1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý thu bảo hiểm xã hội tại bảo hiểm xã hội thành phố hà nội

103 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Thu Bảo Hiểm Xã Hội Tại Bảo Hiểm Xã Hội Thành Phố Hà Nội
Tác giả Đặng Anh Khoa
Người hướng dẫn PGS. TS. Trần Anh Tài
Trường học Đại học quốc gia Hà nội
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với quỹ BHXH hiện đang được thực hiện nhằm mục tiêu là trở thành một công quỹ độc lập với ngân sách nhà nước, nhằm đảm bảo về tài chính để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ.. Do đó, th

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

ĐẶNG ANH KHOA

QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI

TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

ĐẶNG ANH KHOA

QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI

TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Trang 3

CAM KẾT

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế,

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Anh Tài đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận tình của quý thầy cô, các nhà khoa học và các bạn

Trang 5

MỤC LỤC

Danh mục các từ viết tắt i

Danh mục bảng ii

Danh mục hình iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 5

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5

1.2 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI 9

1.2.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội 9

1.2.2 Phân biệt bảo hiểm xã hội với bảo hiểm thương mại 11

1.2.3 Các loại hình, các chế độ bảo hiểm xã hội 12

1.2.4 Vai trò của bảo hiểm xã hội 13

1.3 THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 17

1.3.1 Khái niệm, đặc điểm thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 17

1.3.2 Vai trò của thu bảo hiểm xã hội 19

1.3.3 Phương pháp thu bảo hiểm xã hội: 20

1.4 CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 21

1.4.1 Khái niệm quản lý thu bảo hiểm xã hội 21

1.4.2 Mục tiêu quản lý thu bảo hiểm xã hội 21

1.4.3 Các nguyên tắc quản lý thu bảo hiểm xã hội 22

1.4.4 Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội 23

1.4.5 Các yếu tố tác động đến quản lý thu bảo hiểm xã hội 28

1.5 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ THU BHXH 29

1.5.1 Các chỉ tiêu về số tiền thu BHXH và tỷ lệ tăng tiền thu BHXH hàng năm 29

1.5.2 Các chỉ tiêu về số lượng và tỷ lệ tăng số đơn vị sử dụng lao động 30

1.5.3 Số lượng và tỷ lệ tăng lao động trong các loại hình đơn vị SDLĐ 30

1.5.4 Tiền nợ BHXH và tỷ lệ nợ BHXH theo loại hình đơn vị SDLĐ 31

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 32

Trang 6

2.1 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 33

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.2.1.Cơ sở phương pháp luận: 33

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu: 34

2.2.3 Phương pháp tổng hợp số liệu: 35

2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin: 36

2.2.5 Phương pháp phân tích dãy số thời gian: 37

2.2.6 Phương pháp so sánh: 39

Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI 39

BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 39

3.1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 39

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 39

3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội 41 3.1.3 Cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội 43

3.1.4 Kết quả thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2009 - 2013 45

3.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2009-2013 55

3.2.1 Thực trạng quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội 55

3.2.2 Thực trạng quản lý quỹ lương làm căn cứ tính tiền đóng bảo hiểm xã hội 61

3.2.3 Thực trạng quản lý tiền thu bảo hiểm xã hội 64

3.2.4 Công tác thanh tra, kiểm tra đóng BHXH 67

3.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2009 - 2013 68

3.3.1 Những mặt tích cực 68

3.3.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân 70

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ

Trang 7

4.1 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI

TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2014 - 2020 75

4.1.1 Bối cảnh trong tình hình mới có ảnh hưởng đến quản lý thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội 75

4.1.2 Phương hướng chủ yếu hoàn thiện quản lý thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội 78

4.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 78

4.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội 78

4.2.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý quỹ lương làm căn cứ tính tiền đóng bảo hiểm xã hội 80

4.2.3 Nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý tiền thu bảo hiểm xã hội 81

4.2.4 Nhóm giải pháp điều kiện 81

4.3 Một số kiến nghị 84

4.3.1 Kiến nghị với Nhà nước về chính sách Bảo hiểm xã hội 84

4.3.2 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 85

4.3.3 Kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội 86

4.3.4 Kiến nghị đối với Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội 87

KẾT LUẬN 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 3.1 Tốc độ tăng hàng năm thu BHXH giai đoạn

2 Bảng 3.2 Cơ cấu thu BHXH theo loại hình đơn vị sử dụng lao động 50

4 Bảng 3.4 Tình hình nợ BHXH theo loại hình đơn vị sử dụng

5 Bảng 3.5 Đơn vị đăng ký tham gia BHXH theo loại hình đơn

7 Bảng 3.7 Doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tăng mới hàng năm 57

8 Bảng 3.8 Số lao động tham gia BHXH bắt buộc theo loại hình

10 Bảng 3.10 Quỹ tiền lương, tiền công tham gia BHXH bắt buộc

theo loại hình đơn vị sử dụng lao động (2009 - 2013) 62

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

2 Hình 3.2 Kết quả thu BHXH tại BHXH Hà Nội giai đoạn

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở nước ta, chính sách BHXH là chính sách lớn, là bộ phận quan trọng trong

hệ thống chính sách an sinh xã hội, đã được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện BHXH gắn liền với sự phát triển kinh tế và xã hội, nên việc xác định đúng vai trò của BHXH trong cuộc sống, sự tác động của BHXH đối với đời sống của NLĐ, với

xã hội là một vấn đề đặt ra Thực tế trong những năm qua cho thấy, công tác xây dựng pháp luật về BHXH ở nước ta thường bị động, mang tính chắp vá, việc thực hiện còn thiếu đồng bộ, đã có những ảnh hưởng nhất định tới quyền lợi của NLĐ Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá XI và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2007

Đối với quỹ BHXH hiện đang được thực hiện nhằm mục tiêu là trở thành một công quỹ độc lập với ngân sách nhà nước, nhằm đảm bảo về tài chính để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ Vì thế công tác thu BHXH (bao gồm cả thu BHXH bắt buộc và tự nguyện) ngày càng trở thành nhiệm vụ quan trọng và ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển bền vững của sự nghiệp BHXH ở nước ta

Hoạt động quản lý công tác thu BHXH bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH trong tương lai Do BHXH cũng như các loại hình bảo hiểm khác đều dựa trên nguyên tắc “có đóng, có hưởng”, công tác thu nộp BHXH bắt buộc đã đặt ra yêu cầu thu đúng, đủ, kịp thời Nếu không thu được BHXH bắt buộc thì quỹ BHXH không có nguồn để chi trả cho các chế độ BHXH cho NLĐ Do đó, thực hiện công tác thu BHXH bắt buộc đóng một vai trò quyết định, then chốt trong quá trình đảm bảo ổn định cho cuộc sống của NLĐ cũng như các đơn vị sử dụng lao động được hoạt động bình thường

Do vậy, công tác quản lý thu BHXH bắt buộc là nhiệm vụ quan trọng và khó khăn của ngành BHXH Để công tác thu BHXH bắt buộc đạt hiệu quả cao thì đòi hỏi phải có quy trình quản lý thu chặt chẽ, hợp lý, khoa học

Tuy nhiên trong thời gian vừa qua công tác thu BHXH bắt buộc còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế như: số đơn vị sử dụng lao động, số lao động chưa tham gia

Trang 12

BHXH bắt buộc còn nhiều, tỷ lệ tăng về mức lương, tiền công tham gia BHXH bắt buộc hàng năm chưa cao, số đơn vị nợ đọng, trốn đóng BHXH bắt buộc tăng nhanh gây ra những ảnh hưởng về quyền lợi cho NLĐ Việc tăng trưởng nguồn thu BHXH bắt buộc còn thấp chưa tương xứng với tiềm năng

Để khắc phục những hạn chế trên, nhằm mở rộng và tăng trưởng nguồn thu BHXH bắt buộc, phát triển bền vững quỹ BHXH, rất cần có những giải pháp thiết thực, hiệu quả trong thời gian tới

Từ nhận thức những vấn đề nêu trên, Học viên đã chọn đề tài “Quản lý thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội” làm đề tài cho luận văn

của mình, nhằm góp phần giải quyết những vấn đề còn hạn chế nêu trên

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quản lý công

tác thu BHXH bắt buộc giai đoạn 2009 – 2013 trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó

đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH bắt buộc trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn

tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về BHXH và công tác thu BHXH bắt buộc

- Phân tích và đánh giá thực trạng về quản lý thu BHXH bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế, thiếu sót, nguyên nhân và những vấn đề đang đặt ra hiện nay

- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2014 - 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý thu

BHXH bắt buộc (sau đây viết là quản lý thu BHXH ) trên địa bàn thành phố Hà Nội

Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý thu BHXH bắt buộc tại cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội

Trang 13

- Phạm vi về thời gian: Các tài liệu và số liệu nghiên cứu được thu thập từ các nguồn trong giai đoạn từ năm 2009 đến 2013, tập trung vào giai đoạn 2012 – 2013

- Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu về: (1) Quản lý đối tượng tham gia BHXH, (2) Quản lý quỹ lương làm căn cứ tính tiền đóng BHXH, (3) Quản lý tiền thu BHXH và (4) Thanh tra, kiểm tra đóng BHXH

4 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn

Các đề tài nghiên cứu, đề án, luận án, luận văn, bài viết nghiên cứu về BHXH đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của quản lý chính sách BHXH nói chung và quản lý thu BHXH nói riêng Tuy nhiên, học viên cũng kỳ vọng với kiến thức thu được trong quá trình học tập, kế thừa những kết quả nghiên cứu khoa học trước đó và với kinh nghiệm công tác của bản thân sẽ tham gia nghiên cứu một cách

cơ bản, hệ thống về quản lý thu BHXH tại BHXH Hà Nội, từ đó có những đóng góp mới mang tính khoa học, thực tiễn về hoàn thiện quản lý thu BHXH bắt buộc góp phần giúp lãnh đạo BHXH thành phố Hà Nội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu BHXH của đơn vị, cụ thể như sau:

- Luận văn nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về quản lý thu BHXH trên địa bàn thành phố Hà Nội trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay

- Luận văn phân tích, đánh giá đúng những nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH của NLĐ và NSDLĐ khi mà Luật BHXH năm 2006 đã được Quốc hội thông qua Luật BHXH sửa đổi bổ sung năm 2014 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016

- Luận văn nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thu BHXH tại cơ quan BHXH thành phố Hà Nội, làm rõ những mặt tích cực, hạn chế yếu kém, nguyên nhân và bài học từ công tác quản lý thu BHXH

- Từ chủ trương, định hướng của Thành phố Hà Nội, đề xuất phương hướng

và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý thu BHXH tại cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội nhằm góp phần phát triển bền vững quỹ BHXH cũng

Trang 14

như góp phần đảm bảo ổn định chính trị, xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn Thủ đô

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng, danh mục hình, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương

- Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và cơ sở lý luận;

- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn;

- Chương 3: Thực trạng quản lý thu BHXH tại cơ quan BHXH thành phố Hà Nội;

- Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý thu BHXH tại cơ quan BHXH thành phố Hà Nội

Trang 15

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đây, lĩnh vực BHXH nói chung và thu BHXH nói riêng

đã và đang được nhiều người quan tâm nghiên cứu Đã có một số công trình nghiên cứu về BHXH với những cách tiếp cận khác nhau, được đề cập và thể hiện trong một

số đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ và nhiều luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ khác Cụ thể như:

- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, 1996 Thực trạng quản lý thu BHXH hiện nay và một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thu Chủ nhiệm đề tài Nguyễn Văn

Châu, BHXH Việt Nam Đây là một trong những đề tài được thực hiện sớm nhất kể

từ khi ngành BHXH Việt Nam được thành lập (1995) Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý thu BHXH của BHXH Việt Nam với vai trò là cơ quan cấp Trung ương quản lý về BHXH, trong công cuộc đổi mới về kinh tế của Đảng và Nhà nước

đề ra Phạm vi nghiên cứu trên toàn quốc Đề tài đã đánh giá kết quả công tác thu BHXH thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển chính sách BHXH, phân tích thực trạng tình hình, những vấn đề đặt ra đối với BHXH Việt Nam đối với quản lý thu BHXH của BHXH Việt Nam khi mà Nhà nước đang mở ra một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, với nhiều thành phần kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài đòi hỏi phải đổi mới chính sách pháp luật quy định về thu BHXH nhằm đảm bảo mở rộng đối tượng NLĐ và NSDLĐ thuộc các thành phần kinh tế tham gia đóng BHXH đầy đủ Đáp ứng thực tiễn phong phú,

đa dạng về các mức tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH, hình thức đóng BHXH đồng thời có cơ chế quản lý số tiền thu BHXH từ cấp địa phương đến trung ương Đề tài đã đóng góp những nghiên cứu khoa học, có ý nghĩa thực tiễn về xây dựng hệ thống biểu mẫu thu BHXH, phương thức thực hiện thu BHXH từ địa phương đến trung ương, quản lý quỹ BHXH cũng như hình thức, phạm vi đầu tư tăng trưởng một phần quỹ BHXH góp phần tạo lập bền vững và cân đối quỹ BHXH

về lâu dài

Trang 16

- Đề tài cấp Bộ, 2007 Các giải pháp đảm bảo cân đối quỹ BHXH bắt buộc khi thực hiện Luật BHXH” Chủ nhiệm đề tài Phạm Đỗ Nhật Tân, Bộ Lao động

thương binh và Xã hội Nguy cơ mất cân đối quỹ BHXH đã được các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và tổ chức lao động quốc tế (ILO) khuyến nghị tới Chính phủ Việt Nam từ khi xây dựng Luật BHXH Khi mà nguồn hình thành và quản lý các quỹ thành phần như là quỹ BHXH, quỹ BHYT, quỹ BHTN, trong đó quỹ BHXH chia thành các quỹ thành phần như là: quỹ chi trả chế độ hưu trí, tử tuất (dài hạn); quỹ chi trả chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe, tai nạn lao động

và bệnh nghề nghiệp (ngắn hạn) Việc hình thành nên các quỹ này là từ nguồn thu BHXH bắt buộc Chính vì thế mà đề tài đã hệ thống các quy định của Nhà nước về đối tượng thu, mức thu, cách thức vận hành và quản lý các quỹ BHXH, phân tích đánh giá thực trạng tình hình thu – chi của quỹ BHXH bắt buộc của Việt Nam, từ

đó đề tài đã đưa ra các dẫn chứng về những ưu điểm và những mặt hạn chế về việc duy trì và mở rộng nguồn thu BHXH, sử dụng quỹ BHXH, điều kiện để hưởng các chế độ chính sách BHXH nhằm đảm bảo sự an toàn của quỹ BHXH, cân đối quỹ BHXH trong tương lai

- Đỗ Văn Sinh, 2005 Hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam Luận án

Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả đã góp phần làm

rõ thêm cơ sở khoa học và thực tiễn của quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam; tổng kết

mô hình và phương thức quản lý quỹ BHXH của một số nước trên thế giới để rút ra một số bài học kinh nghiệm có thể vận dụng trong quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam;

đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam

- Phạm Trường Giang, 2010 Hoàn thiện cơ chế thu BHXH ở Việt Nam Luận

án Tiến sĩ, Trường ĐH Lao động xã hội Đóng góp nghiên cứu khoa học của luận án

đó là tác giả đã nghiên cứu về cơ chế chính sách thu BHXH ở Việt Nam, việc phân cấp quản lý thu BHXH, các chế tài về đóng BHXH và xử lý vi phạm về đóng BHXH Trên cơ sở phân tích cơ chế chính sách thu BHXH ở Việt Nam, đề cập vấn

đề chế tài xử phạt vi phạm pháp luật BHXH còn thấp, chưa đủ sức răn đe, tác giả

có tham khảo một số mô hình thu BHXH ở một số nước phát triển, từ đó tác giả có

Trang 17

khuyến nghị một số giải pháp có ý nghĩa thực tiễn hoàn thiện cơ chế chính sách thu BHXH ở Việt Nam

- Nguyễn Hữu Vinh, 2010 Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở Hà Nội” Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trường ĐH kinh tế quốc dân ; Nguyễn Dương, 2010 Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường đại học Kinh

doanh và Công nghệ Hà Nội Hai đề tài của hai tác giả được thực hiện trong cùng một thời gian, trên cùng một địa bàn, nghiên cứu hai nội dung khác nhau nhưng lại

có những vấn đề liên quan tới nhau Tác giả Nguyễn Hữu Vinh đi sâu lý giải nguyên nhân làm giảm nguồn thu là do tình trạng nợ đọng tiền đóng BHXH kéo dài, trốn đóng BHXH dưới nhiều hình thức của các doanh nghiệp, từ đó tác giả kiến nghị các giải pháp làm giảm tình trạng nợ đọng, truy thu, tính lãi thậm chí là khoanh

nợ để đảm bảo thu đúng, đủ, kịp thời không làm ảnh hưởng đến việc thụ hưởng các chế độ BHXH của NLĐ Còn tác giả Nguyễn Dương đã làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng quản lý thu BHXH, từ đó tác giả đã có nhận định về quản lý thu BHXH còn yếu kém do nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan, tác giả đã có những kiến nghị về giải pháp tăng cường chất lượng quản lý thu, khắc phục tình trạng nợ đọng, trốn đóng tiền BXHH trên địa bàn Thành phố Hà Nội

- Trần Quốc Túy, 2000 Hoàn thiện quản lý thu BHXH khu vực Doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam Luận văn thạc sĩ, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân.; Cao Thị Lan Mây, 2014 Hoàn thiện công tác thu BHXH khối ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Luận văn thạc sĩ Quản lý

kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Hai tác giả cùng nghiên cứu về một đề tài, cùng mục đích nghiên cứu nhưng khác nhau về không gian, thời gian, cách thức chọn mẫu và phương pháp nghiên cứu Bối cảnh nghiên cứu năm 2000, tác giả Trần Quốc Túy đã đánh giá trên bình diện toàn quốc thời kỳ bùng nổ các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam rất lớn là cơ hội đồng thời cũng là thách thức, đòi hỏi ngành BHXH Việt Nam cần khai thác triệt để thu BHXH khu vực ngoài quốc doanh để đạt hiệu quả, đảm bảo quyền

