Mặt khác, hoạt động tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư ở các địa phương còn nhiều hạn chế dẫn đến tình trạng nhiều luật sư, tổ chức hành nghề có hành vi vi phạm pháp lu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ HOÀNG DƯƠNG
QU¶N Lý NHµ N¦íC VÒ HO¹T §éNG CñA LUËT S¦
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ HOÀNG DƯƠNG
QU¶N Lý NHµ N¦íC VÒ HO¹T §éNG CñA LUËT S¦
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8380101.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TÔ VĂN HÒA
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Vũ Hoàng Dương
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ 7
1.1 Khái quát về luật sư, nghề luật sư 7
1.1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò của luật sư 7
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của nghề luật sư 15
1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của QLNN về hoạt động của luật sư 21
1.2.1 Khái niệm QLNN về hoạt động của luật sư 21
1.2.2 Đặc điểm của QLNN về hoạt động của luật sư 22
1.2.3 Vai trò của QLNN về hoạt động của luật sư 23
1.3 Nội dung, hình thức và phương pháp QLNN về hoạt động của luật sư 24
1.3.1 Nội dung của QLNN về hoạt động của luật sư 24
1.3.2 Hình thức của QLNN về hoạt động của luật sư 28
1.3.3 Phương pháp QLNN về hoạt động của luật sư 29
1.4 QLNN về hoạt động của luật sư và tự quản của luật sư 33
Kết luận Chương 1 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 37
2.1 Thực trạng quy định pháp luật về QLNN về hoạt động của luật sự 37
Trang 52.2 Thực tiễn QLNN về hoạt động của luật sư ở Việt Nam hiện nay 41
2.2.1 Quyết định chiến lược, chính sách phát triển nghề luật sư, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về luật sư 41
2.2.2 Đào tạo nghề luật sư 43
2.2.3 Cấp, thu hồi Chứng chỉ HNLS, Giấy đăng ký hoạt động, Giấy phép hành nghề 45
2.2.4 Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức luật sư và HNLS 48
2.2.5 Thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển nghề luật sư 50
2.3 Đánh giá công tác QLNN về hoạt động của luật sư 54
2.3.1 Những ưu điểm và nguyên nhân 54
2.3.2 Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân 57
Kết luận Chương 2 65
CHƯƠNG 3: CÁC QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM 66
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện QLNN về luật sư 66
3.1.1 Nhu cầu thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng 66
3.1.2 Bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân 68
3.1.3 Nhu cầu CCTP, CCHC và xây dựng NNPQ XHCN 68
3.1.4 Nhu cầu xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN 69
3.2 Quan điểm hoàn thiện QLNN về luật sư 70
3.2.1 QLNN về hoạt đông của luật sư trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý luật sư 70
3.2.2 QLNN về hoạt động của luật sư trên cơ sở kết hợp giữa QLNN và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư 71
3.2.3 QLNN về hoạt động của luật sư có xem xét đến tính đặc thù 72
3.3 Các giải pháp cụ thể hoàn thiện QLNN về hoạt động của luật sư 73
3.3.1 Hoàn thiện pháp luật về QLNN đối với hoạt động luật sư 73
Trang 63.3.2 Đẩy mạnh công tác phối hợp QLNN về hoạt động của luật sư 77
3.3.3 Kết hợp hài hòa giữa QLNN với việc phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư 78
3.3.4 Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về tổ chức và hoạt động của các TCHNLS, luật sư hành nghề với tư cách cá nhân 80
3.3.5 Nâng cao chất lượng và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ luật sư và các TCHNLS 81
Kết luận Chương 3 84
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CCTP: Cải cách tư pháp HNLS: Hành nghề luật sư NNPQ: Nhà nước pháp quyền QLNN: Quản lý nhà nước TCHNLS: Tổ chức hành nghề luật sư TTHC: Thủ tục hành chính
UBND: Ủy ban nhân dân VPHC: Vi phạm hành chính XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội ngày một phát triển, cùng với đó là sự nảy sinh đa dạng mối quan hệ giữa công dân, tổ chức với nhau, giữa công dân, tổ chức với nhà nước Một khi những mối quan hệ này phát sinh mâu thuẫn, thì thực tiễn cho thấy đội ngũ luật sư, với sự am hiểu pháp luật và kinh nghiệm hành nghề của mình, luôn là lực lượng bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên Bên cạnh đó, Luật sư hiện nay có đóng góp tích cực trong việc tham gia tranh tụng, giảm thiểu những vụ án oan sai, khiếu kiện kéo dài, cũng chính là chung tay cùng hệ thống cơ quan tư pháp nói riêng, nhà nước nói chung trong bảo đảm quyền con người
Nhận thức được vai trò quan trọng nói trên của đội ngũ luật sư, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn chú trọng việc thiết lập hành lang thể chế, pháp lý để đội ngũ này phát huy được vai trò của mình Luật Luật sư lần đầu tiên được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 22/6/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 Việc ban hành Luật Luật sư là sự thể chế hóa đường lối, chủ trương tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược CCTP đến năm
2020, theo đó:
Đào tạo, phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn Hoàn thiện cơ chế bảo đảm để luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời xác định rõ chế độ trách nhiệm đối với luật sư Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý để phát huy chế độ tự quản của tổ chức luật sư; đề cao trách nhiệm của các tổ chức luật sư đối với thành viên của mình
Trang 92
Sau 06 năm thi hành Luật Luật sư 2006, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư (Luật sửa đổi Luật Luật sư 2012) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày
bộ liên quan đến việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân và liên quan
tới hoạt động hành nghề luật sư như: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” Hiến pháp năm 2013 cũng đã ghi nhận nguyên tắc tranh tụng
trong hoạt động xét xử được bảo đảm (khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013) Nhiều đạo luật quan trọng được sửa đổi bổ sung theo tinh thần của Hiến pháp như Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự và Bộ luật Tố tụng hành chính được Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 6 thông qua trong năm 2015 đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động hành nghề của luật sư
Tuy nhiên, vấn đề thi hành pháp luật, bảo đảm thực thi các quy định này trên thực tế vẫn còn có những hạn chế, bất cập Nhiều luật sư vẫn gặp cản trở, khó khăn từ phía các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tư pháp trong quá trình hành nghề Mặt khác, hoạt động tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư ở các địa phương còn nhiều hạn chế dẫn đến tình trạng nhiều luật sư, tổ chức hành nghề có hành vi vi phạm pháp luật; một số cơ quan nhà nước, tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp và xã hội còn chưa nhận
Trang 10với luật sư Vì lý do đó, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về hoạt động
của luật sư ở Việt Nam hiện nay” là rất cần thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và
thực tiễn Thông qua việc nghiên cứu sẽ làm rõ hơn, bổ sung cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động của luật sư trên cả nước, từ
đó đề ra những quan điểm và giải pháp đổi mới nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động của luật sư tại ở Việt Nam hiện nay
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài làm rõ cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về hoạt động của luật
