TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
Tính cấp thiết của đề tài
Sự thay đổi thiết kế thường xuyên trong các công trình xây dựng ở Việt Nam, đặc biệt là tại huyện Tháp Mười, gây ra chậm tiến độ thi công, làm tăng chi phí và giảm chất lượng công trình.
Các câu hỏi nghiên cứu đặt ra là:
Sự thay đổi thiết kế trong giai đoạn thi công có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm yêu cầu thay đổi từ khách hàng, vấn đề kỹ thuật phát sinh, hoặc sự không phù hợp giữa thiết kế và thực tế thi công Mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân này đến sự thay đổi thiết kế có thể rất lớn, dẫn đến việc điều chỉnh tiến độ, tăng chi phí, và ảnh hưởng đến chất lượng công trình Do đó, việc quản lý các yếu tố này là rất quan trọng để đảm bảo quá trình thi công diễn ra suôn sẻ và hiệu quả.
Quan điểm của các bên tham gia dự án về nguyên nhân thay đổi thiết kế trong giai đoạn thi công có sự đồng nhất hay không?
Tác giả chọn đề tài “Phân tích các nhân tố thiết kế ảnh hưởng đến tiến độ thi công các công trình xây dựng trên địa bàn huyện Tháp Mười” nhằm đưa ra những nhận xét và đánh giá quan trọng, từ đó đóng góp vào việc hạn chế thay đổi thiết kế, tăng tốc độ thi công và giảm chi phí xây dựng.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là phân tích các yếu tố thiết kế tác động đến tiến độ thi công các công trình xây dựng tại huyện Tháp Mười.
Xác định các nguyên nhân chính và mức độ ảnh hưởng của chúng đến sự thay đổi thiết kế trong giai đoạn thi công là rất quan trọng, vì điều này có thể tác động lớn đến tiến độ thi công Việc phân tích các yếu tố này giúp nhận diện các vấn đề tiềm ẩn và đưa ra giải pháp kịp thời để đảm bảo tiến độ công trình không bị trì hoãn.
* Kiến nghị một số giải pháp để hạn chế sự thay đổi thiết kế
1.3 Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là các công trình xây dựng dân dụng tại huyện Tháp Mười sử dụng vốn ngân sách nhà nước Đối tượng khảo sát
* Chủ đầu tư, các thành viên trong Ban quản lý dự án;
* Các nhà tư vấn thiết kế/giám sát; các Nhà thầu xây dựng
Do hạn chế về thời gian nghiên cứu và khả năng thu thập dữ liệu, cũng như nhằm tập trung vào vấn đề nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu được xác định như sau:
- Không gian: Các công trình xây dựng tại huyện Tháp Mười
- Thời gian: Các công trình xây dựng thi công từ năm 2014 đến cuối 2016
Phân tích và thảo luận từ góc nhìn của các Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, Tư vấn thiết kế, Tư vấn giám sát, Nhà thầu và các chuyên gia dày dạn kinh nghiệm trong ngành xây dựng là rất quan trọng Những quan điểm này giúp hiểu rõ hơn về quy trình thực hiện dự án, từ khâu lập kế hoạch đến giám sát thi công, đảm bảo chất lượng và tiến độ Sự hợp tác giữa các bên liên quan không chỉ nâng cao hiệu quả công việc mà còn tối ưu hóa chi phí và nguồn lực, góp phần vào sự thành công của dự án xây dựng.
1.5 Phương pháp nghiên cứu Để phân tích các nhân tố tính ảnh hưởng đến tiến độ thi công các công trình xây dựng trên địa bàn huyện Tháp Mười tác giả dùng phương pháp định lượng để thực hiện để tìm ra các nhân tố chính
1.6 Đóng góp của đề tài
Về mặt học thuật Đóng góp cơ sở lý luận cho các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Cung cấp cơ sở cho Chủ đầu tư, Tư vấn thiết kế, Tư vấn giám sát và nhà thầu để tham khảo và áp dụng, giúp hạn chế các thay đổi thiết kế có thể ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình.
Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian nghiên cứu và khả năng thu thập dữ liệu, cũng như để đảm bảo tính tập trung vào vấn đề nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu được xác định như sau:
- Không gian: Các công trình xây dựng tại huyện Tháp Mười
- Thời gian: Các công trình xây dựng thi công từ năm 2014 đến cuối 2016
Phân tích và thảo luận từ góc nhìn của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án, tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, nhà thầu và các chuyên gia dày dạn kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng là rất quan trọng Những quan điểm này giúp hiểu rõ hơn về quy trình và thách thức trong xây dựng, đồng thời tạo ra các giải pháp hiệu quả cho các vấn đề phát sinh Việc phối hợp giữa các bên liên quan sẽ nâng cao chất lượng dự án và đảm bảo tiến độ thi công.
Phương pháp nghiên cứu
Để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình xây dựng tại huyện Tháp Mười, tác giả đã áp dụng phương pháp định lượng nhằm xác định các nhân tố chính.
Đóng góp của đề tài
Về mặt học thuật Đóng góp cơ sở lý luận cho các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Cung cấp cơ sở cho Chủ đầu tư, Tư vấn thiết kế, Tư vấn giám sát và nhà thầu để tham khảo và áp dụng, nhằm hạn chế các thay đổi thiết kế có thể ảnh hưởng đến tiến độ thi công của công trình.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Một số khái niệm
Các thay đổi liên quan đến tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và bản vẽ thiết kế sử dụng vật liệu phải được phê duyệt bởi người có thẩm quyền hoặc chủ đầu tư.
Theo “QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA VỀ PHÂN LOẠI, PHÂN CẤP CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG DÂN DỤNG, CÔNG NGHIỆP VÀ HẠ TẦNG
Theo "Kỹ thuật đô thị" (QCVN 03: 2009/BXD), công trình xây dựng được phân loại thành các loại như dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật đô thị Trong đó, công trình dân dụng bao gồm nhiều loại hình công trình khác nhau.
