1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại cục hải quan tỉnh quảng bình

102 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 885,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (11)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (12)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (13)
    • 3.1. Đối tượng nghiên cứu (13)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (13)
  • 5. Kết cấu của luận văn (15)
  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU Ở CƠ QUAN HẢI QUAN (16)
    • 1.1. Lý luận cơ bản về quản lý thu thuế xuất nhập khẩu ở cơ quan Hải quan (16)
      • 1.1.1. Khái niệm, bản chất và vai trò của thuế xuất nhập khẩu (16)
      • 1.1.2. Quản lý thu thuế xuất nhập khẩu (21)
    • 1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế XNK ở cơ quan hải quan .21 (31)
      • 1.2.1 Nhóm nhân tố chủ quan (32)
      • 1.2.2 Nhóm nhân tố khách quan (32)
    • 1.3. Kinh nghiệm Quản lý thu thuế xuất nhập khẩu ở một số nước trên Thế giới và ở một số Cục Hải quan địa phương và bài học kinh nghiệm cho Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình (33)
      • 1.3.1. Kinh nghiệm quản lý thuế XNK ở một số nước trên Thế giới (33)
      • 1.3.2. Kinh nghiệm quản lý thu thuế XNK ở một số Cục Hải quan địa phương (36)
      • 1.3.3. Rút ra bài học kinh nghiệp cho Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình (40)
    • 2.1. Tổng quan về Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình (43)
      • 2.1.1. Lịch sử hình thành, phát triển; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cục Hải (43)
      • 2.1.2. Tổ chức bộ máy tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình (43)
      • 2.1.3. Tổ chức bộ máy thực hiện công tác quản lý thu thuế XNK tại các Chi cục Hải (45)
      • 2.1.4. Khái quát bối cảnh thực hiện Quản lý thu thuế XNK gắn với các chính sách thuế xuất nhập khẩu (46)
    • 2.2. Phân tích thực trạng công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình (47)
      • 2.2.1. Hoạt động XNK trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (47)
      • 2.2.2. Thực trạng công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình giai đoạn từ năm 2012 – 2017 (48)
    • 2.3. Kết quả khảo sát các đối tượng điều tra về quản lý thu thuế XNK tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình (62)
    • 2.4. Đánh giá chung công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình (66)
      • 2.4.1. Kết quả đạt được (66)
      • 2.4.2. Những hạn chế (68)
      • 2.4.3. Nguyên nhân của hạn chế (69)
  • CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG BÌNH (71)
    • 3.1. Phương hướng và mục tiêu của Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 (71)
      • 3.1.1. Phương hướng chung (71)
      • 3.1.2. Mục tiêu của Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình (73)
      • 3.2.1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ cung cấp thông tin cho đối tượng nộp thuế và xây dựng chiến lược “tuân thủ pháp luật tự nguyện” của đối tượng nộp thuế .64 3.2.2. Xây dựng đội ngũ CBCC Hải quan đáp ứng quá trình hội nhập (74)
      • 3.2.3. Xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý thuế (77)
      • 3.2.4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra sau thông quan, khen thưởng, kỷ luật 68 3.2.5. Tăng cường mối quan hệ phối hợp với các cơ quan liên quan như Thuế, Kho bạc, Ngân hàng, Công An, Biên phòng… (78)
    • 1. Kết luận (82)
    • 2. Các kiến nghị và đề xuất (83)
      • 2.1. Đối với Chính phủ (84)
      • 2.2. Đối với Bộ Tài chính và các Bộ ngành liên quan (86)
      • 2.3. Đối với Tổng cục Hải quan (87)
      • 2.4. Đối với cộng đồng doanh nghiệp (88)

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài

Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình, thuộc Tổng cục Hải quan, chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về hải quan và thực thi pháp luật liên quan đến hải quan tại tỉnh Quảng Bình.

Trong bối cảnh hiện nay, thu thuế xuất nhập khẩu đóng vai trò quan trọng trong ngân sách nhà nước, là phương tiện thiết yếu cho hoạt động và quản lý của chính phủ Những năm qua, chính sách và cơ chế quản lý thu thuế xuất nhập khẩu đã có nhiều thay đổi tích cực, đạt được kết quả quan trọng trong việc thu ngân sách và quản lý điều tiết vĩ mô trong quan hệ kinh tế đối ngoại Điều này không chỉ góp phần ổn định tình hình kinh tế - xã hội mà còn tạo tiền đề cho nền kinh tế chuyển sang giai đoạn phát triển mới, hướng tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập.

Quản lý thuế xuất nhập khẩu là một lĩnh vực quan trọng trong quản lý nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu ngân sách nhà nước Thuế, với vai trò huy động nguồn lực xã hội, đã trở thành yếu tố thiết yếu gắn liền với sự tồn tại của Nhà nước Trong hệ thống thuế của mỗi quốc gia, thuế xuất nhập khẩu không chỉ là nguồn thu ngân sách quan trọng mà còn là công cụ điều tiết sản xuất trong nước và thúc đẩy kinh tế và thương mại quốc tế Để tối ưu hóa vai trò của thuế xuất nhập khẩu, các cơ quan nhà nước cần triển khai chính sách và quy định phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế này.

Theo hệ thống thuế của Việt Nam, thuế xuất nhập khẩu (XNK) là một trong những nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước (NSNN) và được coi là sắc thuế quan trọng Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã chú trọng hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý thuế XNK nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, bảo hộ sản xuất trong nước, thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, điều tiết hoạt động kinh doanh và định hướng tiêu dùng.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới ngày càng sâu rộng, hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất nhập khẩu cần được điều chỉnh linh hoạt và đổi mới về thẩm quyền, kỹ năng, và biện pháp quản lý Điều này nhằm phù hợp với các chuẩn mực, thông lệ và cam kết quốc tế, đồng thời vẫn đảm bảo lợi ích quốc gia trong việc thu thuế và tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Trong thời gian qua, công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu tại tỉnh Quảng Bình đã đạt được nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những vấn đề như trốn thuế, nợ đọng thuế và gian lận thương mại, gây ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước Hoạt động thanh tra, kiểm tra và kiểm soát việc chấp hành chính sách thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu chưa được chú trọng đúng mức, dẫn đến hiệu quả quản lý thuế chưa cao và sự bình đẳng trong nghĩa vụ thuế chưa được đảm bảo.

Để nâng cao hiệu quả quản lý thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình, tôi đã chọn đề tài "Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu" cho luận văn Thạc sỹ Quản lý kinh tế Luận văn này sẽ đánh giá thực trạng quản lý thu thuế xuất nhập khẩu, phân tích các hình thức gian lận thương mại và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm cải tiến công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình trong tương lai.

Mục tiêu nghiên cứu

Dựa trên việc phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình.

- Hệthống hóa cơ sởlý luận và thực tiễn về công tác quản lý thu thuếXNK tại cơ quan Hải quan;

-Phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế XNK tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình;

- Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện công tác quảnlý thu thuế XNK tại CụcHải quan tỉnh Quảng Bình.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu bao gồm hai loại chính: Số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn như báo cáo về công tác thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình, các văn bản hướng dẫn của Tổng cục Hải quan, tài liệu chuyên ngành và các nguồn liên quan khác Bên cạnh đó, số liệu sơ cấp cũng sẽ được thu thập để bổ sung cho nghiên cứu.

-Xác định quy mô mẫu

Theo các nhà nghiên cứu, kích thước mẫu tối thiểu khi sử dụng phương pháp ước lượng nên từ 100 đến 150 (Hair & Ctg 1988) Để đảm bảo tính đại diện cao hơn cho tổng thể, 120 phiếu khảo sát đã được phát ra, trong đó thu về 105 phiếu Sau khi xử lý và làm sạch dữ liệu không phù hợp, số phiếu khảo sát hợp lệ để phân tích cuối cùng là 100 phiếu.

Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu này bao gồm việc thu thập số liệu sơ cấp thông qua phỏng vấn ngẫu nhiên các doanh nghiệp hoạt động tại tỉnh Quảng Bình Bảng hỏi sẽ tập trung vào các nội dung chính như đánh giá về công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu (XNK) và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác này tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình.

Dựa trên các phương pháp chọn mẫu như chọn mẫu ngẫu nhiên và chọn mẫu phi ngẫu nhiên, cùng với thực tiễn nghiên cứu, tổng số phiếu khảo sát phát ra là 120 phiếu Trong tháng 03 và 04/2018, sau khi loại bỏ 20 phiếu không đạt yêu cầu do thiếu thông tin hoặc đáp án đồng nhất quá lớn, số phiếu hợp lệ được thu thập và đưa vào xử lý là 100 phiếu.