sư ở Việt Nam, từ thực tiễn tại một số địa phương và đặc biệt trong bối cảnh Luật sửa đổi và bổ sung Luật Luật sư 2012 qua thời gian thi hành đã bộc lộ một số hạn chế Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động của luật sư ở Việt Nam trong thời gian tới
Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về hoạt động của luật sự ở Việt Nam
- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động của luật sự ở Việt Nam hiện nay, từ thực trạng qui định của pháp luật và thực tiễn thi hành
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
về hoạt động của luật sư trong thời gian tới
3 Tính mới của đề tài nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài đạt được những điểm mới sau:
- Luận văn làm rõ cơ sở quy định về quản lý nhà nước về hoạt động của luật sư ở Việt Nam
Trang 114 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về hoạt động của luật sư ở Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn phân tích các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước về hoạt động của luật sư ở Việt Nam, các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này, đối chiếu với qui định pháp luật luật trước đây và so sánh, đối chiếu với với pháp luật nước ngoài; nghiên cứu thực tiễn quản lý nhà nước về hoạt động của luật sư tại một số địa phương để chỉ ra những điểm tiến bộ, những bất cập
để có được phương hướng sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật
5 Tình hình nghiên cứu của đề tài
So với thế giới, nghề luật sự cũng như pháp luật về luật sư ở Việt Nam còn khá non trẻ Chính vì thế, tuy đã có những công trình nghiên cứu cụ thể, nhưng nhìn chung các công trình này còn chưa toàn diện, thiếu tính hệ thông Đặc biệt, vấn đề quản lý nhà nước về hoạt động luật sư còn chưa được chú trọng đúng mức, ít cả về số lượng, chất lượng, cũng như tính chất chuyên sâu
Xin nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến luật sự và quản lý nhà nước về hoạt động của luật sư:
- Nguyễn Văn Tuân (2002), Luật sư và hành nghề luật sư, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội;
Trang 125
- Lê Hồng Hạnh (2002), Đạo đức và kỹ năng của luật sư trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội;
- Phan Trung Hoài (2003), Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật
về luật sư ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sỹ Luật học, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội;
- Phan Trung Hoài (2006), Hoàn thiện pháp luật về luật sư ở Việt Nam,
Nxb Tư pháp, Hà Nội;
- Nguyễn Văn Bốn, (2006) Luận văn thạc sĩ Luật học“Cơ sở lý luận
đổi mới quản lý luật sư ở Việt Nam hiện nay”
- Nguyễn Văn Bốn, Quản lý luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam - thực trạng và định hướng trong thời gian tới, Quản lý nhà nước Số 1/2013, tr 40 - 44
- Dương Bạch Long, Quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, công chứng, giám định tư pháp và định hướng đổi mới, Dân chủ và Pháp luật
2019 - Số 6, tr 14-19
- Phạm Thùy Linh, Luận văn thạc sĩ luật học, Công tác quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Đại học Luật Hà Nội, 2017
- Nguyễn Phước Thọ, Đổi mới mô hình quản lý luật sư trong tình hình mới, Dân chủ và Pháp luật 2019 - Số 6, tr 20-24
Và một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật như: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Khoa học pháp lý…
Các công trình nêu trên đã có những đóng góp nhất định về cơ sở lý luận, thực trạng tổ chức, hoạt động của luật sư, cũng như kiến nghị một số giải pháp cơ bản như xây dựng pháp luật về luật sư, phát huy vai trò và vị trí của luật sư trong hội nhập kinh tế quốc tế; kỹ năng hành nghề luật sư, phát huy vai trò tự quản của Đoàn luật sư
Trang 136
Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu nào mang tính hệ thống, toàn diện và cụ thể về vấn đề quản lý nhà nước về hoạt động của luật sư ở Việt
Nam Vì vậy, đề tài luật văn thạc sĩ “Quản lý nhà nước về hoạt động của luật
sư ở Việt Nam hiện nay” sẽ góp phần khỏa lấp khoảng trống nghiên cứu hiện
hành, làm rõ thêm về cơ sở lý luận, thực tiễn về thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động của luật sư trên địa bàn của nước, từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục, nhằm thúc đẩy sự phát triển nghề luật sư nói chung và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hoạt động của luật sư nói riêng
6 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; và một số phương pháp khác như:
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được sử dụng trong tất cả các chương,
mục của luận văn nhằm luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn của quản
lý nhà nước về hoạt động của luật sư
Phương pháp cấu trúc hệ thống: Nhằm nhận diện và đánh giá tính hợp
lý và hiệu quả của quản lý nhà nước về hoạt động của luật sư ở Việt Nam
Phương pháp thống kê: Tập hợp, đánh giá tình hình nghiên cứu liên
quan đến đề tài và thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động của luật sư ở Việt Nam hiện nay
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của QLNN về hoạt động của luật sư Chương 2: Thực trạng QLNN về hoạt động của luật sư ở Việt Nam
hiện nay
Chương 3: Các quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về
hoạt động của luật sư ở Việt Nam hiện nay
Trang 147
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ
1.1 Khái quát về luật sư, nghề luật sư
1.1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò của luật sư
1.1.1.1 Khái niệm
Trong lịch sử, chế định luật sư xuất hiện sớm nhất ở Châu Âu gắn liền với quyền bào chữa và Tòa Án Vào giao đoạn cuối cùng của nền Cộng hòa thứ IV Đế chế La Mã, chế độ bào chữa bắt đầu phát triển, người bị kiện đã biết nhờ người thân mà mình tín nhiệm bào chữa cho mình Việc bào chữa xuất phát tự nhiên nhằm bảo vệ quyền cho người yếu tố trước sự bắt giam vô
cớ và trừng phạt một cách độc đoán của giai cấp thống trị nên được số đông ủng hộ và dần thu hút nhiều người tham gia bào chữa trước tòa án [42, tr.5-6] Khoảng thế kỷ I trước Công Nguyên đến thế kỷ II sau Công nguyên, tại Hy Lạp và La Mã đã xuất hiện một loại hiệp sĩ đặc biệt, không dùng khí giới hay sức mạnh về thể lực để chiến thắng kẻ địch, mà chỉ dùng ngôn ngữ và sự am hiểu luật pháp để đứng ra bênh vực cho những kẻ nghèo, yếu thế, hoặc phụ nữ
bị ngược đãi trước các thế lực đương thời Họ được gọi là "người biện hộ” (Tiếng Latin: Advocatus) Số lượng các hiệp sĩ phát triển ngày càng đông và đến thế kỷ IV sau Công nguyên, họ tập hợp tại Rome thành một đoàn thể được độc quyền biện hộ trước Hoàng đế Đến cuối thế kỷ VIII, danh xưng
"Advocatus" được nhà vua chính thức công nhận và trao quyền biện hộ trước tòa cho 17 vị Đó là nền móng đầu tiên cho việc hình thành và phát triển của định chế luật sư trên thế giới [26, tr.14]
Ngày nay, vì vai trò không thể phủ nhận đối với xã hội, sự phát triển của đội ngũ luật sư luôn là điều mà các quốc gia quan tâm đặc biệt Ở mỗi
Trang 158
quốc gia thì tên gọi và cách hiểu về luật sư cũng rất đa dạng; xuất phát từ đặc thù lịch sử, văn hóa, hệ thống pháp luật ở mỗi nước Ví dụ, tại Anh quốc,
lawyer là từ chung nhất để diễn tả người hành nghề luật, tùy theo vai trò khác
nhau mà luật sư còn được gọi là barrister – luật sư tranh tụng tại toà án ở các
quốc gia thuộc hệ thống Thông luật; soliciter – luật sư tư vấn hay attorney khi đóng vai trò người được ủy quyền, đại diện cho khách hàng Từ attorney hay
counsel cũng được dùng để chỉ luật sư ở Hoa Kỳ theo nghĩa trang trọng hoặc
cho biết một chức danh, ví dụ: Attorney General – Tổng chưởng lý/Bộ trưởng
Tư pháp Hoa Kỳ) Tại Ấn Độ, lawyer cũng là một thuật ngữ thông dụng, tuy
