này chưa từng nói với ai về tình trạng bạo lực mà họ phải chịu đựng [11]
Theo thống kê sơ bộ từ năm 2009 đến năm 2017, có 292.268 vụ BLGĐ, trung bình mỗi năm có khoảng 36.534 vụ Trong đó, có đến 50% nạn nhân nữ chưa bao giờ kể với ai về vụ bạo hành, 87% nạn nhân nữ chưa yêu cầu chính quyền hoặc các cơ chế chính thống hỗ trợ, chỉ 43% trường hợp bạo hành gia đình được trình báo với công an, 61% trường hợp bạo hành được trình báo chuyển thành hòa giải, 12% trường hợp trình báo dẫn tới một tội danh hình sự…[1] Theo nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Việt Nam năm 2010 cho thấy, có 32% phụ nữ đã từng kết hôn cho biết họ đã phải hứng chịu bạo lực thể xác trong đời và 6% đã từng trải qua bạo lực thể xác trong vòng 12 tháng trở lại đây; 10% phụ nữ đã từng kết hôn cho biết rằng họ đã từng trải nghiệm
Trang 2bạo lực tình dục trong đời và 4% trong vòng 12 tháng trở lại đây; 54% phụ nữ cho biết đã phải hứng chịu bạo lực tinh thần trong đời và 25% cho biết đã bị bạo lực tinh thần trong thời gian gần đây Tỷ
lệ bị bạo lực về kinh tế trong đời đối với phụ nữ đã kết hôn là 9% Riêng tỉnh Khánh Hòa, theo thống
kê của Sở Văn hóa - Thể thao, bình quân mỗi năm Khánh Hòa có hơn 100 vụ BLGĐ, trong đó 90% bạo lực do người chồng gây ra và đa số là bạo lực thân thể Theo thống kê hàng năm về BLGĐ của
TP Nha Trang, từ 2008 - 2010, trên địa bàn xảy ra 191 vụ BLGĐ, trong đó có 167 nạn nhân là phụ nữ; từ 2011 - 2015 xảy ra 86 vụ, trong đó 80 nạn nhân là phụ nữ Nguyên nhân BLGĐ được xác định do các tệ nạn xã hội mà người chồng hoặc vợ mắc phải, như: nghiện rượu, cờ bạc, con cái vi phạm pháp luật [7] Trên thực tế 58% phụ nữ Việt Nam từng là nạn nhân của ít nhất một hình thức bạo hành Đây là kết quả nghiên cứu về BLGĐ đối với phụ nữ Việt Nam do Liên Hiệp Quốc mới công
bố giữa tháng 9/2019[8]
Như vậy, trong nhiều trường hợp, bạo lực đang trở thành một trong những nguy cơ biến gia đình thành ‚địa ngục trần gian‛, đã và đang gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đến quyền con người, danh dự, nhân phẩm và tính mạng của mỗi cá nhân, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em và người già Nó làm xói mòn các giá trị truyền thống tốt đẹp, tác động xấu đến môi trường giáo dục thế hệ trẻ, ảnh hưởng đến sự an toàn, lành mạnh của cộng đồng và trật tự xã hội Ngoài những hậu quả về xã hội, đạo đức và sự bền vững của gia đình, BLGĐ còn gây ra những tác động tiêu cực đến đời sống kinh
tế - xã hội Vì vậy, để tìm hiểu rõ ràng hơn về những quy định cũng như các chế tài xử lý về hành vi này và thực tiễn áp dụng pháp luật ra sao Sau đây, nhóm tác giả sẽ phân tích về thực trạng áp dụng pháp luật về chế tài xử lý hành vi BLGĐ
2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI XỬ LÝ HÀNH VI BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Tại Việt Nam, tình trạng nam giới có hành động bạo lực với nữ giới, đặc biệt là chồng đối với vợ, vẫn còn rất phổ biến Gần đây nhất, ngày 27/8/2019, trên mạng xã hội lan truyền một đoạn video dài hơn 2 phút do camera an ninh trong một gia đình tại Hà Nội ghi lại, cho thấy cảnh một phụ nữ trẻ
bế con nhỏ chỉ vài tháng tuổi, liên tục bị người chồng, là một võ sư, cao to, tát, đấm đá và ném sỏi vào người, khiến người mẹ trẻ cùng em bé nhiều lần ngã xuống nền nhà, vậy mà người chồng không buông tha Sau khi đoạn video này được lan truyền đã gây ra một làn sóng phẫn nộ trong
dư luận Dù bản thân là nạn nhân của hành vi bạo lực này thế nhưng, người vợ lại rút đơn tố cáo và xin hòa giải, nên công an địa phương đã tạm thả người chồng về, chờ xử lý sau Điều này cho thấy một thực trạng là ít có nạn nhân nào dám đi đến cùng trong quá trình pháp lý để cho pháp luật trừng trị nghiêm khắc những kẻ gây ra bạo hành trong gia đình
