Luận văn nghiên cứu được thực hiện nhằm hướng đến mục tiêu tìm kiếm những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng tại Việt Nam và những nhân tố nào có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển này. Từ đó, đề ra một số giải pháp tham khảo nhằm thúc đẩy thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam phát triển hơn nữa.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS TS Hoàng Đức
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng Luận văn với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng
đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng quốc tế tại Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu khoa học
của cá nhân tôi, được đúc kết từ quá trình học tập và nghiên cứu của tôi trong suốt thời gian qua Số liệu trong luận văn được thu thập từ những nguồn đáng tin cậy và trung thực
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Huy Hải
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG CỦA KHÁCH HÀNG TẠI CÁC NHTM
VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của thẻ tín dụng 1
1.2 Thẻ tín dụng 4
1.2.1 Khái niệm 4
1.2.2 Đặc điểm của thẻ tín dụng : 6
1.2.3 Phân loại thẻ tín dụng: 8
1.2.3.1 Theo tổ chức phát hành : 8
1.2.3.2 Theo hạng thẻ: 8
1.2.3.3 Theo công nghệ sản xuất: 9
1.2.4 Quy trình thanh toán thẻ tín dụng 11
1.2.4.1Các bên tham gia thanh toán 11
1.2.4.2 Quy trình thanh toán thẻ 12
1.2.5 Vai trò của thẻ tín dụng 13
1.2.6 Điều kiện phát hành thẻ tín dụng 15
1.2.6.1 Điều kiện đăng ký phát hành thẻ: (Đối tượng là khách hàng cá nhân) 15
1.2.6.2 Điều kiện cấp thẻ tín dụng: 15
1.2.7 Những rủi ro thường xảy ra đối với việc sử dụng thẻ tín dụng 16
1.2.7.1 Đối với chủ thẻ 16
1.2.7.2 Đối với Ngân hàng : 17
1.2.7.3 Đối với đơn vị chấp nhận thẻ : 18
1.2.7.4 Đối với nền kinh tế : 19
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam 19
1.4 Mô hình nghiên cứu 20
1.4.1 Giả thiết và mô hình nghiên cứu 20
1.4.1.1Các nghiên cứu trước đây 20
1.4.1.2Giới thiệu về mô hình 24
Mô hình nghiên cứu : 28
Trang 51.4.1.3Quy mô mẫu 30
1.4.1.4 Phương pháp chọn mẫu: 31
1.4.1.5 Dữ liệu nghiên cứu : 31
Kết luận chương I 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG CỦA KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 33
2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 33
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 33
2.1.1.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 33
2.1.1.2 Các hoạt động chính Huy động vốn 34
2.1.2 Cơ cấu tổ chức hoạt động kinh doanh 37
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh 39
2.2 Thực trạng về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 42
2.2.1 Thực trạng về thị trường thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam 43
2.2.1.1 Các loại thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam 44
2.2.1.2 Về sản phẩm 45
2.2.1.3 Về mạng lưới 47
2.2.1.4 Về thu nhập 49
2.2.2 Khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam 50
2.2.2.1 Thống kê mô tả 50
2.2.2.2 Kết quả phân tích mô hình 58
2.2.2.3 Kết quả hồi quy của mô hình 59
2.2.2.4 Phương trình hồi quy mô hình 60
2.2.2.5 Kiểm định độ phù hợp của mô hình 60
Trang 62.2.3 Nhận xét về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng
tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam 61
2.2.3.1 Những nhân tố có ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng 61
2.2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 64
Kết luận chương 2 69
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THẺ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 70
3.1 Định hướng phát triển của Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2020 70
3.1.1 Định hướng phát triển chung 70
3.1.2 Định hướng phát triển về thẻ tín dụng 71
3.2 Giải pháp phát triển thẻ tín dụng 72
3.2.1 Nhóm giải pháp do Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam tổ chức thực hiện 72
3.2.1.1 Nhóm giải pháp về phía ngân hàng 72
3.2.1.1 Nhóm giải pháp đối với người sử dụng thẻ tín dụng 78
3.2.1.1 Nhóm giải pháp đối với những đơn vị chấp nhận thanh toán 81
3.2.2 Nhóm giải pháp có tính chất kiến nghị 82
3.2.2.1 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 82
3.2.2.2 Đối với Chính Phủ 85
3.2.2.3 Đối với Hiệp hội thẻ 87
Kết luận chương 3 88
Kết luận 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Phụ lục 1: 94
Phụ lục 2: 97
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ACB : Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu
Agribank : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
ATM : Automated Teller Machine (Máy rút tiền tự động)
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
POS : Point Of Sale (Điểm chấp nhận thẻ)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các ngân hàng phát hành thẻ tín dụng tại Việt Nam…….……… 10
Bảng 1.2: Mô tả các biến……….………26
Bảng 2.1: Các chỉ số tăng trưởng của Vietinbank giai đoạn 2010-2013…… ….39
Bảng 2.2: Thị phần các ngân hàng thương mại phát triển thẻ tín dụng năm 2010-2013……… ….…….….46
Bảng 2.3: Thu nhập từ thẻ tín dụng của Vietinbank giai đoạn 2010-2013.… …49
Bảng 2.4: Quyết định sử dụng thẻ tín dụng của người được phỏng vấn…….…….50
Bảng 2.5: Giới tính của người được phỏng vấn……….… 51
Bảng 2.6 : Tình trạng hôn nhân của người được phỏng vấn……… … 52
Bảng 2.7: Độ tuổi của người được phỏng vấn………… ……… …………53
Bảng 2.8: iến thức chung của người được phỏng vấn……… ……… 55
Bảng 2.9 Người giới thiệu về thẻ tín dụng của người được phỏng vấn…….…… 55
Bảng 2.10 Đánh giá về thẻ tín dụng của người được phỏng vấn……… … 56
Bảng 2.11: Bảng hệ số tương quan giữa các biến độc lập với nhau và giữa các biến độc lập và các biến phụ thuộc……… ………59
Bảng 2.12: Kết quả kiểm định độ phù hợp của các biến giải thích ………… … 60
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 1.1: Khái quát quy trình thanh toán, thu nợ thẻ tín dụng……….…….…….12
Hình 1.2: Mô tả các biến……… … 29
Hình 2.1: Cơ cấu hoạt động của Vietinbank……… …….37
Hình 2.2: Cơ cấu quản trị của Vietinbank……… 38
Hình 2.3: Biểu đồ diễn biến tăng trưởng nguồn vốn huy động của Vietinbank giai đoạn 2010 – 2013………39
Hình 2.4: Biểu đồ tăng trưởng tổng tài sản của Vietinbank giai đoạn 2010 – 2013…….……….…… 40
Hình 2.5: Biểu đồ tăng trưởng lợi nhuận ròng của Vietinbank giai đoạn 2010 – 2013……….……….… …41
Hình 2.6: Số lượng thẻ tín dụng phát hành của Vietinbank trong giai đoạn 2010-2013………….……….…… 45
Hình 2.7: Biểu đồ tỷ lệ phát hành thẻ tín dụng của hệ thống các NHTM tháng 9/2013…….……… ….… 47
Hình 2.8: Biểu đồ số lượng máy chấp nhận thanh toán POS từ năm 2010-2013 48
Hình 2.9: Quyết định sử dụng thẻ tín dụng của người được phỏng vấn 51
Hình 2.10: Giới tính của người được phỏng vấn……… …… ….52
Hình 2.11: Trình độ học vấn của người được phỏng vấn……….……….… 54
Hình 2.12: Thu nhập của người được phỏng vấn……….… ….56
Hình 2.13: Nghề nghiệp của người được phỏng vấn… …57
Hình 2.14: Mục đích sử dụng thẻ tín dụng của người được phỏng vấn… ….58
Hình 3.1: Những người giới thiệu thẻ tín dụng đến người được trả lời 73
Hình 3.2: Mục đích sử dụng thẻ tín dụng của người được phỏng vấn 76
Hình 3.3: Các nhân tố tác động đến quyết định chi tiêu của người được phỏng vấn ….……… 77
Trang 10Lời mở đầu
1/ Lý do chọn đề tài
Thẻ tín dụng là một sản phẩm dịch vụ Ngân hàng hiện đại, đa tiện ích, việc thẻ Ngân hàng ra đời đã làm thay đổi cách thức chi tiêu, giao dịch thanh toán của cộng đồng xã hội Với tính linh hoạt và các tiện ích của nó mang lại cho mọi chủ thể liên quan, thẻ tín dụng đã và đang thu hút được sự quan tâm của cả cộng đồng và ngày càng khẳng định vị trí trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Do vậy việc phát triển các sản phẩm - dịch vụ Ngân hàng, trong đó có sản phẩm thẻ tín dụng là một trong những sản phẩm có nhiều triển vọng đem lại nguồn lợi nhuận chủ yếu cho các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong tương lai
Đồng thời sự phát triển của khoa học công nghệ trong những năm gần đây cũng đã tạo ra nền tảng cho sự phát triển các sản phẩm – dịch vụ của Ngân hàng Trong xu hướng phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, thẻ thanh toán nói chung và thẻ tín dụng nói riêng đã trở thành một trong những thước đo đánh giá sự phát triển của xã hội Việc thanh toán bằng thẻ hiện nay không chỉ mang lại sự tiện lợi cho khách hàng mà còn đem lại cho ngân hàng và một số đối tác khác nguồn thu không nhỏ, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Với những tiện ích rõ rệt như vậy, việc thanh toán bằng thẻ tín dụng hứa hẹn sẽ ngày càng phát triển và được sử dụng phổ biến trên khắp thế giới với những tiện ích và công nghệ ngày càng tiên tiến hơn
Năm 1991, lần đầu tiên thẻ tín dụng được chấp nhận thanh toán tại Việt Nam, trên hệ thống máy của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Cho đến nay, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam vẫn tiếp tục đầu tư và phát triển thẻ tín dụng và đã đạt được những thành công nhất định trong lĩnh vực mới mẻ này Với lợi thế đặc thù xuất phát từ tính chất phổ biến rộng rãi dịch vụ thanh toán thẻ tín dụng đang dần thể hiện các đóng góp quan trọng trong việc tạo thói quen và nâng cao nhận thức của người dân về phương tiện thanh toán hiện đại, đẩy mạnh hoạt
Trang 11động thanh toán không dùng tiền mặt trong dân cư Với xu thế đó, việc sử dụng thẻ tín dụng của người dân sẽ trở nên phổ biến bởi nó rất thuận tiện trong thanh toán thay vì họ phải mang theo tiền mặt Tuy nhiên theo cuộc khảo sát của một số tổ chức trên thế giới thì thị trường thẻ tín dụng Việt Nam vẫn chưa được khai thác hết tiềm năng của nó Để tìm hiểu về nguyên nhân mà khách hàng chưa có nhu cầu sử dụng thẻ tín dụng quốc đồng thời đưa ra một số kiến nghị cho các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong việc phát triển loại sản phẩm – dịch vụ này, luận văn
tiến hành nghiên cứu về vấn đề “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng
thẻ tín dụng tại Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”
2/ Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng tại Việt Nam?
