Chính vì vậy để đánh giá, kiến thức, hành vi của bà mẹ về chăm sóc sức khỏe răng miệng của trẻ chúng tôi tiến hành triển khai thực hiện nghiên cứu: “Kiến thức, thực hành về phòng bệnh sâ
Trang 1BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHCN CẤP CƠ SỞ NĂM 2019
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG BỆNH
SÂU RĂNG CỦA BÀ MẸ CÓ CON ĐANG HỌC
TẠI 2 TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
NĂM 2019 Chủ nhiệm đề tài: Th.S Lê Thị Kiều Hạnh
Thái Bình - 2019
Trang 2BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHCN CẤP CƠ SỞ NĂM 2019
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG BỆNH SÂU RĂNG CỦA BÀ MẸ CÓ CON ĐANG HỌC TẠI 2 TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
NĂM 2019
Chủ nhiệm đề tài: Th.S Lê Thị Kiều Hạnh
Xác nhận của đơn vị Cán bộ tham gia:
- ThS Đặng Thị Thu Ngà
- ThS Đinh Thị Huyền Trang
- ThS Vũ Đức Anh
Thái Bình- 2019
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DMFT Decay, missing, filling tooth (sâu, mất, trám răng)
UNICEF United Nations Children’s Fund (Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc) WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 4CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương về sâu răng ở trẻ em
1.2.1 Thực trạng sâu răng ở trẻ em trên thế giới 8
1.2.2 Thực trạng sâu răng ở trẻ em tại Việt Nam 9 1.3 Kiến thức, thực hành của bà mẹ về phòng bệnh sâu răng cho trẻ 11 CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu 15
Trang 52.5 Đạo đức nghiên cứu 19
3.1 Kiến thức, thực hành của bà mẹ về phòng bệnh răng miệng cho
trẻ
21
3.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của người
chăm sóc chính trẻ về phòng bệnh răng miệng
30
4.1 Kiến thức, thực hành của bà mẹ về phòng bệnh răng miệng cho
trẻ
35
4.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của người
chăm sóc chính trẻ về phòng bệnh răng miệng
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Nghề nghiệp của các bà mẹ 21
Bảng 3.2 Trình độ học vấn của bà mẹ 22
Bảng 3.3 Tỷ lệ bà mẹ biết nguyên nhân sâu răng ở trẻ 22
Bảng 3.4 Tỷ lệ bà mẹ biết những biểu hiện trẻ bị sâu răng 23
Bảng 3.5 Tỷ lệ bà mẹ biết ảnh hưởng của sâu răng đến trẻ 23
Bảng 3.6 Hiểu biết của bà mẹ về biện pháp phòng bệnh răng miệng cho trẻ 24
Bảng 3.7 Hiểu biết của ba mẹ về phương pháp vệ sinh răng miệng cho trẻ 24
Bảng 3.8 Hiểu biết của bà mẹ về cách chải răng cho trẻ 25
Bảng 3.9 Tỷ lệ bà mẹ biết hời gian cho trẻ đi khám răng định kỳ 25
Bảng 3.10 Thời điểm bà mẹ bắt đầu vệ sinh răng cho con 27
Bảng 3.11 Phương thức vệ sinh răng miệng của bà mẹ cho trẻ 27
Bảng 3.12 Loại bàn chải bà mẹ sử dụng chải răng cho trẻ 27
Bảng 3.13 Thời gian bà mẹ thay bàn chải cho trẻ 29
Bảng 3.14 Thực hành của bà mẹ về kỹ thuật chải răng cho trẻ 29
Bảng 3.15 Cách xử lý của bà mẹ khi trẻ bị bệnh răng miệng 31
Bảng 3.16 Tỷ lệ bà mẹ có thực hành đúng về phòng bệnh răng miệng 31
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa kiến thức và truyền thông về bệnh sâu răng của bà mẹ 31
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa kiến thức và số con của bà mẹ 32
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa kiến thức của bà mẹ và nghề nghiệp 32
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa kiến thức của bà mẹ và trình độ học vấn 33
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa thực hành và số con của bà mẹ 33
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa thực hành của bà mẹ và nghề nghiệp 33
Bảng 3.23 mối liên quan giữa thực hành của bà mẹ và trình độ học vấn 34
Bảng 3.24 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành 34
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Lứa tuổi của trẻ đang theo học tại các trường 21
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về phòng bệnh răng miệng …… 26
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ bà mẹ thường cho con ăn đồ ngọt vào buổi tối gần khi ngủ 26 Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ bà mẹ cho con uống nước hay súc miệng sau khi ăn bánh kẹo hoặc uống sữa 27 Biểu đồ 3.5 Thời gian bà mẹ cho trẻ khám răng định kỳ 30
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Răng sữa ở trẻ quan trọng không kém hàm răng vĩnh viễn, khi răng sữa khỏe mạnh sẽ giúp cho trẻ ăn nhai, nói chuyện, dinh dưỡng tốt hơn Cấu tạo răng sữa cơ bản giống các răng vĩnh viễn, tuy nhiên hệ thống men ngà chưa thật hoàn thiện, vì vậy nếu không có chế độ vệ sinh răng thật tốt rất dễ gây nên bệnh lý sâu răng-biến chứng ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ, tiền và thời gian chăm sóc của người nuôi dưỡng