Theo bà Nguyễn Vân Anh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng khoa học về giới, phụ nữ
và vị thành niên (CSAGA), cũng ghi nhận là ở Việt Nam, còn ít phụ nữ dám lên tiếng tố cáo hành vi bạo lực của người chồng: ‚Mặc dù đã có nhiều đạo luật được ban hành để bảo vệ người phụ nữ,
này có liên quan đến rất nhiều thứ Thứ nhất là quan niệm ‚ xấu chàng hổ ai‛, sợ rằng nếu nói ra thì dường như là gia đình mình có một vết nhơ Thứ hai, người ta vẫn cho rằng người phụ nữ phải như
các khuôn mẫu về giới vẫn cho rằng người phụ nữ phải nín nhịn Quan niệm đó đã hạn chế việc
Trang 3lên tiếng của những người trong cuộc Thêm một điều nữa là họ nghĩ rằng bằng mọi giá họ phải giữ gia đình cho con cái của họ, giữ cái bộ mặt sĩ diện gia đình cho bố mẹ của họ nữa Tất cả
cũng quan trọng không kém, đó là việc thi hành luật pháp đối với những kẻ có hành vi BLGĐ Tại phiên thảo luận hôm 09/08 do bộ Tư Pháp Việt Nam phối hợp với Liên hiệp châu Âu (EU) và Chương trình Phát triển Liên hiệp Quốc (UNDP) tổ chức, ông Đỗ Đức Hiển, Vụ trưởng Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, bộ Tư Pháp, nhìn nhận là ‚thực thi pháp luật về xử lý phân biệt đối xử, bạo lực
Trong đó, các biện pháp giải quyết BLGĐ trong Luật mới chỉ tập trung vào hòa giải với mục tiêu cuối cùng là hàn gắn và hòa hợp trong gia đình, còn đối với việc áp dụng xử phạt hành chính thường là bằng tiền (biện pháp này thường gây tác động tiêu cực đến nạn nhân vì tiền nộp phạt thường là tiền của cả gia đình, chứ không phải tiền, tài sản của riêng thủ phạm) Theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống BLGĐ, có đưa ra một số quy định về hình thức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống BLGĐ Trong một số trường hợp được qui định tai Mục 4 của Nghị định này là rất bất hợp lý: Như hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người ngăn chặn, phát hiện, báo tin bạo lực gia đình, người giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình hoặc hành vi ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác thì
hành vi bạo lực gia đình thì mức phạt như vậy là quá thấp Trong điều kiện nền kinh tế phát triển như hiện nay nếu thực hiện tăng mức phạt tiền cao hơn thì đối với những người có điều kiện kinh tế thì mức phạt cao hơn cũng không có ý nghĩa giáo dục họ Ngược lại, trong nhiều trường hợp biện pháp này có thể trở thành ‚con dao hai lưỡi‛, khiến tình trạng bạo lực nghiêm trọng hơn và người có hành vi bạo lực vì phải nộp phạt mà trút giận lên nạn nhân bằng những hành vi bạo lực kinh khủng hơn, tinh vi hơn… Vì vậy, cần phải có những biện pháp áp dụng hình phạt ở mức cao hơn để có thể ngăn chặn triệt để được hành vi này
Theo Khoản 7 Điều 36 Luật PCBLGĐ 2007 quy định: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ‚chủ trì, hướng dẫn công tác tổng hợp tình hình PCBLGĐ, chỉ đạo thực hiện chế độ báo cáo thống kê về PCBLGĐ, chỉ đạo tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, nhân rộng các mô hình PCBLGĐ‛ Tuy nhiên việc thực hiện báo cáo vẫn chưa có văn bản quy định rõ ràng về biểu mẫu báo cáo, thống kê về PCBLGĐ cho nên việc thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về PCBLGĐ của các địa phương, các cơ quan thiếu thống nhất Quy định về những điều kiện áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc vẫn chưa hợp lý: Người có hành vi BLGĐ và nạn nhân BLGĐ có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc, nơi ở này bao gồm nhà của người thân, bạn bè, địa chỉ tin cậy hoặc nơi khác mà nạn nhân BLGĐ tự nguyện chuyển đến ở (Điều 9 Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04/02/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật PCBLGĐ) [4] Mặc dù, quy định của pháp luật là khi
áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc nhưng lại không qui định rõ là nạn nhân phải ra khỏi nhà hay người gây ra hành vi bạo lực phải ra khỏi nhà Nhưng trên thực tế, do không chịu nổi việc bị bạo hành thường xuyên nên người phải ra khỏi nhà thường là nạn nhân của BLGĐ Không loại trừ đây
Trang 4là kẽ hở trong thực thi luật pháp mà vô tình tạo điều kiện để người có hành vi muốn chiếm đoạt tài sản, nhà cửa đuổi nạn nhân ra khỏi nhà Còn việc yêu cầu phải có đơn để được Chủ tịch UBND cấp
xã ra quyết định cấm tiếp xúc được qui định tại Điểm a Khoản 1 Điều 9 Nghị định số
08/2009/NĐ-CP cũng là một việc gây khó khăn khi thực hiện biện pháp cấm tiếp xúc vì có thể người gây bạo lực
sẽ ngăn cản không cho nạn nhân viết đơn
Khoản 3, Điều 4 Luật PCBLGĐ 2007 quy định đối với những trường hợp nạn nhân bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, cần tới sự can thiệp của y tế thì người thực hiện hành vi bạo lực phải kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân BLGĐ, trừ trường hợp nạn nhân từ chối Đây
là điều rất khó thực hiện khi một bên là người thực hiện hành vi bạo lực, một bên là nạn nhân của hành vi bạo lực Khi đã là người thực hiện hành vi bạo lực thì trong suy nghĩ họ thường không thương xót, lo lắng cho nạn nhân mà đưa họ đi chữa trị, chăm sóc; hoặc có khi họ nhận thấy sai lầm của mình nhưng do sợ bị phát hiện, sợ phải gánh trách nhiệm nên không dám đưa nạn nhân
đi cấp cứu, chữa trị Còn đối với nạn nhân do tâm lý bất ổn sau khi bị bạo hành thì họ thường sẽ tự cam chịu một mình, họ sợ phải đối mặt với những lời bàn tán, những ánh nhìn của những người xung quanh nên sẽ từ chối việc đi điều trị, về lâu dài sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến tinh thần
và sức khỏe của họ Do đó, cần có những biện pháp cụ thể tập trung vào tâm lý của những nạn nhân bị bạo hành để có thể giúp họ thoát khỏi cánh cửa địa ngục đó
Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành luật trên địa bàn Hà Nội mới đây cho thấy công tác xử lý của chính quyền và các cơ quan chức năng vẫn còn hạn chế, ít ỏi Số liệu thống kê trong 10 năm (từ năm 2008 - 2018) có 7.188 vụ BLGĐ, nhưng biện pháp xử lý hành vi BLGĐ bằng cấm tiếp xúc theo quyết định của chủ tịch UBND cấp xã chỉ có 8 vụ, cấm tiếp xúc theo quyết định của chủ tịch UBND cấp huyện 3 vụ, xử phạt hành chính (phạt tiền) 15 vụ, xử lý hình sự 27 vụ Biện pháp xử lý chính là góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư với 5.319 vụ Điều đó cho thấy việc xử lý ở mức độ nhắc nhở, hòa giải đã không mang lại hiệu quả cao Một lỗ hổng lớn trong thực thi pháp luật về BLGĐ chính là sự mờ nhạt trong những quy định ràng buộc về vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong phòng, chống BLGĐ [3]