Dữ liệu điều tra được thu thập qua bảng hỏi đã được thiết kế sẵn, bao gồm hai phần: phần A cung cấp thông tin chung về mẫu điều tra, trong khi phần B tập trung vào nội dung khảo sát, với hệ thống tiêu chí và chỉ tiêu phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.

4.2 Phương pháp tổng hợp, xửlý sốliệu

-Dùng phương pháp phân tổthống kê đểtổng hợp và hệthống hóa tài liệuđiều tra theo các tiêu thức phù hợp với mục đíchnghiên cứu.

- Sốliệu điều tra được xử lý, tính toán trên máy tính theo các phần mềm thống kế như Excel, SPSS20.

Phương pháp thống kê mô tả được áp dụng để phân tích các đặc trưng định lượng như quy mô, cơ cấu, trình độ phổ biến và quan hệ so sánh, nhằm đánh giá chất lượng của hoạt động quản lý thu thuế xuất nhập khẩu trong khu vực nghiên cứu.

- Phương pháp dữliệu thời gian được vận dụng để phân tích động thái của hoạt động quản lý thu thuếXNKởCục Hải quan tỉnh Quảng Bình từthời kỳ2012–2017.

Phân tích đặc điểm và tính chất của các nguồn thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình thông qua phương pháp so sánh là cần thiết để đánh giá thực trạng hiện tại Việc này sẽ giúp đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thu thuế và quản lý nguồn thu.

- Sửdụng kiểm định ANOVA và test để phân tích ý kiến đánh giá của các hoạt động khảo sát.

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm có 03 chương:

Chương 1 Cơ sởlý luận và thực tiễn về quản lý thu thuế xuất nhập khẩu ở cơ quan hải quan;

Chương 2 Thực trạng quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình;

Chương 3 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tạiCục Hải quan tỉnh Quảng Bình.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU Ở CƠ QUAN HẢI QUAN

Lý luận cơ bản về quản lý thu thuế xuất nhập khẩu ở cơ quan Hải quan

1.1.1 Khái niệm, bản chấtvà vai trò của thuế xuất nhập khẩu

Theo từ điển Kinh tế học (Anh - Việt), thuế xuất nhập khẩu là loại thuế mà Chính phủ áp dụng đối với sản phẩm xuất khẩu và nhập khẩu Mục đích của thuế này là tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước và bảo vệ các ngành sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh từ các sản phẩm nước ngoài.

Giáo trình Lý thuyết Thuế của Học viện Tài chính định nghĩa rằng thuế xuất khẩu (XK) và thuế nhập khẩu (NK) là các loại thuế áp dụng cho hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Có nhiều loại thuế tại Việt Nam do hai cơ quan chính là cơ quan Thuế và cơ quan Hải quan quản lý Cơ quan Thuế đảm nhiệm việc thu thuế nội địa, trong khi cơ quan Hải quan thu thuế đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu qua biên giới.

Thuế xuất khẩu là khoản tiền mà người xuất khẩu cần nộp khi thực hiện thủ tục hải quan để đưa hàng hóa ra khỏi biên giới.

Thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu đánh vào hàng hóa nhập khẩu, nhằm đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và bảo vệ sản xuất trong nước Mục tiêu của thuế này là bảo hộ sản xuất nội địa và thu hút nguồn tài chính từ hàng hóa được phép nhập khẩu vào thị trường trong nước Thuế nhập khẩu được áp dụng khi hàng hóa qua cửa khẩu hoặc biên giới quốc gia, cũng như khi đưa từ khu phi thuế quan vào thị trường nội địa, và là một yếu tố quan trọng trong cấu thành giá cả hàng hóa.

Thuế nhập khẩu là nghĩa vụ của tổ chức và cá nhân có hàng hóa nhập khẩu, phải tuân thủ theo quy định pháp luật về mức độ và thời hạn cụ thể Việc áp dụng hiệu quả chính sách thuế nhập khẩu không chỉ phát huy chức năng và vai trò của thuế mà còn đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, thuế nhập khẩu còn là công cụ quan trọng thể hiện chính sách kinh tế đối ngoại của quốc gia trong thương mại quốc tế.

Việc sử dụng hiệu quả thuế nhập khẩu là cần thiết để phát huy đầy đủ các chức năng của nó trong hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, thuế nhập khẩu không chỉ đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế mà còn là phương tiện thể hiện chính sách đối ngoại giữa các quốc gia.

1.1.1.2 Bản chất của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Đặc điểm của thuếxuất khẩu, thuế nhập khẩu phản ánh bản chất của thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu trên hai phương diện:

Thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu là nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước, được hình thành từ hoạt động xuất nhập khẩu của cá nhân và tổ chức Việc xác định mức thuế hợp lý là cần thiết để đảm bảo không vượt quá giới hạn cho phép, nhằm tăng thu cho ngân sách và khuyến khích sản xuất kinh doanh Nếu mức thuế quá cao, doanh nghiệp sẽ không còn động lực kinh doanh chân chính, dẫn đến thất thu cho ngân sách Thực tế cho thấy, khi thuế suất cao, người nộp thuế có xu hướng trốn thuế, gây tốn kém chi phí mà không đạt được kết quả như mong muốn Do đó, việc điều chỉnh mức thuế từ 0% đến một giới hạn hợp lý sẽ giúp tăng thu ngân sách theo tỷ lệ thuận với thuế suất.

Khi thuế suất quá cao so với thu nhập, cần hạ thấp thuế suất và mở rộng diện thu thuế để bao quát toàn bộ nguồn thu Điều này không chỉ giúp tăng thu ngân sách mà còn đảm bảo công bằng xã hội trong nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước.

Thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu phản ánh mối quan hệ giữa Nhà nước và các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thương mại quốc tế Đây là công cụ quan trọng mà Nhà nước sử dụng để quản lý các hoạt động kinh tế đối ngoại, điều chỉnh quan hệ phân phối và phân phối lại thu nhập xã hội Nghiên cứu bản chất xã hội của thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu giúp định hình chính sách thuế rõ ràng, đơn giản và phù hợp với cả người thu thuế và người nộp thuế Để tổ chức quản lý thu thuế hiệu quả, cần đảm bảo tính công khai và dân chủ; nếu không, chính sách thuế sẽ chỉ tồn tại trên lý thuyết mà không có tác dụng thực tiễn.

1.1.1.3 Vai trò của thuếxuất nhập khẩu

Thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu là một phần quan trọng trong hệ thống thuế quốc gia, có vai trò chính là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và điều tiết nền kinh tế vĩ mô Tùy thuộc vào thực trạng phát triển kinh tế của từng quốc gia trong các giai đoạn khác nhau, vai trò của thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu sẽ được thể hiện qua nhiều khía cạnh khác nhau.

Thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu ngân sách nhà nước bằng cách đảm bảo thu đúng, thu đủ và nộp kịp thời vào ngân sách Tuy nhiên, nếu Nhà nước huy động quá mức thu nhập từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, sẽ dẫn đến việc giảm thu nhập của tổ chức, cá nhân, khiến họ có thể chuyển sang kinh doanh ngầm hoặc ngừng hoạt động, dẫn đến thất thu thuế Do đó, việc tái phân phối thu nhập qua thuế cần phải chú ý đến khả năng nộp thuế của các tổ chức, cá nhân, mà khả năng này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và ý thức chấp hành pháp luật Nếu Nhà nước thu thuế vượt quá khả năng nộp thuế, sẽ làm giảm hoạt động kinh doanh và ảnh hưởng xấu đến nguồn thu trong tương lai.

Hai là, kiểm soát và điều tiết đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá:

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động trao đổi và mua bán hàng hóa diễn ra đa dạng với nhiều loại hàng hóa khác nhau, bao gồm cả hàng hóa phục vụ an ninh quốc phòng và hàng hóa có thể xâm hại đến chủ quyền quốc gia như ma túy và vũ khí Để kiểm soát và nắm bắt thực chất hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, Nhà nước thực hiện kiểm tra và thu thuế, từ đó có thể điều chỉnh chính sách phù hợp Ngoài các biện pháp phi thuế quan như hạn ngạch, giấy phép, công cụ thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu được áp dụng phổ biến để điều tiết hoạt động này Nhà nước khuyến khích xuất khẩu sản phẩm hoàn chỉnh bằng cách áp dụng thuế suất cao đối với nguyên liệu thô, trong khi đối với nguyên liệu cần cho sản xuất trong nước, mức thuế thường thấp hoặc bằng 0% để khuyến khích nhập khẩu Đối với những sản phẩm đã đủ cung cấp trong nước hoặc hàng hóa cao cấp, thuế suất nhập khẩu thường cao nhằm hạn chế tiêu dùng Qua đó, Nhà nước thực hiện điều tiết hiệu quả hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.

Thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu, đặc biệt là thuế nhập khẩu, ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả hàng hóa nhập khẩu trên thị trường Đối với những sản phẩm đã được sản xuất trong nước hoặc cần được bảo hộ, việc áp dụng thuế nhập khẩu cao sẽ hạn chế tiêu dùng hàng nhập khẩu và khuyến khích tiêu dùng sản phẩm nội địa, từ đó tạo điều kiện cho hàng sản xuất trong nước cạnh tranh nhờ giá thành thấp hơn Ngược lại, nếu thuế nhập khẩu hàng tiêu dùng được giữ ở mức thấp, điều này sẽ khuyến khích nhập khẩu hàng hóa chất lượng cao với giá rẻ, đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp cải tiến kỹ thuật và công nghệ để nâng cao khả năng cạnh tranh Đối với hàng hóa đầu vào như máy móc thiết bị, thuế nhập khẩu thấp giúp giảm chi phí sản xuất, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế, việc cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu có thể hạn chế vai trò bảo hộ của thuế, và nếu quá chú trọng vào bảo hộ, nền sản xuất trong nước có thể trở nên trì trệ Do đó, cần lựa chọn ngành nghề phù hợp và yêu cầu các ngành được bảo hộ phải có chiến lược đổi mới công nghệ và cải tiến quản lý để nâng cao chất lượng và hạ giá thành, sẵn sàng cạnh tranh với hàng nhập khẩu khi hết thời gian bảo hộ.

Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế XNK ở cơ quan hải quan 21

Quản lý thu thuế xuất nhập khẩu chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, được chia thành hai nhóm chính: nhóm nhân tố chủ quan và nhóm nhân tố khách quan.

1.2.1 Nhóm nhân tố chủ quan

Nhân tố chủ quan trong quản lý thuế xuất nhập khẩu (XNK) bao gồm vai trò của cơ quan hải quan, trong đó có lãnh đạo và cán bộ quản lý thuế, cũng như sự hợp tác từ các doanh nghiệp kinh doanh XNK.

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ hải quan đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý thu thuế Nếu cán bộ được đào tạo bài bản và nắm vững pháp luật cũng như chuyên môn, công tác thu thuế sẽ đạt hiệu quả cao hơn Ngược lại, việc thiếu kiến thức và không hiểu rõ các quy định ngành Hải quan sẽ dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý thu thuế.

Thu nhập của cán bộ hải quan, mặc dù được Nhà nước quan tâm, vẫn còn thấp, dẫn đến đời sống khó khăn Trong quá trình kiểm tra hàng hóa và thu thuế, cán bộ hải quan thường bị các đối tượng kinh doanh sử dụng lợi ích vật chất để mua chuộc, bỏ qua các hành vi vi phạm pháp luật, gây thất thu thuế Hơn nữa, một số doanh nghiệp vẫn chưa có ý thức chấp hành pháp luật hải quan và thuế cao, trong khi các hành vi gian lận và trốn thuế ngày càng tinh vi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác quản lý thu thuế.

1.2.2 Nhóm nhân tố khách quan

Sự biến đổi của điều kiện kinh tế vĩ mô tại Việt Nam, cùng với những biến động kinh tế quốc tế có ảnh hưởng đến đất nước, sẽ tác động đáng kể đến việc tuân thủ pháp luật về thuế của doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân Điều này cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế của các cơ quan nhà nước, bao gồm cả cơ quan Hải quan.

Đặc điểm địa lý và địa hình phức tạp của khu vực quản lý hải quan đã tạo ra nhiều thách thức trong công tác kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu Điều này tạo điều kiện cho các đối tượng buôn lậu lợi dụng sự khó khăn trong quản lý, như việc trà trộn hàng hóa nội địa với hàng xuất khẩu và nhập khẩu, cùng với nhiều hãng vận chuyển hoạt động đồng thời tại một địa điểm Hậu quả là, việc vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới không chỉ gây khó khăn trong kiểm soát mà còn dẫn đến thất thu thuế cho ngân sách Nhà nước.

Trình độ văn hóa và ý thức chấp hành pháp luật còn thấp ở các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu đã gây ra nhiều khó khăn trong công tác quản lý thu thuế.

Chính sách pháp luật về thuế thường xuyên thay đổi, trong khi cơ chế quản lý chưa đồng bộ và không hỗ trợ hiệu quả cho công tác thu thuế Nhiều quy định của Nhà nước tuy thông thoáng nhưng thiếu chặt chẽ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lợi dụng.

Luật Doanh nghiệp không quy định rõ ràng về lý lịch người sáng lập và số lượng thành viên tham gia, dẫn đến việc quản lý doanh nghiệp sau khi thành lập trở nên lỏng lẻo Các cơ quan cấp phép chỉ thực hiện việc đăng ký kinh doanh mà không theo dõi hoạt động của doanh nghiệp, khiến nhiều doanh nghiệp ngừng hoạt động mà không được quản lý, gây khó khăn trong công tác thu thuế Chính sách quản lý tiền tệ còn nhiều lỗ hổng, cho phép doanh nghiệp tự do thanh toán bằng tiền mặt mà không có giới hạn về giá trị giao dịch, dẫn đến việc một số doanh nghiệp lập hóa đơn sai lệch và tăng chi phí Sự phối hợp giữa cơ quan Thuế, Kho bạc và Hải quan là cần thiết để cải thiện công tác quản lý thu thuế và tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế.

Kinh nghiệm Quản lý thu thuế xuất nhập khẩu ở một số nước trên Thế giới và ở một số Cục Hải quan địa phương và bài học kinh nghiệm cho Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý thuế XNK ở một số nước trên Thế giới

Cơ quan thuế Trung Quốc đã cung cấp hướng dẫn chi tiết về cách mua và sử dụng hóa đơn, giúp người nộp thuế nắm vững thủ tục một cách nhanh chóng Chính phủ cũng áp dụng hình thức miễn hoặc cho phép điền tờ khai trước, bổ sung thông tin cần thiết để xác định loại thuế và hóa đơn áp dụng, từ đó đảm bảo người nộp thuế nhận được dịch vụ chất lượng cao Để tăng cường quản lý thu thuế và giám sát, chính phủ đã thực hiện các biện pháp mạnh mẽ nhằm chống thất thu thuế và gian lận thuế, đặc biệt là trong việc phòng chống hành vi chuyển giá tại các tập đoàn đa quốc gia Hơn nữa, việc ban hành "Quy trình quản lý chống trốn thuế chung" sẽ giúp tăng cường điều tra và điều chỉnh các hành vi trốn thuế, khẳng định quyết tâm của chính phủ trong việc cải cách và nâng cao hiệu quả quản lý thuế.

1.3.1.2 Tại Singapore Áp dụng hệ thống kê khai thuế điện tử 24 giờ/ngày với quy trình kê khai đơn giản bằng việc triển khai các công nghệ thích hợp và luôn cải tiến.Việc quản lý chặt chẽ về thuế chủ yếu tập trung vào một số nhóm hàng xe máy, rượu, xăng dầu thuốc lá (quản lý trọng điểm) Hệ thống tuyển dụng, đào tạo, giám sát thực thi nhiệm vụ của công chức Hải quan được thực hiện nghiêm minh, công bằng, khoa học.

Tích hợp toàn bộ dữ liệu quốc gia, bao gồm dữ liệu chính phủ, cá nhân, doanh nghiệp và khách du lịch, nhằm khai thác hiệu quả và tránh chồng chéo Đồng thời, các hình thức đôn đốc nộp thuế sẽ được đa dạng hóa, trong đó có việc các điện thoại viên nhắc nợ thuế liên tục cho đến khi doanh nghiệp hoặc cá nhân cam kết nộp đủ thuế.

