1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp dạy từ láy cho học sinh lớp 3 khi làm bài văn viết

15 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 148,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. PHẦN MỞ ĐẦU I. 1) Lý do chọn đề tài : Vai trò của từ trong hệ thống ngôn ngữ quy định tầm quan trọng của việc dạy từ ngữ ở tiểu học. Không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp. Việc học từ ở tiểu học sẽ tạo cho học sinh năng lực từ ngữ, giúp học sinh nắm tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện để học tập những cấp học tiếp theo và phát triển toàn diện. Vốn từ của học sinh càng giàu bao nhiêu thì khả năng lựa chọn từ càng lớn, càng chính xác, sự trình bày tư tưởng, tình cảm càng rõ ràng, sâu sắc bấy nhiêu. Vì vậy số lượng từ, tính đa dạng, tính năng động của từ được xem là điều kiện quan trọng hàng đầu để phát triển ngôn ngữ. Cũng chính vì vậy, ở tiểu học, từ ngữ không chỉ được dạy trong tất cả các phân môn tiếng Việt mà nó còn được dạy trong tất cả các tiết học của các môn khác như Toán, Tự nhiên xã hội,…. Ở đâu có dạy nghĩa từ, dạy sử dụng từ, thì ở đó dạy từ ngữ. Từ những mục đích giáo dục trên, việc dạy học phân môn “Luyện từ và câu” trong môn Tiếng Việt đóng vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ. đây là sự kết hợp của hai phân môn riêng biệt đó là Từ ngữ, Ngữ pháp trong chương trình tiểu học trước đây. Nó phù hợp với yêu cầu giáo dục trong giai đoạn mới, thể hiện được quan điểm dạy học mới là gắn liền những kiến thức về lý thuyết ngôn ngữ với việc đưa chúng vào hiện thực sử dụng gắn lý thuyết với thực hành. Nội dung chương trình của phân môn luyện từ và câu ở tiểu học rất phong phú và đa dạng. Phân môn này có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về tiếng Việt như từ loại, loại từ, cụm từ, câu, đoạn văn,… và cấu trúc của chúng nhằm giúp học sinh có hiểu biết về ý nghĩa tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt trong trình bày văn bản nói hoặc viết. Dạy học từ láy ở tiểu học nói chung, ở lớp 3 nói riêng là một trong những nội dung quan trọng nhằm cung cấp cho học sinh có những hiểu biết cơ bản về các kiểu từ của tiếng Việt. Từ láy là một loại từ của từ phức, là sản phẩm của phương thức láy. Khi học từ láy, học sinh được tiếp thu thêm những kiến thức phong phú và đa dạng của tiếng Việt. Để giúp các em học sinh hiểu sâu về từ láy và biết sử dụng một số từ láy để diễn đạt trong các bài tập làm văn, tôi đã lựa chọn đề tài : “Một số biện pháp dạy từ láy cho học sinh lớp 3 khi làm bài văn viết” để làm nội dung nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm.

Trang 1

I PHẦN MỞ ĐẦU

I 1) Lý do chọn đề tài :

Vai trò của từ trong hệ thống ngôn ngữ quy định tầm quan trọng của việc dạy từ ngữ ở tiểu học Không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp Việc học từ ở tiểu học sẽ tạo cho học sinh năng lực

từ ngữ, giúp học sinh nắm tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện để học tập những cấp học tiếp theo và phát triển toàn diện Vốn từ của học sinh càng giàu bao nhiêu thì khả năng lựa chọn từ càng lớn, càng chính xác, sự trình bày tư tưởng, tình cảm càng rõ ràng, sâu sắc bấy nhiêu Vì vậy số lượng từ, tính đa dạng, tính năng động của từ được xem là điều kiện quan trọng hàng đầu để phát triển ngôn ngữ Cũng chính vì vậy, ở tiểu học, từ ngữ không chỉ được dạy trong tất cả các phân môn tiếng Việt