Ở hàm răng trẻ em dưới mỗi răng sữa đều có một mầm răng vĩnh viễn, những mầm răng này sẽ lần lượt thay thế răng sữa từ khi trẻ lên 6 đến khoảng 12-
13 tuổi Răng vĩnh viễn sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều nếu như các răng sữa bị sâu và viêm nhiễm Sâu răng trẻ em có thể do rất nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân hàng đầu gây sâu răng sớm ở trẻ em là do chế độ nuôi dưỡng
và những thói quen có hại trong sinh hoạt, đặc biệt là nhận thức của bà mẹ trong việc hình thành những thói quen có lợi cho sức khỏe răng miệng của trẻ
Theo Ngân hàng dữ liệu sức khỏe răng miệng toàn cầu của WHO có khoảng 60-90% trẻ em tuổi đến trường và đa số người trưởng thành từng mắc bệnh sâu răng Tỷ lệ trẻ mắc sâu răng là tương đối cao ở Châu Mỹ, Châu Âu, và tỷ
lệ thấp là trẻ ở vùng Địa Trung Hải, Tây Thái Bình Dương [40]
Thống kê của tổ chức Unicef về tỷ lệ bệnh tật của học sinh tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mắc bệnh răng miệng khá cao, chiếm 17,41% ở trẻ mầm non; 35,14 % ở học sinh tiểu học [24] Tại Thái Bình, nghiên cứu của tác giả Phí Văn Toại (năm 2013) ở 2 trường mầm non huyện Đông Hưng cho thấy tỷ
lệ sâu răng chung là 53,2%; trong đó nữ là 56,0%; nam là 54,0% Tỷ lệ sâu răng cao nhất ở trẻ 5 tuổi chiếm 62,9% và thấp nhất ở trẻ 3 tuổi chiếm 41,3% [19]
Hiện nay vấn đề sâu răng là một thách thức cho cộng đồng đặc biệt là răng sữa Sâu răng sữa là một dạng sâu răng đặc biệt, tiến triển nhanh và có tác động lâu dài lên răng Trẻ em bị sâu răng như trẻ sơ sinh hoặc trẻ em ở lứa tuổi mầm
Trang 9non sẽ có nguy cơ nhiều về sâu răng tiếp theo ở cả răng chính và răng vĩnh viễn Hậu quả của sâu răng sữa có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống ngay lập tức hoặc lâu dài của trẻ cũng như gia đình trẻ, cả về kinh tế cũng như xã hội [31]
Phòng bệnh răng miệng là quá trình đơn giản, không phức tạp, không đòi hỏi trang thiết bị đắt tiền, chi phí thấp, dễ thực hiện tại cộng đồng, đặc biệt là ở đối tượng trẻ em Đặc biệt trẻ em trong lứa tuổi mầm non đã bắt đầu hình thành nhân cách, có những nhận thức cơ bản về thế giới xung quanh và có thể hình thành những thói quen chăm sóc bản thân Và hầu hết toàn bộ thời gian những năm đầu đời của trẻ dưới 5 tuổi là ở bên cha mẹ, kể cả khi trẻ đã đi học mẫu giáo Trong những năm này các thói quen của trẻ sẽ dần được hình thành và phần lớn các thói quen của trẻ trong đó có thói quen ăn uống và vệ sinh răng miệng là chịu ảnh hưởng từ kiến thức, thái độ và hành vi của cha mẹ, đặc biệt là các bà mẹ là người tiếp xúc và trực tiếp chăm sóc trẻ Kiến thức, kĩ năng của bà mẹ càng tốt thì trẻ càng có hành vi đúng Chính vì vậy để đánh giá, kiến thức, hành vi của bà mẹ về chăm sóc sức khỏe răng miệng của trẻ chúng tôi tiến hành triển khai thực hiện
nghiên cứu: “Kiến thức, thực hành về phòng bệnh sâu răng của bà mẹ có con đang học tại 2 trường mầm non thành phố Thái Bình năm 2019” với
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương về sâu răng ở trẻ em
1.1.1 Bệnh sâu răng
1.1.1.1 Một số thuật ngữ về sâu răng
Bệnh sâu răng là một quá trình bệnh lý mà thực chất là sự phân hủy chất khoáng của răng làm tiêu dần các chất vô cơ, hữu cơ ở men răng, ngà răng làm mất đi cấu trúc vẹn toàn của răng do hình thành lỗ sâu không có khả năng phục hồi và phải điều trị
Sâu răng có thể ở bề mặt thân răng hoặc cổ răng, tổn thương sâu trên thân răng bắt đầu từ men răng, còn tổn thương trên cổ răng bắt đầu từ men răng hoặc ngà cổ răng
Sâu răng sữa là một bệnh gây tổn thương mất mô cứng của răng do quá trình hủy khoáng gây ra bởi vi khuẩn ở mảng bám răng [1]
Sâu răng sớm ở trẻ là tình trạng xuất hiện một hoặc nhiều tổn thương sâu răng (có thể đã hình thành lỗ hoặc chưa), mất răng (do sâu), mặt răng đã được hàn (do sâu) trên bất kỳ răng sữa nào ở trẻ 71 tháng tuổi hoặc nhỏ hơn
Sâu răng lan nhanh-đa sâu răng (Rampant caries) là một dạng đa sâu răng nặng có thể ảnh hưởng đến bộ răng sữa hoặc răng vĩnh viễn, xuất hiện đột ngột, lan rộng xuất hiện ở các mặt răng và rất nhanh tổn thương tủy, các răng hàm thường tổn nhất Răng hàm sữa thứ nhất thường ít bị sâu răng hơn
so với răng hàm sữa thứ hai, răng hàm dưới dễ sâu hơn răng hàm trên [20]
Sâu răng do bú bình (baby bottle tooth decay) là dạng sâu răng đầu tiên
ở trẻ do nuôi dưỡng, bắt đầu trước 20 tháng tuổi Sâu răng do bú bình là tình trạng sâu răng do nuôi dưỡng đưa đến dạng sâu răng lan nhanh kết hợp với việc sử dụng không đúng cách bình sữa hoặc bú mẹ kéo dài Cũng có thể xem
