Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 30/3/2009 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức hoạt động luật sư nêu rõ: Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với tổ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
THIỀU TẤT PHÚC
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ VÀ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
THIỀU TẤT PHÚC
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ VÀ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật hiến pháp và Luật hành chính
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Mạnh Hùng
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Thiều Tất Phúc
Trang 4
MỤC LỤC
Trang
SƯ, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ
1.3 Phân biệt quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư với hoạt
HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN 29 2.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế - xã hội và
2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên địa
2.3 Đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ VÀ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN 51 3.1 Phương hướng tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UBND : Ủy ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước luôn là nhiệm vụ trung tâm trong việc đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta trong thời gian qua Trong hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết quan trọng về hoàn thiện bộ máy nhà nước, không ngừng nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý của Nhà nước, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ chiến lược với phương châm Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật
Cùng với việc cải cách bộ máy nhà nước và cải cách nền hành chính, Đảng
đã đề ra nhiều nghị quyết về cải cách tư pháp Ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 49-NQ/TW về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" Cải cách tư pháp luôn được coi là một bộ phận quan trọng gắn liền với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam Mục tiêu của cải cách tư pháp là xây dựng một hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh có phương thức tổ chức, hoạt động khoa học, hiện đại góp phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự kỷ cương phép nước Nội dung chủ yếu của cải cách tư pháp là củng cố, kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp, phân định lại thẩm quyền của Tòa án, đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp, trong đó có tổ chức luật sư Do đó, hoàn thiện thể chế luật sư phải được đặt trong bối cảnh cải cách tư pháp nói riêng và trong tổng thể cải cách
bộ máy nhà nước nói chung
Nghiên cứu các văn kiện của Đảng về cải cách tư pháp cho thấy, trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam, Đảng ta rất chú trọng đến cải cách tổ chức và hoạt động luật sư Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa VIII đã nêu rõ: "Đổi mới quản lý nhà nước đối với các hoạt
động luật sư… phù hợp với chủ trương xã hội hóa, kết hợp quản lý nhà nước với vai
Trang 7trò tự quản của các tổ chức nghề nghiệp Đào tạo và phát triển đội ngũ luật sư có phẩm chất đạo đức, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phát huy vai trò của họ trong tư vấn pháp luật và trong tố tụng"
Các văn kiện của Đảng ta, đặc biệt là Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra những định hướng rất quan trọng đối với việc xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động luật sư cho phù hợp với tình hình mới của đất nước trước xu hướng phát triển và hội nhập Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 30/3/2009 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối
với tổ chức hoạt động luật sư nêu rõ: Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước đối với tổ chức và hoạt động của luật sư; chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra để bảo đảm hoạt động của luật sư được thực hiện theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư Đồng thời phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong việc phát triển đội ngũ luật sư và nâng cao chất lượng của tổ chức và hoạt động luật sư
Để đưa được các quan điểm chỉ đạo đó trở thành hiện thực đòi hỏi chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp cơ bản trong đó phải kể đến các biện pháp về đổi mới nhận thức, đổi mới về công tác tổ chức, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của luật sư Việc thực hiện các biện pháp đó phải gắn liền với nhiệm vụ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư (HNLS) phù hợp với mục tiêu của cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam
Nghề luật sư có nhiều đặc thù và được điều chỉnh bằng những quy định của pháp luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp Ở các nước trên thế giới pháp luật đều quy định về việc quản lý nhà nước và tự quản của tổ chức luật sư Việc quản lý nghề luật sư ở mỗi nước một khác và phụ thuộc vào tính truyền thống của từng nước mà không theo một khuôn mẫu nhất định và vấn đề tự quản đối với nghề luật
sư đến đâu là do quy định của từng quốc gia
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, tạo nền tảng
Trang 8để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Để thực hiện được mục tiêu đó, việc nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về luật sư và HNLS nói riêng là vô cùng quan trọng, bảo đảm quản lý khoa học, hiệu quả các mặt đời sống kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
Thể chế hóa chủ trương của Đảng, nhiều văn bản pháp luật về luật sư được ban hành kịp thời và nhanh chóng triển khai trên thực tế Hoạt động luật sư trong cả nước nói chung cũng như trên địa bàn tỉnh Điện Biên nói riêng đã có những chuyển biến mạnh mẽ, số lượng luật sư và tổ chức HNLS tăng lên rõ rệt Tuy nhiên, việc tăng về số lượng luật sư và tổ chức HNLS cũng làm phát sinh nhiều vấn đề đối với hoạt động quản lý nhà nước, đó là công tác tuyên truyền, phổ biến về nội dung của pháp luật về luật sư, vị trí, vai trò tầm quan trọng của luật sư,
sự phối hợp giữa Sở Tư pháp với Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư trong việc quản lý luật sư và HNLS, công tác thanh tra, kiểm tra về tình hình tổ chức, hoạt động của luật sư Cùng với chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, thì việc tăng cường quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động luật sư là một yêu cầu cấp thiết
Việc ban hành Luật Luật sư số 65/2006/QH11 ngày 29/6/2006 1 đã tạo khung pháp lý quan trọng cho quản lý nhà nước về luật sư và HNLS Luật đã quy định rõ vai trò của Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp đối với công tác này, cụ thể là Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và HNLS, còn Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và HNLS tại địa phương Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý nhà nước về luật sư và HNLS trên thực tiễn vẫn còn những vướng mắc, khó khăn nhất định
Thực tiễn quản lý nhà nước về luật sư và HNLS trên địa bàn tỉnh Điện Biên những năm vừa qua đã có nhiều thành tựu, nhưng cũng đã bộc lộ nhiều khó khăn, hạn chế cần được nghiên cứu, đánh giá cụ thể, đầy đủ để đề ra phương hướng, giải pháp khắc phục và tiếp tục nâng cao hiệu quả
1 Luật này đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 20/2012/QH13 ngày 20/11/2012
Trang 9Từ những lý do nêu trên mà việc chọn và nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ
luật học: "Quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh
Điện Biên - Thực trạng và giải pháp" là cần thiết để đáp ứng yêu cầu về lý luận và
thực tiễn được đặt ra ở Việt Nam hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Lĩnh vực luật sư nói chung, quản lý nhà nước về luật sư và HNLS nói riêng
đã được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu dưới góc độ lý luận cũng như thực tiễn Đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, trong đó có thể kể đến một
số công trình tiêu biểu, có giá trị tham khảo cho việc thực hiện đề tài "Quản lý nhà
nước về luật sư và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên - Thực trạng và giải pháp", như: Đề tài cấp bộ năm 2005: "Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luật sư trong điều kiện mới ở Việt Nam"
của Nguyễn Văn Thảo, Vụ trưởng Vụ Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp làm chủ nhiệm
Đề tài; Đề tài cấp bộ năm 2005: "Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, thực trạng nhu cầu
và định hướng phát triển" do TS Nguyễn Văn Tuân làm chủ nhiệm đề tài; Đề tài
nhánh KX-04-06-05: "Cải cách tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp trong Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân" (thuộc Đề tài cấp nhà
nước KX-04-06 do TS Uông Chu Lưu làm chủ nhiệm đề tài bảo vệ năm 2006) do
TS Nguyễn Văn Tuân làm chủ nhiệm đề tài; Luận án tiến sĩ năm 2003 của Phan
Trung Hoài về "Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luật trong điều kiện
mới ở Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ năm 2010 của Dương Đình khuyến về "Vấn đề
xã hội hóa hoạt động luật sư và tư vấn pháp luật"; cuốn sách "Một số vấn đề về luật
sư và nghề luật" của TS Nguyễn Văn Tuân, xuất bản năm 2012 Bên cạnh đó, còn