Nhà ở: Chung cư và nhà ở riêng lẻ
Công trình giáo dục bao gồm nhiều loại hình như nhà trẻ, trường mẫu giáo, các cấp trường phổ thông, trường đại học và cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề, trường công nhân kỹ thuật, trường nghiệp vụ, cùng với các loại trường khác, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng giáo dục.
Công trình y tế bao gồm bệnh viện đa khoa và chuyên khoa từ trung ương đến địa phương, cùng với các phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa khu vực, trạm y tế, nhà hộ sinh, nhà điều dưỡng, phục hồi chức năng, chỉnh hình, nhà dưỡng lão, phòng chống dịch bệnh và các cơ sở y tế khác.
- Công trình thể thao: Sân vận ðộng, nhà thi ðấu, tập luyện
Công trình văn hóa bao gồm trung tâm hội nghị, nhà hát, nhà văn hóa, câu lạc bộ, rạp chiếu phim, rạp xiếc, bảo tàng, thư viện, triển lãm và nhà trưng bày, cùng với các công trình di tích phục vụ tín ngưỡng Ngoài ra, còn có các công trình vui chơi, giải trí, thương mại và dịch vụ như trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, cửa hàng và nhà hàng ăn uống.
Công trình thông tin và truyền thông bao gồm các tháp thu phát sóng viễn thông, truyền thanh, truyền hình, cũng như các nhà phục vụ thông tin liên lạc như bưu điện, bưu cục và đài lưu không Ngoài ra, còn có các nhà ga cho hàng không, đường thủy, đường sắt và bến xe ô tô Các công trình này cũng bao gồm nhà đa năng, khách sạn, ký túc xá, nhà khách và nhà nghỉ Cuối cùng, trụ sở cơ quan hành chính nhà nước, bao gồm nhà làm việc của Quốc hội, Chính phủ và Chủ tịch nước, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý quốc gia.
Bộ, ngành, ủy ban các cấp, Trụ sở làm việc của các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức khác
Theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, thiết kế xây dựng công trình bao gồm hệ thống tài liệu như bản vẽ và thuyết minh, thể hiện các nội dung quan trọng như phương án công nghệ, công năng sử dụng, phương án kiến trúc, tuổi thọ công trình, phương án kết cấu và kỹ thuật, phương án phòng cháy chữa cháy, giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả, và bảo vệ môi trường Thiết kế này sẽ được thực hiện qua các bước khác nhau tùy thuộc vào thể loại công trình, quy mô đầu tư và mục đích sử dụng.
+ Thiết kế một bước là thiết kế bản vẽ thi công;
+ Thiết kế hai bước gồm thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công;
+ Thiết kế ba bước gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công;
+ Thiết kế theo các bước khác (nếu có)
Thiết kế trong Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng thể hiện các ý tưởng ban đầu về công trình, đồng thời lựa chọn sơ bộ dây chuyền công nghệ và thiết bị, tạo cơ sở cho việc xác định chủ trương đầu tư xây dựng.
Thiết kế trong Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng được xây dựng dựa trên phương án thiết kế đã được lựa chọn, thể hiện các thông số kỹ thuật chính phù hợp với tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật hiện hành, đồng thời là cơ sở để tiến hành các bước thiết kế tiếp theo.
Thiết kế chi tiết là giai đoạn cụ thể hóa thiết kế cơ sở sau khi dự án đầu tư xây dựng công trình được phê duyệt Giai đoạn này nhằm thể hiện đầy đủ các giải pháp, thông số kỹ thuật và vật liệu sử dụng, đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật áp dụng Thiết kế chi tiết là cơ sở quan trọng để triển khai thiết kế bản vẽ thi công.
2.1.7 Thiết kế bản vẽ thi công:
Thiết kế này thể hiện rõ ràng các thông số kỹ thuật, vật liệu sử dụng và chi tiết cấu tạo, tuân thủ các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật hiện hành, đảm bảo đủ điều kiện cho việc triển khai thi công xây dựng công trình.
Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Tháp Mười
Tháp Mười, huyện phía đông của tỉnh Đồng Tháp, có diện tích tự nhiên 527,86 km², chiếm 15,65% tổng diện tích tỉnh và dân số khoảng 137.000 người Hàng năm, huyện nhận được đầu tư từ ngân sách Trung ương, tỉnh và huyện từ 150 - 200 tỷ đồng để phát triển cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, quá trình chuẩn bị đầu tư, đặc biệt là lập hồ sơ thiết kế và dự toán công trình, thường bị xem nhẹ Việc giao thầu tư vấn quản lý không chặt chẽ và thiết kế không đảm bảo về kết cấu, dẫn đến nhiều công trình phải điều chỉnh thiết kế nhiều lần, làm chậm tiến độ thi công so với kế hoạch.
2.2.2 Đặc điểm địa hình: Địa hình huyện Tháp Mười tương đối bằng phẳng với độ cao phổ biến 1–2 mét so với mặt biển Địa hình được chia thành 2 vùng lớn là vùng phía bắc sông Tiền và vùng phía nam sông Tiền Tháp Mười nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, đồng nhất trên địa giới toàn tỉnh, khí hậu ở đây được chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Trong đó, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Độ ẩm trung bình năm là 82,5%, số giờ nắng trung bình 6,8 giờ/ngày Lượng mưa trung bình từ 1.170 – 1.520 mm, tập trung vào mùa mưa, chiếm 90 – 95% lượng mưa cả năm Những đặc điểm về khí hậu như trên tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp toàn diện Đất đai của huyện Tháp Mười có kết cấu mặt bằng kém bền vững lại tương đối thấp, nên làm mặt bằng xây dựng đòi hỏi kinh phí cao, nhưng rất phù hợp cho sản xuất lượng thực Đất đai tại tỉnh Đồng Tháp có thể chia làm 4 nhóm đất chính là nhóm đất phù sa (chiếm 59,06% diện tích đất tự nhiên), nhóm đất phèn (chiếm 25,99% diện tích tự nhiên), đất xám (chiếm 8,67% diện tích tự nhiên), nhóm đất cát (chiếm 0,04% diện tích tự nhiên)
Huyện Tháp Mười có khí hậu nhiệt đới với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 82,5%, với khoảng 6,8 giờ nắng mỗi ngày Lượng mưa trung bình dao động từ 1.170 đến 1.520 mm, chủ yếu tập trung vào mùa mưa, chiếm 90-95% tổng lượng mưa hàng năm Điều kiện khí hậu này rất thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp.