Đài Loan đã triển khai “Quy trình hoạt động chuẩn” (SOP) nhằm chuẩn hóa, đơn giản hóa và tự động hóa công tác quản lý thuế trong toàn bộ hệ thống hải quan SOP giúp hài hòa hóa quy trình và thủ tục liên quan đến thuế với tiêu chí công bằng, không thiên vị và minh bạch Các trường hợp thuế tương tự phải được xử lý nhất quán bởi các cán bộ quản lý thuế khác nhau, bất kể thời điểm Văn bản SOP được đặt tại quầy phục vụ để người nộp thuế tham khảo khi thực hiện giao dịch Các cán bộ hải quan có trách nhiệm tuân thủ nghiêm ngặt SOP để thúc đẩy sự hợp tác và tránh xung đột.

Đơn giản hóa dịch vụ thuế là cần thiết để tiết kiệm chi phí và tối ưu hóa chất lượng quản lý Việc cải tiến thủ tục ở tất cả các giai đoạn quản lý thuế giúp nâng cao hiệu quả công việc trong bối cảnh nguồn nhân lực có hạn.

Tự động hóa dịch vụ thuế đã cải thiện đáng kể chất lượng và giảm chi phí, nhờ vào việc vi tính hóa và tích hợp hệ thống xử lý dữ liệu phức tạp Người nộp thuế giờ đây có thể khai báo và nộp thuế trực tuyến qua Internet, sử dụng các phương thức thanh toán hiện đại như thẻ tín dụng, ATM và chuyển khoản điện tử, tối đa hóa lợi ích từ việc sử dụng dữ liệu.

Cơ quan Hải quan Đài Loan đã triển khai cơ chế tự động để xác định các trường hợp cần kiểm tra và kiểm toán thuế, nhằm giảm sai sót trong phân loại và áp mức thuế Phương pháp này tập trung vào các trường hợp nhạy cảm và có độ rủi ro cao, giúp người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế đúng cách, đồng thời tiết kiệm nguồn lực và giảm thiểu sự can thiệp của yếu tố chủ quan trong việc lựa chọn đơn vị kiểm tra thuế.

Đài Loan đã ban hành chiến lược mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin trong các dịch vụ thuế nhằm xây dựng hệ thống quản lý thuế hiệu quả và tự động hóa Chiến lược này tập trung vào việc cải thiện hoạt động nội bộ của cơ quan quản lý thuế, hỗ trợ người nộp thuế qua việc giải đáp thắc mắc và tuyên truyền chính sách Các biện pháp bao gồm đánh giá sự hài lòng của người nộp thuế và cung cấp thông tin qua mạng Người nộp thuế được cấp thẻ chứng nhận số hóa để truy cập thông tin liên quan đến thuế, tình trạng hồ sơ và các khoản thuế đã nộp Họ có thể hỏi về mọi thông tin liên quan đến thuế và theo dõi tiến trình xử lý hồ sơ qua trang web “thuế điện tử một cổng vào” trong kế hoạch e-tax của cơ quan quản lý thuế.

1.3.2.Kinh nghiệm quản lýthuthuế XNKở một số Cục Hải quan địa phương 1.3.2.1 Tại Cục Hải quan TP HồChí Minh

Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh là đơn vị hải quan lớn nhất Việt Nam, đảm nhận 40% khối lượng công việc của toàn ngành và đóng góp gần 50% số thu ngân sách nhà nước từ hoạt động xuất nhập khẩu Với 12 đơn vị tham mưu và 13 chi cục trực thuộc, Cục quản lý gần 30.000 doanh nghiệp với nhiều loại hình hàng hóa xuất nhập khẩu Đặc biệt, Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh là đơn vị tiên phong trong việc triển khai thủ tục hải quan điện tử, với 100% chi cục thực hiện và 29.280 doanh nghiệp tham gia, mang lại nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu.

Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều biện pháp quản lý trong kiểm tra và kiểm soát, đặc biệt là hậu kiểm, nhằm tránh thất thu cho ngân sách nhà nước sau khi áp dụng thủ tục hải quan điện tử Trong năm 2014, thông qua công tác kiểm tra, giám sát, Cục đã truy thu 249,96 tỷ đồng, tăng 301,31% so với năm 2013 Đồng thời, nhiều vụ buôn lậu và vi phạm liên quan đến giả mạo giấy tờ, hồ sơ hải quan điện tử đã được phát hiện, với tổng cộng 4.950 biên bản vi phạm được lập trong năm 2013, trị giá hàng tịch thu và tiền phạt lên tới hơn 97 tỷ đồng.

Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh đã công khai và minh bạch các văn bản, chính sách liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu (XNK), đồng thời tăng cường đối thoại và gặp gỡ với doanh nghiệp Cục cũng chủ trì phối hợp với các đơn vị khai thác cảng biển và nhà ga hàng không để hỗ trợ thủ tục và chi phí cho doanh nghiệp Bên cạnh việc xử lý nợ thuế không có khả năng thu hồi, Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh còn áp dụng các biện pháp cưỡng chế để đảm bảo người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ tài chính đầy đủ vào ngân sách nhà nước.

Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh thường xuyên tổ chức Hội nghị đối thoại doanh nghiệp để giải quyết các vướng mắc liên quan đến chính sách quản lý xuất nhập khẩu và thủ tục hải quan Cục cũng phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, cùng Ban Quản lý Khu chế xuất và công nghiệp TP.Hồ Chí Minh để phổ biến các quy định mới về thủ tục hải quan cho doanh nghiệp Để cải cách quản lý thuế, Cục Hải quan đã triển khai đề án hiện đại hóa thu ngân sách nhà nước, kết nối Kho bạc - Hải quan - Thuế nhằm trao đổi thông tin nộp thuế Nhờ đó, thủ tục thanh toán thuế được thực hiện nhanh chóng, tạo thuận lợi cho người nộp thuế và số liệu thu thuế được cập nhật chính xác.

1.3 2 2 Tại Cục Hải quan Thành phố Hà Nội

Cục Hải quan TP Hà Nội là một trong những đơn vị lớn của ngành Hải quan, với gần 60 năm xây dựng và phát triển Cục quản lý 12.358 doanh nghiệp trên địa bàn TP Hà Nội và các tỉnh lân cận, bao gồm Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Yên Bái, thông qua 12 phòng chức năng và 12 Chi cục trực thuộc Để nâng cao hiệu quả quản lý thuế XNK, Cục đã đầu tư trang thiết bị hiện đại và ứng dụng công nghệ thông tin, cải tiến quy trình nghiệp vụ nhằm rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa Cục cũng chú trọng sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn và nâng cao chuyên môn cho cán bộ, đồng thời thường xuyên tổ chức đối thoại với doanh nghiệp để giải quyết nhanh chóng các vướng mắc Ngoài ra, Cục Hải quan TP Hà Nội phối hợp chặt chẽ với các ngân hàng để thực hiện thu thuế và bảo lãnh thuế một cách kịp thời, ưu tiên áp dụng chữ ký số trong các giao dịch điện tử nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.

Cục Hải quan TP Hà Nội hàng năm triển khai các giải pháp mạnh mẽ nhằm tăng thu thuế nhập khẩu, tập trung vào xử lý nợ thuế xuất nhập khẩu và quản lý các nguồn thu mới Cơ quan này nâng cao hiệu quả thu thập thông tin, quản lý rủi ro, kiểm tra sau thông quan và phòng chống buôn lậu, đồng thời chú trọng phát hiện gian lận thương mại Họ cũng tăng cường trao đổi thông tin và hỗ trợ doanh nghiệp có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn, hướng tới mô hình quản lý doanh nghiệp theo phương châm Hải quan và doanh nghiệp cùng đồng hành.

1.3.2.3 TạiCục Hải quan tỉnh Quảng Ninh

Bộ máy tổ chức của Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh có 10 đơn vị tham mưu,

08 Chi cục Hải quan trực thuộc và 03 Đội công tác trực thuộc Cục và 01 bộ phận tham gia tại Trạm kiểm soát Liên hợp Km 15.

Quảng Ninh hàng năm được giao nhiệm vụ thu nộp ngân sách nhà nước lớn, với chỉ tiêu năm 2013 là 1.320 tỷ đồng Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong công tác thu thuế, lãnh đạo Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh cam kết hoàn thành nhiệm vụ chính trị với chất lượng cao nhất, đặc biệt là trong việc thu nộp ngân sách Do đó, ngay từ đầu năm, Cục Hải quan đã chỉ đạo các đơn vị xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao một cách cụ thể và hiệu quả.

