Khác với người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp sẽ không có quyền đương nhiên nhân danh doanh nghiệp để thực hiện các quyền và nghĩ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN VĂN HÙNG
NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN VĂN HÙNG
NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2020
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian vừa qua, nền kinh tế trên toàn thế giới đã phải gánh chịu hậu quả nghiêm trọng do đại dịch vi rút đường hô hấp cấp (COVID 19) gây ra Theo số liệu
do Tổng cục Thống Kê công bố: Năm 2020, nền kinh tế thế giới suy thoái với mức tăng trưởng âm 4,3%; trong khi đó, Việt Nam ghi nhận tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt tăng trưởng dương 2,91% Việt Nam đã ghi dấu ấn đậm nét trên trường quốc tế, mà theo báo chí nhiều nước đưa tin, cho rằng: Việt Nam là nền kinh tế đang nổi của khu vực Châu Á Thái Bình Dương
Thật vậy, trong khi toàn thế giới đang chịu tác động lớn từ đại dịch, sản xuất kinh doanh bị đình trệ; Chúng ta lại bất ngờ được chứng kiến sự thay đổi môi trường sản xuất kinh doanh của nhiều công ty, tập đoàn lớn, đa quốc gia từ các nước khác dịch chuyển dây chuyền sản xuất tới Việt Nam Nền kinh tế nước ta chưa bao giờ lại hội nhập sâu, và rộng như hiện nay Nói như Tổng Bí thư, Chủ Tịch nước Nguyễn
Phú Trọng rằng: “… cơ ngơi và tiền đồ của chúng ta chưa bao giờ vững mạnh đến
thế Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đồng lòng, phát huy sức mạnh tập thể thì nhất định đất nước sẽ phát triển, sánh vai cùng bạn bè năm châu như Bác Hồ hằng mong ước…”
Có lẽ, một trong những nguyên nhân cơ bản là do chính sách mở cửa nền kinh
tế và hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật doanh nghiệp, đầu tư nói riêng của nước
ta hiện nay, ngày càng được đổi mới theo hướng hoàn thiện, tinh gọn, thực tế, hướng tới việc tạo sự thông thoáng để các nhà đầu tư trong và ngoài nước có thể dễ dàng và
an tâm hoạt động Với tinh thần đó, tiếp tục thừa kế và phát huy những thành tựu đạt được của LDN từ các năm: 1999, 2005, 2014, đồng thời sửa đổi, bổ sung những điểm còn hạn chế, khắc phục những nội dung chưa phù hợp, thì LDN năm 2020 đã được Quốc Hội ban hành, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 với nhiều điểm mới, là cở sở pháp lý quan trọng cho môi trường doanh nghiệp được hoạt động thuận lợi, góp phần thu hút mọi nguồn lực về doanh nghiệp và đầu tư để phát triển kinh tế
Trang 4Doanh nghiệp, với tư cách là một tổ chức, và công ty cổ phần với tư cách là một pháp nhân, thực hiện các hoạt động thông qua người đại diện trong giao dịch, để xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người thay mặt doanh nghiệp thực hiện các giao dịch với các đối tác, khách hàng và với cơ quan quản lý nhà nước (chủ thể ngoài doanh nghiệp) hoặc với các thành viên, cổ đông, người lao động (chủ thể trong doanh nghiệp)
Như phân tích trên, chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nói chung, người đại diện theo pháp luật trong công ty cổ phần nói riêng theo LDN năm 2020, là sự tiếp nối và kế thừa của LDN năm 2014, đồng thời đã sửa đổi, bổ sung thêm nhiều điểm mới, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong các vấn đề tiến hành các hoạt động kinh doanh, thể hiện tư duy đổi mới, vừa thu hút đầu tư kinh doanh, vừa tiệm cận hơn với chuẩn mực của quốc tế Nhưng bên cạnh đó, cũng vẫn còn một số quy định chưa thật phù hợp thực tiễn Lẽ đó, nghiên cứu một cách đầy đủ
và có hệ thống về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo LDN năm
2020, tác giả đã chọn chuyên sâu về một loại hình doanh nghiệp với đề tài: “Người
đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2020” để
làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế định “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp” không mới, nhưng tính đến thời điểm hiện nay, riêng về đề tài “Người đại diện theo pháp luật của công
ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2020”, thì tác giả chưa thấy có một công
trình nghiên cứu nào đầy đủ và toàn diện Liên quan đến đề tài này, tác giả nhận thấy phần lớn là những bài phân tích nhỏ lẻ trên các trang mạng (online) sau khi LDN năm
2020 được công bố
Trong bài viết này, tác giả muốn phân tích sâu về lý luận, đồng thời sẽ đối chiếu,
so sánh với thực tiễn để phân tích, và phản biện về các quy định của pháp luật, để có đánh giá khách quan và toàn diện nhất cho vấn đề được nghiên cứu
Kể từ khi LDN năm 2020 được ban hành tới nay, một số tạp chí, báo mạng có viết về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Các bài viết phần lớn tập
Trang 5chung phân tích những điểm mới của LDN năm 2020 về chế định người đại diện theo pháp luật và nêu ra một số khó khăn, vướng mắc và những điều cần lưu ý khi áp dụng trên thực tế đối với các quy định về người đại diện theo pháp luật; cũng có một vài bài viết ngắn gọn chỉ phân tích một số vấn đề cơ bản, xoay quanh người đại diện theo pháp luật, mà chưa phân tích chuyên sâu về người đại diện theo pháp luật của loại hình doanh công ty cổ phần
Ngược dòng thời gian, tìm hiểu về các luận văn, luận án đã tiếp cận những vấn
đề pháp lý về người đại diện theo pháp luật, tác giả nhận thấy, những luận văn, luận
án này được triển khai theo LDN năm 1999, năm 2005, hoặc năm 2014, như: Luận
văn thạc sĩ luật học năm 2014 nghiên cứu về “Chế định người đại diện doanh nghiệp
theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam” của tác giả Phạm Lâm Hải Nguyên; Luận
văn thạc sĩ luật học năm 2017 nghiên cứu về “Người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp từ thực tiễn Tổng công ty thuốc lá Việt Nam” của tác giả Bùi Thị Tâm
Luận án tiến sĩ luật học năm 2011 nghiên cứu về “Đại diện cho thương nhân thep
pháp luật thương mại Việt Nam hiện nay” của tác giả Hồ Ngọc Hiền… Có lẽ, vì LDN
năm 2020 mới được công bố gần đây, nên đề tài “Người đại diện theo pháp luật của
công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2020” chưa có tác giả nào khác chọn
lựa, là điều dễ hiểu
Chế định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp khá rộng, khó đi sâu phân tích, biện giải một cách cụ thể hơn là phân tích trọng tâm về người đại diện theo pháp luật của một loại hình doanh nghiệp, đây là lý do tác giả lựa chọn đề tài:
“Người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2020” thực hiện
Cho đến nay, có thể nhận định: Trong các công trình nghiên cứu là luận văn,
luận án vẫn chưa có công trình nào tiếp cận một cách cụ thể các quy định của LDN
năm 2020 về Người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần Dẫu vậy, một số các nghiên cứu trước đó về chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp – theo các quy định của LDN năm 1999, năm 2005, hay năm 2014 - cũng là những
Trang 6nguồn tài liệu tham khảo rất quý giá, và hữu ích để tác giả nghiên cứu, so sánh với quy định tương ứng trong LDN năm 2020 – khi thực hiện luận văn này
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài
Luận văn này hướng tới việc nghiên cứu chi tiết về: “Người đại diện theo pháp
luật của công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2020”, nhằm mục đích như
sau:
- Một là, phân tích kỹ các cơ sở lý luận về người đại diện theo pháp luật doanh
nghiệp và quan hệ pháp luật đại diện
- Hai là, phân tích các quy định của LDN năm 2020, các văn bản quy phạm
pháp luật có liên quan, sau đó đối chiếu với thực tiễn, để từ đó, xác định những vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong quy định của pháp luật về người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần
- Ba là, tổng hợp nội dung nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục đích nghiên cứu như nêu trên thì cần phải làm rõ những vấn
đề lý luận và thực tiễn như sau:
Thứ nhất, khái niệm “đại diện”, “người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp” dưới các góc độ khác nhau?