nhiên theo đạo luật luật sư (Advocates Act, 1961), luật sư ở nước này được
gọi là “advocate”
Ở Việt Nam, luật sư, với tư cách là một nghề nghiệp đã xuất hiện hơn một thế kỷ Ngày 30/01/1911, Toàn quyền Pháp tại Đông Dương Antony Wladislas Klobukowski ký Sắc lệnh thành lập Đoàn luật sư Sài Gòn và Hà Nội [55] Thành viên luật sư đoàn là các luật sư đã tốt nghiệp trường luật ở Pháp, có quốc tịch Pháp Chủ trương của Klobukowski khi đó là mở rộng nghề luật sư theo hướng không chỉ người Pháp và người Việt mang quốc tịch Pháp mới được làm luật sư, mà người Việt mang quốc tịch Việt Nam cũng được làm luật sư nếu hội đủ các điều kiện theo luật định Tuy nhiên, vì nhiều
lý do, trong đó có ảnh hưởng của cuộc trường kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, quan niệm hoạt động luật sư như một nghề nghiệp trong xã hội chưa được thừa nhận trong hệ thống pháp luật thực định ở nước ta trong suốt một thời gian dài cho đến thời điểm ban hành Pháp lệnh tổ chức luật sư 1987[55]
Về khái niệm “luật sư”, việc định nghĩa khái niệm này luôn là vấn đề được quan tâm trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về luật sư ở Việt Nam Kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, không phải lúc nào pháp luật sở tại cũng đưa ra khái niệm hoặc định nghĩa thế nào là luật sư Tại các nước có
Trang 169
nghề luật sư phát triển, việc đưa ra khái niệm hoặc định nghĩa thế nào là luật
sư chỉ mang tính quy ước, khái niệm luật sư thường mang tính hình thức hơn
là khái niệm về mặt nội dung Ở Việt Nam, Pháp lệnh tổ chức luật sư năm
1987 đã chính thức hóa thuật ngữ “luật sư”, không đưa ra một khái niệm hay định nghĩa hoàn chỉnh về luật sư mà chỉ quy định người muốn trở thành luật
sư phải gia nhập Đoàn luật sư Qua quá trình sửa đổi, thay thế, Luật luật sư
hiện hành quy định: “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề
theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức” [33] Cách định nghĩa này của pháp luật Việt Nam
tương tự pháp luật các quốc gia khác, không đưa ra khái niệm luật sư mà chỉ quy định về tiêu chuẩn để trở thành luật sư
So sánh với khái niệm “luật gia” một khái niệm gần gũi trong hệ thống ngành nghề luật, thì Điều lệ Hội luật gia Việt Nam cũng không đưa ra khái
niệm thế nào là luật gia và chỉ đưa ra tiêu chuẩn hội viên [1] Tuy không đưa
ra khái niệm cụ thể nhưng từ quy định này cũng có thể thấy điểm khác biệt chính giữa luật sư và luật gia theo quy định của pháp luật Việt Nam thể hiện ở những điểm sau:
- Luật gia có thể là người hiện đang làm cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, luật sư thì không thể;
- Luật sư có thể là luật gia nếu xin gia nhập Hội Luật gia, nhưng luật gia nếu muốn trở thành luật sư phải trải qua quá trình đào tạo, cấp chứng chỉ, gia nhập tổ chức nghề nghiệp, trừ các trường hợp đặc biệt được miễn theo quy định của Luật luật sư
1.1.1.2 Bản chất của luật sư
Xem xét bản chất của luật sư là xem xét các yếu tố tác động đến quá trình hình thành quan niệm về luật sư và nghề luật sư, đặt vị trí luật sư trong các mối quan hệ chi phối đến hoạt động nghề nghiệp và xem xét các yếu tố
Trang 1710
này trong tổng thể mặt bằng các giá trị của dân chủ Bản chất của luật sư những thuộc tính riêng, những mối liên hệ ở bên trong của khái niệm này, quy định sự vận động và phát triển của một loại chủ thể nhất định trong xã hội Đó không chỉ là thuộc tính của hoạt động xã hội nói chung mà còn cả các thuộc tính tự nhiên gắn liền với luật sư nói riêng, như vậy về bản chất hoạt động luật sư cũng sẽ có nhưng nét tương đồng nhất định với các hoạt động nghề nghiệp khác bên cạnh những đặc thù riêng có Nhằm làm sáng tỏ bản chất của luật sư, cần đề cập đến các thuộc tính đặc trưng sau đây:
- Tính xã hội của luật sƣ: Đây là bản chất hoạt động của luật sư cũng
như các ngành nghề khác gắn liền với các hoạt động xã hội Không thể có hoạt động luật sư nào lại tách rời khỏi xã hội, các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh chính là “môi trường” hoạt động của luật sư Mất đi môi trường và các đối tượng phục vụ là các chủ thể xã hội là mất đi nền tảng hoạt động của luật sư Ngược lại bản chất xã hội của luật sư cũng được phản ánh bởi nhu cầu của xã hội đối với luật sư Đó là nhu cầu đem lại sự ổn định cho
xã hội, mang đến cho các chủ thể xã hội sự trợ giúp về mặt pháp lý theo các mức độ khác nhau dựa trên kiến thức pháp lý, khả năng hành nghề
- Tính dân chủ của luật sƣ: Đây là thuộc tính bản chất của luật sư
xuất phát từ sự yếu tố bên trong, từ sự hình thành chế độ luật sư trong lịch sử,
đó là quyền bào chữa của bị can, bị cáo, một trong những hình thức đầu tiên
và cơ bản nhất để đảm bảo thực hiện quyền con người Quyền này đã được chính thức ghi nhận trong Tuyên ngôn về nhân quyền của Liên Hợp quốc: “bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ” [18] Mặt khác, tính dân chủ trong hoạt động của luật sư cũng
là đòi hỏi của xã hội Việt Nam nói riêng trong thời kỳ xây nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Luật sư với vị thế, chức năng của mình mang đến cho
Trang 1811
xã hội nói chung, tư pháp nói riêng những giá trị của dân chủ, thông qua việc biện hộ trước tòa án, đại diện hoặc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức trước những hành vi xâm phạm Quan trọng hơn, với kiến thức pháp lý, môi trường làm việc là pháp luật, luật sư luôn có những ý kiến đóng góp, phản biện có giá trị đối với nhà nước, là một chủ thể giám sát tử bên ngoài với việc thực hiện quyền lực nhà nước Thuộc tính dân chủ còn mang giá trị định hướng cho hoạt động của luật sư, đó là hoạt động vì mục tiêu xã hội, phục vụ nhân dân, là cầu nối phản ánh nguyện vọng của các chủ thể dân sự với Nhà nước
- Tính tuân thủ phát luật của luật sƣ: Bản chất hoạt động luật sư
trước hết phải được thể hiện ở việc tuân thủ pháp luật của người HNLS, dựa vào pháp luật để bảo về quyền và lợi ích cho công dân, tổ chức Hoạt động của luật sư phục vụ những nhiệm vụ, mục đích nói trên phải dựa trên cơ sở pháp luật, bảo đảm sự thật khách quan và trên tất cả là công lý, lẽ công bằng Tuân thủ pháp luật là bản chất nhưng cũng là yêu cầu bắt buộc đối với hoạt động của luật sư trong nhà nước pháp Đặt trong mối tương quan với các ngành nghề khác trong xã hội vốn cũng phải tuân thủ pháp luật trong hoạt động của mình, yêu cầu tuân thủ pháp luật trong hoạt động của luật sư thậm chí cao hơn, vì trước hết pháp luật là “môi trường” HNLS, luật sư sử dụng kiến thức, hiểu biết pháp luật của mình như là công cụ để đáp ứng nhu cầu của các chủ thể trong xã hội; thứ hai là để tuyên truyền, giáo dục cho chính thân chủ của mình về việc tuân thủ pháp luật
- Tính độc lập của luật sƣ: Khi xác định tính độc lập là một thuộc tính
bản chất của luật sư, cần hiểu đây là quan niệm có ý nghĩa tương đối Có thể nói, tính độc lập là thuộc tính phái sinh từ tính dân chủ trong hoạt động của luật sư Tính dân chủ trong hoạt động của luật sư là bản chất, cũng là đòi hỏi cần có để hoạt động HNLS đạt hiệu quả Theo đó, luật sư phải có vị thể độc lập, độc lập ở đây được hiểu là độc lập với các cơ quan tiến hành tố tụng, độc
Trang 19và tuân theo pháp luật là bản chất trong hoạt động, thì nội hàm của độc lập trong hoạt động của thẩm phán cũng có những khác biệt so với luật sư Độc lập của thẩm phán xét trên phương diện nào đó là đòi hỏi cao hơn so với luật
sư Đó là độc lập với yếu tố bên trong: độc lập với các thành viên hội đồng xét xử, độc lập với các yếu tố bên ngoài: cơ quan công tố, cơ quan điều tra; độc lập giữa các cấp xét xử
- Uy tín nghề nghiệp cá nhân luật sƣ: Nghề nghiệp nào càng gây ảnh