Trang 18

lợi cho NLĐ khu vực ngoài quốc doanh Đến năm 2014, khi mà nền kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của suy thoái và khó khăn về SXKD, hàng tồn kho, cạnh tranh gay gắt của các Doanh nghiệp đặc biệt là Doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì đề tài nghiên cứu của tác giả Cao Thị Lan Mây có ý nghĩa trong phân tích thực trạng tình hình thu BHXH khối ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, từ đó đưa

ra một số giải pháp khả thi nhằm mở rộng đối tượng thu BHXH, tận thu, giúp cho BHXH tỉnh Bắc Ninh hoàn thành nhiệm vụ được giao Đóng góp về nghiên cứu khoa học của hai tác giả đó là tổng kết tình hình thu BHXH nói chung và thu BHXH khối quốc doanh nói riêng, rút ra bài học kinh nghiệm Phân tích thực trạng tình hình thu BHXH khối ngoài quốc doanh với hai mốc thời gian khác nhau năm

2000 và 2014, từ đó mỗi tác giả đã có kiến nghị các giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH đối với các doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh phù hợp với tình hình thực tế

- Đề án nghiên cứu khoa học, 2011 Hoàn thiện quy trình quản lý thu, quy trình cấp và quản lý sổ BXHH, thẻ BHYT.Chủ nhiệm đề án: Dương Xuân Triệu, Viện nghiên

cứu khoa học – BHXH Việt Nam Đề án đã hệ thống hóa các văn bản của Nhà nước, của Ngành về thực hiện về thu BHXH, cấp sổ BXHH, thẻ BHYT, phân tích đánh giá thực trạng thực hiện thu BHXH, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT trong mối tương quan hỗ trợ nhau Đề án đã phân tích được những mặt còn chưa hợp lý, hạn chế như: văn bản quy định chồng chéo, thủ tục hành chính còn nhiều, biểu mẫu chưa khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin còn thấp, việc thực hiện ở các địa phương còn chưa đồng nhất do nhận thức chưa đúng quy định của Nhà nước, của Ngành Từ đó Đề án đưa ra các giải pháp về xây dựng thống nhất các chỉ tiêu, biểu mẫu, quy trình về thu BHXH, cấp và quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT phù hợp với tình hình mới

- Ngoài ra học viên còn tham khảo giáo trình giảng dạy môn Kinh tế Bảo hiểm của Trường ĐH Kinh tế quốc dân; tài liệu giảng dạy của Trường đào tạo nghiệp vụ BHXH của ngành, tài liệu nghiên cứu của Viện nghiên cứu khoa học BHXH

Qua nắm bắt tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, học viên nhận thấy các đề tài nghiên cứu trước đây liên quan đến quản lý thu BHXH đều

Trang 19

xuất phát từ thực trạng và hướng tới các giải pháp hoàn thiện quản lý thu BHXH ở mỗi địa phương, mỗi thời kỳ nhằm nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu BHXH một cách bền vững Tuy nhiên trong thời gian gần đây, khi mà Nhà nước ban hành nhiều sửa đổi bổ sung chế độ chính sách BHXH, chính sách kinh tế xã hội thì chưa có công trình nghiên cứu, đề tài nghiên cứu nào về quản lý thu BHXH bắt buộc sau khi Luật BHXH số 71/2006/QH11 ngày 29/6/2006, Luật BHXH sửa đổi bổ sung số 58/2014/QH13, ngày 20/11/2014 và Luật BHYT sửa đổi bổ sung số 46/2014/QH13, ngày 13/6/2014 được Quốc hội khóa XIII thông qua với nhiều quy định mới, trong bối cảnh tình hình nợ đọng BHXH, trốn đóng BHXH của chủ sử dụng lao động tăng cao đáng báo động làm ảnh hưởng đến việc giải quyết quyền lợi cho người lao động, tiềm tàng nguy cơ vỡ quỹ BHXH

1.2 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.2.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội

Trong cuộc sống, để thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu, con người phải lao động sản xuất để có thu nhập Tuy nhiên, không phải NLĐ nào cũng có đủ điều kiện về sức khỏe, khả năng lao động hoặc những may mắn khác để hoàn thành nhiệm vụ lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một cuộc sống ấm no hạnh phúc Ngược lại, người nào cũng có thể gặp phải những rủi ro, bất hạnh như ốm đau, tai nạn, hay già yếu, chết hoặc thiếu công việc làm do những ảnh hưởng của tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh hoạt cũng như các tác nhân xã hội khác…Khi rơi vào trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động nói trên, các nhu cầu cần thiết của cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có những điều kiện cần thiết còn tăng lên, thậm chí có thể xuất hiện thêm nhu cầu mới như khi ốm đau cần được khám chữa bệnh BHXH ra đời giải là pháp hữu hiệu giúp con người vượt qua những khó khăn nêu trên BHXH trở thành nền tảng cơ bản của hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia, được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới và ngày càng phát triển

- Từ giác độ Pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ NLĐ, sử dụng tiền đóng góp của NSDLĐ, NLĐ và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc

Trang 20

mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của Pháp luật (nghỉ hưu) hoặc chết

- Từ giác độ tài chính: BHXH là thuật (kỹ thuật) chia sẻ rủi ro và tài chính giữa những người tham gia bảo hiểm theo quy định của Pháp luật

- Từ giác độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho NLĐ khi họ không may gặp phải các “rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội…

- Theo Bộ Luật Lao động: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do

bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của NLĐ và gia đình

họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội

Khái niệm về BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất khi có Luật

BHXH, đó là: BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng góp quỹ bảo hiểm xã hội

BHXH bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia

Như vậy bản chất của BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời phát triển Thực chất BHXH là sự tổ chức bù đắp hậu quả của những rủi ro hoặc các sự kiện bảo hiểm

BHXH là quá trình tổ chức sử dụng thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm trong nước để thỏa mãn nhu cầu an toàn kinh tế của NLĐ và an toàn xã hội

Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở nền tảng là quan

hệ lao động giữa ba bên: Người sử dụng lao động, người lao động và cơ quan BHXH thông thường là các cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và được Nhà

Trang 21

nước bảo trợ Về mặt xã hội, do có sự chia sẻ rủi ro của xã hội, NLĐ chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật chất đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra Ở đây, BHXH đã thực hiện nguyên tắc “lấy của số đông bù cho số ít”

1.2.2 Phân biệt bảo hiểm xã hội với bảo hiểm thương mại

1.2.2.1 Sự giống nhau

- Hai loại bảo hiểm này được thực hiện trên cùng một nguyên tắc là có tham gia đóng góp bảo hiểm thì mời được hưởng quyền lợi, không đóng góp thì không được đòi hỏi quyền lợi

Hoạt động của hai loại bảo hiểm này đều nhằm để bù đắp tài chính cho các đối tượng tham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những rủi ro gây ra thiệt hại trong khuôn khổ bảo hiểm đang tham gia

- Phương thức hoạt động của hai loại hình bảo hiểm này đều mang tính “cộng đồng - lấy số đông bù số ít” tức là dùng số tiền đóng góp của số đông người tham gia

để bù đắp, chia sẻ cho một số ít người gặp phải biến cố rủi ro gây ra tổn thất

1.2.2.2 Sự khác nhau

- Mục tiêu hoạt động của bảo hiểm thương mại là lợi nhuận Mục tiêu hoạt động BHXH là nhằm thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước, góp phần ổn định đời sống cho NLĐ và các thành viên trong gia đình họ Vì vậy, hoạt động BHXH là hoạt động phi lợi nhuận và nhằm mục đích an sinh xã hội

- Phạm vi hoạt động của BHXH liên quan trực tiếp đến NLĐ và các thành viên trong gia đình họ và chỉ diễn ra trong từng quốc gia Hoạt động bảo hiểm thương mại rộng hơn, không chỉ diễn ra trong từng quốc gia mà còn trải rộng xuyên quốc gia, có mặt ở tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội bao gồm cả bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ

- Cơ sở nguồn tiền đóng, mức đóng, tỷ lệ đóng BHXH hoàn toàn dựa vào thu nhập từ lương, tiền công của NLĐ BHXH thực hiện các quy định theo chính sách

xã hội, sự ổn định chính trị của quốc gia

Trang 22

- Bảo hiểm thương mại thực hiện theo cơ chế thị trường và nguyên tắc hoạch toán kinh doanh Quan hệ giữa mức đóng góp và mức hưởng là quan hệ tương đồng thuần túy, tức là ứng với mỗi mức đóng góp bảo hiểm nhất định thì khi xảy ra rủi ro

sẽ nhận được một mức quyền lợi tương ứng quy định trước

1.2.3 Các loại hình, các chế độ bảo hiểm xã hội

Hiện nay, có hai loại hình BHXH cơ bản: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện + BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà NLĐ và người SDLĐ phải tham gia + BHXH tự nguyện là loại hình BHXH mà NLĐ tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng chế độ BHXH