mà nó còn được dạy trong tất cả các tiết học của các môn khác như Toán, Tự nhiên

xã hội,… Ở đâu có dạy nghĩa từ, dạy sử dụng từ, thì ở đó dạy từ ngữ

Từ những mục đích giáo dục trên, việc dạy học phân môn “Luyện từ và câu” trong môn Tiếng Việt đóng vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ đây là sự kết hợp của hai phân môn riêng biệt đó là Từ ngữ, Ngữ pháp trong chương trình tiểu học trước đây Nó phù hợp với yêu cầu giáo dục trong giai đoạn mới, thể hiện được quan điểm dạy học mới là gắn liền những kiến thức về lý thuyết ngôn ngữ với việc đưa chúng vào hiện thực sử dụng gắn lý thuyết với thực hành Nội dung chương trình của phân môn luyện từ và câu ở tiểu học rất phong phú và đa dạng Phân môn này có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về tiếng Việt như từ loại, loại từ, cụm từ, câu, đoạn văn,… và cấu trúc của chúng nhằm giúp học sinh có hiểu biết về ý nghĩa tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt trong trình bày văn bản nói hoặc viết

Dạy học từ láy ở tiểu học nói chung, ở lớp 3 nói riêng là một trong những nội dung quan trọng nhằm cung cấp cho học sinh có những hiểu biết cơ bản về các kiểu từ của tiếng Việt Từ láy là một loại từ của từ phức, là sản phẩm của phương thức láy Khi học từ láy, học sinh được tiếp thu thêm những kiến thức phong phú

và đa dạng của tiếng Việt

Để giúp các em học sinh hiểu sâu về từ láy và biết sử dụng một số từ láy để diễn đạt trong các bài tập làm văn, tôi đã lựa chọn đề tài : “Một số biện pháp dạy

từ láy cho học sinh lớp 3 khi làm bài văn viết” để làm nội dung nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm

I.2) Mục tiêu – nhiệm vụ của đề tài :

Dạy học từ láy ở lớp 3 nghĩa là dạy học sinh hiểu thế nào là từ láy, có mấy kiểu từ láy, sử dụng từ khi nào, mục đích của việc dùng từ láy trong văn bản Những khái niệm này sẽ giúp học sinh nắm về từ láy một cách sâu sắc và biết sử

Trang 2

dụng từ láy trong khi nói hoặc viết một cách có ý thức Nhưng với mục tiêu của đề tài là dựa vào những kiến thức về từ láy các em đã học, tôi hướng dẫn các em biết

sử dụng một số từ láy để viết bài văn viết được hay hơn

Nhiệm vụ của đề tài : “Một số biện pháp dạy từ láy cho học sinh lớp 3 khi làm bài văn viết” là :

- Khảo sát thực tế việc sử dụng từ láy của học sinh lớp 3 tại trường tiểu học

- Dựa trên những khảo sát, kết hợp với việc nghiên cứu lý luận, tiến hành xây dựng những biện pháp có tính khả thi giúp học sinh biết sử dụng một số từ láy

để viết bài văn

I 3) Đối tượng nghiên cứu :

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tìm biểu về nội dung chương trình dạy

từ láy ở lớp 3 trong sách giáo khoa hiện hành

- Khảo sát thực tế học sinh lớp 3 trường tiểu học , sử dụng từ láy trong trình bày văn bản viết (tập làm văn)

I 4) Phạm vi nghiên cứu :

Với thời gian nghiên cứu còn hạn chế, kiến thức của bản thân chưa sâu nên

đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi trường tiểu học ,

I 4) Phương pháp nghiên cứu.

a Phương pháp nghiên cứu tài liệu: là một trong những phương pháp cơ bản của đề tài nhằm nghiên cứu các hướng dẫn, các lý luận của vấn đề nghiên cứu để xác định nội dung cần tiến hành

b Phương pháp khảo sát : Khảo sát thực tế từ các em học sinh lớp 3 trường tiểu học xã về việc sử dụng từ láy

c Phương pháp phân tích, tổng hợp :Sau khi có những cơ sở của nội dung

đề tài từ khảo sát và lý luận Tôi tiến hành phân tích, tổng hợp các yếu tố trong nội dung yêu cầu của đề tài và trình bày những đề xuất, kiến nghị phù hợp với nội dung nghiên cứu

Ngoài ra tôi còn sử dụng thêm một số phương pháp khác để bổ sung cho quá trình nghiên cứu của đề tài