Tổng quan về Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình

2.1.1 Lịch sửhình thành, phát triển; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình

Quảng Bình có vị trí địa lý thuận lợi với 142 km đường biên giới giáp Lào và cửa khẩu quốc tế Cha Lo - Na Phàu, tạo thành tuyến hành lang Đông Tây ngắn nhất nối Thái Lan và Trung Lào Cảng biển Hòn La và sân bay Đồng Hới cũng góp phần vào sự phát triển kinh tế của tỉnh Nhờ những lợi thế này, Chính phủ đã xác định Quảng Bình là một trong những tỉnh trọng điểm của miền Trung, dẫn đến việc thành lập Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình theo Quyết định số 294/TCHQ-TCCB ngày 11 tháng 8 năm 1993.

Vào ngày 11/8/1993, Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình chính thức hoạt động, đảm nhận nhiệm vụ quản lý nhà nước về hải quan và thực thi các quy định pháp luật liên quan tại tỉnh Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước theo quy định pháp luật.

2.1.2 Tổchức bộmáy tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình

Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình hiện có 155 công chức và nhân viên hợp đồng lao động, bao gồm 01 Văn phòng, 01 Đội Kiểm soát Hải quan, 01 Phòng Nghiệp vụ và 03 Chi cục trực thuộc, cụ thể là Chi cục Hải quan cửa khẩu Cha Lo, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Hòn La và Chi cục Hải quan cửa khẩu.

Văn phòng cung cấp tham mưu cho lãnh đạo Cục trong các lĩnh vực tổ chức cán bộ, thanh tra, đào tạo bồi dưỡng, thi đua khen thưởng, quản lý văn phòng và tài vụ.

Đội Kiểm soát hải quan tại tỉnh Quảng Bình thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại, đồng thời ngăn chặn việc vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành.

- Chi cục Hải quan cửa khẩu Cha Lo thực hiện quản lý nhà nước vềhải quan tại địa bàn xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa.

Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Hòn La đảm nhiệm việc quản lý nhà nước về hải quan tại khu vực tỉnh Quảng Bình, bao gồm cả cảng Gianh và cảng Hòn La, đồng thời tiếp giáp với tỉnh Hà Tĩnh.

- Chi cục Hải quan cửa khẩu Cà Roòng thực hiện quản lý nhà nước vềhải quan tại địa bàn xãThượng Trạch, huyện BốTrạch.

Phòng Nghiệp vụ của Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình là đơn vị chủ chốt trong việc tham mưu và đề xuất cho Cục trưởng các kế hoạch và biện pháp triển khai thực hiện các văn bản quy định về chính sách hải quan Phòng chịu trách nhiệm giám sát và quản lý các quy trình liên quan đến thu thuế xuất nhập khẩu, xác định trị giá hải quan, tổng hợp kế toán, xử lý vi phạm, pháp chế, quản lý rủi ro, cũng như công nghệ thông tin và thống kê hải quan.

Sau hơn 24 năm hình thành và phát triển, Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình đã không ngừng mở rộng và hoàn thiện cả về quy mô lẫn cơ cấu tổ chức.

- Ban Lãnhđạo Cục gồm: 01 đ/c Cục trưởng và 03 đ/cPhó Cục trưởng.

Cục Hải quan có 02 đơn vị Phòng tham mưu giúp việc Cục trưởng, bao gồm Văn phòng và Phòng Nghiệp vụ Ngoài ra, còn có 03 Chi cục trực thuộc, cụ thể là Chi cục Hải quan cửa khẩu Cha Lo, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Hòn La, và Chi cục Hải quan cửa khẩu Cà Roòng, cùng với 01 Đội Kiểm soát Hải quan.

Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình hiện có 155 công chức và hợp đồng lao động, được phân bổ cho các đơn vị thuộc và trực thuộc cụ thể.

-Đội Kiểm soát Hải quan: 31

- Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Hòn La: 24

- Chi cục Hải quan cửa khẩu Cha Lo: 46

- Chi cục Hải quan cửa khẩu Cà Roòng : 08

Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình có đội ngũ công chức trẻ, với 65 người trong độ tuổi từ 25 đến dưới 40 và 15 người có trình độ thạc sĩ Tuy nhiên, số lượng biên chế hiện tại chưa đáp ứng đủ nhu cầu và nhiệm vụ được giao, dẫn đến tình trạng nhiều công chức phải kiêm nhiệm nhiều vị trí công việc quan trọng.

2.1.3 Tổchức bộ máy thực hiện công tác quản lý thu thuếXNK tại các Chi cục Hải quan trực thuộc Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình

Tại các Chi cục Hải quan cửa khẩu, bộ máy quản lý thuế được tổ chức theo quy trình thủ tục hải quan, bao gồm các bước như tiếp nhận đăng ký hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa, thanh khoản và kiểm tra sau thông quan.

Chi cục Hải quan cửa khẩu Cha Lo được chia thành hai đội: Đội Nghiệp vụ và Đội Tổng hợp Đội Nghiệp vụ thực hiện quy trình thủ tục hải quan, bao gồm tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra hàng hóa và thanh khoản, đồng thời tổ chức thực hiện pháp luật về thuế và kiểm soát hải quan Đội Tổng hợp đảm nhận các nhiệm vụ quản lý thuế, thu thập và xử lý thông tin, xử lý vi phạm hành chính về Hải quan, cùng với công tác kế toán và thống kê hải quan.

Tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Hòn La, ba đội nghiệp vụ bao gồm Đội Nghiệp vụ cảng Hòn La, Đội nghiệp vụ cảng Gianh và Đội nghiệp vụ Đồng Hới thực hiện các quy trình thủ tục hải quan và giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK), hành lý và phương tiện xuất nhập cảnh Các đội này cũng tổ chức thực hiện pháp luật về thuế và các khoản thu khác liên quan đến hàng hóa XNK, đồng thời thực hiện công tác giám sát, kiểm soát hải quan, thu thập và xử lý thông tin Ngoài ra, Chi cục còn chú trọng cải cách, hiện đại hóa quy trình làm việc và xử lý vi phạm hành chính về hải quan thuộc thẩm quyền, cùng với công tác kế toán thuế và thống kê hải quan.

Tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Cà Roòng, mặc dù không có mô hình cấp Đội, công tác quản lý thuế vẫn được tổ chức theo các bước quy trình thủ tục hải quan một cách hiệu quả.

2.1.4 Khái quát bối cảnh thực hiện Quản lý thu thuế XNK gắn với các chính sách thuế xuất nhập khẩu

Phân tích thực trạng công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình

Theo quy định pháp luật Việt Nam, cơ quan Hải quan là đơn vị duy nhất có trách nhiệm thực thi quản lý thuế xuất nhập khẩu (XNK) Tại tỉnh Quảng Bình, Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình là cơ quan độc quyền thực hiện nhiệm vụ này.

2.2.1 Hoạt động XNK trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Hoạt động xuất nhập khẩu tại tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn 2012 - 2017 đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, với cả xuất khẩu và nhập khẩu đều gia tăng Các mặt hàng chủ yếu trong hoạt động XNK bao gồm thạch cao nguyên liệu, phân bón, trái cây, gỗ, hàng nhập khẩu phục vụ đầu tư tài sản cố định, trâu bò và Clinke.

Nguồn: Cục Hải quan tỉnh QuảngBình

Biểu đồ2.1: Kim ngạch XNK trên địa bàn tỉnh Quảng Bình từ năm 2012 đến năm 2017

Quảng Bình, một trong tám tỉnh duyên hải miền Trung, đã thành công trong việc thu hút đầu tư thông qua chính sách “trải thảm đỏ”, dẫn đến sự tăng trưởng mạnh mẽ trong hoạt động xuất nhập khẩu Kim ngạch xuất nhập khẩu của tỉnh này năm sau luôn cao hơn năm trước, cho thấy sự phát triển tích cực của thị trường hàng hóa.

Trị giá xuất khẩu và nhập khẩu (triệu USD) phản ánh sự phù hợp với xu thế phát triển chung và hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng giao lưu hàng hóa với các quốc gia khác.

Kim ngạch xuất nhập khẩu tại tỉnh Quảng Bình đang có xu hướng gia tăng, cho thấy sự tăng trưởng của lượng hàng hóa qua các Chi cục Hải quan Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình đã thực hiện các biện pháp hiệu quả để thu hút doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan Tuy nhiên, sự gia tăng này cũng đặt ra thách thức trong công tác quản lý thuế, yêu cầu cần có biện pháp quản lý doanh nghiệp hiệu quả để đảm bảo thu thuế xuất nhập khẩu đầy đủ và kịp thời vào ngân sách nhà nước.