có nhiều bài báo khoa học được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành luật như Tạp chí Luật học, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, đề cập đến những khía cạnh chuyên sâu, cụ thể của quản lý
nhà nước về luật sư và HNLS
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập và giải quyết vấn đề luật sư và HNLS ở nhiều góc độ khác nhau, có nhiều nội dung liên quan đến quản lý nhà nước
về luật sư và HNLS, song những nghiên cứu đó mới chỉ phân tích, đánh giá vấn đề
Trang 10luật sư và HNLS ở một số phương diện nhất định, hoặc ở một góc nhìn khác, chưa
có công trình nào nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về luật sư
và HNLS một cách đầy đủ, đặc biệt là đối với một địa bàn cụ thể như tỉnh Điện Biên Mặc dù vậy, các công trình trên vẫn là nguồn tài liệu quý giá, có ý nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu đề tài luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Luâ ̣n văn góp phần làm rõ cơ sở lý luâ ̣n, đánh giá thực tiễn quản lý nhà nước về luật sư và HNLS trên địa bàn tỉnh Điện Biên, trên cơ sở đó đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiê ̣u quả quản lý nhà nước về luật sư và HNLS ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh Điện Biên nói riêng
Phù hợp với mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm lý luận, chính trị; hệ thống các quy định của pháp luật thực định, thực trạng quản lý nhà nước về luật sư
và HNLS ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh Điện Biên nói riêng
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận
và thực tiễn quản lý nhà nước về luật sư và HNLS từ khi ban hành Luật Luật sư năm 2006 đến nay trên địa bàn tỉnh Điện Biên
5 Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luâ ̣n của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, cải cách nền hành chính quốc gia và cải cách tư pháp
Trang 11Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, như phương pháp tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa các quy định pháp luật; số liệu thực tiễn; Trên cơ sở đó, đối sánh với vấn đề quản lý nhà nước về luật sư và HNLS trong thực tiễn trên địa bàn tỉnh Điện Biên nhằm đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện, kiến nghị tích cực, phù hợp
và có giá trị ứng dụng cao
Là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện ở cả phương diện lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về luật sư và HNLS trên địa bàn tỉnh Điện Biên; luận văn có một số đóng góp khoa học sau đây:
- Gó p phần làm rõ hơn cơ sở lý luâ ̣n và thực tiễn quản lý nhà nước về luật sư
và HNLS trong điều kiện cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
- Phân tích, đánh giá thực tra ̣ng quản lý nhà nước về luật sư và HNLS trên địa bàn tỉnh Điện Biên Rút ra những bài ho ̣c kinh nghiê ̣m để phát huy những mă ̣t
ma ̣nh, ha ̣n chế những tồn ta ̣i nhằm tăng cường hiệu quả công tác này trong thực tiễn
về luật sư và HNLS trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong thời gian tới
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luâ ̣n văn có thể làm tài liê ̣u tham khảo trong nghiên cứu và giảng da ̣y ta ̣i các cơ sở đào ta ̣o cử nhân luâ ̣t, cử nhân hành chính, các trường, trung tâm đào ta ̣o, bồi dưỡng cán, bô ̣ công chức và trong hoa ̣t
đô ̣ng thực tiễn quản lý nhà nước về luật sư và HNLS hiê ̣n nay
7 Kết cấu của luâ ̣n văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Nhận diện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư; Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư
trên địa bàn tỉnh Điện Biên;
Chương 3: Phương hướng, giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước
về luật sư và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên
Trang 12Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ,
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ
1.1 Khái quát chung về luật sư và hành nghề luật sư
1.1.1 Khái niệm luật sư
Luật sư là chức danh nghề nghiệp của người được công nhận có đủ tiêu chuẩn, điều kiện "hành nghề luật sư" theo quy định của pháp luật Trong đó, "hành nghề luật sư" là việc luật sư thực hiện những việc chuyên môn, nghiệp vụ trong phạm vi chức danh nghề nghiệp của mình theo quy định của pháp luật Bên cạnh
đó, nói đến "nghề luật sư" là nói đến một nghề trong xã hội, nghề của những người được công nhận là luật sư Nói đến nghề luật sư là nói đến cái chung, còn nói đến luật sư là nói đến cái cụ thể, đến con người cụ thể Tuy nhiên tùy thuộc vào pháp luật truyền thống của từng nước mà khái niệm, tiêu chuẩn và điều kiện, phạm vi
Luật sư hành nghề bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của cá nhân luật sư Nói cách khác, phẩm chất và năng lực cá nhân của luật sư là yếu tố quyết định trong nghề luật sư Nhìn chung, người muốn HNLS phải được công nhận
là luật sư Pháp luật các nước trên thế giới thường không đưa ra khái niệm luật sư
mà chỉ quy định về tiêu chuẩn (qualification) để trở thành luật sư Theo đó, tiêu
chuẩn phổ biến để được công nhận luật sư là:
- Là công dân của ở nước sở tại;
2 Nguyễn Văn Tuân (2012), Một số vấn đề về luật sư và nghề luật sư, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 125-126
3 Nguyễn Văn Tuân, tlđd, tr 126
Trang 13Căn cứ vào pháp luật của các nước trên thế giới quy định về tiêu chuẩn luật
sư và quy trình trở thành luật sư, có thể phân được thành các nhóm sau:
Thứ nhất, qua một kỳ thi quốc gia mà không phải đào tạo nghề và tập sự
HNLS Ví dụ như ở Hoa kỳ
Thứ hai, phải qua đào tạo nghề, nhưng không phải qua tập sự HNLS Ví dụ
như ở Nhật Bản
Thứ ba, phải qua hai giai đoạn đào tạo nghề Ví dụ như ở Anh
Thứ tư, phải qua đào tạo nghề và tập sự HNLS Ví dụ như ở Pháp
Thứ năm, có thể lựa chọn giữa đào tạo nghề hoặc thực tập HNLS Ví dụ
như ở bang Victoria - Australia
Thứ sáu, phải qua một kỳ thi quốc gia công nhận đủ tiêu chuẩn luật sư và
tập sự HNLS Ví dụ như ở Trung Quốc
Thứ bảy, phải qua hai kỳ thi Ví dụ như ở Cộng hòa Liên bang Đức
Theo quy định pháp luật về luật sư của một số nước trên thế giới, có thể rút
- Thẩm quyền công nhận luật sư có thể là Tòa án tối cao hay Bộ Tư pháp hoặc chỉ cần đăng ký gia nhập một Đoàn luật sư thì trở thành luật sư 4
Khái niệm luật sư luôn là vấn đề gặp nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng pháp luật về luật sư và HNLS Tham khảo pháp luật về luật sư một số nước
4 Nguyễn Văn Tuân, tlđd, tr 126
Trang 14cho thấy, không phải nước nào cũng đưa ra khái niệm hoặc định nghĩa về luật sư Khái niệm luật sư quy định không giống nhau giữa các nước trên thế giới Hầu hết ở các nước có nghề luật sư phát triển, việc đưa ra khái niệm hoặc định nghĩa về luật
sư chỉ mang tính quy ước, khái niệm luật sư thường mang tính hình thức hơn là khái niệm về mặt nội dung
Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 của nước ta đã chính thức hóa thuật ngữ "luật sư" Tuy nhiên, Pháp lệnh chưa đưa ra được một khái niệm hay định nghĩa hoàn chỉnh về luật sư Theo quy định Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987, người muốn trở thành luật sư phải gia nhập Đoàn luật sư Thành viên của Đoàn luật sư là các luật sư và luật sư tập sự Một người muốn trở thành luật sư hoàn toàn do Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư quyết định
Pháp lệnh luật sư năm 2001 được ban hành thay thế Pháp lệnh tổ chức luật
sư năm 1987 Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đã định nghĩa: "Luật sư là người có đủ
điều kiện hành nghề theo quy định của Pháp lệnh này và tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật" (khoản 1 Điều 1)
Kế thừa và phát triển những quy định nêu trên, Luật luật sư sửa đổi năm
2012 định nghĩa "Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy
định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)" (Điều 2) Như vậy, khái niệm luật sư ở
nước ta được thể hiện theo hướng xác lập chức danh luật sư gắn với nghề luật sư và điều kiện HNLS theo quy định của pháp luật
1.1.2 Khái niệm hành nghề luật sư
Trong ngôn ngữ Việt Nam, chúng ta thường gặp thuật ngữ "hành nghề luật sư", "nghề luật sư" Thực ra như vậy không hoàn toàn chính xác về mặt ngôn ngữ, bởi vì "luật sư" là danh từ chỉ người, chứ không phải chỉ nghề Theo thói quen của việc sử dụng ngôn ngữ Việt Nam trong văn nói cũng như văn viết thì thuật ngữ
"nghề luật sư" có thể chấp nhận được, cũng như thuật ngữ "nghề kiến trúc sư",
"nghề bác sĩ", "nghề giáo viên"… còn trong tiếng Anh có thể dịch "lawyer" là luật
Trang 15sư và "paractice of law" là HNLS hoặc hành nghề luật Tuy nhiên, thuật ngữ "nghề luật" và "hành nghề luật" thì sẽ được hiểu rộng hơn "nghề luật sư" và "hành nghề luật sư", bởi nghề thẩm phán, nghề công tố… cũng có thể được hiểu là nghề luật 5
Pháp lệnh luật sư năm 2001 chính thức chấp nhận các cụm từ "nghề luật sư",
"nghề nghiệp luật sư" và "hành nghề luật sư" Theo quy định của Pháp lệnh này thì
"hành nghề luật sư" được hiểu là việc luật sư tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện
tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 1)
Luật luật sư sửa đổi năm 2012 đã khái quát, mở rộng hơn khái niệm "hành nghề luật sư" Theo đó, HNLS là việc luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý bao gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và làm các dịch vụ pháp lý (Điều 4)