Trang 3

II/ PHẦN NỘI DUNG

II 1) CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Ngôn ngữ viết trong tập làm văn tận dụng các hiểu biết về kỹ năng tiếng Việt

do các phân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp đồng thời góp phần hoàn thiện chúng Để làm một bài văn viết, học sinh phải hoàn thiện bốn kỹ năng, nói, đọc, viết, phải vận dụng các kiến thức về tiếng việt Trong quá trình vận dụng này, các

kỹ năng và kiến thức đó được hoàn thiện và nâng cao dần Phân môn tập làm văn rèn luyện các kỹ năng sản sinh văn bản (nói và viết) Nhờ vậy Tiếng việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn

mà trở thành một công cụ sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy học tập Nói cách khác Phân môn tập làm văn đã góp phần hiện thực hóa mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy và học tiếng việt trong đời sống sinh hoạt, trong quá trình lĩnh hội các tri thức khoa học… Sản phẩm của phân môn tập làm văn là các bài văn viết hoặc nói theo các kiểu bài do chương trình quy định Để sản sinh được các bài văn này, học sinh phải có thêm nhiều kỹ năng khác ngoài kỹ năng lắng nghe, nói, đọc viết tiếng việt, kỹ năng dùng từ, đặt câu Đó là các kỹ năng phân tích đề, tìm ý và lựa chọn ý, kỹ năng lập dàn ý, viết đoạn và liên kết đoạn…các kỹ năng này không được phân môn vào trong môn Tiếng việt rèn luyện và phát triển ngoài phân môn tập làm văn, cho nên có thể nói nhiệm vụ cơ bản và chủ yếu trong phân môn tập làm văn là giúp học sinh sau một quá trình luyện tập lâu dài và có ý thức, dần dần nắm được cách viết các bài văn theo nhiều phong cách khác nhau do chương trình quy định

- Phân môn tập làm văn sử dụng toàn bộ các kỹ năng được hình thành và phát triển do nhiều phân môn khác của môn tiếng việt đảm nhiệm (kỹ năng viết chữ, kỹ năng viết chính tả, kỹ năng đọc, nghe, nói…) Khi sử dụng, phân môn tập làm văn cũng góp phần phát triển và hoàn thiện chúng

- Phân môn tập làm văn còn sử dụng kiến thức và kỹ năng do nhiều môn học khác cung cấp (ví dụ các hiểu biết do môn tự nhiên và xã hội, do môn đạo đức, pháp luật, do môn hát, vẽ…cung cấp)

- Phân môn tập làm văn còn huy động toàn bộ vốn sống hoặc những mạnh vốn sống của học sinh có liên quan đến đề bài Tả một cây đang ra hoa kết quả, tả một con mèo đánh bắt chuột hoặc một con gà đang kiếm mồi…học sinh đâu chỉ huy động vốn tri thức qua một bài học mà còn phải huy động tất cả những tình cảm, ấn tượng, cảm xúc, những ký ức còn lưu giữ được về các con vật hoặc cây cối đó Chỉ như vậy bài văn mới trở nên sinh động và có hồn

Trang 4

Việc viết bài văn có hồn theo yêu cầu nội dung như vậy, đòi hỏi học sinh phải hiểu được việc sử dụng ngôn ngữ viết, trong đó từ láy đóng vai trò quan trọng tỏng việc kể chuyện, viết thư các sự vật hiện tượng Bài văn, kết quả học tập của phân môn tập làm văn, phản ánh trình độ sử dụng tiếng việt, trình độ tri thức và hiểu biết đời sống của học sinh Vì thế không phải là không có lý do khi sản phẩm đó được sử dụng để đánh giá năng lực học tập môn tiếng Việt qua những kỳ thi Khi làm bài văn học sinh thực hiện mọi hoạt động của giao tiếp Mỗi bài văn là một sản phẩm không lặp lại được của từng học sinh trước đề bài Do đó có thể nói trong việc học tập làm văn, học sinh được chủ động, tự do thể hiện cái tôi của mình một cách rõ ràng, bộc bạch cái riêng của mình một cách trọn vẹn Dạy tập làm văn là dạy các em tập suy nghĩ riêng, tập sáng tạo, tập thể hiện trung thực con người mình

II.2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY TỪ LÁY Ở LỚP 3:

a Thuận lợi – Khó khăn:

* Thuận lợi:

Ban giám hiệu nhà trường đặc biệt quan tâm đến việc viết Sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên Do đó thường trao đổi hướng dẫn cho giáo viên nắm bắt thông tư, văn bản để viết đúng cấu trúc Cung cấp nhiều loại tư liệu quan trọng, giúp cho giáo viên có thêm nhiều kiến thức cũng như nghiệp vụ để nghiên cứu và hoàn thành nội dung đã đặt ra từ đầu năm học