Chế độ BHXH là sự cụ thể hoá chính sách BHXH, là hệ thống các quy định

cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiện BHXH đối với NLĐ Nói cách khác, đó là một hệ thống các quy định được pháp luật hoá về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trường hợp BHXH cụ thể

Hiện nay, tồn tại 9 chế độ BHXH, song tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ, mà số lượng các chế độ được thực hiện ở mỗi nước khác nhau Ở nước ta, Điều 4 Luật BHXH số 71/QH11 quy định rõ các chế độ BHXH, gồm:

- BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ sau đây:

Trang 23

+ Hỗ trợ tìm việc làm

Nội dung của các chế độ nêu trên được quy định thống nhất trong Luật BHXH Mỗi một chế độ được xây dựng đều căn cứ vào những cơ sở như: điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường lao động, điều kiện sinh học…

1.2.4 Vai trò của bảo hiểm xã hội

Thứ nhất, BHXH góp phần trợ giúp người lao động gặp rủi ro (ốm đau,TNLĐ-BNN, thất nghiệp ) sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu cũng như sớm có việc làm trở lại

Theo quy định của BHXH thì NLĐ khi có việc làm sẽ đóng góp một phần tiền lương, thu nhập vào quỹ dự phòng Quỹ này hỗ trợ NLĐ khi ốm đau, tai nạn, lúc sinh đẻ và chăm sóc con cái, khi không làm việc, lúc già cả để duy trì và ổn định cuộc sống của NLĐ và gia đình họ Do vậy, hoạt động BHXH, một mặt, đòi hỏi tính trách nhiệm cao của từng NLĐ đối với bản thân mình, với gia đình và đối với cộng đồng, xã hội theo phương châm “mình vì mọi người, mọi người vì mình” thông qua quyền và nghĩa vụ; mặt khác, thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên trong xã hội, giữa các thế hệ kế tiếp nhau trong một quốc gia, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất về quyền lợi trong một thể chế chính trị - xã hội bền vững

Người SDLĐ cũng phải có trách nhiệm đóng góp BHXH cho NLĐ Nếu theo nhìn nhận ban đầu, việc đóng góp BHXH cho NLĐ có thể sẽ làm tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Nhưng thực chất, về lâu dài, việc tham gia BHXH đã chuyển giao trách nhiệm bảo vệ NLĐ khi gặp rủi ro về phía xã hội, rủi ro được điều tiết trên phạm vi toàn xã hội, giúp cho chủ SDLĐ bớt những khó khăn, lo lắng về nguồn lao động của doanh nghiệp, yên tâm tổ chức sản xuất kinh doanh

Trong hoạt động BHXH, Nhà nước tiến hành xây dựng chính sách, chế độ, tổ chức triển khai và giám sát quá trình thực hiện nhằm thực hiện tốt quyền và nghĩa

vụ của người tham gia BHXH Như vậy Nhà nước giữ vai trò quản lý về BHXH, bảo hộ cho quỹ BHXH mà không phải chi từ NSNN cho lĩnh vực này Mặt khác, chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng của hệ thống chính sách an sinh xã hội, giúp Nhà nước điều tiết mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và xã hội trên

Trang 24

phương diện vĩ mô, bảo đảm cho nền kinh tế liên tục phát triển và giữ gìn ổn định

xã hội trong từng thời kỳ cũng như trong suốt quá trình phát triển

Thứ hai, BHXH góp phần ổn định cuộc sống của NLĐ khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động

Theo quy định của Luật BHXH, NLĐ tham gia đóng BHXH từ 20 năm trở lên khi hết tuổi lao động hoặc mất sức lao động thì được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hằng tháng Với nguồn lương hưu và trợ cấp BHXH, người cao tuổi có thu nhập

ổn định, bảo đảm cuộc sống sinh hoạt hằng ngày Hiện nay, cả nước đã có khoảng hơn 2,5 triệu người đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng với số tiền chi trả từ quỹ BHXH hàng nghìn tỉ đồng mỗi tháng

Trong nhiều năm qua, kể từ khi chính sách BHXH được thực hiện, cùng với

sự phát triển kinh tế, mức lương hưu cũng không ngừng được điều chỉnh cho phù hợp với mức sống chung của toàn xã hội Vào các thời điểm tăng mức lương tối thiểu chung cũng như việc xem xét chỉ số giả cả, Nhà nước đều có sự điều chỉnh lương hưu một cách hợp lý Mức lương hưu không ngừng được điều chỉnh cho phù hợp với mức sống chung toàn xã hội tại thời điểm hưởng lương hưu đã bảo đảm cuộc sống của người nghỉ hưu, tạo sự an tâm, tin tưởng của người về hưu sau cả cuộc đời lao động Tương tự như vậy, các quyền lợi về BHYT, về chế độ ốm đau, chế độ TNLĐ-BNN; mức trợ cấp tuất một lần cũng được cải thiện rõ rệt

Sở dĩ có được điều kiện nâng cao và mở rộng các quyền lợi của BHXH là do phương thức tài chính được hình thành theo cách lập quỹ và có sự tính toán điều chỉnh quan hệ đóng - hưởng trong phạm vi toàn xã hội theo những dự báo về các yếu tố kinh tế - xã hội trong tương lai Theo phương thức lập quỹ, người lao động, trước hết phải có trách nhiệm với bản thân trong việc đóng góp lập quỹ BHXH Mặt khác, với việc lập quỹ BHXH đã gắn kết được trách nhiệm của các thế hệ kế tiếp trong cùng chính sách BHXH Vì vậy, nguồn quỹ BHXH được Nhà nước bảo hộ và phát triển cân đối bền vững sẽ là cơ sở để cải thiện không ngừng các chế độ BHXH nói chung và đời sống của người nghỉ hưu nói riêng

Trang 25

Thứ ba, BHXH góp phần ổn định và nâng cao chất lượng lao động, bảo đảm

sự bình đẳng về vị thế xã hội của NLĐ trong các thành phần kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển

Chính sách BHXH hoạt động dựa trên nguyên tắc cơ bản “đóng - hưởng” đã tạo ra bước đột phá quan trọng về sự bình đẳng của NLĐ về chính sách BHXH Khi

đó, mọi NLĐ làm việc ở các thành phần kinh tế, các ngành nghề, địa bàn khác nhau, theo các hình thức khác nhau đều được tham gia thực hiện các chính sách BHXH Phạm vi đối tượng tham gia BHXH không ngừng được mở rộng đã thu hút hàng triệu NLĐ làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau, khuyến khích họ tự giác thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi BHXH, tạo sự an tâm, tin tưởng và yên tâm lao động, SXKD

NLĐ tham gia BHXH khi ốm đau sẽ được khám chữa bệnh và được quỹ BHYT chi trả phần lớn chi phí; được nhận tiền trợ cấp khi ốm đau không đi làm được, được nghỉ chăm con ốm; khi thai sản được nghỉ khám thai, được nghỉ khi sinh đẻ và nuôi con, được nhận trợ cấp khi sinh con và trợ cấp thai sản; khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp sẽ được nhận phần trợ cấp do giảm khả năng lao động do TNLĐ-BNN gây ra Ngoài ra, NLĐ còn được nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau, sinh đẻ hay điều trị thương tật nhằm nâng cao thể lực Khi NLĐ mất việc làm sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp và được giới thiệu việc làm hoặc gửi đi học nghề để có cơ hội tìm kiếm việc làm mới

Với những quyền lợi của NLĐ khi tham gia BHXH đã góp phần thu hút nguồn lao động vào nền sản xuất xã hội, giữ gìn và nâng cao thể lực cho NLĐ trong suốt quá trình lao động, sản xuất Việc được tham gia BHXH khi đang làm việc và được hưởng lương hưu sau này đã tạo ra cho NLĐ sự phấn khởi, tâm lý ổn định, an tâm vào việc làm mà họ đang thực hiện Thực tế là nhiều doanh nghiệp, khi tuyên truyền quảng cáo tuyển dụng lao động, thì tiêu thức được tham gia BHXH cũng là một quyền lợi quan trọng thu hút được nhiều lao động

Trang 26

Sự an tâm của NLĐ cũng như việc bảo vệ sức lao động của họ thông qua chính sách BHXH đã trở thành một chính sách thu hút nguồn lao động vào nền sản xuất xã hội, bảo đảm sự ổn định và thúc đẩy sản xuất phát triển

Thứ tư, BHXH góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho NSNN, bảo đảm an sinh xã hội bền vững

Trên thị trường lao động, “tiền lương, tiền công là giá cả sức lao động” được hình thành tự phát căn cứ vào quan hệ cung cầu, vào chất lượng lao động cũng như các điều kiện khung mà trong đó Nhà nước chỉ đóng vai trò quản lý thông qua những quy định về mức lương tối thiểu và những điều kiện lao động cần thiết Quá trình hình thành tiền lương, tiền công theo thỏa thuận giữa chủ SDLĐ và NLĐ là sự phân phối lần đầu và phân phối trực tiếp cho từng NLĐ Do vậy, NLĐ có tay nghề cao, có nghề nghiệp thích ứng với nhu cầu của xã hội sẽ có thu nhập cao Đó là sự hợp lý và khuyến khích làm giàu chính đáng

