Song, trong khuôn khổ của một bài viết, chúng tôi không thể thực hiện được điều đó mà chỉ muốn nói rằng, bất kỳ ai khi nghiên cứu học thuyết của Khổng Tử cũng đều thống nhất ở điểm cho r
Trang 1Đề bài: Phân tích và so sánh quan niệm về tính người của Khổng tử, Mạnh tử và
Tuân tử Cho nhận xét.
Bài làm:
Khổng Tử họ Khổng tên Khâu, tự Trọng Ni nguyên quán ở Làng Xương Bình, nước Lỗ đời Chu Nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông Cha tên Hột, là một lực sĩ trứ danh đương thời Có lần nước Tề tiến công nước Lỗ, quân Lỗ bị vây Vào đêm, Khổng Hột chỉ huy 300 dũng sĩ phá được vòng vây, cứu thoát quan Đại Phu là Tạng Hột Sau đó, cưới bà Nhan Thị, thân sinh Khổng Tử
Bốn tác phẩm kinh điển nổi tiếng của Nho giáo mà bất kỳ người nào nghiên cứu học thuyết này cũng đều biết đến là Đại học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử, được nhà triết học nổi tiếng đời Tống là Chu Hy (1130 - 1200) sắp xếp, kế thừa cách chú giải của các nhà tư tưởng Tống Nho đi trước, cũng như chú giải của chính ông thành
bộ sách có tên chung là Tứ thư tập chú, trong đó Luận ngữ được xem là một trong những tác phẩm khởi đầu quan trọng cho một nền Nho học Trung Hoa do Khổng Tử sáng lập Đây là cuốn sách đề cập đến các vấn đề của triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức Có thể nói, những tinh tuý được rút ra từ những vấn đề đó nhằm mục đích xây dựng con người toàn thiện, toàn mỹ cho một xã hội phong kiến lý tưởng theo học thuyết của Không Tử
Để làm rõ mẫu người quân tử - con người toàn thiện trong học thuyết Khổng Tử, chúng ta cần phải lý giải tại sao ông lại chọn đối tượng quan tâm trong học thuyết của mình là con người và các quan hệ của con người Song, trong khuôn khổ của một bài viết, chúng tôi không thể thực hiện được điều đó mà chỉ muốn nói rằng, bất kỳ ai khi nghiên cứu học thuyết của Khổng Tử cũng đều thống nhất ở điểm cho rằng, đứng trước một xã hội đang phải hứng chịu sự suy thoái về đạo đức của con người (cái mà Trời phú cho con người khi con người xuất hiện và được đặt nó vào vị trí trung tâm của Vũ trụ), xác định đối tượng quan tâm của mình ở trần thế, Khổng Tử muốn làm cho con người thấy được chính bản thân mình, thấy được sự băng hoại về bản tính đạo đức (tính bản thiện) vốn giống nhau khi nó mới được sinh ra nhưng cũng ngay lập tức
bị phân hoá, đồng thời dạy cho con người biết cái căn bản nhất của nó là Nhân tính Chính vì vậy mà ông không đề cập, hay nói đúng hơn là cố ý tránh đề cập đến những
Trang 2vẫn đề sống - chết, mà chỉ chú ý đến bậc trí giả, đó là người biết "chuyên vào việc nghĩa để giúp dân, kính trọng quỷ thần nhưng tránh xa"
Khổng Tử cũng không thích nói về những điều kỳ diệu, về sự hiện diện của thần thánh Điều này chúng ta có thể biết được qua cuộc đối thoại giữa Quý Lộ và Khổng
Tử Quý Lộ hỏi về việc thờ quỷ thần, Khổng Tử nói rằng: "Thờ người còn chưa nổi, làm sao thờ được ma?" Thưa: Dám hỏi về sự chết Khổng Tử nói: "Sống còn chưa biết
rõ, làm sao biết được sự chết?" Tuy nhiên, để giữ gìn trật tự xã hội nói riêng, Vũ trụ nói chung, Khổng Tử không phủ nhận sự tồn tại của quỷ thần ông kêu gọi phải kính tổ tiên và biết trọng quỷ thần: "Tế tổ tiên coi như tổ tiên đang có mặt, tế thần coi như thần đang có mặt"