Thứ hai, có bao nhiêu hình thức đại diện?
Thứ ba, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có những đặc điểm gì?
Các căn cứ để xác lập?
Thứ tư, giữa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp với người đại diện
theo ủy quyền của doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị - xã hội và người đại diện của cá nhân có những đặc điểm khác nhau cơ bản gì?
Trang 7Thứ năm, pháp luật quy định như thế nào về vai trò, điều kiện, chức danh quản
lý, quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp?
Thứ sáu, thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần có những kết quả đạt được và khó khăn, vướng mắc gì?
Thứ bảy, cần đề ra những giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về người
đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần như thế nào - để đạt được hiệu quả cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu và nhiệm vụ đã đặt ra, tác giả tập trung nghiên cứu về những vấn đề lý luận từ các quy định của pháp luật về người đại diện của doanh nghiệp nói chung, và người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần theo LDN năm 2020
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tác giả đã tập trung nghiên cứu về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nói chung, và người đại diện theo pháp luật trong công ty cổ phần theo LDN năm 2020, chứ không không nghiên cứu về người đại diện theo pháp luật của các chủ thể không phải là doanh nghiệp
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
5.1 Phương pháp luận
Tác giả đã vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác
Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng
và Nhà nước trong công cuộc cải cách tư pháp nói chung và về pháp luật doanh nghiệp nói riêng để giải quyết vấn đề
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành bản luận văn này, tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: Tra cứu, thu thập thông tin, so sánh, phân tích, phản biện, chứng minh, tổng hợp
Trang 8- Phương pháp tra cứu, thu thập thông tin: Tác giả tìm kiếm tài liệu như các văn
bản quy phạm pháp luật, sách, luận văn, luận án, tạp chí khoa học chuyên ngành, trang thông tin điện tử liên quan đến nội dung của đề tài
- Phương pháp so sánh: Tác giả sử dụng để so sánh các quy định của LDN năm
1999, năm 2005, 2014, với LDN năm 2020, cũng như so sánh các quan điểm của các bài phân tích, các bản luận văn, luận án liên quan tới vấn đề nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp phân tích: Từ cơ sở lý luận đến các quy định của pháp luật và thực
tiễn, tác giả tiến hành phân tích các vấn đề dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau để làm sáng tỏ nội dung cần nghiên cứu
- Phương pháp phản biện: Sau khi đối chiếu, so sánh, tác giả sẽ có đánh giá, và lập luận những nội dung chưa phù hợp theo quan điểm riêng để đưa ra kết luận cho vấn đề cần nghiên cứu
- Phương pháp chứng minh: Tác giả dẫn chứng các tài liệu và các thông tin có
được từ những nguồn đáng tin cậy để làm rõ các lập luận của mình
- Phương pháp tổng hợp: Tác giả sử dụng phương pháp này để tổng hợp các tài
liệu, dữ liệu, các luận chứng, từ đó đi đến tổng hợp để đưa ra kết luận các vấn
đề sau khi đã phân tích, chứng minh và so sánh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Bài luận văn này có ý nghĩa góp phần hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam
về chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nói chung, người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần nói riêng theo LDN năm 2020 Mặt khác, bản luận văn này cũng có thể được sử dụng làm tài liệu cho các công ty cổ phần trong quá trình xây dựng điều lệ, khi cần xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật, hoặc cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho hoạt động học tập, và nghiên cứu về chế định người đại diện theo pháp luật
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm hai chương:
Trang 9Chương 1: Những vấn đề cơ bản về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Chương 2: Quy định về người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA
DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về đại diện
1.1.1 Khái niệm đại diện
Trong giao dịch dân sự nói chung, thông thường, người xác lập giao dịch phải
tự thể hiện mong muốn, yêu cầu của mình, ví như: Trường hợp lập di chúc, hay hủy
bỏ di chúc, đăng ký kết hôn, hiến xác, hiến tạng sau khi chết,… Tuy nhiên, pháp luật cũng cho phép người muốn thực hiện giao dịch được quyền thông qua vai trò của một người khác, thay mặt cho người muốn thực hiện giao dịch đó và nhân danh người đó triển khai thực hiện, được gọi là người đại diện
Khoản 1, Điều 134 BLDS năm 2015, quy định: “Đại diện là việc cá nhân, pháp
nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây được gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”
Từ điển Luật học của Bộ Tư pháp nêu rõ: Đại diện là: “Việc một người, một cơ
quan, tổ chức nhân danh người, cơ quan, tổ chức khác xác lập, thực hiện hành vi pháp lý trong phạm vi thẩm quyền đại diện”
Dẫu vậy, không phải trường hợp nào pháp luật cũng cho phép thực hiện thông qua người đại diện Đơn cử, việc kết hôn không thể thực hiện thông qua người đại diện
Theo quy định được trích dẫn trên cho thấy: Đại diện là một quan hệ pháp luật
- tức quan hệ pháp luật về đại diện Chủ thể tham gia quan hệ đại diện là bên đại diện
và bên được/bên nhận đại diện Bên đại diện nhân danh bên được đại diện xác lập quan hệ với bên thứ ba, và vì lợi ích của bên được đại diện Theo quy định tại khoản
1 Điều 139, khoản 1 Điều 141 BLDS năm 2015, thì: Bên được đại diện tiếp nhận (chịu) các hậu quả pháp lý từ quan hệ do người đại diện xác lập, thực hiện đúng thẩm quyền, trong phạm vi nội dung đại đại diện Theo quy định tại Điều 136 BLDS năm
2015, thì: Người được đại diện có thể là cá nhân không có năng lực hành vi hoặc hạn
Trang 11chế năng lực hành vi, nên phải có người đại diện trong quan hệ pháp luật Điểm a, khoản 1, Điều 117, Khoản 1 Điều 138 BLDS năm 2015 quy định: Người có đầy đủ năng lực hành vi có thể ủy quyền cho người khác là đại diện theo ủy quyền của mình Pháp nhân hoạt động thông qua hành vi của những người nhất định có thẩm quyền đại diện cho chủ thể đó
Quan hệ đại diện có thể được xác lập theo quy định của pháp luật, có thể được xác lập theo ý chí của các chủ thể tham gia, thể hiện bằng văn bản ủy quyền Trong phạm vi thẩm quyền đại diện, người đại diện xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự, đem lại quyền và nghĩa vụ cho người được đại diện Hay nói cách khác, ý chí của người đại diện cũng ràng buộc người giao dịch (gọi là người được đại diện) một khi việc bày tỏ ý chí đáp ứng đầy đủ các điều kiện được pháp luật quy định
Từ những phân tích trên, có thể hiểu quan hệ đại diện phát sinh giữa bên đại diện và bên được đại diện Việc đại diện nhằm mục đích nhân danh tiến hành xác lập, thực hiện giao dịch vì lợi ích của bên được đại diện
1.1.2 Quan hệ pháp luật đại diện
Quan hệ pháp luật đại diện bao gồm các yếu tố: Chủ thể, khách thể và nội dụng đại diện
1.1.2.1 Chủ thể của quan hệ đại diện
Chủ thể của quan hệ đại diện bao gồm người đại diện và người được đại diện Người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Ngoài ra còn phải đáp ứng thêm một
số điều kiện khác tùy thuộc vào yêu cầu của công việc đại diện Chẳng hạn như người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không rơi vào các trường hợp pháp luật cấm làm người đại diện theo pháp luật, doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam Khi chỉ còn lại một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam thì người này khi xuất cảnh khỏi Việt Nam phải
ủy quyền bằng văn bản cho cá nhân khác cư trú tại Việt Nam thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật
Đối với doanh nghiệp, mọi hoạt động phải thông qua hành vi của người đại diện,
và sự ra đời, tồn tại của doanh nghiệp luôn gắn bó mật thiết với sự tồn tại của người
Trang 12đại diện theo pháp luật Chính vì vậy, khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động thì tư cách đại diện của người đại diện cũng chấm dứt theo
