NỘI DUNG TÓM TẮT Huyện Tháp Mười được tỉnh Đồng Tháp hỗ trợ vốn nhiều nên số dự án sử dụng vốn đầu tư XDCB tăng lên đáng kể, hoạt động này cũng góp phần hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thô
Trang 1LÝ VỐ
TỪ NGÂ
YỆN TH
LUẬ Chuyê
ỄN THA
U TƯ X ÁCH NH ƯỜI, T
N THẠC h: Tài chí số: 8.34.0
ng An, năm
À ĐÀO TẠ ÔNG NGH
ANH HỔ
XÂY D
HÀ NƯ TỈNH Đ
SĨ KIN ính – Ngâ 02.01
m 2020
O HIỆP LONG
ỰNG C ƯỚC TẠ ĐỒNG T
N
Trang 2THÁP M
LUẬ Chuyê
YỄN THA
U TƯ X NHÀ N , TỈNH
N THẠC h: Tài chí số: 8.34.0
PGS.TS
ng An, năm
ĐÀO TẠO ÔNG NGH
ANH HỔ
XÂY D NƯỚC T
H ĐỒNG
SĨ KIN ính – Ngâ 02.01
LÊ PHA
m 2020
O HIỆP LONG
Ổ
ỰNG C TẠI HU
ÁP
DIỆU TH
N
HẢO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các tạp chí khoa học và công trình nào khác
Các thông tin số liệu trong luận văn này đều có nguồn gốc và được ghi chú
rõ ràng./
Học viên thực hiện luận văn
Nguyễn Thanh Hổ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đối với các
Thầy, Cô của trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An đã giảng dạy trong
chương trình Cao học Kinh tế, Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, những người
đã truyền đạt cho tác giả kiến thức hữu ích trong ngành tài chính ngân hàng, làm cơ
sở cho tác giả hoàn thành tốt luận văn thạc sĩ này
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận
được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các thầy cô Đặc biệt, tác giả xin chân thành cám
ơn PGS.TS Lê Phan Thị Diệu Thảo, người thầy đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn,
chỉ bảo cho tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Do thời gian làm luận văn có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa
nhiều nên luận văn còn nhiều hạn chế, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý
Thầy, Cô và các anh chị học viên
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thanh Hổ
Trang 5NỘI DUNG TÓM TẮT
Huyện Tháp Mười được tỉnh Đồng Tháp hỗ trợ vốn nhiều nên số dự án sử dụng vốn đầu tư XDCB tăng lên đáng kể, hoạt động này cũng góp phần hoàn thiện
cơ sở hạ tầng giao thông phục vụ nhu cầu lưu thông hàng hóa không ngừng được
mở rộng, nhiều dự án sử dụng vốn đầu tư XDCB phát huy có hiệu quả.Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong đó có hoạt động chi đầu tư XDCB từ vốn NSNN còn tồn tại nhiều khó khăn, các dự án triển khai chậm tiến độ, kéo dài làm đội vốn NSNN, tình trạng nợ đọng ở địa phương diễn ra phức tạp, giải ngân không đạt kế hoạch so với chỉ tiêu đề ra, gây ra hậu quả như: các công trình, dự án không thể đưa vào sử dụng do thời gian thi công kéo dài, chủ đầu tư không thanh toán được khối lượng xây dựng hoàn thành, hiệu quả đầu tư kém
Luận văn đã đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra: (1) Tổng hợp về mặt lý luận đối với quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước; (2) Đánh giá thực trạng hoạt quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp từ năm 2017 đến năm 2019; (3) Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp với một số kết quả đáng ghi nhận như: Hoạt động thẩm định dự án, kế hoạch đấu thầu ngày càng được nâng cao
về chất lượng, Hoạt động quản lý đầu tư từng bước được chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả Bên cạnh đó, vẫn còn một số vấn đề còn tồn tại, cụ thể như: cải cách hành chính về đầu tư và xây dựng chậm đổi mới; hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa được coi trọng đúng mức; đội ngũ cán bộ làm hoạt động quản lý đầu tư và xây dựng vừa thiếu, vừa yếu Đây chính là cơ sở để tác giả đề xuất 03 nhóm giải pháp nâng hiệu nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp Ngoài ra, luận văn cũng đã trình bày
03 kiến nghị với đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp, đối với Chính Phủ và đối với Chủ đầu từ để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước tại huyện Tháp Mười
Luận văn là tài liệu tham khảo cho các đối tượng quan tâm, đặc biệt các nhà quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp nghiên cứu và ứng dụng vào thực tế
Trang 6ABSTRACT
Thap Muoi district is heavily supported by Dong Thap province, so the number of projects using capital construction investment has increased significantly, this activity also contributes to improving transport infrastructure to serve the need of non-stop goods circulation has been expanded, many projects are used to promote capital investment effectively.However, in the process of implementing socio-economic development tasks, including spending on capital construction from the state budget, There were many difficulties, projects were implemented slowly, making the state budget capital team complicated, the local debt situation was complicated, disbursement did not meet the plan compared to the set target, causing consequences results such as works, projects can not be put into use due to long construction time, investors cannot pay for completed construction volume, poor investment efficiency
The thesis has achieved the proposed research objectives: (1) Synthesize the theory of capital construction investment management from the State Budget; (2) Evaluation of the current state of capital construction investment management from the State Budget in Thap Muoi district, Dong Thap province from 2017 to 2019; (3) Proposing a number of solutions to improve the management efficiency of capital construction investment from the State Budget in Thap Muoi district, Dong Thap province with some remarkable results such as: Appraisal activities bidding projects and plans are increasingly improved in quality Investment management activities have been gradually improved and improved efficiency Besides, there are still some problems that still exist, namely: administrative reform in investment and construction
is slow to be renovated; inspection, examination and supervision activities have not been considered properly; The contingent of staff working in investment and construction management activities is both lacking and weak This is the basis for the author to propose 03 groups of solutions to improve efficiency in management of capital construction investment from the State Budget in Thap Muoi district, Dong Thap province In addition, the thesis also presented 03 recommendations to the People's Committee of Dong Thap province, to the Government and to the Investor to contribute to improving the management efficiency of capital construction investment State Budget in Thap Muoi district
Thesis is the reference for interested subjects, especially the managers of capital construction investment from the State Budget in Thap Muoi district, Dong Thap province to study and apply in practice
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
NỘI DUNG TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
4.1 Phạm vi về không gian 2
4.2 Phạm vi về thời gian 2
5 Câu hỏi nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 4
1.1 Cơ sở lý luận về vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước 4
1.1.1 Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước 4
1.1.2 Đặc điểm nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước 6
1.1.3 Vai trò của vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước 7
1.1.4 Phạm vi chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước 8
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước 9 1.2.1 Khái niệm về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước 9
Trang 81.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách
Nhà nước 9
1.2.3 Nội dung quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn Ngân sách Nhà nước 10
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn Ngân sách Nhà nước 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 19
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂy DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP 20
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của huyện Tháp Mười 20
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 20
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 20
2.2 Cơ sở pháp lý về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước 21
2.2.1 Một số văn bản pháp lý có liên quan đến vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước 21
2.2.2 Các đơn vị tham gia quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp 26
2.3 Thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Tháp Mười 29
2.3.1 Hoạt động lập kế hoạch đầu tư, phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản 29
2.3.2 Hoạt động thẩm định dự án và phê duyệt dự án đầu tư 31
2.3.3 Hoạt động đấu thầu, lựa chọn nhà thầu 35
2.3.4 Hoạt động thanh, quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước 36
2.3.5 Hoạt động kiểm tra, giám sát quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước 41