Qua đó, chúng ta thấy, Khổng Tử hạn chế nhiệm vụ của mình ở việc phục vụ mọi người, quan tâm đến công việc quốc gia, nhưng ông vẫn cho rằng, cuộc sống của mọi người, của dân tộc lại phụ thuộc vào đường lối lãnh đạo đúng đắn hay sai lầm của thiên tử và hệ thống quan lại Đường lối đó là Đạo Khác với quan niệm của Lão Tử
-"Đạo khả đạo, phi thường đạo", đạo mà Khổng Tử đưa ra là đạo của thế giới hiện tượng, là cái cần được nắm bắt để áp dụng vào việc trị nước Đạo đó có nhiệm vụ uốn nắn những người có nhận thức sai lầm, "cong vậy" thành ngay thẳng Khi con người trở nên chân thành, ngay thẳng thì mọi quan hệ đều trở nên tất đẹp, bởi vì bản thân con người là linh hồn, là trung tâm của vạn vật trong trời đất
Trong Kinh Dịch đã có khái niệm con người toàn thiện hay thiện nhân Đó là người biết theo đạo trung chính, biết giá trị của hạng cao sĩ Thế nhưng, Dịch không bỏ qua mẫu người đối lập với con người hoàn thiện như hai thế lực tự nhiên âm và dương
Đó là sự đối lập giữa quân tử và tiểu nhân Nguyễn Hiến Lê đã nhận định một cách đúng đắn rằng, "Dịch muốn đào tạo hạng người quân tử, khuyến khích tiểu nhân cải tà quy chính (quẻ Bác): "Dịch vị quân tử mưu” là nghĩa vậy, cho nên tôi cho đạo Dịch là
‘đạo của người quân tử" Nếu ngay từ đầu, tiểu nhân và quân tử là hai hạng người đối lập nhau và sự đối lập đó là hoàn toàn mang tính tự nhiên thì làm thế nào để tiểu nhân cải tà quy chính được? Khổng Tử là người đã khắc phục vấn đề đó bằng cách vượt khỏi lập luận của Dịch về sự hình thành hai thế lực đối lập Nhìn thẳng vào cuộc sống
xã hội hiện thực, ông đã khẳng định rằng, "Bản tính người ta gần giống nhau, thói quen khiến xa nhau Nghĩa là, nếu "giáo đục" con người, có thể uốn nắn đạo đức của
họ, tẩy đi những tham dục nảy sinh trong cuộc sống của họ, đưa họ về với bản tính
Trang 3(thiện) ban đầu và nâng cao phẩm hạnh của họ bằng "ngũ thường” Tuy nhiên, với kẻ tiểu nhân thì sự "giáo dục" đó chỉ có hiệu quả khi phát hiện kịp thời sự suy thoái đạo đức "bởi thói quen" của nó và khi sự suy thoái đó chưa đến mức tột cùng của sự hèn
hạ Khổng Tử nói rằng: "Chỉ có hạng thượng trí và hạng trí ngu là không thay đổi (tính tình)" Hạng thượng trí ở đây chi thánh nhân, đó là những người nắm được quy luật của trời đất (Cửu trù) để làm ra các phép tắc dạy người Bậc thấp hơn là quân tử, tức là người giữ đúng phép tắc trong hành xử của mình Bậc cuối cùng trong sự phân hạng người là tiểu nhân, tức là những kẻ mà trong cuộc sống, bất chấp mọi giá trị đạo đức, sẵn sàng làm bất cử điều gì, miễn là có lợi cho họ
Mọi điều hay lẽ phải trong phép ứng xử đạo đức đã được các thánh nhân đời xưa vạch ra Khổng Tử chỉ là người thuật lại và mong muốn học thuyết của mình có người thực hiện Người đó chính là bậc quân tử, hay còn gọi là con người toàn thiện Chữ
"quân" trong cụm từ “quân tử” thường dùng để chỉ người đàn ông đạo đức, người toàn thiện hoặc "siêu nhân" Ngoài ra, chữ "quân" đó còn đùng để chỉ các bậc quân vương Ngạn ngữ Trung Hoa có câu: “Quân tử động khẩu, tiểu nhân động thủ”, tức là: "Quân