1.1.2.2 Khách thể của quan hệ đại diện
Bản chất của quan hệ đại diện là người đại diện nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là người đại diện không mong muốn có được lợi ích từ việc thực hiện công việc đại diện của mình Mục đích của họ có thể chỉ đơn thuần là nghĩa vụ bắt buộc phải làm (do bị Tòa án chỉ định), vì lợi ích vật chất (được trả thù lao khi thực hiện công việc đại diện) hay vì thực hiện các quyền và nghĩa vụ được ghi nhận trong hợp đồng ủy quyền, hợp đồng lao động Đối với doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật là điều kiện để doanh nghiệp có thể được thành lập hợp pháp, được vận hành và hoạt động bình thường Không những vậy, điều mà doanh nghiệp mong muốn nhất là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp sẽ sử dụng toàn bộ khả năng, tri thức, kinh nghiệm có được để thúc đẩy việc kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn
1.1.2.3 Nội dụng của quan hệ đại diện
Nội dung của quan hệ đại diện là quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong hành vi thực tế sử dụng các quyền và nghĩa vụ đó Quyền và nghĩa vụ của người đại diện được phát sinh trên cơ sở hành vi đại diện của người đại diện trong phạm vi và nội dung đại diện Do đó, để các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do người đại diện xác lập trở thành quyền và nghĩa vụ của người được đại diện, thì người xác lập giao dịch đó phải có quyền đại diện và phải thực hiện các công việc trong phạm
vi đại diện
Trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau, người đại diện có thể vượt quá phạm vi đại diện khi xác lập, thực hiện giao dịch hoặc giao dịch được xác lập, thực hiện do người không có quyền đại diện Việc không có quyền đại diện, có thể xuất phát từ việc: Cơ sở pháp lý trao quyền đại diện cho một người không có giá trị pháp lý như khi giao dịch ủy quyền vô hiệu, hoặc xuất phát từ việc không có cơ sở pháp lý nào trao cho người đại diện quyền đại diện như trường hợp: Giám đốc chi nhánh của pháp
Trang 13nhân hay phó giám đốc của công ty không có ủy quyền, đồng thời cũng không có quy định nào trao cho họ quyền này
Các vấn đề như nêu trên, pháp luật cũng đã dự liệu và quy định hậu quả pháp lý của những người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện - không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện đồng ý Bên cạnh đó, giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm
vi đại diện cũng không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối Tuy nhiên, nếu không được sự đồng ý thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện và tùy thuộc vào mức độ của hành vi vi phạm gây ra thiệt hại cho người được đại diện, người đại diện ngoài việc phải bồi thường thiệt hại cho người được đại diện, còn phải chịu các trách nhiệm pháp lý khác (nếu có)
1.1.3 Phân loại đại diện
1.1.3.1 Đại diện theo pháp luật
BLDS năm 2015 không đưa ra định nghĩa như thế nào là đại diện theo pháp luật mà chỉ liệt kê các trường hợp đại diện theo pháp luật của cá nhân (Điều 136) và đại diện theo pháp luật của pháp nhân (Điều 137) Thế nhưng, dựa vào quy định của Điều 135
BLDS năm 2015 về căn cứ xác lập quyền đại diện thì: Đại diện theo pháp luật là:“Đại
diện được xác lập thông qua quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật” Theo đó, BLDS năm 2015
đã bổ sung trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân là “Người do Tòa
án chỉ định trong quá trình tố tụng tại tòa án” Bên cạnh đó, LDN năm 2020 cũng
quy định: “Tòa án, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác có quyền chỉ định
người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.” Điều
này cho thấy, thẩm quyền của Tòa án đã được tăng cường hơn trong quá trình giải quyết các tranh chấp về đại diện nói chung và đại diện theo pháp luật nói riêng Như vậy, việc chỉ định của Tòa án cũng là một căn cứ làm phát sinh quyền đại diện của
Trang 14người đại diện theo pháp luật của pháp nhân Ví dụ điển hình là trường hợp chỉ định quản tài viên trong một vụ án phá sản doanh nghiệp (khoản 3, Điều 9; khoản 2, Điều
16 Luật Phá sản năm 2014)
BLDS năm 2015 đã mở rộng quyền cho người đại diện và người được đại diện, khi quy định một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật Theo đó, điều lệ của pháp nhân sẽ quy định cụ thể về số lượng, chức danh quản lý, và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân Đồng thời, BLDS năm
2015 cũng cho phép một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau, nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Theo tác giả, đây
là quy định tiến bộ và có thể lý giải cho sự cải cách đó là xuất phát từ thực tiễn hoạt động của pháp nhân, mà chủ yếu là các doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo quyền tự
do kinh doanh cho các doanh nghiệp và thống nhất với LDN năm 2020
1.1.3.2 Đại diện theo ủy quyền
Tương tự như quy định về đại diện theo pháp luật, BLDS năm 2015 cũng không đưa ra định nghĩa thế nào là đại diện theo ủy quyền Tuy nhiên, dựa vào quy định tại
Điều 135 BLDS năm 2015 về căn cứ xác lập quyền đại diện, có thể hiểu: “Đại diện
theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện” Người đại diện theo ủy quyền phải có năng lực giao kết hợp đồng,
cụ thể là năng lực giao kết hợp đồng ủy quyền Trong trường hợp đại diện là cá nhân thì trên nguyên tắc phải có đủ năng lực hành vi dân sự Tuy nhiên, cũng có trường hợp ngoại lệ là người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi vẫn có thể đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người đủ 18 tuổi trở lên xác lập thực hiện
Khác với đại diện theo pháp luật, đại diện theo ủy quyền là trường hợp quan hệ đại diện được xác lập theo ý chí của hai bên – bên đại diện và bên được đại diện, biểu hiện được thông qua văn bản uỷ quyền Nội dung ủy quyền, phạm vi, thẩm quyền đại
Trang 15diện và trách nhiệm của người đại diện theo ủy quyền được xác định thông qua sự thỏa thuận của người đại diện và người được đại diện
Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân pháp nhân khác đại diện cho mình xác lập thực hiện các hành vi pháp lý trong khuôn khổ nội dung ủy quyền đã thoả thuận với người được đại diện Người đại diện theo ủy quyền phải trực tiếp thực hiện các giao dịch dân sự theo nội dung đã thỏa thuận Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người đại diện theo ủy quyền có thể ủy quyền lại cho một người khác thực hiện thay thẩm quyền đại diện của mình
Đối với doanh nghiệp, không bắt buộc phải có đại diện uỷ quyền, nhưng phải
có người đại diện theo pháp luật, vì nếu không có người đại diện theo pháp luật thì doanh nghiệp sẽ không tự vận hành và hoạt động được
1.2 Sự khác nhau giữa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp với các quan hệ đại diện khác
1.2.1 Sự khác nhau giữa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp với người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp
Khác với đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, đại diện theo ủy quyền là trường hợp quan hệ đại diện được xác lập theo ý chí của hai bên – bên đai diện và bên được đại diện Do vậy, để một giao dịch được xác lập một cách có giá trị thông qua vai trò của người đại diện, thì người này phải có quyền đại diện và phải bày tỏ ý chí giao kết với tư cách người đại diện
Ủy quyền là phương tiện pháp lý cần thiết tạo điều kiện cho cá nhân, pháp nhân
và các chủ thể khác của quan hệ dân sự, bằng nhiều hình thức khác nhau có thể tham gia vào giao dịch dân sự một cách thuận lợi nhất, bảo đảm thoả mãn nhanh chóng các lợi ích vật chất, tinh thần mà chủ thể quan tâm
Giữa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp có một số điểm khác biệt cơ bản như sau:
Thứ nhất, về quyền nhân danh doanh nghiệp: Người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp được pháp luật trao quyền quản lý tài sản của doanh nghiệp, quản lý
Trang 16con dấu, được nhân danh doanh nghiệp để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp Còn người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp là người được người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ủy quyền để thực hiện một hoặc một số quyền