* Khó Khăn:

Nội dung của đề tài nghiên cứu về một khía cạnh rất ít người đề câp đến, đặc biệt là rất ít văn bản, tư liệu chuyên sâu về từng đối tượng học sinh trong việc tìm hiểu từ láy và vận dụng từ láy vào trong các bài văn viết

Đối tượng học sinh của lớp 3D không đồng đều về trình độ kiến thức dẫn đến việc phân loại và khảo nghiệm về từ láy rất khó khăn cho giáo viên Bên cạnh

đó thời gian chính khóa thường không đủ để giáo viên áp dụng nhiều về hướng dẫn học sinh vận dụng từ láy để viết các bài văn

b Thành công – Hạn chế:

* Thành công

Việc giúp học sinh hiểu được nghĩa của các từ láy được sử dụng trong các đoạn văn sẽ giúp các em trình bày những bài văn viết có cảm xúc hơn, biết so sánh, ví von hơn Giọng văn mạch lạc, súc tích và có hồn mỗi khi trình bày

* Hạn chế :

Việc học sinh vận dụng từ láy không đúng cách sẽ làm bài văn trở nên xao lãng không có trọng tâm cũng như không làm nổi bật được nội dung cần thể hiện,

Trang 5

nội dung thiên về lý thuyết mà không có sự mạch lạc và trôi chảy Từ đó chất lượng của bài văn sẽ không cao và làm cho người đọc nhanh chán

c Mặt mạnh – Mặt yếu:

* Mặt mạnh:

Nếu giáo viên biết vận dụng tốt các kiểu từ láy để hướng dẫn học sinh sự dụng trong những bài văn viết sẽ đạt được một số mặt mạnh sau:

- Giúp học sinh phát huy tính sáng tạo trong việc trình bày các bài tập làm văn viết, nhất là các bài văn kể chuyện, viết thư

- Tích lũy thêm một số vồn từ làm kinh nghiệm cho việc học tập của các em sau này

- Tăng khả năng vận dụng các kiểu từ khác để liên tưởng, kể chuyện, viết thư những ý cần so sánh hoặc cần diễn đạt

* Mặt yếu:

- Ở lứa thuổi học sinh lớp 3, trí tưởng tượng chưa cao mà đa số các em chỉ diễn đạt theo hình thức trực quan sinh động, nghĩa là các em sẽ viết những gì mình thấy, mình chứng kiến Do đó vận dụng nghĩa của các từ láy để giúp các em diễn đạt trong các bài văn là rất hạn chế

- Việc học về từ láy ở lớp 3 chưa được triển khai trong chương trình nên rất khó cho giáo viên hướng dẫn cho học sinh vận dụng để diễn dạt trong các bài tập làm văn của mình

d Các nguyên nhân:

Môn học Tập làm văn là một môn học đòi hỏi học sinh có trí tưởng tượng cao, óc quan sát tinh tế và có nhiều vốn từ để vận dụng vào việc viết thành bài văn (Kể chuyện hoặc viết thư)

Trong khi đó, lứa tuổi học sinh lớp 3 chủ yếu viết văn theo lối trực quan sinh động, nghĩa là các em viết những gì mình thấy hoặc những gì mình được chứng kiến Do đó đa số những bài văn của các em chưa đạt được sự vận dụng và kết hợp nhiều yếu tố để diễn đạt ý tưởng của mình trong cách trình bày

Với thời gian lên lớp hiện nay còn hạn chế nên đa số giáo viên chỉ tập trung chủ yếu vào các bài dạy chính của chương trình nên việc hướng dẫn học sinh vận dụng các yếu tố trong cách viết một bài văn chưa được thực hiện được hoặc thực hiện chưa được nhiều

e Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra :

Ở tiểu học nói chung, lớp 3 nói riêng phân môn Tập làm văn góp phần rèn luyện tư duy hình tượng, từ óc quan sát tới trí tưởng tượng, từ khả năng tái hiện các kỹ năng đã quan sát tới kỹ năng nhào nặn các vật liệu có sẵn trong đời sống để xây dựng nhân vật, xây dựng cốt truyện Khả năng tư duy logic của học sinh cũng