2.2.2 Thực trạng công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bìnhgiai đoạn từ năm 2012–2017

2.2.2.1 Thực trạng quản lý khai thuế, nộp thuế XNK

Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình sở hữu đội ngũ công chức trẻ, trình độ đồng đều và được đào tạo bài bản Bên cạnh đó, cơ sở vật chất của cục cũng khá đầy đủ với trụ sở làm việc khang trang, 20 máy chủ, 90 máy tính trạm và 21 máy tính xách tay.

Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình đã triển khai 50 máy in và bố trí công chức có đủ phẩm chất, năng lực vào các vị trí trọng yếu trong quy trình thủ tục hải quan và quản lý thuế Đơn vị đã ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các khâu nghiệp vụ, đảm bảo mỗi công chức có 01 máy tính để thực hiện nhiệm vụ Việc áp dụng khai báo hải quan điện tử thông qua hệ thống máy tính kết nối giữa các Chi cục Hải quan và doanh nghiệp giúp công việc được xử lý nhanh chóng, hàng hóa được thông quan kịp thời, đáp ứng tốt yêu cầu của cộng đồng doanh nghiệp.

Hàng năm, Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình phân bổ chỉ tiêu thu thuế dựa trên đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu, như tăng trưởng hoạt động xuất nhập khẩu và chính sách thuế Cục cũng triển khai nhiều biện pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả quản lý thuế xuất nhập khẩu Nhờ đó, Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình đã nhiều lần vượt chỉ tiêu thu thuế và nhận được nhiều Giấy khen, Bằng khen từ các cấp về thành tích xuất sắc Thành tích nổi bật này đã được ghi nhận trong bảng vàng thành tích, bao gồm cả việc nhận Huân chương Lao động hạng Nhất.

Trong những năm qua, Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình đã thực hiện hiệu quả chức năng quản lý nhà nước về hải quan, góp phần vào việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế và hợp tác quốc tế Cục cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia, cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, và doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu tại tỉnh Quảng Bình.

Trước năm 2012, hồ sơ hải quan của doanh nghiệp được tiếp nhận thủ công tại các Chi cục Hải quan thuộc Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình, với bộ phận tiếp nhận do 2 đến 3 công chức thực hiện.

Khi đăng ký hồ sơ hải quan, doanh nghiệp cần nộp 02 tờ khai hải quan và 02 tờ khai trị giá hàng nhập khẩu, kèm theo các chứng từ như hợp đồng mua bán, hóa đơn thương mại, vận đơn, giấy chứng nhận xuất xứ (C/O), và các giấy tờ liên quan khác Công chức tại Bộ phận Tiếp nhận hồ sơ hải quan sẽ kiểm tra các tiêu chí khai báo, bao gồm tên hàng hóa, mã số, số lượng, trọng lượng, và thuế suất Sau khi xác nhận thông tin, hồ sơ sẽ được đăng ký và chuyển đến lãnh đạo Chi cục để quyết định hình thức kiểm tra Thông thường, 1-2 công chức sẽ thực hiện kiểm tra thực tế hàng hóa, ghi kết quả và chuyển lại cho Bộ phận Kế toán thuế để tính thuế Nếu phát hiện sai sót trong khai báo, công chức sẽ ấn định thuế và thông báo cho doanh nghiệp, đồng thời thực hiện công tác kế toán để theo dõi việc nộp thuế.

Thời gian thông quan cho một lô hàng xuất nhập khẩu khi thực hiện thủ tục hải quan thủ công thường dao động từ 1 đến 3 giờ Trung bình, mỗi Chi cục thuộc Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình tiếp nhận khoảng 30 tờ khai mỗi ngày.

Việc doanh nghiệp khai báo hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) qua hệ thống máy tính kết nối với cơ quan hải quan đã giảm đáng kể thời gian thông quan, chỉ còn 1-1,5 giờ cho hồ sơ luồng Đỏ và 15-20 phút cho hồ sơ luồng Xanh hoặc Vàng Công chức tại Bộ phận tiếp nhận hồ sơ hải quan không còn kiểm tra toàn bộ hồ sơ mà chỉ tập trung vào các hồ sơ thuộc luồng Vàng hoặc Đỏ, dựa trên mức độ rủi ro và thông tin về doanh nghiệp Doanh nghiệp không cần chờ đợi nhiều chữ ký trên tờ khai hải quan như trước, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho cả hai bên.

Công chức tại Bộ phận Tiếp nhận đăng ký hồ sơ, Bộ phận Kiểm tra thực tế hàng hóa và Bộ phận Kế toán thuế có thể thực hiện nhiều bước thủ tục khác nhau tại các Chi cục.

Số lượng doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan và tờ khai xuất nhập khẩu tại các Chi cục thuộc Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình đã tăng đáng kể qua các năm, với mỗi năm đều ghi nhận mức tăng cao hơn so với năm trước Việc rút ngắn thời gian kiểm tra hồ sơ đã góp phần vào sự gia tăng này.

Bảng 2.1 Số lượng doanh nghiệp làm thủ tục hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2012 - 2017

Năm Tổng sốDN làm thủ tục hải quan (DN)

Tổng sốtờkhai hải quan được đăng ký

Nguồn: Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình.

Bảng 2.2 Số lượng tờ khai XNK đăng ký tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2012 - 2017

Tổng sốtờ khai được đăng ký (tờ)

Trong đó: Tờ khai XNK Thương mại

Sốtờ khai được đăng ký (tờ)

Nguồn: Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình.

Kết quả khảo sát các đối tượng điều tra về quản lý thu thuế XNK tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình

2.3.1 Thông tin chung về đối tượng khảo sát

Bảng 2.9: Thông tin chung về đối tượng khảo sát

STT Tiêu chí Sốquan sát %

III Hình thức nộp thuếXNK 100 100

1 Nộp tại cơ quan hải quan 29 29

(Nguồn: Từnội dung xửlý phiếu khảo sát)

Các đơn vị kinh doanh liên quan đến xuất nhập khẩu (XNK) tại tỉnh Quảng Bình chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực như thạch cao, gỗ, trái cây và phân bón Đặc biệt, 47% doanh nghiệp trong số này đã hoạt động trên 15 năm, cho thấy họ có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực XNK cũng như trong công tác quản lý thuế XNK tại cục hải quan Quảng Bình.

Chế độ TABMIS tại Kho Bạc Nhà Nước (KBNN) hiện nay đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp dễ dàng nộp thuế trực tiếp, với 71 doanh nghiệp tham gia khảo sát đều thực hiện nộp qua KBNN, phản ánh đúng xu hướng hiện tại Tuy nhiên, một số doanh nghiệp đặc thù, do điều kiện kinh doanh hoặc vị trí địa lý, không thể nộp qua KBNN mà phải thực hiện tại cơ quan Hải Quan, như trường hợp doanh nghiệp trái cây ở miền núi xa xôi không có ngân hàng.

Kết quảxử lý điều tra của cácđối tượng khảo sát

Bảng 2.10: Kết quả đánh giá về công tác quản lý thuế XNK tại Cục Hải quan

1 Hệthống hồ sơ, chứng từnộp thuếrõ ràng 4,25

2 Hệthống thông quan tự động VNACCS/VCIS đã thực hiện chính xác việc phân luồng tờ khai hải quan 3,94

3 Công tác thanh tra, kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu phản ánh đúng thực tế 4,09

4 Cán bộhải quan có thái độniềm nở, ân cần 4,10

5 Chất lượng công tác kiểm tra đảm bảo 4,34

6 Công tác nộp thuế được thực hiện công khai, minh bạch 4,25

(Nguồn: Từnội dung xửlý phiếu khảo sát)

Bảng kết quả xử lý giá trị trung bình (MEAN) cho thấy hầu hết các chỉ tiêu đều có giá trị cao hơn mức 4 điểm, điều này chứng tỏ rằng các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu đánh giá cao công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu của cán bộ tại chi cục hải quan Đặc biệt, tiêu chí chất lượng công tác kiểm tra được đánh giá cao nhất với giá trị 4,34, cho thấy chuyên môn của cán bộ hải quan tỉnh Quảng Bình rất xuất sắc.

Tiêu chí số 2 đạt mức đánh giá 3,94, tuy tốt nhưng không cao bằng các tiêu chí khác, có thể cho thấy sự khác biệt trong cách nhìn nhận của các đối tượng khảo sát Câu hỏi đặt ra là liệu các doanh nghiệp có thời gian hoạt động trên 15 năm với chi cục hải quan có đánh giá khác so với những đối tượng khác hay không Để kiểm tra giả thuyết này, tác giả sử dụng phương pháp kiểm định one-way ANOVA.