Sau khi đã thực hiện thuế thu nhập, Nhà nước sẽ tiến hành phân phối lại thông qua chính sách BHXH Khi đó, người có năng lực hơn, nhận được tiền lương cao hơn sẽ đóng góp nhiều hơn cho xã hội để trợ giúp những người có mức lương thấp hơn trong xã hội Một bộ phận lao động khác do gặp phải rủi ro trong cuộc sống như về sức khỏe, về năng lực, về hoàn cảnh gia đình có việc làm và thu nhập thấp hơn sẽ nhận được các quyền lợi BHXH để duy trì cuộc sống Bên cạnh đó, chế

độ hưu trí, tử tuất với nguyên tắc tương đồng giữa mức đóng và mức hưởng đã khuyến khích NLĐ khi làm việc có thu nhập cao và đóng góp ở mức cao, với thời gian dài thì sau này sẽ được hưởng tiền lương hưu với mức cao, an tâm nghỉ ngơi khi tuổi già

BHXH được thực hiện theo nguyên tắc đóng - hưởng, có nghĩa là người tham gia đóng góp vào quỹ BHXH thì người đó mới được hưởng quyền lợi về BHXH Như vậy, nguồn để thực hiện chính sách là do NLĐ đóng góp, Nhà nước không phải bỏ ngân sách ra nhưng vẫn thực hiện được mục tiêu an sinh xã hội lâu dài

Trang 27

1.3 THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC

1.3.1 Khái niệm, đặc điểm thu bảo hiểm xã hội bắt buộc

1.3.1.1 Khái niệm thu BHXH bắt buộc:

Thu BHXH bắt buộc (sau đây gọi tắt là thu BHXH) là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để bắt buộc các đối tượng phải đóng BHXH theo mức phí quy định hoặc cho phép một số đối tượng tự nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích bảo đảm cho các hoạt động BHXH

* Các đối tượng thu bảo hiểm xã hội bắt buộc

Như chúng ta đã biết, BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất đi do NLĐ bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vì các nguyên nhân như ốm đau, tai nạn, già yếu… Chính vì vậy, đối tượng tham gia BHXH là NLĐ và NSDLĐ

Ở nước ta, Điều 2, Luật BHXH quy định đối tượng áp dụng như sau:

NLĐ tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:

- Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;

- Cán bộ, công chức, viên chức;

- Công nhân quốc phòng, công nhân công an;

- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;

- Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn;

- Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH bắt buộc

Người SDLĐ tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: Cơ quan nhà nước, đơn vị

sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt

Trang 28

Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho NLĐ

* Chủ thể thu bảo hiểm xã hội

Theo Nghị định số 05/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam, BHXH Việt nam có nhiệm vụ tổ chức thu BHXH theo quy định của Chính phủ

BHXH Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, gồm có:

+ Ở Trung ương là BHXH Việt Nam

+ Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là BHXH tỉnh) trực thuộc BHXH Việt Nam

+ Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là BHXH huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là BHXH huyện) trực thuộc BHXH tỉnh

1.3.1.2 Đặc điểm thu bảo hiểm xã hội

+ Số NLĐ, Đơn vị SDLĐ tham gia BHXH rất lớn và gia tăng theo thời gian

Theo quy định của Luật BHXH, người lao động có ký kết hợp đồng lao động

từ 3 tháng trở lên thì phải trích đóng BHXH theo tỷ lệ % trên tiền lương, đồng thời người sử dụng lao động cũng phải đóng BHXH cho người lao động này Thủ đô Hà Nội là thành phố tập trung nhiều cơ quan nhà nước, nhiều doanh nghiệp do đó thu hút nhiều lao động làm việc

+ Thu BHXH mang tính chất định kỳ, lặp đi lặp lại, do đó khối lượng công việc rất lớn, đòi hỏi nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ cho thu cũng phải tương ứng

Theo quy định, hàng tháng, khi có phát sinh tang, giảm lao động hoặc tiền lương, chủ SDLĐ lập danh sách gửi cơ quan BHXH để được tăng, giảm kịp thời Số đối tượng tham gia BHXH ngày càng tăng đòi hỏi nguồn nhân lực, cơ sở vật chất phục vụ quản lý phải phù hợp Chỉ có như vậy thì quản lý thu BHXH mới đảm bảo kịp thời và chính xác

+ Đối tượng thu là tiền nên dễ xảy ra sai phạm, vi phạm đạo đức và lạm dụng quỹ BHXH

Trang 29

Theo quy định, chậm nhất đến ngày cuối cùng của tháng, đơn vị trích tiền đóng BHXH bắt buộc trên tổng quỹ tiền lương, tiền công tháng của những NLĐ tham gia BHXH bắt buộc, đồng thời trích từ tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc của từng NLĐ theo mức quy định, chuyển cùng một lúc vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại ngân hàng hoặc Kho bạc nhà nước Trong thực tế hiện nay, số đơn vị thực hiện theo đúng quy định này không nhiều, nhiều đơn vị còn nộp chậm BHXH, không đúng số người và thu nhập thực tế, do vậy đòi hỏi trong thu BHXH phải sát sao, kịp thời

1.3.2 Vai trò của thu bảo hiểm xã hội

Thứ nhất, vai trò của thu BHXH trong việc tạo lập quỹ BHXH và thực hiện chính sách BHXH

Thu BHXH là hoạt động thường xuyên và đa dạng của ngành BHXH nhằm đảm bảo nguồn quỹ tài chính BHXH đạt tập trung, thống nhất Qua đó, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện và triển khai chính sách BHXH nói chung và giữa

những người tham gia BHXH nói riêng

Ở hiện tại thu BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến chi và quá trình thực hiện

chính sách BHXH trong tương lai BHXH cũng như các loại hình bảo hiểm khác

đều dựa trên cơ sở nguyên tắc có đóng, có hưởng BHXH đã đặt ra yêu cầu đối với thu nộp BHXH Nếu không thu được BHXH thì quỹ BHXH không có nguồn để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ Do đó, thu BHXH đóng một vai trò quyết định, then chốt trong quá trình đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ

Thứ hai, vai trò của thu BHXH trong mối quan hệ giữa các bên trong BHXH

Để thực hiện chính sách BHXH thuận lợi thì thu BHXH có vai trò như một điều kiện cần và đủ Bởi thu BHXH là đầu vào, là nguồn hình thành cơ bản nhất trong quá trình tạo lập quỹ BHXH Đồng thời thu BHXH cũng là một khâu bắt buộc đối với NLĐ và người SDLĐ tham gia BHXH

Thứ ba, vai trò của thu BHXH trong việc đảm bảo sự công bằng trong BHXH

BHXH không nhằm mục đích kinh doanh, không vì lợi nhuận, nhưng phân phối trong BHXH là sự chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội, là sự phân phối lại thu nhập BHXH dựa trên nguyên tắc NLĐ bình đẳng trong nghĩa vụ đóng góp và hưởng quyền lợi BHXH thông qua hoạt động của mình BHXH tham gia vào phân

Trang 30

phối và phân phối lại thu nhập xã hội giữa những NLĐ thế hệ trước với thế hệ sau, giữa những ngành nghề sản xuất, giữa những người thu nhập cao và người có thu nhập thấp, giữa những người khoẻ mạnh, may mắn có việc làm ổn định và những người ốm, yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống Vì vậy, BHXH góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo đồng thời góp phần thực hiện công bằng xã hội

Thu BHXH là khâu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để BHXH thực hiện được vai trò vừa nêu Bởi lẽ, thu BHXH đảm bảo nguồn lực để thực thi chính sách BHXH Bên cạnh đó, ngoài việc đảm bảo cho quỹ BHXH tập trung về một mối, thu BHXH còn đóng vai trò như một công cụ thanh tra, kiểm tra số lượng người tham gia BHXH ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương hoặc trên phạm vi toàn quốc Bởi thu BHXH cũng được tổ chức tập trung, thống nhất, có sự ràng buộc chặt chẽ từ khi tham gia đến khi hưởng, đảm bảo an toàn tuyệt đối về tài chính, đảm bảo độ chính xác trong ghi chép kết quả đóng BHXH của từng cơ quan đơn vị cũng như của từng NLĐ Hơn nữa, hoạt động thu BHXH là hoạt động có tính kế thừa, số thu BHXH một phần dựa trên số lượng người, tỷ lệ phần trăm đóng góp và số tiền lương, tiền công để tạo lập lên quỹ BHXH - nguồn lực để thực hiện chính sách BHXH

1.3.3 Phương pháp thu bảo hiểm xã hội

- Theo thời gian thu bảo hiểm xã hội:

+ Thu hằng tháng:

Chậm nhất đến ngày cuối cùng của tháng, đơn vị trích tiền đóng BHXH bắt buộc trên tổng quỹ tiền lương, tiền công tháng của những NLĐ tham gia BHXH bắt buộc, đồng thời trích từ tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc của từng NLĐ theo mức quy định, chuyển cùng một lúc vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại ngân hàng hoặc Kho bạc nhà nước