3 CHẾ TÀI XỬ LÝ HÀNH VI BẠO LỰC GIA ĐÌNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Luật PC BLGĐ của nước ta cũng được xây dựng trên cơ sở Luật mẫu của Liên hợp Quốc nên về cơ bản cũng có những nét tương đồng với Luật chống bạo hành phụ nữ và trẻ em năm 2004 của Philippines Tuy nhiên, bên cạnh những nét tương đồng là chính, có thể nhận thấy có sự khác biệt nhất định giữa luật của hai nước Sự khác biệt giữa luật của hai nước về PC BLGĐ thể hiện qua các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân, luật của Philippines quy định về quyền yêu cầu ban hành lệnh bảo vệ, trong khi đó Luật PC BLGĐ của Việt Nam quy định về biện pháp cấm tiếp xúc và các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hay tố tụng hình sự đối với người có hành vi bạo lực (Điều 19 Luật PC BLGĐ) Có thể thấy quy định của Luật chống bạo hành phụ nữ và trẻ em năm 2004 của Philippines về lệnh bảo vệ là cụ thể và trực tiếp hơn, do đó có tác dụng thiết thực và hiệu quả hơn [9] Bên cạnh đó, trong lệnh bảo vệ cũng bao hàm rất nhiều biện pháp hỗ trợ nạn nhân mà nạn nhân có quyền yêu cầu thực hiện nên có tính khả thi và hiệu quả
Trang 5hơn đối với nạn nhân Theo Luật của nước ta, biện pháp cấm tiếp xúc có thể coi là biện pháp đặc trưng nhưng tính khả thi của nó lại không cao và do đó khó có hiệu quả thực tế
Đối với Hàn Quốc tương tự như Luật Phòng chống bạo lực gia đình và bảo vệ nạn nhân, Luật về xử phạt tội phạm bạo lực gia đình năm 1997 cũng quy định nhà nước và các cơ quan quản lý địa phương phải có biện pháp ngăn chặn BLGĐ và bảo vệ nạn nhân; cho phép người phạm tội có thể
tự thú hoặc có thể bị tố cáo bởi những người có quan hệ huyết thống Để có thể nhanh chóng bảo
vệ các nạn nhân, luật quy định khi có vụ việc bạo lực gia đình, cảnh sát đến hiện trường có quyền tạm thời cách ly hoặc cấm tiếp cận các đương sự Luật cung cấp các phương tiện để nạn nhân có thể tự bảo vệ an toàn của bản thân, cho phép họ trực tiếp đến tòa án yêu cầu được bảo vệ Những người vi phạm quy định bảo vệ, không chấp hành lệnh bảo vệ nạn nhân hoặc lệnh bảo vệ tạm thời nạn nhân có thể bị phạt nặng như phạt tù 3 năm hoặc nộp phạt với số tiền tương đương với 30.000 USD[6] Từ hình thức xử phạt của Hàn Quốc đối với BLGĐ có thể thấy được mức xử phạt này cao hơn
và mang tính răn đe hơn so với mức xử phạt ở Việt Nam
Nga phi hình sự hoá tội bạo hành gia đình Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ký ban hành một đạo luật về phi hình sự hóa một số hình thức của bạo hành trong gia đình, theo đó, tội này được xếp loại vi phạm hành chính nếu phạm tội lần đầu Theo luật mới, người vi phạm lần đầu và không gây tổn hại cho sức khỏe người bị hại sẽ bị tạm giữ hành chính lên đến 15 ngày, bị phạt tiền tới 30.000 ruble (khoảng 507 USD), hoặc phải thực hiện lao động công ích lên đến 120 giờ Nếu tái phạm sẽ bị điều tra theo Luật Hình sự, theo đó có thể bị phạt đến 40.000 ruble hoặc tương đương lương hay thu nhập khác trong 3 tháng, hoặc phải hoàn thành đến 240 giờ lao động công ích, thực hiện công tác cải tạo đến 6 tháng, hoặc bị giam đến 3 tháng [10].Nga là nước đầu tiên trên thế giới phi hình
sự hóa tội bạo hành gia đình và cũng qui định cụ thể về hình thức xử phạt giữa lần vi phạm lần đầu
và tái vi phạm Có thể thấy Nga cực kỳ quan tâm đến vấn đề bạo lực gia đình
Mỗi chế tài của các nước đều có ưu điểm và khuyết điểm riêng nhưng hầu hết đều cải thiện được đáng kể số lượng BLGĐ trên đất nước mình So sánh sự khác biệt về chế tài xử phạt BLGĐ của các nước để có thể thấy được những mặt tích cực cũng như những hạn chế cần khắc phục của Luật PC BLGĐ của Việt Nam, trên cơ sở đó có thể xem xét sửa đổi, bổ sung hoàn thiện và đảm bảo hiệu quả của Luật PC BLGĐ trong thực tế
5 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÈ CHẾ TÀI XỬ LÝ HÀNH VI BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Dựa trên những bất cập hiện nay, nhóm chúng tôi đã đề ra những giải pháp góp phần cải thiện quy định chưa hợp lý, và những chế tài chưa phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả xử lý, giải quyết bạo lực gia đình cũng như góp phần giảm thiểu tối đa BLGĐ