Trang 11đó là một dạng sâu răng lan nhanh do bú bình với chất ngọt lúc ngủ cộng với tình trạng nhiễm S.mutans [20]
1.1.1.2 Một số nguyên nhân của bệnh sâu răng sữa
Do các men của vi khuẩn ở mảng bám răng tác động lên các thức ăn có nguồn gốc Gluxit còn dính lại ở bề mặt răng, chuyến hóa thành axit Khi môi trường có pH<5 thì gây ra tổn thương hủy khoáng làm mất mô cứng của răng
và gây ra sâu răng
Chủng vi khuẩn có khả năng gây sâu răng cao nhất trong nghiên cứu
thực nghiệm là Streptococus mutans Một số chủng vi khuẩn khác như Actinomyces, Lactobacillus…cũng được xác định có khả năng gây ra sâu
răng
Một số yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng sâu răng:
- Men răng: Men răng thiểu sản hay men răng kém khoáng hóa dễ bị hủy khoáng hơn và ảnh hưởng đến tiến triển của tổn thương sâu răng
- Hình thể răng: Các răng có hố rãnh sâu có nguy cơ sâu răng cao do sự tập trung của mảng bám răng và khó làm sạch mảng bám răng Có một tỷ lệ cao các trường hợp sâu răng được bắt đầu từ hố rãnh tự nhiên của các răng Ngoài ra một số bất thường về hình dạng răng như răng sinh đôi, răng dính, núm phụ…cũng làm tăng nguy cơ gây sâu răng
- Vị trí răng: Răng lệch lạc, chen chúc làm tăng khả năng lưu giữ mảng bám vì thế dễ bị sâu răng hơn
- Nước bọt: Dòng chảy và tốc độ chảy của nước bọt là yếu tố làm sạch
tự nhiên để loại bỏ các mạnh vụn thức ăn còn sót lại Tạo một lớp màng mỏng trên bề mặt của răng từ nước bọt có vai trò như một rào bảo vệ men răng khỏi
pH nguy cơ Ngoài ra nước bọt còn có vai trò đệm làm giảm độ toan của môi trường quanh răng và có tác dụng đề kháng với sâu răng Nước bọt còn là nguồn cung cấp các chất khoáng, hỗ trợ quá trình tái khoáng để có thể phục
Trang 12hồi các tổn thương sâu răng sớm Nước bọt cũng là môi trường hoạt động của các vi khuẩn trong miệng, nước bọt tiết càng nhiều càng giảm sâu răng (trung bình một ngày nước bọt tiết ra 1500cc, khi ngủ lượng nước bọt tiết ra giảm đồng thời việc chải rửa vi khuẩn và chất carbonhydrat ở mức tối thiểu, vì vậy sâu răng tăng trong nghi ngờ) Tính chất nước bọt lỏng hay quánh cũng ảnh hưởng đến bệnh sâu răng, nước bọt càng quánh thì sâu răng càng cao
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Diệp và Ngô Thị Quỳnh Lan về nguy cơ sâu răng của trẻ tại quận Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh cho thấy trung bình pH nước bọt không kích thích ở nhóm sâu răng thấp là 7,31±0,476 cao hơn so với nhóm sâu răng cao là 6,86±0,65; sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <0,05) Khi so sánh phân bố các mức pH nước bọt không kích thích giữa hai nhóm sâu răng thấp và sâu răng cao thì tỷ lệ học sinh có pH thấp trong nhóm sâu răng cao là 11% trong khi nhóm học sinh sâu răng thấp pH là 1,6% [3]
- Chế độ ăn nhiều đường, thói quen ăn uống trước khi đi ngủ hay bú bình kéo dài đều làm tăng nguy cơ sâu răng
- Vệ sinh răng miệng đóng vai trò quan trọng nhất các yếu tố nguy cơ gây sâu răng, là yếu tố làm sạch cơ học làm giảm hoặc mất các tác động gây sâu răng của các yếu tố gây sâu răng khác
1.1.2 Một số biện pháp dự phòng bệnh răng miệng
Nguy cơ sâu răng có thể thay đổi theo thời gian, và dựa vào nguyên nhân có thể làm giảm tổn thương răng Nếu bị sâu răng hoặc sâu răng đã biến chứng thì chữa răng sẽ làm tăng chi phí kinh tế, thời gian và có thể gây mất răng Dự phòng sâu răng là một trong những biện pháp làm giảm gánh nặng
vi sinh, tăng sức đề kháng của răng, đặc biệt là trẻ em Dựa vào nguyên nhân gây bệnh và cơ chế gây bệnh sâu răng có một số biện pháp dự phòng là:
1.1.2.1 Hạn chế chất nền
Trang 13- Phải có chế độ ăn hợp lý
- Hạn chế ăn nhiều đường, bánh kẹo
- Không ăn vặt, không ngậm kẹo khi đi ngủ
- Nên ăn phối hợp nhiều loại thực phẩm khác nhau: có ba nhóm thực phẩm quan trọng cho cơ thể là thực phẩm tăng trưởng, cung cấp cho cơ thể protein giúp cho cơ thể phát triển; các loại vitamin và khoáng chất; thực phẩm cung cấp năng lượng cho hoạt động của cơ thể
1.1.2.2 Loại bỏ mảng bám và thay đổi hệ vi khuẩn
- Vệ sinh răng miệng bằng cách đánh chải răng đúng cách, dùng chỉ tơ nha khoa
- Các biện pháp vệ sinh răng miệng hỗ trợ khi cần thiết: lấy cao răng định kỳ
- Dùng nước súc miệng có tính sát khuẩn, chống mảng bám vi khuẩn: dung dịch cholorhexidin 0,2%; nước súc miệng Listerine, dung dịch T-B (thành phần chủ yếu là acid boric nồng độ 0,3%; tinh dầu quế, tinh dầu bạc
hà, có tác dụng sát khuẩn nhẹ trong vệ sinh răng miệng)
