1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng mô hình câu lạc bộ thể thao giải trí cho sinh viên trường đại học an giang tỉnh an giang

243 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 243
Dung lượng 5,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BẢNG NỘI DUNG TRANG Bảng 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tham gia giải trí Bảng 3.2 Tần suất tham gia các loại hình TTGT tại An Giang Sau 71 Bảng 3.3 Tốp 10 hoạt động giải trí tr

Trang 1

o 0 o

ĐÀO CHÁNH THỨC

XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÂU LẠC BỘ THỂ THAO GIẢI TRÍ

CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

– TỈNH AN GIANG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO TP HỒ CHÍ MINH

o 0 o

ĐÀO CHÁNH THỨC

XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÂU LẠC BỘ THỂ THAO GIẢI TRÍ

CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2020

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Đào Chánh Thức

Trang 4

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

Danh mục bảng trong luận án

Danh mục biểu đồ, hình, sơ đồ trong luận án

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tổng quan về Thể thao giải trí 5

1.1.1 Các quan điểm về giải trí 7

1.1.2 Các phương thức cơ bản của hoạt động giải trí 8

1.1.3 Vị trí và đặc điểm của Thể thao giải trí 9

1.1.4 Sự tham gia thể thao giải trí của con người 11

1.1.5 Ứng dụng Tháp nhu cầu của Maslow (1954) trong TTGT 13

1.1.6 Động cơ tham gia giải trí và TTGT 16

1.1.7 Các yếu tố tác động đến sự tham gia thể thao giải trí 17

1.1.8 Các khó khăn trở ngại khi tham gia hoạt động giải trí 18

1.1.9 Một vài khái niệm có liên quan thể thao giải trí 19

1.2 Thể thao giải trí và Sức khỏe 23

1.2.1 Chức năng Thể thao giải trí 24

1.2.2 Phân loại Thể thao giải trí 27

1.2.3 Lợi ích của TTGT trong cuộc sống 36

1.3 Thực trạng phát triển TTGT trên thế giới, ở Việt Nam và An Giang 40

1.3.1 Sự phát triển của TTGT trên thế giới 40

1.3.2 Thực trạng TTGT ở Việt Nam và An Giang 43

1.4 Một số cơ sở lý luận về XHH TDTT, CLB TTGT 47

1.4.1 Một số cơ sở lý luận về XHH TDTT 47

1.4.2 Một số vấn đề về Câu lạc bộ 48

1.5 Mô hình tổ chức quản lý 49

1.5.1 Khái niệm mô hình 49

1.5.2 Một số công trình nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước 50

Trang 5

2.1 Đối tượng nghiên cứu: 54

2.1.1 Khách thể nghiên cứu: 54

2.1.2 Phạm vi, thời gian nghiên cứu: 54

2.2 Công cụ nghiên cứu 54

2.3 Phương pháp nghiên cứu 56

2.3.1 Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu 57

2.3.2 Phương pháp điều tra xã hội học 57

2.3.3 Phương pháp mô hình hóa 57

2.3.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 58

2.3.5 Phương pháp kiểm tra tra y sinh học 60

2.3.5.1 Các test kiểm tra hình thái cơ thể: 60

2.3.6 Phương pháp kiểm tra chức năng tâm lý 61

2.3.7 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 63

2.3.8 Phương pháp toán học thống kê 63

2.4 Tổ chức nghiên cứu 65

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 66

3.1 Đánh giá thực trạng các loại hình hoạt động TTGT tại An Giang và ĐHAG 66

3.1.1 Kiểm định độ tin cậy của phiếu khảo sát điều tra 66

3.1.2 Các loại hình giải trí, thể thao giải trí ở An Giang 71

3.1.3 Thực trạng và nhu cầu thành lập mô hình CLB TTGT tại ĐHAG 74

3.1.4 Bàn luận nhiệm vụ 1 89

3.2 Xây dựng mô hình CLB TTGT cho sinh viên Trường ĐHAG 95

3.2.1 Các tiêu chí xác định câu lạc bộ thể thao giải trí 95

3.2.2 Xây dựng nội dung chi tiết tiêu chí thành lập CLB TTGT 96

3.2.3 Xây dựng quy trình hoạt động câu lạc bộ thể thao giải trí 102

3.2.4 Nghiên cứu xây dựng quy trình thành lập CLB TTGT 105

3.2.5 Chuẩn bị tổ chức hoạt động thực nghiệm mô hình 107

3.2.6 Bàn luận nhiệm vụ 2 113

3.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả mô hình CLB TTGT 119

Trang 6

3.3.3 Bàn luận nhiệm vụ 3 139

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 146

KẾTLUẬN 146

KIẾNNGHỊ 147

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

VIẾT TẮT THUẬT NGỮ TIẾNG VIỆT

Trang 8

BẢNG NỘI DUNG TRANG

Bảng 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tham gia giải trí

Bảng 3.2 Tần suất tham gia các loại hình TTGT tại An Giang Sau 71

Bảng 3.3 Tốp 10 hoạt động giải trí trong thời gian rảnh rỗi của người

Bảng 3.8 Nhận định của chuyên gia về các điều kiện tổ chức hoạt

Trang 9

Bảng 3.10 Nhu cầu tham gia CLB TTGT và các môn TTGT yêu thích

Bảng 3.11 Ý kiến chuyên gia, lãnh đạo về việc thành lập CLB TTGT

Bảng 3.12(b) Nhu cầu thành lập CLB TTGT của lãnh đạo, chuyên gia 85

Bảng 3.13(a) Các nguyên nhân ảnh hưởng đến các hoạt động TTGT đối

Bảng 3.13(b) Khó khăn và thuận lợi hoạt động TTGT tại các tổ chức tư

Bảng 3.14(a) Sự cần thiết khi thực hiện mô hình CLB TTGT ĐHAG 89 Bảng 3.14(b) Nội dung các tiêu chí xác định mô hình CLB TTGT 95 Bảng 3.15 tổng hợp chi tiết các tiêu chí xác định mô hình CLB TTGT 97

Bảng 3.16 Tổng hợp ý kiến xác định cơ cấu tổ chức và thành viên của

Bảng 3.17 Tổng hợp ý kiến xác định quy trình thành lập CLB TTGT 105 Bảng 3.18 tổng hợp ý kiến chuyên gia đóng góp quy chế tổ chức 105

Bảng 3.20 Khảo sát các khoản sinh hoạt phí hàng tháng của SV ĐHAG Sau 109 Bảng 3.21 Khảo sát mức đóng hội phí tại các cơ sở TDTT bên ngoài Sau 109 Bảng 3.22 Thăm dò mức đóng hội phí hoạt động trong CLB TTGT Sau 110 Bảng 3.23 Khảo sát khung thời gian tổ chức hoạt động CLB TTGT Sau 110

Bảng 3.25 Kết quả lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá sức khỏe thể chất của SV 121 Bảng 3.26 So sánh các chỉ tiêu giữa nhóm ĐC và TN1 (NAM) - Trước TN Sau 121 Bảng 3.27 So sánh các chỉ tiêu giữa nhóm ĐC và TN2 (NAM) - Trước TN Sau 121 Bảng 3.28 So sánh các chỉ tiêu giữa nhóm TN1 và TN2 (NAM) - Trước TN Sau 121 Bảng 3.29 So sánh các chỉ tiêu giữa nhóm ĐC và TN1 (Nữ) - Trước TN Sau 121

Trang 10

Bảng 3.31 So sánh các chỉ tiêu giữa nhóm TN1 và TN2 (Nữ) - Trước TN Sau 121 Bảng 3.32 So sánh các chỉ tiêu giữa nhóm ĐC và TN1 (Nam) - Sau TN Sau 122 Bảng 3.33 So sánh các chỉ tiêu giữa nhóm ĐC và TN2 (Nam) - Sau TN Sau 123 Bảng 3.34 So sánh các chỉ tiêu giữa nhóm TN1 và TN2 (Nam) - Sau TN Sau 124 Bảng 3.35 So sánh các chỉ tiêu giữa nhóm ĐC và TN1 (Nữ) - Sau TN Sau 125 Bảng 3.36 So sánh các chỉ tiêu giữa nhóm ĐC và TN2 (Nữ) - Sau TN Sau 126 Bảng 3.37 So sánh các chỉ tiêu giữa nhóm TN1 và TN2 (Nữ) - Sau TN Sau 127 Bảng 3.38 So sánh các chỉ tiêu giữa nhóm ĐC Nam – Trước và Sau TN Sau 128 Bảng 3.39 So sánh các chỉ tiêu giữa nhóm TN1 Nam – Trước và Sau TN Sau 128 Bảng 3.40 So sánh các chỉ tiêu giữa nhóm TN2 Nam – Trước và Sau TN Sau 128 Bảng 3.41 So sánh các chỉ tiêu giữa nhóm ĐC Nữ – Trước và Sau TN Sau 129 Bảng 3.42 So sánh các chỉ tiêu giữa nhóm TN1 Nữ – Trước và Sau TN Sau 129 Bảng 3.43 So sánh các chỉ tiêu giữa nhóm TN2 Nữ – Trước và Sau TN Sau 129

Bảng 3.44 Kết quả đánh giá những lợi ích sức khỏe tinh thần, xã hội

Bảng 3.45 Đánh giá những lợi ích sức khỏe tinh thần, xã hội giữa nhóm

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH, SƠ ĐỒ TRONG LUẬN ÁN

Hình

1.3 Các thành phần cung ứng cơ sở vật chất giải trí 34

1.4 Kết quả khảo sát lợi ích của TTGT đối với người

Sơ đồ 1.1 Phân loại giải trí (theo Trương Hồng Đàm) 21

Biểu đồ

3.2 So sánh sự tăng trưởng các chỉ tiêu thể chất Nam Sau 130 3.3 So sánh sự tăng trưởng các chỉ tiêu thể chất Nữ Sau 130

3.4 Mức độ hài lòng của hội viên về dịch vụ hiện tại

3.5 Sự biến đổi số lượng hội viên trong các loại hình 137 3.6 So sánh lợi nhuận của 2 CLB TTGT tại 2 thời điểm

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

Khi cuộc sống ngày càng được cải thiện thì nhu cầu hoạt động TTGT rất cần thiết cho mọi người, đặc biệt là trong học sinh, sinh viên Việc hoạt động TDTT đem lại sức khỏe thể chất, tinh thần Do đó việc hình thành các câu lạc bộ TTGT trong trường Đại học& Cao đẳng là điều rất cần thiết đối với học sinh, sinh viên và cũng như cho mọi người

Câu lạc bộ TTGT thành lập với mục đích là tạo điều kiện vào thời gian rảnh rỗi cho sinh viên tham gia vui chơi rèn luyện sức khỏe và giải trí Ở các nước tiên tiến thì hoạt động câu lạc bộ TTGT được phần lớn thanh thiếu niên tham gia hưởng ứng tích cực [93] Nghiên cứu cho thấy trên 70% số thanh thiếu niên thời gian rảnh đều tham gia các

hoạt động TTGT Ngoài ra, hoạt động của câu lạc bộ, đặc biệt là trong học sinh, sinh viên

là hình thức của các hoạt động tự nguyện tham gia trong trường cũng như ngoài xã hội Nhu cầu hoạt động TTGT của thanh niên có vị trí quan trọng trong xã hội và hình thành

các kỹ năng, kỹ thuật các môn thể thao và khả năng giao tiếp xã hội rộng rãi [93],[27]

Trong cuộc sống hiện đại, những mục tiêu về sức khỏe là được ưu tiên hàng đầu Đặc biệt là trong môi trường giáo dục, đối với học sinh, sinh viên tham gia các hoạt động thể thao, các câu lạc bộ TTGT sẽ giúp ích cho họ giải trí lành mạnh, giảm đi các thoái quen xấu như: uống rượu bia, hút thuốc Những nghiên cứu ở các nước tiên tiến Anh, Úc…Hyoung LJ, Kye PS, Ok LM, (2000) cho rằng giới trẻ khi tham hoạt động TTGT ở các câu lạc bộ đều hướng tới một lối sống lành mạnh,có sức khỏe thể chất, tinh thần rất tốt và còn là nơi để tìm kiếm những tài năng thể thao cho nước nhà.[58]