"Hành nghề luật sư" theo quy định của Luật luật sư sửa đổi năm 2012 là phải hành nghề chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn sâu về kiến thức pháp lý và
kỹ năng hành nghề Việc HNLS chủ yếu bằng trình độ và kinh nghiệm chuyên môn
mà đối tượng phục vụ là khách hàng Luật sư cung cấp "dịch vụ pháp lý" cho khách hàng và nhận thù lao từ khách hàng
Chức năng xã hội của luật sư là tham gia bảo vệ công lý, góp phần bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ quyền, lợi ích của hợp pháp của cá nhân, tổ chức thông qua việc tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật và thực hiện dịch vụ pháp lý khác Các nước trên thế giới và các nước trong khu vực đều có quan niệm chung là coi nghề luật sư là một nghề đặc biệt so với các ngành nghề khác Tính đặc thù của nghề luật
sư được thể hiện như sau:
Thứ nhất, nghề luật sư không lấy điểm xuất phát là vốn và cũng không dựa
vào vốn mà chủ yếu dựa vào kiến thức pháp luật và kỹ năng hành nghề của luật sư Nghề luật sư gắn với pháp luật và việc thi hành pháp luật Chính vì vậy luật sư trước hết là một chuyên gia pháp luật, một cố vấn pháp luật Theo đó, để có những
kỹ năng nghề nghiệp thực thụ, các luật sư cần có kiến thức pháp luật, thông thạo kỹ
5 Nguyễn Văn Tuân, tlđd, tr 125
Trang 16năng nghề nghiệp để thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp dịch vụ pháp lý của mình Luật sư phải là người có bằng cử nhân luật, qua đào tạo nghề luật sư và tập sự HNLS (Điều 10 Luật luật sư sửa đổi năm 2012)
Thứ hai, luật sư với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các
chủ thể pháp lý nên luật sư có nhiệm vụ đảm bảo sự công bằng, khách quan của pháp luật Thông qua việc tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và cung cấp các dịch
vụ pháp lý khác, luật sư góp phần trực tiếp vào việc thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống Vì thế, các nước trên thế giới đều cho rằng nghề luật sư là một nghề trong xã hội, là công cụ hữu hiệu góp phần bảo vệ công lý Bằng hoạt động nghề nghiệp của mình luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh
tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh (Điều 3 Luật luật sư sửa đổi năm 2012)
Thứ ba, nguyên tắc của nghề luật sư là phải độc lập, liêm chính, nhân đạo
và dũng cảm Tính khách quan trong nghề luật sư được đề cao Nghề luật sư là nghề không chịu chi phối của quyền lực Vì vậy, nghề luật sư rất chú trọng đến vai trò cá nhân, uy tín nghề nghiệp của luật sư và tính chất của nghề tự do trong tổ chức HNLS Đây là yêu cầu cần thiết để luật sư có thể hoàn thành tốt trách nhiệm của mình Nguyên tắc HNLS được quy định tại Điều 5 Luật Luật sư sửa đổi năm 2012
Thứ tư, nghề luật sư là một nghề tự do, các luật sư độc lập trong hành nghề,
tự chịu trách nhiệm về việc hành nghề của mình theo quy định của pháp luật HNLS không chỉ đòi hỏi về mặt chuyên môn, tuân thủ pháp luật mà còn phải chịu sự điều chỉnh khắt khe bởi quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư do tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư ban hành, cụ thể là Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Luật sư được cung cấp các dịch vụ pháp lý nêu trên, tuy nhiên ngoài luật sư còn có trợ giúp viên pháp lý được cung cấp dịch vụ pháp lý như luật sư nhưng không được thu phí như luật sư và khi cung cấp dịch vụ pháp lý không với tư cách luật sư mà với tư cách trợ giúp viên pháp lý Hay nói cách khác trợ giúp pháp lý không được HNLS Ngoài ra, còn có tư vấn viên pháp luật được tư vấn pháp luật theo quy định của Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/07/2008 của Chính phủ
Trang 17về tư vấn pháp luật (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 05/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012)
1.2 Khái quát chung về quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư
Khi bàn đến hoạt động quản lý và người quản lý cần khởi đầu từ khái niệm
"tổ chức" Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này mà có thể xem xét thuật ngữ này ở
những phương diện khác nhau Theo Từ điển tiếng Việt, "Tổ chức là tập hợp người
Nói cách khác, xét về hình thức, tổ chức được hiểu như là một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó mà để đạt được mục đích gì đó một con người riêng lẻ không thể đạt đến Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình Nói cách khác,
xét về nội dung, "Tổ chức tức là phối hợp, liên kết hoạt động của nhiều người để
Cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời câu hỏi; Ai quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Đối tượng quản lý); Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý); quản lý để làm gì? (Mục tiêu quản lý) Có thể nói quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, vì vậy, mà cũng có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý Trong đó, định nghĩa về quản lý theo Điều khiển học được thừa nhận là định nghĩa
bao quát nhất, cụ thể: "Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá
trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được
Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản
6 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 1007
7 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, tr 11
8 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Tlđd, tr 10
Trang 18lý Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chất lượng quản lý càng cao
Các nhà kinh điển Mác - Lênin đưa ra quan điểm về quản lý lao động trong quá trình sản xuất nhưng chúng ta có thể áp dụng trong bất kỳ hoạt động quản lý chung nào của con người, theo đó "quản lý" được hiểu "là một chức năng đặc biệt
nảy sinh từ bản chất xã hội loài người" Mác cho rằng: "Quản lý là một chức năng
đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động và lao động giám sát và quản lý cần thiết ở tất cả những nơi mà hoạt động sản xuất trực tiếp có hình thức của một quá trình phối hợp mang tính xã hội chứ không phải là lao động riêng lẻ
của nhiều con người ở đó có nhu cầu quản lý, quản lý sinh ra như một tất yếu xuất
Chủ thể quản lý xã hội là con người hoặc tổ chức của con người Hoạt động
do họ điều hành đối với cá nhân, tổ chức khác là hoạt động quản lý xã hội Suy cho cùng đối tượng của quản lý xã hội là con người và tổ chức của con người (cá nhân,
tổ chức trong xã hội) Khách thể của quản lý xã hội, nói một cách ngắn gọn đó là
"trật tự xã hội" - trật tự quản lý do các quy phạm xã hội (quy phạm đạo đức, quy
đích cần đạt được của chủ thể quản lý xã hội là làm sao cho hành vi (hành động và không hành động) của đối tượng quản lý phải thực hiện theo ý chí của chủ thể quản
lý Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý được thể hiện thông qua mối quan hệ "quyền uy - phục tùng"
Từ khi xuất hiện nhà nước, "một lực lượng nảy sinh từ xã hội", một lực lượng "tựa hồ như đứng trên xã hội" có nhiệm vụ làm giảm bớt, dịu bớt những xung đột, điều hòa các lợi ích cá nhân và giữ cho sự xung đột đó nằm trong một trật tự nhất định, thì phần quản lý xã hội quan trọng nhất do nhà nước đảm nhiệm Đó
9 C Mác (1960), Tư bản, Quyển I, tập 2, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr 29-30
10 Phạm Hồng Thái, Đinh Văn Mậu (2009), Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Giao thông vận tải, Hà
Nội, tr 22
11 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Tlđd, tr 13
Trang 19chính là quản lý nhà nước Quản lý phần công việc còn lại của xã hội ngoài nhà nước vẫn được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác như các tổ chức chính trị, đảng phái, gia đình… Khái niệm quản lý nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của nhà nước
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của cả
bộ máy nhà nước, là sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước là hoạt động của cả ba hệ thống cơ quan nhà nước: cơ quan thực thi quyền lập pháp, cơ
quan thực thi quyền hành pháp, cơ quan thực thi quyền tư pháp "Nói cách khác,
quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và
- Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước được trao quyền lực công gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp
- Đối tượng quản lý nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
- Quản lý nhà nước có tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao…
Mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển bền vững trong xã hội
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước được hiểu chủ yếu là quá trình tổ chức,
điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội
và hành vi hoạt động của con người theo mục tiêu nhất định nhằm đạt được mục tiêu theo yêu cầu của quản lý nhà nước Nói cách khác, theo nghĩa này, quản lý nhà
nước được hiểu đồng nhất với "quản lý hành chính nhà nước" - "Một hình thức hoạt
động của nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp
12 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Tlđd, tr 13-14
Trang 20và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa - xã hội và hành chính - chính trị Nói cách khác quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành -
như trên là do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó, chủ yếu là do các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành ở Việt Nam rất hiếm khi sử dụng thuật ngữ "quản lý hành chính nhà nước" mà thay vào đó lại chủ yếu sử dụng thuật ngữ "quản lý nhà nước" để biểu đạt cho chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, cũng như cho việc thực thi quyền hành pháp