- Vaccin miễn dịch với vi khuẩn gây sâu răng
đề kháng cao hơn trong môi trường miệng Ngoài ra, flour còn làm tăng quá trình tái khoáng men răng bằng việc ion F- kéo theo các khoáng chất sẵn có trong nước bọt và dịch lợi gây lên hiện tượng tái khoáng hóa Đồng thời flour
Trang 14còn cản trở việc hình thành mảng bám răng bằng việc ức chế enzym của các
vi khuẩn gây sâu răng trong khoang miệng nhất là vi khuẩn Streptococus Mutans Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Minh Hằng và cộng sự (2010) ở
trẻ 5 tuổi có sử dụng nguồn nước ăn uống có flour tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về trung bình sâu mất trám răng giữa những trẻ uống nước máy tại trường (1,89) và trẻ uống nước đóng chai tại trường (2,91) với p <0,05 Trẻ uống nước đóng chai tại trường có nguy cơ sâu mất trám cao gấp 1,93 lần so với trẻ uống nước tại trường và có nguy cơ sâu răng lan nhanh cao gấp 1,92-2,32 lần so với trẻ uống nước máy tại trường (p <0,05) [5]
Tăng cường Flour hợp lý bằng cách:
- Dùng kem đánh răng flour
- Dùng gel flour hoặc vecni flour
- Flour hóa nguồn nước máy với độ tập trung flour từ 0,7 đến 1,2mg/l nước mà độ tập trung tối ưu tùy thuộc vào khí hậu
- Đưa flour vào muối với độ tập trung flour là 250mgF/1kg muối
- Dùng thuốc viên flour
- Flour hóa nguồn cung cấp nước ở trường học với độ tập trung flour cao hơn mức độ tập trung flour tối ưu trong nước công cộng 4,5 lần
- Súc miệng với các dung dịch flour pha loãng Cho trẻ em súc miệng hàng ngày với dung dịch flour 0,05% hoặc súc miệng mỗi tuần dung dịch flour 0,2%
+ Trám bít các lỗ rãnh mặt nhai, hàn lại các lỗ sâu hở rìa, sâu tái phát từ đáy …
1.1.2.4 Một số biện pháp khác
+ Giáo dục sức khỏe răng miệng lồng ghép vào chương trình nha học đường
Trang 15- Mầm non: hướng dẫn chải răng và biện pháp khác làm sạch răng miệng, giữ gìn vệ sinh răng miệng
- Các cấp tiểu học, trung học: đưa vào chương trình chính khóa các bài giảng hướng dẫn và phòng bệnh răng miệng, giáo dục ý thức tự giác chăm sóc răng miệng
+ Khám răng định kỳ, phát hiện sớm và điều trị kịp thời răng sâu Nhổ
bỏ răng sữa đến tuổi thay răng
1.2 Thực trạng sâu răng ở trẻ em
1.2.1 Thực trạng sâu răng ở trẻ em trên thế giới
Một nghiên cứu tại các hộ gia đình tại Colorado cho thấy sâu răng là bệnh mạn tính phổ biến nhất thời thơ ấu của trẻ; có 39,7% trẻ mầm non và 55,2% học sinh lớp 3 bị sâu răng; trong đó 13,8% trẻ mầm non và 14,4% học sinh lớp ba sâu răng không được điều trị Tỷ lệ trẻ mắc sâu răng ở các sắc tộc cũng có sự chênh lệch, trong số các trẻ ở tuổi mầm non có 55,0% trẻ em gốc Tây Ban Nha và 38,0% trẻ em da đen mắc sâu răng, tuy nhiên với trẻ da trắng
tỷ lệ sâu răng thấp hơn chiếm 31,9% Trong số trẻ em ở lớp ba thì 69,5% trẻ người gốc Tây Ban Nha và 56,4% trẻ da đen mắc sâu răng; còn trẻ em da trắng thì tỷ lệ sâu răng là 48,1% [41]
Theo kết quả nghiên cứu tại Kerala cho thấy trong số 350 trẻ em được nghiên cứu thì tỷ lệ mắc sâu răng được tìm thấy là 50,6% và tỷ lệ mắc sâu răng phụ thuộc vào độ tuổi, trẻ từ 35 tháng tuổi trở lên mắc cao hơn, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p< 0,001) Trong số trẻ bị sâu răng thì mối liên quan chủ yếu là thói quen ăn vặt (98,3%); tình trạng vệ sinh răng miệng cho con của bà mẹ, thói quen trẻ hay dùng đồ ăn có chứa cariogen (56,7%); sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p< 0,05) [37]
Nghiên cứu của nhóm tác giả Narendar Dawani (2012) về tỷ lệ sâu răng
ở trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo tại thị trấn Saddar, thành phố Karachi, Pakistan
Trang 16cho thấy tỷ lệ sâu răng của trẻ là 51% trong đó có 41,6% trẻ nam mắc sâu răng và 58,4% trẻ em nữ mắc sâu răng Trong số trẻ mắc sâu răng có 54% trẻ hình thành mảng bám răng; 10,8% trẻ bị sâu 1 răng; 16,8% trẻ sâu từ 2-3 răng Nghiên cứu của tác giả cũng cho thấy việc trẻ thường xuyên sử dụng sữa ngọt nguy cơ sâu răng cao hơn trẻ không uống sữa (p<0,001, RR=0,838,
CI95%=0,33-0,032) [35]
Nghiên cứu của nhóm tác giả Nagarajappa về tỷ lệ sâu răng ở 320 trẻ ở các trường mầm non tại thành phố Bhubaneswar, Ấn Độ cho thấy tỷ lệ sâu răng chung là 37,2% và tỷ lệ trung bình là 2,40±1,86 Trẻ em có mẹ không đi học có tỷ lệ sâu răng là 61,1% cao hơn trẻ có mẹ được đi học (38,2%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,05 Trẻ em bú bình vào ban đêm và ăn giữa các bữa ăn nhẹ có tỷ lệ sâu răng (53,6%) hơn trẻ không bú bình vào ban đêm (43,1%); sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê p >0,05 [36]