Câu hỏi 2: Trong những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng tại tại Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam, những nhân tố có nào ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển này?
Câu hỏi 3: Những giải pháp nào được đưa ra nhằm giúp sản phẩm thẻ tín dụng phát triển tại tại Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam?
Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu được thực hiện nhằm hướng đến mục tiêu tìm kiếm những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng tại Việt Nam và những nhân tố nào có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển này Từ đó, đề
ra một số giải pháp tham khảo nhằm thúc đẩy thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam phát triển hơn nữa
3/ Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trang 12 Về đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng của người dân tại Ngân hàng Công Thương Việt Nam địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Về phạm vi không gian:
Do bị giới hạn về mặt thời gian nên đề tài chỉ tiến hành khảo sát dữ liệu, nghiên cứu trong phạm vi Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Tiến hành khảo sát 150 khách hàng (bao gồm cả khách hàng đang sử dụng dịch vụ của Vietinbank và khách hành không sử dụng dịch vụ của Vietinbank) tại Thành phố Hồ Chí Minh
Về phạm vi thời gian:
Luận văn nghiên cứu sử dụng số liệu của các báo cáo tài chính năm 2010,
2011, 2012 và 2013
4/ Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Bảng câu hỏi nghiên cứu được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết về thẻ tín dụng trên thế giới Đồng thời, luận văn sử dụng sử dụng phương pháp định lượng bằng cách ước lượng Probit trên phần mềm Stata (Phiên bản 11) và sử dụng phương pháp thống kê
mô tả để nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng tại Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam
5/ Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được kết cấu gồm ba chương:
Chương I: Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng tại các NHTM và mô hình nghiên cứu
Trang 13Chương II: Thực trạng về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng tại Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Địa bàn TP
Hồ Chí Minh
Chương III: Các giải pháp phát triển thẻ tín dụng tại Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Địa bàn TP Hồ Chí Minh
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG CỦA KHÁCH HÀNG TẠI CÁC NHTM
VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của thẻ tín dụng
So với các sản phẩm – dịch vụ khác trong lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng, thẻ tín dụng là một sản phẩm tương đối mới, ra đời và bắt đầu phát triển từ những năm đầu thế kỷ 20 cho đến nay
Thẻ tín dụng được phát triển tại Mỹ, bắt đầu từ việc các cửa hàng bán lẻ chấp nhận cho các khách hàng của họ thanh toán chậm dựa trên cơ sở uy tín của khách hàng đối với cửa hàng Thông thường, các cửa hàng ghi chép sổ sách đầy đủ các khoản nợ phát sinh của từng khách hàng riêng biệt và chỉ chấp nhận cho khách hàng thanh toán chậm nếu họ tin tưởng vào khả năng thanh toán của khách hàng đó Tuy nhiên, vốn của các cửa hàng thường không đủ lớn, dần dần các chủ cửa hàng nhận thấy họ không có đủ khả năng cho nhiều khách hàng thanh toán chậm Chính yếu tố này đã góp phần thúc đẩy các tổ chức tài chính hình thành ý tưởng về sản phẩm thẻ tín dụng Với năng lực về tài chính, khả năng quay vòng vốn nhanh và kinh nghiệm kinh doanh trong lĩnh vực tín dụng, các tổ chức tài chính có đủ khả năng cung cấp cho khách hàng những khoản tín dụng này
Trên thế giới, có thể nói ý tưởng về một chiếc thẻ được sử dụng để mua hàng hoá lần đầu tiên xuất hiện trong cuốn tiểu thuyết Looking Backward của nhà văn người Mỹ - Bellamy (1887) Bellamy đã sử dụng thuật ngữ thẻ tín dụng tổng cộng
là mười một lần trong cuốn tiểu thuyết này Mặc dù thuật ngữ này chỉ đề cập đến một loại thẻ được sử dụng nhằm vào mục đích chi tiêu hơn là mục đích vay mượn Theo Sienkiewicz (2001), vào đầu những năm 1900, các công ty xăng dầu và các cửa hàng bán lẻ đã phát hành những chiếc thẻ tín dụng độc quyền của riêng họ Những chiếc thẻ này chỉ được chấp nhận ở những cửa hàng của các tổ chức phát hành ra chúng Trong khi những chiếc thẻ tín dụng hiện đại ngày nay được sử dụng
Trang 15vì nhiều mục đích khác nhau, thì những chiếc thẻ đầu tiên này được phát hành chỉ với ý nghĩa là tạo lập khách hàng trung thành và cải tiến dịch vụ khách hàng
Lần đầu tiên vào năm 1914, tổ chức chuyển tiền Western Union(corporate.westernunion.com ) đã giới thiệu thẻ tín dụng đến các khách hàng của họ nhằm cung cấp thêm một dịch vụ thanh toán trả chậm Và đến năm 1921, tổ chức này bắt đầu phát hành thẻ tín dụng dưới hình thức những tấm kim loại có chứa các thông tin in nổi nhằm nhận diện khách hàng và cung cấp các thông tin về tài khoản
và các giao dịch thực hiện của khách hàng
Các tổ chức khác cũng nhận ra giá trị của sản phẩm thẻ này và chỉ trong một thời gian ngắn sau đó rất nhiều đơn vị như nhà ga, khách sạn cũng như các cửa hàng trên khắp nước Mỹ đã cung cấp dịch vụ trả chậm cho khách hàng của mình Chẳng hạn, tập đoàn xăng dầu của Mỹ đã phát hành tấm thẻ mua xăng đầu tiên vào năm
1924, cho phép khách hàng có thể mua xăng dầu tại các cửa hàng của công ty trên toàn nước Mỹ
Theo Woolsey và Gerson (2009), đến năm 1946, một loại thẻ do ngân hàng phát hành có tên là Charg-it ra đời, đây là một hình thức sở khai của thẻ tín dụng do một người chủ ngân hàng ở Brooklyn, New York - ông John Biggins sáng lập Loại thẻ này áp dụng cho các giao dịch mua bán lẻ tại địa phương Các cơ sở chấp nhận thẻ nộp biên lai bán hàng vào ngân hàng của Biggins, ngân hàng này sẽ trả tiền cho
họ và thu tiền lại từ khách hàng đã sử dụng thẻ Charg-it
Năm 1951, loại thẻ tín dụng ngân hàng đầu tiên chính thức ra đời do Ngân hàng Franklin National Bank ở NewYork phát hành Tại đây các khách hàng nộp đơn xin vay và được thẩm định khả năng thanh toán Các khách hàng có đủ tiêu chuẩn sẽ được duyệt cấp thẻ Thẻ này dùng cho các giao dịch bán lẻ hàng hoá và dịch vụ Khi thanh toán, cơ sở cung ứng hàng hoá dịch vụ sẽ ghi các thông tin về khách hàng trên thẻ vào hoá đơn bán hàng Sau đó tổ chức phát hành thẻ tín dụng chiết khấu cho cơ sở cung ứng hàng hoá dịch vụ một tỷ lệ nhất định Trong những năm sau đó, ngày càng có nhiều tổ chức tham gia vào thị trường thẻ tín dụng Chẳng hạn như :
Trang 16- Năm 1950, tấm thẻ nhựa đầu tiên được phát hành bởi công ty Dinners Club(www.dinersclub.com) – một công ty do McNamara và Ralph Schneider sáng lập
- Sau Diners Club, vào năm 1958, công ty American Express (about.americanexpress.com) cũng tham gia vào thị trường thẻ ngân hàng American Express lựa chọn hướng đi riêng của mình là phát triển thẻ tín dụng trong lĩnh vực giải trí và du lịch, hai lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh chóng tại Mỹ và châu Âu trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới Vào năm 1959, American Express giới thiệu loại thẻ làm bằng nhựa đầu tiên
- Và cũng vào năm 1958, Bank of America phát hành thẻ BankAmericard (corporate.visa.com) - loại thẻ tín dụng có đặc tính tín dụng tuần hoàn đầu tiên được phát hành tại Fresno, California Cuộc thử nghiệm mới được thực hiện trên một tấm thẻ bằng giấy đơn giản có hạn mức 300USD Năm 1966, ngân hàng Bank of America chính thức trao quyền phát hành thẻ BankAmericard của mình cho các ngân hàng khác thông qua việc ký các hợp đồng đại lý, khởi đầu cho giai đoạn tăng tốc phát triển dịch vụ thẻ tín dụng Đến năm 1976, BankAmericard đổi tên thành Visa, một cái tên đơn giản, dễ nhớ và có thể được phát âm như nhau bằng mọi ngôn ngữ
