LỜI CAM ĐOAN Tác giả cam đoan số liệu trong trong bài viết này là chính xác, trung thực và đề tài “Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành Phố Hồ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
- -
NGUYỄN THỊ KIM DUNG
XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH- THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THANH PHONG
TP Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan số liệu trong trong bài viết này là chính xác, trung thực và đề
tài “Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành Phố Hồ Chí Minh- Thực trạng và giải pháp” được trình bày là nghiên
cứu của tác giả, chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Kim Dung
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các sơ đồ
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của luận văn 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Khái niệm về xếp hạng tín dụng 4
1.2 Vai trò của xếp hạng tín dụng 7
1.2.1 Đối với Ngân hàng Thương mại 7
1.2.2 Đối với doanh nghiệp được xếp hạng 10
1.2.3 Đối với các đối tượng khác 11
1.3 Nguyên tắc và phương pháp xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 11
1.3.1 Nguyên tắc xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 11
1.3.2 Phương pháp xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 13
1.3.2.1 Phương pháp chuyên gia 13
1.3.2.2 Phương pháp mô hình hóa 15
1.3.2.3 Phương pháp kết hợp 16
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả xếp hạng tín dụng 16
Trang 41.4.1 Mục tiêu của xếp hạng tín dụng 16
1.4.2 Thời hạn đánh giá xếp hạng tín dụng 17
1.4.3 Nguồn thông tin 17
1.4.4 Nguồn nhân lực 18
1.4.5 Công nghệ thông tin 19
1.4.6 Những thay đổi trong cơ cấu, thủ tục, chính sách 19
1.5 Chuẩn mực của Basel liên quan đến xếp hạng tín dụng 20
1.6 Một số mô hình xếp hạng tín nhiệm trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh 21
1.6.1 Mô hình xếp hạng tín nhiệm của Moody’s và Standard & Poors 21
1.6.2 Bài học kinh nghiệm cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 26
2.1 Giới thiệu về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh 26
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 26
2.1.2 Tình hình kinh doanh qua ba năm 2010-2012 28
2.2 Thực trạng xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành Phố Hồ Chí Minh 32
2.2.1 Lịch sử hình thành xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành Phố Hồ Chí Minh 32
2.2.2 Điều kiện ứng dụng xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần phát triển Thành Phố Hồ Chí Minh 33
2.2.2.1 Về quy trình 34
Trang 52.2.2.2 Về con người 35
2.2.2.3 Về hệ thống công nghệ thông tin 36
2.2.3 Đối tượng của xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 37
2.2.4 Nguyên tắc chấm điểm tín dụng doanh nghiệp 37
2.2.5 Thời điểm đánh giá doanh nghiệp 37
2.2.6 Nội dung chấm điểm của xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 38
2.2.7 Quy trình xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành Phố Hồ Chí Minh 39
2.3 Ứng dụng kết quả chấm điểm của xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành Phố Hồ Chí Minh 51
2.3.1 Quyết định cho vay 51
2.3.2 Xác định giới hạn cấp tín dụng 53
2.3.3 Xây dựng các chính sách khách hàng 54
2.3.4 Tư vấn nâng cao năng lực cho khách hàng 55
2.3.5 Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 55
2.4 Nghiên cứu tình huống xếp hạng tín dụng cho doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh 57
2.5 Đánh giá xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành Phố Hồ Chí Minh 67
2.5.1 Những kết quả đạt được 68
2.5.2 Những hạn chế tồn tại và nguyên nhân 70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 74
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 75
3.1 Định hướng của ngân hàng trong việc phát triển xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 75
Trang 63.2 Giải pháp hoàn thiện xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Phát triển Thành Phố Hồ Chí Minh 77
3.2.1 Giải pháp do bản thân ngân hàng thực hiện 77
3.2.1.1 Nhóm giải pháp về nội dung chương trình và phương pháp xếp hạng tín dụng 77
3.2.1.2 Nhóm giải pháp về con người 79
3.2.1.3 Nhóm giải pháp về hệ thống thông tin 82
3.2.2 Giải pháp đối với doanh nghiệp là khách hàng 83
3.3 Các kiến nghị nhằm hoàn thiện xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 85
3.3.1 Đối với cơ quan thống kê 85
3.3.2 Đối với Chính Phủ 86
3.3.3 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 87
3.3.4 Đối với Bộ Kế hoạch và đầu tư 89
3.3.5 Đối với Bộ Tài Chính 89
3.3.6 Đối với các đơn vị kiểm toán 90
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 91
KẾT LUẬN 92
Trang 7DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
Basel: Hiệp ước về giám sát hoạt động Ngân hàng
Moody’s: Moody’s Investors Services
S&P: Standard & Poor’s
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1.1 Hệ thống ký hiệu cơ bản về xếp hạng trả nợ và cam kết tài chính trong dài hạn
của Moody’s và S&P 23
2.1 Tổng hợp chỉ tiêu kinh doanh của HDBank qua ba năm 2010-2012 29
2.2 Chất lượng danh mục tín dụng của HDBank qua ba năm 2010-2012 30
2.3 Biến động biên độ lãi thuần của HDBank qua ba năm 2010-2012 32
2.4 Thời điểm đánh giá doanh nghiệp 38
2.5 Trọng số nhóm chỉ tiêu phi tài chính theo loại hình sở hữu doanh nghiệp và theo khách hàng cũ, mới 47
2.6 Trọng số nhóm chỉ tiêu phi tài chính đối với khách hàng có điểm quy mô nhỏ hơn 6 50
2.7 Hệ số rủi ro đối với khách hàng có điểm quy mô nhỏ hơn 6 50
2.8 Ma trận ra quyết định cho vay 52
2.9 Tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản đảm bảo 53
2.10 Mức phân loại nợ dựa trên kết quả XHTD 56
2.11 Tình hình xếp loại và nợ xấu của nhóm đối tượng nghiên cứu 57
2.12 Tóm tắt Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2010-2011 của Công ty CP A 58
2.13 Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính của Công ty CP A 59
2.14 Chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính của Công ty CP A 60
2.15 Điểm các chỉ tiêu phi tài chính của Công ty CP A sau khi chấm lại 66
2.16 Ví dụ nguyên nhân lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá doanh nghiệp 79
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
1.1 Mô hình chấm điểm XHTD doanh nghiệp tại HDBank 40
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Rủi ro tín dụng là một trong các yếu tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các NHTM, đặc biệt là tại Việt Nam với đặc thù là nguồn thu từ tín dụng luôn chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng nguồn thu của Ngân hàng Để nâng cao hiệu quả cạnh tranh và hạn chế rủi ro tín dụng, các NHTM đang từng ngày tự đổi mới mình đồng thời xây dựng và hoàn thiện các công cụ quản lý rủi ro phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế Thực tiễn đã cho thấy thất bại của NHTM trong hoạt động tín dụng gắn chặt với thiếu hiểu biết về khách hàng Để hạn chế rủi ro, một trong những biện pháp quản trị của các NHTM là sử dụng các mô hình phân tích để chấm điểm về chất lượng, uy tín tín dụng của các khách hàng từ đó có thể chọn lọc các khách hàng tốt và có chính sách phù hợp đối với từng đối tượng khách hàng Do vậy, vấn đề xây dựng và hoàn thiện XHTD đang được các NHTM quan tâm nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, giảm bớt tỷ lệ nợ xấu phải trích dự phòng rủi ro, đáp ứng các yêu cầu của Basel và Ngân hàng Nhà Nước Nếu sử dụng hệ thống đánh giá rủi ro kém chính xác, các NHTM có thể quá lạc quan về triển vọng khách hàng dẫn tới hậu quả khó lường