+ Thu hằng quý hoặc 6 tháng một lần (một năm 02 lần):

Đơn vị là doanh nghiệp thuộc ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả tiền lương, tiền công cho NLĐ theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh có thể đóng hằng quý hoặc 6 tháng một lần trên cơ sở đăng ký phương thức đóng với

Trang 31

cơ quan BHXH Chậm nhất đến ngày cuối cùng của kỳ đóng, đơn vị phải chuyển đủ tiền vào quỹ BHXH

Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, cá nhân có thuê mướn trả công cho NLĐ,

sử dụng dưới 10 lao động, có thể đóng hằng quý hoặc 6 tháng một lần trên cơ sở đăng ký với cơ quan BHXH Chậm nhất đến ngày cuối cùng của kỳ đóng, đơn vị phải chuyển đủ tiền vào quỹ BHXH

- Phân cấp thu bảo hiểm xã hội theo địa giới hành chính: Cơ quan, đơn vị,

doanh nghiệp đóng trụ sở chính ở địa bàn tỉnh nào thì đăng ký tham gia đóng BHXH tại địa bàn tỉnh đó theo phân cấp của cơ quan BHXH tỉnh Chi nhánh của doanh nghiệp đóng BHXH tại địa bàn nơi cấp giấy phép kinh doanh cho chi nhánh 1.4 CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.4.1 Khái niệm quản lý thu bảo hiểm xã hội

Quản lý thu BHXH là quá trình tổ chức thực hiện chế độ chính sách có tính pháp lý để điều chỉnh các hoạt động thu tiền đóng BHXH về quỹ BHXH Sự tác động đó được thực hiện bằng hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước và bằng các biện pháp nghiệp vụ mang tính hành chính, tổ chức, kinh tế của các cơ quan chức năng nhằm đạt được mục tiêu thu BHXH đúng đối tượng, thu đủ số lượng và đảm bảo thời gian theo quy định

Do vậy, quản lý thu BHXH là nhiệm vụ quan trọng và khó khăn của ngành BHXH Để thu BHXH đạt hiệu quả cao thì phải có quy trình quản lý thu chặt chẽ, hợp lý, khoa học… Vì vậy, quản lý thu BHXH phải được tổ chức thống nhất trong

cả hệ thống, từ lập kế hoạch thu, phân cấp thu, ghi kết quả, đôn đốc kiểm tra và quản lý tiền thu BHXH

1.4.2 Mục tiêu quản lý thu bảo hiểm xã hội

Thứ nhất, đảm bảo thu đúng đối tượng: Tức là tất cả NLĐ và Người SDLĐ

theo quy định của Luật BHXH đều phải được tham gia BHXH

Thứ hai, đảm bảo thu đủ số lượng: Thu đủ số lượng ở đây gồm cả đủ về số người

và mức tiền phải đóng để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ khi hưởng các chế độ BHXH

Trang 32

Thứ ba, đảm bảo thời gian theo luật định: Theo quy định của luật những đối

tượng nào đóng theo tháng thì phải nộp theo tháng, những đối tượng nào nộp theo quý hoặc 6 tháng một lần thì nộp theo quý hoặc 6 tháng, tránh tình trạng đăng ký tham gia không đúng thời gian trên hợp đồng lao động

1.4.3 Các nguyên tắc quản lý thu bảo hiểm xã hội

Quản lý thu BHXH được thực hiện theo các nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, nguyên tắc thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch:

Chính sách, chế độ tạo lập và sử dụng quỹ được ban hành thực hiện thống nhất trong toàn quốc Chế độ đóng góp và hưởng thụ phải được thực hiện công bằng đối với mọi đối tượng, không phân biệt đối xử theo giới tính, dân tộc, địa giới hành chính… Bên cạnh đó, phải thực hiện chế độ công khai quỹ, có sự kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát quỹ từ phía các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức xã hội (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Phòng Thương mại công nghiệp Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Lao động thương binh và xã hội, Bộ Nội vụ…)

Tất cả các chế độ chính sách đối với mọi đối tượng phải được áp dụng và điều chỉnh một cách thống nhất trong toàn ngành để đảm bảo đầy đủ quyền lợi cho NLĐ, đảm bảo công bằng, công khai, dân chủ

Đây là nguyên tắc cao nhất trong quản lý thu BHXH cũng như trong hoạt động BHXH nói chung Bởi lẽ, chỉ có như vậy mới thực hiện được vai trò và mục đích của thu BHXH, tạo ra được một nguồn lực to lớn để thực hiện các chế độ BHXH cho NLĐ và cung cấp nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trong quản lý thu BHXH, mục tiêu quan trọng và phải luôn hướng tới là mục tiêu công bằng, công khai và dân chủ Vì vậy, để đạt được mục tiêu này phải xây dựng một cơ chế dựa trên một hệ thống tiêu thức phản ánh đầy đủ các nội dung cần quản lý Hệ thống đó phải được xây dựng một cách công khai, dân chủ, được mọi người, mọi đơn vị tham gia thảo luận và thống nhất trước khi tổ chức thực hiện

Hệ thống đó cũng phải được bổ sung, sửa đổi hoàn chỉnh từng bước trong quá trình

Trang 33

tổ chức, thực hiện để phù hợp với thực tiễn hoạt động của từng đơn vị tổ chức, cá nhân và điều kiện, hoàn cảnh của đất nước

Hai là, nguyên tắc hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần:

Quỹ ốm đau, dưỡng sức phục hồi sức khỏe, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (quỹ ngắn hạn); quỹ hưu trí, tử tuất (quỹ dài hạn); quỹ BHXH tự nguyện; quỹ BHTN được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần Chỉ có như vậy mới đảm bảo sự

an toàn và cân đối lâu dài của quỹ BHXH Mặt khác, nguyên tắc này cũng nhằm tạo cơ

sở điều chỉnh tỷ lệ đóng đối với từng quỹ, đảm bảo phù hợp với từng giai đoạn

1.4.4 Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội

1.4.4.1 Quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội

Quản lý đối tượng tham gia BHXH chính là quản lý NLĐ và NSDLĐ Để quản lý đối tượng tham gia BHXH, một việc làm rất cần thiết là quản lý các đơn vị SDLĐ thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc theo các địa bàn hành chính, kể cả những người buôn bán nhỏ, hộ sản xuất kinh doanh cá thể trong các làng nghề truyền thống có thuê mướn và SDLĐ thuộc đối tượng bắt buộc tham gia BHXH Cơ quan BHXH có trách nhiệm:

- Điều tra, lập danh sách các đơn vị SDLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH trên địa bàn Thông báo, hướng dẫn các đơn vị kịp thời đăng ký tham gia, đóng đủ BHXH cho NLĐ theo quy định của pháp luật Định kỳ báo cáo UBND cùng cấp, cơ quan quản lý lao động địa phương tình hình chấp hành pháp luật về BHXH của các đơn vị trên địa bàn, đề xuất biện pháp giải quyết đối với các đơn vị chậm đóng kéo dài hoặc đơn vị cố tình trốn đóng, đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH theo quy định của pháp luật Đối với các trường hợp đơn vị vi phạm pháp luật về đóng BHXH như không đăng ký tham gia hoặc đăng ký đóng BHXH không

đủ số lao động, không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật thì cơ quan BHXH lập biên bản, truy thu BHXH cho NLĐ

- Quản lý cấp sổ BHXH: Để quản lý tốt đối tượng tham gia BHXH, cơ quan BHXH thực hiệc cấp sổ BHXH để ghi nhận quá trình tham gia BHXH, BHTN Hoạt động này nhằm mục đích quản lý chặt chẽ đối tượng tham gia và đóng BHXH,

Trang 34

giúp NLĐ có cơ sở pháp lý kiểm tra, giám sát kết quả đóng và thực hiện các chế độ BHXH của NSDLĐ, tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm công bằng cho NLĐ khi chuyển nơi làm việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động bởi vẫn duy trì được quyền lợi về BHXH Sổ BHXH còn là cơ sở giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa NLĐ, người SDLĐ và cơ quan BHXH

- Quản lý đơn vị nợ tiền đóng BHXH:

+ Đối với đơn vị tham gia BHXH nợ đến 03 tháng tiền đóng đối với đơn vị đóng hằng tháng, 6 tháng đối với đơn vị đóng hằng quý, 9 tháng đối với đơn vị đóng 6 tháng một lần, cán bộ chuyên quản thu liên hệ và trực tiếp đến đơn vị để đôn đốc, đối chiếu thu nộp và lập Biên bản đối chiếu thu nộp Sau đó tiếp tục gửi văn bản đôn đốc đơn vị, 15 ngày gửi văn bản đôn đốc một lần; đồng thời, gửi cho Tổ thu nợ của BHXH tỉnh, BHXH huyện phối hợp thực hiện cho đến khi thu nợ xong

+ Trong trường hợp phát hiện đơn vị không còn tồn tại, không còn hoạt động sản xuất - kinh doanh nhưng không thực hiện các thủ tục báo giảm, giải quyết chế