Thực trạng quá trình thi công xây lắp
Theo kết quả khảo sát các công trình trên thì tình trạng chậm tiến độ trên địa bàn toàn huyện tính đến cuối năm 2016 cụ thể như sau:
Bảng 2.1 trình bày thống kê về các công trình dân dụng chậm tiến độ tại huyện Tháp Mười, được cung cấp bởi Ban Quản lý Dự án và Trung tâm Phát triển Quỹ đất huyện Tháp Mười.
Giá trị thực tế ( Triệu đồng)
Tiến độ đƣợc duyệt (Tháng)
Tiến độ thực tế (Tháng)
1 Trụ sở làm việc khối TCKH và các ban ngành huyện 4.481 5.153 10 12
2 Nhà công vụ khối TCKH và ban ngành huyện 898 1.132 5 6
3 Sửa chữa 05 phòng học Trường tiểu học Đốc Binh Kiều 1 ( Điểm chính)
4 Trụ sở làm việc khối TCKH và các ban ngành huyện (Giai đoạn
5 Sửa chữa chợ cá Tháp Mười 1.320 1.528 4 5
6 Cổng chào đường Hùng Vương 1.350 1.552 4 5
7 Trường TH Tân Kiều 2 (1p + nhà 550 632 2 3 vệ sinh)
9 Trường Mẫu giáo Đốc Binh Kiều 5.827 6.701 11 14
10 Trung tâm Văn hóa học tập cộng đồng xã Mỹ Đông 6.772 7.787 5 6
11 Nhà văn hóa ấp 5 xã Mỹ Đông 396 455 3 4
12 Sữa chữa trụ sở làm việc UBND xã Mỹ An 420 483 2 3
13 Trường Mầm non Mỹ Đông 3.168 3.644 7 9
14 Hội trường nhỏ Huyện ủy 1.013 1.164 4 5
15 Trường tiểu học Thanh Mỹ 1
1 Sửa chữa Hội trường A, UBND huyện 850 978 2 3
2 Xây dựng nhà văn hóa ấp 6A xã
3 Sửa chữa Trụ sở làm việc HĐND huyện 407 468 2 4
4 Trường tiểu học T.Mỹ 1 (Điểm chính) 7.315 8.412 13 15
5 Trường Mẫu giáo Đốc Binh Kiều 5.827 6.702 11 17
7 Dãy 05 phòng học; Khối phục vụ học tập và khối quản trị hành chính công trình Trường tiểu học Đốc Binh Kiều 2 (Điểm chính)
8 Cổng chào đường Lê Đức Thọ 850 978 3 5
9 Cổng chào đường Hùng Vương 1.370 1.576 3 4
10 Nhà văn hóa ấp 5A xã Trường 340 391 3 4
1 Trụ sở làm việc UBND xã Mỹ
2 Nhà tiếp dân UBND xã Mỹ Hòa 740 851 4 5
3 Sửa chữa Trụ sở làm việc HĐND huyện 407 468 2 3
4 Sửa chữa hàng rào, Trụ sở làm việc Công an và UBND Thị trấn
5 Nhà tiếp dân xã Phú Điền 529 608 3 4
6 Nhà tiếp dân xã Hưng Thạnh 567 652 3 4,5
7 Sửa chữa UBND xã Đốc Binh
8 Sửa chữa Trụ sở Phòng tư pháp huyện 184 212 1 2
9 Trụ sở làm việc các ban thuộc
Huyện ủy và các cơ quan đoàn thể huyện
Theo kết quả khảo sát các công trình trên thì tình trạng chậm tiến độ trên địa bàn toàn huyện cụ thể như sau:
Chậm tiến độ: Năm 2014: 15 công trình; năm 2015: 10 công trình; năm
Nguyên nhân chậm tiến độ: Phần lớn nguyên nhân dẫn đến chậm tiến độ là:
Thay đổi thiết kế trong giai đoạn thi công có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như yêu cầu của chủ đầu tư, năng lực tài chính của nhà thầu, tác động của lạm phát, và các thay đổi trong chính sách nhà nước Tại huyện Tháp Mười, việc phân tích các nguyên nhân này cho thấy chúng có thể dẫn đến chậm tiến độ thi công các công trình dân dụng sử dụng vốn ngân sách Ngoài ra, thời tiết xấu và thiếu kinh nghiệm trong thiết kế cũng là những yếu tố quan trọng cần xem xét.
2.3.1 Đặc điểm chung của các công trình hoàn thành vƣợt tiến độ
Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, sau khi dự án được phê duyệt, Ban Quản lý dự án Xây dựng phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm phát triển quỹ đất và các đơn vị liên quan để lập phương án bồi thường và giải phóng mặt bằng Đồng thời, các thủ tục đầu tư được tiến hành nhằm sớm đưa công trình vào thi công.
Trong giai đoạn thực hiện đầu tư, việc chọn lựa đơn vị tư vấn thiết kế, giám sát và thi công có kinh nghiệm là yếu tố quyết định để đạt được công trình chất lượng và vượt tiến độ Điều hành linh hoạt, bám sát hiện trường và xử lý kịp thời các vướng mắc phát sinh là rất quan trọng Công tác điều hành cần phải nghiêm minh và chặt chẽ, tuân thủ đúng quy định Lập kế hoạch tiến độ thi công phải phản ánh sát thực tế và thường xuyên đôn đốc các bên tham gia thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.