Từ những phân tích và nhận định nêu trên đã cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện hơn nữa XHTD của các NHTM Có thể xem đó là công việc mà các NHTM phải tiến hành kiểm tra định kỳ thường xuyên nhằm đảm bảo những thay đổi về môi trường kinh doanh luôn luôn được cập nhật kịp thời và tăng cường hơn nữa khả năng dự báo trong quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Đối với Ngân hàng TMCP Phát triển Thành Phố Hồ Chí Minh (HDBank), hệ thống XHTD đã được xây dựng và triển khai ứng dụng từ năm 2010 Tuy nhiên, kiểm chứng qua tình trạng nợ xấu phải trích dự phòng rủi ro vẫn gia tăng thời gian gần đây cho thấy việc ứng dụng XHTD vẫn còn nhiều khuyết điểm dẫn đến sàng lọc khách hàng chưa hiệu quả và do đó cần phải đẩy mạnh hơn nữa ứng dụng của XHTD để đảm bảo giảm thiểu
Trang 12rủi ro tín dụng Dựa trên thực tiễn đó, tôi đã chọn đề tài “Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh- Thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nhằm hệ thống hóa lại lý thuyết về XHTD, phân tích thực trạng XHTD doanh nghiệp tại HDBank và từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện XHTD doanh nghiệp tại HDBank
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu luận văn là hệ thống XHTD doanh nghiệp tại HDBank Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian là việc ứng dụng XHTD doanh nghiệp trên toàn bộ hệ thống HDBank Về mặt thời gian, phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung nghiên cứu các số liệu liên quan trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2012
Nguồn dữ liệu được thu thập từ các báo cáo của HDBank tại Hội Sở Chính và các chi nhánh, các tạp chí, các website có liên quan do chính tác giả tổng hợp và xử lý
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính, thống kê, tổng hợp, so sánh để phân tích và làm rõ những vấn đề của luận văn
Đồng thời, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống để tiếp cận chuyên môn về đối tượng nghiên cứu theo nội dung, phương pháp và kỹ thuật XHTD của HDBank Nghiên cứu này sử dụng thông tin kết quả XHTD của một số khách hàng đang có dư nợ tín dụng tại HDBank
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, danh mục các bảng biểu và danh mục các chữ viết tắt, bố cục của luận văn bao gồm những nội dung sau:
Chương 1: Tổng quan về xếp hạng tín dụng của Ngân hàng Thương mại
Trang 13Chương 2: Thực trạng xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Hoàn thiện xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm về xếp hạng tín dụng
Một số nghiên cứu cho rằng hoạt động XHTD và các tổ chức XHTD đánh dấu quá trình ra đời chính thức vào những thập niên 1860 Từ năm 1930 đến 1970, những thị trường vốn tư nhân tại Hoa Kỳ ngày càng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sự bùng nổ của việc đầu tư ngành đường sắt Tuy nhiên thông tin minh bạch, có giá trị về tình trạng tài chính và các phân tích của các bên thứ ba độc lập đối với doanh nghiệp trong ngành này rất hạn chế đã gây khó khăn lớn cho các nhà đầu tư Nhận thấy điều đó, vào năm 1860, Henry Varnum Poor (1812 -1905) phát hành ấn phẩm “ History of Railroads and Canals of the United States” cung cấp các thông tin về các công ty hoạt động trong lĩnh vực đường sắt, đường sông tại Hoa Kỳ Trong ấn phẩm này, các thông tin đầy đủ cùng ý kiến nhận định và đánh giá về uy tín của các doanh nghiệp của H.V.Poor được các nhà đầu tư tin tưởng sử dụng làm thông tin trong quá trình quyết định đầu tư của mình Từ đó, ông cùng với người con của mình sáng lập Poor’s Publishing với vai trò cung cấp thông tin tài chính tin cậy về ngành giao thông vận tải Song song với đó, vào năm 1906, Công ty phân tích Standard được thành lập và đến năm 1916 thì họ bắt đầu thực hiện đánh giá rủi ro về các trái phiếu doanh nghiệp Đến năm 1941, Poor’s Publisshing và Standard Statistics sáp nhập hình thành nên Poor’s Publishing and Standard Statistics, ngày nay chính thức là Standard & Poor’s Ratings Services- một thành viên của tập đoàn Mc Graw Hill Financial
Tương tự như quá trình phát triển của Standard & Poors, năm 1900, John Moddy và công ty của ông đã xuất bản ấn phẩm “Mood’s Manunal of Industrial and Miscellaneous Securities”, lần đầu đưa ra thuật ngữ “xếp hạng tín dụng” (Credit ratings) trong ấn phẩm này và cung cấp cho nhà đầu tư thông tin tài chính, các phân
Trang 15tích và xếp hạng của một loạt các công ty cũng như các nhà phát hành chứng khoán nợ trong ngành công nghiệp theo một hệ thống ký hiệu gồm 3 chữ cái của ABC được xếp lần lượt là Aaa đến C
Năm 1913, Fitch Ratings cũng ra đời và là tổ chức đầu tiên sử dụng thống nhất và phổ biến các ký hiệu AAA cho đến D vào trong hệ thống đánh giá chứng khoán tài chính
Tuy nhiên XHTD chỉ phát triển nhanh ở Mỹ sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929-1933 khi hàng loạt các công ty vay nợ bị phá sản, vỡ nợ Thời kỳ này chính phủ Hoa kỳ đã có nhiều quy định về việc cấm các định chế đầu tư (các Quỹ bảo hiểm, Ngân hàng dự trữ) bỏ vốn đầu tư mua trái phiếu có độ tin cậy thấp dưới mức an toàn trong bảng xếp hạng tín nhiệm Những quy định này đã làm cho uy tín của các Công ty xếp hạng tín nhiệm ngày một lên cao Song trong suốt hơn 50 năm, việc xếp hạng tín dụng chỉ được phổ biến ở Mỹ, chỉ từ những năm 1970 đến nay, dịch vụ xếp hạng tín dụng mới được mở rộng và phát triển mạnh ở nhiều nước Cho đến nay việc sử dụng xếp hạng tín dụng trở nên rất phổ biến và đa dạng về mục đích, đối tượng xếp hạng nên cách nhìn nhận cũng như quan điểm về xếp hạng tín dụng đã có nhiều thay đổi
Chúng ta có thể điểm qua một số định nghĩa về xếp hạng tín dụng như sau:
- Thuật ngữ “xếp hạng tín dụng” lần đầu được đưa ra bởi John Moody năm 1900 trong ấn phẩm “Moody’s Manual of Industrial and Miscellaneous Securities” cho rằng XHTD là ý kiến về khả năng và sự sẵn sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khoản nợ nhất định trong suốt thời hạn tồn tại của khoản nợ
- Tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập Standard & Poors cho rằng XHTD là trình bày các ý kiến về rủi ro tín dụng Cụ thể là thể hiện ý kiến về khả năng và sự sẵn sàng của tổ chức phát hành (rating issuers) để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính đầy đủ và đúng hạn XHTD cũng có thể đề cập tới chất lượng tín dụng của khoản nợ riêng lẽ hoặc đánh giá nguy cơ liên quan có thể bị tổn thất
Trang 16- Fitch Ratings khẳng định theo quan điểm của họ về XHTD là việc cung cấp ý kiến
về khả năng tương đối trong việc đáp ứng các cam kết tài chính - chẳng hạn như lãi suất, cổ tức ưu đãi, trả nợ gốc, bồi thường bảo hiểm hoặc các nghĩa vụ đối với các đối tác của đối tượng được xếp hạng Các nhà đầu tư xem xét XHTD là dấu hiệu cho thấy khả năng nhận được tiền nợ theo quy định và các điều khoản khi họ đầu