- Năm 1961, tại Nhật Bản lần đầu tiên phát hành hai loại thẻ tín dụng mang thương hiệu là JCB (Japan Credit Bureau) và OCB (Osaka Credit Bureau) Nhưng đến năm 1968, hai thương hiệu này sáp nhập lại thành thương hiệu chung là thẻ JCB(www.jcbcorporate.com) và tiếp tục giữ vững thương hiệu này cho đến ngày nay
- Năm 1966 : tại Mỹ xuất hiện thêm một loại thẻ tín dụng mới có tên là Master Charge(www.mastercard.com)do Hiệp hội thẻ quốc tế (viết tắt là ICA) phát hành ICA ban hành các quy định về cấp phép giao dịch, thanh toán bù trừ, các biện pháp marketing, bảo mật và các vấn đề liên quan tới luật pháp nhằm kinh doanh một cách
có hiệu quả Vào năm 1979, thẻ tín dụng Master Charge đã được đổi tên thành MasterCard
Trang 17- Sau cuộc suy thoái những năm 1990, việc sử dụng thẻ tín dụng đã gia tăng nhanh chóng, làm giảm việc sử dụng tiền mặt và séc trong thanh toán Điều này cho thấy một xu thế mới trong tương lai là thẻ có thể thay thế hai công cụ thanh toán phổ biến là tiền mặt và séc (Humphrey, 2004)
Hiện nay cùng với sự ra đời của nhiều thương hiệu thẻ tín dụng trên thế giới, việc cạnh tranh trên thị trường thẻ này ngày càng gay gắt hơn Nhưng phát triển mạnh nhất và chiếm lĩnh thị trường nhiều nhất vẫn là 2 thương hiệu thẻ Visa và MasterCard Theo tổ chức thẻ quốc tế Visa (corporate.visa.com), tính đến 31/12/2012 trên toàn thế giới có 2,1 tỷ chiếc thẻ Visa với trên 10 triệu điểm chấp nhận thẻ và được chấp nhận thanh toán tại 2 triệu máy ATM trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Và cũng theo tổ chức thẻ MasterCard(www.mastercard.com)tính đến 31/12/2012 trên thế giới đã phát hành hơn 1,9 tỷ thẻ MasterCard được chấp nhận thanh toán tại 35,9 triệu đơn vị chấp nhận thẻ thuộc
210 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới
Như vậy, thẻ tín dụng ra đời từ nhu cầu thanh toán hiện đại, phát triển dựa trên nền tảng công nghệ tiên tiến và phục vụ mục tiêu thay thế tiền mặt trong lưu thông của các quốc gia trên thế giới Thực tế đã chứng minh, thẻ tín dụng là sự phát triển tất yếu trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng, đồng thời đã và đang phản ánh sự phát triển cao của khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại Tiếp thu và ứng dụng những thành tựu của thế giới về khoa học kỹ thuật, hệ thống thẻ tín dụng ngày càng hoàn thiện và phát triển Cùng với mạng lưới thành viên và khách hàng phát triển không ngừng, các tổ chức thẻ quốc tế đã xây dựng hệ thống xử lý giao dịch và trao đổi thông tin toàn cầu về phát hành, thanh toán, cấp phép, tra soát, khiếu kiện và quản
lý rủi ro Với doanh số giao dịch hàng trăm tỷ USD mỗi năm, thẻ tín dụng đang cạnh tranh quyết liệt với tiền mặt, séc và nhiều loại thẻ thanh toán khác trong hệ thống thanh toán toàn cầu Đây là thử thách đáng kể đối với một ngành kinh doanh mới chỉ có vài thập kỷ hình thành và phát triển
1.2 Thẻ tín dụng
1.2.1 Khái niệm
Trang 18Thẻ tín dụng là một phương tiện thanh toán được sử dụng phổ biến ngày nay tại các quốc gia trên thế giới Ở Mỹ, thẻ tín dụng là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt phổ biến thứ hai Trong thương mại hiện đại, thẻ tín dụng được xem như là một công cụ thanh toán thay thế cho tiền mặt và séc của hàng triệu việc mua hàng thông thường cũng như nhiều giao dịch không thuận tiện hoặc không thể thực hiện được (Durkin, 2000) Những thay đổi về khoa học kỹ thuật đã giúp thay đổi cuộc sống của con người, một trong số đó là sự ra đời của thẻ tín dụng - một công cụ thanh toán của cuộc sống hiện đại (Erdem, 2008)
Đối với người sử dụng thẻ, thẻ tín dụng là một loại thẻ ngân hàng đặc biệt, bởi
nó đại diện cho nguồn tín dụng (Scholnick và cộng sự, 2008)
- Khái niệm thẻ tín dụng đã xuất hiện trong văn bản pháp luật Việt Nam từ năm 1994 mặc dù chưa được định nghĩa chính thức Cụ thể tại Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt, được ban hành kèm theo Quyết định số 22/QĐ-NH1 ngày 21 tháng 02 năm 1994 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, thẻ tín dụng đã được mô
tả tại Khoản 24.2, Điều 24 như sau: “Thẻ tín dụng áp dụng đối với khách hàng có
đủ điều kiện được Ngân hàng đồng ý cho vay tiền Khách hàng chỉ được thanh toán
số tiền trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được Ngân hàng chấp thuận bằng văn bản”
- Sau đó thẻ tín dụng đã được quy định cụ thể hơn tại Khoản 1 Điều 3 trong Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN1 ngày 19 tháng 10 năm 1999 của Thống đốc Ngân hàng như sau “Thẻ tín dụng : Là loại thẻ cho phép Chủ thẻ thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, rút tiền mặt trong hạn mức tín dụng được NHPHT chấp thuận theo hợp đồng”
- Tuy nhiên vào năm 2007, khái niệm về thẻ tín dụng đã được sửa đổi lại trong Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng, được ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15 tháng 05 năm 2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Theo đó, tại Khoản 5 Điều 2 Quy chế này thì “Thẻ tín dụng (credit card): Là thẻ cho phép Chủ thẻ thực
Trang 19hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ”
- Từ những quy định trên về thẻ tín dụng, có thể hiểu thẻ tín dụng là một phương tiện thanh toán được sử dụng trong cả nước và có thể trên phạm vi toàn thế giới, do ngân hàng hoặc tổ chức phi ngân hàng phát hành theo thỏa thuận với chủ thẻ, đáp ứng cả nhu cầu tín dụng và thanh toán cho chủ thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng do tổ chức phát hành thẻ cấp Trong đó, thể hiện hai mối quan hệ pháp lý giữa ba đối tượng tham gia là quan hệ về thanh toán giữa chủ thẻ với đơn vị chấp nhận thẻ, và quan hệ tín dụng giữa chủ thẻ với tổ chức phát hành thẻ Thẻ tín dụng
là loại thẻ được sử dụng khá phổ biến tại nhiều nước trên thế giới, theo đó chủ thẻ được TCPHT cấp cho một hạn mức tín dụng tuần hoàn để mua sắm hàng hóa, dịch
vụ tại những cơ sở chấp nhận thẻ trên toàn thế giới Việc cấp hạn mức này đồng nghĩa với việc TCPHT cho phép chủ thẻ chi tiêu trước trong hạn mức tín dụng được cấp mà không phải trả tiền ngay Hạn mức tín dụng cấp cho chủ thẻ tùy thuộc vào khả năng tài chính của chủ thẻ hoặc tài sản bảo đảm của chủ thẻ và nhu cầu chi tiêu của họ Hình thức thanh toán dư nợ thẻ tín dụng cũng tạo thuận lợi cho chủ thẻ trong việc chi trả hàng tháng
1.2.2 Đặc điểm của thẻ tín dụng :
- Tính chất vay mượn: Là đặc điểm nổi bật nhất của thẻ tín dụng Chủ thẻ có thể chi tiêu trước – trả tiền sau dựa trên hạn mức tín dụng được TCPHT cấp Với đặc điểm này, chủ thẻ có thể mua hàng mà không cần phải có tiền ngay vào thời điểm đó Việc này giúp cho chủ thẻ chủ động được trong chi tiêu, đặc biệt khi có những nhu cầu cần thiết phát sinh mà chưa tới thời điểm nhận lương Việc thanh toán chậm này được các TCPHT quy định thường là không quá 45 ngày và trong khoảng thời gian này TCPHT không thực hiện tính lãi Đồng thời TCPHT còn cho phép chủ thẻ chọn một trong hai hình thức thanh toán: thanh toán toàn bộ hoặc thanh toán tối thiểu dư nợ thẻ ghi trên sao kê thẻ tín dụng hàng tháng Điều này giúp chủ thẻ giảm được áp lực trả nợ