Trang 6

được phát triển trong quá trình học các kiểu bài có phong cách nghệ thuật, việc phân tích đề, lập dàn ý…giúp cho khả năng phân tích, tổng hợp, phân loại, lựa chọn… của học sinh được rèn luyện để trở nên sắc bén hơn Các kiểu bài miêu tả,

kể chuyện, tường thuật, viết thư, viết đơn… giúp cho học sinh mở rộng vốn động

từ, tính từ, tập vận dụng các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hoá, hoán dụ…và làm cho tình cảm yêu mến và gắn bó với thiên nhiên, với những người và việc xung quanh nảy nở Chính vì vậy mà môn tập làm văn đã cung cấp cho học sinh rất nhiều nội dung giáo dục Ngay từ những bước đầu của môn học, học sinh đã được làm quen với cách điền từ, quan sát tranh và trả lời câu hỏi và từ đó tập làm văn cũng được nâng cao dần theo tâm lý lứa tuổi học sinh

Tập làm văn viết nhằm rèn luyện cho học sinh khả năng viết bài văn theo đề tài đã cho và thuộc các phong cách khác nhau (phong cách nghệ thuật, phong cách hành chính) Trong hai dạng tập làm văn, đây là dạng chúng ta có nhiều kinh nghiệm và có nhiều thành công hơn Bài tập làm văn viết là kết tinh nhiều mặt của năng lực sử dụng tiếng việt của học sinh, vì thế bài văn viết được dùng để đánh giá năng lực này qua mỗi học kỳ, mỗi năm học và qua mỗi kỳ thi tốt nghiệp cấp học Việc giúp cho học sinh hiểu và biết vận dụng một số từ láy để viết thành bài văn

kể chuyện hoặc viết thư ở lớp 3 là hết sức cần thiết

Thứ nhất giúp học sinh phát huy trí nhớ của mình để lựa chọn những từ ngữ cần thiết kể lại nội dung câu chuyện một cách khoa học, logic giúp người nghe hiểu được nội dung câu chuyện các em muốn kể

Thứ hai giúp các em tích lũy được những vốn từ cần thiết để làm hành trang cho những bậc học tiếp theo

II.3 GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP:

a Mục tiêu của giải pháp:

Mục tiêu của giải pháp là giúp học sinh hiểu về tác dụng của một số từ láy trong văn bản và vận dụng những từ láy như vậy để trình bày một bài văn kể chuyện hoặc viết thư

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp:

Bước 1: Giúp học sinh tìm hiểu một số từ láy được sử dụng trong các bài tập đọc để các em hiểu về tác dụng của các từ láy đó đối với đoạn văn hoặc đoạn thơ

Trang 7

Ví dụ: khi học bài tập đọc “Ngày khai trường”, tôi đã nhấn mạnh từ “hớn hở” trong câu thơ:

“…Gặp bạn, cười hớn hở

Đứa tay bắt mặt mừng

Đứa ôm vai bá cổ

Cặp sách đùa trên lưng”

Như vậy ở đoạn thơ trên tác giả đã sử dụng từ láy “hớn hở” để miêu tả thái độ rất vui mừng của bạn nhỏ khi gắp các bạn cùng đến lớp buổi khai trường

Hoặc khi học bài tập đọc: “Những chiếc chuông reo”, tôi đã nhắc cho học sinh biết ở câu cuối bài tác giả đã sử dụng nhiều từ láy để nhấn mạnh ý nghĩa câu

chuyện: “…Tết ấy, những tiếng chuông đất kêu lanh canh trên cây nêu làm sân nhà tôi ấm áp và náo nức hẳn lên.

Với những từ láy đã sử dụng trên, tác giả đã làm cho người đọc thấy được tiếng kêu của những quả chuông đất và qua đó đã làm cho tình người càng thêm

ấm nồng những ngày vui đón tết

Như vậy cứ sau mỗi bài học, tôi lại giúp các em hiểu hơn về những từ láy được được sử dụng trong các câu chuyện, bài thơ thông qua các tiết tập đọc để từ

đó cac em tự xác định đúng những từ láy đã được học, tác dụng của nó đối với đoạn văn Cứ như thế sau mỗi bài học các em lại tích lũy thêm một số vốn từ trong

sự tiếp thu kiến thức của mình

Bước 2: Tìm hiểu thêm các từ láy được sử dụng trong một số bài văn mẫu.