2.3.2 Nguyên nhân gây nên tình trạng các công trình thi công trễ tiến độ Đơn vị thi công, tư vấn thiết kế năng lực còn hạn chế, các giải pháp kết cấu và biện pháp thi công đề ra chưa phù hợp với tình hình thực tế, dẫn đến khi thi công không đảm bảo an toàn và chất lượng, hồ sơ thiết kế phải điều chỉnh nhiều lần làm kéo dài thời gian thi công Đơn vị thi công thi công năng lực yếu, tài chính không đảm bảo, máy móc, thiết bị không đáp ứng được nhu cầu thi công công trình Trong quá trình thi công có nhiều hạng mục không đảm bảo chất lượng như mác bê tông kém, sai chủng loại vật tư, phải phá bỏ và thi công lại
Cán bộ giám sát trình độ và tinh thần trách nhiệm chưa cao, chưa bám sát hiện trường, công tác quản lý chất lượng thi công còn lõng lẻo.
Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới có liên quan đến đề tài
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Võ Toàn Thắng (2003) chỉ ra rằng một trong những nguyên nhân chính dẫn đến chậm tiến độ thi công dự án xây dựng ở các nước đang phát triển là do thông tin không chính xác Những thay đổi thường xuyên trong quá trình chỉ dẫn và sự thiếu tuân thủ các quy định từ một bộ phận chủ đầu tư và đơn vị thiết kế cũng góp phần làm gia tăng tình trạng này.
Nghiên cứu của tác giả Trương Văn tập trung vào việc phân tích nguyên nhân và tác động của các phát sinh trong dự án xây dựng Bài viết đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm hạn chế và kiểm soát những vấn đề này, từ đó nâng cao hiệu suất và chất lượng của dự án.
Minh (2005) [6], Luận văn thạc sỹ, đại học Bách Khoa TP.HCM
Bài viết "Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí và thời gian hoàn thành dự án trong giai đoạn thi công: Nghiên cứu trường hợp tại thành phố Cần Thơ" của tác giả Trần Hoàng Tuấn (2013) được đăng trên Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, phân tích các yếu tố quyết định đến chi phí và thời gian hoàn tất các dự án xây dựng Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố tác động, từ đó giúp các nhà quản lý dự án đưa ra các giải pháp hiệu quả nhằm tối ưu hóa quy trình thi công.
2.4.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
“Delay and Cost Overruns in Vietnam Large Construction Projects: A
Comparison with Other Selected Countries” của các tác giả Lê Hoài Long, Young
Dai Lee và Jun Yong Lee (2008) đăng trên KSCE Journal of Civil Engineering,
Bài viết "Measuring the impact of rework on construction cost performance" của tác giả Hwang Bon-Gang (2009) phân tích dữ liệu từ 359 dự án xây dựng, cho thấy chi phí trực tiếp cho việc làm lại chiếm khoảng 5% tổng chi phí xây dựng Tác giả đã xác định các nguyên nhân chính dẫn đến việc làm lại, trong đó các nguyên nhân từ phía chủ đầu tư, lỗi thiết kế và các lỗi khác thường xảy ra và có ảnh hưởng lớn đến chi phí dự án.
Theo nghiên cứu của Assay và Al-Hejji (2005), việc trì hoãn trong các dự án xây dựng lớn có thể xuất phát từ 73 nguyên nhân khác nhau, được xác định qua khảo sát 23 nhà thầu, 19 tư vấn và 15 chủ đầu tư Thời gian hoàn thành dự án thường bị vượt từ 10% đến 30%, với nguyên nhân phổ biến nhất là thay đổi thiết kế.
Bài viết "Xác định cấu trúc nguyên nhân của các yếu tố tái thực hiện trong xây dựng" của tác giả Love P.E.D (1999) nêu rõ rằng chất lượng là một vấn đề phức tạp mà ngành xây dựng thường gặp phải Sản phẩm và dịch vụ không đạt tiêu chuẩn thường xuất phát từ việc làm lại (rework), nguyên nhân chủ yếu là do các lỗi trong quá trình thiết kế Thiếu chú ý đến chất lượng trong giai đoạn thiết kế được xác định là nguyên nhân chính dẫn đến tái thực hiện, làm tăng chi phí ước tính lên khoảng 12,4% tổng chi phí dự án.
Bài viết "Taxonomy for change causes and effects in construction projects" của Sun Ming và Meng Xianhai (2009) phân loại các nguyên nhân và tác động của sự thay đổi trong các dự án xây dựng Nghiên cứu cho thấy phần lớn sự thay đổi yêu cầu phải thiết kế lại Việc vượt thời gian và chi phí thường xảy ra do thiếu quản lý các sự thay đổi, với hầu hết các vấn đề bắt nguồn từ kế hoạch và thiết kế ban đầu (Hsieh và cộng sự, 2004).
Bài viết "Phân tích thống kê các nguyên nhân gây ra thay đổi thiết kế trong xây dựng đường cao tốc ở Đài Loan" của tác giả Wu Chao-hui, Hsieh Ting-ya và Cheng Wen-lon (2005) chỉ ra rằng thay đổi thiết kế thường dẫn đến việc vượt chi phí và chậm tiến độ trong các dự án xây dựng Do đó, quản lý sự thay đổi đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý dự án hiệu quả.
Bài viết này tập trung vào việc phân tích các nhân tố thiết kế ảnh hưởng đến tiến độ thi công các công trình xây dựng dân dụng tại huyện Tháp Mười Thay vì chỉ đưa ra các giải pháp khắc phục chung chung, tác giả sẽ làm rõ mức độ ảnh hưởng cụ thể của từng nguyên nhân gây ra sự thay đổi thiết kế trong quá trình thi công Qua đó, tác giả cũng sẽ đề xuất một số biện pháp khắc phục nhằm cải thiện tiến độ cho các dự án xây dựng trong khu vực này.
Kết luận chương
Chương 2 đã trình bày tóm lược một số định nghĩa quan trọng được sử dụng trong Luận văn Ngoài ra, liên quan đến các yếu làm thay đổi thiết kế, tác giả đã tìm hiểu một số nghiên cứu trong và ngoài nước đã được công bố và thực trạng diễn ra
Các nghiên cứu đã cung cấp cơ sở cho việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thiết kế trong quá trình thi công công trình xây dựng dân dụng tại huyện Tháp Mười.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Quy trình nghiên cứu bảng câu hỏi
Khi tiến hành nghiên cứu, cần xây dựng một quy trình chi tiết với các bước thực hiện cụ thể, được sắp xếp theo từng giai đoạn và mục tiêu tương ứng Quy trình nghiên cứu này được minh họa trong Hình 3.2.
