Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020 (Chiến lược) có một nội dung “Đến năm 2020, các hoạt động Kho bạc Nhà nước được thực hiện trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại và hình thành Kho bạc điện tử”1 . Thuật ngữ Kho bạc Nhà nước (KBNN) điện tử được hiểu là KBNN “ba không”: không khách hàng, không chứng từ và không tiền mặt, tất cả hoạt động của KBNN trên nền tảng công nghệ, điện tử hoá. Sau 10 năm thực hiện chiến lược, theo định hướng chỉ đạo của KBNN, KBNN Thái Nguyên đã bước đầu hình thành KBNN điện tử, không khách hàng, không tiền mặt, không giao nhận trực tiếp chứng từ với đơn vị giao dịch
Trang 1Ths.Hà Quốc Thái Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020 (Chiến lược) có một nội dung “Đến năm 2020, các hoạt động Kho bạc Nhà nước được thực hiện trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại và hình thành Kho bạc điện tử”1 Thuật ngữ Kho bạc Nhà nước (KBNN) điện tử được hiểu là KBNN “ba không”: không khách hàng, không chứng từ và không tiền mặt, tất cả hoạt động của KBNN trên nền tảng công nghệ, điện tử hoá Sau 10 năm thực hiện chiến lược, theo định hướng chỉ đạo của KBNN, KBNN Thái Nguyên đã bước đầu hình thành KBNN điện tử, không khách hàng, không tiền mặt, không giao nhận trực tiếp chứng từ với đơn vị giao dịch
Vào những năm đầu thực hiện Chiến lược, với công chức KBNN ở địa phương, có rất nhiều thuật ngữ trong Chiến lược là hoàn toàn mới lạ như “xử lý
dữ liệu thu ngân sách nhà nước theo thời gian thực thu”, “thực hiện quy trình kiểm soát chi điện tử”, “thực hiện mô hình thanh toán tập trung theo hướng KBNN mở tài khoản thanh toán tập trung tại Ngân hàng Nhà nước Trung ương”,
“KBNN không thực hiện giao dịch bằng tiền mặt” Cùng với quá trình thực hiện Chiến lược, công chức KBNN địa phương đã có nhận thức đúng và đầy đủ hơn
về mục tiêu, định hướng phát triển của ngành KBNN
Trong công tác thu ngân sách nhà nước (NSNN), những năm đầu thực hiện chiến lược, KBNN địa phương là nơi trực tiếp thực hiện việc thu tiền mặt vào NSNN, tiền phạt vi phạm hành chính, sử dụng biên lai thu, giấy nộp tiền in sẵn nhận từ cơ quan Thuế KBNN thời điểm này phải cử công chức đến các điểm thu ngoài trụ sở để trực tiếp thu ngân sách bằng tiền mặt, khối lượng công việc rất lớn, đặc biệt là những đợt cao điểm thu tiền sử dụng đất, thu phí, lệ phí, thu thuế môn bài đầu năm,…Công tác thu tiền phạt vi phạm hành chính theo từng bộ biên lai in sẵn mệnh giá, phát sinh công việc rất lớn, cuối ngày cộng từng tờ biên lai thu phạt để nộp NSNN hoàn toàn thủ công, Chương trình hiện đại hóa thu NSNN với dữ liệu dùng chung cùng với việc mở rộng tài khoản chuyên thu tại các ngân hàng thương mại (NHTM) đã giúp công chức KBNN tập trung thực hiện đúng chức năng hạch toán kế toán NSNN, phân chia các khoản thu giữa các cấp ngân sách theo đúng tỷ lệ được cấp có thẩm quyền quyết định Nếu trước đây, các KBNN cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, số thu NSNN chỉ vài tỷ đồng 01 năm cũng cần 01 công chức thực hiện nhiệm vụ kế toán thu với từ 2 đến 3 kiểm ngân viên để thực hiện thu NSNN bằng tiền mặt Đến nay, số thu đã tăng lên mấy trăm tỷ 01 năm thì cũng chỉ cần ½ đến ¼ biên chế thực hiện nhiệm vụ hạch toán thu NSNN Đồng thời, khách hàng giao dịch
về thu NSNN trực tiếp đến KBNN hầu như không còn Công tác truyền nhận dữ