Khái niệm TTGT xuất phát từ các nước phương Tây có nền kinh tế phát triển là một phần của các hoạt động giải trí Trong l c nghỉ ngơi, con người thích hoạt động và rèn luyện cơ thể theo ý thích, ví dụ như leo n i, bơi lội, đấu vật hay tham gia những trò chơi như kéo co, nhảy dây thun, hoặc tiến hành các cuộc thi đấu theo quy tắc vốn có của nó

Từ đó, một khái niệm mới được hình thành, đó chính là khái niệm TTGT Nếu đứng ở góc độ “khởi nguồn của thể thao là từ sự giải trí” thì TTGT có lịch s rất lâu đời Tuy nhiên, TTGT chính thức được ch trọng từ thập niên 70 của thế k 20 Vào cuối thập niên 80 của thế k 20, J.R Jelly, một nhà “xã hội học giải trí”, đã nhận định về giải trí và thể thao như sau: “Trong TTGT, người tham gia có thể tự do lựa chọn môn thể thao mình

Trang 13

thích và cảm thấy thoải mái khi chơi môn thể thao đó” Từ định ngh a này, con người tham gia chơi các môn thể thao nào thì môn thể thao đó sẽ là TTGT Việc nghiên cứu về vai trò của TTGT đối với cuộc sống, xã hội, kinh tế, lịch s … có ý ngh a quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển xã hội Hiện nay, các công trình nghiên cứu về l nh vực này vẫn được quan tâm và thường xuyên tiến hành tại các quốc gia trên thế giới

Từ khi gia nhập WTO vào ngày 11 tháng 07 năm 2007, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới [28] Với xu hướng hòa nhập và phát triển toàn cầu, ngày càng nhiều công ty, tập đoàn, tổ chức trên thế giới đầu tư vào Việt Nam, th c đẩy sự phát triển nền kinh tế của đất nước, người dân ngày càng có cơ hội, nhu cầu hưởng thụ nền công nghệ mới của thế giới trong mọi l nh vực nói chung và l nh vực văn hóa – thể thao – giải trí nói riêng Việt Nam đã có một truyền thống lịch s phát triển thể thao quần chúng lâu dài vì mục đích sức khỏe của nhân dân, tuy nhiên TTGT là một l nh vực khá mới mẻ và có xu hướng phát triển mạnh tại Việt Nam theo quy luật phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu Do đây là l nh vực khá mới, các công trình NCKH về l nh vực TTGT còn chưa nhiều, theo quan điểm và xu hướng phát triển toàn cầu hóa được công bố Ý tưởng và tổng kết về TTGT vẫn chưa được nghiên cứu và tổng kết một các đầy đủ, các hoạt động tham gia TTGT của người dân chưa được xác định và phân loại Hệ quả là các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý v mô chưa đưa ra các tiêu chuẩn nhằm xây dựng giải pháp phát triển l nh vực TTGT phù hợp với quy luật và xu hướng hội nhập thế giới trong giai đoạn hiện nay.[27],[28]

Thể thao giải trí ở An Giang nói chung, đặc biệt là TP.Long Xuyên nói riêng, tuy chỉ mới bắt đầu hình thành và phát triển nhưng đã có nhiều cơ sở TDTT có tổ chức hoạt động TTGT Những câu lạc bộ(CLB) giải trí sức khỏe đều được hình thành ở hầu hết trong các trung tâm TDTT huyện, thành phố, các câu lạc bộ TDTT do ngành TDTT thành phố hoặc huyện thị đều có hoạt động TTGT Các khu vui chơi giải trí đều đưa các môn TTGT ph hợp nhằm phục vụ cho nhiều đối tượng khác nhau tham gia tập luyện Những khu dân cư mới đều xây dựng các trung tâm TT kết hợp với giải trí, hay các huyện, thị xã

ở các khu vực có địa hình sông, đồi n i đều tận dụng địa hình để tổ chức các loại hình

Trang 14

TTGT phù hợp Trong những năm gần đây, ở hầu hết các huyện, thị đều có các cơ sở tập luyện TDTT do các doanh nghiệp tư nhân đầu tư cho các hoạt động TTGT

Trường Đại học An Giang tọa lạc ngay trung tâm TP Long Xuyên là một trong những trung tâm chính trị - kinh tế - thương mại của tỉnh An Giang và của Đồng bằng Sông C u Long, Trường đào tạo đa ngành, đa l nh vực Trường hiện có khoảng 13.000 sinh viên, học viên đang theo học các bậc học (đại học, cao học), việc tiến hành công trình NCKH nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động tham gia TTGT, cũng như những khó khăn – trở ngại của người tham gia hoạt động này là rất cần thiết, làm cơ sở để xây dựng mô hình CLB TTGT ở An Giang nói chung và cho sinh viên Đại học An Giang một cách phù hợp và khoa học

Xét thấy bối cảnh về phong trào thể dục thể thao ở các trường Đại học & Cao đẳng đồng bằng sông C u long nói chung và của trường Đại học An Giang nói riêng còn nhiều hạn chế, bên cạnh đó xét thấy nhu cầu tham gia hoạt động CLB TTGT trong học sinh, sinh viên, cán bộ lãnh đạo, viên chức và các chuyên gia của trường Đại học An Giang trong việc thành lập CLB TTGT cao Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo và phát triển các loại hình hoạt động CLB TTGT trong khu vực cũng như trong trường Đại học

An Giang, tôi chọn đề tài:

“Xây dựng mô hình câu lạc bộ TTGT cho sinh viên trường Đại học An Giang tỉnh An Giang”

Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu xây dựng mô hình câu lạc bộ TTGT phù hợp cho sinh viên trường Đại học An Giang, góp phần làm phong ph , đa dạng các loại hình hoạt động giải trí, TTGT, giúp cho sinh viên, người lao động trường Đại học An Giang nói riêng và sinh viên các trường trong khu vực đồng bằng sông C u Long có môi trường rèn luyện sức khỏe, nâng cao sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, sức khỏe xã hội được nâng cao

Mục tiêu nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, đề tài sẽ thực hiện các mục tiêu nghiên cứu cơ bản sau:

Trang 15

1- Đánh giá thực trạng các loại hình hoạt động TTGT tại An Giang và Đại học An Giang:

2 - Xây dựng mô hình câu lạc bộ TTGT cho sinh viên trường Đại học An Giang

3 - Ứng dụng và đánh giá hiệu quả hoạt động của mô hình câu lạc bộ TTGT đã xây dựng

Giả thuyết khoa học của đề tài

Đề tài xây dựng mô hình CLB TTGT và ứng dụng thực nghiệm có hiệu quả cho sinh viên trường Đại học An Giang trong việc nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần, xã hội Bằng các loại hình hoạt động CLB TTGT đã xây dựng, giúp cho sinh viên có điều kiện giải trí lành mạnh, tự tin, yêu đời, học tốt hơn đồng thời ngăn chặn các tệ nạn xã hội Qua đó gi p sinh viên trang bị hành trang vào đời một cách toàn diện

Mô hình câu lạc bộ TTGT xây dựng là phù hợp cho sinh viên sẽ góp phần tích cực giúp sinh viên trường Đại học An Giang thực hiện được mục tiêu tự đào tạo mình một cách toàn diện, đặc biệt giúp nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần và sức khỏe xã hội của bản thân

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về Thể thao giải trí

Thể thao giải trí xuất hiện và phát triển khi thu nhập của người dân tăng cao, thời gian nhàn rỗi nhiều Vì vậy nó được nhiều quốc gia nghiên cứu từ thập niên 80 của thế k trước Nói cách khác, giải trí có trước còn thể thao giải trí có sau [5]

Do sự phát triển công nghiệp, điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu của mọi người dân

ở nhiều quốc gia khác nhau nên khái niệm, phân loại thể thao giải trí ở các nước cũng chưa thống nhất hoàn toàn

Thể thao giải trí là loại hình hoạt động thể dục thể thao quần chúng có ý thức, có lợi cho sức khỏe thể chất và tinh thần của con người, được tiến hành trong thời gian tự do ngoài giờ làm việc [6]

Theo sự phát triển khoa học kỹ thuật, thời gian tự do tăng, dẫn đến sự biến đổi quan niệm giá trị và phương thức hoạt động của con người, cần s dụng thời gian có lợi Khi

ấy thể thao trở thành công cụ giải trí, trở thành tiêu chí của đời sống văn minh Thể thao giải trí ra đời có tác dụng ngày càng lớn đối với văn hóa – xã hội Thể thao giải trí chính

là thể thao trong thời gian tự do ngoài giờ làm việc [5]

Hệ thống lý luận thể thao giải trí bao gồm:

Lý luận khoa học xã hội và triết học: các nhà khoa học Mỹ cho rằng: lý luận thể thao giải trí là hướng đến lý luận tự do, lý luận xã hội giải trí Cơ sở lý luận này là cơ sở triết học, cơ sở xã hội học [6]

Lý luận khoa học tự nhiên: thể thao giải trí là hoạt động xã hội, đồng thời là sự tồn tại tự nhiên của cơ thể con người Mọi bộ phận tự nhiên của con người đều tồn tại và phát triển nhờ vận động hợp lý Bộ não con người nếu thiếu vận động sẽ bị hủy hoại; bộ phận tim mạch, hô hấp, cơ xương nếu thiếu vận động sẽ sinh ra bệnh tật Rất nhiều thành quả nghiên cứu về sinh học đã thuyết minh cho vấn đề này

Lý luận cơ bản của thể dục thể thao: thể thao giải trí có lý luận hoàn toàn phù hợp với hệ thống lý luận thể dục thể thao Thứ nhất, lý luận thể thao giải trí nằm trong hệ thống lý luận TDTT như sinh học, xã hội học, kinh tế học, lý luận chuyên ngành Thứ hai, lý luận thể thao giải trí hoàn toàn phù hợp với khái niệm cơ bản của TDTT, có tác động tổng hợp mang lại lợi ích cho con người thông qua hệ thống các bài tập, phương pháp và phương tiện tập luyện Thứ ba, hoạt động thể thao giải trí hoàn toàn phù hợp với

Trang 17

các quy luật của hoạt động TDTT: quan hệ giữa các nhân tố nội tại, quan hệ tất yếu giữa các nhân tố nội tại với các nhân tố kinh tế - xã hội bên ngoài, quan hệ tất yếu giữa các nhân tố TDTT trong nước với quốc tế Thứ tư, thể thao giải trí về cơ bản thống nhất với các phương pháp hoạt động TDTT khác: thống nhất về nguyên tắc, chiến lược cơ bản, thống nhất về các phương tiện thực hiện mục tiêu, thống nhất cơ bản về kỹ thuật và phương pháp thao tác [6]

Người ta dùng nhiều phương pháp để nghiên cứu về thể thao giải trí Phương pháp triết học thường để nghiên cứu bản chất của thể thao giải trí Phương pháp kinh tế được

d ng để nghiên cứu những quy luật về kinh tế và giá trị kinh tế của thể thao giải trí Phương pháp văn hóa học thường để nghiên cứu nguồn gốc văn hóa và giá trị văn hóa của thể thao giải trí Phương pháp mỹ học được d ng để nghiên cứu các góc độ mỹ học, nhu cầu mỹ học, giá trị thưởng thức thẩm mỹ của thể thao giải trí Các phương pháp lý luận chung cũng thường d ng để nghiên cứu cơ sở lý luận hình thành thể thao giải trí, các loại hình thể thao giải trí mới [6]