tử dùng lời, tiểu nhân dùng tay"
Mâu thuẫn giữa hai mặt trái ngược nhau của con người đã có từ lâu Song, đối với Khổng Tử, nó trở nên cực kỳ quan trọng và cấp bách Lúc nào ông cũng dành sự quan tâm của mình xung quanh vấn đề con người, xem sự xa rời bản tính (Trời sinh) ban đầu như là nguyên nhân dẫn đến sự đảo lộn trật tự thế giới và đó chính là sự xa rời Đạo Giữ mình theo Đạo, người quân tử bao giờ cũng tỏ ra thư thái như đạt được sự giải thoát khỏi những ràng buộc, cám dỗ của đời thường - cái vốn làm mọi người xa nhau Khổng Tử nói: "Người quân tử thư thái mà không kiêu căng, kẻ tiểu nhân kiêu căng mà không thư thái " Tuy nhiên, sự thư thái đó chỉ là tương đối, bởi người quân
tử bao giờ cũng thấy rõ trách nhiệm của mình trước xã hội, giống như Bồ Tát trong đạo Phật Khi “làm sạch" mình, làm trong sạch từ bên trong, người quân tử đồng thời làm sạch cái không gian quanh mình, làm cho môi trường sống khỏi bị ô nhiễm bởi những thói đời hèn hạ, giải thoát cho mình đồng thời với giải thoát cho những người khác Chính vì vậy, Khổng Tử khẳng định, kẻ tiểu nhân không tự giải phóng cho mình (hạ trí ngu bất di) Ông nói: “Đức của người quân tử như gió, đức của kẻ tiểu nhân như
cỏ, gió thổi thì cỏ rạp xuống"
Trang 4Một trong những đặc điểm nổi bật của con người toàn thiện là mối quan hệ của
nó với cộng đồng xã hội Khổng Tử nói: "Quân tử thân với khắp mọi người mà không
tư vị, kẻ tiểu nhân tư vị mà không thân với khắp mọi người" Câu này được địch theo nhiều cách khác nhau Nếu xét trên bình diện triết học thì câu này mang ý nghĩa sâu sắc về cấu trúc Chữ chu ở đây chỉ sự chu tất, chu toàn, có thể hiểu là tính cách của con người toàn thiện và chỉ có con người toàn thiện mới có khả năng thể hiện được chủ ý của Vũ trụ Vì vậy, theo chúng tôi, dịch chữ chu là thân khắp với mọi người không thể hiện đủ nghĩa của từ
Con người chu toàn có thể được xem như là tấm gương, là chủ thể của mọi thiện chân, cho nên ai cũng kính nể Khi được tất cả kính nể thì trong quan hệ không thể thiên lệch với bất kỳ người nào, nhóm nào, bè đảng nào Tiểu nhân thì hoàn toàn ngược lại Vì không có tính chu toàn, nên kẻ tiểu nhân chỉ có thể cấu kết với những người đồng tâm, đồng ý với mình, chính vì thế mà xã hội để bị phân chia thành phe nhóm khác nhau, đấu tranh cho quyền lợi của phe nhóm mình và chèn ép các nhóm khác, thậm chí đấy tới mức thù hằn nhau Như vậy, xét về mặt cấu trúc hệ thống, tiểu nhân có thể được coi là những bộ phận trong một chỉnh thể, luôn nằm trong sự thống nhất biện chứng và bản thân nó không thể đại diện cho một chỉnh thể xác định, tức là luôn bị ràng buộc bởi các mối quan hệ bắt buộc, không tự do, nó được xem như Ià công cụ để phục vụ cho những mục đích nào đó Ngược lại, "quân tử không thể là công cự
Bảo tồn được tính thiện cao cả ban đầu là điều kiện để người quân tử trở nên phổ biến Đã là phổ biến thì người quân tử có thể chi phối cuộc sống một cách toàn vẹn Mặt khác, chính vì giữ được tính thiện cao cả đó mà người quân tử thể hiện mình như
là người hoàn thiện với đầy đủ phẩm cách tất đẹp trong việc thi hành đạo nhân: "Nết hiếu và nết để có phải là gốc của việc thi hành đạo nhân đó chăng"?