Phương pháp thu thập dữ liệu qua bảng câu hỏi khảo sát mang lại nhiều lợi ích, bao gồm khả năng thu thập thông tin từ một số lượng lớn người tham gia, dễ dàng thực hiện cho mọi đối tượng và nhanh chóng làm rõ vấn đề Bảng câu hỏi khảo sát cũng cho phép thu thập số liệu từ nhiều cơ quan, đơn vị khác nhau trong thời gian ngắn Đây là công cụ hiệu quả để lấy phản hồi từ các bên liên quan trong dự án xây dựng công cộng, như chủ đầu tư, tư vấn và thi công, về những thay đổi trong dự án.
Bảng câu hỏi được thiết kế theo quy trình chặt chẽ, tham khảo từ nghiên cứu trước, sách báo, ý kiến chuyên gia và kinh nghiệm thực tiễn Quá trình phát triển bảng câu hỏi bao gồm việc phỏng vấn các chuyên gia để đảm bảo tính rõ ràng, đầy đủ và phù hợp của từng câu hỏi Sau khi chỉnh sửa, bảng câu hỏi được đánh giá và duyệt lại một lần cuối trước khi phân phối chính thức Cuối cùng, tiến hành thu thập các bảng câu hỏi đã phát ra để phân tích kết quả.
Bảng câu hỏi được gửi đến ba nhóm đối tượng chính: Chủ đầu tư hoặc thành viên trong Ban quản lý dự án của chủ đầu tư, tư vấn thiết kế và giám sát, cùng với nhà thầu thi công.
Sau khi thu thập bảng câu hỏi, chúng tôi tiến hành kiểm tra sự khuyết và sự chệch, đồng thời tính toán hệ số Cronbach’s alpha Những bảng câu hỏi có câu trả lời không đầy đủ hoặc bị chệch sẽ được loại bỏ.
Hình 3.2: Quy trình nghiên cứu bằng bảng câu hỏi
Xác định vấn đề nghiên cứu
Các nhân tổ thiết kế ảnh hưởng đến tiến độ thi công xây dựng
Thiết kế sơ bộ bảng câu hỏi (BCH)
Khảo sát thử nghiệm (Pilot Test)
Sửa chửa, hoàn chỉnh bảng câu hỏi chính thức
Phân tích nhân tố chính (PCA)
Tham khảo tạp chí, bài báo và nghiên cứu trước đây, cùng với ý kiến của những người có kinh nghiệm và các quy định hiện hành là rất quan trọng trong thiết kế, thi công và quản lý dự án.
Không đạt Đạt Đề xuất các giải pháp
Kết luận và kiến nghị
Quy trình thiết kế bảng câu hỏi
Hình 3.3: Quy trình thiết kế bảng câu hỏi
Thiết lập thành phần và nội dung bảng câu hỏi
Tham khảo các nghiên cứu trước, tài liệu, tạp chí chuyên ngành
Xây dựng BCH thử nghiệm
Bảng câu hỏi chính thức Điều chỉnh
Khảo sát nhóm chuyên gia thứ 1
Hướng nghiên cứu đã xác định
Các nhân tổ thiết kế ảnh hưởng đến tiến độ thi công xây dựng
Khảo sát nhóm chuyên gia thứ 2
Sau khi tham khảo tài liệu khoa học, tác giả đã tiến hành điều tra bằng bảng phỏng vấn để tổng hợp nguyên nhân liên quan đến vấn đề nghiên cứu Các cuộc phỏng vấn trực tiếp được thực hiện với những chuyên gia có ít nhất 10 năm kinh nghiệm trong ngành xây dựng, bao gồm chủ đầu tư, quản lý dự án, nhà thầu và tư vấn/giám sát Ý kiến từ những người phỏng vấn đã giúp đánh giá và điều chỉnh các yếu tố sơ bộ cho phù hợp với tình hình tại huyện Tháp Mười Bên cạnh đó, các nguyên nhân thường dẫn đến sự thay đổi thiết kế ảnh hưởng đến tiến độ thi công cũng được bổ sung dựa trên ý kiến của người được phỏng vấn.
Sau khi tổng hợp ý kiến đánh giá, chúng tôi đã phát triển bảng câu hỏi thử nghiệm và tiến hành thử nghiệm trực tiếp với các chuyên gia có kinh nghiệm trong ngành Khi bảng câu hỏi được đánh giá đạt yêu cầu, chúng tôi hoàn thiện và đưa vào khảo sát chính thức Bảng câu hỏi chính thức (Phụ lục 2) sẽ được sử dụng để thu thập dữ liệu chính cho phân tích.
Bảng câu hỏi chính thức đã được gửi qua email đến các công ty trong ngành xây dựng tại huyện Tháp Mười, đồng thời cũng được phát trực tiếp và phỏng vấn các đối tượng khảo sát.
Nội dung bảng câu hỏi
Trong nghiên cứu, tác giả áp dụng thang đo Likert 5 mức độ để thu thập dữ liệu, nhấn mạnh ưu điểm của nó là sự đơn giản và dễ dàng trong việc trả lời Người tham gia khảo sát được hỏi về mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân làm thay đổi thiết kế, từ đó tác động đến tiến độ thi công công trình dân dụng tại huyện Tháp Mười.