Sau những giờ học chính khóa, vào các tiết ra chơi, hoặc các buổi sinh hoạt ngoại khóa tôi thương cho các em dọc thêm một số bài văn mẫu để phân tích cach dùng từ đặt câu của những học sinh giỏi, qua đó giúp các em biết vận dụng một cách sáng tạo trong quá trình viết một bài văn

Ví dụ: tôi cho các em đọc một bài văn mẫu kể về một người lao độc trí óc của một học sinh giỏi:

Chú là một họa sĩ, bạn thân của bố em Hiện chú đang công tác ở trường Văn hóa nghiệp vụ của tỉnh Chú vừa làm công tác quản lí và tham gia giảng dạy Mỗi lần, sáng tác được bức họa nào, chú thường đưa cho bố em bình phẩm, góp ý Hai người có vẻ tâm đầu ý hợp lắm Đến nhà chú chơi, thấy những bức tranh chú vẽ

hồi thời kì kháng chiến được lồng vào những cái khung nhỏ nhỏ xinh xinh treo

trên tường, em rất thích Nhiều khi thấy em chăm chú nhìn vào một bức tranh nào

đó, thì chú lại đến bên cạnh, nói cho em biết thời điểm và hoàn cảnh vẽ bức tranh

ấy Bức thì vẽ rừng dừa bị bom Mĩ tàn phá, bức thì vẽ cảnh tàu địch bị bộ đội ta đánh cháy, đánh chìm trên sông Hàm Luông, bức thì vẽ cảnh sinh hoạt của đơn vị

Trang 8

chú ở vùng giải phóng v.v… Chú là một người dễ mến, dễ gần và rất thương yêu trẻ con Chú nói, bữa nào chú sẽ dạy cho em cách vẽ, cách tô màu, cách phóng tranh vì thấy em rất mê môn vẽ.

Như vậy qua bài văn mẫu trên, các em đã xác định được những từ láy của bạn học sinh giỏi đã sử dụng trong bài văn nhằm miêu tả vẻ đẹp của chiếc khung tranh làm tôn thêm vẻ đẹp cho cả bức tranh

Qua những bài văn mẫu như thế, các em có dịp tham khảo cách dùng một số

từ láy trong đoạn văn nhằm làm cho nội dung bài văn thêm phong phú và sống động hơn

Bước 3: Giúp học sinh trực tiếp vận dụng những từ láy đã được nghe, được đọc để viết thành một bài văn.

Ví dụ: Tôi đã tiến hành ra một đề bài: “Em hãy viết một đoạn văn ngắn 5-7 câu kể về một người hàng xóm”

Sau khi học sinh làm bài xong, tôi đã chấm bài và đưa một số bài văn để các

em trao đổi nhận xét và rút ra kinh nghiệm cho mình

Tôi đã đưa một bài văn của em Lương Văn Tuấn ra đọc trước lớp để cả lớp cùng thảo luận:

“Hễ nhắc đến chú Cường là ai ai cũng biết, bởi chú là thợ điện chú có dáng

người cao cao, da ngăm đen và nét mặt tươi tắn nụ cười luôn ở trên môi Nhà

của chú Cường cạnh nhà em, chú là bạn của ba em nên mỗi buổi tối ba em và chú thường ngồi uống nước trò chuyện cùng nhau Chu rất nhiệt tình, hễ nhà ai bị mất điện hoặc có trục trặc gì gọi chú đều đến giúp rất vui vẻ mà không lấy tiền chú

bảo chú làm điện nhà nước đã có lương nên về nhà thỉnh thoảng giúp mọi người

một lát thôi Em rất mến chú ấy”

Khi nghe xong bài văn trên, học sinh rất khâm phục cách kể chuyện của em Tuấn Đây là một bài văn hay, biết kể lại nội dung theo thứ tự khá logic và đặc biệt

em Tuấn đã biết sử dụng một số từ láy để miêu tả dáng người, nét mặt của chú Cường

Từ bài văn trên của em Tuấn và một số bài văn khác mà tôi đã đưa ra đọc cho

cả lớp cùng nghe và trao đổi nhằm giúp cho học sinh có thêm những kiến thức và vốn từ cần thiết để tiếp tục học tập cách viết văn kể chuyện

c Điều kiện thực hiện giải pháp :

Để đề tài được áp dụng vào thực tế và có hiệu quả cao nhất, cần phải đáp ứng được những điều kiện sau :