1.2.2 Thực trạng sâu răng ở trẻ em tại Việt Nam
Theo kết quả nghiên cứu tại xã Vân Xuân, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phú về tình trạng sâu răng của trẻ mầm non 3-6 tuổi cho thấy tỷ lệ sâu răng của trẻ trong khu vực nghiên cứu tương đối cao (71,3%); tỷ lệ sâu răng giữa nam và nữ chênh lệch không đáng kể Tỷ lệ sâu răng cao nhất nằm ở vị trí các răng hàm dưới (29,6%-35,9%) và răng hàm trên (9,3-13,9%) Chỉ số sâu mất trám của trẻ tăng dần theo lứa tuổi Chỉ số sâu mất trám chung của trẻ trong nghiên cứu là 2,12 Tỷ lệ mất răng do sâu răng của trẻ trong nghiên cứu
là tương đối thấp chiếm 1,4%; số trẻ mất răng tập trung chủ yếu ở nhóm 4 tuổi, 5 tuổi, 6 tuổi [15]
Nghiên cứu của tác giả Vũ Văn Tâm và cộng sự tại trường mầm non Sao Mai, thành phố Hòa Bình cho thấy tình trạng sâu của trẻ trong độ tuổi từ
24 tháng đến 72 tháng tăng dần theo tuổi, tỷ lệ sâu răng chung là 45,7%; cao nhất là nhóm 6 tuổi (65,5%); thấp nhất là nhóm 3 tuổi (25%) [14]
Trang 17Kết quả điều tra sức khỏe răng miệng của 468 trẻ từ 3-5 tuổi tại trường Mẫu giáo Hữu Nghị Việt Triều, Hà Nội của nhóm tác giả Nguyễn Hữu Huynh (2013) [10] cho thấy tỷ lệ sâu răng ở từng tuổi thuộc mức trung bình 55,98%
và tỷ lệ này tăng dần theo tuổi, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p< 0,05 Tỷ lệ sâu răng ở trẻ 3 tuổi là 51%; ở trẻ 4 tuổi là 55,83% và ở trẻ 5 tuổi là 58,54% Tỷ lệ răng sữa sâu cao nhất là nhóm R5, R4 hàm dưới (27,88%-25,64%); tiếp theo là tỷ lệ sâu răng cửa giữa trên 21,58%, R5 hàm trên (16,88%); R2 và R4 hàm trên (11,54%-10,79%) Tỷ lệ răng sữa sâu giai đoạn sớm là 21,51% Tỷ lệ răng sữa sâu đã hình thành lỗ sâu chiếm 78,49%
Nghiên cứu tại trường mầm non 19-5 thành phố Thái Nguyên của tác giả Đỗ Minh Hương và cộng sự cho thấy tỷ lệ sâu răng của trẻ tại trường là 75,8% trong đó cao nhất là trẻ từ 60-71 tháng (91,4%); tiếp theo nhóm 48-59 tháng (89,4%); nhóm 36-47 tháng là 72,0% và 24-35 tháng là 45,9% Tỷ lệ trẻ sâu mặt nhai là cao nhất (66,1%), thấp nhất là mặt trong (32,7%) Kết quả cũng cho thấy 49,1% mặt răng sâu ở hình thái xoang sâu thấy ngà lan rộng; tổn thương sâu răng trong giai đoạn muộn là 91,8% [9]
Một nghiên cứu về diễn tiến tình trạng sâu răng của trẻ 12 tuổi sau 12 năm Flour hóa nước uống tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ sâu răng trước và sau flour hóa lần lượt là 84,7% và 38,2%; chỉ số sâu mất trám trước
và sau là 3,26 và 0,85 Ở vùng có và không có flour hóa tỉ lệ sâu răng lần lượt
là 38,2% và 67% [13]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Đình Tuyên và cộng sự tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên năm 2014-2015 cho thấy tỷ lệ lưu hành bệnh sâu răng ở trẻ rất cao chiếm 95,7% với chỉ số sâu mất trám (DMFT) là 2,97 (theo tiêu chuẩn của WHO là 70%) Giá trị của chỉ số sâu mất trám ở mức trung bình [22]
Trang 18Khi tìm hiểu về thực trạng mắc bệnh sâu răng sữa ở trẻ từ 3-6 tuổi mắc các bệnh bạch cầu cấp tại một số bệnh viện ở Hà Nội của tác giả Trần Thị Mỹ Hạnh và cộng sự (2016) [5] cho thấy có 79,17% trẻ bị sâu răng sữa, chỉ số sâu mất trám răng và chỉ số sâu mất trám mặt răng ở răng sữa lần lượt là 7,41% và 8,22%; trong đó chỉ có 5,91% số răng được trám Sâu răng vị trí 1 mặt là cao nhất chiếm 73,49%; tiếp theo là sâu răng vị trí 2 mặt chiếm 58,76%
Theo kết quả điều tra của tác giả Phan Ái Hùng và Nguyễn Thị Thúy Lan về tình hình sức khỏe răng miệng của trẻ khuyết tật từ 3-14 tuổi tại cơ sở nuôi dưỡng và bảo trợ trẻ em khuyết tật Thiên Phước, Củ Chi cho thấy tỷ lệ sâu răng của trẻ ở đây là 73,84%; tỷ lệ viêm nướu có chảy máu là 16,92%; tỷ
lệ trẻ có khớp cắn xấu là 52,3% Tỷ lệ trẻ không nhai được ở độ tuổi từ 3 đến
5 tuổi chiếm 13,8% và trẻ từ 6 đến 12 tuổi là 33,8% [7]
1.3 Kiến thức, thực hành của bà mẹ về phòng bệnh sâu răng cho trẻ
Nghiên cứu của nhóm tác giả Collen E.Huebner về thực hành của các bà
mẹ về chăm sóc răng cho trẻ dưới 4 tuổi cho thấy 63% các bà mẹ bắt đầu đánh răng cho con trước sinh nhật đầu tiên của con 71% bà mẹ biết nên chải răng ngày hai lần cho trẻ nhưng chỉ có 55% bà mẹ đánh răng cho con từ một đến hai lần trong ngày và thường việc đánh răng buổi sáng bị các bà mẹ bỏ qua do người mẹ phải đi làm sớm Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có 18% bà mẹ cho con tự đánh răng mà không có sự giám sát nào [29]