2.4 Đánh giá hiệu quả về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước ở huyện Tháp Mười 45
Trang 92.4.1 Kết quả khảo sát hoạt động quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân
sách Nhà nước trên địa bàn huyện Tháp Mười 45
2.4.2 Đánh giá những kết quả đạt được 49
2.4.3 Những hạn chế còn tồn tại 50
2.4.4 Nguyên nhân của những hạn chế 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP 58
3.1 Quan điểm và định hướng về công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước tại huyện Tháp Mười 58
3.2 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tháp Mười 61
3.2.1 Mục tiêu tổng quát 61
3.2.2 Mục tiêu cụ thể 62
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước tại huyện Tháp Mười 62
3.3.1 Hoàn thiện quy trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước 62
3.3.2 Nâng cao năng lực quản lý hoạt động của chính quyền huyện Tháp Mười 72 3.3.3 Bảo đảm tính công khai, minh bạch hoạt động dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước 75
3.4 Một số kiến nghị 76
3.4.1 Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp 76
3.4.2 Đối với Chính phủ 77
3.4.3 Đối với Chủ đầu tư 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 79
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC I
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
2 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
6 ĐTXDCB Đầu tư xây dựng cơ bản
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
Hình 2.1 Cơ cấu ban quản lý dự án huyện Tháp Mười 28
Hình 2.2 Số lượng dự án đầu tư xây dựng cơ bản của huyện Tháp Mười 31
Hình 2.3 Quy trình thẩm định dự án đầu tư tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp 32
Hình 2.4 Số lượng dự án đầu tư xây dựng cơ bản của huyện Tháp Mười được phê duyệt 34
Hình 2.5 Mô tả mẫu theo giới tính 46
Bảng 2.1 Số lượng Cán bộ công nhân viên trong BQLDA huyện Tháp Mười năm 2019 28
Bảng 2.2 Dự án đầu tư xây dựng cơ bản của huyện Tháp Mười 30
Bảng 2.3 Số dự án được thẩm định, thẩm tra thiết kế và dự toán xây dựng công trình của huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp 33
Bảng 2.4 Tình hình phê duyệt dự án huyện Tháp Mười 34
Bảng 2.5 Tổng hợp kết quả đấu thầu của huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp 36
Bảng 2.6 Hoạt động thanh, quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước của huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp 37
Bảng 2.7 Một số dự án tiêu biểu được thanh quyết toán trên huyện Tháp Mười trong năm 2019 39
Bảng 2.8 Hoạt động kiểm tra, giám sát đầu tư xây dựng cơ bản của huyện Tháp Mười 40
Bảng 2.9 Số lượng phiếu điều tra khảo sát 43
Bảng 2.10 Bảng mẫu điều tra phân chia theo giới tính 45
Bảng 2.11 Bảng phân chia mẫu khảo sát theo độ tuổi 45
Bảng 2.12 Mô tả mẫu theo trình độ 46
Bảng 2.13 Tổng hợp kết quả điều tra về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp 47
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) là hoạt động đầu tư để tạo tài sản cố định
(TSCĐ) Vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước (NSNN) là nguồn vốn sử dụng tập trung chủ yếu vào đầu tư xây dựng hạ tầng, đường giao thông, y tế, giáo dục, các chương trình mục tiêu quốc gia… Do đó, nguồn vốn đầu tư XDCB từ Ngân sách Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ hoạt động đầu tư XDCB của Nhà nước hiện nay, nguồn vốn này đặc biệt quan trọng vì nó liên quan đến việc huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư của quốc gia và cả địa phương
Trong những năm qua, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp còn là một huyện cần được đầu tư nhiều về hệ thống giao thông, hạ tầng để phát triển kinh tế - xã hội, huyện Tháp Mười được tỉnh Đồng Tháp hỗ trợ vốn nhiều nên số dự án sử dụng vốn đầu tư XDCB tăng lên đáng kể, hoạt động này cũng góp phần hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông phục vụ nhu cầu lưu thông hàng hóa không ngừng được mở rộng, nhiều dự án sử dụng vốn đầu tư XDCB phát huy có hiệu quả, giúp nâng cao đời sống của người dân, qua đó phát huy được tối đa tiềm lực và thế mạnh của địa phương Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội trong đó có hoạt động chi đầu tư XDCB từ vốn NSNN còn tồn tại nhiều khó khăn, thách thức, các dự án triển khai chậm tiến độ, kéo dài làm đội vốn NSNN, tình trạng nợ đọng ở địa phương diễn ra phức tạp, giải ngân không đạt kế hoạch so với chỉ tiêu đề ra, gây ra hậu quả như: các công trình, dự án không thể đưa vào sử dụng do thời gian thi công kéo dài, chủ đầu tư không thanh toán được khối lượng xây dựng hoàn thành, hiệu quả đầu tư kém Bên cạnh đó, hiện tượng tiêu cực trong xây dựng còn phổ biến gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công trình, gây thất thoát, lãng phí lớn Việc quản lý và sử dụng hiểu quả vốn đầu tư XDCB là một nhiệm vụ quan trọng và khó khăn do các chính sách về quản lý vốn đầu tư XDCB của Nhà nước chưa được hoàn chỉnh, do đó cần có những nghiên cứu và giải pháp quản lý sử dụng vốn hợp lý, tránh thất thoát và gây lãng phí nguồn vốn Ngân sách Nhà nước
Nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng hợp lý nguồn vốn đầu tư XDCB, tiết kiệm cho Ngân sách Nhà nước tại huyện Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp
Trang 13một cách hiệu quả, tác giả chọn đề tài: “Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
Ngân sách Nhà nước tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp” làm đề tài nghiên cứu,
tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hoạt động quản lý vốn đầu
từ xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước
2.2 Mục tiêu cụ thể
Đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu từ xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp từ năm 2017 đến năm 2019
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư xây
dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các hoạt động quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước bao gồm hoạt động sử dụng vốn chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN tại huyện Tháp Mười
4.2 Phạm vi về thời gian
Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019
5 Câu hỏi nghiên cứu
Trang 14(i) Thực trạng quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN tại huyện Tháp Mưởi, tỉnh Đồng Tháp hiện nay như thế nào?
(ii) Những nguyên nhân nào ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN tại huyện Tháp Mưởi, tỉnh Đồng Tháp trong thời gian qua?
(iii) Huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp cần những giải pháp nào để nâng cao
hiệu quả quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN?
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dự liệu thứ cấp: các thông tin thu thập trong sách chuyên ngành, sách chuyên khảo… Ngoài ra còn sử dụng các báo cáo như: báo cáo chính thức từ các cơ quan: BQLDA và phát triển quỹ đất huyện Tháp Mười, Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Tháp Mười, Kho bạc Nhà nước huyện Tháp Mười và
một số cơ quan, ban ngành huyện, xã, thị trấn
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua phỏng vấn từ các đơn vị: BQLDA và Phát triển quỹ đất huyện Tháp Mười, Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Tháp Mười, Kho bạc Nhà nước huyện Tháp Mười, Các chuyên viên nghiên cứu lĩnh vực xây dựng cơ bản của UBND huyện Tháp Mười, đơn vị Chủ đầu tư cấp
xã, thị trấn (cụ thể là UBND các xã, thị trấn)
Thông qua kết quả thu thập thông tin và nghiên cứu các tài liệu, để có cái
nhìn tổng quát, nhiều chiều, tác giả đã tham khảo ý kiến của ban, ngành có liên quan như Ủy ban nhân dân huyện Tháp Mười; Ban Quản lý dự án xây dựng huyện Tháp Mười; các trưởng, phó phòng: phòng Tài chính – Kế hoạch, phòng Kinh tế và
Hạ tầng huyện Bằng phương pháp này, Luận văn có được các đề xuất, kiến nghị
mang tính khả thi, sâu sát với thực tế và có tính tham gia của cộng đồng
Trang 15CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1 Cơ sở lý luận về vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước
1.1.1 Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước
1.1.1.1 Khái niệm đầu tư
Đầu tư là một phạm trù kinh tế quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Có nhiều cách hiểu về khái niệm này, theo nghĩa rộng nhất, có thể hiểu là quá trình bỏ vốn, bao gồm cả tiền, nguồn lực và công nghệ để đạt được những mục tiêu nhất định trong tương lai Trong hoạt động kinh tế, đầu tư mang bản chất kinh tế, đó là quá trình bỏ vốn vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận
Cũng có thể hiểu đầu tư là việc đưa một lượng vốn nhất định vào quá trình hoạt động kinh tế nhằm thu lại lượng vốn lớn hơn sau một khoảng thời gian nhất định Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình
để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư
và các quy định khác của pháp luật có liên quan (Luật đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005)
Có nhiều cách phân loại hoạt động đầu tư, chẳng hạn theo tiêu thức quan hệ hoạt động quản lý của chủ đầu tư, có hai loại: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Đầu tư trực tiếp là hình thức trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư Chẳng hạn như nhà đầu tư thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán: Trong trường hợp này nhà đầu tư có thể được hưởng các lợi ích như cổ tức, tiền lãi trái phiếu…nhưng không được tham gia quản lý trực tiếp tài sản mà mình bỏ vốn đầu
tư
Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp, hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội ĐTPT là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài
Trang 16sản nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội
ĐTXDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung Đó là việc bỏ vốn
để tiến hành các hoạt động XDCB, từ việc khảo sát và quy hoạch, thiết kế và sử dụng cho đến khi lắp đặt thiết bị hoàn thiện việc tạo ra cơ sở vật chất, nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ cho nền kinh tế quốc dân
1.1.1.2 Đầu tư xây dựng bằng vốn Ngân sách Nhà nước
Kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Hoạt động xây dựng ngày một phát triển với nhiều thành phần kinh tế tham gia Đến nay, khái niệm ĐTXD được định nghĩa như sau: Hoạt động ĐTXD là quá trình tiến hành các hoạt động xây dựng gồm xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng (Khoản 20, Điều 3, Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014) Trong đó, hoạt động xây dựng gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án ĐTXD công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình (Khoản 21, Điều 3, Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014)
Từ năm 1986 đến nay, mặc dù hoạt động ĐTXD được đa dạng hóa nguồn vốn nhưng không thể phủ nhận nguồn vốn NSNN rất quan trọng để xây dựng kết cấu hạ tầng, các công trình công cộng, các dự án phi lợi nhuận phục vụ chiến lược phát triển KT-XH của Đảng và Nhà nước Từ các phân tích trên, theo tác giả khái niệm ĐTXD từ NSNN được hiểu như sau: ĐTXD bằng nguồn vốn NSNN là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án gồm xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng phục vụ phát triển kinh tế-xã hội Thuật ngữ xây dựng cơ bản hiện nay thường chỉ sử dụng trong các tổng hợp, thống kê của cơ quan Nhà nước đối với nguồn kinh phí thực hiện ĐTXD
Trang 171.1.2 Đặc điểm nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước 1.1.2.1 Đặc điểm nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản
ĐTXDCB đòi hỏi vốn lớn, ứ đọng trong thời gian dài: Hoạt động ĐTXDCB đòi hỏi một số lượng vốn lao động, vật tư, máy móc lớn, ứ đọng trong thời gian dài trong suốt quá trình đầu tư Vì vậy, trong quá trình ĐTXDCB, chúng ta phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý, đồng thời có kế hoạch phân
bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợp đảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn, chống lãng phí nguồn lực
ĐTXDCB có thời gian thực hiện dài và thường gặp nhiều biến động Sản phẩm ĐTXDCB có giá trị sử dụng lâu dài Các thành quả của ĐTXDCB có giá trị
sử dụng lâu dài, có khi hàng trăm, hàng nghìn năm, thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các công trình nổi tiếng thế giới như vườn Babylon ở Iraq, tượng nữ thần tự do ở
Mỹ, kim tự tháp cổ Ai cập, nhà thờ La Mã ở Roma, Vạn lý trường thành ở Trung Quốc, tháp Angcovat ở Campuchia, …
Các sản phẩm đầu tư ĐTXDCB thường là các tài sản cố định, đó phần lớn là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó đựơc tạo dựng cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư, cũng như việc phát huy kết quả đầu tư
ĐTXDCB thường liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực ĐTXDCB đảm bảo tính tương ứng giữa cơ sở vật chất kỹ thuật và phương thức sản xuất
1.1.2.2 Đặc điểm nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước
Ngoài các đặc điểm chung của ĐTXDCB như đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian thực hiện lâu dài và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong quá trình thực hiện, hoạt động ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN còn có một số đặc điểm riêng như sau:
- Nguồn vốn ĐTXDCB từ Ngân sách Nhà nước là khoản chi tích lũy hay ĐTPT cho nền kinh tế Chi NSNN đầu tư trực tiếp hạ tầng kinh tế - xã hội làm gia tăng số lượng và chất lượng tài sản cố định, gia tăng giá trị tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân Vấn đề này thể hiện rõ nét thông qua việc Nhà nước tăng cường ĐTXD hạ tầng kinh tế - xã hội như giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục…
- Quy mô và cơ cấu chi ĐTXDCB của NSNN không cố định và phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ và mức độ
Trang 18phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Theo kinh nghiệm phát triển cho thấy, trong thời kỳ đầu thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, quy mô chi NSNN ĐTXDCB chiếm tỷ lệ khá lớn so với tổng đầu tư xã hội Ở giai đoạn này, do khu vực tư nhân còn yếu, trong khi chính sách thu hút vốn đầu tư chưa hoàn thiện nên Nhà nước phải tăng cường quy mô đầu tư từ NSNN để tạo đà cho tiến trình CNH-HĐH Đi cùng với sự gia tăng quy mô thì cơ cấu chi đầu tư cũng rất đa dạng để đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra như chi hỗ trợ, chi thực hiện chương trình mục tiêu kinh tế xã hội…
- Chi ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN phải gắn chặt chi thường xuyên nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư Sự phối hợp không đồng bộ giữa chi đầu tư với chi thường xuyên sẽ dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí để duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng các tài sản công đã được đầu tư Điều này sẽ làm giảm hiệu quả khai thác và
sử dụng tài sản đầu tư Sự gắn kết giữa hai nhóm chi tiêu này sẽ khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, không tính đến hiệu quả khai thác
1.1.3 Vai trò của vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước
ĐTXDCB bằng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước có tầm quan trọng đặc biệt, thể hiện vì đây là nguồn đầu tư chủ yếu để xây dựng và phát triển cơ sở vật chất -
kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho nền kinh tế quốc dân
Cơ sở vật chất – kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư bằng nguồn vốn NSNN được xem là loại hàng hóa công, đây là loại hàng hóa không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng Tính phi cạnh tranh về tiêu dùng biểu hiện cùng một lúc có hơn một người tận hưởng những lợi ích từ hàng hóa này và chi phí đáp ứng nhu cầu đòi hỏi các đối tượng tiêu dùng tăng thêm này là bằng không Phần lớn hàng hóa công do Chính phủ cung cấp, bên cạnh đó có thể huy động sự tham gia của khu vực tư để đáp ứng nhu cầu về hàng hóa công của xã hội Hàng hóa công có tính tiêu dùng chung, khi tăng thêm một người tiêu dùng thì hàng hóa công sẽ không giảm đi lợi ích của những người tiêu dùng hiện có và chi phí đáp ứng đòi hỏi của đối tượng tiêu dùng tăng thêm là bằng không Sự phát triển của xã hội trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại đã cho thấy chi tiêu công hoàn toàn không mất đi
mà trái lại nó tạo ra sự tái phân phối giữ các khu vực trong nền kinh tế Chính phủ đóng vai trò là một trung tâm của quá trình tái phân phối thu nhập thông qua các
Trang 19khoản chi tiêu công Với ý nghĩa đó, ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn nền kinh tế đang có những bước chuyển biến nhằm
sử dụng nguồn vốn đầu tư có hiệu quả Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN chuyển mạnh sang ĐTPT cho các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, cho sự nghiệp giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo
Nguồn vốn từ NSNN có một vai trò rất lớn trong ĐTXDCB để tạo những bước đột phá phát triển đất nước Tuy vậy, trong nền kinh tế nhiều thành phần thì khu vực tư nhân trong nước, khu vực nước ngoài cũng tham gia đầu tư, kinh doanh XDCB với nhiều hình thức thích hợp, ví dụ như đầu tư theo hình thức BOT (Build - Operate -Transfer: Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao), BTO (Buid - Transfer -
Operate: Xây dựng - Chuyển giao - Vận hành), BT (Build – Transfer: Xây dựng - Chuyển giao),…
1.1.4 Phạm vi chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước
Với chức năng, nhiệm vụ của mình, nhà nước chỉ đầu tư vào những ngành, lĩnh vực then chốt để phát triển kinh tế- xã hội, các ngành, lĩnh vực không có khả năng thu hồi vốn mà các thành phần kinh tế khác không muốn hoặc không được phép đầu tư Do đó phạm vi chi ĐTXDCB từ nguồn vốn NSNN tập trung chủ yếu vào các loại dự án sau:
- Dự án có quy mô lớn mà các thành phần kinh tế khác khó có khả năng đáp ứng Các dự án này thường là dự án xây dựng các công trình lớn có phạm vi ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của nền kinh tế, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế- xã hội của các vùng, miền, địa phương hoặc ngành, lĩnh vực
- Dự án có khả năng thu hồi vốn thấp, các dự án này do khả năng thu hồi vốn thấp nên không hấp dẫn các thành phần kinh tế khác đầu tư, trong khi đó các công trình này lại mang ý nghĩa kinh tế- xã hội quan trọng, do đó Nhà nước cần phải ĐTXD
- Dự án mà các thành phần kinh tế khác không được phép đầu tư, loại này thường là các công trình thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng, công trình bí mật Nhà nước, các công trình có ảnh hưởng lớn đến môi trường và đời sống kinh tế- xã hội của nhân dân
Trang 201.2 Cơ sở lý luận về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước
1.2.1 Khái niệm về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước
Quản lý nhà nước về ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp và hành chính thực hiện nhằm tạo hành lang pháp lý và hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người đại diện sở hữu nhà nước trong các dự án, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí NSNN QLNN về ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN là quản lý việc thực hiện các dự án, các công trình đầu tư mà sản phẩm là các công trình công cộng Đảm bảo hoạt động đầu tư công đạt được tốt nhất mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với chi phí thấp nhất
1.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước
- Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả: tiết kiệm và đạt hiệu quả cao vừa là mục tiêu, vừa là phương hướng, tiêu chuẩn để đánh giá hoạt động QLNN về ĐTXDCB bằng vốn NSNN Nội dung của nguyên tắc này là quản lý sao cho với một đồng vốn ĐTXDCB do NSNN bỏ ra phải thu được lợi ích lớn nhất Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả phải được xem xét trên phạm vi toàn xã hội và trên tất cả các phương diện kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội,…
- Nguyên tắc tập trung, dân chủ: trong quản lý ĐTXDCB bằng vốn NSNN, nguyên tắc này thể hiện toàn bộ vốn ĐTXDCB từ NSNN được tập trung quản lý theo một cơ chế thống nhất của nhà nước thông qua các tiêu chuẩn, định mức, các quy trình, quy phạm về kỹ thuật nhất quán và rành mạch Việc phân bổ vốn ĐTXDCB từ NSNN phải theo một chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tổng thể Tính dân chủ là đảm bảo cho mọi người cùng tham gia vào quản lý sử dụng vốn ĐTXDCB từ NSNN Dân chủ đòi hỏi phải công khai cho mọi người biết, thực hiện
cơ chế giám sát cộng đồng minh bạch, công khai các số liệu liên quan đến ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN
Trang 21- Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với theo vùng và lãnh thổ:
+ QLNN về ĐTXDCB bằng vốn NSNN theo ngành trước hết bằng các quy định về tiêu chuẩn, định mức kỹ thuật do Bộ Xây dựng và các Bộ quản lý chuyên ngành ban hành Quản lý theo địa phương, vùng là xây dựng đơn giá vật liệu, nhân công, ca máy cho từng địa phương, phụ cấp lao động theo từng vùng lãnh thổ Ngoài ra, trong QLNN về ĐTXDCB bằng vốn NSNN còn phải tuân thủ các nguyên tắc như phải thực hiện đúng trình tự đầu tư và xây dựng; phân định rõ trách nhiệm
và quyền hạn của cơ quan QLNN, chủ đầu tư, tổ chức tư vấn và nhà thầu trong quá trình ĐTXDCB
+ QLNN về ĐTXDCB bằng vốn NSNN là nhằm mục tiêu vốn NSNN được
sử dụng một cách có hiệu quả nhất, chống thất thoát, lãng phí Vì vậy, vai trò của QLNN về ĐTXDCB bằng vốn NSNN là rất quan trọng Các cơ quan QLNN có vai trò quan trọng trong việc quản lý hoạt động ĐTXDCB vì đây là cơ quan có thẩm quyền quyết định đối với khả năng thực hiện của dự án; đồng thời cũng thực hiện chức năng phân bổ, cân đối vốn ĐTXDCB một cách hợp lý giữa Trung ương và các địa phương, giữa các vùng miền sao cho đạt được hiệu quả tổng thể của cả nền kinh
1.2.3 Nội dung quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn Ngân sách Nhà nước 1.2.3.1 Lập kế hoạch đầu tư, phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước
Kế hoạch hóa đầu tư đóng vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN Thực hiện tốt hoạt động này sẽ là cơ sở quan trọng để các ngành, địa phương chủ động đẩy mạnh đầu tư có định hướng, cân đối nguồn lực, tránh được hiện tượng đầu tư chồng chéo, thiếu đồng bộ, dàn trải, lãng
phí nguồn lực của NSNN
Trang 22Để có được kế hoạch vốn đầu tư tối ưu trước hết phải xây dựng chiến lược đầu tư hợp lý, xác định ưu tiên đầu tư vào ngành nào, vùng nào? Đầu tư như thế nào
và mức độ đầu tư bao nhiêu thì sẽ mang lại hiệu quả cao nhất, từ đó xác định được
cơ cấu vốn đầu tư theo ngành, vùng và cơ cấu vốn đầu tư theo nhóm dự án (A, B, C) Sau khi xây dựng được chiến lược đầu tư hợp lý phải lập được quy hoạch đầu tư nhằm hoạch định trước những vùng, những ngành cần được đầu tư, mức vốn đầu tư, thời gian đầu tư… Dựa vào quy hoạch để lập kế hoạch vốn đầu tư nhằm xác định nhu cầu và khả năng đáp ứng vốn trong từng giai đoạn nhất định cho thời hạn 10 năm, 5 năm, 1 năm theo từng nguồn vốn đầu tư khác nhau (vốn đầu tư tập trung, vốn chương trình mục tiêu, vốn đầu tư từ thu tiền sử dụng đất, vốn ODA (là nguồn tiền mà chính phủ, các cơ quan chính thức các nước hoặc các tổ chức phi chính phủ, quốc tế cho các nước đang và kém phát triển vay để phát triển kinh tế - xã hội) , vốn trái phiếu Chính phủ…)
Từ 01/01/2015, Luật Đầu tư công bắt đầu có hiệu lực, việc ĐTXDCB cũng như ĐTPT ở các địa phương phải được thực hiện theo kế hoạch đầu tư công trong 5 năm (gọi là kế hoạch đầu tư công trung hạn) bắt đầu từ kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn năm 2016 – 2020
1.2.3.2 Lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư
ĐTXDCB có đặc điểm nổi bật là thời gian dài, vốn đầu tư lớn, rủi ro cao Để giảm thiểu khả năng rủi ro, các nhà đầu tư thường đầu tư theo dự án đầu tư Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về
số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian nhất định
Đầu tư theo dự án là phương pháp đầu tư khôn ngoan nhất Dự án được hiểu như là sự luận chứng một cách đầy đủ về mọi phương diện của một cơ hội đầu tư, giúp cho chủ đầu tư có đủ độ tin cậy cần thiết Những nội dung chủ yếu của một dự
án đầu tư thường bao gồm: xác định sự cần thiết phải đầu tư, lựa chọn hình thức đầu tư; chương trình sản xuất và các yếu tố phải đáp ứng (đối với các dự án có sản xuất); các phương án địa điểm cụ thể phải phù hợp với quy hoạch xây dựng; phương án giải phóng mặt bằng và bố trí tái định cư (nếu có); phân tích lựa chọn
Trang 23phương án kỹ thuật, công nghệ; phương án kiến trúc, giải pháp xây dựng, thiết kế sơ
bộ của phương án đề nghị lựa chọn; giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường; phương án về vốn, các mốc thời gian chính thực hiện đầu tư; hình thức quản lý thực hiện dự án; xác định chủ đầu tư; mối quan hệ và trách nhiệm của các cơ quan liên quan đến dự án
Dự án đầu tư được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, dựa vào tính chất của ngành cần đầu tư và số vốn đầu tư của một dự án, các dự án được chia thành các nhóm A, B, C; dựa vào mục tiêu đầu tư, có dự án đầu tư mới và dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng; dựa vào tính chất đầu tư của dự án, có dự án đầu tư có xây dựng và dự án đầu tư không có xây dựng
Thẩm định dự án đầu tư là việc kiểm tra lại các điều kiện quy định phải đảm bảo của một dự án đầu tư trước khi quyết định đầu tư Tất cả các dự án đầu tư sử dụng vốn NSNN để ĐTPT phải được thẩm định Nội dung thẩm định dự án đầu tư tùy theo từng loại dự án, đó là các điều kiện nhằm đảm bảo sự phù hợp với quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ; các điều kiện tài chính, giá cả, hiệu quả đầu tư; đảm bảo an toàn về tài nguyên, môi trường; các vấn đề xã hội của dự án… Sau khi thẩm định dự án đầu tư, nếu dự án đạt được những yêu cầu cơ bản về nội dung thẩm định và có tính khả thi cao thì cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định phê duyệt dự
án đầu tư
1.2.3.3 Lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu, kế hoạch đầu thầu
Lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng được thực hiện đối với các công việc, nhóm công việc hoặc toàn bộ công việc lập quy hoạch chi tiết xây dựng, lập dự án ĐTXD công trình, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, giám sát thi công
và các hoạt động có liên quan khác đến dự án Việc lựa chọn nhà thầu phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây:
- Đáp ứng được hiệu quả của dự án ĐTXD công trình;
- Nhà thầu phải có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng phù hợp yêu cầu dự án, có giá thầu hợp lý;
- Khách quan, công khai, minh bạch, công bằng;