độ BHXH cho NLĐ thì Phòng Thu báo cáo Giám đốc BHXH để báo cáo UBND, cơ quan quản lý nhà nước về lao động cùng cấp kiểm tra, lập biên bản xác định thời điểm đơn vị ngừng tham gia BHXH; căn cứ biên bản kiểm tra, cơ quan BHXH chốt

số tiền nợ BHXH đến thời điểm đơn vị ngừng hoạt động và dừng tính lãi chậm đóng, dừng tính số phải thu phát sinh

Nếu sau khi cơ quan BHXH đã báo cáo nhưng UBND, cơ quan quản lý nhà nước về lao động không phối hợp kiểm tra thì cơ quan BHXH thành lập đoàn và thực hiện kiểm tra, lập biên bản có chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương nơi đơn vị đóng trụ sở

+ Khởi kiện các đơn vị nợ đọng kéo dài: Đối với đơn vị nợ BHXH, cơ quan BHXH đã thực hiện đối chiếu, lập biên bản đối chiếu thu nộp theo quy định, gửi văn bản đôn đốc thu nộp đến 03 lần nhưng đơn vị vẫn không đóng thì cơ quan BHXH thực hiện như sau: Tiếp tục đối chiếu thu nộp và lập biên bản đối chiếu thu nộp Gửi văn bản thông báo tình hình đóng BHXH của đơn vị cho đơn vị cấp trên hoặc cơ quan quản lý đơn vị để có biện pháp đôn đốc đơn vị trả nợ và đóng BHXH Sau đó, nếu đơn vị vẫn không đóng thì gửi văn bản báo cáo UBND cùng cấp và cơ

Trang 35

quan thanh tra nhà nước, thanh tra lao động trên địa bàn kiểm tra, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật Trong trường hợp đã quá thời hiệu xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (một năm kể từ ngày đơn vị nợ tiền BHXH) mà các cơ quan có thẩm quyền chưa xử lý thì cơ quan BHXH lập hồ sơ khởi kiện đơn vị ra tòa án Giám đốc BHXH tỉnh giao cho trưởng phòng Thu chịu trách nhiệm phối hợp với các đơn vị liên quan để lập hồ sơ khởi kiện

1.4.4.2 Quản lý quỹ lương làm căn cứ tính tiền đóng bảo hiểm xã hội

Theo quy định của Nhà nước, cơ quan BHXH sẽ thu phí BHXH của đối tượng tham gia theo phần trăm nhất định tính trên tổng quỹ lương tháng thực tế đối với NSDLĐ và thu tỷ lệ phần trăm nhất định trên tiền lương, tiền công tháng của NLĐ Tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc như sau:

- Tiền lương do Nhà nước quy định:

NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có) Tiền lương này tính trên cơ sở mức lương tối thiểu chung tại thời điểm đóng Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc quy định bao gồm cả hệ số chênh lệch bảo lưu theo quy định của pháp luật về tiền lương, tiền công

- Tiền lương, tiền công do chủ sử dụng lao động quyết định:

+ NLĐ thực hiện chế độ tiền lương do đơn vị quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc là mức tiền lương, tiền công ghi trên hợp đồng lao động

+ NLĐ có tiền lương, tiền công tháng ghi trên hợp đồng lao động bằng ngoại

tệ thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc được tính bằng Đồng Việt Nam trên cơ sở tiền lương, tiền công bằng ngoại tệ được chuyển đổi bằng Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm ngày 02 tháng 01 cho 6 tháng đầu năm

và ngày 01 tháng 7 cho 6 tháng cuối năm

Trang 36

Cơ quan BHXH quản lý, theo dõi chặt chẽ diễn biến thu nhập của từng cá nhân NLĐ trong từng đơn vị SDLĐ Hàng tháng thực hiện đối chiếu tổng quỹ tiền lương của đơn vị SDLĐ để làm cơ sở tính số tiền BHXH đơn vị SDLĐ phải nộp hàng tháng

Quản lý mức đóng, thời gian đóng, tuổi đời, tuổi nghề của người tham gia BHXH để có thể tiến hành chi trả sau này được chính xác, thuận lợi, công bằng Trong đó mức thu BHXH căn cứ vào lộ trình của Luật BHXH Bởi vậy cần phải nắm bắt được tình hình quỹ lương của các đơn vị, doanh nghiệp từ đó có các biện pháp đảm bảo thu đúng, thu đủ, hạn chế tối đa tình trạng gian lận, trốn đóng BHXH

1.4.4.3 Quản lý tiền thu bảo hiểm xã hội

Quỹ BHXH được hình thành và quản lý tập trung thống nhất tại BHXH Việt Nam Tại Điểm 11, Điều 2 của Nghị định số 94/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của

Chính phủ quy định “Quản lý và sử dụng các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bao gồm: Quỹ hưu trí, tử tuất; quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; quỹ ốm đau, thai sản; quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện; quỹ bảo hiểm thất nghiệp; quỹ bảo hiểm y tế bắt buộc; quỹ bảo hiểm y tế tự nguyện theo nguyên tắc tập trung thống nhất, công khai, minh bạch, đúng mục đích theo quy định của pháp luật; tổ chức hạch toán các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thành phần theo quy định của pháp luật” Để thực hiện quy định trên, BHXH Việt Nam chỉ đạo BHXH các tỉnh,

thành phố trực thuộc Trung ương và các quận, huyện, thị xã mở tài khoản chuyên thu BHXH tại hệ thống Kho bạc nhà nước và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Các đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam sử dụng tài khoản này chỉ để thu nhận tiền nộp BHXH của các đơn vị và cá nhân tham gia BHXH, hàng ngày phải chuyển toàn bộ số tiền đã thu được về BHXH cấp trên (BHXH huyện chuyển về tài khoản chuyên thu của BHXH Tỉnh; BHXH các tỉnh chuyển về tài khoản chuyên thu của BHXH Việt Nam), theo quy định không được sử dụng tiền thu BHXH vào bất

kỳ nội dung chi tiêu nào

Để nắm được tình hình thu cũng như tình trạng quỹ BHXH ở bất cứ thời điểm nào thì phải có biện pháp quản lý tiền thu cho hợp lý như hệ thống tài khoản sử dụng

Trang 37

phải đảm bảo cho việc nộp BHXH của các đơn vị đóng BHXH hay các bộ phận thu nộp được nhanh chóng, thuận lợi, an toàn, chính xác song không vì vậy mà để xảy ra tình trạng số tiền thu BHXH rải rác, chia nhỏ, làm mất đi tính tập trung trong quản lý Đồng thời, cần quy định rõ thời điểm thực hiện thu, chuyển tiền thu về tài khoản tập trung… Từ đó nắm bắt được tình hình thu BHXH để kịp thời điều chỉnh, đảm bảo thu đúng, thu đủ, phục vụ tốt việc thực hiện chính sách BHXH sau này

1.4.4.4 Thanh tra, kiểm tra BHXH

Căn cứ pháp lý là Luật số 56/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm

2010 Quốc hội ban hành Luật Thanh tra, Quyết định số 1313/QĐ-BHXH ngày 22/11/2011 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam ban hành quy định về công tác kiểm tra của BHXH Việt Nam

Đối tượng thanh tra, kiểm tra gồm có: các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, hợp tác xã có sử dụng lao động (gọi chung là đơn vị ); cơ quan BHXH; viên chức của cơ quan BHXH

Nội dung thanh tra, kiểm tra: tình hình thực hiện các quy định về đóng BHXH, BHYT, BHTN, cấp sổ BHXH, cấp thẻ BHYT và giải quyết chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động theo Luật BHXH, Luật BHYT

Thanh tra BHXH: Theo pháp luật hiện hành thì cơ quan BHXH không

có chức năng thanh tra độc lập và xử phạt Định kỳ hàng năm, cơ quan Thanh tra Nhà nước, cơ quan Thanh tra lao động của ngành lao động thương binh và

xã hội khi thực hiện thanh tra liên ngành tại các doanh nghiệp có cử thành viên là cơ quan BHXH tham gia để thực hiện thanh tra Cơ quan thanh tra sẽ đưa ra kết luận, nếu doanh nghiệp có vi phạm pháp luật thì sẽ bị xử phạt hành chính và buộc phải truy thu số tiền thiếu, truy hoàn số tiền sử dụng sai, trường hợp doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng thì sẽ truy tố trước pháp luật

Kiểm tra là hoạt động thường xuyên của cơ quan BHXH kiểm tra việc thực hiện Luật BHXH, Luật BHYT và các quy định về chuyên môn nghiệp vụ

Trang 38

của ngành đối với các đơn vị sử dụng lao động thuộc phạm vi quản lý và kiểm tra nội bộ ngành Nếu đơn vị vi phạm nhẹ thì nhắc nhở, nếu vi phạm nặng thì kiến nghị với cơ quan thanh tra Đơn vị nợ đọng BHXH trên một năm thì cơ quan BHXH có thể khởi kiện đơn vị sử dụng lao động ra tòa án