Một nghiên cứu khác về phòng bệnh răng miệng của các phụ huynh có con trong độ tuổi từ 2 tuổi đến 4 tuổi cũng của tác giả Collen E.Huebner và cộng sự (2015) cho thấy 32% trẻ em được khám răng định kỳ một lần trong 1 năm qua; đa số là được khám theo dịch vụ bảo hiểm Tuy nhiên vẫn còn 21% trẻ em chưa bao giờ được khám răng định kỳ 90% bố mẹ biết con họ có ít nhất một vấn
đề về răng và 24% trẻ được bố mẹ phát hiện sâu răng, mất hoặc trám răng [30]
Trang 19Theo kết quả nghiên cứu về kiến thức của các bà mẹ về chăm sóc răng miệng cho trẻ dưới 12 tuổi được thực hiện tại thành phố Bengaluru ở Ấn Độ của tác giả Jyothsna Vittoba Setty cho thấy có 39% bà mẹ biết được chức năng của răng, 51% bà mẹ biết được trẻ 4 tuổi mọc bao nhiêu răng Chỉ có 21% bà mẹ biết trẻ sẽ thay răng vĩnh viễn ở thời điểm trẻ 6 tuổi và 47% bà mẹ biết được răng vĩnh viễn sẽ thay thế cho răng sữa tương ứng Khi được hỏi về tầm quan trọng của việc điều trị răng sữa khi bị sâu thì có 86% bà mẹ cho thấy đó là việc cần thiết và quan trọng, tuy nhiên 40% bà mẹ cho biết vẫn chưa sẵn sàng dành thời gian và tiền bạc
để điều trị những răng sâu này, vì họ cho rằng những chiếc răng sữa này sẽ rụng
và được thay thế bằng răng vĩnh viễn [34]
Một nghiên cứu khác về kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi
về sức khỏe răng miệng tại Moradabad, Ấn Độ cho thấy có 25,4% bà mẹ có kiến thức tốt về tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khỏe răng miệng và thực hành tốt về chăm sóc răng miệng cho trẻ; 73,8% bà mẹ có kiến thức tốt về chế độ ăn đảm bảo cho sức khỏe răng miệng của trẻ [39]
Khi tìm hiểu về kiến thức, thái độ và thực hành về chăm sóc sức khỏe răng miệng trong phòng ngừa sâu răng ở trẻ em của phụ huynh có con ở thành phố Belagavi của tác giả H.P.Suma Sogi và cộng sự (2016) [32] cho thấy điểm trung bình về kiến thức chung của đối tượng điều tra là 69,5% Trong 218 đối tượng điều tra có 116 người mẹ và 102 người cha tham gia, với độ tuổi chủ yếu là từ 30 tuổi đến 39 tuổi (chiếm 77%) Các bà mẹ có điểm kiến thức tổng thể tốt hơn đáng
kể so với các ông bố Gần 69,5% cha mẹ nhận thức được rằng sâu răng có thể ảnh hưởng đến trẻ dưới 2 tuổi, nhưng có 19,5% cha mẹ trả lời sai và 11% cha mẹ rơi vào tình huống khó xử Khi được hỏi về khả năng ảnh hưởng của thực phẩm đến sâu răng có 81,5% cha mẹ biết rằng thực phẩm ngọt gây sâu răng nhưng kiến thức
về việc bắt đầu sử dụng kem đánh có fluortide và liệu răng rụng có cần điều trị hay không lại thấp chiếm 54% và 42,5% Tuy nhiên 88% cha mẹ biết tầm quan
Trang 20trọng của việc đánh răng và 73,5% cha mẹ nhận thức việc bắt đầu ăn dặm cùng với việc cho con bú/bú bình từ 6 tháng tuổi Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy 49,5% cha mẹ thường cho con ăn ngọt và 56% cha mẹ thực hành tốt cho việc sử dụng kem đánh răng flouride cho trẻ
Nghiên cứu của tác giả Fatima Ashkanani và cộng sự về kiến thức, thái độ
và thực hành của người chăm sóc trẻ về sức khỏe răng miệng của trẻ mẫu giáo tại Kuwait cho thấy khi được hỏi về tính gây bệnh của thực phẩm và tầm quan trọng của fluoride trong phòng ngừa sâu răng có 91,3% người tham gia trả lời đúng tuy nhiên chỉ có 24,6% người chăm sóc trẻ nhận thức được thời điểm thích hợp đánh răng cho trẻ và thời điểm lý tưởng cho trẻ đi khám răng định kỳ Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các bà mẹ có con từ 0 tuổi đến 1 tuổi có kiến thức tốt hơn đáng
kể về thời gian bắt đầu đánh răng cho trẻ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trình độ học vấn của người chăm sóc có ảnh hưởng đáng kể đến thực tiễn của họ (p <0,05)
Có 80% người chăm sóc trẻ đánh răng cho con từ 2 đến 3 lần trong ngày, tuy nhiên nghiên cứu lại cho thấy có 44% trẻ em được đánh răng bởi người chăm sóc trẻ nhưng không phải là cha mẹ của trẻ 37% cha mẹ cho trẻ đi khám răng đầu tiên
là trước 3 tuổi [28]
Nghiên cứu của tác giả Castilho và cộng sự khi nghiên cứu về mối quan
hệ giữa gia đình với tỷ lệ mắc sâu răng cho thấy những trẻ em 5 tuổi khi sống cùng bố mẹ ở vùng nông thôn hoặc trẻ em ở vùng dân tộc thiểu số ít được nhận thông tin giáo dục về nha khoa thường có thực hành chăm sóc răng miệng cho trẻ kém hơn những trẻ sống cùng bố mẹ ở thành thị Khi xem xét
về tình trạng kinh tế kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những trẻ có cha hoặc
mẹ ở nhà thường có tỷ lệ sâu răng cao hơn trẻ có bố mẹ cùng đi làm [26]
Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Thủy (2009), quận Tây Hồ, Hà Nội ở học sinh tiểu học cho thấy kiến thức của cha mẹ về phòng
Trang 21chống sâu răng cho con đạt yêu cầu chiếm tỷ lệ 69,3%; thực hành của cha, mẹ về phòng chống sâu răng cho con chiếm tỷ lệ 59,1% [17].