Trang 20- Tính tiện lợi: Chủ thẻ có thể thanh toán hàng hóa, dịch vụ, đặt vé máy bay, đặt khách sạn, thanh toán trực tuyến qua internet,… tại các điểm chấp nhận thanh toán của TCPHT và có các biểu tượng như Visa, MasterCard, JCB,… ở khắp nơi trên thế giới mà không cần mang theo tiền mặt Ngoài ra, chủ thẻ có thể phát hành thẻ phụ để kiểm soát chi tiêu và quản lý tài chính trong trường hợp có con đi du học; đáp ứng nhu cầu rút tiền mặt tại các máy ATM của các TCPHT hoặc có biểu tượng của tổ chức thẻ quốc tế,…
- Tính an toàn: Thẻ tín dụng được thiết kế với phương thức bảo mật ngày càng cao nhằm đáp ứng việc thanh toán trên phạm vi toàn cầu, cho phép chủ thẻ có thể yên tâm thanh toán hàng hóa dịch vụ, đặc biệt là những giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới
- Đối tượng khách hàng đa dạng: Theo quy định của các TCPHT, đối tượng khách hàng có thể sử dụng thẻ tín dụng vô cùng phong phú từ lãnh đạo, chủ doanh nghiệp đến các cá nhân có thu nhập trung bình trong xã hội bởi thẻ tín dụng hiện nay có nhiều hạng thẻ khác nhau tương ứng với nhiều mức thu nhập khác nhau Đặc biệt, với các tổ chức, cá nhân đang có quan hệ tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán với các TCPHT là ngân hàng hoặc cá nhân công tác tại các đơn vị quốc doanh có thu nhập ổn định hoặc các cơ quan sử dụng dịch vụ chi lương qua tài khoản thẻ của các tổ chức tín dụng với mức lương hàng tháng tương đối thấp cũng được phát hành thẻ tín dụng mà không cần tài sản đảm bảo Đây là điều kiện phát hành thẻ tín dụng tương đối dễ dàng được nhiều tổ chức tín dụng áp dụng tại Việt Nam hiện nay
- Giá trị gia tăng: Chủ thẻ có thể thanh toán dư nợ phát sinh hàng tháng thuận lợi qua nhiều kênh như thanh toán tiền mặt tại quầy, trích nợ tự động, chuyển khoản,… Đồng thời, chủ thẻ còn được hưởng nhiều giá trị gia tăng khác như : được tặng bảo hiểm y tế toàn cầu với giá trị bảo hiểm tùy vào quy định của TCPHT, được tích lũy điểm thưởng, được cung cấp dịch vụ tư vấn và hỗ trợ toàn cầu cùng với nhiều chương trình khuyến mãi hấp dẫn của TCPHT và các đơn vị chấp nhận thẻ dành cho chủ thẻ tín dụng
Trang 211.2.3 Phân loại thẻ tín dụng:
1.2.3.1 Theo tổ chức phát hành :
- Thẻ do ngân hàng phát hành: Là loại thẻ tín dụng được phát hành bởi ngân hàng, giúp cho chủ thẻ sử dụng linh hoạt số tiền trong hạn mức tín dụng được ngân hàng phát hành cấp Trên thẻ vừa có biểu tượng của tổ chức thẻ như Visa, Master, JCB,… vừa có biểu tượng của chính ngân hàng phát hành thẻ như VCB, Vietinbank, ACB,…
- Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ tín dụng do các tập đoàn du lịch và giải trí lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn hoặc các cửa hiệu lớn, phát hành như Diner's Club, American Express, Marathon Credit Card, Gulf's Cards, Shell MasterCard
1.2.3.2 Theo hạng thẻ:
- Thẻ thường: Đây là loại thẻ tín dụng căn bản nhất Loại thẻ này mang tính chất phổ biến, có đầy đủ các đặc điểm cơ bản của một chiếc thẻ tín dụng như chi tiêu trước - trả tiền sau với thời hạn ưu đãi miễn lãi tối đa lên đến 45 ngày; thanh toán hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại hàng chục triệu ĐVCNT hoặc hàng triệu ATM có biểu tượng chấp nhận thẻ Visa/Mastercard/JCB,… tại các quốc gia trên toàn thế giới; thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ qua Internet; phương thức thanh toán linh hoạt; được hưởng ưu đãi tại hàng trăm ĐVCNT của TCPHT Hạn mức tín dụng của hạng thẻ chuẩn tùy theo Ngân hàng phát hành qui định
- Thẻ vàng: Là loại thẻ tín dụng được phát hành cho những đối tượng khách hàng có mức sống, thu nhập và nhu cầu tài chính tương đối cao Hạng thẻ này ngoài các đặc điểm của thẻ tín dụng hạng thường thì có hạn mức tín dụng cao hơn thẻ thường và thêm một số ưu đãi khác so với thẻ hạng thường do từng TCPHT quy định
- Thẻ Platinum: Là loại thẻ tín dụng có hạn mức tín dụng cao nhất so với các sản phẩm thẻ khác, thuộc dòng thẻ tín dụng cao cấp nhất trên thị trường, tập trung vào những ưu đãi chuyên biệt như tích lũy điểm thưởng được hưởng quà tặng; sinh nhật vàng và các đặc quyền vượt trội nhất trong các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm,
Trang 22du lịch và giải trí Với những tính năng nổi bật, loại thẻ Platinum đem đến cho chủ thẻ những trải nghiệm đẳng cấp và sang trọng nhất
1.2.3.3 Theo công nghệ sản xuất:
- Thẻ khắc chữ nổi: Là loại thẻ tín dụng được làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi các thông tin cần thiết Những sản phẩm thẻ tín dụng đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này Hiện nay, loại thẻ này không còn được sử dụng nữa vì kỹ thuật sản xuất thô sơ, tính bảo mật kém và dễ bị làm giả
- Thẻ băng từ: Đến những năm 1980, tổ chức thẻ Visa và MasterCard đã sử dụng thẻ tín dụng dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng chứa thông tin ở mặt sau của thẻ để những máy tính tiền có thể đọc được thẻ Loại này được sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm nay, nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm như khả năng bị lợi dụng cao do thông tin ghi trên thẻ không tự mã hóa được, người khác có thể đọc thẻ dễ dàng bằng thiết bị đọc gắn với máy vi tính; thẻ từ chỉ mang thông tin cố định, khu vực chứa tin hẹp, không áp dụng được các kỹ thuật mã đảm bảo an toàn, thẻ chỉ được người tính tiền xem xét bằng thị giác, số PIN chỉ được yêu cầu trong các giao dịch trực tuyến Do những nhược điểm trên, thẻ băng từ những năm gần đây đã bị lấy cắp thông tin rất nhiều
- Thẻ thông minh: Là thế hệ mới nhất của thẻ tín dụng được phát hành trên nền tảng thẻ chip Trên thẻ được gắn chip điện tử với bộ vi xử lý như một máy tính thu nhỏ đa chức năng và ứng dụng Thẻ có khả năng lưu trữ các thông tin quan trọng được mã hóa với độ bảo mật cao, dữ liệu thẻ được bảo mật nhiều tầng bằng các lớp mã hóa và khóa hệ thống Các thẻ chip này có chứa hàng ngàn ký tự ở định dạng chỉ đọc hoặc có thể đọc viết được Đây là đặc điểm khác với thẻ từ khi dãy từ chỉ chứa vài trăm ký tự và chỉ có ở dạng chỉ đọc Do đó loại thẻ này thể hiện được tính công nghệ, hiện đại và rất an toàn khi khách hàng chi tiêu và thanh toán cần tuyệt đối bảo mật thông tin thẻ
Hiện nay, thẻ thông minh được sử dụng rất phổ biến trên thế giới vì có ưu điểm về mặt kỹ thuật độ an toàn cao, khó làm giả được, ngoài ra còn làm cho quá
Trang 23trình thanh toán thuận tiện, an toàn và nhanh chóng hơn Tuy nhiên, tại Việt Nam loại thẻ thông minh vẫn chưa phát triển rộng rãi bởi vấn đề về vốn và kỹ thuật
Bảng 1.1 Các ngân hàng phát hành thẻ tín dụng tại Việt Nam
Ngân hàng phát
hành
Vietcombank Vietcombank Visa, MasterCard;
MasterCard cội nguồn;
American Express, JCB
Phát hành cả 3 thương hiệu thẻ Visa, Mastercard
và Amex
ACB ACB Visa/MasterCard; Phát hành cả 2 Visa và
MasterCard, tập trung chủ yếu vào thẻ ghi nợ
Vietinbank Visa/MasterCard/JCB Cremium Ngân hàng đầu tiên tại
Việt Nam phát hành thẻ JCB
Eximbank Eximbank Visa và MasterCard; Là một trong những ngân
hang đầu tiên triển khai phát hành 2 dòng thẻ này
Sacombank Sacombank Visa Credit; Ladies
first
Chỉ phát hành thẻ tín dụng quốc tế Visa, được biết đến là ngân hang đầu tiên có thẻ tín dụng dành cho nữ giới
Techcombank Techcombank Credit Visa
VPBank MC2 MasterCard
(Nguồn: Tổng hợp từ các trang web của các ngân hàng)
Trang 241.2.4 Quy trình thanh toán thẻ tín dụng
1.2.4.1 Các bên tham gia thanh toán
Ngân hàng phát hành (Issuing Bank): là ngân hàng được Ngân hàng nhà nước (NHNN) cho phép thực hiện nghiệp vụ phát hành thẻ và phải là thành viên của Tổ chức thẻ quốc tế Ngân hàng phát hành chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ, thực hiện cung cấp các dịch vụ thẻ cho khách hàng, giải quyết khiếu nại, quản lý rủi ro và thu hồi nợ thẻ Ngân hàng phát hành thường là ngân hàng