hưởng đến số đông, đến tính mạng con người hay nắm trong tay quyền lực nhà nước như: nghị sĩ, thẩm phán, bác sĩ thì uy tín cá nhân của người hành nghề đó càng quan trọng Luật sư cũng không nằm ngoài số đó Trong nền kinh tế thị trường, luật sư càng giao kết “tự do”, thì càng phải chịu trách nhiệm cá nhân lớn hơn, cũng như đề cao uy tín nghề nghiệp bởi khách hàng thường tín nhiệm yêu cầu đích danh luật sư, chứ không phải tổ chức hành nghề hay tổ chức nghề nghiệp luật sư Mặc dù tổ chức hành nghề là nơi tiếp nhận yêu cầu của khác hàng nhưng nhưng luật sư cụ thể mới là người giải quyết yêu cầu đó Trong NNPQ, uy tín của luật sư còn là yêu cầu nội tại, là
Trang 20cơ sở xã hội cho sự tồn tại của nghề nghiệp cũng theo đó mất đi
1.1.1.3 Vai trò của luật sư
Nói đến vai trò của luật sư là nói tới tác động, ảnh hưởng của luật sư đối với cá nhân, tổ chức trong quá trình hoạt động của mình; đối với xã hội thông qua chức năng, bản chất cao quý của nghề nghiệp, đối với quá trình xây dựng và phát triển dân chủ, tạo lập công bằng xã hội Để hỗ trợ các quốc gia phát triển và đảm bảo vai trò chính đáng của luật sư, cũng như đảm bảo sự tôn trọng bởi các chính phủ cũng như thẩm phán, công tố viên, các thành viên của hành pháp, lập pháp và công chúng nói chung trong khuôn khổ luật pháp và tập quán quốc gia, Hội nghị Liên hiệp quốc lần thứ 8 về phòng chống tội phạm và xử lý người phạm tội, tổ chức tại Havana (Cuba) từ 27/08 đến 07/09/1990 đã thông qua “Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư” (Basic Principles on the Role of Lawyers)
Vai trò của luật sư được quan niệm theo nhiều chiều cạnh khác nhau
Có ý kiến cho rằng vai trò của luật sư thể hiện trên ba phương diện: bảo vệ quyền của bị can, bị cáo và các đương sự trước tòa; vai trò của luật sư trong hoạt động tư vấn pháp luật góp phần bảo vệ quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức; vai trò của luật sư trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật [45] Quan niệm khác lại xem xét vai trò của luật sư trên bình diện truyền thống và hiện đại, trong đó luật sư có tác dụng hữu hiệu đối với việc bảo vệ quyền và tăng cường thể chế pháp quyền; bênh vực và bảo vệ kẻ yếu; tham gia và đóng góp tích cực vào quá trình soạn thảo luật, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; nâng cao năng lực và ý thức xã hội trong tiếp cận với dân chủ và pháp
Trang 2114
luật Tuy nhiên, về mặt lý luận cần xem xét vai trò của luật sư một cách toàn diện hơn so với cách quan niệm về vai trò của luật sư theo chức năng và phạm
vi HNLS Theo đó, vai trò thể hiện trên các mặt:
Thứ nhất, Luật sư có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng
NNPQ, nền kinh tế thị trường bằng việc góp phần bảo vệ công lý, công bằng
xã hội Khẳng định vai trò của luật sư trong công cuộc xây dựng NNPQ là khẳng định nguyên tắc “thượng tôn pháp luật”, coi pháp luật là thước đo giá trị công bằng, chuẩn mực ứng xử của các chủ thể trong xã hội Việt Nam nói riêng, luật sư còn tham gia vào tiến trình dân chủ hóa các mặt của đời sống xã hội, đấu tranh chống lại các biển hiện xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức; đồng thời truyền bá quan niệm về quyền con người, pháp quyền, pháp chế Tổ chức luật sư cũng trở thành yếu tố cấu thành của nền kinh tế thị trường, trong đó từng thành viên luật sư đóng vai trò quan trọng trọng việc thúc đẩy và cải thiện môi trường pháp lý trong kinh doanh ở Việt Nam, từng bước tiếp cận với tập quán hành nghề tiến bộ trên thế giới trong quá trình hội nhập
Thứ hai, theo phạm vi hành nghề, luật sư có vai trò: (i) Bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong và ngoài tố tụng; (ii) Tư vấn
pháp luật và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác; (iii) Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, góp phần xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật
Như vậy, căn cứ vào các phân tích trên về quá trình hình thành, bản chất hoạt động cũng như vai trò của luật sư, đề tài định nghĩa khái niệm luật
sư như sau: “Luật sư là những người được pháp luật công nhận đủ tiêu chuẩn
hành nghề nhằm thực hiện việc đại diện trong và ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật, thực hiện các dịch vụ pháp lý khác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức, bảo vệ công lý và quyền con người”
Trang 2215
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của nghề luật sư
1.1.2.1 Khái niệm nghề luật sư
Hoạt động của luật sư trong cơ chế thị trường được coi là một loại hình dịch vụ nghề nghiệp, được điều chỉnh bằng các đạo luật về HNLS và kinh doanh Tương tự như với khái nhiệm luật sư, các quốc gia theo những hệ thống pháp luật khác nhau lại có những điểm khác nhau trong quan niệm về nghề luật sư Các quốc gia theo thông luật coi nghề luật sư là một nghề kinh doanh, nhưng thuộc loại hình kinh doanh đặc biệt; các nước theo hệ thống luật thành văn nhìn chung coi hoạt động luật sư là một trong những nghề tự
do (luật sư, công chứng, kiểm toán, bác sỹ, kiến trúc sư…) [42] Một số quốc gia khác, trong đó trong đó có Việt Nam coi luật sư là một hoạt động “bổ trợ
tư pháp” xuất phát từ thực tiễn HNLS gắn bó chặt với hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử của Tòa án
Ở Việt Nam, với vị thế, vai trò quan trọng của đội ngũ luật sư trong xã hội, “có đầy đủ lý do để khẳng định rằng luật sư là một nghề cao quý trong xã hội và càng được tôn vinh trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân, phấn đấu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ văn minh” [28, tr.6] Tuy nhiên, việc nhìn nhận niệm hoạt động luật sư như một nghề nghiệp trong
xã hội không phải đã được thừa nhận trong hệ thống pháp luật thực định ở Việt Nam trong suốt một thời gian dài cho đến khi Pháp lệnh luật sư 1987 được ban hành Thực tế này có thể được lý giải bởi hai lý do Thứ nhất, về mặt lịch sử, đất nước ta phải trải qua quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc trường kỳ, gian nan, nền tư pháp nói chung, luật sư nói riêng chưa được quan tâm đúng mức Thứ hai, về mặt khoa học, khái niệm nghề luật nói chung và nghề luật sư nói riêng chưa xuất hiện phổ biến trong các công trình khoa học pháp lý, trong các văn bản pháp luật và đời sống xã hội
Về mặt từ vựng đơn thuần, “nghề luật sư” là từ ghép từ từ “nghề” với
Trang 23Nam XHCN” [26] Tuy nhiên trong các văn bản pháp luật về luật sư hiện
hành, cụm từ “HNLS” lại được sử dụng phổ biến hơn Cách dùng như vậy được đánh giá là phù hợp với thực tiễn quy định của pháp luật luật sư từ khi Pháp lệnh luật sư 2001 được ban hành Từ thực tế này, có thể hiểu “luật sư” trong các văn bản pháp luật được hiểu theo hai cách, tùy hoàn cảnh cụ thể, thứ nhất “luật sư” là chỉ người đã được pháp luật công nhận, cho phép hành
nghề và thứ hai “luật sư” có thể hiểu là nghề luật sư
1.1.2.2 Đặc điểm của nghề luật sư
Nghề luật sư rất chú ý đến vai trò cá nhân, uy tín nghề nghiệp của luật
sư và phương thức tự do trong HNLS Nhiều ý kiến quan niệm nghề luật sư
có những điểm tương đồng với nghề bác sỹ: cần có kiến thức pháp luật, thông thạo nghề nghiệp để chăm sóc những “bệnh nhân pháp luật” của mình; đòi hỏi tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cao, tương tự như nghề y Luật sư cũng mang trên vai gánh nặng niềm tin mà xã hội và khách hàng ủy thác cho họ Nếu như người bệnh tin tưởng, phó thác sức khỏe và tính mạng của mình cho bác sỹ vì hy vọng rằng bác sỹ là người có đủ khả năng cứu giúp họ, cũng tương tự như vậy, khách hàng đặt quyền lợi vật chất hoặc cao hơn nữa là sinh mạng chính trị, tự do, danh dự, nhân phẩm…của mình vào người luật sư Các