tư
- Theo định nghĩa của Công ty chứng khoán Merrill Lynch thì “XHTD là đánh giá hiện thời của Công ty xếp hạng tín nhiệm về chất lượng tín dụng của một nhà phát hành chứng khoán nợ, về một khoản nợ nhất định Nói khác đi, đó là cách đánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng đang được xem xét trong hoàn cảnh hướng về tương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng phát hành có thể thanh toán cả gốc và lãi đúng hạn Trong kết quả XHTD chứa đựng cả ý kiến chủ quan của chuyên gia XHTD”
- Theo Bond Jonh A thì XHTD là “sự đánh giá về khả năng của một nhà phát hành
có thể thanh toán đúng hạn cả lãi lẫn gốc đối với một loại chứng khoán nợ trong suốt thời gian tồn tại của nó”
- Theo đĩnh nghĩa của Viện nghiên cứu Nomura (Nomura Reseach Institute) thì XHTD là sự đánh giá hiện thời về mức độ sẵn sàng và khả năng trả (gốc, lãi) đối với chứng khoán nợ của một nhà phát hành trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán đó
Từ các khái niệm trên cho thấy, cho dù đứng ở quan điểm nào thì việc XHTD cũng chứa đựng những yếu tố sau: Xác định khả năng trả nợ đúng hạn, các thứ hạng sẽ cho biết năng lực và thiện chí của con nợ thanh toán nợ lãi và nợ gốc đúng hạn theo đúng những điều khoản đã cam kết; Tính chất và các điều khoản cam kết; Bảo vệ các cam kết nợ để chúng có đủ sức và vị trí tương đối trong từng trường hợp phá sản mà không làm ảnh hưởng đến các quyền lợi của chủ nợ
Trang 17Như vậy, XHTD doanh nghiệp là một tiến trình đánh giá và phân loại mức độ tín nhiệm tương ứng với các cấp độ rủi ro khác nhau đối với trách nhiệm tài chính, hoặc đánh giá mức độ rủi ro tín dụng phụ thuộc các yếu tố bao gồm năng lực tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh hiện tại và triển vọng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp được xếp hạng, khả năng dễ bị vỡ nợ khi các điều kiện kinh doanh thay đổi, ý thức và thiện chí trả nợ của người vay Từ đó xác định được mức độ rủi ro không trả
được nợ và khả năng trả nợ trong tương lai
1.2 Vai trò của xếp hạng tín dụng
1.2.1 Đối với Ngân hàng Thương mại
Trong xu hướng hội nhập phát triển thì NHTM ngày càng phải đối mặt với rủi ro tín dụng lớn hơn, đòi hỏi phải có những biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro để đảm bảo an toàn cho toàn hệ thống Trong xu thế đó, XHTD đóng một vai trò quan trọng
Nó trợ giúp Ngân hàng trong các vấn đề sau:
Phục vụ quản lý tín dụng toàn hệ thống: XHTD hỗ trợ ra đánh giá chất lượng của
toàn bộ danh mục tín dụng; hạn chế rủi ro vận hành trong quá trình cấp tín dụng; phân loại nợ trong ngân hàng
- XHTD sẽ trợ giúp Ngân hàng đánh giá chất lượng của toàn bộ danh mục tín dụng; xác định một cách hợp lý, chính xác tổn thất tín dụng theo từng dòng sản phầm hoặc lĩnh vực hay ngành nghề kinh tế; phân tích được rủi ro và lợi nhuận của các dòng sản phẩm Đây là điều kiện quan trọng để phát triển, hướng tới các khách hàng có ít rủi
ro hơn, xây dựng danh mục tín dụng có chất lượng cao Các mức xếp hạng là cơ sở để các Ngân hàng xây dựng quy trình tín dụng và chính sách khách hàng (xác định lãi suất, thủ tục tín dụng…) đồng bộ, rõ ràng, hiệu quả và nhất quán trên toàn hệ thống ngân hàng
- NHTM có thể thực hiện hạn chế rủi ro vận hành trong cấp tín dụng Nhờ tích hợp các nguyên tắc, chính sách và tiêu chuẩn tín dụng căn bản của ngân hàng, hệ thống
Trang 18XHTD tạo ra một căn cứ độc lập để ngân hàng đánh giá hiệu quả quá trình quản trị rủi
ro của các bộ phận có trách nhiệm liên quan, bảo đảm chức năng cấp tín dụng được quản lý phù hợp, các tài sản có rủi ro tín dụng nằm trong giới hạn, thống nhất với các tiêu chuẩn thận trọng và khả năng phát hiện sớm các khoản tín dụng xấu
- Xác định tỷ lệ nợ xấu mục tiêu: Thông qua các kết quả xếp hạng của khách hàng hiện tại giúp cho ngân hàng điều chỉnh chính sách tín dụng kịp thời nhằm kiểm soát tỷ lệ nợ xấu mà mình đặt ra
- Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng: XHTD với cơ sở dữ liệu đầy
đủ là căn cứ để phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo quy định tại Điều 7, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN Việt Nam Phân loại nợ tại các NHTM được thực hiện trên nguyên tắc nợ có rủi ro càng cao sẽ được xếp vào nhóm nợ thấp hơn nếu căn cứ trên kết quả XHTD của khách hàng Việc này giúp các NHTM quản lý các khoản nợ và khách hàng vay đồng bộ, tiến tới quản trị danh mục cho vay tốt hơn, phát hiện sớm các trường hợp nợ có vấn đề và có hành động điều chỉnh phù hợp, làm cơ sở để trích lập dự phòng trong ngân hàng Ngoài ra, XHTD cũng trợ giúp Ngân hàng tính toán trích lập dự phòng rủi ro, phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam và quốc tế
Phục vụ quản lý tín dụng tại từng đơn vị cho vay: XHTD hỗ trợ ra quyết định tín
dụng; xác định giới hạn tín dụng; định giá khoản tín dụng; giám sát và đánh giá khách hàng vay; kiểm soát rủi ro tín dụng; hạn chế rủi ro vận hành trong quá trình cấp tín dụng
- Ra quyết định tín dụng và xác định giới hạn tín dụng: Kết quả XHTD được sử dụng làm một trong các căn cứ quan trọng để đưa ra quyết định tín dụng Đây là giai đoạn xem xét đánh giá rủi ro tín dụng từ khách hàng vay để từ đó xác định hạn mức tín dụng, thời hạn, lãi suất, biện pháp đảm bảo tiền vay Đồng thời, tùy vào thứ hạng của doanh nghiệp mà NHTM có thể cung cấp cho doanh nghiệp những sản phẩm tín dụng
Trang 19khác nhau Những doanh nghiệp có thứ hạng cao sẽ được ngân hàng cung cấp ưu đãi các sản phẩm tín dụng và NHTM sẽ đưa ra các chính sách đảm bảo tín dụng khác nhau
Ngân hàng sẽ quy định giới hạn cấp tín dụng đối với khách hàng dựa trên nhiều yếu tố, trong đó kết quả từ xếp hạng của khách hàng là một cơ sở quan trọng để tính toán ra hạn mức tín dụng tối đa Tính toán giới hạn tín dụng tối đa được cấp đối với một khách hàng dựa trên công thức (Lê Thị Hiệp Thương và cộng sự, 2013, trang 72):
α: hệ số giới hạn, α được tính toán dựa trên kết quả xếp hạng của khách hàng,
nếu khách hàng xếp hạng CCC trở xuống thì α = 0, nếu khách hàng đã được cấp tín dụng trước đó và vẫn còn dư nợ thì α sẽ được điều chỉnh giảm xuống
TSĐB: giá trị của TSĐB đã được ngân hàng thẩm định
β: hệ số điều chỉnh giá trị TSĐB do ngân hàng quy định
i: tài sản thứ i được khách hàng sử dụng làm TSĐB
n: số lượng tài sản khách hàng sử dụng để bảo đảm tại ngân hàng
Như vậy ngân hàng đã có thể sử dụng linh hoạt kết quả xếp hạng đi cùng với các đánh giá về khả năng đối ứng vốn của khách hàng, số vốn đã được cấp, bảo đảm tín dụng trong khoản nợ… từ đó giúp cho việc quy định giới hạn tín dụng sẽ sát thực với thực tế của khách hàng hơn
- Định giá khoản tín dụng: Một trong những ứng dụng của XHTD là quyết định lãi suất theo rủi ro Mức giá chào cho khoản cấp tín dụng phải phù hợp và đủ để bồi hoàn tổn thất tín dụng, tương ứng với mức độ rủi ro XHTD phân loại các mức độ rủi
ro do đó trở thành một trong những căn cứ tin cậy để định giá cho các khoản tín dụng theo nguyên tắc mức XHTD thấp sẽ tương ứng với mức lãi suất cao và ngược lại