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Tuyết Anh về tình trạng sâu răng ở trẻ 25-60 tháng tuổi và một số yếu tố liên quan tại huyện Vụ Bản và thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định cho thấy tỷ lệ trẻ sâu răng ở nhóm được cha mẹ chải răng thấp hơn trẻ không được cha mẹ chải răng, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với OR=1,74 và p< 0,01 Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy số trẻ em được cha mẹ cho đi khám và điều trị răng miệng với thời gian dưới một năm là rất thấp chiếm 14,9%; còn hầu hết là các trẻ em chưa bao giờ được đi khám hoặc đi khám đã trên một năm là 85,04% [2]
Kết quả nghiên cứu trên 302 phụ huynh có trẻ học tại trường mầm non 19-5 thành phố Thái Nguyên của tác giả Vũ Thị Hà và cộng sự (2016) cho thấy phần lớn phụ huynh có kiến thức và thái độ tốt về việc chăm sóc sức khỏe răng miệng cho trẻ Tuy nhiên, tỷ lệ phụ huynh có câu trả lời đúng về nguyên nhân viêm lợi
do thiếu dinh dưỡng (35,1%) và cách ngăn ngừa viêm lợi bằng cách lấy cao răng (37,7%) còn thấp Chỉ có 19,9% phụ huynh trả lời đúng về nguyên nhân gây lệch lạc răng ở trẻ do thói quen thở miệng Tỷ lệ phụ huynh thực hành chăm sóc răng miệng đúng vẫn còn thấp chỉ có 54,3% phụ huynh chải răng ≥ 2 lần/ngày cho trẻ, vẫn còn nhiều phụ huynh duy trì thói quen nhá cơm cho trẻ (42,4%) [4]
Trang 22Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại 2 trường mầm non Đề Thám và Hoa Phượng thuộc thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
Thành phố Thái Bình là tỉnh lỵ tỉnh Thái Bình miền Bắc Việt Nam Thành phố Thái Bình nằm ở trung tâm của tỉnh và là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội khoa học, quốc phòng của tỉnh và cũng là 1 trong 8 thành phố của vùng duyên hải Bắc Bộ Thành phố Thái Bình tiếp giáp huyện Kiến Xương về phía Đông nam và Nam, Tây và Tây nam giáp huyện Vũ Thư, Bắc giáp huyện Đông Hưng Thành phố Thái Bình cách thủ đô Hà Nội 110km về phía Đông nam, cách thành phố Hải Phòng 60km về phía Đông bắc, đồng thời là đầu mối giao thông của tỉnh, thành phố như: Nam Định, Hải Dương… thuận lợi giao lưu với các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Hồng qua quốc lộ 10
Thành phố Thái Bình có 19 đơn vị bao gồm 10 phường: Bồ Xuyên, Phú Khánh, Kỳ Bá, Tiền Phong, Quang Trung, Trần Lãm, Lê Hồng Phong, Đề Thám, Trần Hưng Đạo, Hoàng Diệu và 9 xã: Đông Hòa, Vũ Chính, Vũ Phúc, Phú Xuân, Tân Bình, Vũ Đông, Vũ Lạc, Đông Thọ, Đông Mỹ
Thái Bình có đầy đủ các cấp học từ mầm non đến đại học Thành phố Thái Bình hiện có 28 trường mầm non, trong đó có 22 trường mầm non công lập và 6 trường mần non tư thục Những năm qua, ngành học mầm non thành phố luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm đầu tư, chăm lo Quy
mô trường lớp, chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ luôn ổn định, phát triển Đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao, yêu nghề, nhiệt tình trong công tác
Sự phân bố các trường mầm non ở các phường không đồng đều, nhiều phường
có 2 trường mầm non như: Lê Hồng Phong, Kỳ Bá… ngoài ra, trẻ mầm non
Trang 23chưa có quy định học đúng tuyến nên các trường gặp khó khăn trong công tác theo dõi phổ cập
Trường mầm non Đề Thám thuộc phường Đề Thám, thành phố Thái Bình Tổng diện tích trường là 1000m2, gồm 5 khu hành chính là khu nhà trẻ, khu nhà hiệu bộ, khu nhà ăn, khu để xe và khuôn viên sân chơi Khu nhà trẻ gồm có 8 phòng học, 1 phòng truyền thống trong đó có 3 lớp cho trẻ dưới 2 tuổi, 2 lớp cho trẻ 3 tuồi, 2 lớp cho trẻ 4 tuổi và 2 lớp cho trẻ 5 tuổi Trường hiện nay có 270 trẻ, 22 giáo viên
Trường mầm non Hoa Phượng là trường tư thục thuộc phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình Tổng diện tích trường là 1000m2, trường được xây dựng khang trang 4 tầng, gồm nhà hiệu bộ, nhà ăn, nhà trẻ và khuôn viên sân chơi Khu nhà trẻ gồm có 11 phòng học trong đó có 2 lớp dành cho trẻ dưới 2 tuổi, 2 lớp cho trẻ 3 tuổi, 2 lớp cho trẻ 4 tuổi, 2 lớp cho trẻ 5 tuổi, 3 lớp Montessori Trường hiện nay có khoảng 350 trẻ với 27 giáo viên
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Bà mẹ là người trực tiếp chăm sóc trẻ
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 2 năm 2019 đến tháng 9 năm 2019
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp dịch tễ học mô tả dựa trên cuộc điều tra cắt ngang điều tra để xác định kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của bà mẹ về phòng bệnh răng miệng cho trẻ tại 2 trường mầm non thành phố Thái Bình
Trang 24p 1 p Z
1
Z : Hệ số tin cậy phụ thuộc vào ngưỡng xác suất (Với = 0,05 thì Z = 1,96)
p: ước tính bà mẹ có kiến thức, thực hành đúng về phòng bệnh răng miệng cho trẻ, theo kết quả nghiên cứu trước p=0,65 [19]