- Người quyết định đầu tư, chủ đầu tư có quyền quyết định hình thức lựa chọn nhà thầu nhưng phải tuân thủ các quy định của Pháp luật
Trang 24Tuỳ theo quy mô, tính chất, nguồn vốn ĐTXD công trình, người quyết định đầu tư hoặc chủ ĐTXD công trình lựa chọn nhà thầu theo các hình thức sau: đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, Chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh, tự thực hiện
Cụ thể:
- Đấu thầu rộng rãi: đối với đấu thầu rộng rãi, không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự Trước khi phát hành hồ sơ mời thầu, bên mời thầu phải thông báo mời thầu theo quy định tại Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu
để các nhà thầu biết thông tin tham dự Bên mời thầu phải cung cấp hồ sơ mời thầu cho các nhà thầu có nhu cầu tham gia đấu thầu Trong hồ sơ mời thầu không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng
- Đấu thầu hạn chế: khác với đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế hạn chế số nhà thầu tham dự nhưng phải mời tối thiểu năm nhà thầu được xác định là có đủ năng lực và kinh nghiệm tham gia đấu thầu; trường hợp thực tế có ít hơn năm nhà thầu, chủ đầu tư phải trình người có thẩm quyền xem xét, quyết định cho phép tiếp tục tổ chức đấu thầu hạn chế hoặc áp dụng hình thức lựa chọn khác Đấu thầu hạn chế chỉ được áp dụng trong các trường hợp theo yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài đối với nguồn vốn sử dụng cho gói thầu hoặc gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù; gói thầu có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm mà chỉ
có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu
- Chỉ định thầu: chỉ định thầu là hình thức được áp dụng nhiều nhất trong các công trình xây dựng, việc thực hiện chỉ định thầu nghĩa là lựa chọn trực tiếp các nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu để ký kết hợp đồng, và chỉ được áp dụng hình thực chỉ định thầu trong các trường hợp như: cần phải khắc phục ngay những sự cố
do thiên tai, địch họa; dự án cần triển khai ngay để bảo đàm chủ quyền quốc gia gói thầu dự án bí mật quốc gia, mua sắm các loại vật tư, thiết bị đã mua từ một nhà thầu
mà không thể mua nhà thầu khác do đảm bảo tính tương thích công nghệ; gói thầu
di dời công trình hạ tầng kỹ thuật do một đơn vị chuyên ngành trực tiếp quản lý để giải phóng mặt bằng; rà phá bom mìn để chuẩn bị mặt bằng thi công; và các dự án nằm trong hạn mức được phê duyệt chỉ định thầu
Trang 25- Chào hàng cạnh tranh: trước ngày Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013 có hiệu lực, việc thực hiện luật đấu thầu hình thức chào hàng cạnh tranh chỉ áp dụng với gói thầu mua sắm hàng hóa, sau này được mở rộng ra cả gói thầu xây lắp và phi tư vấn Hình thức này được áp dụng khi có kế hoạch đấu thầu được duyệt, dự toán được duyệt và được bố trí vốn theo yêu cầu tiến độ thực hiện hợp đồng
- Tự thực hiện: đây là hình thức mà chủ đầu tư đóng hai vai trò, vừa là chủ đầu tư nhưng cũng vừa là đơn vị thi công Hình thức tự thực hiện được áp dụng trong trường hợp chủ đầu tư là nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm để thực hiện gói thầu thuộc dự án do mình quản lý và sử dụng Khi áp dụng hình thức tự thực hiện, dự toán cho gói thầu phải được phê duyệt theo quy định Đơn vị giám sát việc thực hiện gói thầu phải độc lập với chủ đầu tư về tổ chức và tài chính Ngoài ra là hai hình thức mua sắm trực tiếp và lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc thù riêng biệt mà không thể áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu khác
1.2.3.4 Thanh, quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước
- Thanh toán vốn đầu tư: là việc chủ đầu tư trả tiền cho nhà thầu khi có khối lượng công việc hoàn thành được nghiệm thu Thanh toán vốn đầu tư có thể được thành toán theo tuần kỳ, tức là sau một thời gian thi công chủ đầu tư sẽ thanh toán cho nhà thầu một khoản tiền; có thể được thanh toán theo giai đoạn quy ước hay điểm dừng kỹ thuật hợp lý; có thể được thanh toán theo khối lượng XDCB hoàn thành hay thanh toán theo công trình, hạng mục công trình hoàn thành Việc lựa chọn phương thức thanh toán nào là tùy thuộc vào điều kiện thực tế của từng giai đoạn, khả năng về vốn của chủ đầu tư và nhà thầu Vấn đề là phải kết hợp được hài hòa lợi ích của chủ đầu tư và nhà thầu Với nguyên tắc chung là kỳ hạn thanh toán càng ngắn mà đảm bảo có khối lượng hoàn thành nghiệm thu thì càng có lợi cho cả hai bên, vừa đảm bảo vốn cho nhà thầu thi công vừa đảm bảo thúc đẩy tiến độ thi công công trình
- Quyết toán vốn đầu tư hay quyết toán dự án hoàn thành của một dự án là tổng kết, tổng hợp các khoản thu chi để làm rõ tình hình thực hiện dự án Thực chất quyết toán vốn đầu tư của một dự án, công trình, hạng mục công trình là xác định giá trị của dự án, công trình, hạng mục công trình đó hay là xác định vốn đầu tư
Trang 26được quyết toán Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã được thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án, công trình, hạng mục công trình vào khai thác sử dụng Chi phí hợp pháp là chi phí theo đúng hợp đồng đã ký kết và thiết kế dự toán đã được phê duyệt, bảo đảm đúng quy chuẩn, định mức, đơn giá, chế độ tài chính - kế toán và những quy định hiện hành của nhà nước có liên quan
- Kiểm tra, giám sát vốn ĐTXDCB: kiểm tra, giám sát là một khâu quan trọng trong chu trình quản lý vốn đầu tư Kiểm tra, giám sát nhằm tìm ra những mặt
ưu điểm, những nhân tố mới, tích cực để phát huy; đồng thời phát hiện những sai lệch của đối tượng quản lý vốn để uốn nắn kịp thời Mặt khác, qua kiểm tra, giám sát có thể phát hiện những điểm bất cập, bất hợp lý trong cơ chế quản lý, thậm chí ngay cả chủ trương, quyết định đầu tư để kịp thời sửa đổi cho phù hợp
1.2.3.5 Kiểm tra, giám sát quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước
- Giám sát, đánh giá ĐTXD cơ bản bằng nguồn vốn NSNN
+ Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, cơ quan QLNN các cấp thực hiện nhiệm vụ giám sát, đánh giá đầu tư theo quy định của các Luật liên quan đến ĐTXDCB và pháp luật liên quan
+ Người có thẩm quyền quyết định đầu tư, chủ đầu tư phải tổ chức việc giám sát, đánh giá đầu tư thuộc phạm vi quản lý của mình
+ Người có thẩm quyền quyết định đầu tư quyết định việc tổ chức giám sát, đánh giá đầu tư dự án đầu tư công do mình quyết định đầu tư
+ Các Bộ, ngành và UBND các cấp, các tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan giám sát, đánh giá đầu
+ Việc giám sát, đánh giá ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN của cộng đồng được thực hiện theo quy định của Chính phủ
Trang 27- Thanh tra, kiểm tra các hoạt động ĐTXDCB bằng vốn NSNN
+ Các hoạt động ĐTXDCB bằng vốn NSNN chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng nhà nước theo từng lĩnh vực quản lý
+ Hoạt động thanh tra, kiểm tra về đầu tư thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra các lĩnh vực xây dựng, kế hoạch và đầu tư, tài chính, thuế
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn Ngân sách Nhà nước
1.2.4.1 Nhân tố khách quan
- Cơ chế, chính sách quản lý ĐTXD: Cơ chế quản lý ĐTXD là các quy định của Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền về các nội dung quản lý làm
chế tài để quản lý hoạt động đầu tư và xây dựng Nếu cơ chế quản lý đầu tư và xây
dựng mang tính đồng bộ cao sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy nhanh hoạt động ĐTXD, tiết kiệm trong việc vốn NSNN trong ĐTXDCB, ngược lại nếu cơ chế thường xuyên thay đổi hoặc không phù hợp với thực tế sẽ dẫn tới giảm hiệu quả vốn NSNN trong ĐTXDCB Trong thời gian qua, các cơ quan trung ương đã có nhiều
cố gắng trong việc nghiên cứu, ban hành các cơ chế chính sách mới cho phù hợp hơn, góp phần quản lý tốt nguồn vốn NSNN trong ĐTXDCB Tuy nhiên, cơ chế chính sách liên quan đến quản lý ĐTXDCB vẫn chưa theo kịp thực tế cuộc sống, cần phải được tiếp tục hoàn thiện Ngoài nguồn vốn tập trung có tiêu chí phân bổ cụ thể, rõ ràng, các nguồn vốn TPCP, chương trình mục tiêu, hỗ trợ mục tiêu, vốn ODA chưa có tiêu chí phân bổ, nặng cơ chế xin cho được cho là một trong các nguyên nhân làm giảm hiệu quả vốn NSNN trong ĐTXDCB
- Các chính sách kinh tế vĩ mô: Chính sách tài khoá (chủ yếu là chính sách thuế và chính sách chi tiêu của Chính phủ), Chính sách tiền tệ (công cụ là chính sách lãi suất và mức cung ứng tiền), chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ; chính sách đầu tư có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động quản lý vốn NSNN trong ĐTXDCB cũng như đến hiệu quả của nó Các chính sách này cùng với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn của trung ương có vai trò định hướng mục tiêu, quy mô, nguồn lực cho ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN Nếu các chính sách đưa ra là hợp lý, ổn định sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN trong ĐTXDCB với một cơ cấu đầu tư hợp lý, hài