Trang 20- Giám sát và đánh giá khách hàng: Sau khi được cấp tín dụng, cán bộ giám sát khoản tín dụng phải thường xuyên thu thập thông tin về khách hàng và định kỳ hoặc đột xuất phải xếp hạng lại khách hàng Việc đánh giá xếp hạng tín dụng thường xuyên cho phép các đơn vị vay lường trước được những dấu hiệu cho thấy khoản vay đang có chất lượng xấu đi và có những biện pháp đối phó kịp thời
- Kiểm soát rủi ro tín dụng: Kết quả XHTD góp phần đo lường được hợp lý mức
độ rủi ro của danh mục tín dụng tại các đơn vị cho vay do đó sẽ là cơ sở để kiểm soát rủi ro tín dụng đạt hiệu quả hơn
1.2.2 Đối với doanh nghiệp được xếp hạng
Thông qua XHTD, doanh nghiệp khẳng định được vị thế và uy tín của mình, đồng thời giúp doanh nghiệp xây dựng hình ảnh và độ tín nhiệm của mình trong sản xuất kinh doanh nhất là trong thời kỳ hội nhập quốc tế của Việt Nam Khi các doanh nghiệp tham gia đánh giá tín dụng doanh nghiệp, họ sẽ nhận được những thông tin đánh giá hết sức độc lập, khách quan về tình hình sản xuất kinh doanh của mình, tự mình hiểu được mình về năng lực tài chính, khả năng thanh toán… của mình Mặt khác, doanh nghiệp còn nhận dược những dịch vụ tư vấn tài chính, quản lý, thị trường dựa trên những đánh giá đó để nhằm hoàn thiện và phát triển hơn
Trong hoạt động đi vay, qua quá trình xếp hạng, doanh nghiệp sẽ được ngân hàng đánh giá bằng phương pháp công bằng, khách quan, nhanh chóng và được hưởng các chính sách tín dụng phù hợp với mức tín nhiệm của mình, có thể tiết kiệm được chi phí vay, gia tăng thuận tiện trong giao dịch Đồng thời, với XHTD, ngân hàng nắm rõ hơn tình trạng hoạt động kinh doanh thực tế của doanh nghiệp, phân tích được điểm mạnh, yếu, triển vọng phát triển trong tương lai cũng như những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải Nhờ vậy, doanh nghiệp sẽ nhận được sự tư vấn từ phía ngân hàng, từ đó điều chỉnh chiến lược hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, khả năng cạnh tranh và năng lực tài chính
Trang 211.2.3 Đối với các đối tượng khác
Đối với NHNN: NHNN có thể căn cứ trên kết quả XHTD để đảm bảo hiệu quả hoạt động tín dụng trong hệ thống, thực hiện các quy định, chính sách về quản trị rủi ro tín dụng theo đề nghị của ủy ban Basel và các tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế khác
Hệ thống NHTM khi đã phát huy được hiệu quả của hoạt động xếp hạng sẽ mang lại sự khách quan và chính xác hơn trong quá trình đánh giá, đảm bảo công bằng giữa các ngân hàng với nhau Từ hoạt động XHTD, thị trường tài chính trở nên sôi động và hiện đại hơn với nghiệp vụ mới mẻ và khoa học
Đối với các nhà đầu tư nước ngoài: trong quá trình hội nhập quốc tế, các đối tác nước ngoài trước khi vào Việt Nam đầu tư, liên doanh liên kết, việc đầu tiên họ quan tâm là môi trường kinh tế và tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trong các lĩnh vực, ngành nghề Dưới góc độ nhà đầu tư, XHTD cung cấp thông tin đa chiều về tình hình tài chính, môi trường kinh doanh, năng lực lãnh đạo của người đứng đầu doanh nghiệp, chính sách ưu đãi của nhà nước…là cơ sở để đánh giá và lựa chọn danh mục đầu tư, từ đó đưa ra quyết định đầu tư
Đối với thị trường chứng khoán: mặc dù được hình thành từ năm 2000, là thị trường tài chính thu hút vốn quan trọng thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp giúp cho kinh tế phát triển Tuy nhiên, thị trường chứng khoán gặp một số khó khăn do thông tin kém minh bạch nên chưa tạo được sự lành mạnh cho thị trường XHTD có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà đầu tư, bởi từ đó sẽ cho thấy danh tiếng, khả năng thu hút vốn và lợi nhuận của doanh nghiệp, giúp cho việc thu hút vốn trên thị trường chứng khoán diễn ra thuận lợi và dễ dàng hơn
1.3 Nguyên tắc và phương pháp xếp hạng tín dụng doanh nghiệp
1.3.1 Nguyên tắc xếp hạng tín dụng doanh nghiệp
Xếp hạng tín dụng ra đời từ đầu thế kỷ 20 với mục tiêu cơ bản là dự đoán khả năng vỡ nợ và dự đoán giá trị hợp đồng tại những thời điểm có khả năng vỡ nợ Theo
Trang 22nghiên cứu về nguyên tắc của xếp hạng tín dụng đối với khách hàng (Nguyễn Hồng Hạnh, 2011, trang 12) thì việc phân tích dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc 1: Phân tích các yếu tố định lượng và định tính
Các dữ liệu định lượng: Là những quan sát được đo lường bằng số, thường là các
chỉ tiêu tài chính: như nhóm chỉ tiêu thanh khoản, chỉ tiêu hoạt động, chỉ tiêu cân nợ và chỉ tiêu thu nhập
Các dữ liệu định tính: Đó là những quan sát không đo lường được bằng số, thường
các nhóm chỉ tiêu liên quan đến trình độ quản lý, quy trình kiểm soát nội bộ, đội ngũ lao động…
Nguyên tắc 2: Việc phân tích được tiến hành bằng phương pháp “trên - xuống”,
phân tích từ các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng, các yếu tố của bản thân công ty theo trình tự sau:
Phân tích rủi ro mang tính vĩ mô về xu hướng của quốc gia, như tốc độ tăng trưởng kinh tế, sự ổn định về chính trị, chính sách tài chính, sự mở cửa thị trường … của quốc gia;
Phân tích rủi ro hoạt động kinh doanh như tình hình cạnh tranh, xu hướng thị trường, vị thế kinh doanh của công ty, sự đa dạng hoá hoạt động và các luật lệ quy định;
Phân tích rủi ro tài chính bao gồm hàng loạt chỉ tiêu phụ thuộc vào từng ngành nghề, kết hợp so sánh giữa rủi ro tài chính và rủi ro kinh doanh, xem xét độ linh hoạt tài chính cũng như chính sách tài chính;
Phân tích hướng phát triển của công ty như chất lượng ban quản lý và chiến lược kinh doanh;
Phân tích tình trạng pháp lý của DN như việc tuân thủ các quy định của pháp luật về ngành nghề mà DN đang hoạt động
Trang 23Nguyên tắc 3: Xây dựng thang điểm các chỉ tiêu đơn giản, dễ hiểu, dễ so sánh Các
chỉ tiêu được cho điểm sau đó tổng hợp lại và phản ánh qua ký hiệu xếp hạng
Khi chấm điểm phải tuân thủ nguyên tắc khách quan, linh hoạt, sử dụng nhiều nguồn thông tin khác nhau, để có cái nhìn tổng quát toàn diện về tình hình hiện tại của khách hàng vay
1.3.2 Phương pháp xếp hạng tín dụng doanh nghiệp
1.3.2.1 Phương pháp chuyên gia
Theo Lê Thị Hiệp Thương và cộng sự, 2010, trong trường hợp các số liệu thực nghiệm không đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu hoặc đối tượng xếp hạng là một tập hợp các dấu hiệu chất lượng không thể định lượng, hoặc có thể định lượng nhưng rất tốn kém thì phải sử dụng phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Lập hai nhóm các nhà phân tích và chuyên gia đánh giá
Nhóm các nhà phân tích: Đây là những người chuẩn bị các điều kiện để XHTD Nhóm này cần phải lựa chọn những người am hiểu về lĩnh vực cần đánh giá và những vấn đề có liên quan như thành thạo kỹ năng phân tích, tổng hợp những ý kiến thu thập được
Nhóm các chuyên gia đánh giá: Đây là những người có kiến thức chuyên sâu về đối tượng XHTD, có khả năng đánh giá xu thế phát triển của đối tượng đó Các chuyên gia này có trách nhiệm đưa ra ý kiến xếp hạng, cung cấp thông tin dự báo thay đổi xếp hạng trong tương lai
Bước 2: Xây dựng bảng câu hỏi
