1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu tác động của cam kết lao động trong hiệp định thương mại EVFTA đến quan hệ lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam

13 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 33,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó chính là lí do để em chọn đề tài “ Nghiên cứu tác động của cam kết lao động trong hiệp định thương mại EVFTA đến quan hệ lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam” Bài tiểu luận của em

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Thế giới ngày càng phát triển và không một quốc gia nào có thể nằm ngoài xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra rất mạnh mẽ Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế tất yếu đối với các quốc gia trong thế kỉ XXI Đây là quá trình liên tục, diễn ra dưới nhiều hình thức và cấp độ khác nhau.Việc hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế đang có tác động mạnh mẽ đến hoạt động thương mại, đầu tư cũng như các chính sách kinh tế- xã hội của Việt Nam

Một trong các chính sách được Đảng và Nhà nước thực hiện đang ngày một đạt được những thành tựu đáng kể đó là việc kí kết Hiệp định thương mại Việt Nam- EU(EVFTA) EVFTA được coi là một trong những Hiệp định đầu tư thương mại toàn diện và tham vọng nhất mà EU từng ký kết với một quốc gia đang phát triển.Sau Singapore, đây là hiệp định thứ hai EU ký kết trong ASEAN và được kỳ vọng sẽ tăng cường mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và EU Trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng, tác động cộng hưởng của Hiệp định này là rất lớn, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế, đổi mới của các doanh nghiệp Việt Nam giúp các doanh nghiệp, các nhà đầu tư của các nước, của Việt Nam ngày càng tăng trưởng tại các thị trường mà hai bên có FTA Khi hiệp định

đi vào thực thi đã mở ra triển vọng to lớn thúc đẩy quan hệ thương mại giữa hai nước đặc biệt mở ra thị trường khổng lồ cho hoạt động xuất – nhập khẩu của Việt Nam Đó chính là lí do để em chọn đề tài “ Nghiên cứu tác động của cam kết lao động trong hiệp định thương mại EVFTA đến quan hệ lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam”

Bài tiểu luận của em gồm 3 phần:

Phần 1: Khái quát về EVFTA và cam kết về lao động trong EVFTA

Phần 2: Đánh giá tác động của cam kết về lao động trong EVFTA đến quan hệ lao động ở Việt Nam

Phần 3: Một số khuyến nghị về vấn đề lao động để doanh nghiệp tận dụng lợi thế EVFTA trong Việt Nam

Trang 2

PHẦN 1: KHÁI QUÁT VỀ EVFTA VÀ CAM KẾT VỀ LAO ĐỘNG TRONG EVFTA 1.1 Khái quát về EVFTA

EVFTA là Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam Là một thỏa thuận thương mại tự do giữa Việt Nam và 27 nước thành viên EU Đây là hiệp định thương mại tự do có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết cao nhất của Việt Nam từ trước đến nay bên cạnh Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

Ngày 1/12/2015 EVFTA đã chính thức kết thúc đàm phán và đến ngày 1/2/2016 văn bản hiệp định đã được công bố Ngày 26/6/2018, EVFTA được tách làm hai Hiệp định, một là Hiệp định Thương mại (EVFTA), và một là Hiệp định Bảo hộ Đầu tư (EVIPA); đồng thời chính thức kết thúc quá trình rà soát pháp lý đối với Hiệp định EVFTA 8/2018, quá trình rà soát pháp lý đối với EVIPA cũng được hoàn tất

Hai Hiệp định đã được ký kết vào 30/6/2019

Bao gồm 27 nước thành viên EU : Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Lúc-xăm-bua, Anh, Ai Len, Đan Mạch, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Áo, Thụy Điển, Phần Lan, Séc, Hung-ga-ri, Ba Lan, Slô-va-kia, Slô-ve-nia, Lít-va, Lát-vi-a, Exờ-tô-nia, Man-ta, Síp, Bun-ga-ri và Ru-ma-ni và Việt Nam

Một số cam kết cơ bản giữa Việt Nam và EU trong EVFTA

EVFTA là hiệp định thương mại tự do có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết cao nhất, với 99,2% số dòng thuế sẽ được Liên minh châu Âu (EU) xóa bỏ đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam

Bên cạnh những ưu đãi về thuế quan, EVFTA cũng đặt ra các điều kiện hết sức chặt chẽ

về hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam khi thâm nhập vào thị trường này, nếu không đáp ứng được thì các doanh nghiệp (DN) Việt Nam không thể tận dụng được các ưu đãi, lợi thế từ Hiệp định này mang lại Đây là thách thức rất lớn đặt ra đối với hàng hóa xuất khẩu, do đó, Việt Nam cần phải chuẩn bị tư thế sẵn sàng đổi mới và thay đổi tư duy… khi thực thi EVFTA EVFTA gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ,

cụ thể:

Thương mại hàng hóa: EU cam kết xóa bỏ thuế quan ngay khi EVFTA có hiệu lực đối

với hàng hóa của Việt Nam thuộc 85,6% số dòng thuế trong biểu thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU Trong vòng 7 năm kể từ khi EVFTA

có hiệu lực, EU cam kết xóa bỏ 99,2% số dòng thuế trong biểu thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU Đối với 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại (gồm: Một số sản phẩm gạo, ngô ngọt, tỏi, nấm, đường và các sản phẩm chứa hàm lượng đường cao ) EU cũng cam kết mở cửa cho Việt Nam theo hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0% Về thuế xuất khẩu, Việt Nam cam kết xóa bỏ hầu hết các loại thuế xuất khẩu đối với hàng hóa xuất sang thị trường EU

Trang 3

Các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại: Theo cam kết tại Hiệp định này, hai bên thỏa

thuận tăng cường thực hiện các quy tắc của Hiệp định TBT trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Đối với các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), Việt Nam và

EU đã đạt được thỏa thuận về một số nguyên tắc liên quan đến SPS nhằm tạo điều kiện cho hoạt động thương mại đối với các sản phẩm động vật, thực vật

Quy tắc xuất xứ: Hàng hóa sẽ được coi là có xuất xứ tại một bên (Việt Nam hoặc EU)

nếu đáp ứng được một trong các yêu cầu sau: Có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của bên xuất khẩu; Không có xuất xứ thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của bên xuất khẩu, nhưng đáp ứng được các yêu cầu như hàm lượng giá trị nội địa không dưới 40%…

Thương mại dịch vụ và đầu tư: Việt Nam và EU cam kết về thương mại dịch vụ đầu tư

trong EVFTA hướng tới tạo ra một môi trường đầu tư cởi mở, thuận lợi cho hoạt động của các DN 2 bên cam kết của EU đối với Việt Nam cao hơn cam kết của EU trong WTO và tương đương với mức cao nhất trong các FTA gần đây của EU Cam kết của Việt Nam cho EU cao hơn cam kết của Việt Nam trong WTO, ít nhất là ngang bằng với mức mở cửa cao nhất mà Việt Nam thực hiện với các đối tác khác trong các đàm phán FTA hiện tại

Lợi ích khi Việt Nam tham gia vào hiệp định EVFTA

Thứ nhất, trên phương diện chính trị, an ninh quốc gia và chiến lược đối ngoại: Trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp và bản thân nội bộ EU gặp nhiều khó khăn như

sự nổi lên của chủ nghĩa dân túy và bảo hộ mậu dịch, Hiệp định EVFTA thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của cả hai bên trong việc thúc đẩy quan hệ song phương, góp phần đưa quan hệ giữa Việt Nam và EU phát triển sâu rộng và thực chất hơn, có lợi cho cả đôi bên

Thứ hai, trên phương diện phát triển kinh tế : Hiệp định EVFTA giúp Việt Nam có cơ hội

tiếp cận thị trường EU với thuế suất ưu đãi hơn các đối thủ cạnh tranh Kết hợp với các cam kết cao về mở cửa đầu tư và cải thiện môi trường kinh doanh, EVFTA chắc chắn sẽ

là cú hích lớn cho cả đầu tư nước ngoài lẫn đầu tư trong nước, từ đó tạo ra năng lực sản xuất mới, giúp GDP tăng trưởng bền vững hơn trong dài hạn

Với EVFTA, cơ hội mở ra rất lớn nhưng các doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ gặp phải không ít thách thức bởi:

Các yêu cầu về quy tắc xuất xứ có thể khó đáp ứng: Thông thường hàng hóa muốn

được hưởng ưu đãi thuế quan theo FTA thì nguyên liệu phải đáp ứng được một tỷ lệ về hàm lượng nội khối nhất định (nguyên liệu có xuất xứ tại EU và/hoặc Việt Nam) Đây là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam bởi nguồn nguyên liệu cho sản xuất hàng xuất khẩu hiện nay chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc hoặc ASEAN

Trang 4

Các rào cản và yêu cầu của khách hàng: EU là một thị trường khó tính Khách hàng

có yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm Các yêu cầu bắt buộc về vệ sinh an toàn thực phẩm, dán nhãn, môi trường của EU rất khắt khe và không dễ đáp ứng Vì vậy, dù có được hưởng lợi về thuế quan thì hàng hóa của Việt Nam cũng phải hoàn thiện rất nhiều về chất lượng

để có thể vượt qua được các rào cản này

Nguy cơ về các biện pháp phòng vệ thương mại: Thông thường khi rào cản thuế quan không còn là công cụ hữu hiệu để bảo vệ nữa, doanh nghiệp ở thị trường nhập khẩu

có xu hướng sử dụng nhiều hơn các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp hay tự

vệ để bảo vệ ngành sản xuất nội địa Và EU cũng là một trong những thị trường có

"truyền thống" sử dụng các công cụ này

Sức ép cạnh tranh từ hàng hóa và dịch vụ của EU: Mở cửa thị trường Việt Nam

cho hàng hóa, dịch vụ từ EU đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải cạnh tranh khó khăn hơn ngay tại thị trường nội địa Trên thực tế, đây là một thách thức rất lớn, bởi các doanh nghiệp EU có lợi thế hơn hẳn các doanh nghiệp Việt Nam về năng lực cạnh tranh, kinh nghiệm thị trường cũng như khả năng tận dụng các FTA Tuy nhiên, cam kết mở cửa của Việt Nam là có lộ trình, đặc biệt đối với những nhóm sản phẩm nhạy cảm, do đó EVFTA cũng là cơ hội, sức ép hợp lý để các doanh nghiệp Việt Nam điều chỉnh, thay đổi phương thức kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình 1.2 Những cam kết về lao động trong EVFTA

Những quyền và nguyên tắc cơ bản còn được thể hiện trong bốn cặp công ước do Tổ chức Lao động quốc tế ban hành, bao gồm Công ước số 87 về 98 về tự do liên kết và thỏa ước lao động tập thể, Công ước số 29 và 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức và bắt buộc, Công ước số 138 và 182 về xóa bỏ lao động trẻ em, Công ước 100 và 111 về xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp

Các tiêu chuẩn và thỏa thuận đa phương về lao động là nội dung Điều 3, trong Chương Thương mại và Phát triển bền vững (gồm 17 điều) của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU

Cam kết về lao động trong Hiệp định Thương mại tự do là cam kết đối với các nguyên tắc

và các quyền lao động cơ bản được đề cập đến trong Tuyên bố của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) năm 1998 bao gồm: Tự do hiệp hội và công nhận hiệu quả của quyền thương lượng tập thể; loại bỏ tất cả các hình thức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc; bãi

bỏ hiệu quả lao động trẻ em; và xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp

Trang 5

Theo các chuyên gia, cam kết về vấn đề lao động trong EVFTA nhằm thúc đẩy, khuyến khích sự tuân thủ các nguyên tắc trên, giúp cải thiện điều kiện làm việc, tái sản xuất sức lao động và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Cụ thể, người lao động sẽ có cơ hội cải thiện các quyền lợi hợp pháp của mình cả về thu nhập tối thiểu, môi trường làm việc và môi trường sống, cũng như về cơ hội tham gia hiệp hội và công đoàn, kể cả tìm kiếm cơ hội việc làm mới

Theo dự báo của Viện Khoa học, Lao động và Xã hội (Bộ Lao động, Thương bình và Xã hội), khi EVFTA có hiệu lực, lực lượng lao động trong một số ngành sẽ tăng như khai khoáng, dệt may, vận tải đường thủy… Cụ thể, lao động trong ngành khai khoáng tăng khoảng 3,41%/năm; dệt tăng 1,53%/năm; may mặc tăng nhẹ khoảng 0,38%/năm Một số ngành khác có mức tăng lao động hằng năm cao hơn hiện nay như vận tải đường thủy (3,7%); sản xuất kim loại (2,65%), sản xuất máy móc thiết bị (2,49%)…