Trang 2417
nhìn nhận như trên cũng có điểm hợp lý dựa trên sự tương đồng của hai nghề nghiệp Tuy nhiên, với tư cách là hai nghề nghiệp khác nhau với lĩnh vực hành nghề khác nhau thì quan trọng nhất là chỉ ra những điểm đặc thù của hai nghề nghiệp này Xuất phát từ bản chất, vai trò của nghề luật sư trong các hệ thống chính trị, hệ thống pháp luật cũng như các quan niệm phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam, có thể xem xét các đặc điểm của nghề luật sư trên các bình diện sau đây:
- Nghề luật sư là một ngành nghề dịch vụ: Trong nền kinh tế thị
trường, tính chất dịch vụ của nghề luật sư được thừa nhận rộng rãi dù vẫn còn
ý kiến cho rằng không nên đề cập đến điều này như một trong những đặc điểm của nghề luật sư bởi sự cao quý mang tính “thiên chức” của nghề này Bên cạnh đó việc coi đây là dịch vụ như là “đổi trao, mua bán” thứ hàng hóa
là “kiến thức - kỹ năng pháp luật” sẽ hạ thấp vai trò của luật sư trong việc thúc đẩy sự phát triển dân chủ trong hoạt động tư pháp và xã hội nói chung Tuy nhiên, cần quan điểm tính chất dịch vụ của nghề luật sư là một loại dịch
vụ đặc biệt, khác với quan niệm về dịch vụ thông thường Đây là loại hình dịch vụ đã được Tổ chức thương mại thế giới WTO đưa vào hệ thống thương mại thế giới, được điều chỉnh trong khuôn khổ Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) Vì được coi là một loại hình dịch vụ nên pháp luật các quốc gia, trong đó có pháp luật Việt Nam còn quy định các căn cứ phương pháp tính thù lao đối với hoạt động HNLS
- Nghề luật sư là một nghề luật hành nghề tự do: Nói nghề luật sư là
một nghề luật trước hết để phân biệt với các nghề khác trong xã hội Hơn nữa, với đặc điểm, chức năng và vai trò riêng biệt, nghề luật sự cũng khác với những nghề luật khác như thẩm phán, công tố, công an, công chứng…, đó là
ở phương thức hành nghề một cách tự do Phương thức hành nghề tự do của luật sư ở đây cần được hiểu là có thời gian và không gian hoạt động tự do, có
Trang 25sư trong hành nghề, phạm vi QLNN đối với hoạt động luật sư và tính tự quản
… Tuy nhiên, khi nói tới quy chế trách nhiệm nghề nghiệp như chuẩn mực nền tảng đạo đức và kỷ luật của hoạt động luật sư thì cũng không có nghĩa là quy chế này chi phối luật sư cả trong công việc lẫn đời sống riêng của họ, mà
nó chỉ chi phối hoạt động nghề nghiệp và những tác động của hành vi ứng xử của luật sư trong cuộc sống riêng có thể làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của luật sư Pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp luật sư có khác nhau, nhưng giữa chúng có mối liên hệ mật thiết và chi phối lẫn nhau Pháp luật về luật sư có tác dụng như “hành lang” cho hoạt động của luật sư với các quyền và nghĩa vụ cụ thể trước pháp luật, còn quy chế trách nhiệm nghề nghiệp luật sư lại chủ yếu điều chỉnh hành vi ứng xử của luật sư trong hoạt động nghề nghiệp và trong xã hội, tuy không hoàn toàn mang tính bắt buộc nhưng cũng đòi hỏi phải được sự tôn trọng từ phía các luật sư Trong nhiều trường hợp, đối với nghề nghiệp luật sư, các quy tắc ứng xử thuộc về phạm trù đạo đức lại chi phối và có tác động lớn lao đến uy tín, danh dự của luật sư
và ảnh hưởng chi phối rất nhiều đến chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng Sự cộng hưởng qua lại giữa pháp luật và quy tắc trách nhiệm nghề nghiệp trong hoạt động của luật sư là một trong những minh chứng cho mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức nói chung
Vấn đề này có ý nghĩa lý luận to lớn ở chỗ, không chỉ đôi khi các giá trị
Trang 2619
đạo đức có ý nghĩa ràng buộc trách nhiệm công dân lớn hơn pháp luật, mà thật sự nền tảng phát triển của pháp luật trong đời sống sẽ có một môi trường tốt hơn nếu tính tự giác và ý thức pháp luật được hình thành từ đạo lý, từ bề dày lịch sử truyền thống văn hóa của dân tộc Bất luận trong trường hợp nào, vấn đề cốt lõi là làm sao cho người dân nhận ra được nhu cầu về dịch vụ pháp
lý một cách trung thực và lựa chọn được hình thức dịch vụ thích hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
- Nghề luật sư gắn liền với số phận con người: Nghề luật sư, cũng
như các nghề luật khác, luôn được coi là một nghề nghiệp gắn bó với số phận của con người Sự gắn bó này là sự kết nội tự nhiên, tương đồng với nghề bác
sĩ dù bệnh nhân của bác sĩ là con người tự nhiên, còn với luật sư là con người với tư cách là chủ thể xã hội Một điểm tương đồng khác cũng có thể chỉ ra giữa nghề luật sư và bác sĩ đó là trong nhiều trường hợp, số phận của khách hàng lại không phụ thuộc vào sự trợ giúp của luật sư, mà chịu sự định đoạt của pháp luật cũng như bác sĩ không phải lúc nào cũng định đoạt được số phận bệnh nhân của mình mà còn phải thuận theo các quy luật tự nhiên sinh, lão, bệnh, tử Số phận ở đây không chỉ hiểu đơn thuần là sự sống và cái chết
mà là các quyền, lợi ích hợp pháp của con người, của thể nhân pháp lý mà luật sư có nhiệm vụ bảo vệ Nghề luật sư luôn gắn liền với số phận con người suy cho cùng bởi một lẽ, cá nhân hay các pháp nhân luôn ở vị trí yếu thế và cần được bảo vệ trước nhà nước, chủ thể được tổ chức chuyên nghiệp, phức tạp và nắm trong tay quyền lực quản lý xã hội
- Nghề luật sư là bất khả kiêm nhiệm: Bất khả kiêm nhiệm là thông lệ
trong HNLS được pháp luật nhiều quốc gia quy định, nhằm đảm bảo tính chuyên nghiệp trong hành nghề, vừa đề cao vị trí, vai trò của luật sư trong xã hội Điều này đúc kết từ thực tế, luật sư kiêm chức không toàn tâm toàn ý cho nghề luật sư nghề, thời gian dành cho hoạt động luật sư bị chi phối bởi thời
Trang 2720
gian làm việc mang tính bắt buộc khác Ở chiều ngược lại, làm cho người cần
hỗ trợ về pháp lý, bị can, bị cáo, thân chủ cảm thấy không tin tưởng vào sự tận tâm của luật sư, các cơ quan tiến hành tố tụng vì thế mà có đánh giá không tốt về hoạt động nghề nghiệp luật sư, giảm thiểu vai trò luật sư trong đời sống xã hội Do đặc điểm lịch sử của đất nước và quá trình hình thành nghề luật sư ở Việt Nam, nên trong một thời gian khá dài sau giải phóng, pháp luật về luật sư vẫn cho phép duy trì chế độ luật sư kiêm chức Những luật sư kiêm chức này thực chất vẫn bảo đảm các tiêu chuẩn HNLS, nhưng họ đang là công chức hoặc những người làm việc liên quan đến pháp luật khác Đến nay, pháp luật Việt Nam đã khắc phục khuyết điểm này với quy định tại Khoản 4, Điều 17 Luật Luật sư hiện hành: “Người đang là cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân thì không được cấp Chứng chỉ HNLS”
- Nghề luật sư là hoạt động mang tính quốc tế: Ngày nay, cùng với
sự phát triển kinh tế và chủ động hội nhập đời sống quốc tế, luật sư các nước trên thế giới đã mở rộng phạm vi và lĩnh vực hoạt động ra khỏi biên giới quốc gia, đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong việc thúc đẩy các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội giữa các nước Trong điều kiện đất nước chủ động tham gia tiến trình hội nhập quốc tế, pháp luật Việt Nam cũng đã
có những văn bản điều chỉnh hoạt động hành nghề tư vấn pháp luật của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam, theo đó cho phép luật sư nước ngoài được tư vấn về pháp luật nước ngoài, pháp luật quốc tế trong lĩnh vực đầu
tư, kinh doanh, thương mại, không được tư vấn pháp luật Việt Nam, không tham gia tố tụng trước Tòa án Việt Nam Bên cạnh đó, nhiều luật sư Việt Nam đã tham gia giải quyết các vụ kiện tranh chấp có yếu tố nước ngoài tại các Tòa án, trọng tài quốc tế…
Trang 2821