Đây là công việc có ý nghĩa quan trọng bởi thông qua các câu trả lời và số điểm đánh giá của các chuyên gia, người đánh giá có thể thu thập, xử lý thông tin một cách hữu hiệu Nội dung câu hỏi phải gắn liền với nội dung cần đánh giá và hình thức của chúng có thể là câu hỏi đóng hoặc mở, tùy theo yêu cầu đánh giá Bên cạnh đó, cũng có
Trang 24thể đề nghị các chuyên gia xác định tầm quan trọng của các yếu tố cần đánh giá bằng mức điểm trọng số
Bước 3: Phát phiếu điều tra cho chuyên gia trả lời
Bước 4: Thu thập các câu trả lời, sắp xếp chọn lọc, tóm tắt lại ý kiến của các chuyên gia và tiến hành phân tích, tổng hợp, rút ra kết luận Trên cơ sở những kết quả trả lời lần thứ nhất, người đánh giá tiến hành điều chỉnh bảng hỏi theo hướng thu hẹp phạm vi và đưa ra nội dung cụ thể hơn Bảng hỏi được tiếp tục chuyển đến các chuyên gia đã tham vấn lần thứ nhất Trong lần này, nếu cần thiếu, các chuyên gia có thể điều chỉnh lại ý kiến ban đầu của mình
Bước 5: Tổng hợp lại các ý kiến đánh giá lần hai của các chuyên gia Nếu chưa thấy thỏa mãn thì tiếp tục quá trình nêu trên cho đến khi đạt yêu cầu
Ưu điểm của phương pháp:
Phương pháp này tập trung đánh giá định tính, tận dụng được kinh nghiệm và kiến thức chuyên sâu của các chuyên gia trong ngành của họ Kết quả đánh giá được tập hợp từ nhiều chuyên gia nên mức độ tin cậy cao, có thể tránh được ảnh hưởng của
những người có ưu thế trong số người được hỏi ý kiến
Nhược điểm của phương pháp:
Chi phí đánh giá có thể rất cao khi số lượng người tham gia đông và số lần thu thập ý kiến nhiều Do thời gian tiến hành đánh giá dài nên thường dẫn đến thay đổi thành phần nhân sự trong nhóm chuyên gia gây khó khăn trong việc tổng hợp, phân tích Đồng thời, không thể loại bỏ hoàn toàn khía cạnh đánh giá chủ quan trong kết quả
đánh giá khi sử dụng phương pháp này
Phạm vi áp dụng:
Phương pháp thường được áp dụng để thu thập ý kiến dự báo và đánh giá của các chuyên gia trong các lĩnh vực bao gồm: Dự báo môi trường kinh doanh quốc tế và
Trang 25môi trường trong nước; Dự báo về các triển vọng, xu hướng của ngành, nền kinh tế;
Dự báo và đánh giá tiềm năng của thị trường, sản phẩm của ngành
1.3.2.2 Phương pháp mô hình hóa
Theo Lê Thị Hiệp Thương và cộng sự, 2010, phương pháp này còn được gọi là phương pháp truyền thống, thường để phân tích xu hướng phát triển hiện tại và tương lai của tổ chức kinh tế, kiểm tra việc hoạch định chiến lược để tăng vị thế cạnh tranh của tổ chức kinh tế, kiểm tra về tổ chức, kiểm tra hiệu quả hoạt động và phân tích tài chính của các tổ chức kinh tế
Phương pháp được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị
Thu thập thông tin từ môi trường ngoại vi và tình hình nội tại, những thông tin trong quá khứ lẫn dự báo tương lai
Bước 2: Tiến hành phân tích
Tiến hành phân tích, áp dụng một số phương pháp phân tích như: phương pháp so sánh, phương pháp phân chia, phương pháp phân tích nhân tố, phương pháp dự đoán
Ưu điểm:
Phương pháp này khá đơn giản bởi có thể lấy tiêu thức của một doanh nghiệp khác hay của ngành làm cơ sở cho sự đánh giá Đồng thời chi phí của phương pháp này cũng thấp và có thể hoàn thành trong thời gian ngắn
Nhược điểm:
Nhược điểm của phương pháp này là độ chính xác không cao nếu các chỉ tiêu dùng để so sánh không chính xác Việc so sánh sẽ gặp khó khăn trong trường hợp điều kiện và đặc điểm của các doanh nghiệp khác nhau, không xác định được chỉ tiêu chuẩn
để so sánh
Phạm vi áp dụng:
Trang 26Phương pháp này được áp dụng để: Đánh giá, so sánh những thuận lợi và bất lợi của môi trường kinh doanh; Đánh giá, so sánh ưu, nhược điểm của sản phẩm, công nghệ để lựa chọn sản phẩm, công nghệ; Đánh giá, so sánh thị trường, thị phần và chiến lược tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp; và Đánh giá và so sánh các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp với một doanh nghiệp cụ thể hoặc với mặt bằng chung của ngành
1.3.2.3 Phương pháp kết hợp
Theo Lê Thị Hiệp Thương và cộng sự, 2010, phương pháp này này cho phép kết hợp những thế mạnh của hai phương pháp chuyên gia và phương pháp mô hình hóa Việc kết hợp này có thể được tiến hành theo các hướng khác nhau
Phương pháp kết hợp này được tiến hành theo một quy trình cặp nhằm thực hiện việc xích lại gần nhau giữa các phương án nhận được từ việc mô phỏng theo mô hình hóa với các ý kiến của chuyên gia cho đến khi đạt được sự thống nhất chấp nhận được, nghĩa là cả hai phương pháp cùng thực hiện để giải quyết một nội dung, một vấn đề nhằm tạo nên sự thống nhất cao nhất
Phương pháp được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Sử dụng ý kiến của chuyên gia nhằm xác định các chỉ tiêu về định tính, khung phân tích, hướng tiếp cận vấn đề
Bước 2: Sau khi xác định được các chỉ tiêu định tính, khung phân tích và hướng tiếp cận vấn đề thì sử dụng phương pháp mô hình hóa để làm rõ, cụ thể hóa các nội dung Phương pháp kết hợp đan xen giữa các phương pháp, theo cách kết hợp này quá trình xếp hạng sẽ được xem xét cụ thể, tùy từng trường hợp, tùy từng tiêu chí, thời điểm… mà có thể áp dụng phương pháp chuyên gia hay phương pháp mô hình hóa hay cùng thực hiện cả hai phương pháp
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả xếp hạng tín dụng
1.4.1 Mục tiêu của xếp hạng tín dụng
Trang 27Kết quả XHTD nội bộ có được đánh giá cao hay không phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức về vai trò cũng như sự quan tâm đúng mức từ phía những nhà quản trị và nhân viên ngân hàng Hệ thống XHTD nội bộ chỉ là một phương tiện điều khiển hợp cùng các phương tiện điều khiển khác như chính sách cho vay, quy trình phê chuẩn, quy trình quản lý nợ… mà ngân hàng thực hiện văn hóa cho vay của mình Hệ thống XHTD nội bộ là phương tiện điều khiển rất cần thiết cho việc thực hiện các quy tắc tín dụng, nhưng nó cũng cần phải có sự quan tâm của nhà quản trị cấp cao để truyền đạt được các quy tắc đó Hệ thống XHTD là một tập hợp của nhiều bộ phận và sẽ chỉ đạt được hiệu quả cao nhất khi các bộ phận của hệ thống có được sự đồng bộ, đầy đủ, chính xác Khi ngân hàng vẫn xem hệ thống XHTD chỉ là hệ thống chấm điểm mà không đầu tư cho cơ sở dữ liệu, quy trình xếp hạng, kiểm tra kiểm soát, quyết định xếp hạng và các ứng dụng thiết thực dựa trên kết quả XHTD thì hiệu quả đạt được sẽ không thể đáp ứng được yêu cầu đặt ra
1.4.2 Thời hạn đánh giá xếp hạng tín dụng
Hiện nay XHTD nội bộ được các ngân hàng thực hiện tại một thời điểm hoặc thực hiện theo một thời kỳ Đối với XHTD theo thời điểm sẽ không cho thấy được xu hướng của khách hàng đang diễn ra như thế nào Vì vậy, các ngân hàng thực hiện xếp hạng theo thời kỳ sẽ cho kết quả xếp hạng tín dụng tốt hơn
1.4.3 Nguồn thông tin
Để XHTD phát huy được vai trò trong việc giảm thiểu rủi ro cho hoạt động ngân hàng, điều kiện tiên quyết là ngân hàng phải có thông tin đầu vào chuẩn xác, kịp thời Vì vậy, việc có được cơ sở dữ liệu tốt sẽ giúp các NHTM có thể đạt được hiệu quả cao trong XHTD
Ngân hàng cần đa dạng hóa thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Với việc thông tin là điều kiện cơ bản để có thể có được kết quả xếp hạng chính xác và hiệu quả của hệ thống được phát huy nên việc thu thập thông tin từ nhiều nguồn cần được