Các mức độ ảnh hưởng được quy ước theo mức độ tăng dần như sau:
3.3.2 Thành phần bảng câu hỏi và mã hóa dữ liệu bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi được chia gồm 2 phần:
Phần 1: Đánh giá mức độ ảnh hưởng Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân làm thay đổi thiết kế trong quá trình thi công Kết quả một bảng tổng hợp sau khi đã tham khảo các nghiên cứu trước, qua phỏng vấn và từ thực trạng một số công trình gồm 30 nguyên nhân làm thay đổi thiết kế gây ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình dân dụng ở huyện Tháp Mười và được chia thành 7 nhóm đã được xác định để xây dựng bảng câu hỏi thử nghiệm trong Bảng 3.1:
Bảng 3.1: Danh mục các yếu tố
STT CÁC YẾU TỐ THAM
3 Điều kiện địa chất phức tạp *
4 Thay đổi trong các chính sách của Nhà nước *
5 Các quy định và tiêu chuẩn không đồng bộ, thiếu sót *
6 Chậm trễ trong việc cấp phép *
7 Để phù hợp với văn hoá của người dân *
8 Yêu cầu thay đổi để bảo đảm an toàn, lợi ích *
9 Tốc độ phát triển kinh tế và tác động của nó đến các nhu cầu *
10 Tác động của lạm phát và trượt giá *
11 CĐT thông tin và yêu cầu trong giai đoạn thiết kế không đầy đủ, không rõ ràng *
12 CĐT yêu cầu thay đổi, làm thêm *
13 CĐT thay đổi kế hoạch tài chính cho dự án **
14 CĐT đưa ra quyết định chậm *
15 CĐT thiếu kỹ sư giám sát đủ năng lực *
16 Bản vẽ không tốt, lỗi và không đầy đủ *
17 Thiết kế không đồng bộ với điều kiện công trường *
18 Khảo sát vật tư, thiết bị không đúng
19 Thiết kế trích dẫn các tiêu chuẩn kỹ thuật không phù hợp, không đầy đủ
20 Người thiết kế không hiểu rõ tiêu chuẩn kỹ thuật được dùng
21 Thiếu kinh nghiệm trong thiết kế *
22 Nhà thầu thiếu năng lực tài chính *
23 Năng lực quản lý công trường của nhà thầu chưa đáp ứng yêu cầu *
24 Sử dụng công nhân có tay nghề chưa đáp ứng yêu cầu *
25 Sự phối hợp không hiệu quả giữa các nhà thầu **
26 Sự phức tạp của dự án *
27 Sự ra quyết định chậm liên quan đến toàn bộ các bên tham gia dự án **
28 Thiếu sự tham gia của nhà thầu thi công trong việc lập kế hoạch và lên tiến độ dự án trong giai đoạn thi công *
29 Các sự hạn chế về hệ thống giao thông, mặt bằng công trường *
30 Trách nhiệm giữa các bên tham gia dự án không rõ ràng **
(*): Các tác giả trong mục THAM KHẢO được trích dẫn từ tạp chí, bài báo nghiên cứu trước
(**): Nhân tố được bổ sung thêm từ phỏng vấn các chuyên gia thứ 1
Phần 2: Mã hóa các yếu tố
Sau khi hoàn thành xác định các yếu tố, tiến hành mã hóa các yếu tố theo
Bảng 3.2 Mã hóa 30 yếu tố
STT MÃ HÓA CÁC NHÂN TỐ
1 Các nhân tố về môi trường
3 1.3 Điều kiện địa chất phức tạp
2 Các nhân tố về chính sách pháp luật
4 2.1 Thay đổi trong các chính sách của nhà nước
2.2 Các quy định và tiêu chuẩn không đồng bộ, thiếu sót Áp dụng các thông tư máy móc làm mất sự sáng tạo và linh hoạt trong thiết kế
6 2.3 Chậm trễ trong việc cấp phép Nắm không rõ ràng về luật đấu thầu
3 Các nhân tố về kinh tế xã hội
7 3.1 Để phù hợp với văn hoá của người dân
8 3.2 Yêu cầu thay đổi để bảo đảm an toàn, lợi ích
9 3.3 Tốc độ phát triển kinh tế và tác động của nó đến các nhu cầu
0 3.4 Tác động của lạm phát và trượt giá
4 Các nhân tố liên quan chủ đầu tư (CĐT)
11 4.1 CĐT thông tin và yêu cầu trong giai đoạn thiết kế không đầy đủ, không rõ ràng
12 4.2 CĐT yêu cầu thay đổi thiết kế công năng, làm thêm làm chậm tiến độ thi công
13 4.3 CĐT thay đổi kế hoạch tài chính cho dự án Đưa chi phí thiết kế không phù hợp
14 4.4 CĐT đưa ra quyết định chậm Như giải ngân nguồn vốn, phân bổ nguồn vốn
15 4.5 CĐT thiếu kỹ sư giám sát đủ năng lực Phối hợp kém giữa các đơn vị như : TVTK, TVGS, QLDA,…
5 Các nhân tố liên quan đến TVTK, giám sát
17 5.2 Thiết kế không đồng bộ với điều kiện công trường
18 5.3 Kỹ năng thực hiện xử lý thiết kế
19 5.4 Thiết kế trích dẫn các tiêu chuẩn kỹ thuật không phù hợp, không đầy đủ
20 5.5 Người thiết kế không hiểu rõ tiêu chuẩn kỹ thuật được dùng.tiêu chuẩn, qui chuẩn
21 5.6 Thiếu kinh nghiệm trong thiết kế.Kinh nghiệm hiện trường
6 Các nhân tố liên quan đến nhà thầu thi công
22 6.1 Nhà thầu thiếu năng lực tài chính
23 6.2 Năng lực quản lý công trường của nhà thầu chưa đáp ứng yêu cầu.Không nắm hết các biện pháp thi công hợp lý
24 6.3 Sử dụng công nhân có tay nghề chưa đáp ứng yêu cầu
25 6.4 Sự phối hợp không hiệu quả giữa các nhà thầu và các cơ quan liên quan
7 Các nhân tố liên quan đến đặc điểm dự án
26 7.1 Sự phức tạp của dự án
27 7.2 Sự ra quyết định chậm liên quan đến toàn bộ các bên tham gia dự án
28 7.3 Thiếu sự tham gia của nhà thầu thi công trong việc lập kế hoạch và lên tiến độ dự án trong giai đoạn thi công
29 7.4 Các sự hạn chế về hệ thống giao thông, mặt bằng công trường
30 7.5 Trách nhiệm giữa các bên tham gia dự án không rõ ràng