có uy tín trong nước cũng như quốc tế
Chủ thẻ (Cardholder): là người có tên trên thẻ, được ngân hàng phát hành cấp thẻ để sử dụng Chủ thẻ là người duy nhất được quyền sử dụng thẻ của mình để mua hàng hóa tại đơn vị chấp nhận thẻ và rút tiền mặt tại máy ATM hay ứng tiền mặt tại các điểm ứng tiền mặt
Đơn vị chấp nhận thẻ (Merchant): là các tổ chức cá nhân cung ứng hàng hóa, dịch vụ chấp nhận thẻ làm công cụ thanh toán, bao gồm: nhà hàng, khách sạn, siêu thị, trung tâm thương mại, công ty du lịch, các đơn vị này sẽ được các ngân hàng thanh toán thẻ cung cấp máy mọc, thiết bị chuyên dùng để thực hiện các dịch vụ thẻ
Ngân hàng thanh toán (Acquiring Bank): là ngân hàng trực tiếp kí hợp đồng với đơn vị chấp nhận thẻ và thanh toán các chứng từ giao dịch do đơn vị chấp nhận thẻ xuất trình Một ngân hàng có thể vừa đóng vai trò là ngân hàng thanh toán và ngân hàng phát hành thẻ tín dụng
Ngân hàng đại lý (Correspondent Bank): là ngân hàng được ngân hàng thanh toán thẻ ủy quyền để thực hiện một số dịch vụ chấp nhận thanh toán thẻ thông qua hợp đồng đại lý, các dịch vụ thanh toán liên quan như nhờ thu, thanh toán với đơn vị chấp nhận thẻ, ứng tiền mặt cho chủ thẻ,
Tổ chức thẻ quốc tế (Credit Card Association): là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng tham gia trên thị trường thẻ, có trách nhiệm cấp giấy phép
Trang 25hoạt động thanh toán và phát hành thẻ cho các thành viên có nhu cầu thực hiện dịch vụ thanh toán và phát hành các sản phẩm mang thương hiệu của
họ Gồm có: tổ chức thẻ Visa, tổ chức thẻ MasterCard, công ty thẻ American Express, Công ty thẻ JCB
1.2.4.2 Quy trình thanh toán thẻ Hình 1.1: Khái quát quy trình thanh toán, thu nợ thẻ tín dụng
(Nguồn: Từ trang web Hiệp hội Ngân hàng)
Bước 1: Chủ thẻ sử dụng thẻ tín dụng để mua hàng hóa hoặc rút tiền tại đơn vị chấp nhận thẻ hoặc ngân hàng đại lý thanh toán
Bước 2: Các đơn vị chấp nhận thẻ hoặc ngân hàng đại lý thanh toán cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo quy định trong hợp đồng chấp nhận thẻ ký kết với ngân hàng thanh toán
(1)
(1) (2)
(3) (4) (5) (6)
(7) (8)
(9)
Trang 26Bước 3: Các cơ sở chấp nhận thẻ sẽ gửi bảng sao kê chi tiết và hóa đơn thanh toán cho ngân hàng thanh toán
Bước 4: Ngân hàng thanh toán tiến hành thanh toán cho đơn vị chấp nhận thẻ hoặc ngân hàng đại lý bằng cách ghi nợ tạm ứng thanh toán thẻ và ghi có cho đơn vị chấp nhận thẻ
Bước 5: Ngân hàng thanh toán tổng hợp giao dịch và gửi dữ liệu thanh toán đến tổ chức thẻ
Bước 6: Tổ chức thẻ xử lý thanh toán bù trừ, ghi nợ và báo nợ cho ngân hàng phát hành; đồng thời ghi có và báo cáo có cho Ngân hàng thanh toán
Bước 7: Ngân hàng phát hành chấp nhận thanh toán Sau khi nhận được thông tin và nếu không có khiếu nại gì, ngân hàng phát hành chấp nhận thanh toán cho Tổ chức thẻ quốc tế
Bước 8: Ngân hàng phát hành sẽ gửi sao kê hàng tháng cho chủ thể theo yêu cầu thanh toán
Bước 9: chủ thẻ thanh toán nợ cho ngân hàng phát hành Sau khi nhận được sao kê giao dịch, nếu không thấy sai sót gì, chủ thẻ tiến hành thanh toán nợ cho ngân hàng phát hành
1.2.5 Vai trò của thẻ tín dụng
Thẻ tín dụng ra đời đánh dấu một bước phát triển vượt bậc của công nghệ ngân hang hòa chung với sự phát triển về kinh tế - xã hội của thế giới, thẻ tín dụng
đã phát huy vai trò tích cực của mình:
Thứ nhất: Góp phần làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông Những
nước phát triển thanh toán tiêu dùng bằng thẻ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các phương tiện thanh toán Nhờ vậy mà khối lượng thanh toán cũng như áp lực tiền mặt trong lưu thông giảm đáng kể, từ đó làm giảm các chi phí vận chuyển, phát hành, kiểm kê tiền trong nền kinh tế, đồng thời giúp hạn chế được nạn tiền giả
Thứ hai: Góp phần tăng nhanh tốc độ chu chuyển thanh toán Hầu hết mọi
giao dịch thẻ trong phạm vi quốc gia hay toàn cầu đều được thực hiện và thanh toán trực tuyến, vì vậy tốc độ chu chuyển thanh toán nhanh hơn nhiều so với những giao
Trang 27dịch sử dụng phương tiện thanh toán khác Thay vì thực hiện giao dịch trên giấy tờ, với giao dịch thẻ mọi thông tin đều được xử lý qua hệ thống máy móc điện tử thuận tiện
Thứ ba: Thực hiện chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước Việc sử dụng thẻ
được thực hiện thông qua mạng trực tuyến dưới sự kiểm soát của ngân hàng đã tạo điều kiện quan trọng cho việc kiểm soát khối lượng tiền giao dịch thanh toán của dân cư và của cả nền kinh tế, do đó giảm được các hoạt động kinh tế ngầm, đồng thời qua đó có thể tính toán được lượng tiền cung ứng, tăng cường tính chủ đạo của nhà nước trong nền kinh tế vĩ mô
Thứ tư: Cải thiện môi trường văn minh thương mại, thu hút khách du lịch và
đầu tư nước ngoài Thanh toán bằng thẻ tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho việc hội nhập nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới trong lĩnh vực: tài chính ngân hàng thông qua các tổ chức thẻ quốc tế Từ đó tạo ra môi trường văn minh thương mại thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài và khách du lịch Thanh toán thẻ an toàn, hiệu quả, chính xác, nhanh chóng cũng sẽ tạo ra niềm tin đối với dân chúng vào hoạt động của hệ thống ngân hàng Với tấm thẻ nhỏ trong tay, ta có thể thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các điểm chấp nhận thẻ Trên toàn thế giới bằng bất kỳ loại tiền nào mà không phải trả thêm một khoản phụ phí nào
Không bị giới hạn bởi lượng tiền mang theo người, có thể giải quyết được những nhu cầu phát sinh đột xuất
Được cấp một hạn mức tín dụng để chi tiêu trước trả tiền sau ( Đây chính là tính tín dụng của sản phẩm)
Có thể rút tiền mặt khi cần thiết tại các ngân hàng thanh toán thẻ hay tại các máy rút tiền tự động ATM ở khắp nơi trên thế giới
Có thể kiểm tra số, điểm ứng tiền mặt thông qua các thiết bị của ngân hàng Được hưởng mộ số dịch vụ khác do NH phát hành và triển khai áp dụng cho chủ thẻ như: Dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ y tế, trợ giúp toàn cầu
An toàn về tài sản, chỉ duy nhất chủ thẻ được sử dụng và biết mật mã riêng (số PIN) để sử dụng, vì vậy an toàn trong quản ký tài chính của các đơn vị chấp nhận
Trang 28thẻ vì thông tin về giao dịch được lưu lại nên không thất thoát được tiền mặt cũng như tránh được tiền giả, giảm thiểu sự nhầm lẫn trong thanh toán
+ Có khả năng tài chính đảm bảo việc thực hiện đầy đủ và đúng hạn các nghĩa
vụ tài chính liên quan đến việc sử dụng thẻ của chủ thẻ chính và các chủ thẻ phụ;
+ Có tài sản đảm bảo và/hoặc được người thứ 3 thế chấp, cầm cố tài sản hợp pháp bảo lãnh thanh toán thay Người thứ 3 phải có năng lực pháp luật dân sự hoặc năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ (đối với cá nhân) Trường hợp phát hành thẻ tín chấp được thực hiện theo quy định của ngân hàng trong từng thời kỳ
- Chủ thẻ phụ:
+ Là các nhân có năng lực pháp luật, năng lực hành vi và chịu trách nhiệm dân
sự theo đúng quy định của pháp luật hoặc có năng lực hành vi dân sự và đủ 15 tuổi cho đến chưa đủ 18 tuổi được người đại diện theo pháp luật của người đó chấp thuận về việc sử dụng thẻ;
+ Được chủ thẻ chính đề nghị cấp thẻ bằng văn bản theo mẫu của ngân hàng
1.2.6.2 Điều kiện cấp thẻ tín dụng:
- Đối với các khách hàng đang có quan hệ tín dụng với ngân hàng (bao gồm các khách hàng mới quan hệ tín dụng với ngân hàng)
+ Dư nợ vay tối thiểu tương đương 100 triệu đồng;
+ Không đang có nợ không đủ tiêu chuẩn tại ngân hàng
Đối với các khách hàng đang gửi tiền tại ngân hàng:
Trang 29+ Số dư tiền gửi tối thiểu tương đương 50 triệu đồng, kỳ hạn gửi tối thiểu 01 tháng
+ Có sổ hộ khẩu tại cùng địa bàn tỉnh, thành phố với đơn vị thẩm định phát hành thẻ (Chi nhánh, Phòng Giao dịch)
- Đối với các đối tượng khác (Áp dụng cho thẻ cá nhân)
+ Cán bộ, công nhân viên đang làm việc tại các doanh nghiệp, cơ quan hành chính sự nghiệp, bệnh viện, trường học (gọi chung là đơn vị làm việc) Đơn vị đang làm việc phải có trụ sở tại cùng địa bàn tỉnh, thành phố với đơn vị thẩm định phát hành thẻ (Chi nhánh, Phòng GD);
+ Có hợp đồng lao động chính thức;
+ Mức lương tối thiểu 3 triệu đồng;
+ Có hộ khẩu tại cùng địa bàn tỉnh, thành phố với đơn vị thẩm định phát hành thẻ (Chi nhánh, PGD) Trường hợp không có hộ khẩu tại cùng địa bàn tỉnh, thành phố với đơn vị thẩm định phát hành thẻ thì phải được đơn vị bảo lãnh
1.2.7 Những rủi ro thường xảy ra đối với việc sử dụng thẻ tín dụng
1.2.7.1 Đối với chủ thẻ
- Chủ thẻ phải trả các khoản phí sử dụng thẻ tín dụng như : Phí phát hành, phí thường niên, phí rút tiền mặt, phí vượt hạn mức, phí chuyển đổi ngoại tệ, … Vào ngày đến hạn, nếu dư nợ cuối kỳ chưa được thanh toán hết thì chủ thẻ phải chịu những khoản phí và lãi chậm thanh toán trên dư nợ cuối kỳ chưa thanh toán đó Lãi suất được tính thường cao hơn so với các sản phẩm cho vay thông thường khác
- Chủ thẻ có thể gặp rủi ro mất tiền khi thẻ rơi vào tay người khác nếu chủ thẻ không kịp thời thông báo cho TCPHT Bởi hiện nay tại các ĐVCNT, nhân viên thanh toán chỉ thực hiện một thủ tục đơn giản là đối chiếu chữ ký trên thẻ so với chữ ký trên hóa đơn, thậm chí nhiều nơi cũng không thực hiện việc đối chiếu này
Do đó, việc sử dụng thẻ của người khác để thanh toán có thể thực hiện một cách nhanh chóng và thuận tiện mà không gặp phải bất kỳ một khó khăn nào
- Theo quy định, ĐVCNT không được yêu cầu chủ thẻ trả thêm phụ phí đối với các giao dịch thanh toán bằng thẻ tín dụng so với thanh toán bằng tiền mặt
Trang 30nhưng trên thực tế nhiều ĐVCNT vẫn tự thu thêm phí Điều này làm tăng số tiền mà chủ thẻ phải thanh toán, đặc biệt đối với những món hàng hóa có giá trị lớn thì khoản phí này là khá cao
- Đường truyền giữa một số TCPHT và ĐVCNT còn yếu kém cộng với sự thiếu kinh nghiệm của nhân viên thanh toán có thể khiến cho việc thanh toán bằng thẻ trở nên khó khăn Trong một số trường hợp không thanh toán được nên khách hàng phải thanh toán bằng tiền mặt hoặc trả hàng lại Trường hợp phải cà thẻ nhiều lần mới thanh toán được, nếu nhân viên thanh toán không biết cách xử lý thì hệ thống quản lý thẻ của TCPHT có thể ghi nhận giao dịch đó nhiều lần dẫn đến tổn thất cho chủ thẻ nếu họ không xem xét kỹ bản sao kê thẻ tín dụng
- Tại một số nhà hàng, quán ăn, siêu thị, … nhân viên ở đây thường cầm thẻ tín dụng của khách hàng đến nơi có máy thanh toán để cà thẻ Điều này khiến cho việc thanh toán tiền bằng thẻ tín dụng không bảo đảm an toàn do một số loại tội phạm thẻ có thể sao chép thông tin trên thẻ để lấy cắp tiền từ thẻ
- Dịch vụ chăm sóc khách hàng còn yếu kém : Tại một số TCPHT do sự chậm trễ hoặc sai sót trong việc cung cấp bảng sao kê thẻ tín dụng hàng tháng của khách hàng dẫn đến khách hành không thanh toán kịp thời nên khách hàng bị phạt chậm thanh toán và bị tính lãi Dịch vụ nhắn tin qua điện thoại của một số TCPHT chỉ cho biết tổng số tiền phải trả trong tháng nên không thể kiểm tra các giao dịch khi khách hàng có nhu cầu kiểm tra đột xuất Điều này chứng minh sự chậm trễ trong việc đầu tư cải tiến công nghệ phục vụ việc chăm sóc khách hàng của một số TCPHT
1.2.7.2 Đối với Ngân hàng :
- Việc phát hành thẻ tín dụng ngoài việc làm tăng số lượng thẻ phát hành, làm tăng uy tín và thương hiệu của các TCPHT thì cũng đồng nghĩa với việc làm tăng dư nợ tín dụng tại các TCPHT là ngân hàng Khi mà bối cảnh nền kinh tế vẫn còn khó khăn như hiện nay thì việc các ngân hàng ồ ạt cho vay thông qua hình thức phát hành thẻ tín dụng được xem như một giải pháp hạn chế tình trạng dư nợ tín dụng đang giảm dần Tuy nhiên, điều kiện phát hành thẻ ngày càng bị nới lỏng như
Trang 31thu nhập tối thiểu ngày càng giảm, chỉ cần bản photo chứng minh nhân dân, hộ khẩu, bản photo hợp đồng lao động, bản sao kê hợp đồng lao động thanh toán qua ngân hàng, là có thể phát hành được thẻ Thậm chí các ngân hàng còn cạnh tranh nhau về hạn mức tín dụng cấp cho thẻ tín dụng mà không thẩm định kỹ khả năng trả
nợ của khách hàng có đủ điều kiện hay không Trong tình hình khó khăn như hiện nay, việc chủ thẻ mất việc làm hoặc bị giảm lương là chuyện có thể xảy ra, từ đó có thể dẫn tới việc chủ thẻ không đủ khả năng thanh toán dư nợ thẻ Điều này có thể dẫn đến nguy cơ làm giảm chất lượng tín dụng, làm tăng rủi ro phát sinh nợ xấu trong hệ thống ngân hàng
- Với trình độ kỹ thuật tiên tiến như hiện nay đã xuất hiện loại thẻ tín dụng bị làm giả do thông tin chủ thẻ thật bị đánh cắp Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến thương hiệu của các TCPHT, làm giảm khả năng thu hút khách hàng phát hành thẻ tín dụng tại các TCPHT đó Từ đó làm giảm số lượng thẻ tín dụng phát hành, dẫn đến làm giảm doanh số của TCPHT
1.2.7.3 Đối với đơn vị chấp nhận thẻ :
- Tình trạng thẻ giả : Với công nghệ hiện đại như ngày nay, việc làm ra một chiếc thẻ tương tự như thẻ thật nếu chỉ nhận biết bằng mắt thường là việc hết sức dễ dàng đối với các tội phạm thẻ Khi loại thẻ giả này được sử dụng để thanh toán, ngay cả khi giao dịch được xác định là thành công, ĐVCNT được TCPHT thanh toán nhưng không đồng nghĩa với việc TCPHT đã xác minh được người sử dụng thẻ
đó là chủ thẻ thật Khi điều tra được giao dịch đó được thực hiện bởi thẻ giả thì ĐVCNT sẽ bị TCPHT đòi bồi hoàn toàn bộ số tiền của giao dịch đó
- Đối với các ĐVCNT thực hiện thu phí đối với chủ thẻ là trái với quy định của tổ chức thẻ quốc tế và TCPHT Khi đó ĐVCNT sẽ bị cảnh cáo, tạm đình chỉ hợp đồng chấp nhận thanh toán thẻ trong thời hạn theo quy định trong hợp đồng chấp nhận thanh toán thẻ, hoặc chấm dứt hợp đồng chấp nhận thanh toán thẻ nếu ĐVCNT không chấm dứt việc thu phí theo quy định
Trang 321.2.7.4 Đối với nền kinh tế :
- Trong giai đoạn suy thoái kinh tế như hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, hàng loạt doanh nghiệp bị phá sản, số lượng nhân viên bị cắt giảm lương cũng đang tăng lên Điều này dễ dàng dẫn đến việc các chủ thẻ tín dụng cá nhân và doanh nghiệp không có khả năng thanh toán dư nợ thẻ có thể dẫn đến việc gia tăng nợ xấu thẻ tín dụng Đây là một kịch bản đã xảy ra đối với các nước có sự phát triển mạnh
về sản phẩm thẻ tín dụng mà điển hình là nước Mỹ, khi mà điều kiện phát hành thẻ ngày càng bị nới lỏng Rủi ro vỡ nợ thẻ tín dụng là hoàn toàn có thể xảy ra nếu NHNN và Chính phủ không có các biện pháp can thiệp
- Tội phạm lấy cắp thông tin của các chủ thẻ tín dụng nhằm tấn công vào các website mua bán trực tuyến nhằm lấy cắp thông tin thẻ tín dụng của người mua để bán cho người khác hoặc để chi tiêu, mua bán trái phép thông tin thẻ tín dụng của người khác trên mạng, … loại tội phạm này gia tăng với nhiều phương thức, thủ đoạn phạm tội mới, hoạt động có tính chất xuyên quốc gia Điều này không chỉ gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, tổ chức, công dân mà xâm phạm và đe dọa an ninh, an toàn mạng
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thị trường thẻ t n dụng tại Việt Nam
Trong các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển thẻ tín dụng đã phân tích như trên thì cụ thể đối với Việt Nam sẽ có ảnh hưởng như thế nào?