Trang 28thực hiện nghiêm túc và trở thành yêu cầu trong quy trình xếp hạng và hệ thống cơ sở
dữ liệu Các nguồn thông tin tối thiểu cần phải thu thập như sau: Thông tin do khách hàng cung cấp, thông tin thu thập thực tế khách hàng, thông tin trong cơ sở dữ liệu của ngân hàng và hệ thống ngân hàng, thông tin sẵn có và mua từ các tổ chức cung cấp thông tin uy tín, thông tin từ các tổ chức xếp hạng độc lập Trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò thông tin tín dụng và kết quả xếp hạng độc lập của các tổ chức xếp hạng độc lập, tiêu biểu là CIC để có thể thực hiện tốt các ứng dụng của kết quả xếp hạng
Việc duy trì thông tin tín dụng trong hệ thống ngân hàng là vô cùng quan trọng,
nó tập trung cơ sở dữ liệu về khách hàng để phục vụ cho quá trình cấp tín dụng, phân tích và quản lý tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng Hệ thống thông tin tín dụng giúp tìm kiếm và phát hiện sớm các khoản tín dụng có vấn đề và đánh giá đúng mức độ rủi ro của các khoản nợ, đồng thời tiên liệu trước khả năng một khoản tín dụng có thể chuyển sang nợ xấu
Một hệ thống thông tin đầy đủ về khách hàng như: Lịch sử hình thành và phát triển, năng lực tài chính, mức độ tín nhiệm, đội ngũ điều hành là cơ sở quan trọng giúp cho công tác chấm điểm tín dụng tương đối rõ ràng và chính xác
Để áp dụng phương pháp chấm điểm và XHTD doanh nghiệp, ngân hàng phải
có hệ thống thông tin hiệu quả để tự thu thập thông tin một cách chính xác và đầy đủ
về khách hàng Đây là một nhân tố quan trọng, quyết định tính chính xác của kết quả chấm điểm tín dụng, chất lượng nguồn thông tin được thể hiện qua bốn yếu tố:
Trang 29Nhân tố con người luôn có ảnh hưởng lớn đến chất lượng công tác XHTD Đặc biệt là khi mô hình XHTD là một mô hình mới được áp dụng tại Việt Nam, các tiêu chí
và quy trình đánh giá đưa ra phụ thuộc rất lớn vào các chuyên gia có kinh nghiệm, khả năng phân tích và hiểu biết sâu sắc trong lĩnh vực tín dụng Ngân hàng muốn hoàn thiện công tác chấm điểm và XHTD ngoài các cán bộ cao cấp trong nội bộ còn nên lắng nghe ý kiến tư vấn của các chuyên gia có kinh nghiệm trong việc phát triển mô hình
CBTD là người trực tiếp tiến hành thực hiện các bước trong quy trình chấm điểm và XHTD doanh nghiệp Kết quả đó phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và trình độ của đội ngũ CBTD CBTD phải là người hiểu biết sâu rộng quy trình chấm điểm tín dụng, phải thực sự có năng lực, có đạo đức nghề nghiệp để có thể đánh giá được một cách khách quan, đúng đắn nhất về khách hàng
1.4.5 Công nghệ thông tin
Công nghệ là một phần hỗ trợ thiết yếu góp phần hoàn thiện hệ thống XHTD Một hệ thống XHTD phát triển hiệu quả phải đi đôi với sự đầu tư tương ứng công nghệ hiện đại Hệ thống công nghệ của ngân hàng phải có thể kết hợp phần mềm chấm điểm tín dụng với các phần mềm của phân hệ hoạt động khác để có thể truy vấn và lấy thông tin một cách dễ dàng, và tạo thành một quy trình cho vay, kiểm soát tín dụng thống nhất Việc áp dụng công nghệ tiên tiến làm tăng chất lượng lưu trữ dữ liệu và đảm bảo tính bảo mật thông tin khách hàng
1.4.6 Những thay đổi trong cơ cấu, thủ tục, chính sách
Trước khi áp dụng mô hình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng, ngân hàng phải xây dựng quy trình chấm điểm tín dụng bao gồm: các bước thực hiện chấm điểm, hệ thống tiêu chuẩn phục vụ cho quá trình chấm điểm, xếp hạng DN… Hệ thống chấm điểm tín dụng càng chi tiết, khoa học thì việc đánh giá các DN càng chính xác Ngoài ra, khi mô hình chấm điểm tín dụng được triển khai, ngân hàng sẽ ban hành các
Trang 30chính sách, thủ tục, quy chế cho vay mới để hợp thức hóa vai trò của công tác chấm điểm tín dụng trong quy trình cho vay, đồng thời thành lập một ban kiểm tra độc lập nhằm theo dõi, giám sát những sai sót khi mô hình được đưa vào áp dụng
1.5 Chuẩn mực của Basel liên quan đến xếp hạng tín dụng
Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng là một Ủy ban bao gồm các chuyên gia giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập năm 1975 bởi các Thống đốc ngân hàng Trung ương của nhóm G10 (Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Hà Lan, Thụy Điển, Anh
và Mỹ) Ủy ban tổ chức các cuộc họp thường niên tại trụ sở ngân hàng thanh toán quốc
tế (BIS) tại Washington (Mỹ) hoặc tại Thành phố Basel (Thụy Sỹ)
Từ khi hiệp ước Basel II của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng ra đời năm 2004
đã có những nỗ lực đáng kể trong việc đo lường và quản trị rủi ro của danh mục tín dụng của ngân hàng Mục đích quan trọng của Basel II là đảm bảo ngân hàng có một quy trình quản lý rủi ro lành mạnh qua đó đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính nói chung Một trong những yêu cầu của Basel II là các ngân hàng cần phải có một quy trình để xác định mức an toàn vốn tương ứng với mức rủi ro của mình và các biện pháp
để duy trì mức vốn của ngân hàng Theo đó, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) yêu cầu các ngân hàng có thể lựa chọn một trong hai cách để đo lường rủi ro tín dụng và tính toán nhu cầu vốn để phòng ngừa rủi ro tín dụng Cách thứ nhất là đo lường rủi ro tín dụng bằng cách sử dụng đánh giá của cơ quan giám sát ban hành hoặc những tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập (phương pháp chuẩn hóa) Cách thứ hai là các ngân hàng sử dụng đánh giá XHTD nội bộ của mình để tính toán hệ số rủi ro Trong trường hợp các ngân hàng muốn sử dụng cách thứ hai thì cần có sự chấp thuận của cơ quan giám sát ngân hàng (tại Việt Nam là thanh tra NHNN hoặc NHNN) Đây được xem là một trong những căn cứ cho sự ra đời của XHTD nội bộ trong ngân hàng hiện nay
Thứ nhất: Dựa trên XHTD, ngân hàng có thể đo lường và tính toán được hệ số rủi ro
đối với các mục tài sản có rủi ro tín dụng, chứ không áp dụng chung chung cùng một
Trang 31hệ số rủi ro cho tất cả các khách hàng, nhằm đáp ứng theo yêu cầu của Basel II Như vậy, các tài sản có rủi ro được áp dụng theo từng hệ số rủi ro và từ đó tính toán được tổn thất tín dụng ước tính theo yêu cầu của Basel II Dựa trên tổn thất tín dụng ước tính, Ngân hàng có thể định giá khoản cho vay
Thứ hai: Dựa trên XHTD nội bộ, Ngân hàng có thể theo dõi được sự chuyển hạng
rủi ro của khách hàng nhằm tính toán được xác suất chuyển hạng tín nhiệm của khách hàng và thiết lập được ma trận chuyển hạng tín nhiệm của khách hàng Đây là một trong những thông số đầu vào không thể thiếu khi tính VAR (Value at Risk)- một cách xác định vốn kinh tế
Basel II khuyến khích các ngân hàng dựa vào cách tiếp cận nội bộ để đo lường rủi
ro chính xác, thực chất là cách xác định vốn kinh tế dựa vào khung VAR VAR dùng
để đo lường tổn thất tối đa của tài sản ví dụ như danh mục cho vay, danh mục đầu tư chứng khoán…trong một khoảng thời gian cho trước với một mức tin cậy nhất định
Để có thể ước tính VAR của danh mục cho vay cần có một số thông tin đầu vào nhất định bao gồm: (1) Xác suất chuyển hạng tín nhiệm của khách hàng sau một năm; (2) Tổn thất ước tính trong trường hợp khách hàng không hoàn trả; (3) Tương quan của các khoản vay trong danh mục cho vay