Lê Quý Phượng và cộng sự, (2017) nhận định rằng xu hướng toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới kéo theo sự phát triển kinh tế xã hội, đời sống vật chất của con người ngày càng cao dẫn đến sự thay đổi lớn về quan điểm và nhu cầu đời sống Ngày nay, con người không những có nhu cầu thích ứng với sự phát triển kinh tế xã hội,

mà còn có quan điểm thông qua thể thao để nâng cao chất lượng cuộc sống, lấy nó làm một trong những chuẩn mực để đánh giá trình độ văn hóa và sự phát triển của xã hội Với nhận thức mới, việc hiểu TTGT không chỉ để phát triển thể chất, thỏa mãn đời sống tinh thần của con người, mà còn để phát triển sức khỏe xã hội, tạo nên sự thân thiện trong quan hệ xã hội, hòa nhập cộng đồng Từ sự chuyển biến về nhận thức, hình thành động

cơ, ngày càng có nhiều người tự giác tham gia các hoạt động TTGT Đây là một l nh vực

đã có quá trình hình thành và phát triển lâu dài trên thế giới Trong những năm gần đây, TTGT cũng đã phát triển mạnh ở một số khu vực tại Việt Nam.[27]

Tại Mỹ, TTGT, chính xác hơn là TTGT hiện đại, phát triển mạnh vào n a cuối thế

k 20 Những người tham gia chủ yếu là giới trẻ, phần nhiều tham gia các môn thể thao mạo hiểm với thiên nhiên, nhằm mục đích tìm đến sự hiểm nguy để th thách bản thân, dần dần phát triển thành hoạt động thể thao Ngành công nghiệp giải trí (Recreation Industry) ở Mỹ phát triển rất nhanh và đa dạng Các tổ chức, công ty, hiệp hội giải trí cố gắng tạo ra những hình thức hoạt động trong thời gian nhàn rỗi (leisure) với mục đích lợi ích của xã hội và con người [54],[55] Tham gia trực tiếp (Direct participation) là sự trực tiếp tham gia vào các hoạt động cụ thể, thí dụ: tham gia vào 1 cuộc chạy bộ, đua xe đạp

Trang 18

leo núi, câu cá, lớp học khiêu vũ Trong khi Tham gia gián tiếp (Indirect participation)

là tham gia vào các hoạt động thể thao giải trí với tư cách là khán giả, đây là hình thức chiến lược có tác động đến ngành công nghiệp du lịch, như hình thức lôi kéo khách đến một địa điểm nào đó thông qua việc tổ chức các sự kiện thể thao – giải trí.[54][55]

Trong Tôn chỉ thành lập “Hiệp hội Chấn hưng thể thao giải trí Nhật Bản” của Cục Thể dục thể thao Nhật Bản có trình bày định ngh a TTGT như sau: “TTGT không phải là các môn thể thao đặc trưng, mà là những môn mang tính chất giải trí cao, l c chơi mang lại sự vui vẻ, thoải mái, sự cởi mở cho tâm hồn, làm tiêu tan đi mệt nhọc thì gọi là thể thao giải trí”.[78]

Các nhà khoa học Úc thì lại định ngh a TTGT là hoạt động thể chất mang tính giải trí – tiêu khiển, là những hoạt động được kết hợp tổ chức nhằm mục đích thư giãn, hoặc hưởng thụ những lợi ích từ hoạt động nỗ lực vận động, có tiêu điểm quan trọng nhất là hoạt động của con người Điều cơ bản của những hoạt động đó không thể thiếu những cuộc thi đấu và khuynh hướng luật lệ chính thức (bao gồm cả những luật lệ nhằm bảo đảm an toàn) Tại Queensland, người ta xem TTGT là một phần quan trọng của cuộc sống và là thước đo chất lượng cuộc sống, được đánh giá như hoạt động cộng đồng, tôn giáo Ở đây, tình trạng hoạt động công cộng của chính quyền là một phần chủ yếu của cuộc sống [24]

1.1.1 Các quan điểm về giải trí

Giải trí là dạng hoạt động mang tính chất tự do hơn các dạng hoạt động khác, không

hề mang tính cưỡng bức; con người có quyền lựa chọn theo sở thích, trong khuôn khổ chuẩn mực của xã hội Giải trí là bước chuyển từ những hoạt động ngh a vụ, bổn phận sang những hoạt động tự nguyện Nó đồng thời là những hoạt động không mang tính vụ lợi nhằm mục đích giải tỏa sự căng thẳng tinh thần để đạt tới sự thư giãn, thanh thản trong tâm hôn và cao hơn, đó là sự rung cảm về thẩm mỹ

Theo Đoàn Văn Ch c (1997), “giải trí là hoạt động sản xuất và tiêu dùng các tác phẩm văn hoá, là toàn bộ những sản phẩm của các l nh vực thuộc nhu cầu tinh thần Theo ngh a rộng nhất, giải trí không chỉ là viết truyện làm thơ, vẽ tranh theo sở thích, không chỉ là hoạt động nghệ thuật không chuyên hoặc tham gia các CLB năng khiếu, mà còn gồm cả giao tiếp, tâm sự, tổ chức những cuộc vui chơi [3]

Theo Đinh Thị Vân Chi (2003), “giải trí là hoạt động thẩm mỹ trong thời gian rỗi, nhằm giải tỏa căng thẳng trí não, tạo sự hứng th cho con người và là điều kiện phát triển con người một cách toàn diện về trí tuệ, thể lực và thẩm mỹ” [2]

Trang 19

Theo “Từ điển bách khoa Việt Nam”, giải trí làm cho trí óc thảnh thơi, tâm hồn thanh thản bằng một hoạt động gây được hứng th Con người có thể giải trí qua thưởng thức văn hóa nghệ thuật, qua chơi xổ số hoặc đặt cược, và đặc biệt qua hoạt động TDTT,

dụ điển hình như việc chơi thể thao, đối với cầu thủ bóng đá, đây là hoạt động nghề nghiệp, đối với công nhân là hoạt động giải trí

Như vậy, có thể nói giải trí là hoạt động có chủ đích của con người nhầm mang lại những lợi ích về thể chất và tinh thần cho người tham gia

Mục đích của giải trí là có được niềm vui, mà niềm vui là một trong những trạng thái lý tưởng của cuộc sống Niềm vui th c đẩy sự khỏe mạnh của tâm hồn và thể chất Nghiên cứu về vui chơi thư giãn từ góc độ sinh lý và tâm lý có thể th c đẩy hoạt động TDTT phát triển Sự khác biệt giữa hưởng lạc và vui chơi giải trí là ở nhân tố sáng tạo cần tránh hưởng lạc tiêu cực, nhưng lại rất cần các hoạt động vui chơi giải trí thư giãn tích cực, sáng tạo, trong đó có hoạt động TDTT.[27]

1.1.2 Các phương thức cơ bản của hoạt động giải trí

Theo nhận định của Lê Quý Phượng và cộng sự, (2017), hoạt động giải trí bao gồm

3 phương thức cơ bản sau:

- Phương thức kết hợp vui chơi thư giãn với giải trí: Phương thức này là một loại hoạt động tương đối tự do theo sự yêu thích của cá nhân để giải thoát khỏi áp lực về hoàn cảnh văn hóa và hoàn cảnh vật chất Hoàn cảnh văn hóa chỉ là các áp lực nghề nghiệp, sự phục t ng lãnh đạo, quan hệ con người hoàn cảnh vật chất là chỉ các áp lực và nhu cầu vật chất của các cá nhân và gia đình Phương thức này thường bao gồm giải trí thân thế, giải trí thực dụng, giải trí văn hóa và giải trí xã hội

- Phương thức giải trí liên quan tới văn hóa: Phương thức giải trí này bao gồm chiêu đãi, tiếp đón, xem ca nhạc, kịch, xiếc, điện ảnh, xem ti vi (entertainment) Phương thức

Trang 20

này hình thành một ngành hàng sản xuất và cung ứng các sản phẩm văn hóa giải trí Những năm gần đây, các hoạt động của TTGT cũng được đưa vào ngành hàng văn hóa giải trí

- Phương thức giải trí thực hiện thông thường: Phương thức này là các hình thức giải trí thông thường, phổ cập chủ yếu bao gồm du lịch giải trí, văn hóa giải trí, xổ số, đặt cược, TTGT Không gian giải trí của phương thức này rất rộng rãi, bao gồm khách sạn,

ăn ở, di động trên ô tô, c a hàng ăn, siêu thị, quán cafe, công viên, viện bảo tàng, ký túc

xá, các di tích hoặc các danh lam thắng cảnh, núi rừng, các loại sân thể thao, các loại rạp hát, kịch

Đặc trưng của giải trí là vui chơi thư giãn, nó là một nhu cầu của con người Thỏa mãn được nhu cầu này là để đạt được niềm vui Niềm vui và hạnh phúc càng nhiều thì tâm lý tinh thần càng được thỏa mãn Nó được xây dựng trên nền tảng vật chất nhất định, đồng thời là điều kiện của niềm vui, hạnh phúc của mọi người.[27]

1.1.3 Vị trí và đặc điểm của Thể thao giải trí

Ngay từ những năm 60-70 của thế k trước, thế giới đã bắt đầu nhận biết chức năng

về giải trí và hồi phục sức khoẻ của TDTT Nhận thức này đã ảnh hưởng đến TDTT nước

ta, thể thao giải trí bước đầu được khẳng định có vị trí trong nền TDTT nước ta tại bộ

“Luật thể dục, thể thao” được Chủ tịch Nước CHXHCN Việt Nam ký lệnh công bố số 22/2006/L-CTN ngày 12 tháng 12 năm 2006 đã coi thể thao giải trí như là một bộ phận cấu thành của TDTT quần ch ng (chương II) và đã xác định ở điều 18 là:

Nhà nước tạo điều kiện phát triển các môn thể thao giải trí nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí của xã hội

Cơ quan quản lý nhà nước về thể dục, thể thao có trách nhiệm hướng dẫn hoạt động thể thao giải trí

Đồng thời tại điều 11 của Luật cũng đã xác định: “Nhà nước có chính sách đầu tư

và khuyến khích tổ chức, cá nhân phát triển thể dục, thể thao quần chúng, tạo cơ hội cho mọi người không phân biệt lứa tuổi, giới tính, sức khỏe, tình trạng khuyết tật được thực hiện quyền hoạt động thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, vui chơi, giải trí” [19]

Vị trí của thể thao giải trí ở nước ta được khẳng định là một bộ phận cấu thành của thể dục, thể thao, nằm trong phạm vi TDTT quần chúng Nói cách khác, thể thao giải trí

là bộ phận hữu cơ của đa số các bộ phận cấu thành nên TDTT Việt Nam Tuy nhiên, thể thao giải trí vẫn có những đặc điểm riêng về phương tiện và phương pháp

Theo Dương Nghiệp Chí và cộng sự (2001), những đặc điểm đó là:

Trang 21

Đa số các phương tiện thể thao giải trí tương đối đơn giản, dễ s dụng, rất thuận tiện cho người tập Nội dung và hình thức bài tập thể thao giải trí đơn giản, cấu trúc buổi tập

và kỹ thuật của bài tập thể lực không quá chặt chẽ

Các phương pháp GDTC ứng dụng trong thể thao giải trí linh hoạt và không cần định mức chặt chẽ lượng vận động, phương pháp thi đấu linh hoạt, chủ yếu theo sự thỏa thuận của những người chơi

Các nguyên tắc về phương pháp GDTC cũng được áp dụng đơn giản và linh hoạt

Có lẽ nguyên tắc chủ yếu của thể thao giải trí là sự tham gia hoàn toàn tự nguyện, người tập luyện thể thao giải trí cần hoạt động đều đặn

Dạy học động tác trong thể thao giải trí cũng rất đơn giản, quá trình dạy học không phức tạp Người tập có thể bắt chước động tác, tự tập và hoàn thiện dần động tác

Giáo dục các tố chất thể lực chỉ là một phần mục đích cuả thể thao giải trí Thể thao giải trí không chỉ nhằm mục đích nâng cao sức khỏe thể chất mà còn nhằm mục đích giải trí và nâng cao sức khỏe tinh thần

Đa số các môn thể thao giải trí không yêu cầu cao về sân bãi, dụng cụ (trừ một số ít môn thể thao mạo hiểm, golf, bowling) Chính vì vậy, thể thao giải trí dễ đến với con người và xã hội, rất thuận tiện cho việc xã hội hóa [5], [6]