- Thói quen tiêu dùng : Việt Nam là một quốc gia có truyền thống sử dụng tiền mặt trong tất cả các giao dịch thanh toán Bởi phương thức thanh toán này dễ dàng, nhanh chóng, thuận tiện và người dân chưa có thói quen sử dụng các phương tiện thanh toán hiện đại do các tổ chức tín dụng cung cấp Nhiều người Việt Nam vẫn còn quan niệm thanh toán thông qua ngân hàng gây phiền hà và nhiều chi phí phát sinh bởi họ chưa tính đến những lợi ích mà ngân hàng cung cấp cho họ
- Trình độ dân trí : Trình độ dân trí tại Việt Nam chưa cao, có sự chênh lệch
rõ rệch giữa các thành phố lớn và các vùng sâu, vùng xa của cả nước Giáo dục đào
Trang 33tạo vẫn chưa tương xứng với nhu cầu của xã hội Vì trình độ dân trí có ảnh hưởng lớn đến nhận thức của con người, nên trình độ dân trí càng cao thì khả năng tiếp nhận những tiến bộ của thế giới càng lớn Do đó, tại Việt Nam việc phát triển những phương tiện thanh toán hiện đại còn chậm hơn các nước có trình độ dân trí cao hơn
- Thu nhập : Thu nhập tại Việt Nam cũng chỉ ở mức trung bình so với các nước trên thế giới Hơn nữa, chênh lệch thu nhập giữa các vùng miền cũng đang là một vấn đề lớn tại Việt Nam Khi mà thu nhập cao chủ yếu tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn của cả nước Những người có thu nhập cao thì mới có điều kiện tiếp cận với những phương thức thanh toán hiện đại nhằm phục vụ cho nhu cầu chi tiêu nhiều hơn và có những nhu cầu du lịch và giải trí nhiều hơn, …
- Trình độ kỹ thuật – công nghệ của TCPHT : So với các ngân hàng trên thế giới, các ngân hàng tại Việt Nam bị hạn chế rất lớn bởi vấn đề về vốn Do đó, việc đầu tư cải tiến công nghệ cho các trang thiết bị máy móc phục vụ cho việc thanh toán của các ngân hàng còn khá lạc hậu và chưa phân bố đều trong phạm vi cả nước
- Môi trường pháp lý : Thẻ tín dụng là một sản phẩm còn khá mới mẻ tại Việt Nam nên các quy định có liên quan để xử lý những vấn đề phát sinh còn chưa được chặt chẽ và quy định cụ thể Và đây là một hình thức cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng nên thẻ tín dụng vẫn phải căn cứ nhiều vào những quy định về tín dụng để
xử lý tranh chấp phát sinh Hơn nữa những món nợ phát sinh từ thẻ tín dụng có số tiền nhỏ nên chưa được sự quan tâm đúng mức của các nhà làm luật
1.4 Mô hình nghiên cứu
1.4.1 Giả thiết và mô hình nghiên cứu
1.4.1.1 Các nghiên cứu trước đây
Thẻ tín dụng là một sản phẩm tương đối mới trong lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng nhưng đã được sử dụng rộng rãi tại các nước như Mỹ, một số quốc gia Châu
Âu, Singapore, … Chính vì vậy tiềm năng phát triển của loại thẻ này đã thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới từ đầu những năm 1970 nhằm tìm hiểu các vấn
đề liên quan đến thẻ tín dụng như việc sở hữu và sử dụng thẻ tín dụng; vấn đề nợ
Trang 34thẻ tín dụng; các loại thẻ tín dụng như thẻ tín dụng Hồi Giáo, thẻ tín dụng dành cho sinh viên, Điều này đã làm phong phú thêm cơ sở lý thuyết về thẻ tín dụng Đặc biệt tác động của các đặc điểm nhân khẩu học như giới tính, trình độ học vấn, độ tuổi, thu nhập, tôn giáo, tình trạng hôn nhân, …; sự thuận tiện và an toàn trong chi tiêu; thái độ đối với nợ; … đối với việc sở hữu và sử dụng thẻ tín dụng được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm bởi sự ảnh hưởng trực tiếp của những biến này đến sự phát triển của thẻ tín dụng
Có một số các nghiên cứu trước đây đã giải quyết đầy đủ các tác động của thái độ, định mức chi phí tài chính và thái độ sử dụng thẻ tín dụng Đặc biệt là ở Malaysia, đã có các nghiên cứu trong các tài liệu về thẻ tín dụng (Mansor và Che Mat, 2009; Mohd Dali và cộng sự, 2008; Choo và cộng sự, 2007) Trong các nghiên cứu, thẻ tín dụng được đề cập khác nhau về mục đích, phân tích thống kê và kết quả Sau đây là các cuộc thảo luận của các nghiên cứu này:
Mansor và Che Mat (2009) đã nghiên cứu tác động của các yếu tố nhân khẩu học về việc sử dụng thẻ tín dụng Nghiên cứu được tiến hành với sự tham gia trên tổng số 305 người trả lời như là một mẫu nghiên cứu, tần suất và kiểm định chi bình phương được sử dụng để phân tích dữ liệu Nghiên cứu báo cáo rằng thu nhập
là một yếu tố dự báo ảnh hưởng đối với việc sử dụng thẻ tín dụng trong những người dùng hiện tại
Về mặt lý thuyết, người tiêu dùng có xu hướng tăng mô hình chi tiêu của
họ khi thu nhập tăng lên của họ Nó đã được báo cáo rằng không có sự khác biệt thống kê giữa nam và nữ trong việc sử dụng thẻ tín dụng Tuy nhiên khi xem xét các biến liên quan đến trình độ học vấn và thu nhập, có một dấu hiệu của mức độ nhất định sự khác biệt xuất hiện để tồn tại khi quan sát ba cấp độ giáo dục và bốn mức thu nhập Các tác giả cũng lưu ý rằng trong số những người có thu nhập thấp
và trung bình có xu hướng sử dụng thẻ tín dụng vì nó có thể cung cấp các tính năng
an toàn và tiện lợi
Mohd Dali et al (2008) đã phát triển một nghiên cứu để xác định các yếu
tố sự hài lòng của các chủ thẻ tín dụng tại Malaysia bằng một cuộc khảo sát tự quản
Trang 35lý Đây là nghiên cứu đầu tiên của loại hình này ở Malaysia trong việc sử dụng tự quản lý câu hỏi dựa trên web để nghiên cứu thẻ tín dụng của Hồi giáo Tổng cộng
có 127 người tham gia được tham gia Sử dụng phân tích nhân tố khám phá (EFA)
và mô hình hồi quy logictic, những nghiên cứu này nhằm đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu phát hiện ra rằng việc mua sắm, mua hang hóa số lượng lớn, sự hiểu biết được coi là những yếu tố quan trọng quyết định của một người hài lòng về việc sử dụng thẻ tín dụng Những gì chúng ta có thể rút ra từ nghiên cứu này, bối cảnh của nghiên cứu là khác nhau đặc biệt là khi nó được so sánh với các nghiên cứu hiện nay, sau này sẽ sử dụng một biến ngoại sinh và một số biến nội sinh
Một nghiên cứu của Erdem (2008) ghi nhận tầm quan trọng của việc quản
lý mặc định thẻ tín dụng ở Thổ Nhĩ Kỳ Một nghiên cứu của Kaynak và Harcar (2001) cung cấp bằng chứng về tác động của "thái độ" và "ý định sử dụng" về quyền sở hữu thẻ tín dụng trong cùng một quốc gia
Chi tiết về kết quả của những nghiên cứu này, Erdem (2008) cung cấp một cái nhìn sâu sắc rõ ràng liên quan đến khả năng mặc định thẻ tín dụng và mục đích
sử dụng tại Thổ Nhĩ Kỳ Erdem (2008) lưu ý rằng việc sử dụng thẻ tín dụng đã có tác động tích cực về tài chính cá nhân của mình Tuy nhiên, nghiên cứu cũng báo cáo rằng việc sử dụng thẻ tín dụng dẫn đến những tác động tiêu cực, chẳng hạn như