Từ việc đề cao đức hiếu, đễ, Khổng Tử đi đến thuyết chính danh Đối với câu hỏi cái gì cần cho đường lối trị quốc đúng đắn, Khổng Tử trả lời: "Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con" Câu trả lời thật là đơn giản, song lại hàm chứa một nội đung khá đầy đủ về chính danh Khổng Tử nhận thấy, trong một xã hội thịnh trị, có những đẳng cấp xã hội, thì bổn phận của mỗi con người phải được phân định một cách rạch ròi, trình độ tri thức của họ cũng phải tương ứng với công việc mà họ đảm nhận: "Hiểu biết là hiểu biết, không hiểu nhận là không hiểu Thế cũng là đã hiểu rồi vậy" Đặc
Trang 5biệt, đối với bậc quân tử lại càng phải thận trọng trong cuộc sống Điều gì chưa nắm chắc, chưa rõ thì không nên cả quyết một cách vội vàng: "Người quân tử đã nêu được tên gọi (danh chính) ắt nói được ra lời, đã nói được ra lời ắt làm được Đối với lời nói
ra, người quân tử không bao giờ cẩu thả vậy"
Theo Không Tử, con người toàn thiện là người có phẩm chất đạo đức phù hợp với ngũ thường, trong đó nhân tính được đặt lên hàng đầu Chính vì vậy, người quân tử
"Có khi còn quyên sinh để giữ trọng đạo nhân", hoặc "Người quân tử lấy đạo nghĩa thành làm căn bản, dùng lễ để thi hành, biểu lộ bằng đức khiên tốn, hoàn thành nhờ chữ tín"
Vậy Lễ là gì mà có thể làm cho thế giới này trở nên trật tự hài hoà? Lễ trước hết
là cái làm cho vạn vật trong thế giới này có được vị thế phù hợp Do vậy, con người là một trong vạn vật đó cũng phải tuân theo lễ, phải biết " Khắc kỷ phục lễ", bởi "Người
mà không có lòng nhân, dùng lễ sao được? Người mà không có lòng nhân dùng nhạc sao được?", hoặc "Cung kính mà thiếu lễ thì khó nhọc, cẩn thận mà thiếu lễ thì nhút nhát, cương dũng mà thiếu lễ thì loạn, thẳng thắn mà thiếu lễ thì nóng gắt" Như vậy,
lễ là cái đóng vai trò điều chỉnh hành vi con người, làm cho con người ứng xử với nhau tất hơn trên cơ sở lấy "Thứ" làm trọng Nhờ có "thứ" mà con người biết "Điều gì mình không muốn [người khác làm cho mình], chớ áp dụng cho người"
Như vậy, quân tử chưa phải là người lý tưởng (mặc dù các nhà tư tưởng Tống Nho đã đặt nó ngang hàng với thánh nhân) Bản thân người quân tử cũng tự nhận thấy mình chưa phải là người hoàn thiện, nên họ luôn tự xác định phải thường xuyên hoàn thiện hoá bản thân để trở nên tất hơn Trong cuộc sống hàng ngày không ai có thể tránh được sai lầm, song người quân tử là người biết sai để sửa và đó cũng là một trong những phẩm chất tốt đẹp của con người toàn thiện Không Tử nói: "Có lỗi mà không sửa mới thật là lỗi" Khác với quân tử, tiểu nhân không nhận thấy lỗi của mình
và nếu nhận ra cũng không chịu sửa, thậm chí còn dấu diếm Người quân tử luôn nghiêm khắc với mình, luôn tự truy tìm nguyên nhân ở mình, ngược lại, tiểu nhân thường đổ lỗi cho người khác: "Người quân tử trông ở mình, kẻ tiểu nhân trông ở người" Đó là quan hệ giữa nghĩa và lợi Quân tử trọng nghĩa mà luôn sửa mình, còn tiểu nhân vì lợi mà trốn tránh trách nhiệm: "Quân tử rành về điều nghĩa, kẻ tiểu nhân rành về điều lợi"