và nghĩa vụ nhất định, tùy thuộc vào nội dung và phạm vi ủy quyền Khác với người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp sẽ không có quyền đương nhiên nhân danh doanh nghiệp để thực hiện các quyền và nghĩa vụ liên quan đến doanh nghiệp, mà chỉ được nhân danh doanh nghiệp
trong phạm vi ủy quyền
Thứ hai, về quyền ủy quyền cho người khác: Đối với người đại diện theo pháp
luật của doanh nghiệp, thì họ có quyền ủy quyền cho người khác để thực hiện quyền
và nghĩa vụ của doanh nghiệp do mình đại diện theo pháp luật Chẳng hạn như: Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thể ủy quyền cho phó giám đốc,… thực hiện một số quyền và nghĩa vụ nhất định của doanh nghiệp hoặc trường hợp người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày, thì phải ủy quyền cho người khác đại diện để thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Trong khi đó, người đại diện theo
ủy quyền của doanh nghiệp sẽ không được đương nhiên ủy quyền lại cho người khác
để thực hiện quyền và nghĩa vụ đại diện cho doanh nghiệp mà mình đã được ủy quyền,
trừ trường hợp người ủy quyền đồng ý
Thứ ba, về thù lao đại diện: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
không hưởng thù lao đại diện, mà chỉ hưởng thù lao chức vụ Còn đối với người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp có thể có thù lao đại diện, thù lao đại diện do
các bên thỏa thuận
Thứ tư, về thời hạn đại diện: Thời hạn đại diện của người đại diện theo pháp
luật của doanh nghiệp gắn với nhiệm kỳ hoặc được ghi trên Giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp, quyết định bổ nhiệm hoặc hợp đồng lao động được ký kết bởi chủ
sở hữu doanh nghiệp Trong khi đó, thời hạn đại diện của người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp được thể hiện rõ ở văn bản ủy quyền; trường hợp các bên
Trang 17không ghi rõ thời hạn uỷ quyền thì pháp luật ấn định thời hạn uỷ quyền là một năm
kể từ ngày các bên ký uỷ quyền
Thứ năm, quy định về điều kiện cư trú tại Việt Nam: Người đại diện theo pháp
luật của doanh nghiệp phải cư trú tại Việt Nam Ngược lại, người đại diện theo ủy
quyền của doanh nghiệp không bị ràng buộc về điều kiện cư trú
Tóm lại, có thể thấy trong cùng một doanh nghiệp, địa vị pháp lý của người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp và người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp là khác nhau Sự khác nhau này là hoàn toàn hợp lý để phân định quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của mỗi người khi thực hiện quan hệ đại diện cho doanh nghiệp
1.2.2 Sự khác nhau giữa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp với người đại diện theo pháp luật của các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị - xã hội
Doanh nghiệp hay cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập hoặc tổ chức chính trị xã hội, đều là tổ chức có tư cách pháp nhân Do vậy, các tổ chức này cần phải cử ra người đại diện theo pháp luật để thay mặt thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình hoặc xác lập thực hiện giao dịch với bên thứ ba Tuy nhiên, giữa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp với người đại diện theo pháp luật của cơ quan
tổ chức cũng có những điểm khác biệt như sau:
Thứ nhất, về căn cứ hình thành tư cách đại diện: Đối với người đại diện theo
pháp luật của doanh nghiệp, tư cách của người đại diện được hình thành dựa vào quy định của LDN và điều lệ công ty,… Còn người đại diện theo pháp luật của cơ quan đơn vị sự nghiệp công lập, hoặc tổ chức chính trị xã hội thì tư cách đại diện được hình thành dựa vào các quy định pháp luật liên quan đến từng loại hình của cơ quan, tổ chức đó và do bầu cử hoặc cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm theo những trình tự, thủ tục nhất định
Thứ hai, về luật áp dụng: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp áp
dụng các quy định của BLDS và LDN Trong khi đó, người đại diện theo pháp luật của cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, hoặc tổ chức chính trị xã hội áp
Trang 18dụng các quy định của Luật Cán bộ công chức, Luật Viên chức, Luật Công đoàn, Luật Giáo dục đại học,…
Thứ ba, về nghĩa vụ thông báo tư cách người đại diện: Đối với người đại diện
theo pháp luật của doanh nghiệp, khi được doanh nghiệp cử ra thì doanh nghiệp phải
có nghĩa vụ đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh, và thông báo công khai trên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp của người đại diện theo pháp luật Còn người đại diện theo pháp luật của cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị xã hội khi được bầu cử hay bổ nhiệm làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, mà chỉ thông báo họ tên và chữ ký cho các cơ quan có liên quan
Thứ tư, về thời hạn đại diện: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
có thời hạn đại diện theo nhiệm kỳ, hoặc được ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hoặc hợp đồng lao động Còn người đại diện theo pháp luật của cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị xã hội có thời hạn theo nhiệm kỳ
và không được quá hai nhiệm kỳ liên tiếp
Thứ năm, quy định về quốc tịch của người đại diện: Đối với doanh nghiệp, pháp
luật không bắt buộc người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam mà vẫn có thể là người nước ngoài Trong khi đó, người đại diện theo pháp luật của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị xã hội tuy pháp luật không quy định bắt buộc phải là công dân Việt Nam, nhưng do đặc thù của quản lý hành chính và quản lý tài sản công, cho nên, tất cả các cơ quan Nhà nước hiện nay đều bổ nhiệm người đứng đầu đại diện theo pháp luật là công dân Việt Nam
Thứ sáu, về điều kiện cư trú của người đại diện: Người đại diện theo pháp luật
của doanh nghiệp phải cư trú tại Việt Nam, nếu vắng mặt quá 30 ngày thì bắt buộc phải ủy quyền cho người khác để thực hiện quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp Đối với người đại diện theo pháp luật của cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị xã hội, pháp luật không quy định cụ thể về điều kiện cư trú
Có thể thấy, tuy cùng là người đại diện theo pháp luật của một pháp nhân trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng các quy định về địa vị của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, và người đại diện theo pháp luật của cơ quan Nhà nước, đơn vị sự
Trang 19nghiệp, tổ chức chính trị xã hội còn có nhiều điểm khác nhau Điều này có thể xuất phát từ lý do tài sản của doanh nghiệp có thể là tài sản của Nhà nước, hoặc của cá nhân trong và ngoài nước, còn tài sản của cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị xã hội là thuộc về ngân sách quốc gia Do đó, cơ chế quản lý đối với doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị xã hội cũng không giống nhau
1.2.3 Sự khác nhau giữa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp với người đại diện theo pháp luật của cá nhân
Doanh nghiệp là một tổ chức, nên phải hành động thông qua người đại diện, còn
cá nhân, về nguyên tắc có thể tự mình thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình không cần người đại diện Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, trong một số trường hợp đặc biệt, pháp luật đã quy định một số trường hợp đại diện theo pháp luật của cá nhân như: cha, mẹ đại diện cho con chưa thành niên, con bị mất năng lực hành vi dân
sự hoặc được Tòa án chỉ định…
Giữa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp với người đại diện của cá nhân có một số điểm khác biệt như sau:
Thứ nhất, về trường hợp đại diện: Người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp: Doanh nghiệp với tư cách là một tổ chức, mọi hoạt động của doanh nghiệp nói chung đều thông qua người đại diện theo pháp luật Do đó, doanh nghiệp cần có người đại diện theo pháp luật để xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ cho doanh nghiệp Trong khi đó, người đại diện theo pháp luật của cá nhân xuất hiện với các lý do: Mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự…