Ngoài kiểm tra định kỳ, còn có kiểm tra đột xuất

1.4.5 Các yếu tố tác động đến quản lý thu bảo hiểm xã hội

Một là, các điều kiện kinh tế - xã hội:

- Tình hình phát triển kinh tế:

Trình độ phát triển của BHXH được quyết định bởi mức độ phát triển của nền kinh tế Nền kinh tế càng phát triển thì mức độ hoàn thiện BHXH càng cao Mặt khác, khi nền kinh tế xã hội phát triển ổn định thì các đơn vị, doanh nghiệp hoạt động thuận lợi và phát triến ổn định, do đó việc thanh toán tiền công, tiền lương cho NLĐ đúng kỳ đúng hạn, NLĐ yên tâm làm việc Vì vậy, chủ SDLĐ và NLĐ sẵn sàng trích một phần tiền lương để đóng góp BHXH Điều này sẽ góp phần làm tăng nguồn thu BHXH

Ngược lại, nếu nền kinh tế kém phát triển thì các đơn vị, doanh nghiệp hoạt động khó khăn, họ sẽ tìm cách trốn tránh đóng BHXH cho NLĐ; đồng thời NLĐ do công việc không ổn định, thu nhập thấp, cuộc sống gặp khó khăn nên cũng không muốn tham gia BHXH, từ đó dẫn đến thất thu BHXH

- Số lượng đối tượng tham gia BHXH:

Khi nền kinh tế phát triển, số lượng NLĐ có việc làm sẽ tăng lên do có sự

mở rộng về quy mô sản xuất xã hội Số đối tượng thuộc diện tham gia BHXH không ngừng tăng lên sẽ đặt ra những vấn đề và yêu cầu nhất định đối với việc tổ chức quản lý thu BHXH

- Ý thức của người tham gia BHXH:

Nếu trình độ dân trí cao, khả năng tiếp cận với thông tin, khoa học - kỹ thuật của người dân dễ dàng thì người dân (bao gồm NLĐ và người SDLĐ) sẽ nhanh chóng nắm bắt được ý nghĩa to lớn của chính sách, chế độ BHXH Nhờ đó, chính sách thu BHXH sẽ có điều kiện thuận lợi để đi vào cuộc sống Điều đó tác động tích

Trang 39

cực đến quản lý thu BHXH, giảm bớt tình trạng trốn đóng, nợ đọng BHXH Ngược lại, nếu trình độ dân trí thấp thì quản lý thu BHXH sẽ gặp nhiều khó khăn

Hai là, khung khổ pháp lý và chính sách của nhà nước liên quan đến BHXH

và quản lý thu BHXH:

Chính sách BHXH nói chung, chính sách tiền lương nói riêng và quản lý thu BHXH có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau Trong đó, chính sách tiền lương là tiền đề và cơ sở cho việc thực hiện chính sách BHXH

Ở nước ta, tiền lương, tiền công của NLĐ và tổng quỹ lương của đơn vị SDLĐ được dùng làm căn cứ để tính đóng BHXH Hàng năm, Chính phủ thường điều chỉnh tiền lương tối thiểu chung, lương tối thiểu vùng theo lộ trình cải cách tiền lương Qua đó tiền lương làm căn cứ đóng BHXH cũng tăng theo Sự biến động thường xuyên này làm cho quản lý thu BHXH gặp một số khó khăn nhất định Nếu cán bộ quản lý thu BHXH không nhạy bén với tình hình thực tế, chủ động, sáng tạo thì khó có thể đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, đảm bảo an toàn và tăng trưởng quỹ

Ba là, năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức quản lý thu BHXH:

Để nắm bắt được những thay đổi của đối tượng tham gia BHXH, cán bộ quản lý thu phải có đủ năng lực, trình độ chuyên môn, khả năng nhận định và phân tích tình hình, có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong công việc… Chỉ có như vậy thì quản lý thu mới đạt hiệu quả cao, phát hiện kịp thời những tình huống sai phạm

để có biện pháp xử lý triệt để

Bốn là, sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong quản lý thu BHXH:

Sự phối hợp liên ngành trong quá trình thu và quản lý thu BHXH có ý nghĩa đặc biệt quan trọng: BHXH thành phố Hà Nội với Cục thuế, Sở Kế hoạch và Đầu

tư, Sở Lao động TB&XH, Sở Tài chính, Thanh tra thành phố Hà Nội Bởi vì, sự hỗ trợ của các ngành, các cấp liên quan sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý đối tượng tham gia BHXH trong việc thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, không để xảy ra tình trạng thất thu cho quỹ BHXH

Năm là, cơ sở vật chất - kỹ thuật cho quản lý thu BHXH:

Trang 40

Quản lý thu BHXH cũng chịu tác động rất lớn của cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nghiệp vụ chuyên môn, đặc biệt là cơ sở vật chất về công nghệ thông tin

1.5 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ THU BHXH:

1.5.1 Các chỉ tiêu về số tiền thu BHXH và tỷ lệ tăng tiền thu BHXH hàng năm

(1) Số tiền thu BHXH

tháng (n) của đơn vị =

Số tiền Nợ BHXH của tháng (n-1) của đơn vị

Số tiền phải đóng + BHXH trong tháng (n)

của đơn vị Trong đó:

Số tiền Nợ BHXH của

tháng (i-1) của đơn vị =

Số tiền chưa đóng BHXH của tháng (i-1) + Số tiền lãi chậm nộp (2) Tổng số tiền thu

x 100

Ngày đăng: 01/07/2021, 07:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảo hiểm xã hội Hà Nội, 2011. Hướng dẫn thu BHXH bắt buộc, Quyết định số 1947/QĐ-BHXH ngày 29/12/2011. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thu BHXH bắt buộc
2. Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội, 2009-2013. Báo cáo quản lý thu BHXH các năm 2009-2013. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quản lý thu BHXH các năm 2009-2013
Tác giả: Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
3. Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội, 2009-2013. Báo cáo tổng kết công tác cuối năm từ 2009-2013. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác cuối năm từ 2009-2013
Tác giả: Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
4. Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2011. Hướng dẫn thu BHXH bắt buộc, Quyết định số 902/QĐ- BHXH ngày 26/6/2007; số 1333/QĐ-BHXH ngày 21/2/2008 và Quyết định số 1111/QĐ-BHXH ngày 25/10/2011. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thu BHXH bắt buộc
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
5. Bộ Chính trị, 2012. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 – 2020, Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 – 2020
6. Bộ Lao động, thương binh và xã hội, 2007. Thông tư số 03/2007/TT- BLĐTBXH ngày 30/01/2007. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 03/2007/TT- BLĐTBXH ngày 30/01/2007
Tác giả: Bộ Lao động, thương binh và xã hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
7. Bộ Lao động, thương binh và xã hội, 2008. Thông tư số 19/2008/TT- BLĐTBXH ngày 23/09/2008. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 19/2008/TT- BLĐTBXH ngày 23/09/2008
Tác giả: Bộ Lao động, thương binh và xã hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
8. Nguyễn Văn Châu, 1996. Thực trạng quản lý thu BHXH hiện nay và một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thu. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, BHXH Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý thu BHXH hiện nay và một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thu
9. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 1995. Nghị định số 19/NĐ-CP ngày 16/02/1995. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 19/NĐ-CP ngày 16/02/1995
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1995
10. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2006. Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
11. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013. Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
12. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2014. Nghị định số 94/2008/NĐ-CP ngày 22/08/2008, Nghị định số 05/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 94/2008/NĐ-CP ngày 22/08/2008, Nghị định số 05/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2014
13. Nguyễn Dương, 2010. Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội. Luận văn thạc sĩ kinh tế. Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Dương
Nhà XB: Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Năm: 2010
14. Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
15. Nguyễn Văn Định, 2008. Giáo trình Kinh tế Bảo hiểm, Nxb ĐH Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế Bảo hiểm
Tác giả: Nguyễn Văn Định
Nhà XB: Nxb ĐH Kinh tế Quốc dân
Năm: 2008
16. Phạm Trường Giang, 2010. Hoàn thiện cơ chế thu BHXH ở Việt Nam. Luận án Tiến sĩ. Trường ĐH Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế thu BHXH ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Trường Giang
Nhà XB: Trường ĐH Lao động xã hội
Năm: 2010
17. Nguyễn Thị Mai , 2010. Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội kỷ niệm 15 năm ngày thành lập và đón nhận Huân chương lao động hạng nhất. Số chuyên đề tháng 6. Tạp chí BHXH Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội kỷ niệm 15 năm ngày thành lập và đón nhận Huân chương lao động hạng nhất
Tác giả: Nguyễn Thị Mai
Nhà XB: Tạp chí BHXH Việt Nam
Năm: 2010
18. Cao Thị Lan Mây, 2014. Hoàn thiện công tác thu BHXH khối ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế. Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện công tác thu BHXH khối ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Cao Thị Lan Mây
Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
19. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 1992, 2013. Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp sửa đổi bổ sung năm 2013. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp sửa đổi bổ sung năm 2013
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
20. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, 2012. Bộ luật Lao động số10/2012/QH13 ngày 18/06/2012. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Lao động số10/2012/QH13 ngày 18/06/2012
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w