Trang 2liệu thu giữa NHTM-KBNN-Cơ quan thu được thực hiện điện tử hoàn toàn Từ 01/4/2021, các Lệnh hoàn trả thu được Cơ quan thuế ký số, truyền nhận điện tử qua KBNN đã khép lại việc giao nhận, xử lý thủ công trong công tác thu và hoàn trả các khoản thu NSNN
Trong công tác kiểm soát, hạch toán các khoản chi NSNN: Với hệ thống TABMIS là trung tâm, trong những năm qua, KBNN đã triển khai nhiều chương trình ứng dụng để hình thành KBNN điện tử Từ khi triển khai, đẩy mạnh chương trình Dịch vụ công trực tuyến (DVC), phương thức giao dịch giữa đơn
vị sử dụng NSNN và KBNN đã thay đổi căn bản, toàn diện Các đơn vị giao dịch hầu như không phải đến KBNN thực hiện giao dịch trực tiếp, không còn việc giao nhận chứng từ giấy, KBNN đã cung cấp tương đối đầy đủ các thủ tục hành chính về chi NSNN trên chương trình DVC Tuy nhiên, trong nội bộ KBNN, việc xử lý đang tiến hành song song cả chứng từ điện tử, sử dụng chữ ký
số trên các chương trình ứng dụng và cả chứng từ giấy in từ DVC, ký thủ công
để kiểm soát, lưu trữ, chưa thật sự đạt được mục tiêu KBNN không chứng từ
Công tác thanh toán: Đây cũng là bước thay đổi rất lớn ở KBNN địa phương, nếu như năm 2010, là thời kỳ đầu thực hiện Chiến lược, tại KBNN Thái Nguyên, doanh số thu, chi tiền mặt là 7.644 tỷ đồng, số thu NSNN là 2.700 tỷ đồng, số chi NSNN là 8.218 tỷ đồng, nếu tính tỷ trọng giữa doanh số thu, chi tiền mặt và tổng số thu chi NSNN là đến 70% Tại thời điểm hết năm 2020, số thu, chi tiền mặt là 505 tỷ đồng, số thu NSNN 15.623 tỷ đồng, số chi NSNN là 22.488 tỷ đồng thì tỷ trọng giữa doanh số thu, chi tiền mặt và tổng số thu chi NSNN là chiếm 1,3% , giảm 54 lần so với năm 20102 Cùng với việc đẩy mạnh
ủy nhiệm thu qua NHTM, mở tài khoản thanh toán song phương của KBNN cấp tỉnh với NHTM để ủy nhiệm chi tiền mặt, triển khai diện rộng thanh toán Liên ngân hàng (Citad), đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, đến nay hệ thống KBNN đã triển khai thành công mục tiêu về công tác thanh toán trong Chiến lược, đã có tài khoản tập trung duy nhất của KBNN tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Các chương trình ứng dụng TCS, DVC cùng với ủy nhiệm thu, chi tiền mặt qua ngân hàng thương mại đã giúp khách hàng giao dịch về thu, chi ngân sách không phải trực tiếp đến KBNN Nếu như năm 2010, những dịp quyết toán cuối năm, tại trụ sở KBNN luôn rất đông khách hàng giao dịch, luôn phải phối hợp với cơ quan công an trên địa bàn để có phương án đảm bảo an toàn giao thông bên ngoài trụ sở, an toàn, an ninh bên trong trụ sở, mỗi đơn vị giao dịch thường có từ 2 đến 3 người cùng đến trụ sở KBNN để thực hiện nhiệm vụ thu, chi ngân sách, rút nộp tiền mặt Đến năm 2020, những ngày quyết toán, trụ sở KBNN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hầu như không có khách giao dịch, bình lặng như ngày làm việc bình thường, hầu hết các giao dịch thu, chi được thực hiện trên các chương trình ứng dụng
Trang 3Như vậy, sau 10 năm thực hiện Chiến lược, tại KBNN địa phương bước đầu đã cơ bản hình thành KBNN không chứng từ, không khách hàng, không tiền mặt Việc xử lý chứng từ chi NSNN hiện chỉ còn trong quy trình nội bộ KBNN Tuy nhiên, để hình thành KBNN số theo định hướng chung và theo Chiến lược phát triển KBNN giai đoạn tiếp theo cần phải có những thay đổi, cải cách mạnh
mẽ, đột phá hơn Từ thực tế công việc tại KBNN địa phương, xin đề xuất một số giải pháp cụ thể sau:
Một là: Cần có thiết kế tổng thể các chương trình ứng dụng của KBNN Hiện tại KBNN địa phương có quá nhiều chương trình ứng dụng xoay quanh trung tâm là hệ thống TABMIS để xử lý dữ liệu đầu vào, đầu ra của hoạt động thu chi NSNN Cần tiến tới các cá nhân, tổ chức có liên quan đến hoạt động thu, chi NSNN tự nhập toàn bộ dữ liệu vào hệ thống; công chức KBNN chỉ có nhiệm
vụ kiểm soát chấp nhận hay không chấp nhận hạch toán vào hệ thống kế toán ngân sách, không phải hiệu chỉnh thông tin
Có một số chương trình triển khai đã lâu, có nhiều bất cập, chưa theo kịp
sự phát triển như chương trình Cấp mã quan hệ ngân sách, chương trình báo cáo nhanh theo Quyết định 359/QĐ-BTC,… cần được nghiên cứu nâng cấp hoặc tích hợp vào chương trình khác, đáp ứng yêu cầu của người dùng tại địa phương
Hai là: Cần bổ sung mã xác thực (mã QR, mã vạch…) trên các chứng từ thu, chi NSNN in từ các chương trình ứng dụng, đặc biệt là các chứng từ thu NSNN (Biên lai, Giấy nộp tiền,…) để dễ dàng xác thực thông tin trên chứng từ bằng máy quét hoặc điện thoại thông minh, hạn chế tối đa việc giả mạo chứng từ thu, chi NSNN Đẩy mạnh và tăng tốc độ trao đổi dữ liệu thu NSNN giữa các cơ quan có liên quan, đặc biệt là với các khoản tiền nộp liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu Khi người nộp thuế, phí liên quan đến xuất nhập khẩu qua Hệ thống thanh toán Liên ngân hàng thì tại KBNN phải nhận diện được các chứng
từ thu liên quan đến xuất nhập khẩu để ưu tiên, kịp thời xử lý cho người nộp thuế và truyền ngay dữ liệu cho cơ quan Hải quan mới đảm bảo được “xử lý dữ liệu thu NSNN theo thời gian thực thu”
Ba là: Cần bổ sung bảng mã ngân hàng trực tiếp vào chương trình kế toán hành chính sự nghiệp, chương trình DVC để kế toán đơn vị giao dịch khi nhập hoặc chuyển đổi dữ liệu vào chương trình DVC của KBNN có thể chọn được ngân hàng theo đúng bảng mã ngân hàng Khi đó, công chức KBNN chỉ có thể chấp nhận chi hoặc từ chối Hiện nay chứng từ đơn vị ghi tài khoản đơn vị nhận tại ngân hàng A nhưng Giao dịch viên áp thanh toán trên TABMIS lại chọn được mã Ngân hàng khác, dẫn đến sai lầm, rủi ro trong thanh toán
Đối với chứng từ hạch toán có tài khoản nhận trong hệ thống KBNN cũng chỉ cho phép công chức KBNN hiệu chỉnh trong một số ít trường hợp và một số nhóm nhất định trong 12 phân đoạn mã của hệ thống tổ hợp tài khoản kế
Trang 4toán TABMIS Các trường hợp hiệu chỉnh, phải có cảnh báo đối với người duyệt
và thông tin gốc trước khi chỉnh sửa để kiểm tra, đối chiếu trước khi ký duyệt
Như vậy, chứng từ từ đơn vị giao dịch chuyển sang KBNN mới đảm bảo tính nguyên vẹn giữa chứng từ giấy và chứng từ điện tử, nguyên vẹn thông tin khi giao diện qua các chương trình và sẽ không cần thiết phải in chứng từ giấy
từ chương trình DVC như hiện nay, hoàn thành được mục tiêu KBNN không chứng từ
Bốn là: Đẩy mạnh hơn nữa việc kiểm soát chi tiền mặt, đẩy mạnh ủy nhiệm chi tiền mặt qua ngân hàng thương mại để hình thành KBNN không tiền mặt một cách triệt để, trên diện rộng
Năm là: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại KBNN địa phương để trên cơ sở số liệu đầu vào thu, chi NSNN, số liệu báo cáo tài chính của các đơn
vị dự toán cấp I gửi đến, cần tổng hợp kịp thời, chính xác, có phân tích cung cấp những cảnh báo, dự báo và khuyến nghị cho các cấp chính quyền trong công tác quản lý, điều hành NSNN, công tác quản lý nguồn lực tài chính của chính quyền địa phương
1
Quyết định số 138/2007/QĐ-TTg ngày 21/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020
2
Số liệu từ các Báo cáo tổng kết của KBNN Thái Nguyên năm 2010 và 2020