ly hôn, nộp đơn xin phá sản, tự tử và giết chết các thành viên trong gia đình Tại Thổ Nhĩ Kỳ, gần 836 người dân không trả nợ mỗi tháng và phải đối mặt thủ tục pháp lý vào năm 2000, và 13.985 người vào năm 2005, tương ứng, (Erdem, 2008)
Số lượng người tự tử, theo báo cáo của Erdem (2008) là 75 vào năm 2006 Do sự tiến thoái lưỡng nan, Erdem điều tra các yếu tố xác định ý định mặc định và sử dụng thẻ tín dụng Mặt khác, Erdem (2008) báo cáo rằng số lượng trẻ em, trình độ giáo dục, tiêu chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi và thái độ đối với hành vi này là những yếu tố dự báo quan trọng đối với ý định hành vi Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng quan trọng hướng tới sự cần thiết phải kiểm soát nợ thẻ tín dụng
Trang 36Mặc dù vậy nghiên cứu đã không tìm được cách để kiểm tra mục đích của việc sử dụng thẻ tín dụng
Abdul-Muhmin và Umar (2007) đã kiểm tra tác động của nhân khẩu học và thái độ đối với nợ về quyền sở hữu và sử dụng thẻ tín dụng Nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn tổng quan về sử dụng thẻ tín dụng ở Saudi Arabia Các tác giả phát hiện ra rằng sự thâm nhập thẻ tín dụng trong nước là tương đối thấp, phụ nữ Ả Rập
Xê Út có khả năng sở hữu thẻ nhiều hơn nam giới, sử dụng thẻ có xu hướng chọn lọc, thái độ đối với nợ là một yếu tố quyết định quan trọng của sở hữu thẻ nhưng không đến hành vi sử dụng
Kaynak và Harcar (2001) đã kiểm tra thái độ của người tiêu dùng và ý định đối với quyền sở hữu thẻ tín dụng tại Thổ Nhĩ Kỳ Các tác giả phát hiện ra rằng độ tuổi được coi là một yếu tố dự báo có ảnh hưởng trong việc xác định quyền sở hữu một thẻ tín dụng ở Thổ Nhĩ Kỳ Vì lẽ đó, Barker và Sekerkaya (1992) cũng đã đạt được những phát hiện tương tự như Kaynak và Harcar (2001), trong đó nhóm tuổi trung niên là nhiều khả năng để giữ và sử dụng thẻ tín dụng Rõ ràng, các nghiên cứu đã sản xuất các kết quả hỗn hợp liên quan đến các yếu tố bảo trợ thẻ tín dụng
do các mục đích khác nhau của các nghiên cứu của họ
Các nghiên cứu khác cũng đã ghi nhận vấn đề thái độ đối với nợ (Davies và Lea, 1995; Walker, 1996) Davies và Lea (1995) đã kiểm tra thái độ của sinh viên đối với nợ tại Anh Không ngạc nhiên, các sinh viên có thu nhập cao có xu hướng
có nợ cao hơn so với trung bình và thu nhập thấp học sinh khác Điều này giải thích rằng mức thu nhập và các khoản nợ có tương quan dương, trong đó cao hơn mức thu nhập, cao hơn số nợ phải đối mặt với mọi người Tương tự, Walker (1996) đã kiểm tra thái độ của các bà mẹ mới đối với nợ và thực tiễn quản lý tài chính Đáng ngạc nhiên, không có mối quan hệ giữa các thái độ đối với tín dụng và các hoạt động quản lý tài chính Lưu ý rằng, nợ được coi là tốt, thực tế là nợ có thể đáp ứng hành vi của một người tiêu dùng, chẳng hạn như mua hàng hóa lâu bền và thanh toán các khoản nợ hiện có
Trang 37Tại Malaysia, có những nghiên cứu hạn chế thực hiện trên thẻ tín dụng (Mansor và Che-Mat, 2009; Mohd và các cộng sự, 2008; Choo và cộng sự, 2007) Những nghiên cứu này, tuy nhiên, đã kiểm tra thẻ tín dụng khác nhau về mục đích, phân tích thống kê và kết quả Sau đây là các cuộc thảo luận của các nghiên cứu này
1.4.1.2 Giới thiệu về mô hình
Bài nghiên cứu này sử dụng những những biến có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu về quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Amin (2012b)khảo sát trên 354 khách hàng của các ngân hàng tại Malaysia vào năm 2012 Cụ thể là :
- Người giới thiệu,
Ngoài ra, bài nghiên cứu này còn kỳ vọng thêm một số biến có ý nghĩa thống kê trong bài nghiên cứu của Amin (2012b)và nghiên cứu của Tunalı và Tatoglu (2010)
- Qdsudungthe : quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Việt Nam Biến này được
đo lường bằng biến giả, nhận giá trị là 1 nếu người được phỏng vấn trả lời là có sử
Trang 38dụng thẻ tín dụng và là 0 nếu người được phỏng vấn trả lời là không sử dụng thẻ tín dụng
Những biến độc lập:
- Gioitinh : là một biến giả, biết này nhận giá trị là 1 nếu người được phỏng
vấn là nam và biết này nhận giá trị là 0 nếu người được phỏng vấn là nữ
- Honnhan : là một biến giả, nếu người được phỏng vấn đã kết hôn thì biến
này nhận giá trị là 1 và nếu ngược lại thì biến này nhận giá trị bằng 0
- Dotuoi : được đo bằng tuổi của người được phỏng vấn
- Trinhdo : là trình độ học vấn của người được phỏng vấn, biến này nhận giá
trị là 1 nếu người được phỏng vấn có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống; nhận giá trị là 2 nếu người được phỏng vấn có trình độ học vấn là cao đẳng; nhận giá trị
là 3 nếu người được phỏng vấn có trình độ học vấn là đại học và nhận giá trị là 4 nếu người được phỏng vấn có trình độ học vấn trên đại học
- Ktvethe : sử dụng biến giả để đo lường kiến thức về thẻ tín dụng của người
trả lời, biến này nhận giá trị là 1 nếu người được phỏng vấn biết những kiến thức chung về thẻ tín dụng và nhận giá trị là 0 nếu người được phỏng vấn không biết những kiến thức chung về thẻ tín dụng
- Nguoigt : là một biến giả, nếu người được phỏng vấn có người giới thiệu về
thẻ tín dụng thì nhận giá trị là 1 và nếu người được phỏng vấn không có người giới thiệu về thẻ tín dụng thì nhận giá trị là 0
- Muctn : là mức thu nhập bình quân hàng tháng của người được phỏng vấn,
biến này nhận giá trị là 1 nếu mức thu nhập bình quân hàng tháng của người được phỏng vấn nhỏ hơn hoặc bằng 5 triệu đồng; là 2 nếu mức thu nhập bình quân hàng tháng của người được phỏng vấn trên 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng; là 3 nếu mức thu nhập bình quân hàng tháng của người được phỏng vấn trên 10 triệu đồng đến 18 triệu đồng; là 4 nếu mức thu nhập bình quân hàng tháng của người được phỏng vấn trên 18 triệu đồng
Trang 39- Danhgia: Đánh giá về công dụng cũng như sự tiện lợi của thẻ tín dụng quốc tế,
biến nhận giá trị là 2 nếu người phỏng vấn cho rằng công dụng cũng như sự tiện lợi của thẻ tín dụng là cao, là 1 nếu đánh giá thấp và 0 nếu không biết
Những biến này được tổng hợp tại Bảng 1.2 về mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
Bảng 1.2: Mô tả các biến
STT Tên biến Ý nghĩa và cách đo lường
Kỳ vọng dấu
Nghiên cứu trước
(là nghiên cứu của Hanudin Amin (2012), nghiên cứu trước đó và kể
cả khảo sát chuyên gia)
Trang 401 - nhỏ hơn hoặc bằng 5 triệu đồng
2 - trên 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng
3 - trên 10 triệu đồng đến 18 triệu đồng
2 - Đánh giá cao
1 - Đánh giá thấp
0 - Không biết
(+)