Thứ hai, về quyền của người đại diện: Người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp được nhân danh doanh nghiệp để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp Còn đối với người đại diện theo pháp luật của cá nhân được quyền trực tiếp thay mặt người được đại diện - để thực hiện quyền và nghĩa vụ của người được đại diện, hoặc đồng ý để cho người được đại diện thực hiện một số quyền liên quan đến nhân thân mà pháp luật bắt buộc phải do cá nhân đó thực hiện như kết hôn, bầu cử, ứng cử,…
Trang 20Thứ ba, về thời hạn đại diện: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
có thời hạn đại diện gắn với nhiệm kỳ, hoặc theo hợp đồng lao động, hoặc thời hạn ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Còn đối với người đại diện theo pháp luật của cá nhân, pháp luật không có quy định thời hạn đại diện, tuy nhiên sự kiện đại diện sẽ được chấm dứt theo quy định của pháp luật
Thứ tư, quy định về cư trú: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải
cư trú tại Việt Nam, nếu vắng mặt quá 30 ngày phải ủy quyền lại cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ đại diện cho doanh nghiệp Trong khi đó, ngưởi đại diện theo pháp luật của cá nhân không bị ràng buộc điều kiện cư trú tại Việt Nam
Thứ năm, về chấm dứt quan hệ đại diện: Người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp chấm dứt tư cách đại diện khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, hoặc doanh nghiệp thay đổi người đại diện khác Còn đối với người đại diện theo pháp luật của cá nhân, quan hệ đại diện chấm dứt khi: Cá nhân đã có đầy đủ hoặc đã khôi phục năng lực hành vi dân sự, người đại diện hoặc người được đại diện chết
Từ những phân tích trên cho thấy: Tuy đều là người đại diện theo pháp luật, nhưng người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và người đại diện theo pháp
luật của cá nhân vẫn có nhiều điểm khác biệt
1.3 Khái quát về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
1.3.1 Khái niệm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Theo từ điển Luật học, người đại diện theo pháp luật là: “Người đại diện do
pháp luật quy định hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định mà không phải
do các bên thỏa thuận” Sự giải thích này về người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp lại thiên về góc độ pháp lý, và phân biệt giữa đại diện theo pháp luật với đại diện theo ủy quyền
Ở Việt Nam, trước đây, LDN năm 2005 không đưa ra khái niệm về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, mà quy định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chỉ nằm rải rác ở các điều luật quy định về cơ cấu tổ chức, quản lý của các loại hình doanh nghiệp Tuy nhiên, LDN năm 2014 đã thể hiện bước tiến khi
có một điều khoản dành riêng để quy định về người đại diện theo pháp luật Theo đó,
Trang 21khoản 1 Điều 13, LDN năm 2014 quy định: “Người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án
và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”
Khoản 1, Điều 12 LDN năm 2020 tiếp tục kế thừa và quy định rõ: “Người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa
vụ khác theo quy định của pháp luật.”
1.3.2 Đặc điểm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
1.3.2.1 Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân
Pháp nhân cũng có thể là đại diện cho doanh nghiệp hay pháp nhân khác, nhưng
để có thể thực hiện vai trò đại diện thì cuối cùng vẫn phải có một người cụ thể - là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, hoặc người được ủy quyền; tức là, pháp nhân chỉ có thể là đại diện theo ủy quyền, chứ không thể là đại diện theo pháp luật của cá nhân hay pháp nhân khác Bởi vì, khác với cá nhân, pháp nhân không có sự lựa chọn nào khác là người được đại diện, do pháp nhân không thể hiện bản thân được nên chúng chỉ có thể biểu hiện ra bên ngoài thông qua trung gian của một cá nhân, có nghĩa là đại diện theo pháp luật của pháp nhân được thiệt lập do bản thân pháp nhân không phải là con người, và do đó không thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa
vụ của mình Điều này đã thể hiện rõ khi Điều 136 và Điều 137 BLDS năm 2015 đã liệt kê các trường hợp đại diện theo pháp luật của cá nhân và pháp nhân đều là con người (là cá nhân, chứ không xuất hiện pháp nhân làm đại diện theo pháp luật của cá nhân và pháp nhân)
Đối với doanh nghiệp, pháp luật quy định rõ: Người đại diện theo pháp luật cũng phải là một cá nhân cụ thể, có năng lực hành vi dân sự Hơn nữa, do xuất phát
từ đặc trưng của hoạt động kinh doanh, người quản lý doanh nghiệp phải là người có
Trang 22năng lực hành vi dân sự đầy đủ, để có thể thực hiệc và chịu trách nhiệm cá nhân trước các hành vi quản lý, điều hành của mình
1.3.2.2 Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người quản lý doanh
nghiệp
Đặc điểm này tuy không được thể hiện trong khái niệm được nêu tại khoản 1 Điều 12 LDN năm 2020 Tuy nhiên, thông qua các quy định nằm rải rác trong LDN năm 2020, chúng ta có thể thấy được đặc điểm này Cụ thể là đối với loại hình công
ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật tùy thuộc vào nhu cầu của công ty và những người đại diện theo pháp luật của công ty phải có những chức danh quản lý cụ thể được quy định trong Điều
lệ (khoản 2 Điều 12 LDN năm 2020) Đối với công ty hợp danh thì thành viên hợp danh là người đại diện theo pháp luật (khoản 1 Điều 184) Còn đối với doanh nghiệp
tư nhân thì chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật (khoản 2 Điều 190) Những chức danh quản lý này có thể là Chủ tịch HĐTV, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, hay các cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty do Điều lệ quy định như Giám đốc nhân sự, Giám đốc chi nhánh hay Trưởng phòng kinh doanh,…
Những người đại diện theo pháp luật nêu trên là những người quản lý doanh nghiệp được liệt kê ở khoản 24, Điều 4, LDN năm 2020 Như vậy, các chức danh quản lý phải có thẩm quyền nhân danh công ty, ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại điều lệ, thì mới được xem là người quản lý doanh nghiệp Cho nên, vô hình trung, quy định này đã thể hiện người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người quản lý doanh nghiệp Theo tác giả, việc quy định như vậy là khá chặt chẽ, nhằm tạo cho việc quản trị của doanh nghiệp được thống nhất Bởi lẽ, việc trao cho một người có quyền nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp thực hiện các quyền
và nghĩa vụ, nhưng lại không trao cho họ nắm giữ quyền quản lý thì họ không thể chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó một cách trọn vẹn được Hơn nữa, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải là người quản lý để có thể tối đa hóa các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đã trao cho họ
Trang 23Người đại diện theo pháp luật là người quản lý doanh nghiệp, nhưng ngược lại người quản lý doanh nghiệp chưa chắc là người đại diện theo pháp luật, ví dụ: Trường hợp điều lệ của công ty quy định chủ tịch hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của công ty, giám đốc cũng là người quản lý công ty những lại không phải người đại diện theo pháp luật của công ty - vì Điều lệ không quy định Ngoài ra, cũng cần phân biệt người quản lý doanh nghiệp với nhân viên quản lý doanh nghiệp Đây
là hai thuật ngữ có bản chất không giống nhau Theo đó, người quản lý doanh nghiệp
là người quản lý công ty, còn nhân viên quản lý được hiểu là những người đứng đầu
bộ phận trong công ty (như kế toán, nhân sự…) – là bộ phận giúp việc cho những người quản lý doanh nghiệp Họ hỗ trợ bằng cách cung cấp cho người quản lý doanh nghiệp thông tin và đưa ra những lời tư vấn Những người nhân viên quản lý doanh nghiệp này thường không được phép đưa ra những quyết định nhân danh công ty
1.3.2.3 Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người lao động đặc
biệt
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được coi là “người lao động
đặc biệt” Ở họ, một mặt ngoài việc lao động tri óc theo năng lực, chuyên môn và