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, quản lý nhà nước là hoạt động mang quyền lực nhà nước (quyền
hành pháp) Các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương
tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là quyết định hành chính Bằng việc ban hành quyết định hành chính, chủ thể quản lý nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm tổ chức, chỉ đạo các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội
Thứ hai, quản lý nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể
được sử dụng quyền hành pháp Theo cách hiểu phổ biến hiện nay thì quyền lực nhà nước gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Theo đó, hoạt động
sử dụng quyền lập pháp là hoạt động lập pháp (xây dựng và ban hành văn bản luật); hoạt động sử dụng quyền hành pháp là hoạt động quản lý nhà nước (hoạt động chấp hành - điều hành của nhà nước); hoạt động sử dụng quyền tư pháp là hoạt động tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử) Trong đó, quyền hành pháp trước hết và chủ yếu thuộc về các cơ quan hành chính nhà nước Do đó, có thể nhận thấy chủ thể quản lý hành chính nhà nước trước hết và chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước
Tất nhiên, các cơ quan nhà nước nói chung cũng được sử dụng quyền hành pháp, cũng là chủ thể quản lý hành chính nhà nước khi tiến hành các hoạt động nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình, chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ, v.v
13 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Tlđd, tr 14
Trang 21Thứ ba, quản lý nhà nước là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức
chặt chẽ Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hành pháp, bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước được tổ chức thành một khối thống nhất từ trung ương tới địa phương, đứng đầu là chính phủ, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương, tạo ra sức mạnh tổng hợp, tránh được sự cục
bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau Tuy nhiên, do mỗi địa phương đều có những nét đặc thù riêng về điều kiện kinh tế - xã hội, nên để có thể phát huy tối đa những yếu tố của từng địa phương, tạo sự năng động sáng tạo trong quản lý điều hành, bộ máy hành chính nhà nước còn được tổ chức theo hướng phân cấp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động sáng tạo cho chính quyền địa phương
Thứ tư, quản lý nhà nước mang tính chấp hành và điều hành của nhà nước
Tính chấp hành và điều hành của quản lý nhà nước thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tạo của chủ thể quản lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn…, trên cơ sở quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật
Như vậy, thuật ngữ "quản lý nhà nước" có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp khác nhau Tuy vậy, để phù hợp với mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài mà Luận văn này thống nhất sử dụng thuật ngữ này theo nghĩa hẹp
Từ các luận cứ đã nêu trên, có thể hiểu: Quản lý nhà nước về luật sư và
HNLS là một hình thức của quản lý nhà nước do các chủ thể được sử dụng quyền hành pháp thực hiện, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước và tổ chức thực hiện pháp luật đối với luật sư và HNLS
1.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư
Cũng giống như bất kỳ một hoạt động có mục đích nào, quản lý nhà nước
về luật sư và HNLS được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc nhất định Đó là những tư tưởng chỉ đạo rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động giúp cho các chủ
Trang 22thể quản lý thực hiện có hiệu quả các công việc của mình khi được phân công Các nguyên tắc quản lý nhà nước về luật sư và HNLS được xác định là những tư tưởng chỉ đạo bắt nguồn từ cơ sở của khoa học quản lý, từ bản chất của chế độ, được quy định trong pháp luật Các nguyên tắc trong quản lý nhà nước về luật sư và HNLS được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật, thể hiện tính chất pháp lý của
nó tạo ra cơ sở để buộc các chủ thể phải tuân thủ một cách thống nhất và chính xác trong hoạt động quản lý của mình
Do quản lý nhà nước về luật sư và HNLS là một hình thức của quản lý nhà nước, nên quản lý nhà nước về luật sư và HNLS cần phải tuân thủ tất cả các nguyên tắc cơ bản của quản lý nhà nước nói chung, như: Nguyên tắc Đảng lãnh đạo; Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý nhà nước; Nguyên tắc tập trung dân chủ; Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc; Nguyên tắc pháp chế XHCN; Nguyên tắc quản lý theo ngành, chức năng kết hợp với quản lý theo địa phương; Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng và phối
quản lý nhà nước, Điện Biên là nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, nên hoạt động quản lý nhà nước về luật sư và HNLS trên địa bàn tỉnh Điện Biên cần phải đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò quản lý của Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên và những chính sách, biện pháp ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Điện Biên có cơ hội ngang bằng với các dân tộc khác trong việc trở thành luật sư và thụ hưởng các dịch vụ HNLS Bên cạnh đó, quản lý nhà nước về luật sư và HNLS còn phải tuân thủ những nguyên tắc pháp lý đặc thù được quy định tại Điều 6 Luật luật
sư sửa đổi năm 2012, cụ thể:
Thứ nhất, quản lý luật sư và HNLS được thực hiện theo nguyên tắc kết hợp
quản lý nhà nước với chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức HNLS
Nguyên tắc này thể hiện tầm quan trọng trong việc quản lý nhà nước đối với luật sư, đồng thời khẳng định vai trò tham gia quản lý luật sư của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư và tổ chức HNLS; mối quan hệ, sự phối hợp của cơ
14 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Tlđd, tr 85-114
Trang 23quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư và tổ chức HNLS Tăng cường quản lý nhà nước đối với luật sư và phát huy tính tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư và tổ chức HNLS là đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
Đảm bảo nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước về luật sư với phát huy vai trò
tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư và tổ chức HNLS có nghĩa là:
- Thể chế hóa đầy đủ, phân định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước, nội dung quản lý nhà nước, nội dung tự quản và sự phối hợp trong công tác quản lý luật sư giữa nhà nước và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức HNLS
- Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước và tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư, tổ chức HNLS trong việc quản lý luật sư Đồng thời trong quá trình thực hiện quy định của pháp luật về quản lý luật sư cũng được quán triệt và triệt để nhằm phát huy hết hiệu lực, hiệu quả quản lý luật sư của nhà nước và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức HNLS
Thứ hai, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức HNLS thực hiện
quản lý luật sư và HNLS của tổ chức mình theo quy định của pháp luật, Điều lệ của Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam; Nhà nước thống nhất quản lý về luật sư và HNLS theo quy định của pháp luật
Theo nguyên tắc này, Nhà nước không chỉ thống nhất quản lý về luật sư và HNLS trực tiếp đối với các cá nhân luật sư mà còn được thực hiện thông qua việc quản lý đối với các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức HNLS Theo
đó, các tổ chức này được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật và chịu
sự quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc làm này là cần thiết nhưng không được can thiệp vào quyền tự chủ và công việc nội bộ của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức HNLS
Theo quy định của Luật luật sư sửa đổi năm 2012, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư được thành lập để đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của luật sư, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ luật sư, giám sát việc tuân theo pháp luật, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, thực hiện quản lý HNLS
Trang 24theo quy định của pháp luật Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư là Đoàn luật
sư ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Liên đoàn Luật sư Việt Nam Tổ chức HNLS gồm văn phòng luật sư và công ty luật Ngoài việc tuân thủ các quy định của pháp luật về doanh nghiệp, văn phòng luật sư và công ty luật còn phải tuân thủ các quy định có liên quan của pháp luật về luật sư và HNLS
Để phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và HNLS cần vận dụng một cách phù hợp, sáng tạo các nguyên tắc quản lý nêu trên trong từng giai đoạn phát triển của nghề luật sư Nhà nước không thể áp dụng một cách máy móc các nguyên tắc quản lý, đề cao nguyên tắc chung coi nhẹ nguyên tắc riêng, nguyên tắc đặc thù hay ngược lại
1.2.3 Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư
Muốn tăng cường hiệu lực, hiệu quả của hoạt động luật sư nhằm củng cố vai trò của luật sư đối với đời sống kinh tế - xã hội, cần thiết phải xác định những nội dung cụ thể của hoạt động quản lý nhà nước về luật sư và HNLS
Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về luật sư và HNLS, một trong những vấn đề quan trọng là phải xác định rõ những nội dung mà nhà nước cần thực hiện Thông lệ chung trên thế giới, nội dung quản lý nhà nước về luật sư và HNLS thường tập trung vào những vấn đề như xây dựng chiến lược và chính sách phát triển nghề luật sư, ban hành hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật về luật sư và HNLS, kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp về luật sư và HNLS
Tuy nhiên, những nội dung quản lý nhà nước được quy định phải tương ứng với sự phát triển của luật sư và nghề luật sư, phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị -
xã hội của mỗi nước
Theo quy định của Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987, quản lý nhà nước
về luật sư được giao cho Bộ Tư Pháp, Hội đồng nhân dân, UBND Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc cấp tỉnh và Giám đốc Sở Tư pháp (trong phạm vi một số việc được Bộ trưởng Bộ Tư pháp ủy quyền) Pháp lệnh này còn quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Đoàn luật sư trong việc quản lý luật sư Nhưng những quy định này
Trang 25còn chung chung, chưa có sự phân cấp rõ ràng Việc quản lý nhà nước về luật sư còn thiếu chặt chẽ, nội dung, phương thức quản lý còn chưa thực sự phù hợp
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta có sự chuyển biến to lớn về mọi mặt trong đời sống xã hội Trong tình hình đó, nhiều quy định của Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 không còn phù hợp với thực tiễn, làm cho hoạt động luật sư không đáp ứng nhu cầu giúp đỡ pháp lý ngày càng cao của xã hội Trong đó phải kể đến các quy định về điều kiện và thủ tục công nhận luật sư, hình thức hành nghề, đặc biệt là vấn đề quản lý luật sư và HNLS
Pháp lệnh Luật sư năm 2001 được ban hành thay thế Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987, cùng với việc nâng cao vai trò tự quản của tổ chức luật sư, khuyến khích phát triển nghề luật sư ở Việt Nam và tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với luật sư và HNLS Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đã quy định rõ hơn nội dung quản lý, thẩm quyền quản lý và phân định rõ hơn quản lý nhà nước với tự quản của các Đoàn luật sư và phát huy vai trò tự quản của các Đoàn luật sư Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã thể hiện theo hướng vừa bảo đảm sự quản lý của Nhà nước đối với tổ chức luật sư và HNLS, vừa phát huy tính tự quản, tự chịu trách nhiệm của các Đoàn luật sư
Tuy nhiên Pháp lệnh Luật sư chưa làm rõ mối quan hệ giữa quản lý nhà nước với tự quản của Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư Từ đó dẫn đến công tác quản lý còn chung chung, có nơi có lúc cơ quan nhà nước làm thay công việc của Đoàn luật sư, can thiệp vào hoạt động nghề nghiệp luật sư Ngược lại có tình trạng phó thác cho Đoàn luật sư, buông lỏng quản lý đối với luật sư và HNLS
Một trong những quan điểm chỉ đạo, định hướng xây dựng Luật Luật sư năm 2006 là "Phân định rõ và hợp lý giữa công tác quản lý nhà nước về luật sư và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư theo hướng Nhà nước chỉ làm những gì thuộc về chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, tổ chức xã hội - nghề nghiệp phát huy vai trò tự quản đối với luật sư và tổ chức hành nghề luật sư"
Nếu như Pháp lệnh Luật sư năm 2001 chỉ có một chương (Chương VI) quy định về "Quản lý nhà nước về tổ chức luật sư và hành nghề luật sư" thì nay, Luật Luật sư sửa đổi năm 2012 đã dành Chương VII quy định về "Quản lý hành nghề
Trang 26luật" với hai điều quy định về "Trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư" (Điều 83) và "Trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư" (Điều 84) Theo đó, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư và HNLS thuộc về Chính phủ, Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND cấp tỉnh Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư thực hiện tự quản luật sư và HNLS theo quy định của Luật Luật sư và Điều lệ của mình Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật
sư phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý luật sư và HNLS
Mặc dù, đã được hoàn thiện đáng kể so các pháp lệnh về luật sư trước đó nhưng Luật luật sư sửa đổi năm 2012 không trực tiếp quy định cụ thể, rõ ràng về các nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về luật sư và HNLS Các nội dung này được Luật gián tiếp quy định thông qua các quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư và HNLS của các cơ quan nhà nước tại Điều 83; cụ thể như sau:
Ở trung ương, Chính phủ là cơ quan có trách nhiệm thống nhất quản lý nhà nước về luật sư và HNLS Tuy vậy, Bộ Tư pháp mới là cơ quan giữ vai trò trung tâm trong công tác này Các bộ khác và cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc quản lý nhà nước về luật sư và HNLS
Ở địa phương, UBND cấp tỉnh là cơ quan có trách nhiệm quản lý nhà nước
về luật sư và HNLS Tuy vậy, Sở Tư pháp mới là cơ quan giữ vai trò trung tâm trong công tác này
Căn cứ vào quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư và HNLS tại Điều 83 của Luật luật sư sửa đổi năm 2012, có thể khái quát quản lý nhà nước về luật sư và HNLS có những nội dung cơ bản sau:
- Xây dựng, ban hành chiến lược, chính sách về luật sư và HNLS;
- Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật luật sư;
- Quản lý nhà nước đối với cơ sở đào tạo nghề luật sư; tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư và tổ chức HNLS;
- Quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế về luật sư;
- Cấp, thu hồi, gia hạn chứng chỉ, giấy phép HNLS;
Trang 27- Thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển nghề luật sư;
- Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản
lý nhà nước về luật sư và HNLS;
- Tổng kết, báo cáo công tác quản lý nhà nước về luật sư và HNLS
Như vậy, Luật Luật sư sửa đổi năm 2012 đã quy định theo hướng phân định
rõ giữa trách nhiệm quản lý của nhà nước đối với luật sư, HNLS và trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư với tư cách là tổ chức tự quản của luật sư và tổ chức HNLS Theo các quy định này, Nhà nước chỉ thực hiện những công việc thuộc về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, còn những vấn đề về giám sát, tự quản hoạt động nghề nghiệp thì giao cho tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư và tổ chức HNLS thực hiện Luật luật sư sửa đổi năm 2012 cũng đã quy định rõ hơn sự phối hợp của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức HNLS với cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện một số công việc liên quan đến quản lý luật sư và HNLS
1.3 Phân biệt quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư với hoạt động tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư
Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động luật sư trong thời gian qua, Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 cho thấy đội ngũ luật sư nước ta đã có sự phát triển nhanh chóng về số lượng, chất lượng cũng như tính chuyên nghiệp trong hoạt động hành nghề Công tác quản lý nhà nước về luật sư và HNLS cũng đạt được nhiều kết quả, tập trung vào việc xây dựng, ban hành, hoàn thiện thể chế, định hướng điều tiết và hỗ trợ phát triển đối với tổ chức, hoạt động luật sư Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư được xây dựng và củng cố, vai trò tự quản của tổ chức
xã hội - nghề nghiệp của luật sư bước đầu được phát huy
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, tổ chức và hoạt động luật sư ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, trong đó phải kể đến vai trò tự quản của các Đoàn luật sư trong việc quản lý luật sư và HNLS còn bộc lộ những hạn chế Liên đoàn Luật sư Việt Nam mới thành lập, tuy đã triển khai có kết quả nhiều hoạt động, bước đầu phát huy được vai trò tự quản, tuy nhiên vẫn còn trong giai đoạn xây dựng, hoàn thiện tổ chức và phương thức hoạt động Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về luật sư và HNLS còn bất cập, cơ chế quản lý có phần còn lỏng lẻo chưa đáp
Trang 28ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Sự quan tâm lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với tổ chức và hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư còn
Công tác quản lý luật sư và HNLS chưa được quan tâm đúng mức, chưa được đầu tư nghiên cứu một cách bài bản về lý luận cũng như tổng kết thực tiễn Về
lý luận chưa làm rõ được nguyên tắc quản lý nhà nước kết hợp với tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, chưa làm rõ nội dung quản lý nhà nước với nội dung tự quản và đặc biệt là chưa xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước đến đâu đối với việc quản lý luật sư và HNLS và trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong việc tham gia quản lý luật sư và HNLS như thế nào? Mặc