3.3.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng
Phần 1: Các nhóm nhân tố
1 Các nhân tố về môi trường
1.1 Yếu tố thời tiết xấu nhƣ mƣa, gió, tại khu vưc xây dựng phức tạp khó dự báo trước, trong thời gian thi công ảnh hưởng đến thiết kế ban đầu
1.2 Yếu tố về thiên tai nhƣ: bão, lốc: Vì là vùng đất trũng của Trung tâm Đồng Tháp Mười nên thiên tai có thể xảy ra như bão hay gió lốc mạnh, làm hư hỏng những hạng mục đã thi công, và làm thay đổi các điều kiện tự nhiên của môi trường
1.3 Điều kiện địa chất phức tạp: Yếu tố này thường xảy ra do đặc điểm địa chất là vùng đất yếu, và thường có sự chuyển biến theo thời tiết, gây ảnh hưởng cho phần móng của công trình Khi thi công với thiết kế đã làm không phù hợp và không kinh tế nên phải có giải pháp thiết kế mới phù hợp hơn
2 Các nhân tố về chính sách pháp luật
2.1 Sự thay đổi trong các chính sách của nhà nước: Chính sách của nhà nước tại khu vực xây dựng thay đổi trong thời gian xây dựng, yêu cầu chủ đầu tư phải thay đổi thiết kế để phù hợp với các chính sách mới
2.2 Các quy định và tiêu chuẩn không đồng bộ, thiếu sót: Yếu tố này do các cơ quan có thẩm quyền đưa ra các quy định và tiêu chuẩn không đồng bộ trong giai đoạn thiết kế, nhưng trong giai đoạn thi công lại bổ sung thêm các tiêu chuẩn mới, điều này có thể phải thay đổi thiết kế cũ cho phù hợp
2.3 Chậm trễ trong việc cấp phép: Yếu tố này do các cơ quan có thẩm quyền quyết định việc cấp phép Khi thời gian cấp phép kéo dài sẽ làm mất tính thời điểm của dự án, và đối với các công trình có thời gian thi công kéo dài, thì thiết kế cũ có thể cần thay đổi để làm tăng tính cạnh tranh
3 Các nhân tố về kinh tế xã hội
3.1 Để phù hợp với văn hóa của người dân: Một số dự án đã thiết kế và triển khai thi công, trong giai đoạn thi công chủ đầu tư nhận thấy thiết kế đang triển khai cần phải thay đổi để phù hợp với đặc điểm văn hóa của người dân trong khu vực xung quanh, cũng như hài hòa với môi trường xung quanh
3.2 Yêu cầu thay đổi để bảo đảm an toàn, lợi ích của người dân khu vực xây dựng: Trong giai đoạn thi công công trình, có nhiều phản hồi của người dân xung quanh về thiết kế của dự án ảnh hưởng đến điều kiện an toàn và lợi ích của họ, điều đó đã làm chủ đầu tư phải thay đổi thiết kế cho phù hợp
3.3 Tốc độ phát triển kinh tế và tác động của nó đến các nhu cầu: Dự án xây dựng thường kéo dài trong nhiều năm, khi kinh tế phát triển thì nhu cầu của người dân cũng như đối tượng của dự án sẽ thay đổi Do đó, chủ đầu tư có thể phải thay đổi thiết kế để đáp ứng các yêu cầu mới
3.4 Tác động của lạm phát và trƣợt giá: Sự lạm phát không lường trước được có thể tác động mạnh đến vật liệu, thiết bị và giá nhân công Lúc đó, dự án phải có giải pháp thích hợp và có thể thay đổi vật liệu, thiết bị mới phù hợp hơn
4 Các nhân tố liên quan chủ đầu tư (CĐT)
4.1 CĐT thông tin và yêu cầu trong giai đoạn thiết kế không đầy đủ, không rõ ràng: Khi thông tin và yêu cầu không rõ ràng thi việc thay đổi thiết kế sẽ có thể xảy ra trong giai đoạn thi công để đáp ứng yêu cầu của CĐT
4.2 CĐT yêu cầu thay đổi, làm thêm: Trong quá trình thi công do nhu cầu sử dụng, tính phù hợp của công trình theo thực tế sử dụng mà CĐT yêu cầu thay đổi thiết kế (từ khi có vốn đến khi hoàn thành công trình) theo công năng làm các bộ phận còn lại chậm trễ do vấn đề chỉnh thiết kế
4.3 CĐT thay đổi kế hoạch tài chính cho dự án: Nhiều CĐT cùng thời điểm thực hiện nhiều dự án, CĐT có thể thay đổi kế hoạch tại dự án đang thi công để phù hợp với kế hoạch công việc chung của mình Do đó, thiết kế có thể được yêu cầu thay đổi theo yêu cầu của CĐT CĐT giải ngân vốn chậm, và quá trình phân bổ nguồn vốn cũng ảnh hưởng nhiều đến tiến độ thi công
Thu thập dữ liệu
3.4.1 Xác định kích thước mẫu
Theo R Fellows & A Liu (2008) [22] trên lý thuyết, có thể tính toán số lượng mẫu cần thiết dựa vào công thức toán học sau:
Độ lệch chuẩn mẫu được ký hiệu là s, trong khi z đại diện cho mức độ tin cậy yêu cầu; với độ tin cậy 95% và 99%, các giá trị tương ứng của z là 1.96 và 2.58 Thêm vào đó, (μ - x) thể hiện một nửa bề rộng của độ tin cậy yêu cầu.
Trong nghiên cứu của Luận văn này, việc xác định giá trị của độ lệch chuẩn s là không khả thi cho đến khi dữ liệu được thu thập.
Một phương pháp phổ biến để xác định kích thước mẫu là sử dụng thông tin từ các nghiên cứu trước hoặc dựa vào kinh nghiệm để phỏng đoán Theo Bollen (1989), tỷ lệ mẫu tối thiểu cho mỗi tham số cần ước lượng là 5 mẫu, tương đương với tỷ lệ 5:1.
Theo H Trọng và C.N.M Ngọc (2008) cho rằng số lượng mẫu sơ bộ cần thiết cho các phân tích nghiên cứu, đặc biệt là phân tích nhân tố, nên được tính toán từ 4-5 lần số lượng biến được sử dụng.