Không chỉ số lượng việc làm tăng lên mà dự kiến thu nhập của người lao động cũng sẽ được cải thiện trong giai đoạn 2020 - 2035 Trong đó tăng cao nhất là nhóm lao động có tay nghề thấp

1.2.1 Lao động trẻ em

Mặc dù đã có những nỗ lực đáng kể, Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác vẫn còn hiện tượng lao động trẻ em trong khu vực không có quan hệ lao động (khu vực kinh tế phi chính thức) Theo thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội năm

2019, hiện nay tổng số trẻ em toàn quốc là 26,37 triệu, trong đó có tới 1,442 triệu trẻ em

bị bóc lột (bao gồm sử dụng lao động trẻ em trái quy định của pháp luật) Việc kiểm soát

và xử lý các vi phạm liên quan đến lao động trẻ em, đặc biệt trong khu vực kinh tế phi chính thức còn nhiều bất cập, trong đó năng lực phát hiện và can thiệp của cơ quan chức năng, đặc biệt là chính quyền địa phương và thanh tra lao động còn hạn chế Việt Nam cũng gặp khó khăn như nhận thức của gia đình và chính trẻ em, của người sử dụng lao động và người môi giới lao động còn hạn chế, thiếu hiểu biết về pháp luật, chính sách liên quan đến lao động trẻ em Nhận thức của cha, mẹ, gia đình, trẻ em, người sử dụng lao động và người môi giới lao động về vấn đề lao động trẻ em còn hạn chế Vấn đề nghèo đói vẫn được xem là nguyên nhân chính dẫn đến việc trẻ em tham gia các hoạt động kinh tế và từ đó dẫn đến nguy cơ lao động trẻ em trái quy định của pháp luật

1.2.2 Lao động cưỡng bức

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chúc mừng Việt Nam với quyết định phê chuẩn Công ước số 105 về Xóa bỏ Lao động Cưỡng bức Bước tiến này sẽ đưa tổng số công ước cơ bản của ILO mà Việt Nam phê chuẩn lên bảy trên tám công ước

Ở phần lớn các quốc gia trên thế giới ngày nay, pháp luật quy định cấm nhập khẩu các sản phẩm do lao động cưỡng bức làm ra Một trong những hình thức của lao động cưỡng bức là lao động tù cưỡng bức, là điều kiện duy nhất trên cơ sở đó tất cả các quốc gia thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới được phép cấm nhập khẩu hàng hóa có sử dụng hình thức lao động này trong quy trình sản xuất Người dân ở các quốc gia phát

Trang 6

triển cũng có thói quen tẩy chay các loại hàng hóa có liên quan đến việc sử dụng lao động

Chính vì thế, việc phòng, chống việc sử dụng lao động cưỡng bức khuyến khích doanh nghiệp không thực hiện các hành vi cưỡng bức lao động, góp phần giúp cho hàng hóa của các doanh nghiệp khi xuất khẩu sang thị trường nước ngoài tránh được các rủi ro bị cấm nhập hoặc bị tẩy chay bởi quốc gia nhập khẩu hàng hóa đó Việc không sử dụng lao động cưỡng bức trong quá trình sản xuất ra các loại hàng hóa, dịch vụ cũng được coi là một thành phần của “giấy thông hành” của hàng hóa, dịch vụ đó khi tiếp cận thị trường toàn cầu

Theo số liệu ước tính của ILO, có tới 24,9 triệu nạn nhân của lao động cưỡng bức trên thế giới Trong số đó, 16 triệu người bị bọc lột trong khu vực tư nhân như lao động giúp việc gia đình, ngành xây dựng và nông nghiệp; 4,8 triệu người bị bóc lột lao động tình dục, và

4 triệu người bị cưỡng bức lao động do các cơ quan nhà nước áp đặt Trong khu vực tư nhân, lao động cưỡng bức tạo ra mức lợi nhuận phi pháp lên tới 150 tỉ đô la Mỹ mỗi năm 1.2.3 Phân biệt đối xử