- Đối với nhà trường cần quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho giáo viên trang bị một số tài liệu tham khảo để giáo viên tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu hơn

về những biện pháp giúp học sinh sử dụng từ láy

Trang 9

- Tạo điều kiện cho giáo viên có thời gian về tổ chức các buổi sinh hoạt ngoài giờ để giúp học sinh trao đổi, thảo luận về những vốn từ đã được học, qua

đó vận dụng những vốn từ đó vào trong bài văn viết của mình

- Giáo viên cần linh hoạt trong việc giúp học sinh tìm hiểu về những từ láy

đã học, làm tăng vốn từ cho các em Qua đó xây dựng cho các em những kỹ năng sống cần thiết và vận dụng sáng tạo các vốn từ tỏng trình bày bài văn

Giáo viên cần vận dụng sáng tạo và linh hoạt các phương pháp và các hình thức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh, tránh tình trạng áp dụng máy móc Luôn gần gũi và quan tâm học sinh để tìm hiểu những tâm tư, nguyện vọng và có những hình thức tổ chức phù hợp Phải thường xuyên tham mưu với lãnh đạo nhà trường để có những ý kiến chỉ đạo kịp thời sát sao với nội dung bài dạy, nhằm giúp học sinh nắm vững những kiến thức mà đề tài muốn đề cập

d Mối quan hệ giữa biện pháp và giải pháp :

Môn Tập làm văn lớp 3 là một môn học chuyên về lĩnh vực cung cấp các kỹ năng rèn luyện học sinh sự sáng tạo, trí tưởng tưởng và khéo léo, tỉ mỷ trong suốt quá trình làm việc Do đó để vận dụng hình thức dạy học của môn học này vào chương trình dạy học, giáo viên cần xác định cụ thể giữa hình thức tổ chức và các phương pháp tổ chức áp dụng nội dung Cần xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa biện pháp và giải pháp của đề tài Cụ thể phải xác định các bước thực hiện một cách tỉ mỉ để từ đó từng bước áp dụng giải pháp vào trong bài học Nếu việc xác định cụ thể các biện pháp áp dụng trong chương trình giảng dạy thì giải pháp đã nêu trong đề tài chắc chắn sẽ thực hiện có hiệu quả

e Kết quả khảo nghiệm:

Sau khi áp dụng những giải pháp đã nêu vào trong chương trình giảng dạy tôi thấy hiệu quả của đề tài rất rõ Số lượng học sinh biết so sánh, phân tích sự vật

và kết luận đúng mục tiêu bài học nhiều hơn trước

Tôi đã ra một đề bài như sau:

Em hãy viết một đoạn văn ngắn từ 5-7 câu kể lại buổi đầu đi học của mình Sau khi chấm bài xong, tôi đã thống kê kết quả như sau:

- Số em biết sử dụng một số từ láy trong quá trình viết văn của mình và kể chuyện logic, hấp dẫn người đọc: 8 em

- Số em chưa biết sử dụng một số từ láy nhưng trình bày mạch lạc hơn và kể chuyện khá cụ thể: 14 em

- Số em kể chuyện chưa thật hay: 6em

Như vậy so với kết quả trước khi khảo nghiệm thì cố học sinh viết văn hay, mạch lạc có tăng lên 4 em và số em biết kể đúng đề bài, đúng câu, đúng cách kể cũng tăng lên 6 em Như vậy so sánh giữa quá trình trước và sau khảo nghiệm thì

Trang 10

kết quả có tăng lên đáng kể Tuy chưa phải là kế qua thật tốt nhưng tôi nghĩ đây cũng là một bước đi đúng hướng và có tinh khả thi nên tôi quyết định áp dụng từng bước vào trong các tiết học chính khóa cũng như ngoài giờ

II.4 Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:

Sau học kì I, với những nỗ lực nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào thực tế ở các tiết học của môn Tập làm văn ở lớp 3, tôi thấy rằng chất lượng của tiết học đã thay đổi hẳn :

- Số lượng học sinh viết văn tốt hơn trước

- Tinh thần học tập tăng lên rõ rệt, các em sôi nổi mỗi khi thảo luận và đưa ra nhận xét vài viết của bạn

Kết quả khảo sát học kỳ I:

Ngày đăng: 01/07/2021, 11:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w