Theo R Fellows & A Liu (2008) [22] thì số lượng phản hồi tối thiểu cho nghiên cứu áp dụng phân tích nhân tố là 100 bảng câu hỏi
Luận văn đề xuất cần khoảng 150 bảng câu hỏi hợp lệ, tương ứng với 5 lần số lượng nhân tố trong nghiên cứu.
3.4.2 Lựa chọn kỹ thuật lấy mẫu
Có 2 kỹ thuật lấy mẫu đó là kỹ thuật lấy mẫu xác suất và kỹ thuật lấy mẫu phi xác suất a- Kỹ thuật lấy mẫu xác suất, có các phương pháp sau:
Lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản: Là phương pháp chọn mẫu trong đó mỗi đơn vị của tổng thể được chọn với sự ngẫu nhiên như nhau
Lấy mẫu hệ thống là phương pháp cho phép xác định tất cả các đơn vị mẫu cần lấy ra từ danh sách bằng cách chọn một con số ngẫu nhiên.
Phương pháp lấy mẫu cả khối/cụm và lấy mẫu nhiều giai đoạn bắt đầu bằng việc chia tổng thể thành nhiều khối, mỗi khối được xem là một tổng thể con Sau đó, tiến hành lấy ngẫu nhiên m khối và khảo sát tất cả các đối tượng trong m mẫu đã chọn Thực tế cho thấy, trong mỗi khối được lựa chọn, chỉ một đơn vị trong khối sẽ được khảo sát, biến mỗi khối thành đơn vị mẫu bậc một.
Lấy mẫu phân tầng là phương pháp được sử dụng khi các đơn vị nghiên cứu có sự khác biệt lớn về các đặc tính liên quan Phương pháp này chia tổng thể nghiên cứu thành các tầng lớp, nhằm giảm thiểu sự khác biệt giữa các đối tượng trong cùng một tầng Sau đó, các đơn vị mẫu được chọn từ các tầng này bằng các phương pháp lấy mẫu xác suất như lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản hoặc lấy mẫu hệ thống Ngoài ra, còn có kỹ thuật lấy mẫu phi xác suất với nhiều phương pháp khác nhau.
Lấy mẫu thuận tiện là phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khám phá, cho phép thu thập dữ liệu nhanh chóng và tiết kiệm chi phí Phương pháp này thường được áp dụng khi các nhà nghiên cứu cần có ước lượng sơ bộ về kết quả mà không tốn nhiều thời gian Bằng cách tiếp cận các địa điểm có khả năng cao gặp gỡ đối tượng cần thiết, họ có thể khai thác thông tin một cách hiệu quả.
Lấy mẫu định mức là phương pháp tương tự như lấy mẫu xác suất phân tầng, bắt đầu bằng việc phân chia tổng thể nghiên cứu thành các tầng Tuy nhiên, điểm khác biệt chính là trong mỗi tổng thể con, những người được phỏng vấn được chọn mẫu theo cách thuận tiện hoặc phán đoán, trong khi đó, trong mẫu phân tầng, các đơn vị mẫu được chọn theo kiểu xác suất.
Lấy mẫu phán đoán là phương pháp mà người nghiên cứu quyết định sự phù hợp của các đối tượng tham gia khảo sát Tính đại diện của mẫu khảo sát phụ thuộc vào kiến thức và kinh nghiệm của người nghiên cứu cũng như người thu thập dữ liệu.
Dựa trên các phương pháp lấy mẫu đã đề cập, cùng với đặc điểm của tổng thể và các điều kiện hạn chế về tài chính và thời gian, tác giả quyết định chọn phương pháp lấy mẫu thuận tiện.
3.4.3 Cách thức thu thập dữ liệu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này tập trung vào việc thu thập dữ liệu từ những người làm việc trong lĩnh vực xây dựng dân dụng và công nghiệp, bao gồm các nhân viên từ các đơn vị như chủ đầu tư, ban quản lý, tư vấn thiết kế, đơn vị thi công, cùng với các kỹ sư và thạc sĩ có kinh nghiệm Đối tượng khảo sát sẽ nhận bảng câu hỏi và được yêu cầu đánh giá mức độ đồng ý của họ với từng yếu tố theo thang đo Likert 5 mức độ từ 1 đến 5.
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng hai phương pháp để thu thập thông tin:
Phương pháp 1: Gửi bảng câu hỏi trực tiếp đến các đối tượng liên quan, bao gồm Chủ đầu tư, Ban quản lý của Chủ đầu tư, tư vấn quản lý dự án, tư vấn thiết kế, và đơn vị thi công các công trình.
Các phương pháp và công cụ nghiên cứu
Một thang đo chỉ có giá trị khi nó chính xác trong việc đo lường đối tượng cần thiết, tức là phương pháp đo không bị ảnh hưởng bởi các sai lệch hệ thống Vì vậy, việc kiểm tra độ tin cậy là cần thiết trước khi áp dụng thang đo đó.
Các tiêu chí để đánh giá độ tin cậy của thang đo:
Hệ số tương quan biến-tổng
Trong luận văn, tác giả áp dụng quy trình nghiên cứu thông qua bảng câu hỏi, do đó, độ tin cậy của thông tin thu thập từ bảng câu hỏi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến độ chính xác của luận văn.
Theo H Trọng và C.N.M Ngọc (2008) chỉ ra rằng hệ số α của Cronbach là công cụ thống kê quan trọng để đánh giá mức độ liên kết giữa các mục hỏi trong thang đo Một phương pháp phổ biến để kiểm tra tính đơn khía cạnh của thang đo là kiểm định độ tin cậy chia đôi.
Công thức tính hệ số α của Cronbach như sau: 1 1
* ρ : Hệ số tương quan trung bình giữa các mục hỏi
* N : Số mục hỏi, yếu tố trong nghiên cứu
Theo quy ước, một tập hợp các mục hỏi dùng để đo lường được đánh giá là tốt khi có hệ số lớn hơn hoặc bằng 0.6, nhưng lý tưởng nhất là phải lớn hơn 0.7 (Nunnally).
Những biến có hệ số tương quan biến tổng