e: Độ sai lệch mong muốn, trong nghiên cứu này chúng tôi chọn e = 0,05 Với các dữ liệu trên cỡ mẫu được tính cho điều tra là 349 bà mẹ và làm tròn thì cỡ mẫu nghiên cứu là 350 bà mẹ Trên thực tế chúng tôi điều tra được
356 bà mẹ
b) Kỹ thuật chọn mẫu
+ Chọn trường điều tra: Các trường mầm non ở thành phố Thái Bình gồm 2 loại hình tư thục và công lập Chúng tôi sử dụng kỹ thuật chọn mẫu chủ định, chọn trường mầm non tư thục Hoa Phượng và trường mầm non công lập Đề Thám vào nghiên cứu
+ Chọn đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng là các bà mẹ: Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên để chọn ra các bà mẹ có con đang theo học tại 2 trường mầm non Hoa Phượng và
Đề Thám để phỏng vấn
Trang 252.2.3 Phương pháp thu thập thông tin, các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu
+ Điều tra kiến thức, thực hành của bà mẹ về phòng bệnh răng miệng cho trẻ bằng bộ câu hỏi chuẩn bị sẵn
+ Để hạn chế sai số: Cán bộ điều tra đã được tập huấn thống nhất nội dung, kế hoạch, phương pháp nghiên cứu
- Tiến hành điều tra thử
- Điều tra chính thức
2.2.4 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu
* Biến số về đặc điểm đối tượng nghiên cứu:
kỳ, nơi bà mẹ đưa con đi khám răng…
* Biến số về mối liên quan kiến thức, thực hành của bà mẹ về phòng bệnh răng miệng
Trang 262.2.5 Phương pháp đánh giá
Kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh răng miệng: cho điểm dựa vào tầm quan trọng của mỗi vấn đề (Phụ lục 2)
- Trả lời đúng hết biến kiến thức: 35 điểm
Đánh giá: Chưa tốt: dưới 27 điểm Tốt: từ 27 điểm trở lên
- Trả lời tốt hết phần Thực hành: 24 điểm
Đánh giá: Chưa tốt: dưới 18 điểm Tốt: từ 12 điểm trở lên
- Trả lời sai: 0 điểm
2.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Các số liệu của đề tài nghiên cứu sẽ được nhập máy tính và phân tích
dựa trên phần mềm Epi-info 6.04 và Epi - Data, sử dụng các thuật toán thống
kê trong y học
- Kết quả nghiên cứu được trình bày dưới dạng bảng, biểu đồ
2.4 Tổ chức triển khai nghiên cứu
- Xây dựng đề cương
- Xây dựng bộ câu hỏi và phiếu điều tra
- Tiền trạm
- Thực hiện điều tra
- Xử lý số liệu, viết báo cáo tổng kết
- Đề xuất nghiên cứu
2.5 Vấn đề đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu về kiến thức, thực hành của các bà mẹ về phòng bệnh răng miệng cho trẻ từ đó đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa công tác chăm sóc răng miệng cho trẻ em lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo Trong quá trình phỏng vấn, tất cả các đối tượng đều được giải thích rõ về mục đích và nội dung nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn và chỉ phỏng vấn khi được sự hợp tác của đối tượng nghiên cứu Việc tham gia điều tra là hoàn toàn tự
Trang 27nguyện và trên cơ sở là sự ủng hộ, chấp thuận của cộng đồng, các ban ngành đoàn thể tại 2 trường mầm non Đề Thám và Hoa Phượng
Trang 28Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Kiến thức, thực hành của bà mẹ về phòng bệnh răng miệng cho trẻ
Bảng 3.1 cho thấy 42,4% nghề nghiệp của các bà mẹ là công chức viên chức; 21,4% là nhân viên văn phòng; 19,7% là buôn bán; 15,7% là công nhân
Trang 29Kết quả biểu đồ 3.1 cho thấy độ tuổi của trẻ của các bà mẹ đƣợc phỏng vấn chủ yếu là 5 tuổi (34,8%); tiếp theo là 4 tuổi (28,9%); 3 tuổi là 24,5% và
Bảng 3.3 Tỷ lệ bà mẹ biết nguyên nhân sâu răng ở trẻ (n=356)
Nguyên nhân sâu răng Số lƣợng Tỷ lệ (%)
Số liệu bảng 3.3 cho thấy kiến thức của bà mẹ về nguyên nhân sâu răng
ở trẻ 77,2% bà biết nguyên nhân sâu răng ở trẻ là do ăn nhiều bánh kẹo; 62,4% là ăn xong không chải răng; 59,8% là do không chải răng khi đi ngủ;
Trang 3046,9% biết là do vi khuẩn; 46,3% và 43,5% là do ngậm thức ăn lâu và ngậm bình sữa khi ngủ Tuy nhiên vẫn còn 10,7% bà mẹ cho rằng là do vi rút
Bảng 3.4 Tỷ lệ bà mẹ biết những biểu hiện trẻ bị sâu răng (n=356)
Biểu hiện sâu răng Số lượng Tỷ lệ (%)
Bảng 3.5 Tỷ lệ bà mẹ biết ảnh hưởng của sâu răng đến trẻ (n=356)
Ảnh hưởng của sâu răng Số lượng Tỷ lệ (%)
Trang 31viêm lợi; 50,8% gây sứt mẻ răng; 43,3% là mất răng và 37,6% là sốt, lười ăn, suy dinh dưỡng
Bảng 3.6 Hiểu biết của bà mẹ về biện pháp phòng bệnh sâu răng cho trẻ
Bảng 3.7 Hiểu biết của bà mẹ về phương pháp vệ sinh răng miệng cho trẻ
Trang 32Bảng 3.8 Hiểu biết của bà mẹ về cách chải răng cho trẻ (n=356)
Chải xoay tròn từng vùng, cả mặt
Kết quả bảng 3.8 cho thấy 74,2% bà mẹ biết kỹ thuật đánh răng cho trẻ
là chải xoay tròn từng vùng, cả mặt ngoài, mặt trong, mặt nhai; và 21,3% bà
mẹ cho rằng chải dọc theo thân răng
Bảng 3.9 Tỷ lệ bà mẹ biết thời gian cho trẻ đi khám răng định kỳ (n=356)
Thời gian khám răng Số lƣợng Tỷ lệ (%)