hoàn thiện Luật PC BLGĐ để phù hợp với tình hình kinh tế xã hội hiện nay Trong đó, chúng ta cần phải xác định thêm những hành vi bạo lực gia đình tại thời điểm này mà tại Điều 2 Luật PC BLGĐ năm 2007 liệt kê chưa đủ hoặc giải thích về hành vi vẫn còn quá chung chung Hiện nay tình trạng BLGĐ ngày càng có xu hướng phức tạp và đa dạng hơn, bằng nhiều cách thức và phương pháp
Trang 6người thực hiện hành vi BLGĐ vẫn có thể gây tổn thương trực tiếp hoặc gián tiếp đến tâm lý, danh
dự, sức khỏe của nạn nhân, đồng thời nạn nhân cũng khó xác định được đâu là hành vi BLGĐ dựa trên các hành vi được liệt kê tại Điều 2 Luật PC BLGĐ năm 2007 để tố cáo và để yêu cầu
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền can thiệp Do đó, theo quan điểm của chúng tôi, cần phải phân loại cụ thể những hành vi bạo lực theo từng lĩnh vực cụ thể như: Sức khỏe, tinh thần, danh dự và nhân phẩm, kinh tế, tình dục, Để có thể phân loại và cụ thể hóa một cách kỹ càng đòi hỏi phải có thêm những nghiên cứu và tham khảo dựa trên thực trạng xã hội hiện nay và nhiều nguồn luật của các quốc gia tiên tiến trên thế giới để từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về PC BLGĐ, không ngừng nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống bạo lực gia đình
PC BLGĐ tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ mà ở phần bất cấp nêu trên chúng tôi
đã cho rằng quy định này vẫn chưa hơp lý và không có tính khả thi chính vì thế, có thể bỏ chế tài phạt tiền người chồng hoặc vợ khi có hành vi bạo hành mà dùng hình thức chế tài khác như lao động công ích tại địa phương Nếu phạt chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề tài chính mà chính bản thân nạn nhân cũng là người gánh chịu, như vậy sẽ không giải quyết triệt để được thực trạng bạo lực gia đình mà càng khiến cho nạn nhân không muốn tố cáo tiếp.Chính vì thế nhóm nghiên cứu cho rằng biện pháp lao động công ích tại địa phương có thể mang tính khả thi cao hơn vì nó có ý nghĩa giáo dục tích cực với người có hành vi bạo lực, đồng thời không ảnh hưởng tới quyền lợi của nạn nhân Hơn nữa, nhóm nghiên cứu cho rằng biện pháp này có thể răn đe về mặt tâm lý, từ đó ngăn ngừa họ tái phạm Đồng thời qua đây, người phạm tội nhận thấy được bổn phận, trách nhiệm của mình với cộng đồng với gia đình, với những người xung quanh, nên sẽ cố gắng tránh bằng cách không thực hiện hành vi vi phạm
d Khoản 1 Điều 19 Luật PC BLGĐ quy định về việc cấm tiếp xúc: ‚Cấm người có hành vi bạo lực gia đình đến gần nạn nhân; sử dụng điện thoại hoặc các phương tiện thông tin khác để có hành vi
toàn cho nạn nhân và cũng là để người có hành vi bạo hành suy nghĩ về lỗi lầm do bản thân gây
ra [2] Tuy nhiên, chúng ta cần làm rõ hơn về cách xử lý của quy định trên, rằng là việc người có hành vi bạo lực hay người bị hại sẽ phải ra khỏi nhà, và nếu trong trường hợp người bị hại ra khỏi nhà thì người đó phải đảm bảo quyền trông nom, chăm sóc gia đình, con cái của nạn nhân Và trong những trường hợp kể trên thì người có hành vi bạo lực phải có trách nhiệm chu cấp hay trách nhiệm pháp lý khác để đảm bảo cuộc sống cho nạn nhân, hoặc nạn nhân và con của nạn nhân trong trong trường hợp nạn nhân muốn đưa con theo Vì trên thực tế, với những nạn nhân của bạo lực gia đình là phụ nữ và trẻ em, do họ phụ thuộc nhiều vào người chồng, người cha, đặc biệt phụ thuộc rất nhiều về kinh tế, nên dù bị đối xử tàn nhẫn nên họ vẫn có thể nín nhịn, tiếp tục sống chung với người có hành vi bạo lực Bên cạnh đó có rất nhiều người phụ nữa sống vì con, nên họ sẽ chịu đựng, để con họ có được sự che trở an toàn chính vì thế việc mang theo con trong trường hợp này một phần để xoa dịu nổi đau, một phần sẽ khiến họ an tâm hơn trong thời gian cấm tiếp xúc Ngoài ra chúng ta dự phòng trong trường hợp nạn nhân vẫn tiếp tục muốn sống chung với người