Henderson, K A., Bialeschki, M D (2005) nhận định rằng TTGT có ba đặc điểm chính:

Đặc điểm đầu tiên là liên quan đến thời gian nhàn rỗi (leisure time) Nếu không có thời gian nhàn rỗi thì người dân không có cơ hội để giải trí, nghỉ ngơi và tái tạo sức lao động Theo sự phát triển không ngừng của kinh tế xã hội, các cơ sở vật chất cũng không ngừng tăng lên, trình độ văn minh lao động xã hội của loài người ngày càng được nâng cao, từ đó thời gian làm việc giảm đi, thời gian nhàn rỗi nhiều hơn Nhu cầu tham gia TTGT cũng tăng theo, tạo điều kiện quan trọng cho TTGT phát triển

Đặc điểm thứ hai là về kinh tế Kinh doanh TTGT là ngành kinh doanh gắn kết chặt chẽ với lợi ích của toàn xã hội Nếu không có đủ điều kiện kinh tế thì dù có thời gian nhàn rỗi, mọi người cũng không thể đến với các hoạt động thể thao giải trí Khi nền kinh

tế xã hội phát triển, sẽ xuất hiện một bộ phận những người mạnh dạn làm việc và mạnh dạn chi tiêu cho nhu cầu riêng của cá nhân Điều này không chỉ giới hạn ở tầng lớp trung lưu và thượng lưu trong xã hội mà mở rộng sang đối tượng thanh niên Do đó, nền kinh tế được th c đẩy với nhiều loại hình kinh doanh, trong đó TTGT được biết đến như là một

Trang 22

trong những ngành kinh doanh đầy tiềm năng Khi kinh tế phát triển, nhu cầu về cuộc sống vật chất, văn hóa, tinh thần cũng tăng lên, tạo điều kiện cho TTGT phát triển

Đặc điểm thứ ba là TTGT phụ thuộc vào những quan điểm, tư tưởng mới của con người Nếu xã hội không có những quan niệm, tư tưởng mới thích ứng với sự phát triển thì TTGT cũng không thể nào phát triển Ngày nay, người ta không những có nhu cầu thích ứng với sự phát triển kinh tế xã hội mà còn có quan điểm nâng cao chất lượng cuộc sống thông qua thể thao, lấy đó làm một trong những chuẩn mực để đánh giá trình độ văn hóa và sự phát triển của xã hội Do vậy, ch ng ta cũng có thể nói, khi tiến hành hoạt động TTGT là tiến hành những hoạt động tự nhiên, có lợi, thỏa mãn nhu cầu hoạt động thể chất của con người và phù hợp với điều kiện kinh tế [54]

Tóm lại, TTGT gắn liền với thời gian nhàn rỗi của con người, bao hàm yếu tố kinh

tế và phụ thuộc vào quan điểm, tư tưởng thích ứng của con người

1.1.4 Sự tham gia thể thao giải trí của con người

Qua lợi ích của thể thao trong các đề tài nghiên cứu đã tác động đến sự tham gia vào các hoạt động thể thao của con người Sự tham gia đóng vai trò chủ yếu trong TTGT Tham gia TTGT được phân loại theo hướng chủ động và thụ động Tham gia thụ động là hoạt động xem TT, ngược lại, tham gia chủ động là trực tiếp hòa mình vào hoạt động thể thao đó và đòi hỏi được huấn luyện Thể thao là một hoạt động phổ biến được con người trên thế giới tham gia dưới dạng này hay dạng khác [61] Theo nghiên cứu này, các lợi ích từ việc tham gia các hoạt động thể thao đã được xác định từ trước đây Sự liên quan đến thể thao không chỉ là việc tham gia trực tiếp vào các hoạt động thể thao tích cực mà còn bao gồm những đối tượng tác động gián tiếp đến thể thao như huấn luyện viên, cán

bộ quản lý, quản trị hay các khán giả Một vài nhóm đối tượng có thể vừa được xem như

là trực tiếp tham gia thể thao nhưng mặt khác lại là gián tiếp tác động đến trong nhiều cách khác nhau Trong một số nghiên cứu khác đã xem thể thao là một phạm vi rộng hơn của các hoạt động thể chất như đi bộ nhanh, chạy bộ, khiêu vũ và một số dạng khác của thể dục Thể thao cũng bao gồm một số các hoạt động thể chất và giải trí như aerobics, dance, chạy xe đạp giải trí hay vì mục đích di chuyển, tập thể hình, đua xe hơi, câu cá, chạy bộ và đi bộ Mục đích chính trong nghiên cứu của Ifedi, F (2008b) là phát triển kiến thức của sự tham gia thể thao tại Canada như sau:[61]

- Sự tham gia thể thao do các yếu tố nhân khẩu học – xã hội (như lứa tuổi, ngôn ngữ chính, giới tính, thành phần gia đình, quá trình giáo dục, mức thu nhập, nghề nghiệp và loại hình lao động)

- Sự tham gia trong thi đấu thể thao

Trang 23

- Các mối liên hệ giữa các định hướng xã hội chung và sự tham gia thể thao (như là sức khỏe, xã hội, liên lạc cộng đồng và thời gian s dụng cho các hoạt động giải trí) Theo nghiên cứu của Fernando và Manuel (2007) về sự tham gia thể thao tại châu

Âu, họ đã đưa ra sự tương đồng quan trọng trong mô hình tham gia thể thao tại các quốc gia châu Âu Cụ thể, sự tham gia thể thao bị hạn chế bởi lứa tuổi trong hầu hết các quốc gia, và nam sẽ tham gia nhiều hơn nữ

Thu nhập người dân có mối quan hệ rõ ràng đến quyết định tham gia thể thao nhưng không liên quan đến việc giải thích về mức độ tham gia Mối quan hệ cũng không có ý ngh a thống kê trong nghiên cứu của (Brooks, 1998) Trong mối quan hệ về nghề nghiệp, theo nghiên cứu của Gratton và Taylor (1985), các biến số đại diện cho khả năng tham gia các hoạt động trong thời gian rảnh rỗi có tác động tích cực đến tần suất tham gia nhưng không phụ thuộc vào bản thân đối tượng tham gia.[51][28]

Hình 1.1: Các mức độ tham gia TTGT của con người

Việc làm khán giả hoặc tham gia thụ động được phân chia thành tình trạng hoạt động thể chất hoặc tình trạng không hoạt động thể chất, rất quan trọng đối với TT thi đấu hoặc chuyên nghiệp vì nó mang lại lợi nhuận Do đó, cần phải hiểu, trân trọng và xem khán giả là đối tượng tham gia giải trí Sự tham gia TTGT chủ động được ví như trái tim của sân đấu [81] Các nhà quản lý TT quan tâm đến việc lôi cuốn người chơi TT, các nhà sản xuất và bán lẻ cần có thể nhận ra xu hướng của các hoạt động để cung cấp quần áo và

Trang 24

trang thiết bị phù hợp Những công ty sáng suốt trong l nh vực cung cấp hàng hóa cho nhu cầu giải trí thụ động cần biết cách thay đổi kiểu cung cấp, ví dụ như cung cấp qua mạng [85] Mô hình trên mô tả các mức độ tham gia chủ động khác nhau liên quan đến các thành tố riêng biệt của TTGT Cần có sự linh hoạt để đáp ứng một loạt các nhu cầu và mối quan tâm cá nhân trong hoạt động TT Hoạt động TT không may không phải lúc nào cũng có được sự tham gia tích cực Đôi khi các tình huống không tích cực nảy sinh trong các điều kiện không thuận lợi.[81][85]

Tóm lại, sự tham gia thể thao phụ thuộc bởi nhiều yếu tố như nhân khẩu học, thời gian rảnh rỗi, tình trạng tài chính, tình trạng sức khỏe, quan điểm cá nhân hay môi trường xung quanh

1.1.5 Ứng dụng Tháp nhu cầu của Maslow (1954) trong TTGT

Theo Mannell và cộng sự, (1991); Max-Neef M (1991), các nhu cầu cơ bản của con người được xem là mang tính bản thể, có số lượng ít, có hạn và có thể phân loại được (khác với thuật ngữ kinh tế “nhu cầu” là vô hạn và không thể thỏa mãn hết) Theo lý thuyết động cơ, nhu cầu là một động lực bên trong mỗi cá nhân, có thể được xem như một trạng thái tìm kiếm sự thỏa mãn hoặc giai đoạn tâm lý không hoàn hảo dẫn đến tìm kiếm trạng thái hoàn hảo (IFER/DART, 1976).[73][77]

Theo một cách nhìn đơn giản, nhu cầu con người là điều gì đó thiếu hụt, được định ngh a là “bất cứ sự thiếu hụt gì đó trong mỗi người nảy sinh do tự ý hoặc tâm lý” (Morgan & King, 1996) Nhu cầu thường được nhắc đến ám chỉ một động cơ hoặc trạng thái nội tâm hướng đến một động cơ, ví dụ như khi buồn ngủ thì con người có nhu cầu ngủ Đây là phương pháp tiếp cận của Abraham Maslow (1943 &1968), người phân tích

về “nhu cầu cơ bản” nổi tiếng trên toàn thế giới Maslow phát triển học thuyết về động cơ của con người, trong đó ông đề cập đến một số nhu cầu quan trọng và sắp xếp theo một

hệ thống cấp bậc Có mỗi một bậc nhu cầu được đáp ứng, con người lại tìm cách thỏa mãn bậc nhu cầu tiếp theo Các cấp bậc bao gồm: Nhu cầu sinh lý, an toàn, xã hội, được tôn trọng và khẳng định bản thân Vui chơi và giải trí cũng là thành tố quan trọng thỏa mãn ít nhất là 3 bậc cao nhất trong hệ thống nhu cầu của Maslow.[75]

Theo công trình nghiên cứu của giáo sư tâm lý học Abraham Maslow, nhu cầu của con người có thể ra thành 5 nhóm cơ bản như sau:

Trang 25

Hình 1.2: Tháp nhu cầu Maslow (năm 1954)

Theo lý thuyết Maslow, mỗi cá nhân sẽ cần được thỏa mãn những nhu cầu theo các cấp độ từ 1 tới 5 Khi đã đạt được 1 nấc nhu cầu căn bản, cá nhân sẽ mong muốn được thỏa mãn nấc nhu cầu cao hơn.[74]

Mức 1 - Nhu cầu sinh tồn cơ bản Đây là các nhu cầu cơ bản nhất để con người có thể tồn tại được trong xã hội như : ăn, uống, thở - hoạt động, đi lại - ngủ, nghỉ ngơi - suy ngh

Mức 2 - Nhu cầu về an toàn cá nhân Đây là nấc nhu cầu thứ 2 của con người, là các điều kiện cần thiết để duy trì sự an toàn của cá nhân trong xã hội như: nhà ở - giày dép, quần áo - phương tiện đi lại - công việc (thu nhập) - các kiến thức nền tảng (đọc, viết) Mức 3 - Nhu cầu được chấp nhận và yêu thương Hầu hết các xúc cảm tốt được tạo

ra từ những mối quan hệ tương tác giữa người với người, do vậy cá nhân luôn có nhu cầu được thuộc về một tập thể lớn để được chia sẻ, được yêu thương, Hình 1.2 Tháp nhu cầu Maslow (năm 1954) được đóng góp Mỗi cá nhân cùng lúc có thể tham gia vào nhiều tập thể khác nhau T y theo các đặc thù riêng về chủng tộc, giới tính, địa phương, ngành nghề, tôn giáo mà cá nhân sẽ chọn cho mình những tập thể phù hợp.[74]

Mức 4 - Nhu cầu được tôn trọng Khi cá nhân đã là thành viên trong tập thể, nấc nhu cầu kế tiếp là “được tôn trọng” - nói cách khác là “Địa vị xã hội” Địa vị xã hội cao

sẽ cho phép cá nhân được tác động, sai khiến người khác làm công việc thay cho họ, tuân phục họ, ca ngợi họ Theo tư tưởng phong kiến của Châu Á thì loại nhu cầu này được coi như nấc cuối cùng của xã hội