Trang 6Quân tử là mắt khâu liên kết giữa thánh nhân và người thường, là sợi chỉ nối quá khứ với hiện tại Quân tử "Sợ ba điều: Sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời của thánh nhân Kẻ tiểu nhân không biết mệnh trời nên không sợ, [mà còn] khinh nhờn bậc đại nhân, diễu cợt lời của thánh nhân" Quả thật, nếu không biết sợ, không cảm nhận được
sự hiện diện của trời, sỉ vả quá khứ và coi thường những điều thánh thiện thì tất thảy những cái đó sẽ dẫn tới tai hoạ nghiêm trọng "Chẳng biết được mệnh trời, không lấy
gì để làm người quân tử Chẳng biết lễ, không lấy gì để lập thân Chẳng biết phân biệt nổi lời phải trái, không lấy gì để biết người" Quân tử khác với tiểu nhân là ở chỗ biết
lễ do đi theo đường chính, nắm được đạo Trung dung, biết được mệnh trời mà "vươn lên" để đạt đến cao thượng, đến trạng thái hoàn thiện và làm cho người khác cùng hoàn thiện thêm Khổng Tử nói: "Người quân tử đạt tới chỗ cao thượng, kẻ tiểu nhân đạt tới chỗ thấp hèn"
Sự "vươn lên" đến trạng hoàn thiện là một quá trình tự cải tạo của người quân tử Con đường khó khăn của sự nghiệp cải tạo đó xuất phát từ nghiên cứu vạn vật, không ngừng nâng cao hiểu biết về mọi mặt và làm cho ý mình thành thật, tiến tới chính tâm
để tu thân, tề gia, trị quốc và cuối cùng là bình thiên hạ Từ bậc thiên tử cho tới thường dân ai cũng phải lấy sự tu thân làm gốc Vì vậy, khi Tử Lộ hỏi Quân tử phải làm gì, Khổng Tử đáp: "Sửa mình để nên người kính cẩn" Lại hỏi: Có vậy thôi ư? Đáp: "Sửa mình kính cẩn để yên mọi người" Lại hỏi: "Có vậy thôi ư? Đáp: Sửa mình kính cẩn để yên trăm họ Sửa mình để yên trăm họ, việc đó dẫu vua Nghiêu, vua Thuấn cũng chưa làm cho trọn" Qua đoạn đối thoại trên đây, chúng ta thấy, quan điểm của Khổng Tử về con đường hoàn thiện hoá là vô tận, đến các bậc thánh nhân, như vua Nghiêu, vua Thuấn, vẫn chưa thực hiện được trọn vẹn Sự vận động để đến với bản thân với tư cách con người toàn thiện đều thông qua sự hoàn thiện hoá bản thân
Con đường hoàn thiện hoá là con đường giải thoát Ở các tôn giáo khác nhau, quan niệm về giải thoát cũng khác nhau song mục đích chỉ là một - đó là khắc phục quan niệm coi tự kỷ là trung tâm Trong tư tưởng của Khổng Tử, đó là sự chiến thắng của con người đối với chính bản thân mình, vượt lên trên mình, là sự phục hồi lễ, khôi phục thiện nhân khởi thuỷ Con đường giải thoát đó phải do chính người quân tử thực hiện thông qua sự tự hoàn thiện mà phương pháp và mục tiêu của sự tự hoàn thiện đó
đã được thánh nhân vạch ra Khi Nhan Uyên hỏi về Nhân, Khổng Tử giải thích: "Dẹp
Trang 7bỏ tư dục, trở về với lễ là phát huy điều nhân Một ngày dẹp bỏ tư dục, trở về với lễ, cả thiên hạ [chịu cảm hoá] quay về về với điều nhân vậy"
Giải thoát bản thân khỏi sự ràng buộc của những dục vọng, từng bước nâng cao tri thức của mình về vạn vật (cách vật), về thế giới con người (biết người, yêu thương con người) là con đường hoàn thiện chân chính của Quân tử Chiến thắng bản thân có nghĩa là chiến thắng những gì trong con người đang cản trở nó quay về với toàn bộ phẩm chất tất đẹp ban đầu mà Trời ban cho Việc làm đó là phù hợp với Quân tử - con người toàn thiện, vốn chỉ cầu ở mình chứ không bao giờ cầu ở người