1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của QLNN về hoạt động của luật sƣ
1.2.1 Khái niệm QLNN về hoạt động của luật sư
Bất kỳ một xã hội nào cũng cần được duy trì trong một trật tự nhất định bởi “trật tự xã hội là một quyền thiêng liêng làm nền tảng cho mọi thứ quyền khác” [8, tr.29] Nhưng trật tự xã hội không phải đương nhiên mà có mà phải thông qua sự quản lý Bàn về vấn đề này, C.Mác đã viết: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh trước hết từ bản chất của quá trình lao động xã hội” [9, tr.480] Quản lý xã hội được tiến hành bởi nhiều chủ thể, khi nhà nước ra đời thì phần cơ bản và quan trọng nhất của quản lý xã hội được nhà nước thực hiện Đó là phần quản lý xã hội mang tính chất nhà nước, do nhà nước và các cơ quan, tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền để thực hiện mục đích, nhiệm vụ của nhà nước – chính là QLNN Bản chất của QLNN là quyền lực nhà nước, được ghi nhận, củng cố bằng pháp luật và được thực hiện bởi bộ máy nhà nước
Theo nghĩa rộng, QLNN là toàn là toàn bộ mọi hoạt động của nhà
nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước [48, tr.20] Chủ thể của QLNN theo nghĩa
rộng là cả ba hệ thống cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp
Theo nghĩa hẹp, QLNN là hoạt động chấp hành và điều hành trên cơ sở hiến pháp, luật Bản chất của QLNN lúc này chính là bản chất của hoạt động chấp hành và điều hành nhà nước Chấp hành là sự thực hiện trên thực tế các luật và các văn bản mang tính chất luật của Nhà nước, các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên… Điều hành là hoạt động dựa trên cơ sở luật
để chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý Đặc trưng của hoạt động điều hành là việc các cơ quan hành chính ra văn bản dưới luật mang tính chủ đạo, quy phạm hoặc các biệt, và chúng được đảm bảo thực hiện bằng sự
Trang 2922
thuyết phục và khả năng áp dụng cưỡng chế nhà nước Chủ thể chủ yếu của QLNN theo nghĩa hẹp là toàn bộ hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước đứng đầu là Chính phủ và các cơ quan đơn vị phát sinh từ chúng, các cơ quan, đơn vị, tổ chức trực thuộc Trong Luận văn này, QLNN được hiểu chủ yếu theo nghĩa hẹp như trên
Khái niệm “QLNN” và “QLNN đối với hoạt động của luật sư” có sự liên hệ mật thiết trong mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng QLNN là khái niệm chung chỉ hoạt động chấp hành, điều hành của các cơ quan nhà nước Đó
là “cái chung”, còn QLNN đối với hoạt động của luật sư là khái niệm để chỉ hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể, “cái riêng” Xem xét QLNN và QLNN đối với hoạt động của luật sư theo nguyên lý về mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng thì “cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung; cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng; bất cứ cái riêng nào cũng không gia nhập đầy đủ vào cái chung” [45] Với cách tiếp cận trên, khái niệm QLNN đối với hoạt động luật sư ở Việt Nam được đề tài hiểu như sau:
QLNN đối với hoạt động của luật sư là hoạt động chấp hành và điều hành của các chủ thể QLNN, nhằm bảo đảm luật sư, tổ chức HNLS hành nghề đúng pháp luật đồng thời tạo điều kiện và khuyến khích phát triển nghề luật sư đáp ứng được nhu cầu của xã hội và đòi hỏi của quá trình xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam
1.2.2 Đặc điểm của QLNN về hoạt động của luật sư
QLNN về hoạt động của luật sư ở Việt Nam mang các đặc điểm chung của QLNN: mang tính quyền lực nhà nước; được tiến hành bởi các chủ thể có quyền hành pháp; là hoạt động chấp hành - điều hành của nhà nước; là hoạt động mang tính chủ động và sáng tạo; là hoạt động có tính liên tục, lâu dài với hệ thống cơ quan quản lý được liên kết chặt chẽ, thống nhất từ trung uơng đến địa phương; hoạt động dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ
Trang 3023
Đối với lĩnh vực QLNN đối với hoạt động của luật sư thì ngoài những đặc điểm chung của QLNN thì còn có đặc điểm riêng của một lĩnh vực cụ thể, xuất phát từ bản chất, vai trò của luật sư và tổ chức nghề nghiệp của luật sư
như đã phân tích Đó là các đặc điểm:
- QLNN đối với hoạt động luật sư trên cơ sở đảm bảo tính tự chủ, tự
chịu trách nhiệm của các luật sư trong tổ chức và hoạt động Nhà nước không can thiệp sâu vào công việc nội bộ của các luật sư, mà tạo điều kiện mọi mặt cho các luật sư hoạt động, đồng thời tạo điều kiện để các tổ chức HNLS tham gia vào các lĩnh vực hành nghề theo quy định của pháp luật
- QLNN đối với hoạt động HNLS trên cơ sở tôn trọng và bảo đảm lợi
ích chính đáng của tổ chức hành nghề Tổ chức HNLS với tư cách là một tổ chức và hoạt động hợp pháp của luật sư phải được nhà nước tôn trọng và tạo điều kiện pháp lý và điều kiện xã hội khác để các tổ chức thực hiện hoạt động của mình Sự tôn trọng của nhà nước nói chung và của hệ thống chính quyền nói riêng đối với tổ chức HNLS là xuất phát từ bản chất tôn trọng nhân dân của nhà nước
1.2.3 Vai trò của QLNN về hoạt động của luật sư
QLNN đối với hoạt động HNLS là một nhu cầu khách quan xuất phát
từ vai trò quản lý xã hội của nhà nước nhà nước Nhờ có sự quản lý của nhà nước mà các tổ chức HNLS được hoạt động theo đúng quỹ đạo, bảo đảm được kỷ cương trong lĩnh vực HNLS nói riêng và bảo đảm trật tự xã hội nói chung nhưng cũng đồng thời đề cao, tôn trọng bản chất độc lập của hoạt động luật sư, tính tự chủ của tổ chức nghề nghiệp luật sư Vai trò của QLNN về hoạt động của luật sư thể hiện ở hai điểm:
Thứ nhất, QLNN về hoạt động của luật sư có vai trò quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý, tạo điều kiện và khuyến khích phát triển nghề luật sư ở Việt Nam Để hiện thực hóa vai trò này, QLNN vê hoạt động của
Trang 3124
luật sư cần mang tính định hướng, điều tiết và hỗ trợ phát triển đối với nghề luật sư, không mang tính hành chính, không can thiệp vào hoạt động nghề nghiệp của luật sư
Thứ hai, QLNN về hoạt động của luật sư bảo đảm cho luật sư, tổ chức HNLS hành nghề đúng pháp luật Nhà nước hành pháp luật và chính sách nhằm tạo ra các khuôn mẫu xử sự chung và các biện pháp chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; xây dựng tổ chức và đào tạo luật sư một cách thích hợp; cấp chứng chỉ hành nghề và giấy phép thành lập các tổ chức HNLS; hỗ trợ luật sư, các tổ chức HNLS hoạt động có hiệu quả và bình đẳng Bên cạnh
đó, nhà nước cũng bảo đảm cho các luật sư thực hiện được việc hành nghề chuyên nghiệp mà không bị cản trở hoặc can thiệp, không bị đe dọa, truy tố hoặc các hình phạt hành chính, kinh tế và những hình phạt khác vì bất kỳ một hành động nào do luật sư, tổ chức HNLS thực hiện phù hợp với những quy định của pháp luật
1.3 Nội dung, hình thức và phương pháp QLNN về hoạt động của luật sư
1.3.1 Nội dung của QLNN về hoạt động của luật sư
Luật sư hành nghề độc lập trên cơ sở quy định của pháp luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp, dựa trên sự kiến thức pháp luật và áp dụng pháp luật, nhằm phụng sự công lý Quan trọng hơn đây là lực lượng mang đến những giá trị của dân chủ, có đóng góp quan trọng trong hoạt động tư pháp Chính vì vậy, tuy coi trọng tính độc lập, tự chủ trong hoạt động của luật sư nhưng nhà nước hiện đại nào cũng quan tâm đến công tác QLNN đối với hoạt động này Ngay ở các quốc gia mà nền tư pháp phát triển, có lịch sử phát triển nghề luật
sư lâu đời thì việc quản lý nghề luật sư không hoàn toàn giao phó cho các tổ chức nghề nghiệp, mà trong một phạm vi nhất định, có sự can thiệp của quyền lực nhà nước Đó là quyền hành pháp hay quyền tư pháp là phụ thuộc vào phương thức tổ chức quyền lực của từng Nhà nước cụ thể