Mức 5 - Nhu cầu hiện thực hóa bản thân Nhu cầu này chính là nấc nhu cầu cao nhất của con người - Được làm “những điều v đại - có ý ngh a lớn lao – tác động đến xã hội”

- Được xã hội ghi nhận Trong xã hội Phương Tây, nhu cầu này đặc biệt được coi trọng

Trang 26

và được khuyến khích Đây cũng chính là lý do tuy ra đời chậm hơn nền văn minh Châu

Á, nhưng xã hội Phương Tây đã có những bước phát triển vượt bậc và vượt lên dẫn đầu trong vòng chỉ vài thế k

Các loại nhu cầu trên đây thực tế chỉ là bề nổi, là mặt bên ngoài, thể hiện các loại ham muốn của con người để có được các cảm xúc tốt Trên thực tế, rất khó để tính hết được các loại nhu cầu cụ thể của con người Năm nhóm nhu cầu theo phân loại của Maslow giúp chúng ta thấy được những nhóm mục đích chính dẫn dắt các hành vi con người để hướng tới sự thoả mãn theo các tiêu chí do xã hội đặt ra

Có một số vấn đề nảy sinh khi áp dụng học thuyết của Maslow vì nhu cầu không cần thiết phải được phân cấp hay phân nhóm, thường trùng lắp và xảy ra đồng thời Tuy nhiên, học thuyết cũng gi p các nhà nghiên cứu nhận định và phân loại các kiểu nhu cầu

cá nhân khác nhau [89] Max-Neef (1991) trước đó có đề nghị “cần hiểu nhu cầu con người là một hệ thống, ch ng có tương quan và tác động lẫn nhau Trong hệ thống này không có cấp bậc (ngoại trừ các nhu cầu sống cơ bản), hơn nữa, sự bổ sung và đánh đổi

là các đặc điểm của quá trình thỏa mãn nhu cầu”

Theo Torkildsen (2005), sự thảo luận về sự tham gia giải trí đã diễn ra từ rất lâu rồi

và thường đề cập đến khái niệm “nhu cầu xã hội” do Bradshaw đưa ra (1972) Mercer (1973), McAvoy (1977) và Godbey (1976) đã áp dụng khái niệm của Bradshaw vào nghiên cứu về giải trí của mình Godbey và các nhà nghiên cứu khác đã mở rộng số phân nhóm và đưa thêm vào các mục: nhu cầu được tạo ra, thay đổi và sai lạc Lúc bấy giờ có

7 nhóm nhu cầu được cân nhắc khi cung cấp các dịch vụ giải trí Sau Maslow, có nhiều người đã phát triển thêm tháp này như thêm các tầng khác nhau, thí dụ:

+ Tầng Cognitive: Nhu cầu về nhận thức, hiểu biết: - Học để hiểu biết, góp phần vào kiến thức chung

+ Tầng Aesthetic: Nhu cầu về thẩm mỹ - có sự yên bình, ham muốn hiểu biết về những gì thuộc nội tại

+ Tầng Self-transcendence: Nhu cầu về tự tôn bản ngã - một trạng thái siêu vị k hướng đến trực giác siêu nhiên, lòng vị tha, hòa hợp bác ái

Hay đưa ra mô hình Tháp nhu cầu áp dụng cho các công ty như ở đây Tuy nhiên,

mô hình căn bản được chấp nhận rộng rãi vẫn chỉ có 5 tầng như ở trên Do đó, chơi thể

Trang 27

thao hay TTGT nhằm mục đích tăng cường sức khỏe, thư giãn tinh thần, kết bạn, được xem trọng trong cuộc sống con người Nhu cầu về sức khỏe, tinh thần và sự phát triển xã hội được giải thích rõ trong lý thuyết về tháp nhu cầu của Maslow và được áp dụng trong việc xây dựng phiếu điều tra khảo sát.[73][79][78]

1.1.6 Động cơ tham gia giải trí và TTGT

Trong TTGT và thể thao thi đấu có rất nhiều khía cạnh tạo ra sự thu h t các đối tượng tham gia Trong nghiên cứu này chỉ tập trung vào các vấn đề liên quan đến TTGT

Sự tham gia trong TTGT hay giải trí đơn thuần có sự liên quan chặt chẽ đến các động cơ của người tham gia

Theo nghiên cứu của Kraus.R (1997), các động cơ tham gia giải trí bao gồm:

1 Con người tham gia giải trí để thư giãn hay giảm bớt áp lực công việc hay các tình trạng căng thẳng khác Các hoạt động giải trí có thể là khán giả xem truyền hình, xem phim hay các dạng khác của các loại hình giải trí điện t

2 Đối với một số đối tượng tham gia, giải trí mang tính cạnh tranh, chủ động có thể cung cấp một nguồn giải trí khác làm giảm bớt tranh cãi hay thù hận, hoặc phải chống chọi lại với sự khắc nghiệt của môi trường phiêu lưu mạo hiểm

3 Một số cá nhân tham gia các hoạt động giải trí liên quan đến dịch vụ cộng đồng hay tạo điều kiện cho họ được lãnh đạo trong các tổ chức tôn giáo hay cá nhân một nhóm người Một vài người tham gia trong các hoạt động khuyến khích s dụng thể lực và sức khỏe cao độ Ngày càng có nhiều người tham gia vào các hoạt động giải trí điện t và giao tiếp gồm chơi trò chơi điện t , internet

4 Một số tham gia các l nh vực như văn hóa về âm nhạc, kịch nghệ, khiêu vũ, văn chương và nghệ thuật Khám phá một số môi trường mới thông qua các chuyến đi và hoạt động du lịch hay nỗ lực tự khám phá bản thân hay nâng cao năng lực bản thân thông qua việc không ngừng học hỏi hay các hoạt động tôn giáo đại diện cho một số động cơ giải trí quan trọng khác

5 Ngoài các động cơ quen thuộc như tìm kiếm niềm vui, sự thư giãn, người ta còn theo đuổi giải trí vì nhiều lý do khác.[49]

Động cơ giải trí bao gồm các mục tiêu cá nhân theo nhu cầu có bạn bè, thoát khỏi trạng thái căng thẳng hoặc sự buồn chán của cuộc sống thường ngày, tìm kiếm thách thức,

Trang 28

cảm giác hoàn thiện bản thân, thể lực tốt hay cám giác giải thoát tinh thần Việc tham gia giải trí còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tuổi tác, giới tính hay đặc điểm tính cách của người tham gia cũng như bản chất riêng biệt của các hoạt động (Kraus.R, 1998) Mull (2005) đặc biệt quan tâm đến đặc điểm phát triển của các nhóm tuổi, “hiểu được nhiệm

vụ và nhu cầu phát triển của các nhóm tuổi giúp các nhà chuyên nghiệp về TTGT cung cấp các hoạt động nâng cao sự phát triển thể chất, nhận thức, tình cảm và xã hội”.[81]

1.1.7 Các yếu tố tác động đến sự tham gia thể thao giải trí

Yếu tố kinh tế - xã hội Trong quan điểm của Kraus.R (1997), các yếu tố xã hội tác động đến việc th c đẩy giải trí bao gồm (1) gia tăng thời gian rảnh rỗi; (2) phát triển dân

số và sự giàu có; (3) nơi sống của người dân, đô thị hóa và ngoại ô hóa; (4) bùng nổ văn hóa, nghệ thuật trong giải trí; (5) phát triển sự quan tâm về sức khỏe, thể lực và thể thao; (6) các vấn đề liên quan đến môi trường; (7) giải trí chữa bệnh và các nhu cầu giải trí cho người khuyết tật; (8) các vai trò giải trí mới cho phụ nữ; (9) chủ ngh a đa văn hóa ở cuộc sống Mỹ và Canada; (10) hợp tác biến đổi các hoạt động thời gian rảnh rỗi, vui chơi được xem như là một ngành công nghiệp; (11) sự suy tàn các giá trị cộng đồng và gia đình truyền thống; (12) sự phát triển các tổ chức dịch vụ giải trí chuyên nghiệp.[49]

Theo Lauri (2005), kinh tế vi mô, kinh tế trung gian và kinh tế v mô có thể tác động đến sự tham gia giải trí Các khía cạnh nhân khẩu học như giới tính, lứa tuổi và nghề nghiệp là những yếu tố tác động đến quyết định tham gia thể thao và TTGT Những yếu tố khác như văn hóa địa phương, khu vực hay quốc gia cũng có thể tác động đến cách thức người dân tham gia trong các hoạt động TTGT Xã hội và cộng đồng là những nhân

tố then chốt ảnh hưởng đến sự tham gia giải trí và TTGT

Robert I, (2001) đề cập đến 3 yếu tố chính - kinh tế, xã hội và khoa học kỹ thuật – tác động đến lựa chọn giải trí Torkildsen (2005) tập hợp các yếu tố tác động việc con người dành thời gian cho giải trí bao gồm các yếu tố cá nhân, hoàn cảnh và tình huống trong đó con người tìm thấy bản thân, cơ hội và hỗ trợ các dịch vụ dành cho cá nhân Nếu con người phân biệt được hoàn cảnh và cơ hội, họ có thể chọn lựa giữa một hoạt động này và một hoạt động hoàn toàn khác.[68][89]

Trang 29

Bảng 1.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tham gia giải trí (Torkildsen, 2005)

Thời gian rảnh rỗi cho sự tham gia thể thao Trong nghiên cứu của (Ifedi, F 2008a), hầu hết người dân Canada phải bận tâm đến nhiều việc trong cuộc sống hàng ngày do đó thời gian rảnh rỗi bao gồm thời gian dành cho sự tham gia thể thao phải được lên kế hoạch một cách kỹ lưỡng trước Với những việc làm để kiếm sống, công việc nhà và chăm sóc gia đình, người dân Canada có xu hướng dành ít thời gian để giải trí Trong cuộc khảo sát xã hội năm 2005, người dân Canada s dụng trung bình 30‟/ngày cho các hoạt động thể thao chủ động Phần thời gian còn lại của ngày được d ng để làm việc, tham gia các hoạt động tình nguyện của thành phố, ngủ nghỉ, ăn uống, hoạt động giao tiếp xã hội, đọc sách báo, lướt net, xem truyền hình, đi xem phim và tham gia các hoạt động giải trí khác.[60]

1.1.8 Các khó khăn trở ngại khi tham gia hoạt động giải trí

Các khó khăn trở ngại là những vấn đề hiển nhiên trong thế giới, sự tham gia thể thao cũng không thoát khỏi những điều kiện này Theo nghiên cứu của (Kraus, 1997), có những yếu tố có khuynh hướng ngăn chặn hay hạn chế sự tham gia các hoạt động giải trí

và TTGT Điều quan trọng là không phải chỉ hiểu được lý do tại sao con người tham gia theo đuổi các hoạt động giải trí và đạt được những gì từ các hoạt động đó, mà còn phải nắm được nguyên nhân gì làm cho họ không nắm bắt những cơ hội đó MacGuire và

Trang 30

O‟Leary đưa ra một số trở ngại chính làm hạn chế sự tham gia chung như là thiếu thời gian rảnh rỗi, sự quan tâm, khả năng tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị/dụng cụ hay các kỹ năng TTGT Trong mỗi trường hợp, họ đề nghị một số chiến lược có thể áp dụng

để giảm khó khăn và th c đẩy sự tham gia, như là tăng cường giáo dục về giải trí công cộng, lập kế hoạch/thời gian biểu linh hoạt cho chương trình, giảm chi phí hay phạm vi trượt giá, và tăng cường thêm các địa điểm hay các cơ sở vật chất giải trí thích hợp.[49] Trong nghiên cứu của (Scott và Munson, 1994) về các đối tượng tham gia giải trí tại công viên Greater Cleverland, thu nhập là trở ngại lớn nhất đến sự tham gia của du khách

“Nhu cầu s dụng của các công viên bị hạn chế bởi lo lắng về tội phạm, thiếu bạn cùng tham gia, sức khỏe kém, các vấn đề về phương tiện vận chuyển, và chi phí.” Một số lượng không nhỏ tuyên bố rằng “sẽ tham gia nếu họ được đảm bảo an toàn hơn, chi phí liên quan đến công viên giảm, và họ được hỗ trợ trong việc chăm sóc trẻ em hay các thành viên khác trong gia đình.”[86]