kinh nghiệm của mình, mặt khác họ còn đóng vai trò là người quản lý, người nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp xác lập, thực hiện các giao dịch với các đối tác Bên cạnh đó, số lượng người đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp có thể chỉ là một người duy nhất (đối với doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật), hoặc chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (đối với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty cổ phần) trong số lượng đông đảo người lao động của một doanh nghiệp Hơn nữa,
họ còn là nguồn nhân lực có năng lực và trình độ cao trong bảng phân vùng chất lượng lao động
Ngoài ra, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp còn thể hiện điểm đặc biệt ở chỗ là: Họ phải đáp ứng nhiều điều kiện và tiêu chuẩn để trở thành người đại diện theo pháp luật hợp pháp của doanh nghiệp, điển hình như: Phải có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ, có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh của công ty,… Cũng do vậy, mà họ được trao nhiều quyền và nghĩa vụ hơn những người
Trang 24lao động bình thường khác, ví dụ điển hình như: Nhân danh doanh nghiệp trong việc xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, tố tụng,…; ký vào điều lệ công ty; ký tên trên cổ phiếu hoặc giấy chứng nhân góp vốn; ký báo cáo tài chính của doanh nghiệp;… Và dĩ nhiên, họ cũng phải chịu nhiều trách nhiệm hơn Chẳng hạn như trách nhiệm đăng ký thay đổi nội dung giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có thay đổi; thực hiện công bố thông tin và phải chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, kịp thời, trung thực và chính xác của thông tin được công bố; chịu trách nhiệm về thiệt hại do những sai sót trong nội dung
và hình thức cổ phiếu do công ty phát hành ra;… Đặc biệt là doanh nghiệp không thể không có người đại diện theo pháp luật, và còn phải đảm bảo rằng luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam
1.3.3 Căn cứ xác lập quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Có ý kiến cho rằng: Chỉ có hai căn cứ để xác lập quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, đó là: Theo quy định của pháp luật và theo điều lệ của doanh nghiệp Tác giả không đồng tình với quan điểm trên, bởi vì: Theo quy định tại khoản 1, Điều 137 BLDS năm 2015, và LDN năm 2020 thì có thể khẳng định: Có đến ba căn cứ để xác lập quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, đó là: Theo điều lệ của doanh nghiệp, theo quy định của pháp luật
và theo quyết định của Tòa án
1.3.3.1 Theo điều lệ của doanh nghiệp
Căn cứ này chỉ đặt ra đối với người đại diện theo pháp luật trong loại hình công
ty cổ phần, công ty trách nhiện hữu hạn hay công ty hợp danh, mà không đặt ra đối với doanh nghiệp tư nhân, bởi vì doanh nghiệp tư nhân không có Điều lệ BLDS năm
2015 cũng đã có quy định thống nhất với LDN năm 2020 khi bổ sung căn cứ xác lập quyền đại diện là “theo Điều lệ của pháp nhân” Xét ở khía cạnh đảm bảo quyền tự
do kinh doanh, LDN năm 2020 cho doanh nghiệp được toàn quyền quyết định số lượng người đại diện theo pháp luật, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể hội nhập nhanh hơn, tận dụng mọi cơ hội kinh doanh thông qua các đại diện theo pháp luật
Trang 25Đồng thời, quy định này sẽ góp phần tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp trong trường hợp người đại diện duy nhất của doanh nghiệp bất hợp tác, không thực hiện các yêu cầu của thành viên hoặc cổ đông trong quá trình quản lý, điều hành doanh nghiệp, trong nội bộ cũng như giao dịch với bên ngoài công ty Tuy nhiên, có thể sẽ
gây khó khăn trong quá trình vận dụng, vì: “điều lệ của pháp nhân cho dù được công
bố vẫn chỉ là quy định nội bộ để ràng buộc những người của pháp nhân, không thể làm cơ sở để ràng buộc người ngoài Thực tế, điều lệ của pháp nhân thường rất dài, khó hiểu, và đối tác không thể đọc toàn bộ điều lệ của pháp nhân mỗi khi xác lập giao dịch với pháp nhân… chưa kể đến trường hợp điều lệ pháp nhân thay đổi theo thời gian và vì quá dài nên có thể có những trang bị thay thế mà đối tác không thể kiểm chứng” Hơn nữa, các đối tác của công ty không phải lúc nào cũng tiếp cận được
điều lệ và không bảo đảm việc xác định được chính xác nội dung phân quyền, cũng như bản điều lệ nào có hiệu lực thật sự Chính vì vậy, có ý kiến cho rằng: Đây là một
sự bổ sung nguy hiểm đối với các bên tham gia vào giao dịch, vì điều lệ chỉ là quy định nội bộ của pháp nhân nhưng lại có nguy cơ để khai thác chống lại người thứ ba Đối với loại hình công ty cổ phần, Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 LDN năm
2020 quy định: “…công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo
pháp luật Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Nếu công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật thì Điều lệ công ty quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật Trường hợp việc phân chia quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật chưa được quy định rõ trong Điều
lệ công ty thì mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba; tất cả người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan”
Như vậy, điều lệ của công ty phải quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Pháp luật đã trao cho doanh nghiệp quyền tự định đoạt số lượng, chức danh quản lý, quyền và
Trang 26nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật trong điều lệ, tức là - cũng đồng nghĩa với việc: Bản điều lệ là căn cứ để xác lập quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật Điều này phần nào thể hiện nguyên tắc tôn trọng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp cũng như quyền định đoạt của chủ sở hữu doanh nghiệp
Mặc dù, pháp luật có những quy định mở trao cho doanh nghiệp quyền tự định đoạt một số vấn đề về người đại diện theo pháp luật vào điều lệ của công ty, nhưng các nội dung được quy định trong điều lệ của công ty không được trái với quy định của pháp luật Chẳng hạn như: Đối với công ty có nhiều người đại diện theo pháp luật thì điều lệ của công ty không được phép quy định: “Tất cả những người đại diện theo pháp luật của công ty đều có thể cư trú ở nước ngoài”, trong khi LDN năm 2020 kế thừa quy định từ LDN năm 2014, tiếp tục quy định doanh nghiệp phải đảm bảo luôn
có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam Mặc dù, LDN năm
2020 không có quy định nào thể hiện rõ việc: Những quy định trong điều lệ của công
ty không được trái với quy định của pháp luật Tuy nhiên, đối với Công ty cổ phần đại chúng, điều lệ công ty không chỉ được Đại hội đồng cổ đông thông qua, mà còn phải không được trái với LDN, Luật chứng khoán, các quy định tại Nghị định số 71/2017/NĐ-CP và văn bản pháp luật có liên quan
1.3.3.2 Theo quy định của pháp luật
Trong khuôn khổ giới hạn của luận văn này, tác giả chỉ đối chiếu quy định của pháp luật đối với loại hình công ty cổ phần, thì: Điều lệ công ty cổ phần sẽ quy định
về số lượng, chức danh, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật (như đã phân tích trên) Trái lại, nếu Điều lệ công ty cổ phần không quy định, trường hợp này pháp luật cũng đã dự liệu trước bằng cách quy định những người đại diện theo pháp luật đương nhiên của công ty cổ phần; theo đó, trường hợp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì Chủ tịch HĐQT hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty; trường hợp có hơn một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch HĐQT và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương nhiên là người đại diện theo pháp luật của công ty Những quy định của pháp luật nêu trên là căn cứ quan
Trang 27trọng để xác lập quyền đại diện cho người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần
1.3.3.3 Theo quyết định của Tòa án
Trong một số trường hợp đặc biệt, để đảm bảo cho quá trình tố tụng tại Tòa án được diễn ra theo đúng trình tự thủ tục, Tòa án có thẩm quyền sẽ chỉ định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Tại khoản 1 Điều 87, và khoản 1 Điều 88 BLTTDS năm 2015 quy định: Toà án phải chỉ định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp để tham gia tố tụng tại Tòa án trong trường hợp:
Một là, nếu người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cũng là đương sự
trong cùng một vụ việc với doanh nghiệp mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp;
Hai là, nếu người đại diện theo pháp luật đang là người đại diện theo pháp luật
trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác, mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp trong cùng một vụ việc
Có thể lý giải cho việc quy định này của pháp luật tố tụng nhằm tránh xung đột
về lợi ích của cá nhân người đại diện theo pháp luật và doanh nghiệp mà họ đại diện Cũng theo khoản 2 Điều 47 Luật Phá sản năm 2014, trường hợp xét thấy người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không có khả năng điều hành, doanh nghiệp
có dấu hiệu vi phạm khoản 1 Điều 48 của Luật Phá sản năm 2014, thì thẩm phán ra quyết định thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo đề nghị của chủ nợ hoặc Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản Trong những trường hợp nêu trên, không phụ thuộc vào điều lệ của doanh nghiệp hay ý chí của chủ
sở hữu doanh nghiệp, Tòa án có quyền chỉ định người đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng tại Tòa án
Trang 281.4 Phân loại người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
1.4.1 Đại diện theo pháp luật theo loại hình doanh nghiệp
- Người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu, Khoản 3 Điều 79 LDN năm 2020 quy định:“Công ty phải có ít nhất một người đại diện theo pháp luật là người giữ một trong các chức danh là Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp Điều lệ công ty không quy định thì Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty là người đại diện theo pháp luật của công ty.”;
- Người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu, khoản 1, Điều 85 LDN năm 2020 quy định:“Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu có Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc… Chủ sở hữu công ty là Chủ tịch công ty và có thể kiêm hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc”
- Người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần, LDN năm 2020 kế thừa tinh thần của LDN năm 2014, tiếp tục cho phép loại hình công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty Trường hợp chỉ có một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch HĐQT hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty; trường hợp điều lệ không có quy định khác thì Chủ tịch HĐQT là người đại diện theo pháp luật của công ty Trường hợp có hơn một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch HĐQT và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương nhiên là người đại diện theo
pháp luật của công ty
- Người đại diện theo pháp luật của công ty hợp danh, khoản 1, điều 184 LDN
năm 2020 quy định: “Các thành viên hợp danh là người đại diện theo pháp luật của
công ty và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty Mọi hạn chế đối với thành viên hợp danh trong thực hiện công việc kinh doanh hằng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với bên thứ ba khi người đó được biết về hạn chế đó”
Như vậy, không giống với các loại hình doanh nghiệp khác, chỉ có một người hoặc
Trang 29có thể hơn một người làm đại diện theo pháp luật, trong công ty hợp danh thì tất cả
các thành viên hợp danh đều có quyền đại diện theo pháp luật cho công ty
- Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân, khoản 3, điều 190
LDN năm 2020 quy định: “Chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp
luật, đại diện cho doanh nghiệp tư nhân với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án, đại diện cho doanh nghiệp tư nhân thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.”
1.4.2 Người đại diện theo pháp luật được phân chia theo chức vụ quản lý
Căn cứ vào chức vụ quản lý của doanh nghiệp, theo LDN năm 2020, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thể là:
người đại diện, thì trong loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, giám đốc hoặc tổng giám đốc sẽ là người đại diện theo pháp luật
1.4.3 Người đại diện theo pháp luật được phân chia theo quốc tịch
Căn cứ theo quốc tịch thì người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thể là:
định: “Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam
theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này” Như
vậy, thì tất cả cá nhân là công dân Việt Nam, không thuộc trường hợp bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp đều có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, và khi
có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp thì cá nhân đó cũng có quyền trở thành
người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Trang 30- Người nước ngoài: Cũng theo quy định tại khoản 1 Điều 17 LDN năm 2020
(như trích dẫn trên), người nước ngoài khi đến đầu tư ở Việt Nam, hoặc được doanh nghiệp Việt Nam thuế (trừ doanh nghiệp Nhà nước) làm quản lý và không thuộc trường hợp bị pháp luật Việt Nam cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp, thì cũng
có thể trở thành người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Tuy nhiên, người nước ngoài nếu làm đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tại Việt Nam thì bắt buộc phải cư trú hợp pháp tại Việt Nam, đồng thời còn tuân thủ pháp luật về quản lý xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú đối với người nước ngoài, pháp luật về thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và các quy định có liên quan
1.4.4 Phân chia người đại diện theo số lượng người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Căn cứ quy định của LDN năm 2020, thì doanh nghiệp “…có thể có một hoặc
nhiều người đại diện theo pháp luật Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Nếu công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật thì Điều lệ công ty quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật Trường hợp việc phân chia quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật chưa được quy định rõ trong Điều lệ công ty thì mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều
là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba; tất cả người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan” Do đó, có thể chia thành:
1.5 Vai trò của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Qua quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tiễn của doanh nghiệp đã chứng minh rõ vai trò của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, đây là vị trí “đầu tàu”, định hướng, dẫn dắt các hoạt động phát triển của doanh nghiệp Cũng
Trang 31bởi doanh nghiệp là một thực thể do pháp luật đặt ra, tự bản thân nó không thể trực tiếp tham gia các giao dịch được mà phải thông qua người đại diện theo pháp luật
Do đó, pháp luật nói chung đều thống nhất quy định: Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải có ít nhất một người đại diện theo pháp luật Người đại diện theo pháp luật được pháp luật quy định hoặc doanh nghiệp cử ra với vai trò là người đại diện, thay mặt cho toàn bộ doanh nghiệp thực hiện hoạt động đối nội (tổ chức, vận hành bộ máy doanh nghiệp) và đối ngoại (tiếp xúc, giao dịch, thực hiện nhiệm vụ với các chủ thể bên ngoài) Vì vậy, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ra đời và tồn tại song hành cùng với doanh nghiệp, là một trong những nội dung quan trọng, được ghi nhận ngay trên giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Để một doanh nghiệp hoạt động bình thường, thì không thế khuyết thiếu người đại diện theo pháp luật, dù chỉ trong một thời gian ngắn Bởi vì, nếu không có người đại diện theo pháp luật, thi sẽ dẫn dến nguy cơ đình trệ hoạt động của doanh nghiệp, thậm chí còn có thể rơi vào tình trạng bế tắc, không lối thoát Vì vậy, người đại diện theo pháp luật được coi là một chế định pháp luật rất quan trọng đối với doanh nghiệp Bởi sự tồn tại của một doanh nghiệp luôn gắn với sự tồn tại của người đại diện theo pháp luật với những vai trò sau:
thường Khi nộp hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp, trong nội dung hồ sơ đề nghị