Và kết quảxửlý One– Way ANOVA như sau:

Bảng 2.11: Kết quả kiểm định levene test

Hệthống hồ sơ, chứng từnộp thuếrõ ràng 0,632

Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS đã thực hiện chính xác việc phân luồng tờkhai hải quan 0,100

Công tác thanh tra, kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu phản ánh đúng thực tế 0,396

Cán bộhải quan có thái độniềm nở, ân cần 0,320

Chất lượng công tác kiểm tra đảm bảo 0,865

Công tác nộp thuế được thực hiện công khai, minh bạch 0,351

(Nguồn: Từnội dung xửlý phiếu khảo sát)

Dựa vào kiểm định Levene, tất cả các chỉ tiêu đều có mức sig lớn hơn 0,05, cho thấy giả thuyết về phương sai bằng nhau được chấp nhận Do đó, chúng ta sẽ tiếp tục sử dụng bảng ANOVA để thực hiện kiểm định.

Bảng 2.12: Kết quả kiểm định ANOVA

Hệthống hồ sơ, chứng từnộp thuếrõ ràng 0,615

Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS đã thực hiện chính xác việc phân luồng tờ khai hải quan 0,000

Công tác thanh tra, kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu phản ánh đúng thực tế 0,283

Cán bộhải quan có thái độniềm nở, ân cần 0,895

Chất lượng công tác kiểm tra đảm bảo 0,829

Công tác nộp thuế được thực hiện công khai, minh bạch 0,607

Bảng 2.12 cho thấy tất cả các chỉ tiêu đều có giá trị sig lớn hơn 0,05, ngoại trừ giá trị thứ hai Điều này chỉ ra rằng có sự khác biệt trong đánh giá về "Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS" giữa các đối tượng khảo sát Cụ thể, doanh nghiệp hoạt động trên 15 năm có giá trị MEAN chỉ đạt 3,57, trong khi các đối tượng còn lại đánh giá từ 4,20 trở lên Sự khác biệt này cho thấy hệ thống tự động trong việc phân luồng hồ sơ không luôn phản ánh đúng thực tế, khi doanh nghiệp có kinh nghiệm lâu năm thường không đánh giá cao hiệu quả của hệ thống này.

Về đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố liên quan đến công tác XNK

Bảng 2.13: Kết quả đánh giá về mức độ ảnh hưởng công tác quản lý thuế

XNK tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình

1 Cán bộhải quan có kiến thức chuyên môn tốt 4,00

2 Cán bộhải quan đãđược bố trí đúng vịtrí việc làm theo chuyên môn 3,90

3 Cơ sởvật chất và phần mềm kế toán đầy đủ điều kiện cho công tác kiểm tra thuế 4,18

4 Các khoản thu thuế được thực hiện công khai 3,99

5 Hệthống pháp luật, chính sách vềthuế đầy đủ, rõ ràng, phù hợp 4,26

6 Vị trí địa lý, kinh tế, xã hội của nơi đặt cửa khẩu thông quan hàng hóa 4,24

(Nguồn: Từ nội dung xử lý phiếu khảo sát)

Bảng 2.13 cho thấy rằng tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thu thuế XNK của chi cục hải quan đều đạt điểm từ 3,90 đến 4,26, cho thấy tầm quan trọng của chúng Đặc biệt, nhân tố “Hệ thống pháp luật, chính sách về thuế đầy đủ, rõ ràng, phù hợp” được đánh giá cao với điểm 4,26 Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng một hệ thống chỉ tiêu định mức cho hàng hóa xuất nhập khẩu, nhằm giảm thiểu sự chồng chéo trong pháp luật hiện tại Việc này không chỉ hỗ trợ các doanh nghiệp XNK mà còn giúp cán bộ hải quan thực hiện thanh, kiểm tra hàng hóa một cách hiệu quả hơn.

Đánh giá chung công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình

Cơ quan hải quan cần thay đổi tư duy quản lý từ việc coi doanh nghiệp là đối tượng quản lý sang xem họ là bạn đồng hành và đối tác hợp tác, lắng nghe ý kiến và sửa đổi kịp thời Họ cũng nên chuyển từ việc tận thu ngân sách sang thu đúng, thu đủ và nuôi dưỡng nguồn thu Việc áp dụng hải quan điện tử tự động thay cho phương pháp thủ công truyền thống, cùng với việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, là rất cần thiết Đồng thời, cán bộ công chức hải quan cần được bồi dưỡng chuyên môn và kiến thức pháp luật qua các lớp đào tạo nâng cao để thích ứng với công nghệ và phương pháp quản lý mới.

Doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu hiện nay đã chuyển mình từ lớp doanh nhân truyền thống sang lớp doanh nhân trẻ, năng động và am hiểu pháp luật cũng như thương mại quốc tế Ý thức tuân thủ pháp luật, đặc biệt là pháp luật Hải quan, ngày càng được nâng cao, giúp doanh nghiệp phát triển và hội nhập tốt hơn Tuy nhiên, bên cạnh đó, một số ít doanh nhân có trình độ cao vẫn sử dụng các thủ đoạn gian lận thương mại như chuyển giá, gửi giá, buôn lậu và rửa tiền, với phương thức ngày càng tinh vi và khó phát hiện.

Giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2017, ngành Hải quan Việt Nam, đặc biệt là Cục Hải quan Tỉnh Quảng Bình, đã trải qua nhiều biến động về chính sách quản lý thuế Để thực hiện cơ chế Hải quan một cửa quốc gia, Việt Nam đã điều chỉnh các chính sách pháp luật nhằm phù hợp với mức độ hội nhập quốc tế và khu vực Trong khoảng thời gian này, có ba lần thay đổi chính sách pháp luật liên quan đến lĩnh vực quản lý thuế, bắt đầu với Thông tư 194/2010/TT-BTC có hiệu lực từ năm 2010.

2011 thì đến năm 2013 được thay thế bởi Thông tư 128/2013/TT-BTC và sau đó, năm

Năm 2015, Thông tư 38/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính đã thay thế các quy định trước đó, nhằm điều chỉnh chính sách pháp luật phù hợp với sự phát triển của xã hội Sự thay đổi này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp mà còn đơn giản hóa thủ tục hải quan, góp phần thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu và tăng thu ngân sách.

Thứ tư, Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình hoàn thành mục tiêu quản lý thu thuếXNK:

Đảm bảo thu đúng và nộp ngân sách nhà nước kịp thời các loại thuế liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là mục tiêu quan trọng nhằm ngăn chặn thất thu và gian lận thuế Số thuế nợ đọng đã giảm xuống còn 4,02 tỷ đồng, mức thấp nhất trong 5 năm qua, cho thấy nỗ lực của Nhà nước và Đảng trong việc tối ưu hóa hoạt động đầu tư phát triển của đất nước.

Để thực hiện mục tiêu chung của ngành, chúng tôi tập trung nguồn lực nhằm hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao từ cấp trên Trong các năm 2014, 2015, 2016 và 2017, chúng tôi đã thu thuế đạt và vượt mức chỉ tiêu đề ra Chúng tôi cam kết thu thuế công khai, minh bạch và đạt hiệu quả cao theo phương châm “Chuyên nghiệp – Minh bạch – Hiệu quả”.

Để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu (XNK) và không ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, cần xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa Hải quan và doanh nghiệp Tại tỉnh Quảng Bình, điều này được thể hiện qua sự gia tăng đáng kể về số lượng doanh nghiệp thực hiện thủ tục XNK và kim ngạch XNK, với mức tăng gấp ba lần trong vòng 5 năm qua, đồng thời đóng góp tích cực vào ngân sách qua số thuế thu trong năm.

Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, với doanh thu đạt gần 40 tỷ đồng vào năm 2017 Để thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng và bền vững của nền kinh tế, cần tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.

Bên cạnh những mặt đạt được, côngtác quản lý thuế XNK tại cục hải quan tỉnh Quảng Bình còn tồn tại một số vấn đề sau:

Đến cuối năm 2017, các khoản nợ thuế quá hạn của doanh nghiệp vẫn chưa được giải quyết hiệu quả, với tổng số tiền lên đến 4,02 tỷ đồng Cần có cơ chế hữu hiệu hơn để tổ chức thu hồi các khoản nợ thuế này.