Trang 28hoà, đảm bảo đủ nguồn lực về tài chính, tín dụng, nguồn vốn cho cơ quan nhà nước cũng như các nhà thầu xây dựng, thiết bị Ngoài ra, trong quá trình khai thác sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành, các chính sách kinh tế cũng có tác động làm cho các đối tượng này phát huy tác dụng tích cực hay tiêu cực, tức là làm cho vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp Thực tế cho thấy, trong thời gian 2 -
3 năm trở lại đây, chính sách kinh tế vĩ mô thường xuyên thay đổi, tính ổn định không cao đã có những tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà thầu xây lắp như khó khăn về vốn, tín dụng, ngoại tệ để nhập khẩu, Nhiều quy hoạch ngành như phát triển thương mại, phát triển giao thông, phát triển nông nghiệp, công nghiệp, chậm được sửa đổi hoặc ban hành mới nên không có rủi ro cho các địa phương khi quyết định đầu tư hạ tầng kỹ thuật để phục vụ cho phát triển các lĩnh vực kinh tế ngành
- Năng lực nhà thầu tư vấn và nhà thầu xây lắp: năng lực của nhà thầu xây dựng và nhà thầu tư vấn không đáp ứng yêu cầu của dự án sẽ khiến thời gian đầu tư
bị kéo dài và dễ xảy ra lãng phí trong ĐTXD, giảm hiệu quả đầu tư
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của địa phương:
+ Điều kiện tự nhiên trên địa bàn với các đặc điểm về địa chất, khí hậu, phân
bố địa lý có tác động nhất định đến hiệu quả sử dụng vốn NSNN trong ĐTXDCB Đối với địa bàn có địa chất ổn định, vững chắc, khí hậu thuận lợi cho việc khảo sát, thi công và không mất nhiều kinh phí xử lý nền móng cũng như việc vận chuyển vật liệu, máy móc phục vụ thi công được thuận tiện sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
+ Điều kiện kinh tế - xã hội: Hiệu quả vốn NSNN trong ĐTXDCB có mối
quan hệ chặt chẽ với điều kiện kinh tế - xã hội Thông thường điều kiện kinh tế - xã hội ổn định, đời sống của người dân được đảm bảo, nguồn vốn NSNN cho ĐTXDCB không chỉ được đảm bảo theo kế hoạch mà còn có thể được bổ sung đảm bảo đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn đầu tư Điều kiện kinh tế - xã hội cùng với mặt bằng về dân trí khá còn là điều kiện quan trọng để thực hiện hiệu quả hoạt động giám sát đầu tư, nhất là đối với các công trình thực hiện giám sát cộng đồng, đồng thời cũng thuận lợi trong việc thực hiện các chính sách của nhà nước về bồi thường GPMB phục vụ cho thực hiện dự án ĐTXDCB
Trang 291.2.4.1 Nhân tố chủ quan
- Hoạt động lập kế hoạch và phân bổ vốn chưa thực hiện đúng theo Luật đầu
tư công, việc ước lượng các nguồn vốn đầu tư công trung hạn và hàng năm còn khó khăn dẫn đến nhiều dự án không được thực hiện, mặt khác do việc ước lượng nguồn thu NSNN tại địa phương chưa được thực hiện đầy đủ vì vậy địa phương không chủ động được nguồn lực (ví dụ: nguồn thu tiền sử dụng đất của địa phương còn tùy thuộc vào thị trường, vốn trái phiếu chính phủ chưa rõ ràng…)
- Hoạt động đấu thầu, lựa chọn nhà thầu thiếu khách quan và chưa tuân thủ theo quy định của pháp luật, điển hình của nhân tố này là việc Nhà thầu tìm cách loại bớt hoặc hạn chế việc nhà thầu tham gia gói thầu và để cho nhà thầu mà mình
ưu ái trúng thầu Điều này không chỉ làm lãng phí, thậm chí thất thoát Ngân sách Nhà nước, mà còn tác động tiêu cực đến hoạt động của những doanh nghiệp là nhà thầu chân chính, có năng lực thực sự
- Hoạt động lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư khâu quan trọng để đảm bảo đầu tư có hiệu quả và phát triển lâu dài Hiện nay, công tác quy hoạch vẫn tồn tại nhiều bất cập, thiếu tính chiến lược tổng thể giữa các cấp, ngành; thiếu tầm nhìn dài hạn, không sát thực; thiếu sự kết hợp giữa các loại quy hoạch, giữa quy hoạch xây dựng vùng và quy hoạch xây dựng đô thị, nên nhiều dự án phải điều chỉnh hoặc di chuyển, kéo dài thời gian xây dựng công trình
- Hoạt động thanh, quyết toán chưa kịp thời và đúng quy định, một số dự án không có khả năng hoàn thiện thủ tục đầu tư và khả năng thực hiện, nhưng vẫn đăng
ký để giao kế hoạch Tình trạng thiếu minh bạch, công bằng trong lập phương án đền bù giải phóng mặt bằng gây ra hiện tượng kê khai hoặc nâng khống giá trị tài sản đền bù, gây thiệt hại cho NSNN Trong thi công xây dựng, thất thoát ở giai đoạn nghiệm thu, thanh toán khối lượng xây lắp hoàn thành do việc áp dụng sai đơn giá, sai các định mức kinh tế kỹ thuật, tính toán không chính xác khối lượng xây lắp hoàn thành, nhà thầu thông đồng với cán bộ giám sát của chủ đầu tư nghiệm thu khống
- Hoạt động kiểm tra, giám sát là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư các dự án xây dựng Đặc điểm của hoạt động ĐTXDCB là qua rất nhiều giai đoạn khác nhau, do đó hoạt động kiểm tra, giám sát cũng bao gồm nhiều
Trang 30giai đoạn xuyên suốt quá trình đầu tư: Từ giai đoạn xem xét chủ trương đầu tư, hoạt động chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư cho đến khi kết thúc dự án bàn giao đưa vào khai thác sử dụng và liên quan đến rất nhiều chủ thể quản lý khác nhau Do đó quản lý đầu tư là một hoạt động phức tạp và chất lượng hoạt động kiểm tra, giám sát
ở mỗi giai đoạn đều ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho mỗi công trình, dự án
- Năng lực và trách nhiệm của các chủ thể tham gia quản lý ĐTXDCB
+ Trong các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN thì con người tham gia quản lý đầu tư có ý nghĩa quyết định, nó chi phối toàn bộ các nhân tố khác và sự tác động tiêu cực hay tích cực của nó sẽ quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
+ Đặc điểm của việc quản lý vốn NSNN trong ĐTXDCB là nguồn vốn đầu
tư thường không thuộc quyền sở hữu của chủ đầu tư và việc quản lý liên quan đến rất nhiều chủ thể, do đó việc quản lý là rất phức tạp và đòi hỏi năng lực, trách nhiệm của mỗi chủ thể quản lý phải phù hợp với mỗi khâu của quá trình quản lý, trong đó trách nhiệm của mỗi chủ thể quản lý có ý nghĩa quyết định Nếu người quyết định đầu tư và chủ đầu tư tinh thần trách nhiệm không cao sẽ dễ gây ra thất thoát, lãng phí trong quản lý sử dụng vốn đầu tư
+ Việc phân định trách nhiệm của các chủ thể tham gia quản lý ĐTXD có rõ ràng hay không và xây dựng chế tài xử lý vi phạm trong quản lý cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Ngoài ra, vai trò năng lực, trách nhiệm của người được giao quản lý, sử dụng công trình, dự án hoàn thành cũng có tác động nhất định đến hiệu quả vốn đầu tư; nếu sử dụng, khai thác tốt nó sẽ giúp tăng hiệu quả vốn đầu tư, ngược lại sẽ làm giảm hiệu quả
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã tập trung xây dựng hệ thống lý thuyết về những nội dung cơ bản của quản lý ĐTXDCB từ nguồn vốn NSNN, bao gồm: tổng quan về ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN, QLNN về ĐTXDCB từ nguồn vốn NSNN, sự cần thiết và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý ĐTXDCB từ nguồn vốn NSNN Cuối cùng là đưa ra tổng quan nghiên cứu trước đây ở các tỉnh thành khác về quản lý ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI HUYỆN
THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP 2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của huyện Tháp Mười
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Hiện nay Tháp Mười có 12 xã và 1 thị trấn: Thị trấn Mỹ An, Hưng Thạnh,
Mỹ Hoà, Trường Xuân, Thanh Mỹ, Đốc Binh Kiều, Mỹ Quý, Mỹ Đông, xã Tân Kiều, Phú Điền, Thạnh Lợi, Láng Biển và Thị Trấn Mỹ An, với vị trí tiếp giáp như vậy, huyện có nhiều điều kiện thuận lợi để giao thương kinh tế với Thành phố Cao Lãnh và các tỉnh lân cận Phía Bắc giáp tỉnh Long An và huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp; phía Đông giáp huyện Tân Thạnh tỉnh Long An; phía Tây và Tây – Nam giáp huyện Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp; phía Nam và Đông – Nam giáp huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang Từ vùng đất cực Bắc của huyện (Thạnh Lợi) cực Nam (Thanh Mỹ) có độ dài khoảng 45km, chiều rộng từ Mỹ Quý đến Đốc Binh Kiều khoảng 26km Từ TT.Mỹ An đi theo đường bộ đến Cao Lãnh khoảng 30km; đi An
Cư (Quốc lộ I) khoảng 31km; đi TT.Cai Lậy 40km, đi thành phố Hồ Chí Minh 140km Đường thủy từ sông Tiền vào theo kinh Nguyễn Văn Tiếp B tới xã Thanh
Mỹ khoảng 5km, theo kinh Nguyễn Văn Tiếp A đến TT.Mỹ An khoảng 25km
Diện tích tự nhiên 52.800 ha (trong đó đất nông nghiệp: 45.774 ha và đất phi nông nghiệp: 7.026 ha) bằng gần 17% diện tích của tỉnh Đồng Tháp; huyện nằm ở vùng thấp, tương đối bằng phẳng nhưng vùng đất phía Nam và phía Tây có độ cao hơn phía Đông, phía Bắc so với các vùng xung quanh; địa hình của huyện tương đối thấp, qua tổng kết nhiều năm cho thấy độ ngập từ 0,5 m trở lên chiếm tỷ lệ 99,7 % tổng diện tích tự nhiên và thời gian ngập từ 3 đến 4 tháng