Mạnh Tử họ Mạnh tên Kha, tự Tử Dư, sanh vào năm thứ tư Chu liệt Vương, 372
tr CN Sau 107 năm, tính từ khi Khổng Tử qua đời Người ta được biết về thân thế của Mạnh Tử, có phần ít hơn Khổng Tử, nhất là chẳng ai được rõ đời sống thời thơ ấu của Người ra sao Tục truyền về truyện "Mạnh mẫu (mẹ thân sanh Mạnh Tử) tam thiên" (Để chọn láng giềng tốt cho Mạnh Tử, bà mẹ đã phải dời chỗ ở những ba lần), theo kết quả khảo cứu, thì chẳng có sự thật đó
Mạnh Tử vốn là hậu duệ của Mạnh Tôn, thuộc dòng dõi Lỗ công, vì đã di cư sang xứ Châu (nước nhỏ phụ thuộc vào Lỗ), nên coi như là người Châu Mạnh Tử theo học thầy Tử Tư từ thuở trẻ (Tử Tư là cháu nội của Khổng Tử), bình sinh lấy việc tuyên dương đạo Khổng làm chí hướng, cho nên đến thời trung niên, cũng như Khổng Tử đời trước, chu du qua nhiều nước như Tống, Tuyết, Tề, Nguỵ, Lỗ, Châu, Lương v.v Căn cứ theo sách "Mạnh Tử", thì những nhân vật chính trị đương quyền mà Mạnh Tử
đã được tiếp xúc là Lương Huệ Vương, Lương Tương Vương, Tề Tuyên Vương, Châu Mục Công và Đằng Văn Công
Điểm rất quan trọng trong luận thuyết của Mạnh Tử là, nhận định con người
"Tánh bản thiện" Người bảo rằng? "Trắc ẩn chi tâm, nhân giai hữu chi; tu ác chi tâm, nhân giai hữu chi; cung kính chi tâm, nhân giai hữu chi; thị phi chi tâm, nhân giai hữu chi" (Người ta ai cũng có lòng trắc ẩn, ai cũng có lòng thẹn ác, ai cũng có lòng cung kính, ai cũng có lòng thị phi), rồi giải thích thêm rằng: "Trắc ẩn chi tâm, nhân giã; tu
ác chi tâm, nghĩa giã; cung kính chi tâm, lễ giã; thị phi chi tâm, trí giã Nhân, nghĩa, lễ, trí, phi do ngoại thước ngã giã, ngã cố hữu chi giã" (Lòng trắc ẩn đó là nhân, lòng thẹn ác đó là nghĩa, lòng cung kính đó là lễ, lòng thị phi đó là trí Nhân, nghĩa, lễ, trí,
Trang 8không do bên ngoài hun đúc ta, mà là vốn đã có sẵn trong lòng ta Sau Mạnh Tử, các nhà Nho thêm chữ "Tín" của Khổng Tử vào, gộp thành "Nhân, Nghĩa, Lê, Trí, Tín", năm đức tính căn bản của đạo Nho
Khổng Tử nhấn mạnh chữ NHÂN, Mạnh Tử coi trọng chữ NGHĨA Thời Xuân Thu Chiến Quốc, người đời khinh nghèo chê hèn, Mạnh Tử cực lực chống lại bằng cách đề cao đức tính "Cùng bất thất nghĩa, đạt bất ly đạo" (Dù có nghèo cũng không mất nghĩa, khi đã khá cũng giữ đúng đạo) Mạnh Tử đã nghèo suốt đời, cũng vì "Bất thất nghĩa, bất ly đạo", nhưng Mạnh Tử cũng nhờ kiên trì tâm niệm "Bất thất nghĩa, bất ly đạo" đó, mới trở thành nhân vật bất hủ Qua những trang lịch sử, chúng ta thấy
có kẻ tranh nhất thời, có kẻ giành thiên thu, khác nhau chỉ một chữ NGHĨA mà thôi
Tư tưởng của Mạnh Tử có phần tân tiến, giầu tinh thần dân chủ hơn Khổng Tử, như khi luận về cách cư xử giữa quân thần (chúa tôi), Khổng Tử thường đặt nặng về phần bề tôi phải như thế nào, chẳng hạn: "sự quân tận lễ" (Thờ chúa phải tận trung theo lễ) và "Dĩ đạo sự quân, bất khả tắc chỉ" (Lấy đạo mà thờ chúa, nếu chẳng đạt thì thôi) Ngược lại, Mạnh Tử thiên trọng về phần quân vương nên làm sao, như câu:
"Hiền quân tất cung kiệm lễ hạ" (Chúa hiền chắc chắn là người biết kính cẩn, tiết kiệm và trọng kẻ dưới) Hơn ni74a còn có ý thức dân chủ sơ bộ như câu: "Dân vi quý, quân vi khinh" Cho nên Người đã khuyến cáo bậc sĩ phu, khi "Lễ mạo suy, tắc khử chi" (Khi chúa đối với ta thiếu lễ độ, thì nên bỏ đi ngay) Như vậy là, Mạnh Tử còn
"Quân tử" hơn Khổng Tử nữa Trong thời gian Mạnh Tử Ở nước Đằng, Đằng Văn Công có hỏi: "Phải làm thế nào mới trị nước được tốt?" Thưa rằng: "Việc dân chính chớ nên trì hoãn Đạo vì dân là, hễ (dân) có hằng sản là có hằng tâm, vô hằng sản thì
vô hằng tâm Một khi (con dân) đã không có hằng tâm, thì đâm ra phóng đãng, tà xỉ, chuyện gì mà chẳng dám làm Chừng dân can vào tội, rồi bị hình phạt, thì còn đâu là dân lành" Tư tưởng này của Mạnh Tử rất ăn khớp với câu "Tiên phú hậu giáo" của Khổng Tử, đều chủ trương dành quyền tư hữu tài sản cho dân Đó là vấn đề căn bản nhất trong xã hội loài người, xưa cũng như nay, mà đòi hỏi tối thiểu là "Dân dĩ thực vi thiên" (Chữ THIÊN đây là Trời, có nghĩa là cao hơn hết, quan trọng nhất Nhưng có nhiều người hay hiểu lầm câu này ra thành "Dân dĩ thực vi tiên" TIÊN đây nghĩa là trước tiên) Khi vua Đằng hỏi ý kiến về chế độ Tĩnh điền" (Chia ruộng ra làm chín thửa như hìnhchữ "Tĩnh", cho tám hộ làm, khu chính giữa là công điền, do tám hộ hợp sức canh tác, phần thu hoạch đó thuộc về của công) của nhà Chu, thì Mạnh Tử đáp:
Trang 9"Chính trị nhân đức, được bát đầu từ chỗ có ranh giới Khi ranh giới đã rõ, rồi chia lộc hưởng theo phần, là xã hội ổn định" Xem đó, mặc dầu Mạnh Tử cực lực đề xướng
"Vương đạo , hy vọng có một tân chính quyền đứng lên thống nhất thiên hạ, đang lâm vào tình trạng rối ren, nhưng cũng muốn tân chính quyền đó, vẫn giữ lại phần nào chế
độ cũ Điểm này cho thấy, Mạnh Tử không bác bỏ toàn bộ lý tưởng phục hưng văn hóa nhà Chu của Khổng Tử Nhưng chẳng may, đời sau nhóm Tống Nho ngộ nhận là, đạo Nho nhất thiết phải bảo thủ nền văn hóa truyền thống, biến họ thành những nhà trí thức "không tưởng", trước vấn đề chính trị thực tế, nên bị mang tiếng là "Hủ Nho"
Tuân Tử tên là Huống, tự Khanh (cũng tự Tôn Khanh), người nước Triệu, là
người sáng lập ra học phái Lan Lăng (học trò Lan Lăng hay lấy chữ "Khanh" đặt tự, để
kỷ niệm thầy Tuân Tử)
Tuân Tử cũng như Mạnh Tử, cả hai đều là nhân vật lịch sử, thừa kế tư tưởng, phát triển học thuyết của đức thầy Khổng Tử, nhưng kết cuộc thì khác nhau về tao ngộ Trên lịch sử Trung quốc, Mạnh Tử đã giành được một địa vị chỉ có dưới một nấc,
so với Khổng Tử, sách "Mạnh Tử" được liệt vào mười ba kinh thư, mà tầng lớp trí thức cổ kim, ai nấy đều nên học hỏi theo truyền thống Còn sách "Tuân Tử" thì trái lại, không được người đời coi trọng, thậm chí có chỗ còn bị coi như dị đoan" Xét ra thì có hai nguyên nhân, tạo nên hiện lượng bất thường này: Một là, vì Tuân Tử đề ra "Tính ác", ngược lại với "Tính thiện" của Mạnh Tử; hai là, có hai đệ tử của Tuân Tử sau này,