Trang 3225
Ở hầu hết các nước theo hệ thống thông luật (Common law) việc công
nhận luật sư (tương tự như cấp Chứng chỉ hành nghề ở Việt Nam) là do Toà
án tối cao còn việc cấp chứng chỉ hành nghề là do Hiệp hội luật sư (Anh, Mỹ, Singapore…) Tại Anh quốc, xuất phát từ quan điểm luật sư là một nghề tự do
và nghề luật sư đã có quá trình phát triển rất lâu đời, văn minh, có văn hoá tự quản rất cao nên tại Anh quốc những nước này pháp luật quy định cho các tổ chức nghề nghiệp của luật sư có nhiều chức năng trong việc quản lý đối với HNLS Nghề luật sư nước Anh được phân chia thành 2 lĩnh vực: tranh tụng
và tư vấn, do đó, chế độ quản lý về tổ chức và HNLS có những đặc điểm riêng biệt Hiệp hội luật sư (law society) có chức năng quản lý hoạt động hành nghề của các luật sư tư vấn trong khi các luật sư tranh tụng chịu sự kiểm soát của các Inns of Court Toà án với tư cách là cơ quan thực thi quyền lực tư pháp lúc này lại đóng vai trò quan trọng trong cơ chế quản lý luật sư, đặc biệt
là đối với các luật sư tranh tụng Sau khi được cấp giấy chứng nhận tư cách luật sư, các luật sư (cả luật sư tư vấn lẫn luật sư tranh tụng) đều phải ghi tên vào danh sách luật sư do Toà án tối cao quản lý Đối với các luật sư tranh tụng, những người có chức năng bảo vệ quyền và lợi ích khách hàng trước Toà án, thì để được phép hành nghề, họ còn phải thực hiện tuyên thệ tại Toà
án, nơi họ hành nghề
Nhìn chung, các luật sư hành nghề tại các nước“thông luật” thông qua các tổ chức nghề nghiệp của mình, tự chủ rất mạnh, các tổ chức chịu ảnh hưởng rất ít từ các yếu tố bên ngoài, bất chấp sự kiểm soát trên danh nghĩa của nhà nước Tuy nhiên, cơ chế tự điều tiết nghề nghiệp này cũng vất phải những chỉ trích Có ý kiến chỉ trích rằng cơ chế này chỉ nhằm hợp pháp hóa độc quyền nghề nghiệp, bảo vệ nghề nghiệp khỏi sự giám sát của xã hội trong khi cơ chế kỷ luật đã thì vô hiệu vì hình phạt rất nhẹ hoặc thậm chí không có [62, p.246-247]
Trang 33đó mới đến nhu cầu của các chủ thể ngoài nhà nước khác Thứ hai từ quan niệm coi luật sư là hoạt động “bổ trợ tư pháp”, Nhà nước sẽ nắm việc chứng nhận tư cách luật sư, luật sư phải được Nhà nước cho phép và công nhận thì mới được hành nghề Bên cạnh đó, nhà nước vẫn quản lý những khâu quan trọng như ban hành các văn bản pháp luật về HNLS, quy định chương trình đào tạo và công nhận luật sư, cho phép thành lập hiệp hội luật sư và các hình thức tổ chức HNLS, và xử lý vi phạm
Cụ thể hơn, Trung quốc trong quá khứ là quốc gia kiểm soát chặt chẽ hoạt động của luật sư Trong quá khứ, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có thời
kỳ không có luật sư, mà chỉ có đội ngũ công chức pháp lý đảm nhiệm vai trò này cho đến trước khi ban hành một gói cải cách toàn diện vào năm 1996 của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội nhân dân [61, p.127-136] Đến nay, vấn đề quản
lý vẫn là một trong những nội dung cơ bản của cải cách hoạt động luật sư Trung Quốc Bên cạnh việc tiếp tục củng cố và tăng cường hiệu lực QLNN, nhìn chung chính sách pháp luật về luật sư Trung Quốc mở rộng thẩm quyền
tự quản của Hiệp hội luật sư để hoạt động quản lý luật sư phù hợp hơn nữa với tính chất nghề nghiệp Để thể chế hoá chính sách nói trên, Luật về luật sư của Trung Quốc phân định cụ thể thẩm quyền quản lý của Nhà nước và nhiệm
vụ của Hiệp hội luật sư Theo quy định của của Luật này, Bộ Tư pháp là cơ quan quản lý của Nhà nước có nhiệm vụ ban hành các văn bản pháp luật hướng dẫn chi tiết về tổ chức và hoạt động của các luật sư; tổ chức kỳ thi quốc gia về công nhận luật sư và thực hiện việc công nhận luật sư Sở Tư
Trang 3427
pháp tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ cấp Chứng chỉ HNLS và giấy phép thành lập văn phòng luật sư Sở Tư pháp còn
có chức năng xử lý vi phạm đối với luật sư và Văn phòng luật sư
Ở Việt Nam, vấn đề QLNN về luật sư đặt trong chiến lực CCTP với
mục tiêu:
Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN [20], với phương hướng quan trọng là: Đào tạo, phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn Hoàn thiện
cơ chế bảo đảm để luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời xác định rõ chế độ trách nhiệm đối với luật sư Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý để phát huy chế độ tự quản của tổ chức luật sư; đề cao trách nhiệm của các tổ chức luật sư đối với thành viên của mình [20]
Hiện nay, hoạt động của luật sư được xếp vào một trong những hoạt động bổ trợ tư pháp Vì thế nội dung QLNN về hoạt động của luật sư ở Việt Nam khá tương đồng với các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật thành văn, bên cạnh những đặc thù riêng biệt Cụ thể nội dung QLNN về hoạt động của luật sư ở Việt Nam thể hiện ở các công việc sau đây: Quyết định chiến lược, chính sách phát triển nghề luật sư; thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển nghề luật sư; Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về luật sư; Đào tạo nghề luật sư; Cấp, thu hồi Chứng chỉ HNLS, Giấy đăng ký hoạt động, Giấy phép hành nghề; Phê duyệt Điều lệ của Đoàn luật sư, Tổ chức luật sư toàn quốc; Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức luật sư và HNLS; Thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển nghề luật sư; QLNN đối với hoạt động hợp tác quốc tế về luật sư
Trang 3528
Như vậy, nội dụng quản lý nghề luật sư trong công tác QLNN về luật sự
ở các quốc gia không hoàn toàn giao phó cho các tổ chức nghề nghiệp, mà trong một phạm vi nhất định, cũng có sự can thiệp của quyền lực nhà nước theo các mức độ khác nhau Bên cạnh đó, thẩm quyền quản lý thuộc về các cơ quan hành pháp hay hành pháp phụ thuộc vào các thức tổ chức quyền lực Nhà nước,
hệ thống pháp luật hay truyền thống, lịch sử phát triển của đội ngũ luật sư
1.3.2 Hình thức của QLNN về hoạt động của luật sư
Hình thức QLNN là sự thể hiện ra bên ngoài của những hoạt động quản
lý cùng loại về nội dung, tính chất và phương thức tác động của chủ thể lên khách thể quản lý [48, tr.367] Do tính chất đa dạng của hoạt động hành chính nhà nước nên việc xác định hình thức quản lý đem lại hiệu quả cao là nhiệm
vụ quan trọng và không dễ dàng Việc xác định hình thức quản lý có hiệu quả phụ thuộc vào những điều kiện khách quan, chức năng quản lý, nội dung và tính chất của những nhiệm vụ cần giải quyết, những đặc điểm của đối tượng quản lý, yêu cầu cụ thể đặt ra trước chủ thể quản lý hành chính nhà nước
QLNN về hoạt động của luật sư thường áp dụng cả 3 loại hình QLNN: mang tính pháp lý, ít mang tính pháp lý và không mang tính pháp lý
Hình thức mang tính pháp lý
Hình thức QLNN mang tính pháp lý bao gồm: hoạt động ban hành các quyết định chủ đạo; hoạt động ban hành các quyết định quy phạm; hoạt động ban hành các quyết định cá biệt Trong QLNN về hoạt động của luật sư, đây
là hình thức hoạt động chủ yếu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được pháp luật quy định cụ thể, chi tiết Kết quả hoạt động này là các văn bản có tính chất chủ đạo: đề ra những chủ trương, nhiệm vụ của QLNN về hoạt động của luật sư, thể hiện dạng các nghị quyết, quyết định, là cơ sở trực tiếp để ban hành văn bản quy phạm pháp luật; văn bản quy phạm pháp luật: hình thức QLNN mang tính pháp lý quan trọng nhất trong QLNN về hoạt động của luật
Trang 36Hình thức không mang tính pháp lý
Hình thức quản lý này không làm thay đổi cơ chế điều chỉnh pháp luật; không mang tính quyền lực nhà nước và không có giá trị pháp lý; một số hoạt động mang tính xã hội, quần chúng rộng rãi và được thực hiện trong thực tiễn không qua các khâu trung gian Trong một số trường hợp chúng có ý nghĩa tạo tiền đề để thực hiện những hình thức pháp lý Đối với công tác QLNN về hoạt động của luật sư, biểu hiện của hình thức quản lý không mang tính pháp