đăng ký thành lập doanh nghiệp phải thể hiện rõ các thông tin của người đại diện theo
pháp luật; và trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp phải đảm bảo luôn có ít nhất
một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam Đối với doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật, thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và nếu phải xuất cảnh khỏi Việt Nam thì phải ủy quyền bằn văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về hoạt động của người được ủy quyền Tuy nhiên, trong trường hợp người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác, hoặc
bị chết, mất tích, tạm giam, kết án tù, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì
Trang 32chủ sở hữu công ty, HĐTV, HĐQT cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
phát sinh các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp Chẳng hạn như: xác lập, ký kết
các hợp đồng; là người đại diện cho doanh nghiệp tham gia tố tụng…
nghiệp là một thực thể được hình thành từ nguồn vốn của các chủ sở hữu Quá trình hoạt động, doanh nghiệp không tồn tại một cách đơn lẻ mà có sự liên kết với các chủ thế khác như: quan hệ với chủ sở hữu, với người lao động, với các đối tác, khách hàng, cơ quan Nhà nước,… Trong nội bộ doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp như tổ chức và điều hành các hoạt động kinh doanh, tổ chức nhân sự, quản lý, sử dụng tài khoản, con dấu của doanh nghiệp Có rất nhiều mối quan hệ nảy sinh giữa người đại diện theo pháp luật và các thành viên khác của doanh nghiệp Trong mối quan hệ với chủ sở hữu, người đại diện theo pháp luật đóng vai trò thay mặt chủ sở hữu thực hiện việc quản lý công ty cho họ, mà trong đó bao gồm cả thầm quyền ra những quyết định nhất định để hành động vì lợi ích của công ty cũng như định đoạt tài sản công ty Đồng thời, người đại diện cho doanh nghiệp cùng với chủ sở hữu doanh nghiệp hoạch định các chiến lược kinh doanh của công ty, góp phần nâng cao giá trị tài sản góp vốn của các chủ sở hữu Đối với các thành viên khác trong doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật thường là người có vai trò lãnh đạo, quản lý nhân viên cấp dưới, góp phần thay đổi cơ cấu sản phẩm, dịch vụ một cách năng động và có hiệu quả Còn trong mối quan hệ với khác hàng và các bên liên quan khác, người đại diện chính là người thay mặt cho doanh nghiệp trong các mối quan hệ đối ngoại Chữ ký của người đại diện theo pháp luật trên một văn bản của doanh nghiệp nằm ở chỗ ràng buộc doanh nghiệp vào nội dung văn bản Hành vi của người đại diện chính là chứng cứ pháp lý để ràng buộc tránh nhiệm của doanh nghiệp Bên cạnh đó, thông qua hành vi của người đại diện, các cơ quan quản lý Nhà nước có thể kiểm soát, đánh giá ý chức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, để có những biện pháp xử lý, can thiệp kịp
Trang 33thời nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển lành mạnh theo khuôn khổ pháp luật Đồng thời, người đại diện theo pháp luật nhân danh doanh nghiệp để thực hiến đúng các thủ tục như: Đăng ký doanh nghiệp, đóng thuế, nộp phạt,… theo đúng yêu cầu, giúp cho các hoạt động của doanh nghiệp được vận hành một các bình thường và dễ dàng hơn Khi có tranh chấp phát sinh, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
sẽ đóng vai trò với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài và Tòa án Đối với những người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền, họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong phạm vi ủy quyền, đồng thời chịu trách nhiệm trước người đại diện theo pháp luật và doanh nghiệp về việc thực hiện các công việc được ủy quyền
Với những vài trò quan trọng nêu trên, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đã hiện thực hóa ý chí, mục tiếu chiến lược của doanh nghiệp Đồng thời, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là kênh thông tin phản ánh kịp thời, hiệu quả cho chủ sở hữu về tình trạng, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và các thông tin liên quan của doanh nghiệp để chủ sở hữu có những quyết sách kịp thời Thực tiễn cũng đã cho thấy sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào năng lực cũng như kết quả hoạt động của những người đại diện theo pháp luật Chính vì vậy, vấn đề quan trọng đặt ra là phải xây dựng một chế định người đại diện theo pháp luật ngày càng hoàn thiện hơn, dễ tiếp cận hơn để giúp cho doanh nghiệp chủ động, tự tin hơn trong hoạt động kinh doanh của mình
1.6 Những điểm mới về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2020
LDN năm 2020 sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 Theo đó, nhiều nội dung liên quan đến người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có sự thay đổi đáng kể
1.6.1 Bổ sung vai trò cho người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Tại khoản 1, Điều 12, LDN năm 2020 quy định: “Người đại diện theo pháp luật
của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa
vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách
Trang 34người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”
Như vậy, so với quy định tương ứng tại khoản 1, Điều 13 LDN năm 2014, thì quy định mới đã bổ sung thêm cho người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
vai trò là “người yêu cầu giải quyết việc dân sự” Vai trò này thống nhất với quy định
tại Điều 68, Điều 69 của BLTTDS năm 2015; theo đó, trường hợp cơ quan, tổ chức yêu cầu giải quyết việc dân sự thì người tham gia tố tụng là người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó
Có thể thấy, LDN 2020 đã chính thức ghi nhận vai trò đại diện cho doanh nghiệp yêu cầu giải quyết việc dân dân sự của người đại diện theo pháp luật, mà trước đó đã được BLTTDS năm 2015 quy định
1.6.2 Bổ sung trách nhiệm liên đới nếu gây thiệt hại cho doanh nghiệp
Lần đầu tiên, LDN 2014 quy định: Công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn được có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật Điều lệ công ty phải quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật
Kế thừa quy định của LDN năm 2014, LDN năm 2020 tiếp tục ghi nhận nội dung Công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn được có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật, nhưng quy định mới đã rõ ràng hơn về trường hợp doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật Khoản 2, Điều 12 LDN 2020 nêu: Trường hợp công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật thì điều lệ công
ty quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật Trường hợp việc phân chia quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật không quy định rõ trong Điều lệ công ty thì mỗi người đại diện theo pháp luật đều có đủ thẩm quyền đại diện cho doanh nghiệp trước bên thứ ba Đáng chú ý, nếu không quy định
rõ quyền cho từng người thì tất cả người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp
1.6.3 Bổ sung thêm trường hợp cử người đại diện theo pháp luật
Trang 35Hiện nay, doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam Trong trường hợp doanh nghiệp chỉ còn một người đại diện theo pháp luật nhưng không đảm bảo việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với doanh nghiệp, thì chủ sở hữu công ty, HĐTV, HĐQT phải cử người khác thay thế Khoản 5 Điều 12 LDN 2020 quy định: Phải thay thế người đại diện theo pháp luật duy nhất của doanh nghiệp khi người này thuộc một trong 10 trường hợp sau:
- Vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật;
- Bị hạn chế, hoặc mất năng lực hành vi dân sự;
- Đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc;
- Có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
- Bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
Như vậy, so với LDN 2014, thì LDN 2020 đã bỏ trường hợp người đại diện theo
pháp luật bị kết án tù Đồng thời, quy định mới đã bổ sung thêm 05 trường hợp:
- Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Đang chấp hành hình phạt tù;
- Bị hạn chế hạn hoặc mất năng lực hành vi dân sự;
- Đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện hoặc giáo dục bắt buộc;
- Có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;