Nhìn chung các nước trên thế giới đang dần xem XHTD là một phương pháp đo lường rủi ro tín dụng khoa học và hiệu quả, một tiêu chí để ứng dụng quy trình quản trị theo Basel II
1.6 Một số mô hình xếp hạng tín nhiệm trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh
1.6.1 Mô hình xếp hạng tín nhiệm của Moody’s và Standard & Poors
Moody’s Investors Services (Moody’s) và Standard & Poor’s (S&P) là hai tổ chức tín nhiệm có uy tín và lâu đời tại Mỹ và cũng là những tổ chức tiên phong trong lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm trên thế giới Ngày nay, các tổ chức này của Mỹ hoạt động trên các thị trường tài chính lớn và cả những thị trường mới nổi trên toàn cầu Họ thực
Trang 32hiện các đánh giá độc lập và báo cáo về rủi ro tín dụng, và không tham gia vào các giao dịch trên thị trường vốn vì vậy kết quả xếp hạng tín nhiệm của các tổ chức này mang tính minh bạch cao và được sử dụng bởi rất nhiều người tham gia vào thị trường vốn Những tổ chức này đã đóng góp vai trò quan trọng đối với thị trường tài chính thế giới Phương pháp xếp hạng tín nhiệm của Moody’s tập trung vào bốn lĩnh vực chính
là đánh giá môi trường ngành, đánh giá tình hình tài chính, đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh, đánh giá khả năng quản trị của doanh nghiệp chú trọng vào quản trị rủi ro
và kiểm soát nội bộ Đối với Moody’s xếp hạng chất lượng công cụ nợ dài hạn của doanh nghiệp cao nhất từ Aaa sau đó thấp dần đến C
So với Moody’s thì hệ thống ký hiệu xếp hạng công cụ nợ dài hạn của S&P đi từ mức AAA (phản ánh chất lượng tín dụng tốt nhất) thấp dần xuống D (phản ánh doanh nghiệp phát hành nợ bị vỡ nợ và người phát hành đã gặp khó khăn về nghĩa vụ tài chính) Thêm vào đó, việc bổ sung những dấu (+) hoặc dấu (-) đi kèm theo các ký hiệu
sẽ cung cấp một sự phân biệt rõ ràng hơn trong phạm vi xếp hạng từ AA đến CCC Ví
dụ, mức xếp hạng AA+ chỉ ra rằng mức độ tín nhiệm cao hơn so với mức xếp hạng
AA, và xếp hạng AA- thì có mức độ tín nhiệm thấp hơn so với mức xếp hạng AA Để đánh giá mức độ tín nhiệm của một doanh nghiệp, S&P tập trung vào các thuộc tính chứng minh khả năng và sự sẵn sàng thanh toán đầy đủ và đúng với các điều khoản về nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp Để cho ra ý kiến, S&P phải chấm điểm hàng loạt các tiêu chí liên quan đến tình hình kinh doanh và tài chính có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp Ví dụ, phân tích xếp hạng tín nhiệm của một doanh nghiệp sẽ phải xem xét đến cả yếu tố tài chính và phi tài chính, cả định tính và định lượng như: ảnh hưởng của kinh tế tới doanh nghiệp, tính pháp lý, mức độ ảnh hưởng bởi tình hình chính trị của quốc gia, các thuộc tính về quản lý và quản trị doanh nghiệp, những chỉ số hiệu quả hoạt động quan trọng, xu hướng cạnh tranh, triển vọng về nghiên cứu và phát triển sản phẩm, quyền sáng chế và quan hệ lao động…S&P sử dụng những phân tích
Trang 33định tính và tương tác và phân tích này đòi hỏi phải có sự tham gia vào phỏng vấn, đối thoại với các cấp quản lý của doanh nghiệp để có thêm thông tin và cái nhìn sâu sắc về
vị trí hiện tại và kế hoạch trong tương lai của doanh nghiệp Trong hầu hết các trường hợp, khi S&P đã đánh giá doanh nghiệp thì sẽ theo dõi hoặc tiến hành giám sát doanh nghiệp đó theo thời gian S&P có thể điều chỉnh đánh giá về doanh nghiệp nếu như có những thay đổi lớn gây rủi ro cho doanh nghiệp như thay đổi về điều kiện thị trường, triển vọng kinh doanh và vốn Bảng 1.1 dưới đây thể hiện chi tiết hệ thống ký hiệu cơ bản về xếp hạng trả nợ và cam kết tài chính trong dài hạn của Moody’s và S&P
Bảng 1.1: Hệ thống ký hiệu cơ bản về xếp hạng trả nợ và cam kết tài chính trong dài
hạn của Moody’s và S&P
Extremely strong Aa1, Aa2, Aa3 AA+, AA, AA- Rất mạnh- Very strong
nhóm hạng trên- More vulnerable
Tương ứng với nguy cơ tổn thất cao Currently vulnerable, highly vulnerable, highly likely to provide non- payment
SD Vỡ nợ theo bộ phận, các khoản nợ khác
vẫn có khả năng hoàn trả
Nguồn: Xếp hạng tín nhiệm, 2013
Trang 341.6.2 Bài học kinh nghiệm cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh
Việc tiếp cận Basel II đòi hỏi kỹ thuật phức tạp và chi phí cao Đối với một nước
có hệ thống ngân hàng mới đang ở giai đoạn phát triển ban đầu như Việt Nam, việc
áp dụng Basel II gặp nhiều khó khăn, thách thức và mất nhiều thời gian Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập, mở cửa tài chính thì việc áp dụng Basel II là yêu cầu cần thiết
Nó giúp tăng cường năng lực hoạt động và giảm thiểu rủi ro đối với hoạt động của NHTM Qua nghiên cứu, bài học kinh nghiệm được rút ra đối với HDBank về XHTD khách hàng doanh nghiệp là:
Để xếp hạng đầy đủ, thì hệ thống XHTD phải bao gồm việc đánh giá môi trường ngành, tình hình tài chính của doanh nghiệp, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, trình độ quản lý và môi trường nội bộ, quan hệ với Ngân hàng, triển vọng phát triên của ngành, chính sách của Chính phủ, rủi ro gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động doanh nghiệp
Để XHTD phát triển hiệu quả thì yêu cầu phải xây dựng đầy đủ và toàn diện hệ thống các quy chế, chính sách, quy định làm cơ sở hướng dẫn cho quy trình xếp hạng Đồng thời, thiết lập một cơ chế phân công, phân nhiệm rõ ràng đi kèm sự hỗ trợ của hệ thống công nghệ thông tin hiện đại để đảm bảo hiệu quả của XHTD doanh nghiệp
Để có thể đánh giá được một cách khách quan, đúng đắn nhất về khách hàng doanh nghiệp, ngân hàng phải chú trọng vào chất lượng nguồn nhân lực Trong đó, CBTD phải được đào tạo, tập huấn để hiểu biết sâu rộng quy trình chấm điểm tín dụng; phải thực sự có năng lực, có đạo đức nghề nghiệp
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
XHTD đã có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài tại các nước có nền kinh
tế thị trường, đồng thời kết quả XHTD có ý nghĩa rất lớn đối với tổ chức cho vay, nhà đầu tư và cả chủ thể được xếp hạng Trong chương 1, đề tài nghiên cứu đã trình bày
cơ bản lý luận về XHTD, vai trò của XHTD, những lý luận về phương pháp XHTD,
và yêu cầu đối với một hệ thống XHTD theo Basel Những nền tảng lý luận này sẽ tạo cơ sở để phân tích, đánh giá về thực trạng XHTD tại HDBank trong các chương tiếp theo
Trang 36CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Giới thiệu về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng TMCP Phát Triển Nhà TP Hồ Chí Minh được thành lập ngày 04/01/1990 theo Quyết định số 47/QĐ-UB ngày 11/02/1989 của UBND Tp.HCM với vốn điều lệ ban đầu là 5 tỷ đồng và là một trong những ngân hàng TMCP đầu tiên của
cả nước Đến nay, vốn điều lệ của Ngân hàng đã đạt 5.000 tỷ đồng Ngày 16 tháng 3 năm 2012, NHNN ban hành Quyết định số 2096/QĐ-NHNN chấp thuận việc đổi tên Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà Thành phố Hồ Chí Minh thành Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh
Ngân hàng được thành lập nhằm thực hiện các giao dịch ngân hàng bao gồm huy động và nhận tiền gửi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức và cá nhân; cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với các tổ chức và cá nhân trên cơ sở tính chất và khả năng nguồn vốn của Ngân hàng; thực hiện các giao dịch ngoại tệ; các dịch vụ tài trợ thương mại quốc tế; chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ
có giá khác; và các dịch vụ ngân hàng khác được NHNN cho phép
Đến cuối năm 2012, tổng số cán bộ công nhân viên của HDBank là 2.227 người, trong đó khoảng trên 80% nhân viên có trình độ từ đại học trở lên Toàn hệ thống có mạng lưới hoạt động tại 121 điểm giao dịch trên toàn quốc và được mở rộng về cả quy mô và vùng địa lý Trong đó, các điểm giao dịch tập trung nhiều nhất ở khu vực Miền Nam Các chi nhánh trong hệ thống của HDBank đều được dần đầu tư và nâng cấp theo thiết kế chuẩn của quốc tế Với bề dày hoạt động trên 20 năm, HDBank đã xây dựng được hệ thống cơ cấu tổ chức phù hợp với quy mô hoạt động, mang tính
Trang 37chuyên môn hóa cao và đảm bảo tách bạch chức năng, giảm thiểu xung đột lợi ích
trong hoạt động kinh doanh ngân hàng (Phụ lục 01-Mô hình tổ chức tại HDBank)
HDBank đã thực hiện thành công dự án Tái cấu trúc (2009 – 2012) nhằm mục tiêu xây dựng HDBank trở thành một ngân hàng bán lẻ, đa năng, tiếp cận các chuẩn mực quốc tế trong quản lý; tăng cường năng lực tài chính; phát triển công nghệ hiện đại; xây dựng và phát triển nguồn nhân lực vững mạnh, chuyên nghiệp; cung cấp các sản phẩm đa dạng, trọn gói với chất lượng cao đáp ứng thỏa mãn yêu cầu của mọi đối tượng khách hàng Song song với việc xây dựng ngân hàng bán lẻ, HDBank bước đầu xây dựng mô hình ngân hàng đầu tư để tối đa hóa hiệu quả kinh doanh vốn Với sự hỗ trợ của Công ty tư vấn quốc tế về chiến lược tái định vị thương hiệu ngân hàng, HDBank đã cho ra mắt hệ thống nhận diện thương hiệu mới theo hướng tiếp tục kế thừa những tinh hoa trong logo cũ để sử dụng trong bộ nhận diện thương hiệu mới Việc công bố tên mới và chiến lược thương hiệu đến công chúng là sự kiện quan trọng đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ, toàn diện của HDBank, từ định hướng kinh doanh hội nhập đến diện mạo mới và phong cách mới nhằm khẳng định hơn nữa
“Cam kết lợi ích cao nhất” cho khách hàng, đối tác, cổ đông, cán bộ nhân viên và cộng đồng xã hội Trong quá trình hoạt động, HDBank cũng đã nhận được nhiều cờ thi đua, giấy khen, các giải thưởng do các tổ chức uy tín trong và ngoài nước trao tặng như: Cờ thi đua của NHNN Việt Nam trao tặng, Giấy khen của Thủ tướng chính phủ, Giải thưởng chất lượng Quốc gia, Huân chương lao động 2007-2011, Giải thưởng Top 500 DN tăng trưởng nhanh nhất, Top 50 nhãn hiệu nổi tiếng, Doanh nghiệp hội nhập và phát triển, Ngân hàng tiết kiệm tốt nhất, Giải thưởng An ninh thông tin Đông Nam Á tiêu biểu 2012 (CSO ASEAN AWARDS 2012), Báo cáo thường niên Vision Awards 2011, Dịch vụ quản lý tiền tệ tốt nhất Việt Nam 2012…
Trong xu thế hội nhập của ngành tài chính ngân hàng Việt Nam để phát triển và hội nhập kinh tế toàn cầu, Ngân hàng đã đề ra mục tiêu nâng tầm về quy mô hoạt
Trang 38động và năng lực tài chính để trở thành một trong mười tập đoàn tài chính hàng đầu tại Việt Nam vào năm 2018 Theo đó, trong năm 2013, Ngân hàng đã tiến hành mua lại 100% vốn chủ sở hữu của Công ty TNHH MTV Tài chính Việt (SGVF) để trở thành công ty con của Ngân hàng Đồng thời đi theo chủ trương của Chính phủ và NHNN nhằm mục đích tái cơ cấu và ổn định nền kinh tế và hệ thống ngân hàng theo hướng an toàn và bền vững, ĐHĐCĐ của Ngân hàng đã thông qua phương án sáp nhập với Ngân hàng TMCP Đại Á trong năm nay
2.1.2 Tình hình kinh doanh qua ba năm 2010-2012
Với những diễn biến phức tạp nói chung của nền kinh tế thế giới, hoạt động sản xuất trên toàn cầu liên tục suy giảm với sự trì trệ của những “đầu tàu kinh tế“ như
Mỹ, Trung Quốc, Đức; lạm phát tăng cao; khủng hoảng nợ công xảy ra tại một số nước phát triển Tình hình kinh tế Việt Nam cũng không tránh khỏi tác động của kinh
tế thế giới và phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như lạm phát và nhập siêu
ở mức cao, thị trường chứng khoán sụt giảm, thị trường bất động sản diễn biến phức tạp, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm Khi nền kinh tế trong nước vẫn còn nhiều bất ổn nội tại chưa được giải quyết triệt để cùng với bối cảnh không thuận lợi của nền kinh tế thế giới, sản xuất kinh doanh và đời sống của dân cư gặp nhiều khó khăn, ngành Ngân hàng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như cạnh tranh trong huy động diễn ra ngày càng gay gắt, tăng trưởng tín dụng thấp, nợ xấu tăng vọt, lợi nhuận sụt giảm, một số TCTD mất thanh khoản và thua lỗ phải tái cơ cấu Trong điều kiện khó khăn chung, với sự lãnh đạo sát sao và chỉ đạo kịp thời của HĐQT cùng nỗ lức phấn đấu của toàn cán bộ nhân viên, HDBank đã chủ động, linh hoạt, quyết liệt bám sát diễn biến của thị trường, phát huy những lợi thế vốn có để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh với một số chỉ số phản ánh tình hình tài chính của HDBank qua ba năm từ 2010 đến 2012 như sau:
Trang 39Bảng 2.1: Tổng hợp chỉ tiêu kinh doanh của HDBank qua ba năm 2010-2012
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu 31/12/2010 31/12/2011 31/12/2012
Tiền gửi và cho vay TCTD khác 8.550.236 9.129.450 7.376.464
Nguồn: Báo cáo thường niên HDBank
Về tổng tài sản: Tổng tài sản của HDBank tăng trưởng bình quân qua các năm
2010 - 2012 ở mức 24%/năm Trong đó, tốc độ tăng tổng tài sản của năm 2012 chỉ đạt 17%, giảm đi so với năm 2011 chủ yếu do các khó khăn về hoạt động của HDBank nói riêng và của thị trường tài chính nói chung Tính đến 31/12/2012, với nhiều nổ lực hoạt động để duy trì sự tăng trưởng tài sản, tổng tài sản của HDBank đã đạt trên 52.000 tỷ đồng Tăng trưởng của tổng tài sản chủ yếu tập trung ở hoạt động cho vay khách hàng (34%/năm) và hoạt động đầu tư tài chính (25%/năm), nhưng bị ảnh hưởng giảm một phần do sự sụt giảm trong hoạt động kinh doanh vốn trên thị trường liên ngân hàng (-7%/năm)
Hoạt động tín dụng: Tổng dư nợ cho vay khách hàng tăng bình quân qua các
năm 2010 - 2012 ở mức 34%, từ 11.728 tỷ đồng lên 21.148 tỷ đồng, đặc biệt tăng mạnh ở mức 52,7% vào cuối năm 2012 so với năm 2011 do HDBank giảm bớt các hoạt động liên ngân hàng và đầu tư chứng khoán Hoạt động tín dụng của HDBank
Trang 40phát triển theo hướng ngân hàng bán lẻ (tỷ trọng cho vay cá nhân và hộ kinh doanh cá thể tăng dần từ 2010 và chiếm 51,5% tổng dư nợ vào cuối năm 2012) và được phân tán theo nhiều ngành nghề nên làm hạn chế rủi ro tập trung trong hoạt động cho vay khách hàng Trong đó, các khoản cho vay chủ yếu là ngắn hạn (tỷ trọng nợ ngắn hạn bình quân trong năm 2010 - 2012 chiếm 75% tổng dư nợ) và bằng đồng Việt Nam (tỷ trọng nợ bằng đồng Việt Nam bình quân trong năm 2010 - 2012 chiếm hơn 85%) đã góp phần hạn chế rủi ro tiền tệ và rủi ro thanh khoản trong hoạt động tín dụng của HDBank Chất lượng danh mục tín dụng của HDBank trong giai đoạn 2010 - 2012 như sau:
Bảng 2.2: Chất lượng danh mục tín dụng của HDBank qua ba năm 2010-2012
đã phát sinh tăng về nợ xấu Tuy nhiên, tại thời điểm 31/12/2012, HDBank đã kiểm