Một số nghiên cứu tương tự về các khó khăn trở ngại liên quan đến đối tượng trưởng thành Trong nghiên cứu của Mannell và Zuzanek (1991), họ đã nhận ra một số lượng các yếu tố hạn chế sự tham gia do những người lớn tuổi, nhiều người già không tham gia vào các hoạt động giải trí do sức khỏe kém, sợ tội phạm, thiếu bạn tham gia

c ng, phương tiện vận chuyển nghèo nàn, thái độ không rõ ràng của các chương trình do nhà tổ chức tài trợ.[73]

Kraus.R (1997) cũng tuyên bố một số nghiên cứu đề nghị một số lượng lớn các yếu

tố xã hội và cá nhân liên quan đến quy trình chọn lọc và tham gia các hoạt động giải trí Những yếu tố này bao gồm các nhân tố như lứa tuổi, giới tính và chủng tộc Ngoài ra, các khó khăn trở ngại còn liên quan đến các yếu tố tài chính, khả năng thể chất và tinh thần, thiếu kỹ năng hay không cảm thấy tự tin, hoặc nỗi lo sợ bị người khác từ chối.[49]

1.1.9 Một vài khái niệm có liên quan thể thao giải trí

Vui chơi thư giãn:

Vui chơi thư giãn là đặc trưng của hoạt động giải trí, nó là một nhu cầu của con người Thoả mãn nhu cầu này là để đạt được niềm vui Nghiên cứu về vui chơi thư giãn, chính là quá trình làm thế nào để có được niềm vui Niềm vui và hạnh phúc càng nhiều thì tâm lý, tinh thần càng được thoả mãn Nó được xây dựng trên nền tảng vật chất nhất định, đồng thời là điều kiện của niềm vui, hạnh phúc của mọi người

Mục đích của vui chơi thư giãn là niềm vui, mà niềm vui là một trong những trạng thái lý tưởng của cuộc sống Niềm vui th c đẩy sự khoẻ mạnh của tâm hồn và thể chất

Trang 31

Nghiên cứu về vui chơi thư giãn từ góc độ sinh lý và tâm lý, có thể th c đẩy hoạt động TDTT phát triển

Từ một góc độ nào đó thì thể thao và thư giãn là một Niềm vui chính là một loại cảm giác, nó là sự ước vọng của mọi người, dần dần trở thành một lời cầu chúc trong cuộc sống và hoạt động thể thao dân gian phương Đông đa số là các hoạt động tổ chức vào các ngày lễ tết, mang đến cho mọi người niềm vui và sự đoàn kết trong cuộc sống Vui chơi thư giãn là hoạt động ngoài quá trình lao động sản xuất Niềm vui là một hiện tượng tâm lý, nguyên nhân dẫn đến niềm vui và con đường để đạt được nó rất đa dạng Từ sau thế k 19, con người đã bắt đầu nghiên cứu về trạng thái niềm vui Niềm vui trong TDTT chủ yếu bao gồm cảm giác thoả mãn về tri thức, cảm giác vui vẻ, hưng phấn khi trình độ kỹ thuật được nâng lên Chơi thể thao là thư giãn, xem ca nhạc là thư giãn, đọc tiểu thuyết là thư giãn Tác dụng của các hoạt động thư giãn trên đều là đem lại niềm vui cho con người Ngoài ra, khi tham gia hoặc xem người khác chơi thể thao, người ta sẽ hoà mình vào môi trường giải trí thuần tuý mà không phải bận tâm đến hoạt động thường ngày, thậm chí quên hết tất cả L c đó con người có niềm vui là những trải nghiệm về cuộc sống Vậy, vui chơi thư giãn là hoạt động mang đến niềm vui, thoải mái cho con người.[23]

Giải trí:

Nói về giải trí, nhiều từ điển đều giải thích với hàm ý, đó là sự thoải mái, vui vẻ Từ điển Bách khoa đã đưa ra khái niệm giải trí là: “làm cho trí óc thảnh thơi, tâm hồn thanh thản bằng một hoạt động gây được hứng th ” [34]

Theo Trương Hồng Đàm, thuộc tính cơ bản của khái niệm giải trí là thuộc về yếu tố tinh thần, làm tiêu tan phiền muộn, nảy sinh khoái cảm [10]

Nói đến giải trí chúng ta không thể không đề cập đến các phương thức giải trí, bởi

nó sẽ làm chúng ta hiểu rõ hơn khái niệm giải trí

Theo Dương Nghiệp Chí và cộng sự, giải trí có 3 phương thức:

Một là, giải trí gắn liền với vui chơi thư giãn Phương thức này thường bao gồm giải trí thân thể, giải trí thực dụng, giải trí văn hóa, giải trí xã hội

Hai là, giải trí liên quan tới văn hóa Giải trí này thường gắn liền với các sản phẩm văn hóa giải trí như chiêu đãi, đón tiếp, xem ca nhạc, kịch xiếc, điện ảnh, tivi

Ba là, giải trí hiện thực thông thường Đó là giải trí có tính phổ cập, chủ yếu bao gồm du lịch giải trí, văn hóa giải trí, xổ số, đặt cược, thể thao giải trí [5]

Thể thao giải trí không chỉ bao hàm các phương tiện hoạt động thể lực, còn bao hàm các phương tiện hoạt động trí tuệ, thư giãn, thưởng thức thi đấu biểu diễn, cổ vũ thi đấu

Trang 32

biểu diễn Như vậy, thể thao giải trí được coi là phương thức sinh hoạt giải trí, văn minh, sức khỏe và khoa học của con người

Ở nước ta, một số nội dung các loại hình thể thao giải trí mới được hình thành và phát triển chủ yếu ở thành thị: Bowlling, Golf, bóng chuyền mềm, thể thao dưới nước, thể thao điện t , du lịch thể thao…; Tại một số Trường đại học TDTT đã bắt đầu đào tạo cán

bộ về thể thao giải trí (Trường đại học TDTT thành phố Hồ Chí Minh; Trường đại học TDTT Đà Nẵng)

Phân loại giải trí, theo Trương Hồng Đàm, giải trí có thể phân làm hai loại lớn: giải trí thưởng thức và giải trí thao tác [10]

Giải trí thưởng thức có thể bao gồm thưởng thức bằng mắt, thưởng thức bằng tai và thưởng thức tổng hợp Giải trí thao tác tùy theo mức độ tham gia hoạt động của cơ thể mà

có thể phân thành hai loại: giải trí tùy cảm và giải trí hậu cảm Giải trí tùy cảm đó là sự cảm nhận sự khoan khoái ngay trong quá trình phát huy thể năng, nỗ lực ý chí của mình Còn giải trí hậu cảm, đó là sự cảm nhận khoan khoái khi phát huy cao độ thể năng và nỗ lực ý chí trong quá trình hoạt động và mang lại thành công

Cũng theo Trương Hồng Đàm, giải trí liên quan đến thể dục, thể thao, chủ yếu là giải trí thao tác, còn giải trí thưởng thức đại bộ phận thuộc về người ngoài cuộc hoạt động TDTT, giải trí hậu cảm chủ yếu nói về phạm vi TDTT thi đấu; chỉ có giải trí tùy cảm và thể thao giải trí là rất gần gũi (sơ đồ 1.1)

Sơ đồ 1.1 Phân loại giải trí (theo Trương Hồng Đàm [10])

Theo Trương Hồng Đàm thì thể thao giải trí là thuộc phạm trù của giải trí, bao gồm

cả giải trí thưởng thức và giải trí thao tác Tất nhiên, giải trí thao tác gắn liền với hoạt động TDTT, còn giải trí thưởng thức thì nằm ngoài hoạt động TDTT

Trang 33

Như vậy, giải trí thao tác là sự giải trí, trong đó yêu cầu người tham gia phải dùng những phương tiện có liên quan (bài tập thể lực) để tiến hành hoạt động, ngh a là phải tập luyện Qua đó mà cảm nhận được những khoái cảm của mình trong vận động hoặc sau vận động

Còn giải trí thưởng thức là giải trí được tạo nên bởi những hoạt động TDTT của người khác (thi đấu, biểu diễn) mà cảm nhận được những khoái cảm khác nhau Giải trí thưởng thức trong trường hợp này không khác gì giải trí phổ biến trong văn hóa, nghệ thuật như xem văn nghệ, đọc sách, xem biểu diễn Do đó giải trí thưởng thức có thể bao gồm giải trí thưởng thức bằng văn hóa, giải trí thưởng thức bằng nghệ thuật và giải trí thưởng thức bằng TDTT Hay nói một cách khác, đó là sự hưởng thụ về văn hóa, nghệ thuật, TDTT [10]

Thể thao giải trí và sự gắn kết giải trí với TDTT

Không ít tác giả cho rằng TDTT không chỉ để phát triển thể chất, nâng cao sức khỏe thể chất mà còn để phát triển sức khỏe tinh thần, thỏa mãn đời sống tinh thần của con người [5], [7], [6], [16], [36],[1], [11],[96]

Những khái niệm về các l nh vực TDTT khác đã có khá nhiều người đề cập như TDTT, GDTC, TDTT trường học, thể thao [18], [22], [21]

Bùi Xuân Mỹ và Phạm Minh Thảo thì cho rằng thể thao thường là một bộ phận giải trí của con người ở thế k XX Đối với một số người, đó là một cách phát triển cá nhân hay thư giãn, đối với một số người khác lại là một phương tiện thành đạt Và phong trào tham gia trực tiếp hoạt động thể thao cũng phát triển cùng với tình hình gia tăng thì giờ rảnh rỗi Theo hai tác giả này, người ta đến với thể thao rất đa dạng tùy theo sự say mê ham thích của từng người [21]

Theo Trương Minh Lâm (2000), công hội triển khai hoạt động văn thể dễ nghe, dễ nhìn, có tính quần chúng, làm cho công chức trong hoạt động có tinh thần phấn khởi, điều tiết sinh hoạt, thân tâm mạnh khỏe, tinh thần thăng hoa, thể lực được nghỉ ngơi [20] Theo Dương Nghiệp Chí và cộng sự, thể thao giải trí là loại hình hoạt động TDTT

có ý thức, có lợi cho sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần của con người, được tiến hành trong thời gian tự do, ngoài giờ làm việc [5] Thể thao giải trí còn là hoạt động TDTT tự giác, vừa sức, trong v ng năng lượng ưa khí (đủ oxy, không bị nợ oxy) Thể thao giải trí không chỉ bao hàm các phương tiện hoạt động thể lực mà còn bao hàm các phương tiện hoạt động trí tuệ, thư giãn, thưởng thức thi đấu biểu diễn, cổ vũ thi đấu biểu diễn, trong đó có s dụng các phương tiện công nghệ cao

Trang 34

Trong một quan niệm khác, dưới góc độ kinh tế, Dương Nghiệp Chí và cộng sự lại cho rằng: thể thao giải trí là ngành hàng kinh tế dịch vụ đáp ứng nhu cầu nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần của xã hội

Trong bài viết của Lương Kim Chung có giới thiệu nhận định của nhà xã hội học J.R Jelly về thể thao giải trí như sau: “người tham gia thể thao giải trí có thể tự do lựa chọn môn thể thao mình thích và cảm thấy thoải mái khi chơi môn thể thao đó” [6] Và ông cũng giới thiệu quan niệm về những môn thể thao giải trí của hiệp hội chấn hưng thể thao giải trí Nhật Bản cho rằng: “thể thao giải trí là những môn thể thao mang tính giải trí cao Ví dụ: golf, đua xe, lướt sóng L c chơi nó mang lại sự vui vẻ, thoải mái, sự cởi mở cho tâm hồn, tiêu tan đi mệt mỏi Và theo Lương Kim Chung, “bất luận môn thể thao nào rèn luyện sức khỏe thường nhật hàng ngày và lý tưởng nhất đều có ý ngh a về mặt giải trí” [6]