Chất lượng nguồn nhân lực và cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý hải quan hiện đại, cả ở khu vực và toàn cầu Đội ngũ cán bộ thiếu trình độ chuyên sâu trong công tác quản lý thuế, dẫn đến tình trạng lỗi phần mềm quản lý do thao tác vận hành sai, gây chậm trễ trong việc giải quyết thủ tục và khiếu nại của doanh nghiệp.

Cơ chế hải quan một cửa quốc gia hiện chưa được kết nối đầy đủ giữa các Bộ, Ngành, và lĩnh vực xuất nhập khẩu, điều này gây khó khăn cho công tác quản lý của cơ quan Hải quan Nhiều Bộ vẫn thiếu cơ sở dữ liệu và hạ tầng quản lý cần thiết để tích hợp với hệ thống của Hải quan, dẫn đến việc chưa thể thực hiện mục tiêu "một cửa" một cách toàn diện.

2.4.3 Nguyên nhân của hạn chế

Những hạn chế còn tồn tại trong hệ thống quản lý doanh nghiệp có nguyên nhân từ đặc thù lịch sử, như chính sách ân hạn thuế của Nhà nước, cho phép doanh nghiệp được ân hạn tối đa đến 275 ngày, nhưng lại dẫn đến việc dễ bị lợi dụng và trốn thuế do cơ chế thông quan không kiểm soát chặt chẽ Bên cạnh đó, hiệu quả kết nối thông tin giữa việc nộp thuế với Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng vẫn chưa thật sự tốt Điều kiện kinh tế vĩ mô khó khăn cũng khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn sản xuất, dẫn đến hàng hóa tồn kho lớn Tất cả những yếu tố này phản ánh sự thiếu đồng bộ trong hệ thống quản lý và tác động của con người trong quá trình thực hiện.

Có thểkể đến là những lý donhư:

- Ý thức chấp hành nộp thuếcủa một sốdoanh nghiệp còn hạn chế;

Công chức Hải quan thường làm việc theo lối mòn, với văn hóa ứng xử và đạo đức công vụ chưa đạt yêu cầu, dẫn đến sự thụ động trong việc nghiên cứu và cập nhật các thay đổi của Luật pháp liên quan đến thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa Theo kết quả phỏng vấn, hơn 40% doanh nghiệp chưa sẵn sàng cho việc chuyển đổi thủ tục hải quan từ E-cus 4 sang hệ thống VNACCS/VCIS, và nhiều người vẫn chưa biết cách đăng ký chữ ký số để tích hợp với hệ thống khai báo điện tử của cơ quan Hải quan, mặc dù đã nhận được thông tin về sự thay đổi này Hệ quả là thiếu kỹ năng khai báo điện tử, gây mất thời gian trong việc chỉnh sửa và thông quan hàng hóa, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Cơ quan Hải quan chưa nhận diện đầy đủ các tình huống phát sinh trong thực tế, dẫn đến việc cần chỉnh sửa hệ thống quản lý để đảm bảo tuân thủ pháp luật cho doanh nghiệp Việc chuyển đổi dữ liệu quản lý nợ thuế từ hệ thống cũ sang VNACCS/VCIS đã phát sinh nhiều tình huống, như doanh nghiệp nhận thông báo tăng số nợ do lỗi tích hợp phần mềm và chậm trễ trong việc cập nhật chứng từ nộp thuế của công chức Hải quan.

Từ kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý thuế XNK tại Cục Hải quan Quảng Bình, có thểrút ra những kết luận sau:

1 Với vai trò là “lực lượng gác cửa trên mặt trận kinh tế”, trong thời gian qua, Cục Hải quan Quảng Bình đã thực hiện tốt vai trò của mình trong quản lý thuế XNK, có nhiều đóng góp trong việc thu đúng, thu đủ, nộp kịp thời thuế XNK vào NSNN, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổchức, cá nhân Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình hoạt động tương đối chuyên nghiệp, công khai, minh bạch hóa hoạt động quản lý, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp, đảm bảo sựcông bằng trong nghĩa vụnộp thuế, tạo động lực cho việc tăng trưởng hoạt động XNK trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG BÌNH

Ngày đăng: 01/07/2021, 00:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2000), Chiến lược cải cách hệ thống thuế Việt Nam giai đoạn 2001-2010, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cải cách hệ thống thuế Việt Nam giaiđoạn 2001-2010
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2000
2. Bộ Tài chính, Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam (2001), Thuế nhập khẩu Việt Nam AFTA giai đoạn 2001-2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuế nhậpkhẩu Việt Nam AFTA giai đoạn 2001-2006
Tác giả: Bộ Tài chính, Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam
Năm: 2001
3. Bộ Tài chính (2003), Quyết định số 15/2003/QĐ-BTC ngày 10 tháng 02 năm 2003. Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan tỉnh, thành phố, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 15/2003/QĐ-BTC ngày 10 tháng 02 năm2003. Vềchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Hải quantỉnh, thành phố
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2003
4. Bộ Tài chính - Tổng cục Hải quan (2005), 60 năm Hải quan Việt Nam, 1945- 2005, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 60 năm Hải quan Việt Nam, 1945-2005
Tác giả: Bộ Tài chính - Tổng cục Hải quan
Nhà XB: NXB Công an Nhân dân
Năm: 2005
5. Bộ Tài chính (2010), Quyết định số 1027/QĐ-BTC ngày 11 tháng 5 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Tổng cục Hải quan, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1027/QĐ-BTC ngày 11 tháng 5 năm 2010của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơcấu tổ chức Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Tổng cục Hảiquan
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2010
6. Bộ Tài chính (2010), Quyết định 1027/QĐ-BTC quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 1027/QĐ-BTC quy định chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, Thành phố trựcthuộc Trung ương
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2010
7. Bộ Tài chính (2013), Thông tư 219/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật thuế GTGT và Nghị định 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuế GTGT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 219/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thihành Luật thuếGTGT và Nghị định 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chínhphủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuếGTGT
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2013
8. Bộ Tài chính (2014), Thông tư 126/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định một số thủ tục về kê khai, thu nộp thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 126/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính quy địnhmột sốthủtục về kê khai, thu nộp thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt và các khoảnthu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2014
9. Bộ Tài chính (2015), Thông tư số 38/2015/TT-BTC của Bộ Tài Chính Quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số38/2015/TT-BTC của Bộ Tài Chính Quy địnhvề thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2015
10. Bộ Tài chính (2015), Thông tư số 39/2015/TT-BTC của Bộ Tài Chính Quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số39/2015/TT-BTC của Bộ Tài Chính Quy địnhvềtrịgiá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2015
12. Nguyễn Văn Biên (1996), Chính sách thuế XNK của Việt nam trong bối cảnh Việt Nam gia nhập ASEAN, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Ngoại thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thuếXNK của Việt nam trong bối cảnh ViệtNam gia nhập ASEAN
Tác giả: Nguyễn Văn Biên
Năm: 1996
13. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động có liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số23/2007/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2007 quy định chi tiết Luật Thương mạivề hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động có liên quan trực tiếp đếnmua bán hàng hoá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại ViệtNam
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2007
14. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 quy định về khu công nghiệp, khuchếxuất và khu kinh tế
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2008
16. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Nghị định số 87/2010/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2010 quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số87/2010/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2010 quy định chi tiết thi hành một sốĐiều của Luật thuếxuất khẩu, thuếnhập khẩu
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2010
18. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 7 năm 2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số83/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 7 năm 2013 quy định chi tiết thi hành một sốđiều của Luật quản lý thuếvà Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Luật quảnlý thuế
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
19. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Nghị định 187/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định187/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mạivề hoạt động mua bán hàng hóa quốc tếvà các hoạt động đại lý mua, bán, giacông và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
20. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 quy định chi tiết và hướng dẫnthi hành một số điều của Luật Thuếgiá trị gia tăng
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
21. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số164/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 sửa đổi, bổsung một số điều củaNghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quyđịnh vềkhu công nghiệp, khu chếxuất và khu kinh tế
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
22. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2015 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số08/2015/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2015 quy định chi tiết và biện pháp thihành Luật Hải quan vềthủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2015
23. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 2 năm 2015 quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số Điều của các Nghị định về thuế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 2 năm 2015 quy định chi tiết thi hành Luật sửađổi, bổsung một số điều của các Luật vềthuếvà sửa đổi, bổ sung một số Điềucủa các Nghị định vềthuế
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2015

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w