Phân biệt đối xử trong lao động là hành vi phân biệt, loại trừ hoặc ưu tiên dựa trên chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hoặc nguồn gốc xã hội, dân tộc, giới tính, độ tuổi, tình trạng thai sản, tình trạng hôn nhân, tôn giáo, tín ngưỡng, chính kiến, khuyết tật, trách nhiệm gia đình hoặc trên cơ sở tình trạng nhiễm HIV hoặc vì lý do thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn, tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp có tác động làm ảnh hưởng đến bình đẳng về cơ hội việc làm hoặc nghề nghiệp

Việc phân biệt, loại trừ hoặc ưu tiên xuất phát từ yêu cầu đặc thù của công việc và các hành vi duy trì, bảo vệ việc làm cho người lao động dễ bị tổn thương thì không bị xem là phân biệt đối xử

1.2.4 Tự do hội họp và quyền thương lượng tập thể

Tự do hiệp hội là một quyền cơ bản được nêu trong Tuyên bố về các Nguyên tắc và Quyền cơ bản trong Lao động năm 1998 của ILO Tự do hiệp hội giúp cải thiện quá trình thương lượng tập thể, cho phép người lao động được hưởng lợi ích công bằng hơn và cho phép doanh nghiệp thỏa thuận những cải thiện năng suất cần thiết

PHẦN 2 : ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CAM KẾT VỀ LAO ĐỘNG TRONG EVFTA ĐẾN QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

2.1 Tác động tích cực

Trang 7

2.1.1 Xóa bỏ tình trạng lao động trẻ em trong doanh nghiệp

Theo quy định của Bộ luật Lao động, trẻ từ 15 tuổi trở lên có những điều kiện đầy đủ như học hành, có sức khỏe mới được lao động Lao động trẻ em cần được loại bỏ bởi nó lấy

đi tuổi thơ, tiềm năng và nhân phẩm của những đứa trẻ, gây ảnh hưởng xấu tới sự phát triển về thể chất và tinh thần của các em

Ngoài nhóm giải pháp giảm nghèo nông thôn và cải thiện sinh kế, việc làm cho thanh thiếu niên, có thể nói truyền thông đóng một vai trò quan trọng để có thể tiến tới “Nói không với lao động trẻ em” Các gia đình phải được tuyên truyền một cách đầy đủ, giúp các bậc cha mẹ nhận thức về quyền trẻ em, trẻ có thể lao động ở mức độ nào, làm những công việc gì Cha mẹ không nên khuyến khích con làm việc quá sức hoặc quá thời gian, nhất là có những nghề không nên dạy cho trẻ quá sớm

trong nhóm giải pháp tuyên truyền vận động, báo chí, các cơ quan truyền thông nên tích cực đưa tin, phát hiện những vấn đề trong thực tế về LĐTE, cần chú ý quan tâm nhiều đến khu vực nông thôn, miền núi để cho người dân hiểu tác hại của việc trẻ em lao động sớm để tự giác thực hiện luật Những vấn đề được nêu lên có giá trị cảnh báo, đồng thời các cơ quan ban ngành và xã hội biết để có thể cùng nhau đưa ra những giải pháp xử lý kịp thời

2.2.2 Xóa bỏ lao động cưỡng bức

Doanh nghiệp hay người sử dụng lao động cần phải tìm hiểu, thông báo, giải thích rõ ràng các tiêu chuẩn, nội quy, quy định về lao động nhằm tránh tình trạng lao động cưỡng bức trong lao động Trong quá trình lao động, cần trang bị cho người lao động kiến thức

về an toàn; phổ biến về tình trạng lao động cưỡng bức Ngược lại, người lao động cũng cần tự trang bị cho mình kiến thức nhất định để tự bảo vệ bản thân, tránh tình trạng lao động cưỡng bức

Việt Nam đang tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, việc gia nhập Công ước số 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) là rất cần thiết để tiến tới xóa bỏ hoàn toàn cưỡng bức lao động Để bảo đảm thực thi đầy đủ, có hiệu quả Công ước trên thực tiễn sau khi gia nhập, Việt Nam cần tuyên truyền, phổ biến nội dung Công ước số 105 tới người lao động, người sử dụng lao động, các cơ quan, tổ chức có liên quan Đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực cho người lao động, người sử dụng lao động, doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức có liên quan để phòng, chống và xóa bỏ lao động cưỡng bức Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin hỗ trợ công tác phòng, chống, xóa bỏ lao động cưỡng bức Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực lao động liên quan theo đúng quy định của Công ước số