dù quan điểm xây dựng Luật Luật sư là Nhà nước chỉ làm những gì thuộc về chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Vấn đề được đặt ra là những nhiệm vụ nào thuộc nội dung quản lý nhà nước, những nhiệm vụ nào thuộc nội dung tự quản của Đoàn luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và những nhiệm vụ nào cần có sự phối hợp giữa cơ quan nhà nước với Đoàn luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam Ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 83 "Trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư" của Luật Luật sư sửa đổi năm 2012, còn có những nhiệm vụ, quyền hạn nào thuộc nội dung quản lý nhà nước về luật sư và HNLS hay không Có phải tất cả nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 61 "Nhiệm vụ quyền hạn của Đoàn luật sư" và Điều 65 "Nhiệm vụ quyền hạn của tổ chức luật sư toàn quốc" của Luật này là nội dung tự quản của Đoàn luật sư, Liên đoàn luật sư hay không? Những nhiệm vụ nào được quy định trong Luật Luật sư và các quy định khác của
Trang 29pháp luật có liên quan thuộc nội dung quản lý nhà nước, trong đó có nhiệm vụ nào
mà Nhà nước nên giao cho tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư thực hiện Những nội dung tự quản nào của Đoàn luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam được quy định trong Luật Luật sư sửa đổi năm 2012, còn những nội dung tự quản nào được Đoàn luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam quy định trong Điều lệ của mình và các quy định khác do Đoàn luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam ban hành Trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn luật sư, Liên đoàn luật sư có những quy định nào thuộc nội dung quản lý nhà nước, mà Nhà nước lại giao cho Đoàn luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam thực hiện
Để làm rõ vấn đề nêu trên thì nhất thiết phải phân biệt quản lý nhà nước về luật sư và HNLS ở các phương diện cơ bản sau:
Thứ nhất, về định nghĩa
Như đã nêu quản lý nhà nước về luật sư và HNLS là một hình thức của quản lý nhà nước do các chủ thể được sử dụng quyền hành pháp thực hiện, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước và tổ chức thực hiện pháp luật đối với luật sư và HNLS
Theo Từ điển tiếng Việt, tự quản được hiểu là "tự mình trông coi, quản lý
hoạt động tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư là hoạt động điều khiển, chỉ đạo do tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư tiến hành đối với các tổ chức, cá nhân trực thuộc trên cơ sở căn cứ vào các quy định của pháp luật và quy định do mình ban hành
Thứ hai, về chủ thể tiến hành hoạt động
Như đã nêu, chủ thể quản lý nhà nước về luật sư và HNLS là những cơ quan, cán bộ, công chức được sử dụng quyền hành pháp trong lĩnh vực quản lý nhà nước về luật sư và HNLS Căn cứ vào quy định tại Điều 83 của Luật Luật sư sửa đổi năm 2012, các cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về luật sư và HNLS gồm: Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh và Sở Tư pháp Trong đó,
Bộ tư pháp là cơ quan có vai trò trọng tâm trong công tác quản lý nhà nước về luật
15 Viện Ngôn ngữ học (2002), Tlđd, tr 1077
Trang 30sư và HNLS ở trung ương; Sở Tư pháp là cơ quan có vai trò trọng tâm trong công tác quản lý nhà nước về luật sư và HNLS ở địa phương
Chủ thể tiến hành hoạt động tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật
sư là Đoàn luật sư và Liên đoàn Luật sư Việt Nam Các tổ chức này đều là tổ chức
xã hội, nên chúng có những đặc điểm của tổ chức xã hội nói chung, cụ thể như sau16:
- Các tổ chức xã hội được hình thành trên cơ sở tự nguyện của các thành viên cùng chung một lợi ích hay cùng giai cấp, cùng nghề nghiệp, sở thích…
- Các tổ chức xã hội nhân danh tổ chức mình để tham gia hoạt động quản lý nhà nước, chỉ trong những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định tổ chức xã hội mới hoạt động nhân danh nhà nước Đặc điểm này của tổ chức xã hội xuất phát từ nguyên nhân tổ chức xã hội không phải là bộ phận trong cơ cấu của bộ máy nhà nước Nhà nước thừa nhận và bảo hộ sự tồn tại của các tổ chức xã hội bằng việc cho phép tổ chức xã hội được thành lập đồng thời quy định các quyền và nghĩa vụ pháp
lý của chúng Khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý này, các tổ chức xã hội nhân danh tổ chức mình Trong một số trường hợp nhất định, nhà nước trao quyền cho tổ chức xã hội được nhân danh Nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước
- Các tổ chức xã hội hoạt động tự quản theo quy định của pháp luật và theo điều lệ do các thành viên trong tổ chức xây dựng Dù tổ chức xã hội hoạt động theo điều lệ hay theo quy định của pháp luật thì hoạt động của tổ chức xã hội vẫn mang tính tự quản Nhà nước không can thiệp vào công việc nội bộ của các tổ chức xã hội cũng như không sử dụng quyền lực nhà nước để sắp xếp người lãnh đạo tổ chức hay cách chức họ trong tổ chức xã hội
- Các tổ chức xã hội hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận mà nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên Đặc điểm này phân biệt tổ chức xã hội với tổ chức kinh tế
Liên đoàn Luật sư Việt Nam là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong phạm vi cả nước, đại diện cho luật sư, các Đoàn luật sư, có điều lệ, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản, hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải bằng nguồn thu từ phí thành viên, các khoản đóng góp của thành viên và nguồn thu hợp
16 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Tlđd, tr 270-274
Trang 31pháp khác Thành viên của Liên đoàn Luật sư Việt Nam là các Đoàn luật sư và các luật sư Các luật sư tham gia Liên đoàn Luật sư Việt Nam thông qua Đoàn luật sư nơi mình gia nhập Các cơ quan của Liên đoàn Luật sư Việt Nam gồm có:
- Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Liên đoàn Luật sư Việt Nam;
- Hội đồng luật sư toàn quốc là cơ quan lãnh đạo của Liên đoàn Luật sư Việt Nam giữa hai kỳ Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc;
- Ban thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam là cơ quan điều hành công việc của Liên đoàn Luật sư Việt Nam giữa hai kỳ họp của Hội đồng luật sư toàn quốc;
- Các cơ quan khác do Điều lệ của Liên đoàn Luật sư Việt Nam quy định Liên đoàn Luật sư Việt Nam có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với việc quản lý luật sư từ góc độ nghề nghiệp Liên đoàn thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng được Nhà nước chuyển giao, thể hiện chức năng tự quản của luật sư như: Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc ban hành Quy chế tập sự HNLS, đào tạo nghề luật
sư, kiểm tra kết quả tập sự HNLS; ban hành và giám sát việc tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc xử
lý kỷ luật luật sư
Đoàn luật sư là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, được UBND cấp tỉnh cho phép thành lập sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tư pháp khi có từ 3 người có chứng chỉ HNLS trở lên Đoàn luật
sư được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật về luật sư và Điều lệ của Liên đoàn Luật sư Việt Nam Đoàn luật sư có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải bằng nguồn thu từ phí thành viên, các khoản đóng góp của thành viên và các nguồn thu hợp pháp khác Các cơ quan của Đoàn luật sư gồm có:
- Đại hội toàn thể hoặc Đại hội đại biểu luật sư của Đoàn luật sư là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đoàn luật sư
- Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư là cơ quan chấp hành của Đại hội toàn thể hoặc Đại hội đại biểu luật sư của Đoàn luật sư, do Đại hội toàn thể hoặc Đại hội đại biểu luật sư bầu ra
Trang 32- Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của Đoàn luật sư do Đại hội toàn thể hoặc Đại hội đại biểu luật sư của Đoàn luật sư bầu ra theo nhiệm kỳ của Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư
Chức năng cơ bản của Đoàn luật sư là đại diện, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của luật sư, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ luật sư, giám sát việc tuân theo pháp luật, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, thực hiện quản lý HNLS theo quy định của pháp luật về luật sư Đoàn luật sư thực hiện những nhiệm vụ thể hiện tính tự quản như: Đăng ký và giám sát người tập sự HNLS, kết nạp luật sư, giám sát việc tuân theo pháp luật, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp đối với tổ chức luật sư và cá nhân luật sư, xử lý kỷ luật đối với luật sư, giải quyết khiếu nại, tố cáo Đoàn luật sư là một đối tượng vừa chịu sự quản lý của Nhà nước, vừa là một tổ chức thực hiện chế độ tự quản nên Đoàn luật sư khi ban hành các văn bản thực hiện chế độ tự quản cần chú ý để không lẫn lộn hoặc lấn sân sang chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Thứ ba, về phương tiện quản lý
Phương tiện quản lý nhà nước về luật sư và HNLS chủ yếu là quy phạm pháp luật Điều này được xác định theo quan niệm của nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Tuy các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật
sư cũng sử dụng quy phạm pháp luật để tiến hành hoạt động tự quản, song phương tiện chủ yếu của hoạt động tự quản này lại là các quy định do chính tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư xây dựng và ban hành; trong đó, chủ yếu là điều lệ
Điều lệ của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư cũng có chung đặc điểm với điều lệ của các tổ chức xã hội nói chung, cụ thể là: Điều lệ của các tổ chức
xã hội không được trái pháp luật và được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước phê duyệt Điều lệ của tổ chức xã hội không phải là văn bản pháp luật, các quy định của điều lệ không mang tính pháp lý, chúng chỉ điều chỉnh quan hệ nội bộ của tổ chức