1.2 Thể thao giải trí và Sức khỏe

Tổ chức y tế thế giới (WHO, 1946) đưa ra quan điểm sức khỏe là “Trạng thái toàn diện về thể chất, tinh thần và sự thịnh vượng xã hội” Trong khi định ngh a này gợi lên một giấc mơ không tưởng, nó cũng có giá trị đưa ra 1 tầm nhìn về sức khỏe không chỉ là không bệnh tật Trạng thái khỏe mạnh không phải là bất biến, một số yếu tố nhất định có thể duy trì hay làm tăng tình trạng sức khỏe và cũng có những yếu tố làm suy giảm sức khỏe Trong đó, việc tập luyện TDTT là những hoạt động có lợi cho sức khỏe Trong quá khứ, thể thao không phải là mục tiêu phát triển sức khỏe, cho đến cuối thế k 19 với câu châm ngôn của Juvenal “mens sana in corpore sano” có ngh a: một tinh thần khỏe mạnh trong 1 cơ thể cường tráng, đã hình thành một quan điểm mới về tập luyện TDTT khi những lợi ích của TDTT được thừa nhận Quan điểm này ngày càng chứng tỏ rõ ràng hơn khi hiện tượng cơ giới hóa và tự động hóa của xã hội xuất hiện, có ngh a là các hoạt động thể chất trong l c lao động bị giảm sút và lối sống ít vận động bắt đầu biểu lộ một số tác hại.[27],[28]

Tham gia vào tất cả các hoạt động mà cơ thể phải tiêu hao năng lượng nhiều hơn trạng thái nghỉ ngơi, vận động thể chất bao gồm không chỉ là thể thao mà còn là các trò chơi vận động, đi bộ, khiêu vũ, bơi lội Đặc điểm của hoạt động thể chất là tần số, cường

độ và khối lượng

Bùi Trọng Toại, (2011) cho rằng khá nhiều nghiên cứu cho thấy TDTT làm tăng tuổi thọ và giảm số ngày nghỉ việc do bệnh tật Tuy nhiên, thể thao cũng có tác động tiêu

Trang 35

cực đến sức khỏe, thí dụ, các chấn thương xảy ra trong hoạt động thể thao hay vì thành tích các VĐV đã vận dụng tất cả những cách thức có thể (như doping) để đạt được thành công trong thi đấu Trong trường hợp này thì lợi ích của thể thao đối với VĐV và xã hội cần phải xem xét lại.[28]

1.2.1 Chức năng Thể thao giải trí

* Chức năng sức khỏe của TTGT

Sức khỏe là vốn quý của con người Ai cũng mong muốn có một cơ thể khỏe mạnh, tràn đầy năng lượng Ai cũng muốn có cuộc sống hạnh ph c và thành đạt Theo tổ chức y

tế thế giới (WHO) “sức khỏe là một trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần

và xã hội chứ không phải là một tình trạng không có bệnh hoặc tàn tật”.[66]

Như vậy, sức khỏe gồm ba mặt: sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và sức khỏe

xã hội, bao gồm các yếu tố sau đây:

- TTGT nâng cao sức khỏe thể chất:

+ Thời gian tự do: Trong xã hội hiện đại với sự phát triển của công nghệ thông tin

đã làm cho thời gian nghỉ ngơi nhiều hơn và thời gian làm việc ngắn đi, gi p cho con người có thời gian tự do để giải trí nhiều hơn TTGT là một hoạt động được lựa chọn để nhằm nâng cao sức khỏe về mặt thể chất trong thời gian tự do của các ngày làm việc + Tự giác: TTGT là một hoạt động tích cực của cá nhân hoặc tập thể Số giờ nghỉ trong một ngày, số kỳ nghỉ trong năm càng nhiều, mọi người tự lập kế hoạch tham gia các hoạt động TTGT ở nhà, ở các CLB, trung tâm TDTT hoặc tổ chức các hoạt động TTGT ở xa nhà như: cắm trại, du lịch sinh thái, du lịch thể thao , các hoạt động tích cực này mang tính tự giác xuất phát từ nhu cầu nâng cao sức khỏe thông qua các hoạt động TTGT

+ Vừa sức: Các môn có vận động trong TTGT đều mang tính vừa sức cho các đối tượng tập luyện Các hoạt động vừa sức này giúp nâng cao chức năng của hệ tuần hoàn,

hệ hô hấp, hệ cơ xương , gi p cho cơ thế thải ra các chất độc bị tích lũy trong quá trình lao động Nhiều công trình nghiên cứu trong l nh vực TDTT cho thấy người tập luyện, vận động vừa sức có thế giúp chữa khỏi các bệnh như: mất ngủ, huyết áp, đau khớp, suy nhược thần kinh

+ Năng lực ưa khí: Là chỉ tiêu để đánh giá sức bền vận động của mỗi người Tham gia tập luyện các môn TTGT như đi bộ, chạy, bơi lội, leo n i, đua thuyền với thời gian kéo dài gi p cho cơ thể nâng cao năng lực ưa khí làm tăng sức bền vận động, giúp cho

Trang 36

con người không những có sức khỏe thể chất tốt mà còn tạo ra khả năng làm việc kéo dài, bền bỉ.[27]

-TTGT mang lại sức khỏe tinh thần:

+ Thời gian bất kỳ: TTGT có thể gi p cho con người hoạt động để nâng cao sức khỏe tinh thần ở bất kỳ thời gian nào Ngoài việc tập luyện để nâng cao sức khỏe thế chất

và sức khỏe tinh thần trong thời gian tự do thì con người có thế tham gia TTGT đế nâng cao sức khỏe ở bất kỳ thời gian nào mà mình muốn Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, internet, các phương tiện thông tin đại ch ng, con người có thể vừa làm việc vừa giải trí và có thế vừa giải trí vừa làm việc

+ Thư giãn: Sau những lúc làm việc mệt nhọc TTGT là hoạt động tạo sự thoải mái

về tâm lý, niềm vui, thoải mái về tinh thần , sự thư giãn do TTGT mang đến giúp cho con người giảm bớt căng thẳng, lo ngh trong cuộc sống hằng ngày, nâng cao sức khỏe tinh thần

+ Thường thức cổ vũ: Các hoạt động TTGT mang tính chất thưởng thức cổ vũ như: xem bóng đá, xem các môn thể thao nghệ thuật, đua ngựa gi p cho con người hưng phấn, tạo tâm lý xúc cảm, đam mê với các hoạt động thể thao mà mình ưa thích Đó cũng

là niềm vui tạo sự sảng khoái tinh thần gi p cho con người nâng cao sức khỏe tinh thần của mình

+ Căng thẳng trong làm việc, trong cuộc sống là nguyên nhân chủ yếu trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra những trạng thái stress cho con người Có hai loại stress: stress đau đớn liên quan đến sự thất bại (đau khổ, buồn rầu, bi quan ) và stress hưng phân: có liên quan đến cảm xúc tích cực như vui mừng, phấn khởi TTGT gi p cho con người giảm stress đau đớn, chuyến từ cảm xúc tiêu cực sang cảm xúc tích cực, đem lại hưng phấn cho con người và tạo một sức khỏe tinh thần tốt

- TTGT tác động đến sửc khỏe xã hội:

Sức khỏe xã hội là sự thoải mái của con người có được trong các mối quan hệ xã hội, cộng đồng sinh sống TTGT là một phương tiện gi p cho con người khỏe mạnh khi hòa nhập với cộng đồng, tạo được sự thân thiện với mọi người và nhận được sự yêu thương đồng cảm, chia sẻ của cộng đồng, càng có nhiều người tham gia các hoạt động mang tính xã hội trong đó lấy TTGT là điều kiện để hoạt động giao lưu thì càng có nhiều người có sức khỏe xã hội tốt

Trang 37

* Chức năng xã hội của TTGT

-TTGT đáp ứng nhu cầu xã hội về s dụng hợp lý thời gian tự do:

Xã hội phát triển qua các thời kỳ, thời gian tự do của con người ngày càng tăng lên

S dụng thời gian tự do có ích cho cuộc sống bắt đầu hình thành như một nhu cầu xã hội trong xã hội hiện đại

Trong thời đại công nghiệp, lao động trí óc của con người tăng dần, làm giảm thiểu

sự vận động cơ bắp Do đó, nhu cầu giải trí thông qua hoạt động TDTT là biện pháp nghỉ ngơi tích cực Giải trí có nội dung hoạt động TDTT gi p cho con người có sự hứng thú trí

óc thảnh thơi, tâm hồn thanh thản, có được sự sảng khoái vui vẻ Đây là cơ sở để hình thành thói quen tập luyện TDTT, thói quen vận động suốt đời và là nhu cầu thực sự của cuộc sống con người

TTGT gi p đáp ứng nhu cầu xã hội về s dụng thời gian tự do một cách hợp lý, giúp nâng cao sức khỏe, thể lực và xu thế phát triển mới để hình thành một xã hội văn minh, lành mạnh

-TTGT góp phần giáo dục nhân cách:

Nhân cách con người là phương thức sống của cá nhân, được thể hiện trong mối quan hệ liên kết, phối hợp nhau cùng sống và làm việc nhằm đáp ứng mục tiêu của mỗi người và cộng đồng TTGT gi p cho con người đến gần với nhau để hình thành các mối quan hệ xã hội và hình thành nhân cách:

+ TTGT là loại hình hoạt động tích cực, lành mạnh, vui vẻ

+ TTGT đem lại hiệu quả cao về thể chất, tinh thần cho con người, giúp giảm bệnh tật hoặc chữa khỏi bệnh tật

+ Thi đấu TTGT mang tính cạnh tranh gi p con người hướng tới niềm tin chiến thắng, sự tự tin, nghị lực

+ TTGT yêu cầu phải có k cương trong hành động, tuy nhiên hướng cho con người

sự tự do, tự giác lựa chọn hoạt động yêu thích của mình

+ TTGT đòi hỏi mọi thành viên khi tham gia phải có ý thức cộng đồng cao, ý thức phối hợp tập thể cao, đặc biệt ở những nội dung TTGT tập thể

+ TTGT góp phần xây dựng chuẩn mực đạo đức và lối sống

Như vậy, chức năng xã hội của TTGT cho thấy: việc s dụng thời gian tự do một cách hợp lý cùng với việc góp phần giáo dục nhân cách con người sẽ tạo nên một nếp sống văn hóa, văn minh

Trang 38

* Chức năng kinh tế của TTGT

Kinh doanh thể thao, trong đó chủ yếu là kinh doanh TTGT bao gồm thương mại và dịch vụ Thị trường TTGT chiếm một t trọng lớn trong thị trường thể thao Các nhà kinh doanh dựa vào TTGT để phát triển thị trường, đưa ra nhiều hàng hóa, dịch vụ đa dạng Thương mại trong TTGT bao gồm mua bán các sản phẩm sau: trang phục vận động theo môn TTGT; thiết bị, dụng cụ của các môn TTGT; thực phẩm thể thao; ấn phẩm để hướng dẫn; tuyên truyền TTGT; đồ lưu niệm thể thao; s dụng công trình thể thao Thương mại và dịch vụ TTGT là ngành kinh doanh tập trung chủ yếu vào việc tổ chức các hoạt động vui chơi, thư giãn cho con người Kinh doanh TTGT là ngành kinh doanh sôi động với nhiều cơ hội việc làm và sự tham gia của nhiều người ở các l nh vực khác như: quản lý, tài chính, kế toán, tiếp thị, luật pháp, an ninh

Với chức năng kinh tế của mình, TTGT tạo ra ngành kinh doanh gắn kết chặt chẽ với lợi nhuận toàn xã hội TTGT phục vụ cho nhu cầu mới của con người, vì vậy, kinh doanh TTGT có nhiều cơ hội và tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong những năm tới [27]

1.2.2 Phân loại Thể thao giải trí

Dương nghiệp chí và cộng sự (2001) nhận định rằng tùy theo sự phát triển công nghệ, điều kiện và nhu cầu giải trí của mỗi quốc gia, sự phân loại thể thao giải trí chưa thật thống nhất [5]

Phân loại theo trạng thái thân thể:

Hoạt động thưởng thức: Chủ yếu thưởng thức thi đấu và biểu diễn đem lại sự xúc cảm của hệ thần kinh - tâm lý

Hoạt động ở trạng thái tương đối yên t nh: Những nội dung ít vận động thân thể, chủ yếu vận động trí não hoặc vận khí (cờ vua, cờ tướng, khí công…)

Vận động giải trí ngoài trời như đi bộ thăm danh lam thắng cảnh, di tích lịch s ; leo

n i, vui chơi công viên, xe đạp đường trường…

Trang 39

Vận động có kỹ năng và thể lực: vũ đạo thể thao, thể dục nhịp điệu, các môn võ, điền kinh, thể dục nghệ thuật, võ cổ truyền dân tộc, Vovinam…

Hoạt động thi đấu trò chơi: Các môn bóng như Tennis, bóng chuyền 2 người, bóng chuyền mềm, bóng rổ 3 người, bóng đá trong nhà, bóng bàn, cầu lông, bóng tường, các trò chơi vận động, trong đó có trò chơi vận động dân gian

Vận động trên biển, trong nước, trên băng tuyết: các môn như bơi lội, nhảy cầu, lướt ván, trượt băng, đua thuyền…

Vận động điều khiển mô hình điện t : mô hình máy bay, tàu lượn, tàu thủy, Sport games…

Phân loại theo năng lực thân thể:

Loại vận động thể lực

Loại vận động sức bền: chạy, leo n i, đi bộ tham quan du lịch, đua thuyền, bơi lội… Loại vận động tốc độ: Xe trượt dốc, trượt cỏ, trượt băng, trượt tuyết… Loại vận động kỹ năng

Loại đối kháng: Bóng chuyền 2 người, bóng tennis mềm, bóng đá mini, bóng rổ 3 người, Taekwondo, Karate…

Loại thi đấu biểu diễn: Nhảy dù, bắn cung, thể dục nhịp điệu, thể dục nghệ thuật, vũ đạo thể thao

Phân loại theo cách phân định thành tích:

Loại vận động tr ng đích: bắn cung, ném phi tiêu…

Loại tính điểm: thể dục nhịp điệu, khiêu vũ thể thao, trượt băng nghệ thuật…

Loại đo thành tích: chạy, đua xe…

Loại phân định thắng thua: các môn võ…

Theo Lê Quý Phượng và cộng sự, (2017) phân loại các hoạt động TTGT chưa có sự thống nhất trên thế giới Các phân loại dựa vào các đặc điểm của TTGT như:

+ Phân loại theo năng lực vận động, trạng thái sức khỏe

+ Phân loại theo hình thức hoạt động tập thể, cá nhân

+ Phân loại theo phân định thành tích

+ Phân loại theo hoạt động có tính thưởng thức bao gồm: trạng thái yên t nh và trạng thái vận động

+ Phân loại theo hoạt động mang tính thương mại và phi thương mại

Trang 40

+ Phân loại theo không gian hoạt động: trong nhà, ngoài trời, trên không, dưới nước

+ Phân loại theo chi phí tập luyện: chi phí cao, chi phí trung bình, chí phí thấp

+ Phân loại theo hoạt động vui chơi thư giãn mang tính dân tộc, hiện đại

+ Phân loại theo đối tượng: nhi đồng, thanh thiếu niên, người trung niên, người cao tuối

Các phương thức phân loại trên chi là tương đối, không thể bao hàm đầy đủ các nội dung phong phú của TTGT Từ các cách phân loại trên, có thể tổng hợp một số cách phân loại như sau:

Phân loại các hoạt động TTGT theo trạng thái cơ thể, có 3 loại như sau:

- Hoạt động thưởng thức: chủ yếu thưởng thức thi đấu và biểu diễn đem lại sự xúc cảm của hệ thần kinh - tâm lý Trong quá trình quan sát và biểu diễn trận đấu con người

có thể biểu lộ sự tán thưởng kích động, kinh ngạc, rơi lệ, phân nộ Áp lực tâm lý sẽ được phóng thích Trong quá trình thưởng thức còn có thể học được một số kiến thức về thể thao, thưởng thức được tính hấp dẫn của nghệ thuật thể thao, hấp thu được tính đạo đức trong tinh thần thể thao

- Hoạt động ở trạng thái tương đối yên t nh: Những nội dung ít vận động thân thể, chủ yếu vận động trí não hoặc vận khí (cờ vua, cờ tướng, khí công, pocker ) Hoạt động này chủ yếu dùng trí tuệ và tâm lý Tố chất tâm lý là đặc trưng chủ yếu của hoạt động này, vừa vui vẻ và thoải mái, cởi mở Đây là phương thức giải trí được mọi người yêu thích

- Hoạt động thân thể:

+ Hoạt động vận động có sự trợ giúp của thiết bị: Người tập nhờ thiết bị có được cảm giác không gian khác lạ và sự kích thích tâm lý tối đa Đây là loại vận động kỹ xảo; con người vận dụng năng lực bản thân, mượn sự trợ giúp theo chỉ định của máy móc, thiết bị đế biểu hiện cao độ của vận động một cách linh hoạt khéo léo như trượt băng nghệ thuật, xe đạp vượt chướng ngại vật

+ Hoạt động vận động trúng mục tiêu: Vận dụng năng lực và kỹ xảo để thực hiện trúng mục tiêu, tr ng đích cần thiết (bắn cung, bowling, billiarđ, snooker, golf )

+ Vận động mạo hiểm: Đây là hoạt động giải trí mang tính thách thức với thiên nhiên nhưng phải có thiết bị bảo hộ và tổ chức chặt chẽ Con người trong lúc vận động đạt được những cảm xúc mà trong cuộc sống bình thường khó mà có được Các môn thể

Ngày đăng: 01/07/2021, 00:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Huỳnh Trọng Khải (2006), “Hoạt động TDTT với sự phát triển tầm vóc học sinh”, Tuyển tập nghiên cứu khoa học TDTT năm 2006 (Trường ĐH TDTT 1), Nxb TDTT, Hà Nội, tr.152-156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động TDTT với sự phát triển tầm vóc học sinh”, "Tuyển tập nghiên cứu khoa học TDTT năm 2006
Tác giả: Huỳnh Trọng Khải
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2006
18. Lê Văn Lẫm, Phạm Xuân Thành (2008) Giáo trình TDTT trường học, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình TDTT trường học
Nhà XB: NXB TDTT
19. Luật Thể dục thể thao và các văn bản hướng dẫn thi hành (2007), NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thể dục thể thao và các văn bản hướng dẫn thi hành (2007)
Tác giả: Luật Thể dục thể thao và các văn bản hướng dẫn thi hành
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
Năm: 2007
20. Trương Minh Lâm (2000) Văn thể công hội, Bách khoa toàn thư vui khoẻ, NXB Ấn chế công nghiệp, Bắc kinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn thể công hội, Bách khoa toàn thư vui khoẻ
Nhà XB: NXB Ấn chế công nghiệp
21. Bùi Xuân Mỹ, Phạm Minh Thảo (2000), Từ điển thể thao, NXB văn hoá - thông tin, Hà Nội. Tr688 – 690 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thể thao
Tác giả: Bùi Xuân Mỹ, Phạm Minh Thảo
Nhà XB: NXB văn hoá - thông tin
Năm: 2000
22. Matveep L.P- Nôvicôp A.D (1989), Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất, tập 2, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất
Tác giả: Matveep L.P- Nôvicôp A.D
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 1989
24. Lê Hoài Nam (2016), Nghiên cứu đặc điểm và giá trị xã hội của thể thao giải trí ở Hà Nội, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, ĐH TDTT Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án Tiến sĩ Giáo dục học
Tác giả: Lê Hoài Nam
Năm: 2016
25. Lê Quý Phượng (2015), Nghiên cứu đánh giá thực trạng và các giải pháp phát triển TTGT cho công nhân tại các KCN-KCX ở TP.HCM GĐ 2013-2020, Đề tài cấp thành phố, Sở Khoa học và Công nghệ, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài cấp thành phố
Tác giả: Lê Quý Phượng
Năm: 2015
26. Lê Quý Phượng, Đặng Quốc Bảo (2002), Cơ sở sinh lý học của hoạt động TDTT vì sức khỏe, NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh lý học của hoạt động TDTT vì sức khỏe
Tác giả: Lê Quý Phượng, Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
Năm: 2002
27. Lê Quý Phượng, Nguyễn Hoàng Minh Thuận, Lưu Thiên Sương (2017), Thể thao giải trí tại các khu công nghiệp khu chế xuất ở TPHCM, NXB ĐHQG HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể thao giải trí tại các khu công nghiệp khu chế xuất ở TPHCM
Tác giả: Lê Quý Phượng, Nguyễn Hoàng Minh Thuận, Lưu Thiên Sương
Nhà XB: NXB ĐHQG HCM
Năm: 2017
28. Bùi Trọng Toại (2011), Thực trạng và giải pháp phát triển Thể thao giải trí ở thành phố Hồ Chí Minh, Đề tài cấp thành phố, Sở Khoa học CN, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài cấp thành phố
Tác giả: Bùi Trọng Toại
Năm: 2011
29. Lâm Quang Thành, Nguyễn Thành Lâm, Nguyễn Hoàng Minh Thuận (2016), Giáo trình Đo lường Thể thao, NXB ĐHQG TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đo lường Thể thao
Tác giả: Lâm Quang Thành, Nguyễn Thành Lâm, Nguyễn Hoàng Minh Thuận
Nhà XB: NXB ĐHQG TP.HCM
Năm: 2016
31. Nguyễn Hoàng Minh Thuận, Chu Thị Bích Vân (2016). Giáo trình lý luận và thực tiễn TTGT, NXB: Đại học Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận và thực tiễn TTGT
Tác giả: Nguyễn Hoàng Minh Thuận, Chu Thị Bích Vân
Nhà XB: NXB: Đại học Quốc gia TP.HCM
Năm: 2016
32. Phạm Tất Thắng (2002), Nghiên cứu hiệu quả ứng dụng hình thức tổ chức CLB TDTT Hoàn thiện cho SV trường ĐH Ngoại Ngữ Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ, Trường ĐH TDTT 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Thạc sỹ
Tác giả: Phạm Tất Thắng
Năm: 2002
33. Lâm Quang Thành (2007). Tài sản Thể dục thể thao-Kinh doanh và quản trị. NXB TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài sản Thể dục thể thao-Kinh doanh và quản trị
Tác giả: Lâm Quang Thành
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2007
34. Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam(2005), Từ điển Bách khoa, Tập 4, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa
Tác giả: Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam
Năm: 2005
35. Nguyễn Ngọc Việt (2006), “Cơ sở lý luận xây dựng mô hình hoạt động TDTT Có hướng dẫn dành cho HS tiểu học”, Tạp chí khoa học thể thao (6), Viện Khoa học TDTT, Hà Nội, tr.37-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận xây dựng mô hình hoạt động TDTT Có hướng dẫn dành cho HS tiểu học”, "Tạp chí khoa học thể thao
Tác giả: Nguyễn Ngọc Việt
Năm: 2006
36. Viện khoa học TDTT (2002), "Nghiên cứu tiêu chuẩn thể lực chung của người VN từ 6-20 tuổi khu vực phía Bắc năm 2001”, Báo cáo tổng quan kết quả nghiên cứu dự án chương trình khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tiêu chuẩn thể lực chung của người VN từ 6-20 tuổi khu vực phía Bắc năm 2001
Tác giả: Viện khoa học TDTT
Năm: 2002
69. Karsten Elmose-sterlund, Evald Bundgồrd Iversen, (2019). Do public subsidies and facility coverage matter for voluntary sports clubs? Sport Management Review. ISSN 1441-3523: https://doi.org/10.1016/j.smr.2019.03.007 Link
99. Vanja Vitezić, Marko Perić & Jelena Đurkin Badurina (2019). Business models for active outdoor sport event tourism experiences. Tourism Management Perspectives.Vol 32, https://doi.org/10.1016/j.tmp.2019.100561 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w