lý là: các hoạt động tổ chức – xã hội trực tiếp: Tổ chức mít tinh, tuần hành, các phong trào thi đua, tổng kết và phổ biến kinh nghiệm, nghiên cứu dư luận, lấy ý kiến nhân dân để tham khảo…
1.3.3 Phương pháp QLNN về hoạt động của luật sư
Phương pháp quản lý là những phương thức, cách thức mà chủ thể QLNN áp dụng để tác động lên khách thể quản lý (tức là hành vi của đối tượng bị quản lý) nhằm đạt được những mục đích đề ra [48, tr.378] QLNN
Trang 37mà cụ thể là sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên và tính chất bắt buộc thi hành của những chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên đối với cấp dưới
Đối với QLNN về hoạt động của luật sư ở Việt Nam, phương pháp này được thể hiện bằng những quy định về nghĩa vụ của luật sư, tổ chức HNLS, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư, hành vi VPHC và hình thức xử phạt trong hoạt động HNLS Ví dụ hành vi vi phạm quy định trong hoạt động HNLS thì ngoài hình thức bị phạt tiền luật sư hoặc tổ chức đó còn phải chịu hình thức xử phạt bổ sung như: tước quyền sử dụng Chứng chỉ HNLS, Giấy phép HNLS với tư cách cá nhân hoặc Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài, tịch thu giấy tờ và buộc khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật; Tổ chức không đủ điều kiện HNLS mà HNLS dưới bất kỳ hình thức nào thì bị buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm, bị xử lý theo quy định của pháp luật về xử lý VPHC; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
1.3.3.2 Phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế là những phương thức tác động gián tiếp đến hành
vi của đối tượng bị quản lý thông qua việc sử dụng những đòn bẩy kinh tế tác động đến lợi ích của con người, kích thích sự quan tâm của họ đến kết quả cuối cùng của lao động, nhờ đó mà đặt được mục đích quản lý [48, tr.382]
Trang 3831
Tuy nhiên để phương pháp kinh tế có thể phát triển thì cần có sự ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi hay nói cách khác là trong điều kiện có các tiền đề hành chính tương ứng
Trong QLNN đối với hoạt động của luật sư thì phương pháp này được Nhà nước áp dụng thông qua các quy định: Nhà nước có chính sách hỗ trợ về
cơ sở vật chất ban đầu cho tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư; thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển đội ngũ luật sư, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, ngoài ra còn các chính sách như tạo điều kiện cho luật sư tham gia các dự án công, ưu đãi
về thuế đối với tổ chức HNLS nước ngoài hoạt động tại Việt Nam…
1.3.3.3 Phương pháp thuyết phục
Thuyết phục là làm cho đối tượng quản lý hiểu rõ sự cần thiết và tự giác thực hiện những hành vi nhất định hoặc không thực hiện những hành vi nhất định [41, tr.113] Biểu hiện của phương pháp thuyết phục là một quá trình bao gồm hàng loạt các hoạt động của chủ thể QLNN như phân tích, giải thích, chứng minh, khuyến khích, giáo dục Thông qua đó, các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước giáo dục cho công dân nhận thức đúng đắn về
kỷ cương xã hội, kỷ luật nhà nước, động viên họ tự giác thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội, đảm bảo và mở rộng dân chủ
QLNN về hoạt động của luật sư ở Việt Nam, phương pháp thuyết phục được thể hiện ở việc Nhà nước khuyến khích luật sư tham gia trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, người có công với cách mạng, người già
cô đơn và những đối tượng khác theo quy định của pháp luật; tham gia tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân; đồng thời tổ chức thi đua, khen thưởng cho các luật sư và tổ chức hành nghề luật có nhiều thành tích trong hoạt động hành nghề
Trang 3932
1.3.3.4 Phương pháp cưỡng chế
Cưỡng chế nhà nước là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cá nhân hoặc tổ chức nhất định trong những trường hợp pháp luật quy định về mặt vật chất hay tinh thần nhằm buộc các cá nhân hay tổ chức đó phải thực hiện hoặc không được thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế nhất định đối với tài sản của cá nhân hay tổ chức hoặc tự do thân thể của các cá nhân [41, tr.119] Cưỡng chế nhà nước được áp dụng trong những trường hợp quyết định đơn phương không được thực hiện một cách tự giác Phương pháp này giữ vai trò quan trọng trong QLNN Nếu không có cưỡng chế thì kỷ luật nhà nước không được bảo đảm, pháp chế không được tôn trọng
Với QLNN về hoạt động của luật sư, phương pháp cưỡng chế nhà nước được áp dụng dưới hai hình thức: Cưỡng chế hành chính và cưỡng chế tư pháp Luật sư vi phạm quy định của pháp luật luật sư hiện hành, ngoài việc bị
xử lý kỷ luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm còn bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật; Tổ chức HNLS của Việt Nam, chi nhánh của tổ chức HNLS nước ngoài, công ty luật nước ngoài tại Việt Nam vi phạm quy định của Luật này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý VPHC; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
1.3.3.5 Phương pháp kiểm tra
Hoạt động QLNN là một quá trình từ khi khảo sát đối tượng quản lý, lên chương trình kế hoạch, đến khi ban hành văn bản chủ đạo, quy phạm, cá biệt và tiến hành tổ chức thực hiện Quá trình đòi hỏi phải có khâu hậu kiểm
để bảo đảm cho hoạt động quản lý đúng với quy trình, yêu cầu và mục đích đặt ra Hoạt động quản lý vì vậy rất cần phương pháp kiểm tra nhằm: theo dõi
Trang 4033
quá trình quản lý và kết quả của công tác quản lý để đối chiếu với kế hoạch, mục tiêu đã đề ra; rút kinh nghiệm và đề ra giải pháp thích hợp cho công tác quản lý trong tương lai, là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả của công tác QLNN
Đối với QLNN về hoạt động của luật sư ở Việt Nam, biểu hiện của phương pháp kiểm tra chính là công tác kiểm tra, thanh tra… về tổ chức luật
sư và HNLS; tổ chức và hoạt động của tổ chức HNLS nước ngoài, luật sư nước ngoài tại việt Việt Nam; kiểm tra, thanh tra về tổ chức, hoạt động của Đoàn luật sư, tổ chức HNLS Việt Nam, tổ chức và hoạt động của tổ chức HNLS nước ngoài, luật sư nước ngoài tại địa phương…
1.4 QLNN về hoạt động của luật sƣ và tự quản của luật sƣ
QLNN và tự quản của luật sư là hai yếu tố không tách rời nhau của quản lý luật sư QLNN đối với hoạt động của luật sư là nhu cầu tất yếu của nhà nước và xã hội, nhằm bảo đảm luật sư, tổ chức HNLS hành nghề đúng pháp luật đồng thời tạo điều kiện và khuyến khích phát triển nghề luật sư đáp ứng được nhu cầu của xã hội Mức độ và phạm vi của QLNN về hoạt động của luật sư ở mỗi quốc gia và chịu ảnh hưởng bởi hệ thống luật pháp, cũng như trình độ phát triển của nghề luật sư như đã phân tích tại mục 1.3.1 Đối với tự quản của luật sư, tự quản của luật sư nhu cầu tự quản xuất phát từ bản chất của hoạt động luật sư chính là tính tính độc lập, tính dân chủ Tự quan của luật sư bao trùm cả hoạt động của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật
sư và TCHNLS
Về tự quản của tổ chức – nghề nghiệp của luật sư, tổ chức nghề nghiệp của luật sư bản chất chính là một tổ chức tự nguyện, tự quản của luật sư Tổ chức này tùy truyền thống hoặc quy định của pháp luật sở tại mang các tên gọi khác nhau Ví dụ: trong Khối Thịnh vượng chung, tổ chức này mang tên Inns of Court, Bar Council hay Law Society Với các nước theo truyền thống pháp luật thành văn, những tổ chức như vậy là Order of Advocates, Chamber