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện đạt 13,87%, trong đó khu vực nông - lâm - thủy sản tăng 7%; Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 34,87%; Khu vực thương mại - dịch vụ tăng 32,14%; GDP bình quân đầu người đạt 15.059.425 đồng (Tạp chí thi đua khen thưởng, năm 2009)
Trang 32Trong những năm qua đã có chuyển hướng tính cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng, thương mại dịch vụ, giảm tỷ trọng nông – lâm nghiệp Hiện tại huyện có một Chợ trung tâm đạt loại I và 01 siêu thị cùng với nhiều chợ loại 2,3 ở trung tâm các xã
Tuy nhiên Tháp Mười lại là một vùng trũng thấp của tỉnh Đồng Tháp, những năm qua lũ lụt thường xuyên xảy ra gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản của nhân dân cả về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và kinh tế - xã hội
Tháp Mười là vựa lúa lớn của Đồng Tháp Năm 2009 tổng diện tích gieo trồng của huyện là 89.599 ha tăng 464 ha so với năm 2008, sản lượng đạt 535 tấn, tăng 13227 tấn so với năm 2008 Cơ cấu cây trồng, vật nuôi từng bước chuyển biến tích cực
Ngoài lúa, sen cũng là một loại cây trồng chủ lực của huyện, cho giá trị kinh
tế ca Năm 2010, Tháp Mười có gần 1000 ha sen tập trung chủ yếu ở các xã Mỹ Qúi, Mỹ Đông, Láng Biển, Mỹ An Chăn nuôi của huyện cũng phát triển mạnh, hiện nay đàn gia súc toàn huyện có 8.636 con, đàn gia cầm 235.017 con
2.2 Cơ sở pháp lý về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước
2.2.1 Một số văn bản pháp lý có liên quan đến vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước
Trong bố trí vốn luôn ưu tiên bố trí cho các công trình trả nợ, tiếp đến là công trình chuyển tiếp sau cùng là công trình mới Về thời gian tiếp nhận hồ sơ bố trí kế hoạch thực hiện theo quy định của Luật đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014
Trước yêu cầu đổi mới quản lý vốn ĐTXDCB và khả năng đáp ứng vốn NSNN có hạn, giai đoạn 2011-2017 chứng kiến sự biến đổi lớn trong việc ban hành các văn bản điều chỉnh hoạt động quản lý vốn ĐTXD của nhà nước Điều này phản ánh quyết tâm của Chính phủ trong việc cải tiến chất lượng quản lý vốn đầu tư NSNN so với giai đoạn trước (Chi tiết tác giả nêu tại Phụ lục số 03)
2.2.1.1 Giai đoạn trước 2014
Các nội dung của hoạt động ĐTXCB được điều chỉnh bởi cơ bản trên 12 Luật, 16 Nghị định hướng dẫn và các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông
Trang 33tư của các Bộ ngành quy định cụ thể về từng nội dung của hoạt động XDCB Tuy nhiên, những nội dung này chưa quy định các nội dung về quản lý đầu tư như: kế hoạch đầu tư, phân bổ và quản lý vốn và các nguồn lực đầu tư qua các chương trình
và dự án đầu tư, tổ chức quản lý quá trình đầu tư từ khâu kế hoạch đến khâu quản lý khai thác, sử dụng các dự án, kiểm tra, giám sát, đánh giá các dự án đầu tư để đảm bảo hiệu quả đầu tư Thêm vào đó, việc quản lý vốn của ĐTXDCB tách rời với chu trình NSNN Do vậy, tình trạng ứng vốn, phê duyệt TMĐT vượt quá khả năng cân đối diễn ra phổ biến, kế hoạch ĐTXDCB từ NSNN bị coi nhẹ, thường xuyên phá
vỡ
Để khắc phục tình trạng trên, các cơ quan QLNN đã ban hành nhiều văn bản sửa đổi, bổ sung, chấn chỉnh như: Luật số 38/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến ĐTXDCB, Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 và Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 28/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư và xử lý XDCB từ nguồn vốn NSNN và TPCP Các văn bản này, tuy chưa cải thiện được tính thống nhất trong hệ thống pháp luật về quản lý vốn ĐTXDCB, nhưng khởi đầu cho một sự thay đổi toàn diện
2.2.1.2 Giai đoạn từ năm 2014
Năm 2014 đánh dấu sự ra đời của Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014 (hiệu lực từ ngày 01/1/2015) với nhiều quy định mới theo hướng siết chặt, lập lại kỷ cương, kỷ luật trong quản lý đầu tư công Việc thể chế hóa quy trình quyết định chủ trương đầu tư là một trong những nội dung đổi mới quan trọng nhất của Luật Đầu tư công nhằm ngăn ngừa sự tùy tiện, chủ quan, duy ý chí trong việc quyết định chủ trương đầu tư, nâng cao trách nhiệm của người ra quyết định chủ trương đầu tư Cùng với đó, quy định đổi mới hoạt động thẩm định về nguồn vốn và cân đối vốn trước khi quyết định chủ trương đầu tư sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng và hiệu quả của chương trình, dự án đầu tư công, bảo đảm bố trí vốn một cách tập trung cho các mục tiêu, dự án ưu tiên cần thiết phải đầu tư, khắc phục tình trạng phê duyệt quá nhiều dự án, dẫn đến đầu tư dàn trải, lãng phí, kém hiệu quả Điểm cách mạng trong Luật Đầu tư công phải kể đến hoạt động lập kế hoạch đầu tư, chuyển từ việc lập kế hoạch ngắn hạn, hàng năm sang kế hoạch trung hạn 5 năm, đồng bộ với kế hoạch phát triển KTXH 5 năm Đây là lần đầu tiên hoạt động
Trang 34theo dõi, đánh giá thực hiện kế hoạch đầu tư và các chương trình, dự án đầu tư công, đặc biệt là quy định về giám sát cộng đồng được quy định trong Luật
Cùng với Luật Đầu tư công, nhiều Luật điều chỉnh hoạt động ĐTXDCB được cập nhật, thay đổi cho phù hợp như:
- Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 (có hiệu lực từ 01/01/2015), trong đó có quy định mới, bổ sung hình thức BQLDA chuyên nghiệp, ban quản lý khu vực đối với các công trình đầu tư công nhằm từng bước nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp của BQLDA; quy định về đổi mới, kiểm soát, quản lý chất lượng xây dựng, đưa ra 5 hình thức quản lý dự án; quy định vấn đề quản lý các hoạt động xây dựng tập trung vào tất cả các khâu, từ quy hoạch xây dựng, lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi, thẩm định phê duyệt dự án ĐTXD cho đến khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, nghiệm thu, bàn giao, bảo hành, bảo trì các công trình xây dựng
- Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014 (hiệu lực từ 01/07/2015), tập trung sửa đổi một số quy định nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính trong đấu thầu; ưu tiên tạo cơ hội nhà thầu trong nước và tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước; quy định hình thức mua sắm tập trung nhằm nâng cao hiệu quả, rút ngắn thời gian và chi phí tổ chức mua sắm
- Năm 2015, Luật NSNN số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 (có hiệu lực từ năm ngân sách 2017) thay thế Luật NSNN 2002 được ban hành khẳng định sự tiến
bộ trong một bậc trong việc lập ngân sách thực hiện ĐTXDCB, trong đó bước đầu
đề cập tới lập ngân sách theo kết quả đầu ra Luật đã bổ sung quy định pháp lý về kế hoạch tài chính 5 năm, kế hoạch tài chính NSNN 3 năm Luật bổ sung và quy định
rõ hơn về nguyên tắc chi NSNN: theo đó tất cả các khoản chi NSNN chỉ được thực hiện khi có dự toán được cấp có thẩm quyền giao và phải đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Ngân sách các cấp, đơn vị dự toán ngân sách không được thực hiện nhiệm vụ chi khi chưa có nguồn tài chính, dự toán chi làm phát sinh nợ khối lượng XDCB Vốn vay chỉ để ĐTPT, không dùng cho chi thường xuyên Tính minh bạch, công khai thu, chi NSNN được quy định rõ trong Luật: các cấp ngân sách và các đơn vị sử dụng ngân sách có trách nhiệm công khai tình hình thực hiện dự toán ngân sách kèm theo báo
Trang 35cáo thuyết minh Kết quả thực hiện kiến nghị của Kiểm toán nhà nước, các thủ tục NSNN cũng phải được công khai dưới sự giám sát của cộng đồng Tóm lại, Luật NSNN đã đảm bảo sự thống thất của NSNN, vai trò định hướng của NSTW, tăng cường phân cấp quản lý ngân sách, phát huy tính chủ động của ngân sách các cấp chính quyền địa phương Tăng cường kỷ luật tài khóa trong hoạt động quản lý vốn
từ NSNN nói chung và vốn cho hoạt động ĐTXDCB nói riêng
- Năm 2017, Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14 ngày 23/11/2017 được ban hành (hiệu lực từ 01/07/2018) đã củng cố hệ thống pháp luật về quản lý nợ công, Luật Quản lý nợ công quy định việc huy động, quản lý, sử dụng nguồn vay cho đầu tư công Luật quy định hoạt động vay, sử dụng vốn vay, trả nợ và nghiệp
vụ quản lý nợ công, bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ chính quyền địa phương Quản lý nợ công phải trên cơ sở bảo đảm nền tài chính quốc gia
an toàn, bền vững và ổn định kinh tế vĩ mô Việc đề xuất, thẩm định, phê duyệt chủ trương vay, đàm phán, ký kết thỏa thuận vay và phát hành công cụ nợ, phân bổ và
sử dụng vốn vay bảo đảm đúng mục đích, hiệu quả Vay cho bù đắp bội chi NSNN chỉ được sử dụng cho ĐTPT, không sử dụng cho chi thường xuyên Luật này góp phần đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, khắc phục tình trạng sử dụng kém hiệu quả nguồn lực Nếu như các năm trước nợ công là một một chỉ tiêu riêng, ngoài bảng, không được phản ánh đầy đủ Từ năm 2017, khoản vay về chỉ để chi đầu tư
và được hạch toán là một nguồn vốn của NSNN, vì vậy đảm bảo kế hoạch vốn bền vững
- Luật quy hoạch số 21/2017/QH14 ngày 24/11/2017 (hiệu lực từ 01/01/2019) trong bối cảnh hầu hết các quy hoạch hiện nay được lập trong thời gian