là Hàn Phi cùng Lý Tư, đều là nhân vật chủ chốt, trong thế cuộc dẫn tới bạo chính của nhà Tần
Người ta đã so sánh phần dị biệt về tư tưởng, giữa Tuân Tử với Mạnh Tử, ngoài vấn đề "tính ác" với "tính thiện" ra, còn có những điểm sau đây:
1/- Mạnh Tử thuộc về chủ nghĩa "tiên nghiệm"; Tuân Tử thuộc về chủ nghĩa
"kinh nghiệm"
2/- Mạnh Tử chú trọng về "tâm tính", nhằm xây dựng một hệ thống triết lý cho Nho học; Tuân Tử thì để ý về vấn đề chính trị, xã hội nhiều hơn, nhằm giải quyết sự việc thật
3/- Trong phần tu dưỡng tâm tính, Mạnh Tử chủ trương "quả dục"; Tuân Tử chủ trương "túc dục"
Trang 104/- Về phần bổng lộc, Mạnh Tử vẫn giữ nguyên thể chế thế tập với thái độ bảo thủ; Tuân Tử thì chủ trương "vô đức bất quý, vô năng bất quan" (kẻ thiếu đức không đáng hưởng địa vị cao sang, người thiếu tài không được làm quan), có khuynh hướng chống quy tắc thế lộc (con cháu được hưởng lộc ông cha), muốn giải thoát con người
ra ngoài cương tỏa của chế độ phong kiến
5/- Mạnh Tử cố chấp về giá trị lý tưởng cao cả, coi nhẹ việc làm cho quốc gia giầu mạnh; Tuân Tử thích ứng với trào lưu mới hơn, luôn luôn nhấn mạnh, phải làm thế nào cho quốc gia phú cường
Tuy nhiên, người ta công nhận, giữa Mạnh Tử và Tuân Tử cũng có nhiều điểm tương đồng sau đây:
(a) Cả hai đều tôn sùng Chu công và Khổng Tử, và có ý thức quý dân hơn vua (b) Đều nhấn mạnh, tánh cách quan trọng của đạo đức và nhân phẩm con người (c) Khinh miệt thuyết "hợp tung", "liên hoành" của Tô Tần và Trương Nghi.(d) Phê phán rất nghiêm khắc, các học thuyết khác đương thời
Dầu cho tư tưởng của Tuân Tử, có khác biệt với Khổng - Mạnh, nhưng Người không phủ định hẳn truyền thống nhà Chu, chẳng qua là, văn hóa nhà Chu đối với Khổng Tử, thì có ý nghĩa về đạo đức cùng giáo hóa, khi đến tay Tuân Tử thì áp dụng vào lý luận trí thức, xây dựng thành hệ thống Lễ, Nghĩa của quốc gia, xã hội Đặc điểm này của Tuân Tử, rất ăn khớp với câu "Trí thức tức là đạo đức danh ngôn của triết gia Tây phương Sơcrates Tiếc rằng, Tuân Tử chưa hoàn thành được toàn bộ triết
lý theo quan niệm "trí thức luận", có lẽ Vì nguồn tư tưởng của Người đã bị giới hạn vô hình, bởi nền văn hóa truyền thống của Trung Quốc chăng
Trong tư tưởng của Tuân Tử, còn một điểm nổi bật nữa là, thuyết "Tính bản ác" Phần đông người ta đã hiểu lầm chân ý của Tuân Tử về tính ác của con người Thật ra thì Tuân Tử có bảo: "Tính giả thiên chi tựu” Nghĩa là khi sinh ra, người ta đã sẵn cái nhân tính tự nhiên Nhân tính đó, ví như tờ giấy trắng, được nhuộm màu gì sẽ ra màu
ấy Sở dĩ nhân tính có thể thành ra ác, là bởi lòng người nảy sinh dục vọng, như Tuân
Tử đã bảo: "Kim nhân chi tính, sinh nhi háo lợi yên, thuận chi, cố tranh đoạt sinh, nhi
từ nhượng vong yên Sinh nhi hữu nhĩ mục chi dục, hữu háo thanh sắc yên, thuận chi,
cố dâm loạn sinh, nhi lễ nghĩa văn lý vong yên Nhiên tắc, túng nhân chi tính, thuận nhân chi tình, tất xuất ư tranh đoạt, thạp ư phạm nhân loạn lý, nhi quy ư bạo Dụng