có hành vi bạo lực, hay nói cách khác người có hành vi bạo lực cần có một sự theo dõi đặc biệt từ
Trang 7các cấp chính quyền bằng hình thức khai báo hoặc theo dõi bằng camera, và nạn nhân cần được theo dõi định kỳ về sức khỏe, cũng như tinh thần để chắc chắn rằng nạn nhân vẫn được đảm bảo đủ an toàn khi tiếp tục chung sống với người có hành vi bạo lực
Thứ tư, cần có sự tuyên truyền mạnh mẽ giữa các bộ ngành với người dân, đặc biệt những vùng sâu vùng xa, những vùng ít tiếp cận được với thông tin đại chúng, nhận thức của người dân nơi đây vẫn còn kém, vẫn còn những quan miện lạc hậu, bạo lực gia đình là chuyện tự ‚đóng cửa bảo nhau‛ , trọng nam khinh nữ, chồng chúa vợ tôi, gia trưởng,… khiến cộng đồng e ngại khi can thiệp
Đã đến lúc phải cấp bách nâng cao nhận thức và hành vi cho mọi người dân rằng không thể chấp nhận BLGĐ dù dưới hình thức nào Bởi gia đình được coi là tế bào của xã hội Việc xây dựng gia
đình hạnh phúc là trách nhiệm của mọi nhà, qua đó góp phần phát triển xã hội văn minh, tốt đẹp TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Báo Pháp luật Việt Nam, Nhiều thách thức xóa bỏ bạo lực gia đình ở Việt Nam, xem tại: http://tiengchuong.vn/Tin-tuc-su-kien/Nhieu-thach-thuc-xoa-bo-bao-luc-gia-dinh-o-Viet-Nam/30938.vgp, truy cập ngày 21/4/2020
[2] Đoàn Thị Ngọc Hải, Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, xem tại: https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx, truy cập ngày 21/4/2020 [3] Hạ Thi, Nạn nhân bị bạo hành né luật, xem tại:
https://baophunuthudo.vn/article/30396/170/nan-nhan-bi-bao-hanh-ne-luat, truy cập ngày 25/4/2020
[4] Huỳnh Thị Phúc, ‚Thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà N ng‛ Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam, xem tại: https://gass.edu.vn/CMS/Lists/LuanVan_LuanAn/Attachments/17044/Luanvan_HuynhThiPhu c.pdf , truy cập ngày 21/4/2020
[5] Minh Thùy, Bạo lực gia đình: Cần giải pháp thực tế, xem tại: https://vovgiaothong.vn/bao-luc-gia-dinh-can-giai-phap-thuc-te, truy cập 25/4/2020
[6] Ngọc Minh, Pháp luật về chống bạo lực gia đình ở Hàn Quốc: Cơ chế xử phạt nghiêm, xem tại:
http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=77&NewsId=422685&fbclid=IwAR07bN Ou9TCwRU0 , truy cập ngày 21/4/2020
[7] SGGP, Khó phòng, chống bạo lực gia đình, xem tại: http://tiengchuong.vn/Tin-tuc-su-kien/Kho-phong-chong-bao-luc-gia-dinh/31055.vgp, truy cập ngày 20/4/2020
[8] Thanh Phương, Bạo hành gia đình tại Việt Nam còn ít người tố cáo, xem tại:
http://www.rfi.fr/vi/viet-nam/20190903-bao-hanh-gia-dinh-tai-viet-nam-con-it-nguoi-dam-to-cao, truy cập 25/4/2020
Trang 8[9] Thông tin khoa học - Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Luật chống bạo hành đối với phụ nữ của Philippines và sự so sánh với Luật phòng, chống bạo lực gia đình của Việt Nam, xem tại: https://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/120/201, truy cập 25/4/2020
[10] Thu Hà, Nga phi hình sự hóa tội bạo hành gia đình, xem tại: http://tiengchuong.vn/Tin-tuc-su-kien/Nga-phi-hinh-su-hoa-toi-bao-hanh-gia-dinh/21494.vgp, truy cập ngày 21/4/2020 [11] Tú Mai, 54% Phụ nữ Việt Nam từng bị bạo lực gia đình, xem tại: http://tiengchuong.vn/Tin-tuc-su-kien/54-phu-nu-Viet-Nam-tung-bi-bao-luc-gia-dinh/11760.vgp, truy cập ngày
18/4/2020