10 năm cho thời kỳ 2011-2020, nên đến năm 2020 nếu không tiếp tục lập thì sẽ hết hiệu lực; đồng thời với việc đi trước về nguyên tắc bố trí vốn và kế hoạch tài chính ngân sách trung hạn do Luật NSNN quy định, Luật Quy hoạch cần ra đời để chấm dứt tình trạng quy hoạch không theo khả năng cân đối như trước đây Luật nhằm mục tiêu giải quyết tính thiếu logic của việc QLNN ngay từ khi lập kế hoạch đề ra Luật là bước cải cách về thể chế tạo ra sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật về quy hoạch Tạo sự thống nhất trong chỉ đạo điều hành từ Trung ương đến địa phương; tăng liên kết vùng, khác phục tình trạng quản lý chia cắt, cục bộ ngành giải
Trang 36quyết xung đột giữa các quy hoạch, giảm lãng phí ngay từ khâu hình thành ý tưởng thực hiện dự án
Nhìn chung, hiện nay hệ thống văn bản pháp luật nhằm quản lý vốn ĐTXDCB từ NSNN tương đối đầy đủ và chất lượng không ngừng được nâng cao Tính thống nhất của quản lý vốn ĐTXDCB từ NSNN được tăng cường, chặt chẽ đặc biệt dưới sự điều chỉnh của 03 Luật: Luật đầu tư công, Luật NSNN và Luật Quản lý nợ công Các văn bản này tác động trực tiếp đến hoạt động quản lý vốn đầu
tư từ NSNN trong từng khâu của chu trình quản lý vốn như: Pháp luật quy hoạch tác động đến khâu lập kế hoạch ngân sách (thông qua việc quy định về nguồn lực thực hiện các dự án); Pháp luật về đấu thầu, xây dựng tác động chủ yếu đến các khâu: lập kế hoạch (lập, thẩm định dự án), cấp phát ngân sách (theo đúng tiêu chuẩn định mức kinh tế, kỹ thuật, tuân thủ về pháp luật về đấu thầu lựa chọn các nhà thầu
đủ năng lực nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn); Luật đầu tư công, Luật NSNN tác động đến thất cả các khâu từ (định hướng đến kiểm tra giám sát)… Hệ thống luật pháp về hoạt động đầu tư ngày càng được hoàn thiện đang trở thành công cụ đắc lực để thực hiện các nhiệm vụ ĐTPT kinh tế xã hội
- Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Chính phủ về tăng cường quản
lý đầu tư từ vốn NSNN, tập trung bố trí các dự án đã hoàn thành, đã bàn giao đưa vào sử dụng nhưng chưa bố trí đủ vốn, ưu tiên bố trí vốn cho các dự án dự kiến cần phải hoàn thành trong năm, sau đó nếu còn vốn mới bố trí cho các dự án mới, các
dự án mới phải là các dự án thực sự cấp bách, có đủ quyết định đầu tư theo thời gian quy định
- Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách
- Nghị định số 84/2015/NĐ-CP ban hành ngày 20/11/2015 của Chính phủ về hoạt động giám sát và đánh giá đầu tư
- Thông tư 128/2014/TT- BTC ngày 24/12/2014 và quy trình hiện đại hóa thu nộp NSNN giữa cơ quan Thuế - KBNN - Hải quan – Tài chính
- Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc
Trang 37nguồn vốn ngân sách Qua hơn 3 năm thực hiện, Bộ Tài chính đã sửa đổi, bổ sung thông tư này, cụ thể là Thông tư số 52/2018/TT- BTC sửa đổi Thông tư 08/2016/TT-BTC quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước; Thông tư 108/2016/TT-BTC sửa đổi Thông tư 08/2016/TT-BTC do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- Thông tư số 54/2018/TT-BTC ngày 08/06/2018 đánh giá tình hình thực hiện NSNN Tổng hợp, đánh giá tình hình nợ đọng khối lượng ĐTXDCB nguồn NSNN (bao gồm cả TPCP theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại các Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012, số 14/CT-TTg ngày 28/06/2013 và số 07/CT-TTg ngày 30/4/2015: Số nợ đến ngày 31/12/2017, số thu hồi trong năm 2018, ước số nợ XDCB, số ứng còn đến ngày 31/12/2018 (chi tiết từng dự án)
2.2.2 Các đơn vị tham gia quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
Theo Luật NSNN số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 thì việc quản lý chung
về tài chính trên địa bàn huyện là HĐND huyện và UBND huyện, còn quản lý các hoạt động nghiệp vụ tài chính là trách nhiệm của cơ quan tài chính cấp huyện đó là Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện, KBNN huyện, Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện
và các Chủ đầu tư thực hiện quản lý về chi ĐTXDCB trên địa bàn huyện
Nhiệm vụ cụ thể của từng khâu trong bộ máy quản lý chi ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN ở huyện như sau:
2.2.2.1 Ủy ban nhân dân huyện Tháp Mười
Là cơ quan hành chính cao nhất ở địa phương, là cơ quan có quyền phê duyệt
dự án đầu tư, phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công và dự toán, phê duyệt Báo cáo kinh
tế kỹ thuật, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư, xử phạt vi phạm hợp đồng và thực hiện các nhiệm vụ QLNN trên địa bàn theo phân cấp ủy quyền quản lý ĐTXD công trình
2.2.2.2 Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Tháp Mười
Xây dựng kế hoạch vốn ĐTXDCB bằng nguồn NSNN (ngân sách huyện), phối hợp với các cơ quan cấp trên xây dựng kế hoạch vốn ĐTXDCB từ nguồn ngân sách theo các chương trình dự án
Trang 38Tham gia về chủ trương đầu tư, phương án tài chính và hiệu quả kinh tế tài chính của các công trình, dự án đầu tư bằng nguồn vốn NSNN
Thực hiện chuyển hạng mức kinh phí sang KBNN huyện để thanh toán cho các công trình, dự án ĐTXDCB
Thực hiện thẩm tra, trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện phê duyệt quyết toán đối với dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện Thẩm tra, phê duyệt quyết toán các dự án đầu tư bằng nguồn vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách huyện quản lý
.Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan giám sát và đánh giá đầu tư, kiểm tra việc thi hành pháp luật về kế hoạch và đầu tư trên địa bàn huyện
2.2.2.3 Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Tháp Mười
Thẩm định thiết kế bản vẽ thi công và dự toán, thẩm định Báo cáo kinh tế kỹ thuật công trình, KBNN về chất lượng dự án, chất lượng công trình
Kiểm tra và tổ chức thực hiện việc xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa, duy tu, bảo trì, quản lý, khai thác, sử dụng các công trình hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật và phân công, phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân huyện
2.2.2.4 Kho bạc nhà nước huyện Tháp Mười
KBNN huyện trực tiếp kiểm soát, thanh toán vốn đầu tư, vốn sự nghiệp có tính chất ĐTXDCB thuộc vốn NSNN cho các công trình dự án trên địa bàn huyện theo sự phân công, phân cấp của cấp có thẩm quyền Thực hiện báo cáo định kỳ và quyết toán vốn đầu tư thuộc ngân sách các cấp với KBNN cấp trên
2.2.2.5 Chủ đầu tư
Chủ đầu tư là chủ thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định Tiếp nhận và sử dụng vốn đúng mục đích, đúng đối tượng, tiết kiệm và có hiệu quả Chấp hành đúng quy định của pháp luật về chế độ quản lý tài chính ĐTPT
Chịu trách nhiệm về chất lượng công trình, sự đúng đắn, hợp pháp của khối lượng dự án hoặc tiến độ thực hiện khi thanh toán, đảm bảo chính xác, trung thực, hợp pháp của các số liệu, tài liệu trong hồ sơ cung cấp cho KBNN và cơ quan chức năng trên địa bàn huyện
Trang 39tro Nội du
ầu tư theo q
án xây dựn
án xây dựngựng thuộc l
ớc ngoài ngtiếp nhận v
Hình 2 1 Cơ
Bảng 2.1 Số ong BQLDA ung
ốc
c
o quy định c
g cấp hồ sơ(Phòng Tài uyết toán vố
ư về tình hì
T của Nhà nquy định hiệ
ng huyện T
g huyện Thálĩnh vực dâgân sách d
cho cơ quan
ơ, tài liệu, tìchính – Kếốn; chịu sựình sử dụngnước Thực
cầu đườngdân dụng,
n quyết địnình hình the
ư và chấp hoán đơn vị
làm chủ đầ
ệp sử dụng nhân dân hu
ầu tư vốn uyện theo
Mười)
Trang 40(Nguồn: UBND huyện Tháp Mười)
Tính đến năm 2019 thì Ban QLDA huyện Tháp Mười gồm 19 người, trong
đó ban giám đốc có 03 cán bộ chiếm tỷ trọng 16% các phòng ban chức năng gồm
16 người chiếm tỷ trọng 84% trong tổng số cán bộ công nhân viên trong Ban QLDA huyện Tháp Mười Hầu hết các cán bộ trong Ban QLDA huyện Tháp Mười đều có trình độ từ trung cấp trở lên, trong đó ban giám đốc trình độ ĐH và có 1 cán bộ trình độ Thạc sĩ, các phòng ban chức năng hầu hết là trình độ ĐH và cử nhân Ta thấy trình độ của CNCNV của Ban QLDA và PTQĐ huyện Tháp Mười là khá cao, đây là điều kiện thuận lợi để triển khai thực hiện các dự án XDCB trên địa bàn huyện
2.3 Thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Tháp Mười
2.3.1 Hoạt động lập kế hoạch đầu tư, phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Hoạt động phân bổ vốn ĐTXDCB cho các danh mục công trình dự án, điều hành kế hoạch vốn ĐTXDCB, UBND huyện Tháp Mười và phòng Tài chính – kế hoạch đã điều hành sát sao và cụ thể nhằm tháo gỡ những khó khăn cho các công trình dự án và điều chỉnh bổ sung tăng kế hoạch vốn ĐTXDCB cho các công trình
dự án có nhu cầu, giảm kế hoạch đối với các công trình dự án không có khả năng thực hiện được hoặc hiệu quả thấp Trên cơ sở các quy định của Luật NNSNN, hàng năm phòng Tài chính - Kế hoạch lập kế hoạch nguồn vốn đầu tư trong dự toán cân đối Ngân sách để báo cáo HĐND, UBND huyện Tháp Mười, trình với sở Tài chính,