xã hội và chỉ có hiệu lực đối với các thành viên trong tổ chức
Thứ tư, về tính quyền lực nhà nước
Quản lý nhà nước về luật sư và HNLS được tiến hành trên cơ sở quyền lực nhà nước (quyền hành pháp), theo đó các mệnh lệnh quản lý có tính bắt buộc phải
Trang 33thực hiện và được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước Do đó, quản lý nhà nước về luật sư và HNLS được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền, theo thủ tục, hình thức, nội dung được pháp luật quy định
Hoạt động tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư không được tiến hành trên cơ sở quyền lực nhà nước và không được bảo đảm bằng cưỡng chế nhà nước Do đó, hoạt động tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư được tiến hành bởi các chủ thể, theo thủ tục, hình thức, nội dung được các quy tắc
xử sự nội bộ của Đoàn luật sư và Liên đoàn Luật sư Việt Nam quy định
Luật sư là một nghề dựa trên sự hiểu biết và áp dụng pháp luật liên quan đến hoạt động của cơ quan nhà nước, đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân Chính vì vậy, Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý, tạo điều kiện và khuyến khích luật sư trong hành nghề Việc quản lý luật sư và HNLS không hoàn toàn giao phó cho tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư mà cần có
sự hỗ trợ, giúp đỡ từ phía Nhà nước Nhà nước bảo đảm cho luật sư hành nghề đúng pháp luật, người HNLS phải hội đủ các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật và những người có đủ tiêu chuẩn đều có quyền HNLS Các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư cần tập trung vào việc giám sát luật sư về mặt đạo đức nghề nghiệp và giúp đỡ bảo vệ luật sư trong hành nghề
Để phát triển đội ngũ luật sư ở Việt Nam hiện nay đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN thì không thể thiếu được vai trò của quản lý nhà nước về luật sư và HNLS Với quyền hạn của mình Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật về luật sư và tổ chức thực hiện các văn bản này, đồng thời có các biện pháp nhằm hỗ trợ phát triển nghề luật sư, không can thiệp vào hoạt động tự quản của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư Là cơ quan quản lý luật sư, Bộ Tư pháp có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện cơ sở pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho nghề luật sư phát triển, đồng thời chú trọng hơn nữa đến việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho luật sư và coi trọng các chuẩn mực đạo đức nghề
nghiệp, đề cao chữ đức, chữ tâm trong hoạt động nghề nghiệp luật sư
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ
VÀ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN
2.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế - xã hội và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên
2.1.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế- xã hội của tỉnh Điện Biên
Điện Biên là tỉnh miền núi, biên giới, nằm ở phía Tây Bắc của Việt Nam, có diện tích tự nhiên là 9.562,2 km2, có 10 đơn vị hành chính cấp huyện (01 thành phố,
01 thị xã và 08 huyện) với 130 xã, phường, thị trấn; có 04 huyện nghèo nằm trong danh mục 62 huyện nghèo của cả nước; có đường biên giới dài 400,861km, trong đó: tiếp giáp với Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào là 360 km, tiếp giáp với Trung Quốc
là 40,861km; có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng - an ninh, là đầu mối giao thông quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội khu vực vùng Tây Bắc
Hiện nay, tỉnh Điện Biên có khoảng 53 vạn người, gồm 19 dân tộc, trong đó: Dân tộc Thái chiếm 38,1%; dân tộc Mông chiếm 34,9%; dân tộc Kinh chiếm
bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên (1.300 người/km2); đối với vùng cao, vùng sâu, vùng xa có nơi chỉ có 12 người /km2
Điện Biên vẫn là tỉnh đặc biệt khó khăn, chất lượng nguồn nhân lực không đồng đều; thu nhập bình quân theo đầu người khoảng 1000 USD/người/năm; ngân sách hàng năm do trung ương hỗ trợ trên 96 %; tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao; kinh tế,
xã hội phát triển không đồng đều giữa khu vực thành phố và các huyện thị; tốc độ
đô thị hóa chậm, thị trường vốn, thị trường bất động sản tài chính, ngân hàng chưa hình thành Các doanh nghiệp hoạt động tại địa bàn đa số là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ kinh doanh giới hạn trong vùng miền, các nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trên địa bàn hầu như không có Các khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm, khu kinh tế cửa khẩu đang trong thời kỳ quy hoạch chưa đi vào hoạt động hoặc đã hoạt động nhưng sơ khai không đáng kể Tình hình hoạt
Trang 35động của bọn tội phạm có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp, nhất là tội phạm về ma túy ở tuyến biên giới Tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội đã được kiềm chế, song vẫn còn tai nạn giao thông xảy ra một số vụ nghiêm trọng; tình trạng khiếu kiện về đất đai có chiều hướng gia tăng, tranh chấp không chỉ giữa cá nhân, tổ chức mà còn liên quan đến tranh chấp đất nương, rẫy đất rừng giữa các dòng họ, giữa các bản sau khi được chia tách
Đội ngũ luật sư còn thiếu nếu tính 10.000 dân có 01 luật sư thì tỉnh Điện Biên cần phát triển thêm 30 luật sư Tuy nhiên, phát triển số lượng luật sư còn phụ thuộc vào số vụ, việc luật sư được mời hoặc tham gia để luật sư có thể sống bằng nghề, do đó trong kế hoạch triển khai thực hiện chiến lược "Phát triển nghề luật sư đến năm 2020" trên địa bàn tỉnh của tỉnh Điện Biên có lộ trình như sau: giai đoạn I đến năm 2015 có: 15 Luật sư; giai đoạn II đến năm 2020 có: 50 Luật sư
Để giảm nghèo bền vững theo Nghị quyết số 76/2014/QH13 ngày 24/6/2014 của Quốc hội, bên cạnh các chính sách giảm nghèo về kinh tế, y tế, giáo dục… để giảm nghèo bền vững về pháp lý; ngày 08/08/2016 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg về chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn giai đoạn 2016 - 2020 và hỗ trợ vụ việc tham gia tố tụng có tính chất phức tạp hoặc điển hình Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg được ban hành trên có sở tích hợp có kế thừa và phát huy những kết quả đạt được của việc triển khai thực hiện Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg ngày 18/08/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ pháp
lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã nghèo giai đoạn 2013 - 2020 và Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg ngày 24/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã nghèo giai đoạn 2013 - 2020
Khoảng hơn 80% người dân của tỉnh Điện Biên thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý Hiện nay Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh mới có 04 trợ giúp viên pháp lý Vì vậy, Trung tâm đã phải huy động sự tham gia của đội ngũ luật sư theo tinh thần xã hội hóa công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh Dự kiến, Trung tâm sẽ lựa chọn và ký hợp đồng với 40 luật sư để thực hiện trợ giúp pháp lý Số vụ
Trang 36việc trợ giúp pháp lý bằng hình thức tham gia tố tụng không ngừng tăng (năm 2015:
2.1.2 Khái quát chung về hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên
Khoản 1 Điều 42 của Pháp lệnh Luật sư năm 2001 quy định: "1 Người
được công nhận là luật sư theo quy định của Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 thì được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư để hành nghề luật sư theo quy định của Pháp lệnh này; đối với luật sư đang là cán bộ, công chức thì được tiếp tục hành nghề luật sư trong thời hạn là 3 năm, kể từ ngày Pháp lệnh này có hiệu lực" Ở thời
điểm này, Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Lai Châu 100% là cán bộ, công chức, do
đó các luật sư này chỉ được hành nghề đến 01/10/2004 Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ
Tư pháp, tỉnh Lai Châu đã lên phương án tạo nguồn luật sư để thực hiện duy trì tổ chức và hoạt động luật sư Tháng 6 năm 2002 UBND tỉnh đã cử 08 cử nhân luật đi đào tạo luật sư (khóa II) tại trường đào tạo các chức danh tư pháp Tuy nhiên, do nghề luật sư khi đó chưa phát triển, việc sống bằng nghề luật sư không dễ dàng đối với một tỉnh miền núi khó khăn Cân nhắc thiệt hơn giữa làm cán bộ, công chức và làm luật sư, nên sau khi kết thúc khóa đào tạo số học viên này không tham gia Đoàn
luật sư mà vào cơ quan nhà nước làm cán bộ, công chức
Đến ngày 01/10/2004 trước thời điểm lựa chọn quyết định khó khăn là làm cán bộ, công chức hay là HNLS Kết quả là toàn bộ số luật sư kiêm nhiệm hiện có của tỉnh đã không có ai theo con đường luật sư và từ thời điểm này trở đi tỉnh Điện Biên không có luật sư và Đoàn luật sư Trong gần (02 năm) tỉnh Điện Biên không
có luật sư, vì vậy, phải mời hoặc thuê luật sư của các tỉnh khác Theo báo cáo của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên thì tiền chi trả cho việc mời luật sư ở các tỉnh khác đến bình quân hết 15.000.000đ/vụ Từ tình hình thực tế đó, Sở Tư pháp đã tích cực
17 Nguồn báo cáo tổng hợp của Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên
Trang 37chủ động tham mưu làm thủ tục cấp giấy phép đăng ký hoạt động cho Chi nhánh Văn phòng luật sư Thế Inh thuộc Đoàn luật sư tỉnh Yên Bái (28/11/2006); Văn phòng luật sư Bảo Châu và cộng sự thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội (20/12/2006) nhằm giải quyết khó khăn do địa phương chưa có luật sư, đồng thời phối hợp với Bộ Tư pháp cử đào tạo miễn phí 03 cử nhân luật tham gia học lớp đào tạo nghiệp vụ luật sư nhằm tạo nguồn luật sư cho tỉnh để chuẩn bị các điều kiện thành lập Đoàn luật sư Ngày 23/4/2009 UBND tỉnh Điện Biên ra quyết định số 594/QĐ-UBND cho phép thành lập Đoàn luật sư tỉnh Điện Biên
Từ khi ban hành Luật Luật sư năm 2006 đến nay, hoạt động luật sư trên cả nước nói chung và địa bàn tỉnh Điện Biên nói riêng đã có những bước phát triển, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, khẳng định ngày càng rõ hơn vị trí, vai trò quan trọng của luật sư trong đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về dịch vụ pháp lý của tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Thông qua hoạt động tham gia tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật và các dịch vụ pháp lý khác, đội ngũ luật sư không những đã có những đóng góp tích cực cho công tác tư pháp nói chung, hoạt động xét xử nói riêng, mà còn là nhân tố hỗ trợ phát triển các quan hệ kinh tế thị trường định hướng XHCN
Qua hơn mười năm thực hiện Luật Luật sư năm 2006, số lượng luật sư và tổ chức HNLS đã có sự phát triển, tăng nhanh về số lượng Theo thống kê của Cục Bổ trợ tư pháp thuộc Bộ tư pháp cho đến tháng 6/2018 cả nước hiện có khoảng 12.000 luật sư với gần 4.000 tổ chức HNLS So với số lượng tổ chức HNLS và luật sư thời điểm trước khi Luật luật sư năm 2006 có hiệu lực (1.300 tổ chức HNLS và 3.000 luật sư) Trên địa bàn tỉnh Điện Biên hiện có 08 tổ chức HNLS (02 Công ty luật và
06 Văn phòng luật sư) với 19 luật sư đang hành nghề trong đó: có 14 luật sư nam;
05 luật sư nữ; luật sư dân tộc kinh có 16 người; luật sư dân tộc khác là 03 người; độ tuổi trung bình của các luật sư là 54,1 tuổi; Luật sư có tuổi cao nhất là 72 tuổi; luật
sư có tuổi thấp nhất là 32 tuổi; Trình độ có 01 người có trình độ thạc sĩ luật, 18 luật
sư có trình độ cử nhân luật; có 15/19 luật sư là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam;
có 08/19 luật sư thuộc diện được miễn đào tạo nghề luật sư (Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán)
Trang 38Đến nay có 03/10 đơn vị cấp huyện đã có tổ chức HNLS gồm thành phố Điện Biên Phủ, huyện Mường Chà, huyện Mường Nhé Tính từ năm 2012 đến nay, các tổ chức HNLS trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã thực hiện 1.434 vụ việc, doanh thu 3.750.030.000 đồng18
2.1.2.2 Đánh giá về tổ chức và hoạt động luật sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên
* Ưu điểm
Luật Luật sư sửa đổi năm 2012 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho các luật sư và tổ chức HNLS phát triển Các tổ chức HNLS được thành lập, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động luật sư Hoạt động luật sư đã trở nên thuận tiện và chuyên nghiệp hơn Các tổ chức HNLS đã từng bước hoạt động hiệu quả, về
cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ tố tụng tại địa phương Các luật sư đã có
ý thức trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ, kỹ năng tranh tụng chuyên nghiệp và hiệu quả hơn; tích cực tham gia hoạt động hành nghề, ngoài các án chỉ định luật sư còn tham gia tố tụng đối với các vụ án thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như dân sự, hôn nhân và gia đình; hành chính;ngoài ra các luật sư còn phối hợp với Trung tâm trợ giúp pháp lý, Trung tâm tư vấn pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý cho người dân Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư đã đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa, góp phần quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp Thực tiễn trong thời gian qua cho thấy, việc tham gia tố tụng của các luật sư không những đảm bảo tốt hơn quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác, mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa các sai sót, làm rõ sự thật khách quan, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần bảo vệ công lý
Các tổ chức HNLS trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã thực hiện việc lập hồ sơ
đề nghị cấp giấy đăng ký HNLS theo đúng quy định; thực hiện tốt việc đăng ký con dấu và quản lý con dấu; tuân thủ nghiêm túc quy định về công bố nội dung hoạt động, thông báo hoạt động, địa điểm giao dịch; các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho hoạt động của tổ chức, như: máy vi tính, máy in, tủ sách, tài liệu pháp luật… được các tổ chức HNLS trang bị tương đối đầy đủ
18 Nguồn báo cáo tổng hợp của Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên
Trang 39Các tổ chức HNLS hoạt động theo đúng lĩnh vực hành nghề ghi trong Giấy đăng ký hoạt động; thực hiện đầy đủ những nội dung đã giao kết với khách hàng; chấp hành nghiêm việc cử luật sư tham gia tố tụng theo phân công của Đoàn luật sư; cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng nhanh chóng và thuận tiện, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng cũng như yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng; trong quá trình hoạt động, các luật sư tuân thủ các quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư và Điều lệ của Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Hoạt động của luật sư tại tỉnh Điện Biên chủ yếu tham gia vào những vụ án theo quy định của pháp luật là chỉ định người bào chữa, đương sự là đối tượng được trợ giúp pháp lý (chiếm 90% các vụ án có sự tham gia bào chữa của luật sư), còn lại
là các loại án hành chính, dân sự khác Đặc biệt 100% các vụ án theo yêu cầu của
cơ quan tiến hành tố tụng đều có luật sư tham gia Nhìn chung các luật sư đã đáp ứng được yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, chấp hành nghiêm những quy định của pháp luật, nêu cao đạo đức và tinh thần trách nhiệm nên chưa có vi phạm pháp luật cũng như vi phạm đạo đức hành nghề nào xảy ra
* Hạn chế
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động HNLS trên địa bàn tỉnh Điện Biên vẫn còn một số khó khăn Do điều kiện kinh tế của tỉnh chậm phát triển, nhận thức về pháp luật của người dân chưa cao, chưa biết đến hoạt động hành nghề của luật sư, chưa sử dụng dịch vụ pháp lý do luật sư cung cấp, do đó luật sư chưa thể yên tâm sống bằng nghề Địa bàn HNLS chưa được mở rộng ra toàn tỉnh, chỉ tập trung ở khu vực trung tâm của tỉnh, phần lớn các luật sư chủ yếu tham gia tố tụng đối với án chỉ định và tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý Các tổ chức HNLS có quy
mô nhỏ, lĩnh vực hành nghề chủ yếu là tham gia tố tụng, vì vậy, doanh thu của các
tổ chức này khá khiêm tốn Việc cung cấp dịch vụ pháp lý của các tổ chức HNLS trong địa bàn tỉnh là chủ yếu Các vụ việc lớn trên địa bàn tỉnh Điện Biên lại do các luật sư địa phương khác thực hiện
Địa bàn hoa ̣t đô ̣ng hành nghề của luâ ̣t sư chưa được mở rộng ra toàn tỉnh, chỉ tâ ̣p trung ở khu vực trung tâm của tỉnh Việc phát triển đội ngũ luật sư của địa phương gặp nhiều khó khăn, do đặc điểm của nghề luật sư đòi hỏi các điều kiện và
Trang 40tiêu chuẩn nghề nghiệp rất cao, cũng như áp lực, thách thức của hoạt động dịch vụ pháp lý trong điều kiện kinh tế thị trường Hơn nữa để trở thành luật sư còn trải qua thời gian học đào tạo nghề, thời gian tập sự, qua kỳ thi, vì vậy, rất ít cử nhân luật ra trường lựa chọn nghề luật sư hoặc là không theo nghề đến cùng Do vậy, đội ngũ luật sư được bổ sung chủ yếu từ nguồn cán bộ, công chức, viên chức và các chức danh tư pháp đã nghỉ hưu nên không được "trẻ hóa"
Theo Điều 40 và Điều 49 của Luật Luật sư sửa đổi năm 2012 thì tổ chức HNLS, luật sư có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp Thực tế cho thấy, một số tổ chức HNLS chưa thực hiện nghiêm túc về việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của tổ chức mình hoặc trường hợp hợp đồng lao động có thỏa thuận thì luật sư hành nghề với tư cách cá nhân phải mua bảo hiểm trách nhiệm cho hoạt động của mình theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm
2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên
2.2.1 Công tác chỉ đạo, triển khai các văn bản pháp luật về luật sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên
Nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động luật sư, sau khi Luật Luật sư năm 2006 có hiệu lực, UBND tỉnh Điện Biên đã tổ chức Hội nghị triển khai thi hành Luật Luật sư đến lãnh đạo các Sở, ngành cấp tỉnh, UBND các huyện, thành phố, thị xã và các tổ chức, cá nhân có liên quan, đồng thời chỉ đạo các cơ quan tích cực tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng những nội dung cơ bản của Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành bằng nhiều hình thức phong phú, hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân về tổ chức và hoạt động luật sư Luật Luật sư đã được triển khai đồng bộ và sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh và được các cơ quan, tổ chức liên quan triển khai thực hiện có hiệu quả Nhận thức của các cơ quan, tổ chức và nhân dân về ý nghĩa, vai trò của hoạt động luật sư đã có sự chuyển biến tích cực
Để đảm bảo triển khai thi hành Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành luật được thống nhất, đồng bộ và hiệu quả tại địa phương, UBND tỉnh Điện