105 Định kỳ hoặc theo yêu cầu báo cáo Tổ chức ILO về việc triển khai thực hiện Công

Trang 8

ước số 105 Tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nhằm trao đổi thông tin, hỗ trợ kỹ thuật liên quan đến việc thực hiện Công ước số 105 Xóa bỏ cưỡng bức lao động tạo môi trường lao động trở lên tốt đẹp hơn, quan hệ lao động cũng tốt hơn

2.2.3 Tự do hội họp

Người lao động và người sử dụng lao động, không phân biệt và không cần phải xin phép trước, có quyền thành lập các tổ chức theo sự lựa chọn của mình nhằm mục đích duy nhất

là nghiên cứu, thúc đẩy các lợi ích và bảo vệ các quyền, cũng như là các lợi ích tinh thần

và vật chất, của tập thể và cá nhân những người được vị thế của tổ chức đó điều chỉnh Các tổ chức của người lao động và của người sử dụng lao động có quyền lập ra điều lệ, những quy tắc quản lý, tự do bầu các đại diện, tổ chức việc điều hành hoạt động và soạn thảo chương trình hoạt động của mình

Các tổ chức chuyên biệt của người lao động được gọi là “công đoàn của người lao động” Các tổ chức chuyên biệt của người sử dụng lao động được gọi là “hiệp hội của người sử dụng lao động” Vậy tự do hội họp giúp tăng quyền lựa chọn người lao động, tổ chức đại diện

2.2.4 Không phân biệt đối xử

Theo quy định tại Điều 26 của Hiến pháp, công dân nam và nữ có quyền bình đẳng trong tất cả các lĩnh vực Nhà nước có chính sách để đảm bảo quyền và cơ hội bình đẳng giới Theo quy định tại Điều 16 của Hiến pháp, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội

Lao động nam và nữ phải được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc Người lao động

có quyền làm việc và tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp mong muốn Họ cũng

có thể tự do lựa chọn việc đào tạo nghề mà họ muốn tham gia và có quyền nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của họ Nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử trên các

cơ sở giới tính, dân tộc, màu da, thành phần xã hội, tình trạng hôn nhân, tín ngưỡng, tôn giáo, nhiễm HIV, khuyết tật hoặc tham gia hoạt động công đoàn tại nơi làm việc Bộ luật Lao động nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử dựa trên giới tính hoặc tình trạng hôn nhân Người sử dụng lao động phải tuân thủ và thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam và nữ trong tuyển dụng, giao việc, thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, nâng bậc lương, tiền công Việc vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm việc áp dụng trình độ (tiêu chuẩn) khác nhau trong việc tuyển dụng lao động nam và nữ cho cùng một công việc; từ chối hoặc hạn chế tuyển dụng lao động, sa thải người lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con hoặc nuôi con của họ; phân biệt đối xử trong giao việc lao

Trang 9

động nam và nữ dẫn đến chênh lệch về thu nhập hoặc áp dụng mức lương khác nhau cho người lao động tương đương về trình độ và năng lực vì lý do giới tính; và

từ chối thực hiện các quyền cụ thể cho lao động nữ đều được quy định trong pháp luật lao động

Người sử dụng lao động bị cấm phân biệt đối xử với người lao động khuyết tật trong mọi vấn đề liên quan đến việc làm Người sử dụng lao động được yêu cầu chăm sóc sức khoẻ người khuyết tật Khuyết tật chỉ dẫn đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, gặp khó khăn trong làm việc, sinh hoạt và học tập Người sử dụng lao động cần tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật làm việc, trong đó bao gồm việc thích nghi với các phương tiện thích ứng, các thiết bị an toàn, đảm bảo điều kiện thích hợp của máy móc, thiết bị, công cụ Người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến người lao động khuyết tật về các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của họ

Hành vi kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người nhiễm HIV cũng bị cấm theo pháp luật Người sử dụng lao động có trách nhiệm: tổ chức tuyên truyền, giáo dục các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS, chống kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV; bố trí công việc phù hợp với sức khỏe và trình độ chuyên môn của người lao động nhiễm HIV; tạo điều kiện cho người lao động tham gia các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS

Vì vậy chúng ta cần phải tạo ra một môi trường lành mạnh, bình đẳng giữa người với người, hạn chế những mâu thuẫn không nên có

2.2 Tác động tiêu cực

Tự do hội họp sẽ dẫn đễn xung đột nhiều hơn trong doanh nghiệp

Khi xảy ra mâu thuẫn, xung đột thì các nhà lãnh đạo có thể áp dụng nhiều phương thức khác nhau để xử lý tình huống, tùy từng trường hợp sẽ có các cách thức giải quyết khác nhau:

Thứ nhất, phương thức ép buộc: Hướng giải quyết này tập trung thỏa mãn những quan tâm của nhà quản lý, thường mang tính cứng rắn và gay gắt với nhân viên Phương thức này phát huy hiệu quả trong trường hợp vì mục tiêu tổ chức mà phải hy sinh quyền lợi của cá nhân

Thứ hai, phương pháp lảng tránh: Phương pháp này áp dụng khi nhà lãnh đạo muốn bỏ qua hoặc rút lui khi nhận thấy xung đột Cách này mềm mỏng và thụ động Lảng tránh được áp dụng khi vấn đề không quan trọng, hậu quả giải quyết vấn đề lớn hơn lợi ích đem lại hoặc nhân viên có thể tự giải quyết với nhau tốt hơn

Trang 10

Thứ ba, phương thức đàm phán: Nhà quản lý sử dụng phương thức này khi hai bên nhận thấy việc giảm bớt các kỳ vọng sẽ tạo ra thành công cho cả hai bên Phương thức này mềm dẻo, thỏa hiệp và đôi bên cùng có lợi và thường được áp dụng khi thỏa thuận lương bổng, hợp đồng mua bán,…

Thứ tư, phương thức nhượng bộ: Phương thức này được áp dụng khi nhà quản lý sẵn sàng hy sinh một số quyền lợi, chấp nhận nhượng bộ nhân viên hoặc ưu tiên hàng đầu việc giữ mối quan hệ tốt đẹp giữa nhân viên với doanh nghiệp Phương thức này mềm mỏng và thụ động nhưng hiệu quả khi cần động viên hoặc hỗ trợ nhân viên

Thứ năm, phương thức hợp tác: Phương thức hợp tác được áp dụng khi hai bên hợp tác

để thỏa mãn tối đa nhu cầu của các bên Phương thức này chủ động đưa ra các khía cạnh

và lựa chọn để không gây tổn hại đến mối quan hệ của các bên Ngoài ra, phương thức này còn đem lại sự hài lòng cho các bên, mọi người đều cảm thấy mình là người chiến thắng

Tổ chức của NLĐ tại DN được thành lập và hoạt động hợp pháp sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký (Điều 172) Hoạt động đảm bảo nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và điều lệ; tự nguyện, tự quản, dân chủ, minh bạch Nếu tổ chức này

vi phạm các quy định, hoặc DN chia tách, dừng hoạt động, giải thể, phá sản sẽ bị thu hồi đăng ký Tổ chức này cũng có quyền thành lập và sau đó gia nhập Công đoàn Việt Nam

Người sử dụng mất nhiều thời gian hơn làm việc với các tổ chức đại diện

Xung đột sẽ xảy ra giữa các tổ chức đại diện

PHẦN 3 : MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VỀ VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG ĐỂ DOANH NGHIỆP TẬN DỤNG LỢI THẾ EVFTA TƯƠNG LAI

3.1 Doanh nghiệp tuân thủ nghiêm túc việc không sử dụng lao động trẻ em

Công ty chỉ sử dụng lao động đủ 18 tuổi trở lên

Nếu có bất kỳ vi phạm nào bị phát hiện về lao động trẻ em thì Công ty sẽ có trách nhiệm

hỗ trợ thỏa đáng về tài chính, cũng như những điều kiện khác để những trẻ em này được tiếp tục học tập cho đến tuổi trưởng thành

3.2 Duy trì tình trạng không có lao động cưỡng bức trong doanh nghiệp thông qua cải thiện các vấn đề về lương sẽ không thấp hơn lương tối thiểu vùng , cải thiện về điều kiện lao động , tâm lý người lao động được thoải mái và môi trường lao động được thiện cảm giữa người và người

Ngày đăng: 30/06/2021, 18:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w